Nghiên cứu các quy định của pháp luật và thực tiễn áp dụng thấy các hình phạt chính không tước tự do trong Luật hình sự LHS Việt Nam còn tồn tại nhiều bất cập; các điều kiện áp dụng hình
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
NGUYỄN ĐèNH DUYỆT
Hình phạt chính không t-ớc tự do theo luật hình sự Việt Nam
(Trên cơ sở thực tiễn địa bàn tỉnh Phú Thọ)
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
NGUYỄN ĐèNH DUYỆT
Hình phạt chính không t-ớc tự do theo luật hình sự Việt Nam
(Trên cơ sở thực tiễn địa bàn tỉnh Phú Thọ)
Chuyờn ngành: Luật hỡnh sự và tố tụng hỡnh sự
Mó số: 60 38 01 04
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS TRỊNH QUỐC TOẢN
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn này là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi Các kết quả trong luận văn chưa được công bố trong bất
kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong khóa luận tốt nghiệp đảm bảo độ tin cậy, chính xác và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội
Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi
có thể bảo vệ Luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
NGƯỜI CAM ĐOAN
Nguyễn Đình Duyệt
Trang 4MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục các chữ viết tắt
Danh mục các bảng
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ CÁC HÌNH PHA ̣T CHÍNH KHÔNG TƯỚC TỰ DO TRONG LUẬT HÌNH SỰ 6
1.1 Khái niệm , đă ̣c điểm và ý nghĩa của các hình pha ̣t chính không tước tự do 6
1.1.1 Khái niệm và đặc điểm của các hình pha ̣t chính không tước tự do 6
1.1.2 Ý nghĩa của các hình phạt chính không tước tự do trong luật hình sự Việt Nam 12
1.2 Khái quát lịch sử quy định hình phạt chính không tước tự do trong Luâ ̣t hình sự Viê ̣t Nam 17
1.2.1 Giai đoa ̣n từ năm 1945 đến trước khi ban hành Bộ luật hình sự năm 1985 17
1.2.2 Giai đoa ̣n từ sau khi ban hành Bộ luật hình sự năm 1985 đến trước khi ban hành Bộ luật hình sự năm 1999 22
1.3 Hình phạt chính không tước tự do trong luật hình sự một số nước trên thế giới 25
1.3.1 Luâ ̣t hình sự Trung Quốc 25
1.3.2 Luâ ̣t hình sự Liên bang Nga 27
1.3.3 Luâ ̣t hình sự Liên bang Đức 28
Chương 2: CÁC QUY ĐI ̣NH CỦA BỘ LUẬT HÌNH SỰ NĂM 1999 VỀ CÁC HÌNH PHẠT CHÍNH KHÔNG TƯỚC TỰ DO VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG 31
2.1 Các quy đi ̣nh của Bô ̣ luâ ̣t hình sự năm 1999 về các hình pha ̣t chính không tước tự do 31
2.1.1 Hình phạt cảnh cáo 31
2.1.2 Hình phạt tiền 38
Trang 52.1.3 Hình phạt cải tạo không giam giữ 42
2.1.4 Hình phạt trục xuất 47
2.2 Thực tiễn áp du ̣ng các hình pha ̣t chính không tước tự do trên đi ̣a bàn tỉnh Phú Thọ trong giai đoạn từ năm 2011 đến năm 2015 50
2.2.1 Phân tích, đánh giá thực trạng áp dụng các hình phạt chính không tước tự do đối với người phạm tội ở tỉnh Phú Thọ trong giai đoạn 2011-2015 50
2.2.2 Một số tồn tại, hạn chế trong áp dụng các hình phạt chính không tước tự do đối với người phạm tội ở tỉnh Phú Thọ trong giai đoạn 2011-2015 và những nguyên nhân cơ bản 53
Chương 3: HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VÀ CÁC GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ ÁP DỤNG CÁC QUY ĐỊNH VỀ HÌNH PHA ̣T CHÍNH KHÔNG TƯỚC TỰ DO TRONG BỘ LUẬT HÌNH SỰ HIỆN HÀNH 75
3.1 Yêu cầu tiếp tục hoàn thiê ̣n quy định về các hình phạt chính không tước tự do trong Bộ luật hình sự hiện hành và nâng cao hiệu quả áp dụng 75
3.2 Những quy đi ̣nh mới về hình phạt chính không tước tự do trong Bô ̣ luâ ̣t hình sự 2015 và những đề xuất những kiến nghị tiếp tục hoàn thiện 80
3.2.1 Những quy đi ̣nh mới về hình pha ̣t chính không tước tự do trong Bô ̣ luâ ̣t hình sự 2015 80
3.2.2 Đề xuất kiến nghị tiếp tục hoàn thiện các quy định về hình phạt chính không tước tự do trong Bộ luật hình sự năm 2015 87
3.3 Các giải pháp nâng cao hiê ̣u quả áp du ̣ng các hình pha ̣t không tước tự do 94
3.3.1 Nâng cao chất lượng hoạt động của Thẩm phán , hội thẩm nhân dân và Kiểm sát viên ta ̣i các phiên tòa hình sự 94
3.3.2 Nâng cao trách nhiê ̣m của chính quyền cơ sở và cơ quan thi hành án 97
3.3.3 Tăng cường hợp tác quốc tế 99
KẾT LUẬN 101
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 103
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1 Thống kê các tội phạm trong Bộ luật hình sự có quy định
Bảng 3.3 Kiến nghị sửa đổi các quy định phần chung về hình phạt cải
Bảng 3.4 Kiến nghị sửa đổi các quy định phần chung về giảm hình
Bảng 3.5 Kiến nghị sửa đổi các quy định phần chung về hình phạt trục
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Hình phạ t là mô ̣t chế đi ̣nh quan tro ̣ng của luâ ̣t hình sự Hình phạt là hình thức thực hiện trách nhiệm hình sự mà người phạm tội phải gánh chịu đối với những hành vi pha ̣m tô ̣i gây ra và thể hiê ̣n sự lên án và trừng tri ̣ của Nhà nướ c đối với họ Viê ̣c quy đi ̣nh hành vi nguy hiểm nào cho xã hội là tội phạm chỉ có ý nghĩa khi đi kèm nó là các hình pha ̣t nhằm mu ̣c đích giáo du ̣c , cải tạo, người pha ̣m tô ̣i trở thành người có ích cho xã hội , có ý thức tuân th ủ pháp luật, ngăn ngừa ho ̣ pha ̣m tô ̣i mới Bên ca ̣nh đó , hình phạt không chỉ có mục đích giáo dục , cải tạo người phạm
tô ̣i còn nhằm giáo du ̣c người khác tôn tro ̣ng pháp luâ ̣t , đấu tranh chống và phòng ngừa tô ̣i pha ̣m
thành các hình phạt chính và hình phạt bổ sung , bao gồm 7 hình phạt chính khác nhau (cảnh cáo , phạt tiền , cải tạo không giam giữ , trục xuất , tù có thời hạn , tù chung thân , tử hình) và 7 hình phạt bổ sung (cấm đảm nhiê ̣m chức vu ̣ , cấm hành nghề hoă ̣c làm công viê ̣c nhất đi ̣nh , cấm cư trú , quản chế, tước mô ̣t số quyền công dân, tịch thu tài sản , phạt tiền khi không áp dụng là hình phạt chính, trục xuất khi không áp du ̣ng là hình pha ̣t chính ) Trong hê ̣ thống hình pha ̣t còn có thể chia thành
mô ̣t số hình pha ̣t chính và hình pha ̣t bổ sung) Các hình phạt chín h không tước tự
do bao gồm : cảnh cáo , phạt tiền ; cải tạo không giam giữ , trục xuất, đây là những hình phạt thể hiện rõ tính nhân đạo và giáo dục của pháp luật hình sự, cụ thể hoá nguyên tắc cá thể hoá hình phạt
Chính sách hình sự nói chung và chính sách hình phạt nói riêng của Nhà nước ta trong những năm gần đây ngày càng khẳng định và làm rõ nét hơn xu hướng nhân đạo và nhân văn, phù hợp với quá trình phát triển kinh tế, xã hội và hội nhập kinh tế quốc tế Nghị quyết số 48- NQ/TW ngày 24/5/2005 của Bộ chính trị về xây dựng và hoàn thiện hệ thông pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng
Trang 9đến năm 2020 (Viết tắt là Nghị quyết 48-NQ/TW) đã chỉ đạo: "Hoàn thiện chính
sách hình sự, đảm bảo yêu cầu đề cao hiệu quả phòng ngừa, hạn chế hình phạt tử hình, giảm hình phạt tù, mở rộng áp dụng hình phạt tiền, cải tạo không giam giữ đối với các loại tội ít nghiêm trọng " Chủ trương, chính sách này tiếp tục được
khẳng định và cụ thể hoá trong Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ chính trị về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 (Viết tắt là Nghị quyết 49-
NQ/TW): "Coi trọng việc hoàn thiện chính sách pháp luật hình sự và thủ tục tố
tụng tư pháp, đề cao hiệu quả phòng ngừa và tính hướng thiện trong việc xử lý người phạm tội Giảm hình phạt tù, mở rộng áp dụng hình phạt tiền, cải tạo không giam giữ đối với một số loại tội"
Hiến pháp năm 2013 đã thể chế hoá các quan điểm của đảng, trong đó đề cao quyền con người, quyền cơ bản của công dân Điều đó cũng đặt ra yêu cầu phải tiếp tục hoàn thiện các quy định của BLHS, trong đó có các quy định về các hình phạt
chính không tước tự do
Nghiên cứu các quy định của pháp luật và thực tiễn áp dụng thấy các hình phạt chính không tước tự do trong Luật hình sự (LHS) Việt Nam còn tồn tại nhiều bất cập; các điều kiện áp dụng hình phạt chính không tước tự do còn quy định chung chung; ranh giới giữa các hình phạt chính không tước tự do còn khó xác định; giới hạn mức hình phạt tối thiểu và tối đa trong số các hình phạt không tước tự do chưa sát thực tế; tương quan giữa các loại hình phạt truyền thống như hình phạt tù có thời hạn, tù chung thân, tử hình và các loại hình phạt không tước tự do chưa tương xứng; số lượng hình phạt chính không tước tự do trong thực tiễn cũng rất ít được áp dụng; các quy định về thi hành hình phạt chính không tước tự do còn tồn tại một số bất cập, thực tiễn áp dụng và thi hành nảy sinh nhiều vấn đề cần giải quyết
Trong những năm vừa qua, tình hình tội phạm trên địa bàn tỉnh Phú Thọ diễn
ra khá phức ta ̣p, với sự phát triển ma ̣nh mẽ của kinh tế và xã hô ̣i , kéo theo đó là tệ nạn xã hội cũng tăng nhanh Trước tình hình đó , các cơ quan tiến hành tố tụng tỉnh Phú Thọ đã khởi tố , điều tra, truy tố, xét xử mỗi năm hàng nghìn vụ án hình sự các loại, đưa ra xét xử hàng nghìn bi ̣ cáo Điều này góp phần quan tro ̣ng trong công tác
Trang 10đấu tranh phòng , chống tô ̣i pha ̣m và ổn đi ̣nh tình hình an ninh chính tri ̣ , trâ ̣t tự an toàn xã hội ở địa phương Trong cơ cấu hình pha ̣t áp du ̣ng đối với các bi ̣ cáo bi ̣ đưa
ra xét xử , Tòa án nhân dân (TAND) trong tỉnh đã thực hiê ̣n đúng chủ trương cải cách tư pháp của Đảng và Nhà nước khi hạn chế áp dụng hình phạt tù , tăng cường
áp dụng các hình pha ̣t không tước tự do , trong đó có hình pha ̣t tiền Điều này góp phần đảm bảo quyền lợi ích hợp pháp của người pha ̣m tô ̣i , nhưng cũng vẫn đảm bảo yếu tố răn đe , giáo dục và phòng ngừa chung Tuy nhiên , trên thực tiễn tỉnh Phú Thọ cho thấy, viê ̣c áp du ̣ng các hình pha ̣t chính không tước tự do vẫn còn ha ̣n chế , phạm vi áp dụng chưa mở rộng , chưa linh hoa ̣t Các hình phạt chính không tước tự
do như pha ̣t tiền, cải tạo không giam giữ còn b ị dè dặt trong việc áp dụng , thực tiễn thi hành còn nhiều bất cập Cơ chế giám sát viê ̣c áp du ̣ng các hình pha ̣t này đối với TAND còn chưa đáp ứng được yêu cầu
Chính vì vậy, việc tiếp tục nghiên cứu sâu sắc hơn nữa những vấn đề lý luận
về hình phạt chính không tước tự do và sự thể hiện chúng trong các quy định của BLHS năm 1999, đồng thời đánh giá việc áp dụng hình phạt chính không tước tự do trong thực tiễn để đưa ra các giải pháp hoàn thiện về mặt luật pháp, nâng cao hiệu quả
áp dụng các hình phạt chính không tước tự do không những có ý nghĩa lý luận - thực tiễn và pháp lý quan trọng, mà còn là vấn đề mang tính cấp thiết Đây cũng là lý do
luận chứng cho việc học viên quyết định chọn đề tài “Hình phạt chính không tước
tự do theo luật hình sự Việt Nam (Trên cơ sở thực tiễn địa bàn tỉnh Phú Thọ)” làm
luận văn tốt nghiệp thạc sĩ luật
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Trong khoa học LHS đã có một số công trình nghiên cứu về các hình phạt
không tước tự do như: Nguyễn Văn Trượng, Một số vấn đề rút ra từ thực tiễn áp
dụng hình phạt cải tạo không giam giữ, Tạp chí Tòa án nhân dân, số 4, tháng
2/2009; Hình phạt tiền và thực tiễn áp dụng của tác giả Đỗ Văn Chỉnh, Tạp chí Tòa
án nhân dân, số 5, tháng 3/2009; TS Dương Tuyết Miên, Các hình phạt bổ sung
trong BLHS năm 1999 và hướng hoàn thiện, Tạp chí Tòa án nhân dân số 8, tháng
4/2009; Luận án Tiến sỹ "Các hình phạt bổ sung trong Luật hình sự Việt Nam" của
Trang 11Tiến sỹ Trịnh Quốc Toản, Khoa Luật - ĐHQG Hà Nội, Sách chuyên khảo "Nghiên
cứu về hình phạt trong Luật hình sự Việt Nam dưới góc độ bảo về quyền con người"
của PGS.TS Trịnh Quốc Toản, Khoa Luật - ĐHQG Hà Nội (nhà Xuất bản chính trị
quốc gia năm 2015)
Ngoài ra còn có một số công trình nghiên cứu về các hình phạt cụ thể trong
nhóm các hình phạt không tước tự do như : Tác giả Trần Lệ Trinh , Hình phạt tiền
trong luật hình sự Viê ̣t Nam và viê ̣c áp dụng hình phạt này ở nước ta hiê ̣n nay , Luâ ̣n
văn tha ̣c sĩ luâ ̣t ho ̣c , Khoa Luâ ̣t – Đa ̣i ho ̣c Quốc gia Hà Nô ̣i , 2009; Lê Thanh Hùng,
Hình phạt cải tạo không giam giữ trong luật hình sự Việt Nam và việc áp dụng tại tỉnh Thanh Hóa, Luâ ̣n văn tha ̣c sĩ luâ ̣t ho ̣c , Khoa Luâ ̣t – Đa ̣i ho ̣c Quốc gia Hà Nô ̣i ,
2014; Lê Thi ̣ Trúc Quỳnh , Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về hình phạt trục xuất
trong luật hình sự Viê ̣t Nam , Luâ ̣n văn tha ̣c sĩ luâ ̣t ho ̣c , Khoa Luâ ̣t – Đa ̣i ho ̣c Quốc
gia Hà Nô ̣i , 2010; Đinh Thi ̣ Hoài Phương , Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về
hình phạt cảnh c áo theo luật hình sự Việt Nam , Luâ ̣n văn tha ̣c sĩ luâ ̣t , Khoa Luâ ̣t –
Đa ̣i ho ̣c Quốc gia Hà Nô ̣i, 2010
Tất cả các công trình nghiên cứu trên đây đã nghiên cứu ở khía ca ̣nh nhất
đi ̣nh về các hình pha ̣t mang tính chất không tước tự do, cũng như một loại hình phạt
khoa học nói trên, đã gợi mở cho tác giả luận văn nhiều ý tưởng khoa học, là những tài liệu rất bổ ích và giá trị được sử dụng trong quá trình nghiên cứu đề tài Do đó, viê ̣c tác giả cho ̣n vấn đề các hình pha ̣t chính không tước tự do theo luâ ̣t hình sự Viê ̣t Nam trên cơ sở số liê ̣u thực tiễn tỉnh Phú Tho ̣ có ý nghĩa lý luâ ̣n và thực tiễn to lớn
3 Mục đích, nhiê ̣m vu ̣ và phạm vi nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Mục đích của luận văn là nghiên cứu toàn diện, hệ thống và sâu sắc về lý luận đối với các hình phạt chính không tước tự do; tổng kết thực tiễn áp dụng các hình phạt này ở nước ta Trên cơ sở đó luận văn đề xuất những giải pháp tiếp tục hoàn thiện và nâng cao chất lượng, hiệu quả áp dụng các hình phạt chính không tước tự do trong thực tiễn
Trang 123.2 Nhiê ̣m vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở lý luận về các hình phạt chính không tước tự do trong luâ ̣t hình sự
- Phân tích, đánh giá các quy định của BLHS năm 1999 về hình phạt chính không tước tự do và tổng kết thực tiễn áp dụng các quy định đó trên đi ̣a bàn tỉnh Phú Thọ trong 05 năm gần đây
- Đề xuất một số giải pháp nhằm tiếp tục hoàn thiện các hình phạt chính không tước tự do và nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực tiễn
3.3 Phạm vi nghiên cứu
- Đề tài tập trung nghiên cứu các vấn đề lý luận và thực tiễn về các hình phạt chính không tước tự do trong LHS Việt Nam, đó là hình phạt cảnh cáo, phạt tiền, cải tạo không giam giữ, trục xuất
- Đề tài nghiên cứu thực tiễn áp du ̣ng các hình phạt chính trên tại tỉnh Phú Thọ trong 5 năm từ năm 2011 đến năm 2015
4 Phương pháp nghiên cứu đề tài
Đề tài được nghiên cứu trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về cải cách tư pháp; những luận điểm khoa học trong các công trình nghiên cứu, sách chuyên khảo và các bài viết đăng trên tạp chí của một số nhà khoa học luật hình sự
Các phương pháp nghiên cứu cụ thể được sử dụng trong Luận văn là các
phương pháp: phân tích, tổng hợp,lịch sử, so sánh, thống kê
5 Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luâ ̣n và danh mu ̣c tài liê ̣u tham khảo , đề tài được kết cấu thành 03 chương sau:
Chương 1: Một số vấn đề chung về các hình phạt chính không tước tự do
trong luật hình sự
Chương 2: Các quy định về hình phạt chính không tước tự do trong Bộ luật
hình sự năm 1999 và thực tiễn áp dụng
Chương 3: Hoàn thiện pháp luật và một số giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng
các quy định về hình phạt chính không tước tự do trong Bộ luật hình sự hiện hành
Trang 13Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ CÁC HÌNH PHA ̣T CHÍNH
KHÔNG TƯỚC TỰ DO TRONG LUẬT HÌNH SỰ
1.1 Khái niệm , đă ̣c điểm và ý nghĩa của các hình phạt chính không tước tự do
1.1.1 Khái niệm và đặc điểm của các hình phạt chính không tước tự do
Đấu tranh phòng ngừa, chống tội phạm để tiến tới ổn định trật tự xã hội, bảo
vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, bảo vệ lợi ích của giai cấp thống trị luôn là nhiệm vụ tất yếu khách quan của bất kì một nhà nước nào trong bất kì một
xã hội nào Một trong những công cụ hữu hiệu để Nhà nước thực hiện nhiệm vụ tất yếu khách quan đó chính là hình phạt Hiệu quả của việc xử lý hành vi phạm tội thông qua hình phạt phụ thuộc rất nhiều vào việc quy định và áp dụng các quy định
đó như thế nào trong thực tế
Về mặt lập pháp, trong bất kì một Nhà nước nào, các quy định của pháp luật thuộc lĩnh vực tư pháp hình sự nói chung và các quy định của hệ thống pháp luật hình sự (PLHS) nói riêng đều nhằm phải mục đích hàng đầu là bảo vệ các quyền tự
do của con người tránh khỏi không chỉ sự xâm hại có tính chất tội phạm của công dân khác, mà còn sự tùy tiện của một số quan chức trong bộ máy công quyền đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn vi phạm thô bạo pháp chế và dân chủ, khi áp dụng hình phạt với tư cách là biện pháp cưỡng chế về hình sự nghiêm khắc nhất Chính vì vậy, mục đích hình phạt ra sao và hệ thống hình phạt trong LHS của một quốc gia như thế nào, cũng là những tiêu chí cơ bản và quan trọng để đánh giá mức độ dân chủ và nhân đạo, pháp chế và nhân văn trong quốc gia đó
Tội phạm và hình phạt thuộc những đối tượng nghiên cứu chủ yếu và quan trọng nhất của khoa học LHS Trong công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm, các hình phạt có ý nghĩa quyết định và góp phần phát huy được vai trò tích cực là một bộ phận cấu thành không thể thiếu trong hệ thống các biện pháp tác động của Nhà nước
và xã hội đến tội phạm Hình phạt là một phạm trù pháp lý - xã hội phức tạp, là hệ
Trang 14quả của một loạt các sự kiện, tình tiết đã diễn ra Đây là một phạm trù được nghiên cứu trong nhiều lĩnh vực khoa học khác nhau từ triết học, tâm lý học, tội phạm học, điều tra hình sự, giáo dục học nhưng được nghiên cứu nhiều nhất dưới góc độ khoa
học LHS C.Mác đã từng viết: “Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho lợi ích giai cấp
thống trị trong một xã hội nhất định”,“Hình phạt chẳng qua là thủ đoạn tự vệ của xã hội với những hành vi xâm phạm những điều kiện tồn tại của xã hội đó” [5, tr.531]
Trong lịch sử nhân loại có những quan niệm khác nhau về bản chất và nội dung của hình phạt Nhưng về cơ bản, có hai quan điểm chính sau:
Quan điểm thứ nhất coi hình phạt là công cụ trừng trị, trả thù người phạm tội, lấy sự khắc nghiệt của tội phạm làm điều răn cho người phạm tội Quan điểm thứ hai coi hình phạt là công cụ pháp lý cần thiết để đấu tranh phòng, chống tội phạm, cải tạo giáo dục người phạm tội [18, tr.107-108]
Trong khoa học LHS Việt Nam, các nhà khoa học cũng có nhiều quan điểm
về hình phạt, về cơ bản các quan điểm đó là thống nhất, mặc dù trong mỗi quan niệm đó có những sự khác nhau nhất định:
GS.TSKH Lê Văn Cảm đưa ra khái niệm:
Hình phạt là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất của Nhà nước được quyết định trong bản án kết tội có hiệu lực pháp luật của Tòa án để tước bỏ hay hạn chế quyền, tự do của người bị kết án theo các quy định của pháp luật hình
sự [6, tr.11-12]
Theo quan điểm của GS.TS Nguyễn Ngọc Hòa thì:
Hình phạt là biện pháp cưỡng chế nhà nước nghiêm khắc nhất được quy định trong luật hình sự, do Tòa án áp dụng cho chính người đã thực hiện tội phạm, nhằm trừng trị và giáo dục họ, góp phần vào việc đấu tranh phòng và chống tội phạm, bảo
vệ chế độ và trật tự xã hội cũng như các quyền và lợi ích hợp pháp của của công dân [20, tr.29]
PGS.TS Trịnh Quốc Toản đã định nghĩa:
Hình phạt là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc của Nhà nước, được quy định trong luật hình sự, do Tòa án quyết định áp dụng đối với người phạm tội và được
Trang 15thể hiện ở việc tước bỏ hoặc hạn chế quyền, lợi ích của họ nhằm giáo dục, cải tạo
họ trở thành người có ích cho xã hội, không phạm tội mới, giáo dục mọi công dân
có ý thức tôn trọng pháp luật, đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm [55, tr.48]
Lần đầu tiên, BLHS nước ta có một số điều luật nêu khái niệm của hình phạt Trước khi khái niệm về hình phạt được quy định chính thức trong BLHS, thì hình phạt chỉ được nghiên cứu như là một khái niệm có tính chất khoa học, trên các tạp chí khoa học, tạp chí chuyên ngành hoặc trong các giáo trình của các trường đại học Việc BLHS năm 1999 dành một điều quy định khái niệm về hình phạt là một bước tiến trong công tác lập pháp Khái niệm hình phạt quy định tại Điều 26 BLHS
đã nêu đầy đủ nội dung, bản chất của hình phạt
Theo quy định tại Điều 26 BLHS thì: “Hình phạt là biện pháp cưỡng chế
nghiêm khắc nhất của Nhà nước nhằm tước bỏ hoặc hạn chế quyền, lợi ích của người phạm tội được quy định trong Bộ luật hình sự và do Tòa án áp dụng đối với người phạm tội” [43, tr 27]
Nhà nước đặt ra hình phạt nhưng hình phạt đó phải tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi do người phạm tội thực hiện Tính chất, mức độ của hành vi phạm tội phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: Nhân thân người phạm tội, quan hệ xã hội bị xâm phạm, thiệt hại đã gây ra hoặc đe dọa gây ra cho xã hội, ý thức chủ quan của người phạm tội BLHS năm 1999 quy định hệ thống hình phạt chính bao gồm: Cảnh cáo, phạt tiền, cải tạo không giam giữ, trục xuất, tù có thời hạn, tù chung thân, tử hình; các loại hình phạt đó được sắp xếp theo trật tự tăng dần về mức độ nghiêm khắc, thể hiện chính sách hình sự của Nhà nước ta là kết hợp giáo dục, thuyết phục với cưỡng chế, trấn áp
Trong số các hình phạt chính trên thì hình phạt cảnh cáo, phạt tiền, cải tạo không giam giữ và trục xuất là các hình phạt chính không tước tự do của người bị tuyên án Những người phạm tội bị áp dụng các hình phạt chính không tước tự do vẫn có thể được di chuyển, cư trú, giao tiếp với xã hội trong phạm vi nhất định Điều đó có nghĩa là họ không bị cách ly ra khỏi xã hội và vẫn có quyền tự do
Các hình phạt chính không tước tự do được hiểu và được định nghĩa như
Trang 16thế nào trước hết phải dựa trên cơ sở các đặc điểm thuộc về bản chất của loại
hình phạt này
- Thứ nhất, hình phạt chính không tước tự do là biện pháp cưỡng chế
nghiêm khắc nhất của Nhà nước Trong hệ thống pháp luật của Nhà nước, có nhiều biện pháp cưỡng chế như xử phạt hành chính, buộc bồi thường thiệt hại về tài sản, xử lý kỷ luật So với các biện pháp cưỡng chế khác thì chỉ có hình phạt là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất vì: hình phạt đánh vào lợi ích kinh tế, hình phạt hạn chế quyền tự do thân thể, hình phạt được ghi vào lai lịch tư pháp của người phạm tội hay có án tích Án tích là đặc điểm nhân thân bất lợi cho người phạm tội trong đời sống xã hội, trong khi người phạm tội có hành vi vi phạm pháp luật Án tích có thể bị coi là tình tiết định tội, tình tiết định khung tăng nặng, tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự Do vậy, hình phạt hoàn toàn khác với những chế tài của ngành luật khác như bồi thường thiệt hại trong Luật dân sự, phạt tiền trong Luật hành chính…
- Thứ hai, hình phạt chính không tước tự do chỉ áp dụng đối với người phạm
tội Quy định này vừa thể hiện trong Điều 26 về khái niệm hình phạt, vừa thể hiện
tính nguyên tắc cơ sở trách nhiệm hình sự (Điều 2 BLHS năm 1999): "Chỉ người
nào phạm một tội đã được Bộ luật Hình sự quy định mới phải chịu trách nhiệm hình sự" [40, tr.5] BLHS chỉ cho phép truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người thực
hiện hành vi phạm tội chỉ người nào phạm tội người ấy mới phải chịu trách nhiệm hình sự Mọi công dân đều phải chịu trách nhiệm về hành vi của mình theo quy định
của pháp luật Điều 2 BLHS 1999: “Chỉ người nào phạm một tội đã được Bộ luật
hình sự quy định thì mới phải chịu trách nhiệm hình sự” Như vậy, LHS Việt Nam
không cho phép người khác chịu hình phạt thay cho người phạm tội Quy định này thể hiện nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa của pháp LHS Việt Nam, thể hiện mục đích áp dụng hình phạt là giáo dục, cải tạo người phạm tội để họ trở thành người lương thiện có ích cho xã hội Hình phạt chính được quy định cụ thể trong luật, các chủ thể không có quyền thoả thuận các chế tài khác với quy định của luật như một số ngành luật khác (chẳng hạn trong Luật dân sự có quy định trừ trường hợp các bên có thoả thuận khác)
Trang 17- Thứ ba, hình phạt chính không tước tự do được quy định trong BLHS, do
Tòa án nhân danh Nhà nước áp dụng bằng bản án kết tội có hiệu lực pháp luật đối với người phạm tội Hình phạt là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất nên Hiến pháp năm 2013 và các BLHS, BLTTHS hiện hành đều khẳng định Tòa án là cơ quan duy nhất có quyền xét xử Quy định này thể hiện tính kiên quyết, thận trọng của Nhà nước trong đấu tranh chống tội phạm đồng thời bảo đảm lợi ích chính đáng của công dân Quy định này còn thể hiện sự thống nhất giữa tội phạm và hình phạt Chỉ có Tòa án mới có quyền xét xử và quyết định hình phạt với người phạm tội theo trình tự thủ tục do BLTTHS quy định Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử căn cứ vào quy định của BLHS và BLTTHS, bảo đảm xét xử đúng người, đúng tội, chính xác, khách quan, bảo đảm không ai bị coi là có tội khi chưa có bản án kết tội
có hiệu lực pháp luật của Tòa án Tội phạm là cơ sở phải chịu hình phạt, ngược lại hình phạt là hậu quả pháp lý của tội phạm nhằm trừng trị vào giáo dục người phạm tội, giáo dục người khác tôn trọng pháp luật, đấu tranh phòng chống tội phạm Bản
án của Toà án có thẩm quyền xác định hình phạt cụ thể đối với người phạm tội Để quyết định hình phạt đối với một người phải thông quá một quá trình tố tụng hình
sự nghiêm ngặt, chỉ khi xác định được hành vi phạm tội của người đó Toà án có thẩm quyền mới áp dụng hình phạt tương ứng
- Thứ tư, các hình phạt chính không tước tự do không được áp dụng đối với
các tội phạm rất nghiêm trọng và đặc biệt nghiêm trọng
Căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi, BLHS năm
1999 phân loại tội phạm thành 4 loại: Tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng, tội phạm rất nghiêm trọng và tội phạm đặc biệt nghiêm trọng, theo đó:
Tội phạm ít nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại không lớn cho
xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là đến ba năm tù; tội phạm nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là đến bảy năm tù; tội phạm rất nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại rất lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là đến mười lăm năm tù;
Trang 18tội phạm đặc biệt nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại đặc biệt lớn cho
xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là trên mười lăm năm tù, tù chung thân hoặc tử hình [40, tr.6]
Theo quy định của BLHS, các hình phạt chính không tước tự do như Cảnh cáo, phạt tiền chỉ áp dụng đối với người phạm tội ít nghiêm trọng (điều 29, 30); hình phạt cải tạo không giam giữ chỉ áp dụng đối với người phạm tội ít nghiêm trong hoặc phạm tội nghiêm trọng (điều 31); Đối với hình phạt trục xuất, mặc dù BLHS 1999 không quy định cụ thể loại tội nào được áp dụng hay loại tội nào không được áp dụng Nhưng trong thực tiễn xét xử, Toà án các cấp chưa bao giờ áp dụng hình phạt trục xuất là hình phạt chính đối với người phạm tội rất nghiêm trọng và đặc biệt nghiêm trọng, mà chỉ áp dụng hình phạt này là hình phạt bổ sung
- Thứ năm, người bị áp dụng hình phạt chính không tước tự do không bị cách
ly khỏi xã hội Đây là đặc điểm quan trọng nhất của hình phạt chính không tước tự
do Vì người bị kết án được giáo dục, cải tạo không cần phải cách ly khỏi xã hội, được chấp hành án trong môi trường bình thường nơi người đó sống hoặc làm việc, công tác Người bị kết án tự cải tạo với sự giám sát, giúp đỡ và giáo dục của cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội, chính quyền địa phương và gia đình Ở hình phạt chính không tước tự do, người chấp hành án phải tự giác cải tạo là chủ yếu.Trong quá trình cải tạo người phạm tội không phải chịu sự quản lý, giám sát chặt chẽ như
ở hình phạt tước tự do mà chỉ phải chịu sự quản lý, giám sát ở một mức độ nhẹ hơn Các hình phạt chính không tước tự do thể hiện rõ nét hơn nội dung giáo dục, tính chất cưỡng chế về hình sự ít hơn khi so với các hình phạt tước tự do
- Thứ sáu, việc thi hành hình phạt chính không tước tự do được thực hiện bởi
nhiều cơ quan, tổ chức khác nhau nhằm phát huy cao độ vai trò của cộng đồng trong việc giáo dục, cải tạo người phạm tội Việc thi hành hình phạt chính không tước tự
do được thực hiện bởi nhiều cơ quan, tổ chức khác nhau Người chấp hành hình phạt chính không tước tự do được cải tạo dưới sự giám sát, giúp đỡ và giáo dục của
cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội, chính quyền địa phương và gia đình Người bị chấp hành án có nhiều cơ hội hoà nhập với xã hội, được hưởng các chế độ sinh hoạt
Trang 19bình thường, nếu không muốn bị áp dụng các biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc hơn thì người đó phải tự giác cải tạo cho thật tốt, xoá đi mặc cảm của chính mình và thành kiến của cộng đồng, tái hoà nhập đầy đủ với xã hội Hình phạt chính không tước tự do với mục đích cơ bản là giáo dục, cải tạo người phạm tội trở thành người lương thiện, hoà nhập đầy đủ với xã hội, cộng đồng
Từ những phân tích trên, có thể đưa ra khái niệm hình pha ̣t chính không tước
tự do là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất của Nhà nước, do Tòa án quyết định
độc lập(có thể kèm theo hình phạt bổ sung) trên cơ sở các quy định của BLHS về hình phạt chính, được thể hiện trong bản án kết tội có hiệu lực pháp luật buộc người
bị kết án phải chịu một hoặc một số hậu quả pháp lý bất lợi nhưng không cách ly họ khỏi cuộc sống xã hội, nhằm giáo dục, cải tạo họ và phòng ngừa tội phạm
1.1.2 Ý nghĩa của các hình phạt chính không tước tự do trong luật hình
sự Việt Nam
Thứ nhất, về chính trị: Với bản chất của nhà nước pháp quyền của nhân
dân, do dân và vì dân, nhà nước luôn đề cao các nguyên tắc tôn trọng và bảo vệ quyền con người là thành viên của cộng đồng xã hội Mục tiêu của nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa là bảo đảm và phát triển quyền công dân và quyền con người, trong đó có quyền tự do cá nhân phù hợp với lợi ích chung của xã hội là những giá trị cao quý nhất cần phải được tôn trọng và bảo vệ
Trong nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, công dân có toàn quyền định đoạt các quyền con người, quyền công dân của mình Các quyền này chỉ có thể bị hạn chế theo quy định của luật trong những trường hợp đặc biệt, như được quy định tại
Hiến pháp năm 2013: “Quyền con người, quyền công dân chỉ có thể bị hạn chế theo
quy định của luật trừ trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật
tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng” [44, Điều 14, khoản 2]
Việc hạn chế quyền con người theo quy định của luật chính là điều kiện để bảo đảm tính hiện thực của các quyền con người, quyền công dân trong xã hội
Việc quy định các hình phạt chính không tước tự do trong LHS là thể hiện rõ quan điểm của Nhà nước trong việc hạn chế tối đa tác động đến quyền con người,
Trang 20trong đó có quyền tự do của người phạm tội Việc áp dụng hình phạt đối với người phạm tội phải phù hợp với tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội và nhân thân của người phạm tội Đồng thời, việc quy định các hình phạt chính không tước tự do chính là thúc đẩy khả năng của người phạm tội trong việc tự hoạch định và cải tạo bản thân
Thứ hai, về pháp lý: Hình phạt không tước tự do thể hiện sự đa dạng hoá
các loại hình phạt trong LHS và là điều kiện đảm bảo tính thống nhất trong thực tiễn xét xử của các Toà án, đảm bảo cho việc xét xử bình đẳng, công bằng
Bởi để đảm bảo xét xử công bằng, bình đẳng, đòi hỏi Toà án trong quá trình quyết định hình phạt phải xem xét và đánh giá mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội và nhân thân của người phạm tội Điều 45 BLHS quy định hành vi phạm tội và nhân thân người phạm tội trong thực tiễn thì đòi hỏi Toà phải lựa chọn một loại hình phạt hợp lý trong phạm vi luật quy định áp dụng đối với hành vi phạm tội đó, đồng thời xem xét các điêu kiện luật định, áp dụng một hình phạt nhẹ hơn hình phạt được quy định hoặc dưới mức thấp nhất của hình phạt được quy định rõ ràng Do
đó, nếu một hệ thống hình phạt đa dạng sẽ đảm bảo cho toà án có thể quyết định được một hình phạt thích hợp, vừa bảo đảm mục đích răn đe, cải tạo giáo dục và phòng ngừa tội phạm, đồng thời đảm bảo tính công bằng, bình đẳng trong xét xử
Chính sách hình sự của Nhà nước ta đòi hỏi nghiêm trị phải kết hợp với khoan hồng Điều 3 BLHS năm 1999 quy định:
Nghiêm trị người chủ mưu, cầm đầu, chỉ huy, ngoan cố chống đối, lưu manh, cồn đồ, tái phạm nguy hiểm, lợi dụng chức vụ, quyền hạn để phạm tội; người phạm tội dùng thủ đoạn xảo quyệt, có tổ chức, có tính chất chuyên nghiệp, cố ý gây hậu quả nghiêm trọng Khoan hồng đối với người tự thú, thành khẩn khai báo, tố giác người đồng phạm, lập công chuộc tội, ăn năn hối cải, tự nguyện sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại gây ra Đối với người lần đầu phạm tội ít nghiêm trọng, đã hối cải, thì có thể áp dụng hình phạt nhẹ hơn hình phạt tù, giao họ cho cơ quan, tổ chức hoặc gia đình giám sát, giáo dục [40, tr.5]
Trang 21Để thực hiện được chính sách này đòi hỏi phải có một hệ thống các biện pháp hình sự đa dạng với các mức độ nặng, nhẹ khác nhau để tạo điều kiện cho toà
án có thể áp dụng hình phạt có tính nghiêm khắc để có thể nghiêm trị khi cần thiết,
và các hình phạt nhẹ và các biện pháp xử lý khác để có thể khoan hồng Một yêu cầu quan trọng của nguyên tắc phân hoá TNHS là việc xây dựng một hệ thống hình phạt đa dạng, trong đó có cả các hình phạt không tước tự do của người phạm tội, phù hợp với tính đa dạng về tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của tội phạm
Mặt khác, các hình phạt chính không tước tự do có vai trò quan trọng trong việc tạo ra một hệ thống chế tài có tính thứ bậc, cùng chiều đối với việc điều chỉnh các hành vi trong xã hội; là sự kết nối giữa các chế tài xử lý hành chính với các hình phạt có tính nghiêm khắc nhất trong hình sự
Thứ ba, về nhân đạo: Nguyên tắc nhân đạo mà biểu hiện cụ thể là việc coi
giáo dục, cải tạo là tư tưởng nền tảng chi phối toàn bộ hoạt động xây dựng và áp dụng LHS Đối với người phạm tội, việc áp dụng các hình phạt không tước tự do, người bị kết án chỉ phải chịu sự tổn thất các mặt ở mức tối thiểu: đó là sự tổn thất nhất định về tinh thần (cảnh cáo, cải tạo không giam giữ), một thiệt hại nhất định về vật chất (phạt tiền, tịch thu tài sản) nhưng các lợi ích cơ bản khác của người phạm tội vẫn được bảo đảm, đặc biệt họ không phải cách ly khỏi xã hội, được sống và lao động trong môi trường bình thường, hạn chế đến mức cao nhất các tác động bất lợi đối với người phạm tội từ việc bị áp dụng các chế tài hình sự mà đặc biệt là các hình phạt có tính chất giam giữ, cụ thể ở những điểm sau:
Người phạm tội chấp hành án tại cộng đồng sẽ không bị gián đoạn và ngắt quãng trong các mối quan hệ xã hội, hoà nhập bình thường vào cuộc sống xã hội Người chấp hành án tại cộng đồng sẽ không bị mất đi khả năng tự chủ, tự quyết định - một trong những biểu hiện của người tự do - những vấn đề liên quan đến cuộc sống của họ
Người chấp hành án sống trong trại cải tạo phải từ bỏ các tự do và tự chủ trong việc đưa ra sự lựa chọn và quyết định liên quan đến cuộc sống của họ, họ phải tuân theo các quy tắc và các lệnh được thiết kế để kiểm soát hành vi của mình
Trang 22Người phạm tội được cho biết nơi để sống và khi nào và những gì để ăn, họ được yêu cầu mặc quần áo quy định, thực hiện công việc nhất định và theo nhiều quy tắc khác Dần dần, thói quen tự đưa ra các quyết định dần dần bị ảnh hưởng và họ trở nên phụ thuộc vào mệnh lệnh của bên ngoài ngày càng trở nên phụ thuộc vào các quyết định và các kế hoạch mà nhà tù đã hoạch định cho họ hàng ngày Điều này dẫn đến nếu được tự do và tự chủ trước đây thì việc hoà nhập vào cộng đồng rất khó khăn; một số phạm nhân còn gặp khó khăn trong việc quyết định những việc riêng của họ, hoặc để kiềm chế hành vi của họ (vì không có người hướng dẫn, giám sát), đặc biệt là các phạm nhân phải chịu các án dài hạn có thể đã bị mất khả năng đưa ra quyết định cho bản thân và rất khó có thể sống một cuộc sống trong cộng đồng
Trong khi đó, người chấp hành án tại cộng đồng vẫn được sinh sống bình thường tại nơi họ vẫn đang sinh sống Họ hoàn toàn được chủ động đưa ra các kế hoạch và thực hiện theo mong muốn của họ Trong cuộc sống hàng ngày, họ tự chủ động và tự giác kiềm chế thực hiện những hành vi nguy hiểm cho xã hội một cách chủ động và tự nguyện Do đó, khả năng cải tạo của họ tốt hơn
Người chấp hành án ở cộng đồng không bị ảnh hưởng xấu từ các phạm nhân khác Việc thường xuyên tiếp xúc với cùng một nhóm người nhất định, đặc biệt trong điều kiện bị giới hạn tiếp xúc với những quan hệ khác sẽ dần dần dẫn tới việc chi phối và ảnh hưởng và tác động về tính cách giữa các thành viên trong nhóm
Như vậy, nếu bị áp dụng hình phạt tù, người phạm tội phải ở trong môi trường giới hạn về không gian và các mối quan hệ giao tiếp Điều này là cơ sở để tạo ra các mối quan hệ giữa các phạm nhân với nhau và có thể dẫn đến việc học và tiếp thu những tính cách xấu của nhau, và trong nhiều trường hợp tạo ra sự liên kết
để cùng nhau phạm tội khi được mãn hạn tù
Ngược lại, người phạm tội bị áp dụng các hình phạt không tước tự do được sinh sống bình thường tại xã hội, được tiếp thu các quan hệ tích cực từ gia đình và người thân và có quan hệ không bị giới hạn đối với các quan hệ xã hội Do đó, họ
có khả năng và điều kiện để tránh bị ảnh hưởng từ các quan hệ không tích cực, có khả năng lựa chọn các quan hệ xã hội có tính tích cực và đa dạng để hoàn thiện và phát triển bản thân
Trang 23Thứ tư, về mặt xã hội: Việc tăng cường các hình phạt chính không tước tự
do có vai trò về mặt xã hội ở hai khía cạnh:
Một là, các hình phạt chính không tước tự do tăng cường tính trách nhiệm
của người phạm tội đối với cộng đồng
Bởi khi chấp hành án tại cộng đồng, người bị kết án và bị áp dụng các hình phạt chính không tước tự do được cải tạo dưới sự giám sát, giúp đỡ và giáo dục của
cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội, chính quyền địa phương và gia đình Các nhân tố
đó đóng vai trò rất quan trọng trong việc cảm hoá người phạm tội trở thành người lương thiện Người bị kết án được hoà nhập với xã hội, được hưởng các chế độ sinh hoạt bình thường, nếu không muốn bị áp dụng các biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc hơn thì người đó phải tự giác cải tạo cho thật tốt, xoá đi mặc cảm của chính mình và thành kiến của cộng đồng, tái hoà nhập đầy đủ với xã hội Bản thân người
bị kết án có nhiều cơ hội để sữa chữa lỗi lầm, tích cực rèn luyện, tu dưỡng Các hình phạt không tước tự do có vai trò quan trọng trong việc nâng cao trách nhiệm của người phạm tội đối với những hậu quả do hành vi phạm tội của họ gây ra cho nạn nhân nói riêng và cộng đồng xã hội nói chung Qua đó, hình thành tính trách nhiệm bản thân, khả năng tự kiểm soát, tự tha thứ, thông cảm qua đó có tác dụng hạn chế khả năng tái phạm
Hai là, với sự tham gia đa dạng các tổ chức, đoàn thể xã hội trong việc cảm
hoá, giáo dục người phạm tội chấp hành các hình phạt chính không tước tự do tại địa phương, các hình phạt không tước tự do thể hiện vai trò trách nhiệm của cộng đồng và xã hội trong việc chia sẻ trách nhiệm của nhà nước trong việc cải tạo giáo dục người phạm tội
Thứ năm, về mặt kinh tế: Tội phạm là một trong những hiện tượng xã hội có
tính tiêu cực, là biểu hiện của mặt trái xã hội, nên gây ra các chi phí tổn thất cho xã hội Chính sách hình sự nói chung, chính sách hình phạt nói riêng chỉ đạt hiệu quả tối ưu khi tiết kiệm được các nguồn lực xã hội
Trong việc thi hành hình phạt, chi phí xã hội của hình phạt có thể hiểu là chi phí mà người chấp hành án phải gánh chịu trong quá trình thi hành án và chi phí của
xã hội liên quan đến việc thi hành án đó Như vậy, chi phí xã hội của việc thi hành
Trang 24hình phạt bao gồm: Chi phí của người chấp hành án phải bỏ ra để chấp hành án, trong đó có cả chi phí cơ hội của việc thi hành án, chi phí của nhà nước trong việc
tổ chức thi hành án và chi phí đối với gia đình người chấp hành án Dưới góc độ kinh tế, chi phí xã hội của việc thi hành án càng thấp, hình phạt đó càng hiệu quả
Khi so sánh chi phí xã hội đối với thi hành các hình phạt không tước tự do với hình phạt tù, hình phạt tử hình, cho thấy chi phí thi hành các hình phạt chính không tước tự do thấp hơn so với chi phí thi hành các hình phạt tù có thời hạn, tù chung thân và tử hình
1.2 Khái quát lịch sử quy định hình phạt chính không tước tự do trong Luâ ̣t hình sự Viê ̣t Nam
1.2.1 Giai đoạn từ năm 1945 đến trước khi ban hành Bộ luật hình sự năm 1985
Sau Cách mạng tháng Tám 1945, Nhà nước ta còn non trẻ nên nhiều lĩnh vực, nhiều quan hệ xã hội vẫn chưa chịu sự điều chính của pháp luật hoặc chưa hoàn thiện Vì vậy, để kịp thời điều chỉnh các quan hệ pháp luật hình sự phát sinh, Nhà nước ta đã ban hành Sắc lệnh 47/SL ngày 10/10/1945 về việc “Cho giữ tạm thời các luật lệ hiện hành cho đến khi ban hành những bộ luật pháp cho toàn quốc”
để áp dụng các quy định của chế độ cũ nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội của nhà nước mới Tới năm 1955, Bộ Tư Pháp mới có Thông tư 19-VHH ngày 30/6/1955 và Thông tư số 2140-VHH/HS ngày 06/12/1955, yêu cầu không viện dẫn luật hình sự
cũ để xét xử nữa [3] Ngày 10/7/1959 Toà án nhân dân tối cao ra chỉ thị số 772/TATC về đình chỉ áp dụng pháp luật cũ của đế quốc và phong kiến Như vậy, các văn bản pháp luật của chế độ cũ đã chấm dứt có hiệu lực [47, tr.6]
Trong quá trình đó, Nhà nước đã ban hành nhiều Sắc lệnh, Pháp lệnh để điều chỉnh các quan hệ xã hội, trong đó có quan hệ pháp luật hình sự ở các lĩnh vực như: Sắc lệnh số 68 ngày 30/11/1945 ấn định thể lệ về trưng dụng, trưng thu, trưng tập, Sắc lệnh số 154-SL ngày 17/11/1950 ấn định hình phạt trừng trị việc tiết lộ bí mật
cơ quan hoặc công tác của Chính phủ, Pháp lệnh ngày 13/10/1966 quy định cấm nấu rượu trái phép, Pháp lệnh ngày 21/10/1970 trừng trị các tội xâm phạm tài sản xã hội chủ nghĩa
Trang 25Qua các văn bản pháp luật hình sự đã ban hành thì các hình phạt chính không tước tự do được quy định và áp dụng trong giai đoạn này gồm có các loại hình phạt: cảnh cáo; phạt tiền; cải tạo không giam giữ; cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định; tước một số quyền công dân; tịch thu tài sản
- Hình phạt cảnh cáo:
Đây là biện pháp chế tài vừa là biện pháp xử lý hành chính vừa là hình phạt Nhưng thời kỳ này chưa có sự phân định rõ giữa hình phạt và biện pháp xử lý hành chính bằng hình thức cảnh cáo
Theo Điều 13 Luật số 100-SL/L2 ngày 20-5-1957 về chế độ báo chí thì tuỳ theo lỗi vi phạm nặng hay nhẹ mà báo chí bị cảnh cáo, đình bản tạm thời hoặc bị truy tố trước pháp luật, có thể bị phạt tiền Như vậy, điều luật này quy định cả trường hợp xử lý hành chính và truy tố trước pháp luật về hành vi phạm tội trong lĩnh vực báo chí Nhưng cũng theo điều luật này thì biện pháp cảnh cáo được coi là hình thức xử lý hành chính đối với mức độ vi phạm nhẹ hơn Mặt khác, theo hướng dẫn của các cơ quan có thẩm quyền trong thời kỳ này, thì khi bị truy tố trước pháp luật về hành vi phạm tội trong lĩnh vực báo chí, Toà án vẫn có thể áp dụng hình phạt nhẹ nhất là cảnh cáo, và khi áp dụng cảnh cáo thì Toà án cũng có quyền quyết định cho công bố tại một hội nghị báo chí hoặc trên một hoặc nhiều báo
Ngày 18/1/1961, Pháp lệnh quy định thể lệ bầu cử Hội đồng nhân dân các cấp ra đời đã có sự phân định và quy định rõ ràng hơn về hình phạt cảnh cáo Pháp lệnh đã có những quy định về việc áp dụng hình phạt cảnh cáo đối với một số trường hợp phạm tội, coi cảnh cáo là một hình phạt cụ thể và áp dụng đối với hành
vi phạm tội Theo Pháp lệnh thì Cảnh cáo là hình phạt nhẹ nhất trong thang hình phạt và khi được áp dụng thì luôn được áp dụng là hình phạt chính
Ví dụ:
Người nào dùng thủ đoạn lừa gạt, mua chuộc hoặc cưỡng ép làm trở ngại đến quyền tự do bầu cử và ứng cử của công dân, thì tuỳ mức độ nặng nhẹ mà có thể bị cảnh cáo hoặc bị phạt tù, nặng nhất là hai năm (Điều 61)
Trang 26Mọi người đều có quyền và bổn phận tố cáo các việc làm trái pháp luật trong lúc bầu cử Ai cản trở hoặc trả thù người tố cáo, thì tuỳ mức độ nặng nhẹ mà có thể bị cảnh cáo hoặc bị phạt tù, nặng nhất là 3 năm (Điều 63)
- Hình phạt tiền:
Đây là hình phạt có từ rất sớm, được áp dụng chủ yếu đối với loại tội phạm
có tính chất cưỡng chế về mặt kinh tế đối với các hành vi vụ lợi nhằm tước đoạt các món lợi bất chính mà bị cáo đã thu được
Cách mạng tháng 8/1945 thành công, nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời đã mở ra trang sử mới cho toàn thể dân tộc Việt Nam Trong thời kỳ này, nhiệm
vụ trọng tâm, quan trọng đặt ra cho các cơ quan nhà nước, trong đó có các cơ quan bảo vệ pháp luật là phải bảo vệ chính quyền nhà nước non trẻ trước các thế lực phản động, chống phá cách mạng và tiếp tục cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp đưa dân tộc ta đi đến thắng lợi cuối cùng
Nhà nước ta đã ban hành hàng loạt các văn bản pháp luật trong lĩnh vực hình sự như: Sắc lệnh số 223-SL ngày 17/11/1946 về trừng trị các tội hối lộ; Sắc lệnh số 27-SL ngày 28/2/1946 quy định việc trừng trị những hành vi bắt cóc, tống tiền và ám sát; Sắc lệnh số 61-SL ngày 5/7/1947 cấm xuất cảng tư bản; Sắc lệnh
số 150-SL ngày 20/12/1950 hay Sắc lệnh số 001-SL ngày 19/4/1957 cấm mọi hành vi đầu cơ kinh tế
Một bước tiến quan trọng trong hoạt động lập pháp giai đoạn này thể hiện qua 4 Pháp lệnh của Ủy ban thường vụ Quốc hội trong khoảng thời gian từ năm
1967 đến năm 1972:
- Pháp lệnh ngày 30/7/1967 trừng trị các tội phản cách mạng;
- Pháp lệnh trừng trị các tội xâm phạm tài sản XHCN;
- Pháp lệnh trừng trị các tội xâm phạm tài sản riêng của công dân cùng được ban hành vào ngày 21/10/1970;
- Pháp lệnh ngày 6/9/1972 quy định về việc bảo vệ rừng
Đồng thời, Nhà nước ta còn cho phép áp dụng một số quy định của pháp luật
Trang 27hình sự phong kiến như một số điều luật của Bộ luật hình sự Bắc Kỳ, Bộ luật hình
sự Trung Kỳ và Bộ luật hình sự Nam Kỳ Tuy nhiên, đến ngày 10/7/1959 Tòa án nhân dân tối cao đã ra chỉ thị số T2-TATC về đình chỉ áp dụng pháp luật cũ của đế quốc và phong kiến
Thời kỳ này, hình phạt tiền thông thường được quy định một khoản tiền với mức tối thiểu và mức tối đa tuỳ theo tính chất nghiêm trọng của tội phạm và tương ứng với giá trị của đồng tiền theo từng thời kỳ do Nhà nước quy định hoặc hình phạt tiền tính tương đương bằng một số lần trị giá hàng phạm pháp hay thu lợi bất chính
Ngày 30/11/1945, Sắc lệnh số 68-SL được ban hành với các quy định về trình
tự cách thức trưng dụng, trưng thu và trưng tập đã có quy định về hình phạt tiền Nhưng ngay cả khi ban hành Sắc lệnh số 68 thì vẫn chưa có sự phân định rõ ràng giữa
hình phạt chính và hình phạt bổ sung Ví dụ: tại Điều 12 quy định: “Người nào nhận
được lệnh trưng tập mà không tuân hành sẽ bị truy tố trước Toà án thường và bị phạt
tù từ 6 ngày đến 3 tháng, và bị phạt tiền từ 100đ đến 2.000đ hoặc bị một trong hai hình phạt ấy” Việc quy định không rõ ràng hình phạt tiền là hình phạt chính hay hình
phạt bổ sung sẽ tạo ra sự tuỳ nghi trong áp dụng pháp luật và sẽ là hướng mở cho Toà
án khi quyết định hình phạt đối với hành vi phạm tội Toà án có thể chỉ áp dụng hình phạt tiền là hình phạt chính hoặc kết hợp giữa phạt tù và phạt tiền
Mặc dù Nhà nước ta đã ban hành rất nhiều văn bản pháp luật trong lĩnh vực hình sự nhưng trong giai đoạn này vẫn chưa có một văn bản nào quy định về hệ thống hình phạt Về cơ bản, có thể thấy hệ thống hình phạt thời kỳ này gồm:
Hình phạt chính: Cảnh cáo, Tù có thời hạn (trong khoảng từ 6 ngày đến 20 năm), Tù chung thân, Tử hình
Hình phạt phụ gồm: Tước một số quyền lợi của công dân, tịch thu tài sản, cư trú bắt buộc và cấm cư trú từ 1 đến 5 năm, cấm thực hành một số nghề nghiệp nhất định hoặc cấm đảm nhiệm chức vụ liên quan trực tiếp đến tài sản xã hội chủ nghĩa
Ngoài ra, còn có các hình phạt có thể vừa áp dụng là hình phạt chính vừa áp dụng là hình phạt phụ: Quản chế (từ 1 đến 5 năm), phạt tiền
Như vậy, về cơ bản, hình phạt tiền trong các văn bản luật cũng không có sự khác biệt so với Sắc lệnh số 68 ngày 30/11/1945
Trang 28Ngày 30/4/1975, đất nước thống nhất Đây là mốc lịch sử quan trọng của nước ta và cũng là mốc thay đổi của hệ thống pháp luật hình sự Hội đồng Chính phủ nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã quyết định thống nhất về hiệu lực đối với những văn bản pháp luật hiện hành ở hai miền, có thể áp dụng trong phạm vi cả nước Sắc luật 03-SL/76 ngày 15/3/1976 của Cộng hoà miền Nam Việt Nam có hiệu lực áp dụng ở cả hai miền Sắc luật có quy định 7 nhóm tội khác nhau,
có hai nhóm tội là nhóm tội phạm kinh tế, nhóm tội xâm phạm trật tự công cộng, an toàn công cộng và sức khoẻ của công dân, trong đó có điều luật quy định hình phạt tiền áp dụng cùng với hình phạt tù
Giai đoạn này, vẫn chưa có sự tách biệt phạt tiền là hình phạt chính và phạt tiền là hình phạt bổ sung, điều đó có nghĩa là hình phạt tiền vừa có thể được áp dụng là hình phạt chính vừa có thể áp dụng là hình phạt bổ sung
- Hình phạt cải tạo không giam giữ:
Luật Nghĩa vụ quân sự được Quốc hội thông qua ngày 30/12/1981 là văn bản luật đầu tiên ghi nhận hình phạt cải tạo không giam giữ như là một hình phạt trong
hệ thống hình phạt của Việt Nam Luật này quy định:
Người nào đang ở lứa tuổi làm nghĩa vụ quân sự mà không chấp hành đúng những quy định về đăng ký nghĩa vụ quân sự, không chấp hành lệnh gọi nhập ngũ, lệnh gọi tập trung huấn luyện thì tùy mức độ nhẹ hoặc nặng mà bị xử lý bằng biện pháp hành chính, bị phạt cải tạo không giam giữ từ ba tháng đến hai năm, hoặc bị phạt tù từ ba tháng đến hai năm [34, tr 8]
Pháp lệnh trừng trị các tội đầu cơ, buôn lậu, làm hàng giả, kinh doanh trái phép ngày 30/6/1982 cũng quy định:
Người nào kinh doanh không có giấy phép hoặc không đúng với nội dung được phép, trốn thuế, không niêm yết giá, nâng giá cao hơn giá niêm yết, không đăng ký nhãn hiệu hàng hóa, hoặc dùng thủ đoạn khác
để lừa dối cơ quan nhà nước và người tiêu dùng thì bị phạt cải tạo không
Trang 29giam giữ từ ba tháng đến hai năm, hoặc bị phạt tù từ ba tháng đến hai năm, và bị phạt tiền gấp ba lần trị giá hàng phạm pháp [21, tr.5].
Mặc dù các quy định về hình phạt cải tạo không giam giữ trong thời kỳ này còn hạn chế nhưng đã bước đầu cho thấy sự quan tâm của Nhà nước ta đối với chính sách hình sự và vai trò của hình phạt này trong hệ thống pháp luật của Việt Nam Về cơ bản, hình phạt cải tạo không giam giữ trong thời kỳ này chủ yếu có các đặc điểm: Phạm vi áp dụng của hình phạt rất hẹp, chỉ gồm những trường hợp thuộc các tội; Thời hạn hình phạt cải tạo không giam giữ là từ ba tháng đến hai năm
Như vậy, với sự ra đời của hình phạt cải tạo không giam giữ trong hệ thống hình phạt của Việt Nam đã đánh dấu hướng nhìn nhận mới trong chính sách hình sự
và trong công tác xây dựng pháp luật về hình phạt và mục đích của hình phạt, cũng như hoàn thiện pháp luật hình sự trong thời kỳ mới
1.2.2 Giai đoạn từ sau khi ban hành Bộ luật hình sự năm 1985 đến trước khi ban hành Bộ luật hình sự năm 1999
Ngày 27/6/1985, BLHS Việt Nam đầu tiên và cũng là Bộ luật đầu tiên của chúng ta được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam ban hành Khi BLHS này có hiệu lực thi hành thì cũng là lúc sự nghiệp đổi mới bắt đầu Sự thay đổi các mặt của đời sống xã hội, trong đó đổi mới về kinh tế giữ vai trò quan trọng không chỉ là cơ sở mà còn là đòi hỏi cấp bách đối với sự thay đổi của pháp luật nói chung cũng như của luật hình sự nói riêng
Lần đầu tiên trong lịch sử lập pháp của Việt Nam, BLHS năm 1985 được coi
là nguồn duy nhất trong đó quy định tội phạm và hình phạt Khi BLHS 1985 ra đời
đã có những thay đổi lớn trong nhận thức pháp luật của Nhà nước Tuy nhiên, cũng không tránh khỏi những hạn chế, thiếu sót do trình độ lập pháp, do tình hình đất nước thời kỳ này
BLHS 1985 đã được Quốc hội thông qua và có hiệu lực kể từ ngày 01/1/1986
Bộ luật này thể hiện tập trung nhất chính sách hình sự của Đảng và nhà nước, quy định một cách thống nhất, tổng thể và có hệ thống trong cùng một văn bản những vấn
đề về tội phạm và hình phạt trong thời kỳ này Từ khi BLHS 1985 được ban hành cho
Trang 30đến khi BLHS năm 1999 ra đời thay thế, Nhà nước ta đã 4 lần ban hành luật sửa đổi,
bổ sung hoàn thiện BLHS vào các năm 1989, 1990, 1992 và 1997
Về hình phạt, Điều 21 BLHS năm 1985 đã có sự phân định rõ ràng giữa hình phạt chính và hình phạt bổ sung Cụ thể quy định như sau:
1 Đối với người phạm tội, chỉ áp dụng một trong các hình phạt chính sau đây:
Các hình phạt chính không tước tự do được quy định cụ thể tại các Điều 22,
23, 24 BLHS 1985 Trong đó:
Cảnh cáo được áp dụng đối với người phạm tội ít nghiêm trọng và có nhiều tình tiết giảm nhẹ, nhưng chưa đến mức miễn hình phạt
Phạt tiền được áp dụng đối với người phạm các tội có tính chất vụ lợi, các tội
có dùng tiền làm phương tiện hoạt động trong những trường hợp khác do luật này quy định Chỉ trong trường hợp có Điều luật quy định thì phạt tiền mới được áp dụng là hình phạt chính Mức phạt tiền được quyết định theo mức độ nghiêm trọng của tội đã phạm, đồng thời có xét đến tình hình tài sản của người phạm tội
Cải tạo không giam giữ được áp dụng từ sáu tháng đến hai năm đối với người phạm tội ít nghiêm trọng Nếu người bị kết án đã bị tạm giam thì thời gian tạm giam được trừ vào thời hạn chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ, cứ mọt ngày tạm giam bằng ba ngày cải tạo không giam giữ
Từ những phân tích và nghiên cứu về hệ thống hình phạt trong thời kỳ này cho thấy có những đặc điểm sau:
Trang 31Thứ nhất, khác với các loại hình phạt trong hệ thống hình phạt của pháp luật
hình sự việt nam trong thời kì 1945- 1985, đối với tất cả các hình phạt trong hệ thống hình phạt của pháp luật hình sự giai đoạn này, hệ thống hình phạt nước ta đã điều chỉnh cụ thể căn cứ và những điều kiện cụ thể của việc áp dụng đối với từng loại hình phạt
Thứ hai, nếu tính đến thời pháp điển hóa lần thứ hai với việc thông qua
BLHS năm 1999 hiện hành thì pháp luật hình sự giai đoạn này có các quy phạm riêng biệt tại điều 12 điều của một chương độc lập trong phần chung BLHS 1985 (từ điều 21 đến điều 32) đề cập đến một hệ thống hình phạt chặt chẽ chính xác với những điều kiện áp dụng cụ thể 11 loại hình phạt có tính chất bắt buộc đối với Tòa
án là: cảnh cáo; cải tạo không giam giữ; tù có thời hạn; tù chung thân; tử hình; cấm đảm nhiệm chức vụ, làm những công việc nhất định; cấm cư trú; quản chế; tước một số quyền công dân; tịch thu tài sản; phạt tiền
Thứ ba, BLHS đã phân biệt rõ ràng giữa hình phạt và biện pháp hành chính,
giữa hình phạt chính và hình phạt bổ sung; đồng thời quy định rõ nội dung, điều kiện áp dụng các hình phạt chính không tước tự do Trong hệ thống hình phạt theo BLHS 1985 thì năm loại hình phạt đầu tiên là hình phạt chính, năm loại hình phạt tiếp theo là các loại hình phạt bổ sung, hình phạt tiền là hình phạt tùy nghi, từng trường hợp cụ thể tương ứng mà được áp dụng với tính chất là hình phạt chính hoặc hình phạt bổ sung
Thứ tư, nếu tính tại thời điểm mới thông qua BLSH 1985 thì hệ thống hình
phạt còn có hai loại hình phạt nữa được quy định để áp dụng riêng với quân nhân phạm tội (nhưng sau đó đã được loại bỏ khỏi hệ thống hình phạt), trong đó có một hình phạt chính là cải tạo ở đơn vị kĩ luật quân đội
Đối với hình phạt chính không tước tự do, trong thời kỳ này có những đặc điểm sau: Những quy định về các hình phạt chính không tước tự do trong BLHS
1985 đã có sự kế thừa và phát triển của những quy định đã có từ trước đó Các hình phạt chính không tước tự do giờ đã được quy định trong một văn bản pháp luật hình
sự duy nhất là BLHS 1985, cùng với các hình phạt khác được quy định trong BLHS tạo nên một hệ thống hình phạt có mối liên hệ ràng buộc với nhau theo một trật tự
Trang 32thứ bậc về tính nghiêm khắc từ thấp đến cao Việc sắp xếp như vậy tạo điều kiện thuận lợi cho các cơ quan bảo vệ pháp luật, đặc biệt là Toà án trong việc xử lý tội phạm và người phạm tội
1.3 Hình phạt chính không tước tự do trong luâ ̣t hình sự mô ̣t số nước trên thế giới
1.3.1 Luật hình sự Trung Quốc
BLHS Trung Quốc không có bất kỳ điều luật nào quy định về vấn đề phân loại tội phạm Nhưng sau khi nghiên cứu Bộ luật này, chúng ta có thể nhận thấy, tội phạm được phân loại dựa trên các khách thể được pháp luật hình sự Trung Quốc bảo vệ, theo Điều 13 khái niệm tội phạm thì:
Tất cả các hành vi gây nguy hiểm đến chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ và an ninh của quốc gia, chia rẽ quốc gia, phá hoại quyền lực chính trị của chuyên chính dân chủ nhân dân và lật đổ hệ thống xã hội chủ nghĩa, phá hoạt trật tự kinh tế và xã hội; xâm phạm tài sản sở hữu của Nhà nước hoặc của tập thể quần chúng lao động, xâm phạm tài sản của công dân; xâm phạm quyền cá nhân, quyền dân chủ và các quyền khác của công dân; và các hành vi khác gây nguy hiểm cho xã hội được quy định là tội phạm [19, tr.11]
BLHS Trung Quốc không có bất kỳ điều luật nào quy định về vấn đề phân loại tội phạm, nhưng trong quá trình nghiên cứu BLHS, có thể nhận thấy, căn cứ để phân loại tội phạm trong BLHS Trung Quốc là khách thể loại của tội phạm
Hệ thống hình phạt trong BLHS Trung Hoa (được quy định từ Điều 32 đến Điều 60) gồm 6 hình phạt chính và 4 hình phạt bổ sung 6 hình phạt chính là: Trục xuất; quản chế; cải tạo lao động; tù có thời hạn; tù chung thân; tử hình 4 hình phạt
bổ sung là: Phạt tiền; tước các quyền lợi chính trị; tịch thu tài sản; trục xuất Trong
đó, có 1 hình phạt có thể là hình phạt chính, có thể là hình phạt bổ sung là trục xuất
Nghiên cứu cho thấy, hình phạt cải tạo không giam giữ theo quy định của BLHS nước Cộng hòa nhân dân Trung hoa được gọi là “hình phạt cải tạo lao động” Theo đó, thời hạn cải tạo lao động từ 01 tháng đến 06 tháng, tính từ ngày bắt đầu thi
Trang 33hành bản án Cơ quan Công an gần nhất thi hành án cải tạo lao động đối với người
bị kết án Trong thời gian chấp hành, hàng tháng người bị kết án cải tạo lao động có thể được về thăm gia đình từ 01 đến 02 ngày, có thể tính mức thù lao cho người bị kết án cải tạo lao động khi có tham gia lao động Thời gian tạm giam trước khi tuyên án được tính vào thời hạn chấp hành hình phạt cải tạo lao động, 01 ngày tạm giam bằng 01 ngày cải tạo lao động
Về số lượng hình phạt, BLHS Trung Hoa chỉ quy định 9 loại hình phạt (6 hình phạt chính và 4 hình phạt bổ sung; trong đó, có 1 hình phạt có thể là hình phạt chính, có thể là hình phạt bổ sung)
Trong BLHS Trung Hoa, quản chế được quy định là hình phạt chính, còn phạt tiền chỉ được quy định là hình phạt bổ sung BLHS Trung Hoa tuy không quy định hình phạt cải tạo không giam giữ, nhưng lại quy định loại hình phạt khác là cải tạo lao động với thời hạn từ 1 tháng đến 6 tháng BLHS Trung Hoa không quy định hình phạt cảnh cáo trong hệ thống hình phạt của mình vì tính trừng trị, răn đe của nó rất thấp, nếu áp dụng hình phạt này sẽ không đạt được mục đích phòng ngừa riêng
và phòng ngừa chung
Quy định về hình phạt chính và hình phạt bổ sung theo BLHS Trung Hoa:
“Các hình phạt bổ sung có thể được áp dụng độc lập” (Điều 34) Quy định này cho thấy, việc áp dụng hình phạt bổ sung trong BLHS Trung Hoa không khác gì so với việc áp dụng hình phạt chính Theo quy định tại Điều 34 BLHS Trung Hoa thì người phạm tội có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung ngay cả khi họ không bị áp dụng hình phạt chính
Về hình phạt tiền, BLHS Trung Hoa tuy quy định hình phạt tiền là hình phạt bổ sung nhưng lại cho phép áp dụng độc lập loại hình phạt này Thêm vào đó, BLHS Trung Hoa còn quy định biện pháp cưỡng chế đối với người bị kết án trong trường hợp họ không nộp phạt đúng hạn (Điều 53) BLHS Trung Hoa quy định rất
cụ thể biện pháp nhằm bảo đảm khả năng thực thi của hình phạt phạt tiền bằng việc áp dụng biện pháp cưỡng chế trong trường hợp người phạm tội không nộp tiền phạt đúng hạn
Trang 34BLHS Trung Hoa tuy không quy định rõ khái niệm hình phạt tịch thu tài sản, nhưng lại quy định rõ phạm vi áp dụng; đó là:
Nếu tịch thu toàn bộ tài sản cần phải giữ lại một khoản chi phí cuộc sống cần thiết cho người phạm tội và người được người phạm tội nuôi dưỡng Khi tịch thu tài sản, không được tịch thu tài sản thuộc sở hữu của thành viên khác trong gia đình người phạm tội (Điều 59); Khi cần phải dùng tài sản bị tịch thu để trả các khoản nợ hợp pháp mà người
bị kết án vay trước khi tài sản bị tịch thu, thì các khoản nợ đó được thanh toán theo yêu cầu của các chủ nợ [19, tr 60]
1.3.2 Luật hình sự Liên bang Nga
Về hình phạt cải tạo không giam giữ, BLHS Liên bang Nga quy định: Lao động cải tạo được áp dụng đối với người phạm tội không có nghề nghiệp chính và địa điểm chấp hành hình phạt do cơ quan quyền lực địa phương phối hợp với cơ quan thi hành án quyết định nhưng phải nằm trong phạm vi quận, huyện nơi người phạm tội sinh sống Thời hạn lao động cải tạo được quy định từ 02 tháng đến 02 năm Khoản thu nhập của người phạm tội lao động cải tạo sẽ bị khấu trừ để sung quỹ Nhà nước theo mức khấu trừ được quy định trong bản án từ 5% đến 20% Trong trường hợp nếu người phạm tội cố tình trốn tránh chấp hành hình phạt lao động cải tạo, Tòa án có thể thay đổi hình phạt này bằng hình phạt tù,
cứ 01 ngày tù bằng 03 ngày lao động cải tạo Lao động cải tạo không được áp dụng đối với người tàn tật thuộc nhóm một, phụ nữ có thai, phụ
nữ có con nhỏ đến 03 tuổi, quân nhân đang thực hiện nghĩa vụ quân sự Nhà nước, quân nhân đang thực hiện nghĩa vụ quân sự theo thời hạn quân ngũ mà kéo dài niên hạn binh sĩ và hạ sĩ quan nếu những người này vào thời điểm tòa án tuyên chưa hết thời hạn triệu tập phục vụ quân ngũ theo quy định của pháp luật [59, tr 38]
Như vậy, xét về bản chất, hình phạt cải tạo không giam giữ trong BLHS Việt Nam không hoàn toàn giống so với quy định trong BLHS Liên bang Nga Tuy
Trang 35nhiên, các quy định về buộc người bị kết án tham gia lao động cải tạo tại địa phương là quy định cần cân nhắc trong quá trình sửa đổi BLHS về hình phạt này nhằm nâng cao hơn nữa hiệu quả và tính răn đe của hình phạt này
1.3.3 Luật hình sự Liên bang Đức
Nước Đức như chúng ta đã biết chỉ có sự thống nhất trong thời gian ngắn ngủi (1867-1945) và từ 1990 đến nay, trước năm 1867 Đức có nhiều loại Luật bằng nhiều thứ tiếng khác nhau; Hệ thống pháp luật Đức là hệ thống pháp luật liên bang, mỗi bang có một nghị viện riêng, có thẩm quyền lập pháp Bộ luật dân sự Đức là bộ luật điển hình hay còn gọi là bộ luật của các giáo sư, vì nó được các giáo sư trong các trường đại học ở Đức soạn thảo, khác với Pháp là do các luật gia có kinh nghiệm soạn thảo, tuy nó có cấu trúc hợp lý, rõ ràng nhưng lời văn không dễ hiểu,
sử dụng nhiều thuật ngữ chuyên ngành
Cộng hòa Liên bang Đức là nước theo hệ thống pháp luật châu Âu lục địa
Mô hình tố tụng và các nguyên tắc cơ bản của luật hình sự và tố tụng hình sự Đức
và Việt Nam có có nhiều nét tương đồng Chúng ta có thể nghiên cứu, học tập để vận dụng trong quá trình hoàn thiện hệ thống pháp luật, đáp ứng các yêu cầu của cải cách tư pháp và hội nhập kinh tế quốc tế
Ở Đức, BLHS là nguồn chủ yếu quy định về tội phạm và hình phạt Tuy nhiên, ngoài BLHS, một số văn bản khác cũng quy định về tội phạm và hình phạt như luật về vũ khí, luật về giám sát chiến tranh, luật về chất gây nghiện, luật về quản lý thuế
Chính sách hình sự của Đức xuất phát từ yêu cầu đấu tranh chống tội phạm nhưng mang tính mềm dẻo, linh hoạt với các biện pháp tác động có tính chất hình
sự đa dạng theo nguyên tắc giảm thiểu tối đa những hình phạt nặng và cho phép Tòa
án có nhiều khả năng lựa chọn các hình thức chế tài áp dụng đối với người phạm tội
để giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa vệ bảo vệ lợi ích của Nhà nước, của xã hội với việc tôn trọng và bảo về các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân
Về hệ thống hình phạt, ở Đức từ năm 1949 đã bãi bỏ hình phạt tử hình Hiện nay, hình phạt nặng nhất được quy định trong BLHS Đức là tù chung thân Mức cao
Trang 36nhất của hình phạt tù có thời hạn có thể áp dụng đối với mỗi tội phạm là không quá
15 năm tù
Ở Cộng hòa Liên bang Đức, hình phạt không tước quyền tự do gồm: phạt tiền, giam giữ tại nhà, cấm lái xem, không được làm ở cơ quan công quyền, không được đi ứng cử… Và trên thực tế, phạt tiền áp dụng tới trên 70% Tuy nhiên, các chuyên gia hình sự ở Đức cũng đang xem xét việc áp dụng hình phạt tiền có đảm bảo sự công bằng hay không đối với những người nghèo khi họ không có tiền trả tiền phạt thì sẽ phải ngồi tù Ngoài ra, biện pháp giam giữ tại nhà cũng đang được thử nghiệm bởi biện pháp này có ưu thế là vừa tạo cơ hội cho người phạm tội không bị cách ly khỏi xã hội, được sống cùng gia đình cũng như tiết kiệm chi phí cho nhà nước
Về tổng hợp hình phạt, trong trường hợp một người phạm nhiều tội thì Tòa
án quyết định hình phạt đối với từng tội, sau đó tổng hợp hình phạt theo nguyên tắc thu hút hình phạt Theo đó, nếu các hình phạt mà Tòa án đã tuyên đều là tù có thời hạn thì khi tổng hợp hình phạt Tòa án không cộng toàn bộ các hình phạt mà chỉ thu hút một phần hình phạt nhẹ vào hình phạt nặng nhất và không quá 15 năm tù Ví dụ, một người bị phạt tù về 2 tội, tội thứ nhất bị phạt 8 năm tù, tội thứ hai bị phạt 6 năm tù thì khi tổng hợp hình phạt Tòa án sẽ không cộng toàn bộ (8 + 6 = 14 năm tù) mà chỉ thu hút một phần hình phạt nhẹ vào hình phạt nặng nhất đã tuyên, có thể Tòa án quyết định hình phạt sau khi tổng hợp là 11 hoặc 12 năm tù
Theo Điều 12 BLHS Đức, tội phạm được chia ra thành hai loại là tội phạm ít nghiêm trọng và tội phạm nghiêm trọng Tội phạm ít nghiêm trọng là tội phạm có thể bị phạt tiền bằng 5 ngày lương tối thiểu trở lên hoặc bị phạt tù đến 1 năm Tội phạm nghiêm trọng là tội phạm có thể bị phạt tù từ trên 1 năm tù đến 15 năm tù hoặc tù chung thân
Việc phân chia như trên là dựa vào mức độ nghiêm khắc của hình phạt Tội phạm nghiêm trọng là người đã thực hiện các hành vi trái pháp luật nghiêm trọng với mức hình phạt thấp nhất là hình phạt tước tự do một năm hoặc cao hơn Ví dụ
Điều 227 quy định về tội xâm phạm thân thể với hậu quả chết người: “(1) nếu
Trang 37người thực hiện tội phạm qua xâm phạm thân thể (các điều 223 đến 226) gây ra cái chết của người vị xâm phạm thì hình phạt là hình phạt tự do không dưới ba năm”
[60, tr.127] Theo đó, người thực hiện hành vi này có thể bị xử phạt với mức thấp
nhất là hình phạt tự do là ba năm
Tại khoản 2 Điều 227 thì: “(2) Trong các trường hợp ít nghiêm trọng thì
quyết định hình phạt tước tự do từ một năm đến mười năm” [60, tr.127] Mức hình
phạt thấp nhất đối với người phạm tội là hình phạt tước tự do từ một năm So sánh với quy định tại khoản 1 Điều 12, chúng ta thấy, người thực hiện hành vi theo quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 227 là tội phạm nghiêm trọng
Tội phạm ít nghiêm trọng là các hành vi trái pháp luật bị đe dọa ở mức thấp nhất
là chịu hình phạt tước tự do nhẹ hơn 1 năm hoặc hình phạt tiền Theo Điều 38 BLHS Đức thì hình phạt tước tự do là hình phạt từ 1 tháng trở lên Nên thực chất tội phạm ít nghiêm trọng bị đe dọa ở mức thấp nhất là hình phạt tước tự do từ 1 tháng đến dưới 1
năm hoặc hình phạt tiền Ví dụ tội phạm tại Điều 183 về hành vi phô bày tình dục: “một
người đàn ông mà quấy rối một người khác qua một hành vi phô bày tình dục thì bị xử phạt với hình phạt tước tự do đến 1 năm hoặc hình phạt tiền” [60, tr.102] Theo đó, mức
hình phạt thấp nhất mà người phạm tội có thể phải chịu là hình phạt tước tự do 1 tháng Theo quy định tại Điều 12 thì hành vi phạm tội là ít nghiêm trọng
Để đáp ứng yêu cầu đấu tranh chống tội phạm trong tình hình mới, trong những năm gần đây, pháp luật hình sự của Đức cũng đã được sửa đổi, bổ sung Đáng chú ý là đã bổ sung một số tội phạm mới trong lĩnh vực internet, máy tính như tội phá mã khóa, xâm nhập trái phép vào dữ liệu của người khác ; sửa đổi mức phạt tiền của hình phạt tiền; bổ sung các biện pháp có tính chất phòng ngừa đối với những đối tượng có nguy cơ tái phạm Ví dụ, đối với những tội phạm có tính chất bạo lực, hiếp dâm trẻ em thì sau khi chấp hành xong hình phạt, người phạm tội có thể bị cách ly khỏi môi trường mà họ có thể tiếp tục phạm tội hoặc sau khi chấp hành xong hình phạt, họ còn có thể bị áp dụng biện pháp giám sát đặc biệt một thời gian nhất định Qua nghiên cứu có thể thấy căn cứ xác định việc phân loại tội phạm trong BLHS Đức và trong BLHS Việt Nam đều dựa vào mức hình phạt luật định
Trang 38Chương 2 CÁC QUY ĐI ̣NH CỦA BỘ LUẬT HÌNH SỰ NĂM 1999
VỀ CÁC HÌNH PHA ̣T CHÍNH KHÔNG TƯỚC TỰ DO
VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG
2.1 Các quy đi ̣nh của Bô ̣ luâ ̣t hình sự năm 1999 về các hình pha ̣t chính không tước tự do
2.1.1 Hình phạt cảnh cáo
2.1.1.1 Các quy định trong Phần chung Bộ luật hình sự
Hình phạt cảnh cáo đươ ̣c quy định trong Phần chung B LHS năm 1999 tại các điều luật: 28, 29, 64, 71 Theo đó, Điều 28 quy định về hệ thống hình phạt trong LHS Việt Nam hiện hành, hệ thống hình phạt bao gồm các hình phạt chính và hình phạt bổ sung hình phạt cảnh cáo đươ ̣c quy định tại Điều 28 với tính cách là một hình phạt chính
Với tính cách là hình phạt chính , hình phạt cảnh cáo đươ ̣c tuyên một cách độc lập, với mỗi tội phạm Tòa án chỉ có thể tuyên một hình phạt chính và kèm theo một hoặc nhiều hình phạt bổ sung
Quy định về phạm vi và điều kiện áp dụng hình phạt cảnh cáo quy định:
"Cảnh cáo được áp dụng đối với người phạm tội ít nghiêm trọng và có nhiều tình tiết giảm nhẹ, nhưng chưa đến mức miễn hình phạt" [40, tr.29]
Quy định này của BLHS năm 1999 không thay đổi so với Điều 22 BLHS năm 1985, theo đó, để đươ ̣c áp dụng hình phạt cảnh cáo , người bị kết án phải thỏa mãn các điều kiện sau:
Thứ nhất, tội phạm mà người đó thực hiện phải là tội ít nghiêm trọng
BLHS năm 1999 quy định: "Tội phạm ít nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại
không lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là đến
ba năm tù" [40, tr 11]
Thứ hai, tội phạm mà người đó thực hiện phải có nhiều tình tiết giảm nhẹ
trách nhiệm hình sự
Trang 39Hình phạt cảnh cáo đươ ̣c áp dụng đối với người thực hiện hành vi phạm tội
có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, điều này có nghĩa là người đó phải
có từ hai tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự trở lên
năm 1999 (bao gồm 18 tình tiết đươ ̣c quy định tại Khoản 1 Điều 46) Ngoài ra, nó còn đươ ̣c ghi nhận trong Nghị quyết số 01/2000/NQ-HĐTP ngày 4/8/2000 của Hội đồng Thẩm phán TANDTC hướng dẫn áp dụng một số quy định về Phần chung của BLHS năm 1999) Thậm chí, trong quá trình xét xử, Tòa án có thể tự mình xem xét, cân nhắc coi những tình tiết khác là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và ghi rõ lý do trong bản án
Đặc điểm này có hai vấn đề cần chú ý : trước hết, những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nào đươ ̣c Bộ luật hình sự quy định với tính cách là yếu tố định tội hoặc là yếu tố định khung hình phạt đối với một tội phạm đươ ̣c nêu tại phần các tội phạm cụ thể thì trong quá trình xét xử, Tòa án không đươ ̣c xem xét nó như là tình tiết giảm nhẹ TNHS chung đươ ̣c quy định tại khoản 1 Điều 46 BLHS năm
1999 Nghĩa là một tình tiết giảm nhẹ cho dù biểu hiện dưới hình thức nào thì cũng không thể đươ ̣c áp dụng hai lần cho một tr ường hợp phạm tội cụ thể Tiếp đó, việc cho phép Tòa án có thể coi các tình tiết khác là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình
sự trong từng vụ án đối với từng bị cáo cụ thể nhằm mở rộng tính linh hoạt, sáng tạo trong hoạt động xét xử của Tòa án, bảo đảm cho hoạt động xét xử đươ ̣c công bằng , chính xác, khách quan Nó giúp Tòa án tính toán đươ ̣c sự tương xứng giữa mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội với chế tài hình sự Quy định "phải ghi rõ trong bản án" là nhằm tránh sự tùy tiện trong hoạt động xét xử Pháp luật dù hoàn thiện đến đâu cũng không thể tiên liệu hết mọi tình huống của cuộc sống nên việc cho phép Tòa án xem xét các tình tiết khác là tình tiết giảm nhẹ trong hoạt động xét xử
là hợp lý và cần thiết [46, tr.50-53]
Thứ ba, tội phạm mà người đó thực hiện chưa đến mức đươ ̣c miễn hình phạt
Quy định này có nghĩa là, người phạm tội thực hiện tội phạm ít nghiêm trọng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nhưng xét thấy cần phải có
Trang 40biện pháp cưỡng chế nhất định để tác động (cảnh cáo) tới người phạm tội thể hiện
sự nghiêm minh của pháp luật để phòng ngừa, răn đe và giáo dục người phạm tội
Theo BLHS năm 1999: "Người phạm tội có thể được miễn hình phạt trong
trường hợp phạm tội có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 46 của
Bộ luật này, đáng được khoan hồng đặc biệt , nhưng chưa đến mức được miễn trách nhiệm hình sự" [40, tr.54] Người bị phạt cảnh cáo sẽ mang án tích một năm nếu từ
khi bản án có hiệu lực pháp luật người bị kết án không phạm tội mới (khoản 2 Điều
64 BLHS năm 1999)
Trường hợp miễn hình phạt người phạm tội cũng có từ hai tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự trở lên, nhưng chỉ khác, họ đáng đươ ̣c khoan hồng đặc biệt, còn người bị áp dụng hình phạt cảnh cáo , không đươ ̣c khoan hồng đặc biệt cho nên không đươ ̣c miễn hình phạt
Thứ tư, khi đối với tội mà bị cáo thực hiện có quy định hình phạt cảnh cáo
hoặc Tòa án căn cứ vào Điều 47 BLHS năm 1999 quyết định áp dụng hình phạt cảnh cáo đối với các tội mà chế tài không quy định hình phạt này
Trong BLHS nước ta, hình phạt cảnh cáo đươ ̣c quy định ở nhiều điều luật với tính cách là hình phạt tùy nghi (lựa chọn) cùng với các hình phạt khác như cải tạo không giam giữ, tù có thời hạn
Trong số 165 cấu thành tội phạm ít nghiêm trọng, BLHS hiện hành chỉ quy
định hình phạt cảnh cáo tại 35 cấu thành, cụ thể là: Chương XII: các tội xâm phạm
tính mạng sức khoẻ, nhân phẩm, danh dự của con người, 07 cấu thành; Chương XIII: Các tội xâm phạm quyền tự do, dân chủ của công dân, 08 cấu thành; Chương XIV: Các tội xâm phạm sở hữu, 01 cấu thành; Chương XV: Các tội xâm phạm chế
độ hôn nhân và gia đinh, 06 cấu thành; Chương XVI: Các tội xâm phạm trật tự quản
lý kinh tế, 03 cấu thành; Chương XX: Các tội xâm phạm trật tự quản lý hành chính,
05 cấu thành; Chương XXI: Các tội phạm về chức vụ, 01 cấu thành; Chương XXII:
Các tội xâm phạm hoạt động tư pháp, 03 cấu thành; Chương XXIII: Các tội xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân, 01 cấu thành
Như vậy , Tòa án đươ ̣c quyền áp dụng hình phạt cảnh cáo với 35 cấu thành