1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Giới hạn của tự do báo chí trong pháp luật một số nước và pháp luật việt nam

106 16 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 106
Dung lượng 1,08 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đối với tự do báo chí cũng không ngoại lệ, khi thực tiễn hiện nay việc báo chí xâm phạm tới quyền tự do cá nhân hay việc nhà nước lạm dụng quy định hạn chế quyền để hạn chế tự do báo chí

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

Trang 2

HÀ NỘI - 2019

Trang 3

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Người hướng dẫn khoa học: GS.TS PHẠM HỒNG THÁI

Trang 4

HÀ NỘI - 2019

Trang 5

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội

Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể bảo vệ Luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn!

NGƯỜI CAM ĐOAN

Trần Thị Loan

Trang 6

MỤC LỤC

Trang

Trang phụ bìa

Lời cam đoan

Mục lục

Danh mục các từ viết tắt

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ GIỚI HẠN CỦA TỰ DO BÁO CHÍ 12

1.1 Báo chí và tự do báo chí 12

1.1.1 Quan niệm về báo chí 12

1.1.2 Quan niệm về tự do báo chí 13

1.1.3 Mối quan hệ giữa tự do báo chí với các quyền con người khác 15

1.1.4 Tự do báo chí trong luật nhân quyền quốc tế 18

1.2 Giới hạn của tự do báo chí 20

1.2.1 Giới hạn tự do báo chí là gì? 20

1.2.2 Lịch sử giới hạn tự do báo chí 21

1.2.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến giới hạn tự do báo chí 25

1.2.4 Giới hạn tự do báo chí trong pháp luật nhân quyền quốc tế 27

1.2.5 Nội dung của giới hạn tự do báo chí 30

Kết luận chương 1 39

CHƯƠNG 2: GIỚI HẠN CỦA TỰ DO BÁO CHÍ TRONG PHÁP LUẬT MỘT SỐ NƯỚC 40

2.1 Giới hạn của tự do báo chí trong pháp luật Hoa Kỳ 40

2.1.1 Hình thức giới hạn tự do báo chí 41

2.1.2 Mục đích/lý do giới hạn tự do báo chí 43

2.2 Giới hạn của tự do báo chí trong pháp luật Pháp 48

2.2.1 Hình thức giới hạn tự do báo chí 49

Trang 7

2.2.2 Mục đích/lý do giới hạn tự do báo chí 50

2.3 Giới hạn của tự do báo chí trong pháp luật Hàn Quốc 54

2.3.1 Hình thức giới hạn tự do báo chí 54

2.3.2 Mục đích/lý do giới hạn tự do báo chí 55

2.4 Một số nhận xét về pháp luật giới hạn tự do báo chí ở một số nước trên thế giới 60

Kết luận chương 2 65

CHƯƠNG 3: GIỚI HẠN CỦA TỰ DO BÁO CHÍ TRONG PHÁP LUẬT VIỆT NAM 66

3.1 Pháp luật về giới hạn của tự do báo chí trước Đổi Mới (1986) 66

3.2 Pháp luật về giới hạn của tự do báo chí từ Đổi Mới (1986) đến nay 70

3.3 Những bất cập, hạn chế của pháp luật về giới hạn của tự do báo chí ở Việt Nam hiện nay 77

3.3.1 Hình thức giới hạn tự do báo chí 78

3.3.2 Mục đích/lý do giới hạn tự do báo chí 82

3.4 Giải pháp hoàn thiện pháp luật về giới hạn tự do báo chí nhằm bảo đảm quyền tự do báo chí ở Việt Nam hiện nay 84

3.4.1 Về thể chế 84

3.4.2 Về thiết chế 86

Kết luận chương 3 91

KẾT LUẬN 92

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 94

Trang 8

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

ASEAN: Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á

EU: Liên minh Châu Âu

HIV/AIDS: Hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải ở người ICCPR: Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị POEA: Luật bầu cử công cộng Hàn Quốc

UBND: Ủy ban nhân dân

UDHR: Tuyên ngôn nhân quyền thế giới

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Cũng như các quyền con người khác, tự do ngôn luận và tự do báo chí bắt nguồn từ phẩm giá vốn có của con người với tư cách là một thành viên của cộng đồng nhân loại Kể từ khi thành lập xã hội loài người, con người luôn có nhu cầu giao tiếp xã hội Giao tiếp xã hội đã làm cho sự xuất hiện của nhu cầu thể hiện những ý tưởng và nguyện vọng cá nhân - từ mong muốn và nguyện vọngđơn giản đến những mong muốn và nguyện vọng cao hơn, trừu tượng hơn; đáp ứng các yêu cầu và lợi ích cá nhân để đáp ứng các yêu cầu và lợi ích của đa số và của toàn bộ cộng đồng xã hội

Tự do báo chí là một trong những quyền con người cơ bản được ghi nhận và bảo vệ trong luật nhân quyền quốc tế và pháp luật ở hầu hết các quốc gia trên thế giới Theo đó, tự do báo chí được hiểu là một trong những hình thức của tự do biểu đạt, thể hiện quyền tự do biểu đạt của con người thông qua báo chí Quyền này đã được ghi nhận lần đầu tiên trong điều 19 Tuyên ngôn nhân quyền quốc tế năm 1948, sau đó được tái khẳng định và cụ thể hoá trong điều 19 Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị 1966 (ICCPR) Trong Bình luận chung số 34 có diễn giải:

Tự do biểu đạt bao gồm các tranh luận chính trị, bình luận về một người và về các vấn đề chung, vận động, thảo luận về nhân quyền, báo chí, các biểu đạt văn hóa và nghệ thuật, dạy học, và tranh luận tôn giáo Một nền báo chí hay truyền thông tự do, không

bị kiểm duyệt và không bị cản trở là cần thiết trong bất kỳ xã hội nào để đảm bảo tự do quan điểm và tự do biểu đạt và thụ hưởng các quyền khác theo Công ước

Có thể thấy tự do báo chí là một trong những quyền con người rất quan trọng Đó là một trong các trụ cột của một xã hội dân chủ

Trang 10

Tuy nhiên, trong lý luận về quyền con người, bên cạnh những quyền tuyệt đối, bất khả xâm phạm trong mọi hoàn cảnh như quyền sống; quyền không bị tra tấn, bị trừng phạt hay đối xử vô nhân đạo; quyền tự do tư tưởng; quyền không bị buộc phải làm nô lệ thì phần lớn các quyền con người khác đều là các quyền có thể bị hạn chế hoặc bị đình chỉ thực hiện trong các tình huống khẩn cấp Việc hạn chế quyền con người là việc làm cần thiết và được phép theo các quy định của pháp luật quốc tế về quyền con người Quyền được tự do ngôn luận và tự do báo chí được tìm thấy trong số các quyền này Theo khoản 3 Điều 19 và Điều 20 ICCPR, quyền tự do báo chí cũng phải chịu những hạn chế nhất định Những hạn chế này phải được xem là cần thiết, có

lý do chính đáng để tôn trọng các quyền hoặc uy tín của người khác, bảo vệ

an ninh quốc gia và trật tự công cộng, sức khoẻ cộng đồng hoặc đạo đức công chúng Và theo luật nhân quyền quốc tế, ngoại trừ một số quyền tuyệt đối, có hai cách hạn chế quyền được chấp nhận, đó là: hạn chế được nêu rõ trong luật

và hạn chế mang tính hàm ý Những hạn chế hàm ý chính là các vấn đề còn gây nhiều tranh cãi Theo luật nhân quyền quốc tế, hạn chế hàm ý xuất phát từ những quan điểm như “công bằng”, “tùy tiện” hay “phù hợp” Việc giải thích các quan điểm này phụ thuộc vào việc áp dụng pháp luật của mỗi quốc gia

Tại Việt Nam, quyền tự do biểu đạt, tự do báo chí đã được quy định ngay từ bản Hiến pháp 1946 (quyền tự do ngôn luận) và tiếp tục được khẳng định trong các bản Hiến pháp tiếp theo Đồng thời, Hiến pháp năm 2013 của Việt Nam lần đầu tiên ghi nhận nguyên tắc hạn chế quyền con người Đây là một bước tiến quan trọng trong tư duy lập hiến ở Việt Nam Việc hiến định nguyên tắc này cũng thể hiện quyết tâm của Nhà nước Việt Nam trong nỗ lực ngăn chặn, phòng ngừa các nguy cơ lạm quyền hoặc hạn chế quyền của người dân một cách tùy tiện nhằm bảo đảm và bảo vệ quyền con người Tuy nhiên, việc áp dụng nguyên tắc này trên thực tế không đơn giản vì tính trừu tượng

Trang 11

của nó Đồng thời, quyền con người không chỉ bị hạn chế theo quy định của Hiến pháp mà còn ở các văn bản quy phạm pháp luật khác Đối với tự do báo chí cũng không ngoại lệ, khi thực tiễn hiện nay việc báo chí xâm phạm tới quyền tự do cá nhân hay việc nhà nước lạm dụng quy định hạn chế quyền để hạn chế tự do báo chí… Luật Báo chí 2016 có hiệu lực từ ngày 01 tháng 01 năm 2017 vẫn chưa nêu rõ những giới hạn của tự do báo chí nên dẫn đến sự khó khăn trong quá trình áp dụng luật

Với thực trạng quy định pháp luật còn nhiều thiếu sót chưa rõ ràng, thực tiễn áp dụng còn nhiều vướng mắc dẫn đến tự do báo chí còn bị hạn chế

Đề tài “Giới hạn của tự do báo chí trong pháp luật một số nước và pháp

luật Việt Nam” sẽ có nhiều đóng góp về mặt lý luận và thực tiễn trong việc

bảo đảm quyền con người ở Việt Nam hiện nay

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Trên thế giới, tự do báo chí và giới hạn tự do báo chí là vấn đề cơ

bản đã được nghiên cứu từ rất lâu

Cuốn Bốn học thuyết truyền thông của Fred S.Siebert, Thedore Peterson,

Wilbur schram; người dịch Lê Ngọc Sơn (Nxb Tri thức, 2014) trình bày bốn học thuyết cơ bản truyền thông thế giới là thuyết độc đoán, thuyết tự do, thuyết trách nhiệm xã hội, thuyết toàn trị Xô viết; và đưa ra kết luận: Báo chí của một đất nước luôn thể hiện hình thức và nét đặc thù về cấu trúc xã hội và thể chế của đất nước đó Đặc biệt báo chí còn phản ánh hệ thống kiểm soát xã hội điều chỉnh mối quan hệ của các cá nhân và định chế Để nhìn nhân sự khác biệt của hệ thống truyền thông giữa các nước một cách toàn diện nhất, phải nhìn vào hệ thống xã hội mà chúng đang hoạt động

Cuốn Media Law Handbook (Sổ tay Luật truyền thông) tác giả Jane

Kirtley - Ấn phẩm của chương trình thông tin quốc tế, Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ, tháng 12/2010 trình bày nhiều vấn đề báo chí như: khuôn khổ cho một nền

Trang 12

báo chí tự do; tự điều tiết thay cho việc giải quyết bằng tòa án; các trách nhiệm của người làm báo Cuốn sách nhấn mạnh: để tạo ra một khuôn khổ cho một nền báo chí tự do cần phải cân nhắc xem nhà báo cần có những quyền cơ bản nào để thực hiện được nhiệm vụ của mình Một nền báo chí tự

do được bảo vệ tốt nhất thông qua hiến pháp của quốc gia, hoặc bằng luật Dù mức độ chính thức hóa của một luật có như thế nào, luật đó tối thiểu phải bảo

vệ truyền thông báo chí trước các hành vi kiểm duyệt và bảo đảm cho các phóng viên được tiếp cận thông tin

Các công trình nghiên cứu không chỉ tập trung luận giải những vấn đề lịch sử, lý luận về báo chí, tự do báo chí mà còn phân tích, nghiên cứu thực

tiễn tại nhiều quốc gia về giới hạn tự do báo chí Bài viết Vai trò của tự do

báo chí của John W.Johnson in trong cuốn Về pháp quyền và chủ nghĩa hợp

hiến – Một số tiểu luận của các học giả nước ngoài của Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội (Nxb Lao Động Xã Hội, 2012) đã phân tích sự phát triển của tự do báo chí qua phán quyết của các tòa án Hoa Kỳ Tuy khoản Tu chính

án thứ nhất bảo đảm rất nhiều quyền tự do báo chí nhưng nền tư pháp Hoa Kỳ mới là hệ thống phân định rõ quan niệm đó có ý nghĩa như thế nào trên thực

tế Bài viết nhấn mạnh: một quốc gia muốn được coi là thực sự dân chủ phải sẵn sang bảo vệ rất nhiều cho giới truyền thông phát biểu tư tưởng

Cuốn sách Press Freedom and Pluralism in Europe: Concepts and

Conditions của nhóm tác giả Andrea Czepek, Melanie Hellwig, Eva Nowak

(The University of Chicago Press, USA, 2009) cho thấy: Tự do báo chí và hệ thống truyền thông độc lập thường được coi là đương nhiên ở Châu Âu Hiện nay, tất cả các quốc gia thành viên của Liên minh Châu Âu đang thực hiện các đảm bảo về tự do báo chí trong hiến pháp và hệ thống tư pháp của họ Cuốn sách nghiên cứu tự do và đa dạng báo chí ở Châu Âu thông qua phân tích hệ thống truyền thông của mười hai quốc giabao gồm Bulgaria, Baltics,

Trang 13

Ba Lan, Romania, Phần Lan, Pháp, Đức, Áo, Ý, Tây Ban Nha và Vương quốc Anh Đồng thời, xem xét các yếu tố ảnh hưởng về kinh tế, điều kiện lịch sử, văn hóa và xã hội cũng có tác động đáng kể đến nền truyền thông độc lập

Trong bài viết Freedom of Expression in South Korea của nhóm tác giả

Stephan Haggard, Jong-Sung You (Journal of Contemporary Asia, 45(1), 2015), các tác giả cho rằng tự do ngôn luận nói chung, trong đó có tự do báo chí ở Hàn Quốc ngày càng bị giới hạn Bài viết đã chỉ ra năm vấn đề đã dẫn đến sự giới hạn ngày càng tăng của Hàn Quốc liên quan đến tự do của cá nhân, đó là: lạm dụng viện dẫn tội bôi nhọ theo luật hình sự, các quy tắc điều chỉnh các chiến dịch bầu cử, giới hạn tự do ngôn luận vì an ninh quốc gia, giới hạn liên quan đến internet và sử dụng quyền lực nhà nước kiểm soát phương tiện truyền thông Các tác giả cũng giải thích nguyên nhân dẫn đến những điều này là do các yếu tố văn hóa và rộng hơn là do ảnh hưởng của các

hệ thống pháp luật Nhật Bản, do hệ quả lâu dài từ cuộc Chiến tranh Lạnh Tuy nhiên, nguyên nhân chính là do các yếu tố chính trị Các đảng chính trị cánh hữu hay cánh tả khi cầm quyền đều đặt ra giới hạn cho quyền tự do ngôn luận,

tự do báo chí để ngăn chặn các ý kiến chính trị đối lập

Cuốn Freedom from the Press: Journalism and State Power in Singapore

của Cherian George (NUS Press, Singapore, 2012) nghiên cứu mối quan hệ giữa báo chí và chính phủ Singapore Singapore có một hệ thống chính trị và phương tiện truyền thông phức tạp, độc đáo, cuốn sách giúp cho độc giả nhanh chóng nắm bắt các vấn đề lịch sử và xã hội quan trọng và đưa ra một cái nhìn sâu sắc về gần như tất cả các khía cạnh của ngành công nghiệp báo chí ở Singapore và mối quan hệ không thể tách rời của nó đối với chính quyền Dựa trên những phân tích lịch sử sâu rộng và những thông tin thu thập được, tác giả đã đưa ra luận điểm rằng một nền báo chí tự do, độc lập và chuyên nghiệp là điều thiết yếu cho hoạt động của một nền dân chủ vì nó cho

Trang 14

phép quyền tự quyết và tập thể ra quyết định bằng cách cung cấp một nguồn thông tin đáng tin cậy có lợi cho cả người dân và chính phủ Ông cho rằng một nền báo chí độc lập hơn sẽ có lợi cho tất cả mọi người dân Singapore, bao gồm cả chính phủ của Đảng Hành động Nhân dân độc đoán

Với những nội dung đề cập đa dạng và sâu rộng từ lý luận về báo chí,

tự do báo chí đến thực tiễn tự do báo chí ở các quốc gia, những tác phẩm trên

là nguồn tài liệu hữu ích cho luận văn

Về tình hình nghiên cứu trong nước

Tại Việt Nam, nhiều công trình nghiên cứu đã đề cập đến các khía cạnh khác nhau của đề tài Các công trình nghiên cứu lý thuyết về báo chí có thể kể

đến như: cuốn Cơ sở lý luận báo chí do PGS.TS Tạ Ngọc Tấn chủ biên (Nxb

Văn hóa thông tin, Hà Nội, 1999) đề cập đến nhiều nội dung về báo chí như tính giai cấp của báo chí, tự do báo chí, luật pháp và báo chí, nguyên tắc họa

động báo chí, các chức năng của báo chí… Cuốn Cơ sở lý luận báo chí truyền

thông của nhóm tác giả Dương Xuân Sơn, Đinh Văn Hường, Trần Quang

(Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, 2007) đề cập đến những vấn đề có tính phương pháp luận, các khái niệm, phạm trù, đặc trưng, chức năng của lao động báo chí làm cơ sở cho việc tìm hiểu, nghiên cứu các vấn đề cụ thể trong

lĩnh vực báo chí, truyền thông Bài viết Hai cách tiếp cận vấn đề tự do báo

chí của tác giả Nguyễn Văn Dững (Triết học, số 11/2010) phân tích một số

vấn đề về phương pháp luận tiếp cận tự do báo chí, tác giả đã luận giải hai cách tiếp cận tự do báo chí đó là: cách tiếp cận truyền thống xem xét tự do báo chí theo mô hình truyền thông cơ bản; thứ bai, cách tiếp cận mới về tự do báo chí theo các bình diện và điều kiện hoạt động

Về báo chí tiếp cận dưới góc độ quản lý nhà nước có thể kể đến như:

cuốn Quản lý Nhà nước và pháp luật về báo chí của Lê Thanh Bình, Phí Thị

Thanh Tâm (Nxb Văn hoá - Thông tin, Hà Nội, 2004) nghiên cứu nội dung,

Trang 15

đặc điểm, tình hình thực hiện pháp luật quản lý nhà nước về báo chí tại Việt

Nam, tuy nhiên các vấn đề được đề cập mới ở mức sơ lược Cuốn Quản lý và

phát triển báo chí - xuất bản của PGS.TS Lê Thanh Bình (Nxb Chính trị

Quốc gia, Hà Nội, 2004) đã phân tích những thành tựu, tồn tại của báo chí, xuất bản từ năm 1986 và đưa ra một số ý kiến nhằm nâng cao hiệu quả quản

lý nhà nước trong lĩnh vực báo chí, xuất bản

Về tiếp cận dưới góc độ quyền con người, nhiều công trình nghiên cứu

có đề cập tới quyền tự do báo chí như: Giáo trình Lý luận và pháp luật về

quyền con người do Nguyễn Đăng Dung, Vũ Công Giao, Lã Khánh Tùng chủ

biên (Nxb Đạo học quốc gia Hà Nội, 2011) trình bày các nội dung về quyền con người như các quyền con người trong pháp luật quốc tế, cơ chế bảo vệ, thúc đẩy quyền con người, pháp luật và cơ chế thực hiện, thúc đẩy quyền con người ở Việt Nam trong đó có đề cập đến quyền tự do báo chí Tuy nhiên, quyền này chỉ được giới thiệu một cách khái quát như là một trong những

quyền dân sự, chính trị Bài viết Tự do báo chí và vấn đề bảo vệ nhân phẩm,

danh dự, uy tín của cá nhân của nhóm tác giả Đỗ Văn Đại, Nguyễn Trương

Tín (Khoa học pháp lý, trường Đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh, số 3/2011) đề cập mối quan hệ giữa tự do báo chí với quyền nhân thân của cá nhân, và cũng khẳng định bảo vệ nhân phẩm, danh dự, uy tín của cá nhân là một trong những lý do để hạn chế tự do báo chí

Bài viết Tự do báo chí và cơ chế kiểm soát các hoạt động báo chí của

quốc gia và bài học cho Việt Nam của Đỗ Thị Hường (Nghề luật, Học viện

Tư pháp, 2016) tìm hiểu sự cần thiết phải kiểm soát các hoạt động báo chí Phân tích cơ chế kiểm soát trong việc đảm bảo quyền tự do báo chí ở một số nước trên thế giới, bao gồm: hệ thống đăng ký xuất bản; kiểm tra trước khi xuất bản; xử phạt sau xuất bản và đề xuất một số hướng hoàn thiện cơ chế kiểm soát hoạt động báo chí ở Việt Nam hiện nay

Trang 16

Ngoài ra, một số công trình nghiên cứu có đề cập tới tự do báo chí và

bảo đảm tự do báo chí tại Việt Nam như Tự do báo chí qua các bản hiến pháp

và một số kiến nghị sửa đổi hiến pháp 1992 của Phí Thị Thanh Tâm (Nghiên

cứu lập pháp, Văn phòng Quốc hội, số 24/2012) trình bày nội dung tự do báo chí trong các bản Hiến pháp Việt Nam và từ đó đưa ra phân tích, kiến nghị

nhằm hoàn thiện Hiến pháp sửa đổi 2013 Bài viết Hoàn thiện quy định về

quyền tự do báo chí, tự do ngôn luận trên báo chí của công dân nhằm thực hiện Hiến pháp năm 2013 của Nguyễn Hoàng Thanh (Nghiên cứu lập pháp,

Viện Nghiên cứu lập pháp, số 6/2016) nêu và phân tích quy định trong Dự thảo Luật báo chí (sửa đổi) về quyền tự do báo chí, quyền tự do ngôn luận trên báo chí của công dân; về trách nhiệm của Nhà nước với quyền tự do báo

chí, quyền tự do ngôn luận trên báo chí của công dân Bài viết Quyền tự do

báo chí trong Luật Báo chí năm 2016 và một số kiến nghị triển khai thi hành Luật của tác giả Trần Huyền Phương (Nghiên cứu lập pháp, Viện Nghiên cứu

lập pháp, số 22/2018) trình bày một số nội dung cơ bản của quyền tự do báo chí trong Luật Báo chí năm 2016 và một số giải pháp để triển khai thi hành Luật hiệu quả, chưa có những phân tích về mặt chưa phù hợp của Luật dưới góc độ bảo đảm quyền con người

Như vậy, có thể thấy các công trình nghiên cứu liên quan đến tự do báo chí rất đa dạng và tiếp cận dưới nhiều góc độ Tuy nhiên, chưa có công trình nào nghiên cứu chuyên sâu vào vấn đề giới hạn của tự do báo chí trong việc bảo vệ, bảo đảm quyền con người dưới góc độ tiếp cận quyền con người

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Làm rõ những vấn đề lý luận về tự do báo chí và giới hạn của quyền tự

do báo chí; so sánh pháp luật Việt Nam với pháp luật quốc tế và một số quốc gia về giới hạn tự do báo chí để chỉ ra những tương đồng, khác biệt Trên cơ

Trang 17

sở đó đề xuất các luận cứ khoa học và giải pháp cho việc hoàn thiện các quy định của pháp luật nhằm đảm bảo thực hiện tốt hơn mục tiêu thúc đẩy và bảo

vệ quyền con người theo chuẩn mực quốc tế

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Đưa ra được khái niệm về tự do báo chí, giới hạn tự do báo chí và những vấn đề lý luận có liên quan,

- Khái quát được những quy định của luật nhân quyền quốc tế về giới hạn tự do báo chí; pháp luật của một số quốc gia trên thế giới về giới hạn tự

do báo chí và những giá trị tham khảo

- Đánh giá được thực trạng các quy định về giới hạn tự do báo chí trong Hiến pháp 2013 và trong các luật liên quan đến lĩnh vực báo chí tại Việt Nam

- Đưa ra đề xuất, kiến nghị hoàn thiện các quy định giới hạn tự do báo chí nhằm đảm bảo thực hiện tốt hơn mục tiêu thúc đẩy và bảo vệ quyền con người theo chuẩn mực quốc tế

4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Luận văn có đối tượng nghiên cứu là các quy định của pháp luật về tự

do báo chí, giới hạn của tự do báo chí trong pháp luật nhân quyền quốc tế, pháp luật một số nước và pháp luật Việt Nam

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Về nội dung, luận văn tập trung nghiên cứu về giới hạn của tự do báo chí Những phân tích về báo chí, quyền tự do báo chí và các quyền con người được nhắc đến trong luận văn chỉ mang tính khái quát và tham chiếu làm sáng

tỏ nội dung giới hạn của tự do báo chí

Về không gian, luận văn nghiên cứu giới hạn tự do báo chí trong luật nhân quyền quốc tế, pháp luật về giới hạn tự do báo chí ở các nước Hoa Kỳ, Pháp, Hàn Quốc; và ở Việt Nam

Trang 18

Về thời gian, luận văn nghiên cứu lịch sử của giới hạn tự do báo chí, quy định về giới hạn tự do báo chí ở Hoa Kỳ, Pháp, Hàn Quốc trong pháp luật hiện hành, pháp luật về giới hạn tự do báo chí ở Việt Nam qua các thời kỳ từ năm 1945 đến nay

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

Để hoàn thành mục tiêu của đề tài, trong quá trình nghiên cứu, luận văn được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng của chủ nghĩa Mác – Lênin, hệ thống các quan điểm của Liên hợp quốc và nhà nước Việt Nam về quyền con người Luận văn sử dụng phương pháp tiếp cận dựa trên quyền và các phương pháp nghiên cứu cụ thể như sau:

Phương pháp lịch sử: Nghiên cứu có xem xét đến các yếu tố, khía

cạnh lịch sử của việc hình thành tự do báo chí, giới hạn tự do báo chí, quan niệm, ghi nhận, bảo đảm và thực thi tự do báo chí ở một số quốc gia và Việt Nam từ trước tới nay

Phương pháp phân tích: Để tìm hiểu, phân tích, đánh giá về pháp

luật, áp dụng và thực hiện pháp luật về giới hạn tự do báo chí ở một số nước

và Việt Nam trong thời gian vừa qua, chỉ ra các ưu điểm, hạn chế cũng như nguyên nhân của các ưu điểm và hạn chế này

Phương pháp so sánh luật học: Được sử dụng để đánh giá các quy

định của pháp luật quốc tế, pháp luật một số nước và pháp luật Việt Nam trong việc đảm bảo thực thi việc giới hạn tự do báo chí

Phương pháp khảo sát văn bản: Để đánh giá thực trạng, cách thức

quy định giới hạn tự do báo chí trong Hiến pháp và pháp luật Việt Nam

Phương pháp tổng hợp: Trên cơ sở các nghiên cứu lý luận và thực

tiễn, tổng hợp các kết quả thu được, đưa ra những quan điểm, kiến nghị cụ thể hóa nguyên tắc giới hạn quyền và đảm bảo thực thi tự do báo chí theo chuẩn mực quốc tế ở Việt Nam trong thời gian tới

Trang 19

6 Ý nghĩa của luận văn

Luận văn góp phần làm rõ thêm những vấn đề lý luận về tự do báo chí và giới hạn quyền tự do báo chí Đồng thời đóng góp một số đề xuất nhằm hoàn thiện pháp luật Việt Nam trong việc bảo đảm và thực quyền tự

do báo chí nói riêng và đảm bảo quyền con người nói chung tại Việt Nam trong thời gian tới

Bên cạnh đó, luận văn có thể được sử dụng là nguồn tài liệu tham khảo cho việc giảng dạy, nghiên cứu chuyên ngành quyền con người ở Khoa Luật ĐHQG Hà Nội và các cơ sở đào tạo khác của nước ta

7 Bố cục của luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3 chương như sau:

Chương 1: Những vấn đề lý luận về giới hạn của tự do báo chí

Chương 2: Giới hạn tự do báo chí trong pháp luật một số nước

Chương 3: Giới hạn tự do báo chí trong pháp luật Việt Nam

Trang 20

CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ GIỚI HẠN

CỦA TỰ DO BÁO CHÍ

1.1 Báo chí và tự do báo chí

1.1.1 Quan niệm về báo chí

Nhu cầu thông tin giao tiếp, kết nối xã hội là nhu cầu tự nhiên, vốn có gắn liền với lịch sử phát triển loài người Trải qua thời gian, hình thức truyền tải thông tin ngày càng đa dạng và phát triển: từ hình thức viết lên đá, người đưa tin, tờ bướm… đến hình thức báo chí như ngày nay Sự ra đời của báo chí chính là cột mốc quan trọng đánh dấu nhu cầu thông tin – giao tiếp đã ở một mức độ cấp thiết hơn rất nhiều và khả năng đáp ứng của các phương tiện truyền tin đã đạt đến trình độ cao hơn hẳn trước đó [6, tr.18]

Theo Từ điển Tiếng Việt, báo chí là “các cơ quan thông tin như báo

hằng ngày, hằng tuần, tạp chí, tập san” [11] Đây là khái niệm còn đơn

giản, chưa đề cập đến vai trò truyền tải thông tin của báo chí cũng như chưa bao quát được hết các loại hình báo chí trong thời kỳ phát triển công nghệ như hiện nay

Tương tự như vậy, trong tiếng Anh, thuật ngữ báo chí (press) vừa được hiểu là một loại phương tiện truyền thông tin tức; vừa là một danh từ để chỉ các tổ chức xuất bản và phát sóng tin tức nói chung [19]

Về góc độ lý thuyết, báo chí được hiểu là “những tư liệu sinh hoạt tinh

thần nhằm thông tin và nói rõ về những sự kiện thời sự đã và đang diễn ra cho một nhóm đối tượng nhất định, nhằm mục đích nhất định, xuất bản định

kỳ, đều đặn” [2]

Về góc độ pháp luật, theo Luật Báo chí năm 2016 thì: Báo chí là sản phẩm thông tin về các sự kiện, vấn đề trong đời sống xã hội thể hiện bằng chữ viết, hình ảnh, âm thanh, được sáng tạo, xuất bản định kỳ và phát hành, truyền

Trang 21

dẫn tới đông đảo công chúng thông qua các loại hình báo in, báo nói, báo hình, báo điện tử

Như vậy, có thể khái quát về báo chí như sau: báo chí là sản phẩm của

hoạt động thu thập, đánh giá, sáng tạo và trình bày tin tức và thông tin;bao gồm những ấn phẩm định kỳ chuyển tải nội dung thông tin, được phát hành rộng rãi trong xã hội dưới nhiều hình thức đa dạng

1.1.2 Quan niệm về tự do báo chí

Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin, báo chí là lĩnh vực thuộc hình thái ý thức xã hội và mang tính giai cấp rõ nét Khi xã hội còn phân chia thành các giai cấp có quyền lợi khác nhau, thậm chí đối lập nhau, thì báo chí khó có thể thoát lý khỏi tính giai cấp, khó có tự do tuyệt đối [8] Bởi bất cứ trong xã hội nào, các giai cấp cầm quyền cũng luôn tìm mọi cách để chi phối báo chí; coi nó như công cụ hữu hiệu để giành và củng cố quyền lực chính trị của mình Và trong một chế độ chính trị có nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật, khi mọi lĩnh vực của xã hội phải tuân theo pháp luật, thì hoạt động báo chí cũng không thể nằm ngoài yêu cầu này Tuy nhiên, với vai trò cơ bản

và quan trọng hàng đầu là thông tin, phản ánh trung thực khách quan các sự kiện, sự việc diễn ra trong đời sống xã hội, báo chí tự do và độc lập vẫn là nền tảng thiết yếu của bất kì một xã hội tự do nào Có thể nói, tự do báo chí là mục tiêu phấn đấu của con người nhằm giành cho mình quyền được thông tin, trao đổi, giao tiếp, thể hiện ý chí và nguyện vọng của mình một cách công khai qua các phương tiện thông tin đại chúng, không hề bị một sự lệ thuộc, một sự hạn chế nào [7, tr.144]

Hiểu theo nghĩa thông thường, tự do báo chí là thoát ly khỏi mọi sự ràng buộc, mọi sự cấm đoán đối với báo chí [9] Từ điển Dictionary.com thì định nghĩa tự do báo chí (freedom of press) là “sự tự do xuất bản báo, tạp chí

và các ấn phẩm khác mà không có sự kiểm duyệt, hạn chế của Chính phủ và chỉ bị giới hạn bởi Luật”

Trang 22

Trong cuốn Sổ tay Luật truyền thông, tác giả Jane Kirtley cho rằng, mặc dù còn nhiều quan điểm khác nhau về vai trò của báo chí (chẳng hạn báo chí cần phải đóng vai trò cổ súy, đi tiên phong thúc đẩy các sự nghiệp, phải có quan điểm chính trị rõ ràng; hay báo chí phải khách quan, không mang tính đảng phái…) nhưng để có tự do báo chí phải có những yếu tố cơ bản là [13]:

Thứ nhất, một nền báo chí tự do và độc lập là điều thiết yếu của bất kì

xã hội tự do nào Nghĩa là một nền báo chí không phải chịu những kiểm soát

và qui định không phù hợp của chính phủ, một nền báo chí không chịu ảnh hưởng tài chính từ khu vực tư nhân, trong đó các công ty quảng cáo, hay những áp lực kinh tế và kinh doanh từ các công ty tư nhân Một nền báo chí

tự do và độc lập phải đem đến cho độc giả, khán giả và thính giả những thông tin mà họ cần để có thể tham gia đầy đủ với tư cách là công dân của một xã hội tự do

Thứ hai, một nền báo chí tự do phải là nền báo chí dũng cảm và sẽ đưa tin về những câu chuyện quan trọng đối với độc giả và khán giả mà không phải sợ sệt điều gì hay không thiên vị một bên nào Nền báo chí đó sẽ thách thức các giả định, sẽ nghi vấn nhà chức trách, và sẽ chỉ biết đi tìm sự thật, cho

dù sự tìm kiếm đó sẽ dẫn đến đâu – có thể đến tận những nơi quyền lực cao nhất, đến tận những người sở hữu các cơ quan báo chí, và thậm chí ngay cả khi điều đó dẫn đến cái chết

Thứ ba, một nền báo chí tự do phải là một nền báo chí có trách nhiệm Quan điểm về trách nhiệm khác nhau ở từng nước, và thậm chí là khác nhau theo từng năm Đối với nhiều người, chuẩn mực trong thời bình và ổn định có thể khác nhau với chuẩn mực trong thời chiến hay lúc quốc gia nguy cấp Tuy nhiên một số nguyên tắc căn bản vẫn không hề thay đổi Một nền báo chí tự

do phải biết đi tìm sự thật và phải đưa tin về điều đó Nền báo chí đó sẽ không biết mệt mỏi trong việc tìm kiếm đạt đến tính chính xác Báo chí không bao giờ được phép đưa tin sai sự thật trong khi biết rõ điều đó

Trang 23

Như vậy, có thể khái quát về tự do báo chí như sau: tự do báo chí là

một trong những quyền con người cơ bản nhất, thông qua đó mà con người truyền tải thông tin, thể hiện quan điểm, ý chí của mình trước các vấn đề của đời sống xã hội mà không bị bất kỳ một sự hạn chế, lệ thuộc, can thiệp nào Quyền này đã được luật nhân quyền quốc tế và pháp luật của hầu hết các quốc gia ghi nhận

1.1.3 Mối quan hệ giữa tự do báo chí với các quyền con người khác

Các quyền con người đều có tính liên hệ và phụ thuộc lẫn nhau Tính chất này thể hiện ở việc bảo đảm các quyền con người, toàn bộ hoặc một phần nằm trong mối liên hệ phụ thuộc và tác động lẫn nhau Một quyền được thúc đẩy hay bị vi phạm sẽ trực tiếp hoặc gián tiếp sẽ tạo ra những ảnh hưởng tích cực hoặc tiêu cực đến các quyền khác Cũng như các quyền con người khác nói chung, quyền tự do báo chí có mối quan hệ biện chứng với các quyền khác

Thật vậy, tự do báo chí chỉ được thực thi hiệu quả khi các quyền cơ bản, không thể bị đình chỉ trong mọi trường hợp được bảo đảm Ví dụ, một nhà báo phải được bảo đảm quyền được sống; quyền bất khả xâm phạm về thân thể; quyền tự do và an ninh cá nhân trước tiên thì mới có thể thực hiện được quyền tự do báo chí của mình Và đồng thời, nhờ bảo đảm được quyền

tự do báo chí, các quyền khác như tự do ngôn luận, tự do thông tin, các quyền dân sự, các quyền về kinh tế, văn hóa, xã hội… được thực thi, bảo vệ

và thúc đẩy tốt hơn

Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp, việc thực thi quyền tự do báo chí lại ảnh hưởng, xâm hại đến các quyền, tự do khác Chẳng hạn, nhà báo đưa tin về đời tư của một cá nhân làm xâm hại đến quyền bất khả xâm phạm về quyền riêng tư, hay thể hiện quan điểm nhằm chế giễu, phỉ báng một tôn giáo làm xúc phạm đến quyền tự do tư tưởng, tín ngưỡng, tôn giáo của cá nhân hay

Trang 24

một cộng đồng, có bài viết gây phân biệt đối xử, kỳ thị quyền của đồng bào dân tộc thiểu số…

Ngoài ra, tự do báo chí có quan hệ gần gũi hơn cả với một số quyền con người, bao gồm: quyền tự do biểu đạt, quyền tiếp cận thông tin

Tự do báo chí với tự do biểu đạt

Trong thế giới hiện đại, báo chí và các phương tiện truyền thông khác góp phần quan trọng để củng cố, thúc đẩy quyền tự do biểu đạt Từ việc phát triển tự do biểu đạt thì tự do báo chí ngày càng được đề cao và chú trọng Tự

do báo chí là điều kiện giúp cho tự do biểu đạt được thực hiện một cách hoàn chỉnh hơn, dễ dàng hơn

Trong luật nhân quyền quốc tế tự do biểu đạt (freedom of expression)

bao gồm cả tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do xuất bản, tự do Internet, triển lãm, biểu diễn nghệ thuật… Điều 19 Tuyên ngôn quốc tế về quyền con người năm 1948 (UDHR) ghi nhận về quyền tự do biểu đạt như sau:

Mọi người đều có quyền tự do quan điểm và biểu đạt ý kiến; kể cả tự do bảo lưu quan điểm mà không bị can thiệp; cũng như tự do tìm kiếm, tiếp nhận và truyền bá các ý tưởng và thông tin bằng bất kỳ phương tiện truyền thông nào, không có giới hạn

về biên giới

Quyền tự do biểu đạt luôn đi đôi với quyền tự do quan điểm, theo nghĩa

là quyền được tự do tìm kiếm, nhận và truyền đạt mọi loại tin tức, ý kiến không phân biệt ranh giới; thông qua các hình thức diễn đạt bằng miệng, bằng văn bản như các tranh luận chính trị, bình luận về một người, báo chí… Sách, báo, các hình thức nghệ thuật… được gọi là các phương tiện biểu đạt

Và như vậy, tự do báo chí cũng luôn đi cùng với tự do biểu đạt Để có thể thực hiện quyền tự do biểu đạt, mọi người cần có diễn đàn để thể hiện ý kiến, quan điểm của mình cũng như tiếp thu, chia sẻ quan điểm của người

Trang 25

khác Báo chí ra đời đã là một trong những công cụ hữu hiệu để mỗi người thực hiện quyền tự do ngôn luận của mình Báo chí và các phương tiện truyền thông thúc đẩy tự do biểu đạt, và từ đó, tự do báo chí ngày càng phát triển

Như vậy, tự do biểu đạt và tự do báo chí có mối quan hệ mật thiết với nhau, chúng bổ sung, hỗ trợ, đảm bảo cho nhau Đây là những quyền tự do rất

cơ bản và quan trọng của con người, được gọi là “quyền bảo vệ quyền”, bởi quyền này là một trong những phương tiện quan trọng để bảo vệ quyền kia và quyền, tự do khác [4]

Tự do báo chí với tự do thông tin

Tự do thông tin (freedom of information) bao gồm tự do tìm kiếm, tiếp nhận, tiếp cận, chia sẻ, trao đổi và phổ biến thông tin Tự do thông tin thường đồng nghĩa với quyền tiếp cận thông tin (right to access to information), mặc

dù quyền tiếp cận thông tin đôi khi được hiểu với nghĩa hẹp hơn là quyền được biết về tổ chức và hoạt động của một chủ thể nào đó, đặc biệt là của các

cơ quan nhà nước [3]

Tự do thông tin giúp hình thành nên các quan điểm, ngôn luận một cách khách quan, minh bạch, giảm thiểu những sự thiên vị, sai lệch Thông tin được tiếp cận sẽ giúp các quyền chính trị (tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự

do hội họp…), dân sự, cũng như các quyền kinh tế, xã hội, văn hóa được thực hiện tốt hơn Tự do thông tin là điều kiện tiên quyết để bảo đảm thực hiện tự

do báo chí Không có một nền báo chí nào thành công mà lại được dựa trên một khả năng tiếp cận thông tin hạn chế Việc thu thập thông tin của nhà báo

là không thể nếu thiếu sự tự do thông tin [1]

Và ngược lại, tự do báo chí đóng vai trò rất quan trọng trong việc bảo đảm quyền tiếp cận thông tin, là diễn đàn, hình thức truyền tải, phổ biến thông tin đến mọi tầng lớp xã hội Nếu không có tự do báo chí thì thông tin sẽ khó

Trang 26

được truyền tải một cách trung thực, nhanh chóng, thường xuyên, hệ thống và đầy đủ Đồng thời, thông qua báo chí, người dân được bày tỏ quan điểm, nguyện vọng với nhà nước Và cũng nhờ có báo chí, các thông tin về hoạt động của Nhà nước được chuyển tải đến các tầng lớp trong xã hội

1.1.4 Tự do báo chí trong luật nhân quyền quốc tế

Theo luật nhân quyền quốc tế, quyền tự do báo chí thuộc nhóm các quyền dân sự, chính trị Báo chí có vai trò quan trọng trong việc truyền tải các quan điểm và ngôn luận Báo chí chính là công cụ chính của tự do biểu đạt Vì vậy, tự do báo chí là một phần hoặc đôi khi đồng nhất với tự do biểu đạt, tự do ngôn luận Trong các văn kiện quốc tế về quyền con người, quyền tự do báo chí không được đề cập cụ thể, trực tiếp như nhiều quyền dân sự, chính trị khác

mà thường được ghi nhận trong cùng một điều với quyền tự do quan điểm và

biểu đạt, được hiểu là quyền tự do tìm kiếm, tiếp nhận và truyền bá các ý tưởng

và thông tin bằng bất cứ phương tiện truyền thông nào (Điều 19 UDHR 1948)

Trong Điều 19 Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị (ICCPR) năm 1966, quyền tự do báo chí được hiểu như là một phần nằm trong quyền

tự do biểu đạt:

Mọi người có quyền tự do biểu đạt; quyền này bao gồm tự do tìm kiếm, tiếp nhận và truyền đạt mọi thông tin, ý kiến, không phân biệt lĩnh vực, hình thức tuyên truyền bằng miệng, bằng bản viết, in, hoặc dưới hình thức nghệ thuật, thông qua bất kỳ phương tiện thông tin đại chúng nào tuỳ theo sự lựa chọn của họ

Liên quan đến nội dung tự do báo chí, trong Bình luận chung số 34 (thay thế Bình luận chung số 10) về điều 19 ICCPR của Uỷ ban nhân quyền cũng nhấn mạnh:

Một nền báo chí hay truyền thông tự do, không bị kiểm duyệt và không bị cản trở là cần thiết trong bất kỳ xã hội nào để

Trang 27

đảm bảo tự do quan điểm và tự do biểu đạt và thụ hưởng các quyền khác theo Công ước… [28]

Một số văn kiện pháp lý khu vực cũng đề cập tới tự do báo chí trong các phần ghi nhận về quyền tự do tư tưởng, tự do ngôn luận, tiêu biểu như: Công ước châu Âu về nhân quyền năm 1950 Điều 10:

Mọi người đều có quyền tự do biểu đạt Quyền này bao gồm quyền tự do nắm giữ ý kiến, tiếp nhận và truyền đạt thông tin, ý tưởng mà không bị sự can thiệp của cơ quan công quyền trong bất

kể lĩnh vực nào [23];

Công ước châu Mỹ về nhân quyền năm 1969 Điều 13:

Mọi người đều có quyền tự do giữ suy nghĩ và biểu đạt Quyền này bao gồm quyền tự do tìm kiếm, tiếp nhận và truyền đạt thông tin và ý tưởng thuộc mọi thể loại, không phân biệt lĩnh vực, thông qua lời nói, bản viết, bản in, hoặc dưới bất kỳ hình thức nghệ thuật nào, hoặc thông qua bất kỳ phương tiện nào khác do người đó lựa chọn [30];

Hiến chương châu Phi về các quyền con người và quyền của các dân

tộc năm 1981 Điều 9: “Mỗi cá nhân đều có quyền biểu đại và phổ biến các

quan điểm của mình theo quy định của pháp luật” [34];

Hiến chương Nhân quyền của các quốc gia ASEAN năm 2009 tại Điều

23 về Tự do quan điểm và tự do biểu đạt cũng bao hàm cả tự do báo chí, tương tự như nội dung đã được nhắc tới trong các văn bản về nhân quyền của Liên hợp quốc [18]

Ở cấp độ quốc gia, tự do báo chí đã được đề cập từ rất sớm tại một số quốc gia Chẳng hạn như tại Pháp, trong bản Tuyên ngôn về quyền con người

và quyền công dân năm 1789 - tự do báo chí được trình bày như là quyền tự

do bày tỏ, viết và đăng tải nhưng phải có trách nhiệm và không được lạm dụng quyền tự do đó để vi phạm pháp luật Pháp cũng đã xây dựng cho mình

Trang 28

một hệ thống pháp lý tương đối đầy đủ nhằm bảo đảm đến mức tối ưu quyền

tự do ngôn luận, trong đó có tự do báo chí của người dân thông qua Luật tự

do báo chí 1881 Ở Hoa Kỳ, tự do báo chí được bảo đảm bởi Tu chính án đầu tiên của Hiến pháp năm 1791 Khi đó, nó được nhắc tới cùng với tự do ngôn

luận Tu chính án này ghi: “Quốc hội sẽ không ban hành đạo luật nào nhằm

thiết lập tôn giáo hoặc ngăn cấm tự do tín ngưỡng, hoặc hạn chế tự do ngôn luận hay báo chí hoặc quyền của dân chúng được hội họp và kiến nghị Chính phủ sửa chữa những điều gây bất bình”

Từ các quy định trong pháp luật quốc tế có thể thấy, tự do báo chí đề cập đến các cơ quan, cá nhân có liên quan trong việc thu thập và truyền đạt tin tức bao gồm các hình thức in ấn tin tức, chẳng hạn như báo và tạp chí định kỳ; phát sóng tin tức, như đài phát thanh và truyền hình; lan truyền tin tức trên Internet thông qua các trang báo điện tử… trong mối quan hệ với nhà nước Một nền báo chí tự do, không bị kiểm duyệt và không bị cản trở là cần thiết trong bất kỳ xã hội nào, để đảm bảo tự do quan điểm, biểu đạt, tự do thông tin

và thụ hưởng các quyền con người khác Tuy nhiên, tự do báo chí không phải

là một quyền tuyệt đối mà có giới hạn của nó

1.2 Giới hạn của tự do báo chí

tự công cộng Thực tế, một người có thể sử dụng những quyền của mình nhưng không được xâm phạm đến quyền lợi của người khác hay cộng đồng Không thể dùng quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí để bôi nhọ danh dự của người khác Đây là triết lý của vấn đề vì sao nhà nước phải giới hạn quyền để

Trang 29

giữ những quyền đó trong miền chừng mực, nhưng vẫn đảm bảo sự phát triển hài hoà, bền vững của xã hội [10] Giới hạn quyền tự do báo chí thực chất là việc một người có quyền tự do báo chí, nhưng có thể bị hạn chế vì một lý do, mục đích hợp lý, đáp ứng nhu cầu chính đáng về đạo đức, xã hội

Tuyên ngôn toàn thế giới về quyền con người năm 1948 (UDHR) và một số điều ước quốc tế về quyền con người đã đặt ra vấn đề giới hạn quyền con người, mà bản chất của nó là cho phép các quốc gia thành viên áp đặt một

số điều kiện với việc thực hiện/thụ hưởng một số quyền con người nhất định Khoản 2 Điều 29 UDHR đã ghi nhận rằng:

Khi thực hiện các quyền và tự do của mình, mọi người chỉ phải chịu những hạn chế do luật định (“determined by law”), nhằm mục đích duy nhất là đảm bảo sự công nhận và tôn trọng thích đáng đối với các quyền và tự do của người khác, cũng như đáp ứng những yêu cầu chính đáng về đạo đức, trật tự xã hội và phúc lợi chung trong một xã hội dân chủ

Giới hạn quyền con người là việc phải thực hiện để đảm bảo sự tôn trọng đối với quyền của người khác và đảm bảo trật tự trong một xã hội dân chủ

Như vậy, giới hạn tự do báo chí là việc các quốc gia, bằng các quy

định của pháp luật, đặt ra các điều kiện đối với việc thụ hưởng, thực hiện các quyền tự do báo chí nhằm mục tiêu bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khác, của cộng đồng hoặc bảo vệ các lợi ích chung của xã hội

1.2.2 Lịch sử giới hạn tự do báo chí

Trong lịch sử hiện đại, tự do báo chí bắt đầu được nhắc tới nhiều ở Châu Âu không lâu sau khi máy in được phát minh Giữa thế kỉ XV, sự xuất hiện của máy in đã đưa đến một hệ quả lớn lao là sự ra đời của các sản phẩm

in ấn như sách, báo, tờ rơi… Khi đó báo in được xem là công cụ để truyền giáo của giáo hội và truyền tải thông tin chính sách cho nhà cầm quyền Tuy

Trang 30

nhiên, việc có thể nhân bản, phân phối bất kỳ một ấn phẩm nào đó một cách

dễ dàng nhờ máy in đã tạo ra những nguy cơ tiềm ẩn cho việc tuyên truyền, phổ biến những ấn phẩm có nội dung sai lệch, không có lợi, hoặc chống lại giai cấp thống trị Để ngăn chặn điều này, các biện pháp kiểm soát việc in

ấn, xuất bản báo chí đã được đặt ra Tự do báo chí bị giới hạn theo hai cách:

có thể là sự kiểm duyệt hoặc bắt buộc phải được cấp giấy phép của chính quyền đối với các ấn phẩm trước khi xuất bản; thứ hai là hình phạt đối với tài liệu in, đặc biệt đối với ấn phẩm được xem là bôi nhọ, xúi giục nổi loạn chống lại chính quyền

Ở Anh, sự xuất hiện của các ấn phẩm in trái phép đã khiến cho hoàng gia đưa ra lệnh yêu cầu các ấn phẩm phải qua cấp phép trước khi công bố [38] Tự do báo chí ngày càng bị hạn chế hơn khi xuất hiện những ấn phẩm được cho là có nội dung xúi dục nổi loạn, phỉ bang chính phủ, quan chức nhà nước, báng bổ tôn giáo buộc chính phủ phải đưa ra những biện pháp để hạn chế tự do báo chí đó là yêu cầu kiểm duyệt, cấp giấy phép trước khi xuất bản ấn phẩm và trừng phạt đối với tài liệu có nội dung đó Năm

1643, sắc lệnh về việc cấp phép in ấn được ban hành với nội dung như: yêu cầu các ấn phẩm phải được chính phủ cấp phép trước khi công bố; tìm kiếm, tịch thu và hủy hoại bất kỳ cuốn sách nào phỉ bang xúc phạm chính phủ; bắt giữ bất kỳ tác giả, nhà xuất bản nào gây xúi dục, nổi loạn… [35] Những quy định hạn chế tự do này của chính quyền đã dẫn đến nhiều cuộc đấu tranh, phản đối đòi quyền tự do biểu đạt, trong đó có nhà thơ John Milton (1608 –

1674) Cuốn “Areopagitica; A Speech of Mr John Milton for the Liberty of

Unlicenc'd Printing, To the Parlament of England” [31] được ông viết vào

năm 1644 đã trở thành luận thuyết đầu tiên của lịch sử Châu Âu hiện đại bảo

vệ quyền tự do báo chí [32] Trong tác phẩm của mình, Milton đưa ra những

lý lẽ để chống lại sự kiểm duyệt các ấn phẩm trước khi công bố, sách báo

Trang 31

không thể bị trù dập, bị cấm đoán trước khi xuất bản Thông tin và các ý tưởng (có thể đúng hoặc sai) phải được biết và trao đổi một cách tự do để người ta có thêm kiến thức và hiểu biết Tuy nhiên, ông cũng không đồng tình với việc tự do biểu đạt hay in ấn một cách tùy tiện, tự do báo chí không phải

là tự do tuyệt đối Theo ông, những ấn phẩm có nội dung bôi nhọ, vu cáo, sai lệch về đạo đức… phải bị xử lý theo luật và tác giả phải chịu hình phạt [33]

Những lập luận của Milton đã trở thành nền tảng của tự do báo chí, ảnh hưởng mạnh mẽ đến tư tưởng của nhiều tác giả sau này như John Locke và John Stuart Mill Và đồng thời, nó là một trong những nguồn được trích dẫn nhiều nhất cho các lý luận về quyền tự do biểu đạt Tuy nhiên, vào thời điểm

đó, sự đấu tranh của ông chưa thể thuyết phục được chính quyền Anh, việc cấp phép, kiểm duyệt vẫn được duy trì đến năm 1695 - khi luật cấp phép kiểm duyệt “Licensing Act” bị bãi bỏ Mặc dù tự do báo chí được ghi nhận nhưng vẫn có những hạn chế xuất hiện dưới hình thức luật bôi nhọ Theo đó, chính phủ có thể bắt giữ và trừng phạt bất kỳ nhà in nào xuất bản những ấn phẩm chỉ trích chính phủ

Năm 1765, William Blackstone trong cuốn “Commentaries on the laws

of England” đã viết:

Thực ra báo chí là rất quan trọng đối với bản chất của một nhà nước tự do; nhưng điều này chỉ cho phép tự do xuất bản chứ không phải là không bị kiểm duyệt khi xuất bản những vấn đề có liên quan đến hình sự Tất cả con người tự do đều có quyền đương nhiên là được bày tỏ quan điểm thái độ trước công chúng; cấm đoán điều này tức là phá hoại tự do báo chí: nhưng nếu người đó xuất bản những điều không hợp lý, có hại, hoặc bất hợp pháp, người đó phải chịu hậu quả về sự liều lĩnh của mình

Cũng giống như John Milton, Blackstone cho rằng tự do báo chí là rất

Trang 32

quan trọng đối với bản chất của một nhà nước tự do, nhưng nó vẫn có thể và nên bị hạn chế

Cuộc đấu tranh cho tự do báo chí ở Anh đã trở thành tiền đề cho các quốc gia khác bãi bỏ những hạn chế, kiểm duyệt đối với báo chí Năm 1766, Thụy Điển là nước đầu tiên trên thế giới ban hành Luật tự do báo chí [26] Theo đó, vai trò của chính phủ Thụy Điển trong việc cấp phép, kiểm duyệt các ấn phẩm đã bị xóa bỏ

Năm 1787, Tu Chính Án Thứ Nhất (First Amendment) được đưa vào

Hiến pháp Hoa Kỳ với nội dung: “Quốc hội không được ban hành luật liên

quan đến bất cứ tôn giáo nào, hoặc ngăn cản sự tự do tín ngưỡng, hoặc ngăn cản sự tự do ngôn luận, báo chí” Với ghi nhận này trong Hiến pháp, tự do

báo chí tại Hoa Kỳ được bảo đảm ở mức cao nhất, dường như không phải chịu bất cứ một giới hạn nào Tuy nhiên, sau đó Luật về Tình báo năm 1917

và Luật cấm xúi dục nổi loạn năm 1918 được ban hành trong đó có đưa ra một số giới hạn cho tự do báo chí

Năm 1789, Quốc hội Pháp thông qua một đạo luật về tự do quan điểm

và biểu đạt, xác định rằng:

Tự do biểu đạt và quan điểm là một trong những quyền quý giá của con người; mỗi một công dân do đó có thể phát biểu, viết lách và in ấn tự do, nhưng sẽ chịu trách nhiệm về việc lạm dụng quyền tự do này theo quy định của pháp luật …

Tại Bỉ, tự do báo chí cũng đã được ghi nhận trong Hiến pháp 1831 tại Điều 25:

Báo chí được tự do; không bao giờ được thiết lập sự kiểm duyệt nào; không được yêu cầu an ninh từ các tác giả, các nhà xuất bản và các nhà in Khi tác giả của một tác phẩm báo chí được biết

rõ và đang cư trú ở Bỉ, không được truy tố nhà xuất bản, nhà in hay nhà phát hành [20] …

Đến nay, mặc dù tự do báo chí đã được ghi nhận ở trong pháp luật

Trang 33

của hầu hết các quốc gia và luật pháp quốc tế nhưng việc xóa bỏ kiểm duyệt hay hạn chế tự do báo chí vẫn luôn là chủ đề được quan tâm và gây

ra những làn sóng đấu tranh ở nhiều nơi trên thế giới Có thể nói rằng không một quốc gia nào trên thế giới coi tự do báo chí là quyền tuyệt đối Quyền này có thể bị hạn chế và điều chỉnh khi các quyền liên quan khác được coi trọng nhiều hơn [12, tr.12]

1.2.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến giới hạn tự do báo chí

Yếu tố chính trị

Quyền tự do báo chí được ghi nhận trong luật nhân quyền quốc tế cũng như trong pháp luật của hầu hết các quốc gia Tuy nhiên mức độ ghi nhận và thực thi quyền này có sự khác nhau phụ thuộc vào quan điểm của quan điểm của nhà cầm quyền Một chế độ chính trị độc tài, coi báo chí là phương tiện nhằm củng cố, giữ gìn chế độ, thì thông tin báo chí sẽ bị giới hạn, kiểm duyệt chặt chẽ nhằm mục đích hạn chế bất đồng chính kiến và truyền đi những thông điệp tích cực về chính quyền Những cách thức được các quốc gia chuyên chế này thực hiện có thể là chế độ kiểm duyệt trước khi xuất bản, sự độc quyền của báo chí nhà nước trong việc đưa dẫn tin tức, sự độc quyền trong sở hữu cơ quan báo chí… Ngược lại, ở những quốc gia dân chủ, tự do báo chí được tôn trọng đến mức tối đa, sự kiểm duyệt được nới lỏng, công chúng được tiếp xúc với các sản phẩm báo chí đa dạng, tin tức được phổ biến

đa chiều sẽ là phương tiện hữu ích để củng cố cho nền dân chủ và quản trị tốt Báo chí có thể phản biện, giám sát hoạt động của nhà nước, phát hiện tham nhũng, hoặc là diễn đàn ngôn luận để mọi cá nhân có thể bày tỏ quan điểm về các sự kiện trong đời sống xã hội

Yếu tố pháp luật

Pháp luật là phương tiện chính thức hóa, pháp lý hóa giá trị của quyền con người, bảo đảm giá trị thực tế của quyền con người Pháp luật là công cụ

Trang 34

giúp nhà nước bảo đảm sự tuân thủ, thực thi các quyền con người, đồng thời

là công cụ của các cá nhân trong việc bảo vệ quyền của họ, trong đó có quyền tự do báo chí Các quy phạm pháp luật sẽ tác động đến mức độ hoạt động cũng giới hạn khả năng hoạt động của báo chí Hiến pháp và luật pháp các quốc gia là những bảo đảm pháp lý quan trọng nhằm ghi nhận, thực thi

và bảo vệ quyền tự do báo chí Đồng thời, đây cũng là căn cứ để giới hạn tự

do báo chí thông qua các quy định về an ninh quốc gia, dân tộc, tôn giáo, hình phạt… Hệ thống pháp luật quốc gia xác định rõ ràng các điều kiện giới hạn tự do báo chí sẽ là cơ sở để tự do báo chí được bảo đảm tốt hơn, tránh sự lạm dụng các lý do chính đáng giới hạn tự do báo chí để xâm phạm quyền tự

do báo chí của mỗi cá nhân

• Yếu tố kinh tế

Điều kiện kinh tế là một trong những yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến

sự phát triển của một nền báo chí Việc xuất bản một tờ báo hay thành lập đài phát thanh, truyền hình… đòi hỏi phải có kinh phí để thực hiện phục vụ cho hoạt động báo chí từ việc thu thập, xử lý, sản xuất, chuyển tải thông tin Ở các nước phát triển, điều kiện kinh tế tốt sẽ tạo thuận lợi để báo chí phát huy khả năng của mình Cơ sở hạ tầng hiện đại (đường xá, điện, viễn thông…) sẽ giúp cho thông tin báo chí được truyền tải, phổ biến dễ dàng thông qua nhiều hình thức từ báo in đến báo nói, báo hình, hoặc báo điện tử trên internet, thiết bị di động Nền kinh tế mở, đa dạng nhiều thành phần bao gồm nhà nước, các doanh nghiệp, tập đoàn trong và ngoài nước sẽ là cơ hội để các cơ quan báo chí nhà nước và tư nhân cùng song song phát triển Ngoài ra, tình hình tài chính cũng có thể tác động đến hoạt động của báo chí Một nền tài chính minh bạch, bền vững sẽ bảo đảm cho thông tin báo chí truyền tải được độc lập, không bị giới hạn Ngược lại, nếu nền tài chính xảy ra tham nhũng, hối lộ sẽ chi phối, gây trở ngại cho việc sản xuất, truyền tải tin tức báo chí

Trang 35

Yếu tố văn hóa, xã hội

Văn hóa, xã hội là những phạm trù rộng lớn và có những biểu hiện khác nhau ở mỗi khu vực địa lý, ở từng quốc gia Trong mỗi xã hội đều có những đặc trưng văn hóa, lịch sử phát triển riêng sẽ làm hình thành hoặc ảnh hưởng đến ý thức hệ và hoạt động của cá nhân trong xã hội đó, bao gồm cả các hoạt động báo chí Tại xã hội phương Tây, ý thức về các quyền tự do dân

sự, chính trị được hình thành từ rất sớm Lịch sử cho thấy các cuộc đấu tranh đòi quyền tự do dân chủ đều bắt nguồn từ trong lòng xã hội phương Tây, và quyền tự do báo chí cũng không phải ngoại lệ Trong xã hội mà yếu tố cá nhân được đề cao, thì các cá nhân được tự do biểu đạt quan điểm, thể hiện thông qua nhiều hình thức, trong đó có báo chí Các cá nhân được tự do thực hiện hoạt động báo chí miễn là không xâm phạm các giới hạn chính đáng do pháp luật đặt ra về quyền tự do báo chí Ngược lại, trong xã hội mà yếu tố tập thể được coi trọng, tính thông tin đa dạng, sáng tạo, phản biện của báo chí sẽ

bị triệt tiêu Lợi ích công cộng, xã hội được ưu tiên sẽ là một trong những lý

do để lạm dụng, giới hạn quyền tự do báo chí của cá nhân

1.2.4 Giới hạn tự do báo chí trong pháp luật nhân quyền quốc tế

Các công ước quốc tế cũng như pháp luật của các quốc gia đều coi tự

do báo chí là một quyền cơ bản Nhưng đó không phải là một quyền tuyệt đối

mà phải có một số giới hạn nhất định Tuy nhiên, luật nhân quyền quốc tế không cho phép các nước được tùy tiện giới hạn tự do báo chí Bởi như vậy sẽ khiến cho việc tôn trọng và bảo vệ quyền này không còn ý nghĩa

Những yêu cầu chặt chẽ mà luật nhân quyền quốc tế đòi hỏi các quốc gia phải đáp ứng khi đưa ra giới hạn về tự do báo chí được tìm thấy trong

khoản 3 điều 19 ICCPR: việc thực hiện quyền này có thể phải chịu một số

hạn chế nhất định, tuy nhiên, những hạn chế này phải được quy định trong pháp luật và là cần thiết để: (a) Tôn trọng các quyền hoặc uy tín của người

Trang 36

khác, (b) Bảo vệ an ninh quốc gia hoặc trật tự công cộng, sức khoẻ hoặc đạo đức của xã hội

Điều 10 Công ước nhân quyền châu Âu cũng ghi nhận quyền tự do biểu đạt và chỉ rõ:

Việc thực hiện các quyền tự do này, vì nó bao hàm cả nghĩa

vụ và trách nhiệm, có thể phải chịu sự điều chỉnh của các thủ tục, điều kiện, hạn chế hoặc hình phạt do luật pháp quy định và là điều cần thiết trong một xã hội dân chủ, vì lợi ích an ninh quốc gia, toàn vẹn lãnh thổ, hay an toàn xã hội, nhằm ngăn ngừa tội phạm, nhằm bảo vệ sức khỏe, tinh thần, bảo vệ uy tín hay quyền của những người khác, nhằm ngăn ngừa việc phát tán thông tin mật, bảo đảm thẩm quyền và tính không thiên vị của ngành tư pháp

Nhiều tài liệu quốc tế, các công ước, các hiệp ước cũng có cách tiếp cận tương tự, như Công ước liên Mỹ về Nhân quyền năm 1969 tại Điều 13 về

tự do tư tưởng và tự do biểu đạt cũng đặt ra:

2 Việc thực hiện quyền không phải chịu sự kiểm duyệt trước

đó mà phải chịu trách nhiệm đặt ra sau đó, được luật pháp quy định

rõ ràng trong phạm vi cần thiết để đảm bảo:

a Tôn trọng quyền hoặc danh tiếng của người khác; hoặc là

b Bảo vệ an ninh quốc gia, trật tự công cộng, y tế công cộng hoặc đạo đức

3 Quyền tự do biểu đạt sẽ có thể không bị giới hạn bằng các cách thức hoặc phương pháp gián tiếp, như sự lạm quyền của chính phủ hoặc kiểm soát bí mật trên báo in, tần số phát thanh hoặc thiết

bị được sử dụng để phổ biến thông tin hoặc bằng bất kỳ phương tiện nào khác có xu hướng cản trở giao tiếp và lưu hành các ý tưởng

và quan điểm

Trang 37

4 Mặc dù theo quy định tại khoản 2 đã nêu trên, nhưng các hoạt động giải trí công cộng vẫn có thể bị kiểm duyệt trước theo quy định của pháp luật với mục đích duy nhất là điều chỉnh sự tiếp cận của các hoạt động này vì bảo vệ đạo đức của trẻ em và trẻ vị thành niên

5 Bất kỳ tuyên truyền nào về chiến tranh và bất kỳ sự vận động nào về thù hận dân tộc, chủng tộc hay tôn giáo tạo thành xúi giục bạo lực bất hợp pháp hoặc bất kỳ hành động tương tự nào khác đối với bất kỳ người hoặc nhóm người nào trên mọi cơ sở bao gồm chủng tộc, màu da, tôn giáo, ngôn ngữ, hoặc nguồn gốc quốc gia đều bị coi là phạm tội và bị pháp luật trừng phạt [30]

Hay Hiến chương châu Phi về Nhân quyền và Dân quyền năm 1998 có

đoạn: “Quyền và tự do của mỗi cá nhân sẽ được thực hiện trong mối liên

quan đến quyền của những người khác, an ninh tập thể, đạo đức và lợi ích chung” [34]

Hiến pháp các quốc gia trên thế giới đều công nhận quyền tự do quan điểm, tự do báo chí nhưng cũng không coi quyền tự do này là quyền tự do tuyệt đối Cách thức giới hạn quyền tự do báo chí có thể là chung cùng với các quyền con người khác hoặc có quy định giới hạn riêng, hoặc cả hai Chẳng hạn, Hiến pháp Ý năm 1947 ghi nhận:

Báo chí có thể không phải chịu bất kỳ sự cấp phép hoặc kiểm duyệt, song cũng đặt ra: Các ấn phẩm, chương trình biểu diễn, triển lãm làm khó chịu cho đạo đức công cộng đều bị cấm Các biện pháp phòng ngừa và xử lý đối với các hành vi vi phạm sẽ được pháp luật quy định [21]

Hay Hiến pháp Hàn Quốc năm 1948 cũng nêu rõ:

Tự do ngôn luận cũng như tự do báo chí không được xâm phạm danh dự hoặc quyền của những người khác, cũng như không

Trang 38

được làm suy yếu đạo đức công cộng hoặc chuẩn mực xã hội Nếu lời nói hoặc báo chí xâm phạm đến danh dự hoặc quyền của người khác, có thể yêu cầu bồi thường thiệt hại do việc đó gây ra [22] Như vậy, có thể nội dung chi tiết trong những văn bản ở cấp độ quốc tế, cấp độ khu vực hay cấp độ quốc gia là khác nhau song tất cả đều coi tự do biểu đạt, tự do báo chí là quyền cơ bản, nhưng quyền này có thể bị giới hạn bởi những đạo luật phù hợp nhằm bảo vệ các lợi ích xã hội chính đáng Ngoài

ra, các Nguyên tắc Siracusa về hạn chế quyền và đình chỉ các quyền trong ICCPR năm 1984 và các Nguyên tắc Johannesburg về An ninh quốc gia, Tự

do ngôn luận và Tiếp cận thông tin năm 1996 tuy đề cập tới việc giới hạn các quyền con người nói chung nhưng cũng có giá trị tham khảo, làm rõ thêm các căn cứ giới hạn quyền tự do báo chí

1.2.5 Nội dung của giới hạn tự do báo chí

Với tính chất là quyền con người cơ bản, là phương tiện để thực hiện quyền biểu đạt, các giới hạn của nhà nước đối với tự do báo chí thường hướng tới chủ thể thực hiện quyền tự do báo chí và quá trình làm ra các sản phẩm báo chí Đối với sự can thiệp trực tiếp đến chủ thể (nhà báo, tổng biên tập…), nhiều quốc gia sử dụng những hình phạt (hành chính, hình sự), các biện pháp ngăn chặn (tịch thu phương tiện làm báo, bắt giữ, trục xuất… hoặc có những hình thức truy bức, đe dọa, quấy rối… nhằm ngăn chặn cá nhân thực hiện quyền tự do báo chí Sự can thiệp này thường có thể dẫn tới việc xâm phạm nghiêm trọng các quyền, tự do khác của cá nhân như quyền tự do đi lại, tự do hội họp, an toàn thân thể, tính mạng, quyền sống… Còn đối với sự can thiệp hướng tới các sản phẩm báo chí, nhà nước thường có những quy định về cấp phép, kiểm duyệt trước khi xuất bản, tịch thu, thu hồi ấn phẩm đã công bố…

Để ngăn chặn gián tiếp các sản phẩm báo chí không mong muốn, nhà nước kiểm soát thông qua các pháp nhân như tòa soạn báo, nhà xuất bản, các cơ

Trang 39

quan báo chí… như việc rà soát bắt buộc trước khi xuất bản, hay việc yêu cầu ngừng phát hành ấn phẩm trước khi công bố… Đây là những can thiệp được cho là nghiêm trọng nhất bởi nó làm dừng việc truyền đạt thông tin, ý tưởng tới những người đón nhận

Theo luật nhân quyền quốc tế, các loại can thiệp kể trên của nhà nước

là có thể được chấp nhận Tuy nhiên, cần căn cứ vào Khoản 3 Điều 19 ICCPR để đánh giá, nếu việc giới hạn vượt quá mức độ cần thiết là sự xâm phạm quyền tự do biểu đạt, tự do báo chí Cũng giống như các quyền con người có thể bị giới hạn khác, nhà nước khi đưa ra những quy định nhằm giới hạn tự do báo chí cần phải chứng minh sự cần thiết và tính chính đáng, hợp lý cho hành vi can thiệp của mình Để làm rõ hơn các mục đích/lý do, nguyên tắc, hình thức của việc giới hạn quyền, nhằm tránh việc lạm quyền của các quốc gia, Bình luận chung số 34 của Ủy ban nhân quyền đã có những giải thích làm rõ hơn các nội dung giới hạn quyền tự do biểu đạt nói chung, trong đó có tự do báo chí

Theo đó, nhà nước trong bất kỳ trường hợp nào cần phải đáp ứng được những điều kiện cụ thể và chỉ với những điều kiện này mới có thể đặt ra những giới hạn đối với việc thực hành quyền tự do báo chí Đó là:

Các giới hạn này phải “được luật pháp quy định”; chỉ được

áp dụng các giới hạn dựa trên những lý do đưa ra trong mục (a) và (b) của Khoản 3; và những giới hạn này phải tuân thủ những kiểm chứng nghiêm ngặt về tính cần thiết và mức độ tương xứng Không được đưa ra những hạn chế với những lý do không nằm trong khoản

3, ngay cả nếu những lý do này có thể phù hợp để áp dụng hạn chế những quyền khác trong Công ước Những hạn chế này chỉ được áp dụng với những mục đích mà vì những mục đích ấy những hạn chế này được đặt ra, và phải trực tiếp liên quan đến nhu cầu cụ thể mà những hạn chế này được định liệu [28]

Trang 40

Cụ thể hơn, một nhà nước khi áp dụng các quy định giới hạn tự do báo chí được coi là phù hợp với các tiêu chuẩn của luật nhân quyền quốc tế khi đáp ứng được các điều kiện sau:

Hình thức giới hạn tự do báo chí

Các giới hạn tự do báo chí phải được pháp luật quy định Theo yêu cầu

này, bất kỳ sự can thiệp nào của nhà nước tới việc thực hiện tự do báo chí đều phải dựa trên pháp luật quốc gia, nội dung của các giới hạn đó phải phù hợp với Công ước ICCPR Khi đưa ra bất kỳ biện pháp nào giới hạn tự do báo chí, nhà nước phải chứng minh được hành vi can thiệp của mình là có cơ sở pháp

lý Ví dụ, nếu một nhà báo bị kết án vì phạm tội bôi nhọ, thì tội bôi nhọ phải được quy định trong pháp luật của quốc gia Hay khi áp dụng biện pháp cấm xuất bản, tịch thu ấn phẩm… thì phải có các quy định về trường hợp cấm xuất bản hay tịch thu ấn phẩm trong pháp luật quốc gia

Luật pháp không thể trao thẩm quyền quyết định giới hạn tự do báo chí cho nhiều chủ thể, bởi điều này sẽ dẫn đến sự tùy tiện giới hạn quyền Các luật phải đưa ra hướng dẫn phù hợp để những người thừa hành có thể hiểu biết rõ khi nào tự do báo chí bị hạn chế và khi nào không bị hạn chế Chẳng hạn, như đối với lực lượng an ninh, những điều này là rất quan trọng Trong thực tế, khi làm nhiệm vụ thì lực lượng an ninh có thể hạn chế tự do báo chí bằng cách từ chối cho phép các nhà báo vào hiện trường một vụ án đang điều tra, hay tác nghiệp tại một địa điểm… Điều này đòi hỏi phải có một đạo luật quy định rõ ràng việc cho phép họ có quyền làm như vậy nhằm ngăn ngừa sự lạm quyền, ngăn cản việc thực hiện quyền tự do báo chí

Đồng thời, pháp luật về giới hạn tự do báo chí phải được quy định rõ ràng với độ chính xác thích đáng để căn cứ vào đó cá nhân có thể điều chỉnh hành vi của mình và phải được phổ biến rộng rãi để người dân có thể tiếp cận dễ dàng

Ngày đăng: 17/03/2021, 11:40

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w