1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Hiệu lực của ly hôn đối với con theo luật hôn nhân gia đình năm 2014

110 6 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 110
Dung lượng 751,03 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong phán quyết của Tòa án thể hiện trong bản án hoặc quyết định có những nội dung về quyền cũng như nghĩa vụ bắt buộc các bên vợ, chồng cha, mẹ của con và những người có quyền lợi và n

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Cán bộ hướng dẫn khoa học:PGS.TS TRẦN THỊ HUỆ

Hà Nội – 2017

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội

Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể bảo vệ Luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn!

NGƯỜI CAM ĐOAN

Đỗ Thị Hạnh

Trang 4

MỤC LỤC

LỜI MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HIỆU LỰC CỦA LY HÔN ĐỐI VỚI CON 5

1.1 Khái niệm, đối tượng, nội dung, đặc điểm hiệu lực của ly hôn đối với con 5

1.1.1.Khái niệm hiệu lực của ly hôn đối với con 5

1.1.2 Đối tượng là con được pháp luật bảo vệ sau khi vợ chồng ly hôn 12

1.1.3 Nội dung hiệu lực của ly hôn đối với con 14

1.1.4.Đặc điểm hiệu lực của ly hôn đối với con 16

1.2 Căn cứ phát sinh hiệu lực của ly hôn đối với con 18

1.2.1 Cơ sở lý luận 18

1.2.2 Cơ sở pháp lý 19

1.2.3 Cơ sở thực tiễn 21

1.3 Ý nghĩa của việc quy định hiệu lực của ly hôn đối với con trong luật HN&GĐ 23

1.3.1 Ý nghĩa về pháp lý 23

1.3.2 Ý nghĩa về mặt xã hội 24

1.4 Sơ lược về sự hình thành và phát triển các quy định về hiệu lực của ly hôn đối với con trong Hệ thống pháp luật Việt Nam 25

1.4.1 Quyền và nghĩa vụ về nhân thân 25

1.4.2 Quyền và nghĩa vụ về tài sản 29

1.5 Hiệu lực của ly hôn theo pháp luật của một số nước trên thế giới 30

1.5.1 Quyền và nghĩa vụ về nhân thân 30

1.5.2 Quyền và nghĩa vụ về tài sản 33

1.6 Kết luận chương 1 35

CHƯƠNG 2 NỘI DUNG HIỆU LỰC CỦA LY HÔN ĐỐI VỚI CON THEO LUẬT HN&GĐ VIỆT NAM NĂM 2014 37

2.1 Hiệu lực của ly hôn về nhân thân đối với con 37

2.1.1 Nghĩa vụ và quyền khai sinh, đặt họ tên, xác định tôn giáo, dân tộc, quốc tịch,

Trang 5

2.1.3 Nghĩa vụ và quyền giáo dục con 42

2.1.4 Nghĩa vụ và quyền đại diện cho con 43

2.1.5 Nghĩa vụ và quyền thăm nom, chăm sóc con 45

2.2 Hiệu lực của ly hôn về tài sản đối với con 48

2.2.1 Nghĩa vụ và quyền cấp dưỡng của cha mẹ đối với con 48

2.2.2 Nghĩa vụ và quyền của cha mẹ trong việc quản lý, định đoạt tài sản riêng của con 57

2.2.3 Nghĩa vụ bồi thường thiệt hại do con gây ra 59

2.3 Nghĩa vụ của cha mẹ trong một số trường hợp khác 61

2.3.1 Nghĩa vụ và quyền của cha, mẹ nuôi đối với con nuôi 61

2.3.2 Nghĩa vụ và quyền của bố dượng, mẹ kế đối với con riêng của vợ hoặc chồng (trường hợp sau khi cha mẹ ly hôn và kết hôn với người khác) 63

2.4 Hạn chế quyền của cha mẹ đối với con chưa thành niên 65

2.5 Kết luận chương 2 69

CHƯƠNG 3 THỰC TIỄN ÁP DỤNG PHÁP LUẬT HN&GĐ VỀ BẢO VỆ QUYỀN VÀ LỢI ÍCH HỢP PHÁP CỦA CON KHI CHA MẸ LY HÔN TRONG HOẠT ĐỘNG XÉT XỬ CỦA TÒA ÁN 71

3.1 Nhận xét chung về thực tiễn áp dụng những quy định về quyền và nghĩa vụ của cha mẹ đối với con khi ly hôn theo Luật HN&GĐ năm 2014 71

3.2 Một số hạn chế, bất cập khi thực hiện các quy định về quyền và nghĩa vụ của cha mẹ đối với con khi ly hôn theo Luật HN&GĐ năm 2014 và kiến nghị 81

3.2.1 Một số hạn chế, bất cập khi thực hiện các quy định về quyền và nghĩa vụ của cha mẹ đối với con khi ly hôn theo Luật HN&GĐ năm 2014 81

3.2.2 Kiến nghị 92

3.3 Phương hướng hoàn thiện các quy định về quyền và nghĩa vụ của cha mẹ đối với con khi ly hôn trong Luật HN&GĐ năm 2014 95

3.4 Kết luận chương 3 99

KẾT LUẬN 101

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 102

Trang 6

DANH MỤC VIẾT TẮT

1 BLDS : Bộ luật Dân sự

2 BLHS : Bộ luật hình sự

3 BVCS&GDTE : Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em

4 HN&GĐ : Hôn nhân và gia đình

Trang 7

LỜI MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong xã hội hiện đại ngày nay tình trạng ly hôn diễn ra ngày càng nhiều, đặc biệt là ở giới trẻ Khi ly hôn, ngoài vợ chồng là những người trực tiếp liên quan thì con chung là những người bị ảnh hưởng nhiều nhất bởi quyết định ly hôn này Thực tiễn cho thấy con chung là một trong những vấn đề quan trọng và phức tạp nhất khi giải quyết ly hôn Theo đó, các bên thường xuyên xảy ra mâu thuẫn khi chọn bên trực tiếp nuôi con Bên cạnh đó, khi ly hôn việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ khác của cha mẹ đối với con cũng sẽ gặp phải những bất cập nhất định

Nếu như quan hệ vợ chồng là quan hệ dựa trên cơ sở hôn nhân thì quan hệ giữa cha mẹ và con lại dựa trên quan hệ huyết thống hoặc nuôi dưỡng mà ở đó chứa đầy tình cảm yêu thương gắn bó cùng với ý thức và trách nhiệm Vợ chồng có thể ly hôn bằng một bản án, quyết định có hiệu lực của Tòa án nhưng không ai có quyền chối bỏ trách nhiệm đối với con của mình, ngay cả khi hôn nhân không còn tồn tại

Đối với con, việc ly hôn của cha mẹ có ảnh hưởng rất lớn Theo đó, để đảm bảo quyền lợi cho con, nghĩa vụ và quyền của cha mẹ đối với con được quy định khá đầy đủ và chi tiết trong Luật HN&GĐ và một số văn bản pháp luật hiện hành khác có liên quan Luật HN&GĐ năm 2014 bổ sung thêm các quy định về quyền và nghĩa vụ của cha mẹ và con sau khi ly hôn, bảo vệ quyền và nghĩa vụ của cha mẹ và con; đồng thời sửa đổi, bổ sung các quy định có liên quan.Đối với trẻ em, gia đình

là cái nôi quan trọng nhất trong việc hình thành nhân cách Khi gia đình rạn nứt, việc tiếp tục duy trì một môi trường gia đình để nuôi dưỡng và giáo dục con để chúng không bị những ảnh hưởng xấu là điều không dễ dàng Chính vì thế, việc hoàn thiện những quy định về quyền và nghĩa vụ của cha mẹ đối với con khi ly hôn

là rất quan trọng Trong khi đó, với điều kiện xã hội hiện nay, khi mà trong xã hội

có nhiều sự thay đổi do tác động của nhiều yếu tố; lối sống và nhân cách cá nhân chịu những áp lực, thách thức bởi nhiều loại thang bậc giá trị; sự đề cao giá trị vật chất; sự thờ ơ, thiếu trách nhiệm của các bậc cha mẹ đối với con diễn ra ngày càng phổ biến…thì khi ly hôn sẽ có những hậu quả pháp lý nào xảy ra đối với con? Các

Trang 8

nghĩa vụ và quyền của cha mẹ đối với con theo phán quyết của Tòa án cũng như quy định của Luật HN&GĐ Việt Nam có thực sự được thực thi một cách triệt để? Nội dung cụ thể của những quy định này như thế nào? Có những vướng mắc bất cập

gì trong thực tiễn thực hiện? Phương hướng hoàn thiện nó ra sao? Đi tìm câu trả lời

cho những vấn đề đó chính là lý do tác giả chọn đề tài “Hiệu lực của ly hôn đối với

con theo Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam năm 2014” là đề tài luận văn thạc sĩ

của mình Việc nghiên cứu đề tài này mang tính cấp thiết cả về lý luận lẫn thực tiễn, bởi lẽ không những nó trang bị cho mỗi chúng ta những hiểu biết chung nhất về hiệu lực của ly hôn đối với con theo Luật HN&GĐ Việt Nam; mà qua đó còn góp phần xây dựng và hoàn thiện các quy định của pháp luật về vấn đề này, tạo ra hành lang pháp lý vững chắc để pháp luật thực sự đi vào cuộc sống

2 Mục tiêu nghiên cứu

trên

2.2.Mục tiêu cụ thể

Để đạt được mục đích nghiên cứu trên, nhiệm vụ nghiên cứu đặt ra là:

- Làm rõ những vấn đề lý luận về hiệu lực của ly hôn đối với con, theo đó phân tích quyền và nghĩa vụ của cha mẹ đối với con nói chung và quyền và nghĩa vụ của cha mẹ đối với con khi ly hôn nói riêng

- Phân tích thực tiễn áp dụng Luật HN&GĐ về bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của con khi cha mẹ ly hôn trong hoạt động xét xử của Tòa án tại Việt Nam

- Phân tích quy định về quyền và nghĩa vụ của cha mẹ đối với con khi ly hôn của một số nước trên thế giới

Trang 9

- Kiến nghị và đưa ra các giải pháp để hoàn thiện quy định của pháp luật Việt Nam về quyền và nghĩa vụ của cha mẹ đối với con khi ly hôn trong Luật HN&GĐ

năm 2014

3 Tính mới và đóng góp của đề tài

Dưới góc độ pháp lý, các nghiên cứu về nghĩa vụ và quyền của cha mẹ đối với con tương đối phong phú Tuy nhiên, kể từ khi Luật HN&GĐ năm 2014 có hiệu lực, với những thay đổi đáng kể trong việc ghi nhận quyền và nghĩa vụ của cha mẹ đối với con khi ly hôn, vẫn chưa có một nghiên cứu, đánh giá mới nào về vấn đề này

Chính vì thế, đề tài sẽ là một nghiên cứu mới, là cái nhìn tổng quan trên cơ

sở đánh giá Luật HN&GĐ Việt Nam năm 2014 và các văn bản hướng dẫn thi hành

về vấn đề hiệu lực của ly hôn đối với con Theo đó, luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo mang tính mới, kịp thời cho các cá nhân, cơ quan trong việc tìm hiểu, nghiên cứu xây dựng và thực hiện pháp luật có liên quan đến HN&GĐ Vì vậy việc nghiên cứu các quy định của pháp luật HN&GĐ hiện hành về vấn đề này là cần thiết

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: Hiệu lực của ly hôn đối với con theo Luật HN&GĐ năm 2014

Phạm vi nghiên cứu: Quyền của cha mẹ đối với con khi ly hôn, nghĩa vụ của cha mẹ đối với con khi ly hôn, thực tiễn áp dụng pháp luật HN&GĐ về bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của con khi cha mẹ ly hôn trong hoạt động xét xử của Tòa án Quy định về vấn đề này của một số nước trên thế giới Thực trạng áp dụng

ở Việt Nam và một số đề xuất hoàn thiện các quy định này

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

- Cơ sở lý luận:

Luận văn được dựa trên lý luận của chủ nghĩa Mác - Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh và những quan điểm của Đảng, Nhà nước; những lý luận về pháp luật

Trang 10

HN&GĐ, pháp luật về bình đẳng giới, pháp luật về bảo vệ, chăm sóc, giáo dục trẻ

em để làm sáng tỏ vấn đề cần nghiên cứu

- Phương pháp nghiên cứu: Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu như: phương pháp duy vật biện chứng, phương pháp duy vật lịch sử, phương pháp phân tích tổng hợp, so sánh, logic học và xã hội học…để làm rõ nội dung các vấn đề nghiên cứu của đề tài nhằm đảm bảo tính khoa học

6 Tổng quan tài liệu

- Các quy định về quyền và nghĩa vụ của cha mẹ đối với con khi ly hôn của Luật HN&GĐ Việt Nam qua các thời kỳ và trong Luật HN&GĐ năm 2014

- Các quy định về quyền và nghĩa vụ của cha mẹ đối với con khi ly hôn theo pháp luật một số nước trên thế giới

- Các tài liệu về quyền và nghĩa vụ của cha mẹ đối với con nói chung và khi ly hôn nói riêng của các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước

- Một số học thuyết pháp lý về hôn nhân

7 Kết cấu của Luận văn

Ngoài phần mở đầu, phần kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 03 chương:

Chương 1: Những vấn đề lý luận về hiệu lực của ly hôn đối với con

Chương 2: Nội dung hiệu lực của ly hôn đối với con theo Luật HN&GĐ Việt Nam năm 2014

Chương 3: Thực tiễn áp dụng pháp luật HN&GĐ về bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của con khi cha mẹ ly hôn trong hoạt động xét xử của Tòa án

Trang 11

CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN

VỀ HIỆU LỰC CỦA LY HÔN ĐỐI VỚI CON 1.1 Khái niệm, đối tượng, nội dung, đặc điểm hiệu lực của ly hôn đối với con 1.1.1 Khái niệm hiệu lực của ly hôn đối với con

- Khái niệm ly hôn: Hôn nhân được thiết lập trên cơ sở tự do, tự nguyện

Tuy nhiên, trong quá trình chung sống, vì những nguyên nhân nhất định những mâu thuẫn giữa vợ chồng trở nên sâu sắc kéo dài không thể giải quyết được thì vấn đề ly hôn được đặt ra

Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lê nin, ly hôn là một mặt của quan hệ hôn nhân, nó là mặt trái, mặt bất thường của nhưng là một mặt không thể thiếu được của quan hệ hôn nhân khi quan hệ hôn nhân không tiếp tục tồn tại được

Bản chất của ly hôn “Chỉ là việc xác nhận một sự kiện: Cuộc hôn nhân này

là một cuộc hôn nhân đã chết, sự tồn tại của nó chỉ là bề ngoài và giả dối” [39,

tr.119] và “Tự do ly hôn tuyệt đối không có nghĩa là làm tan rã những mối liên hệ

gia đình mà ngược lại, nó củng cố những mối liên hệ đó trên những cơ sở dân chủ, những cơ sở duy nhất có thể có và vững chắc trong một xã hội văn minh” [39,

tr.335] Nam nữ tự do kết hôn và tự do ly hôn là nội dung quan trọng của nguyên tắc hôn nhân tự nguyện, tiến bộ đã được ghi nhận tại Điều 36 Hiến pháp năm 2013

và đã được cụ thể hóa tại mục 1 chương IV từ Điều 51 đến Điều 64 của Luật HN&GĐ năm 2014 Tuy nhiên tự do ly hôn không phải là ly hôn một cách tùy tiện

mà phải dựa vào những căn cứ luật pháp

Đứng trên quan điểm tiến bộ của chủ nghĩa Mác - Lê nin, Khoản 14 Điều

3Luật HN&GĐ Việt Nam năm 2014 quy định: “Ly hôn là việc chấm dứt quan hệ vợ

chồng theo bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án”

Việc ly hôn của hai vợ chồng có thể do vợ hoặc chồng hoặc cả hai vợ chồng yêu cầu Tòa án giải quyết Để ra quyết định hoặc bản án ly hôn theo yêu cầu của vợ,

chồng,Tòa án căn cứ vào quy định tại Điều 56: “…Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu

có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng

Trang 12

quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được.”

Trước đây, hệ thống văn bản pháp luật HN&GĐ quy định do ly hôn làm chấm dứt quan hệ vợ chồng, màquan hệ vợ chồng này là quan hệ nhân thân gắn liền với người vợ, người chồng nên hôn nhân tan vỡ thì quyền yêu cầu Tòa án cho ly hôn chỉ dành cho chính người vợ, chồng trong quan hệ hôn nhân đó Tuy nhiên Điều 51 Luật HN&GĐ năm 2014 đã mở rộng đối tượng được thực hiện quyền yêu

cầu ly hôn ngoài vợ chồng bao gồm: “Cha, mẹ, người thân thích khác có quyền yêu

cầu Tòa án giải quyết ly hôn khi một bên vợ, chồng do bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình, đồng thời là nạn nhân của bạo lực gia đình do chồng, vợ của họ gây ra làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, tinh thần của họ”

Như vậy, ly hôn là một sự kiện pháp lý làm chấm dứt quan vợ chồng khihôn nhân đã thực sự tan vỡ, quan hệ vợ chồng không thể tồn tại được nữa, doTòa án quyết định khi có yêu cầu của vợ, chồng hoặc của cả hai vợ chồng

- Khái niệm hiệu lực của ly hôn:

Hiệu lực của ly hôn là một vấn đề mà pháp luật quy định cần phải giải quyết khi có sự kiện pháp lý xảy ra về vấn đề ly hôn Trong phán quyết của Tòa án thể hiện trong bản án hoặc quyết định có những nội dung về quyền cũng như nghĩa vụ bắt buộc các bên vợ, chồng (cha, mẹ của con) và những người có quyền lợi và nghĩa

vụ liên quan (nếu có) phải thực hiện.Khi phán quyết ly hôn này có hiệu lực pháp luật thì những nội dung trong bản án, quyết định sẽ có tính chất ràng buộc giữa các bên, bắt buộc các bên thực hiện

Trong hầu hết các quyển Từ điển Tiếng Việt và Từ điển chuyên ngành Luật

ở Việt Nam hiện nay đều không có mục từ “hiệu lực của ly hôn” mà chỉ có các từ khác gần với nó như “hiệu lực của các văn bản pháp luật” hay “hiệu lực pháp luật

của di chúc” Theo các Từ điển này này thì hiệu lực pháp luật nói chung “là tính bắt buộc thi hành của văn bản…”, “là giá trị pháp lý của văn bản…, hoặc (giá trị)

áp dụng của văn bản đó,… thể hiện phạm vi tác động hoặc hoặc phạm vi điều chỉnh

Trang 13

của văn bản về thời gian, không gian và về đối tượng áp dụng”.Khái niệm “hiệu lực của ly hôn” cũng không được tìm thấy trong một số từ điển của nước ngoài

bằng tiếng Anh Tuy vậy, trong quyển Từ điển Bách khoa pháp luật Hoa Kỳ có đưa

ra định nghĩa về “hiệu lực” (valid): “Hiệu lực là sự ràng buộc; sự cưỡng chế pháp

lý….”[45, tr.203]

Như vậy, trên phương diện giải thích thuật ngữ có thể thấy ở khái niệm “hiệu

lực” có một dấu hiệu đặc trưng cơ bản đó là giá trị ràng buộc các bên phải thi hành nghiêm túc Đồng thời, như đã phân tích ở trên đối với khái niệm “ly hôn” - đó

làmột sự kiện pháp lý làm chấm dứt quan vợ chồng do Tòa án quyết định bằng một

phán quyết Theo đó, chúng ta thấy khái niệm “hiệu lực của ly hôn” có hai dấu hiệu

thể hiện bản chất của nó, đó là: (i) giá trị pháp lý của phán quyết ly hôn của Tòa án thông qua bản án hoặc quyết định giống như pháp luật; và (ii) hiệu lực ràng buộc mang tính cưỡng chế nhằm buộc các bên phải tôn trọng quyền và thực thi đầy đủ

nghĩa vụ được thể hiện trong phán quyết đó Giá trị pháp lý và hiệu lực ràng buộc

các bên phải tôn trọng và thực hiện đúng là hai mặt không thể thiếu đối với hiệu lực

của ly hôn Trên cơ sở nhận thức bản chất của “hiệu lực của ly hôn”, tác giả xin đưa

ra khái niệm “hiệu lực của ly hôn” như sau:

Hiệu lực của ly hôn là giá trị pháp lý bản án hoặc quyết định cho ly hôn của Tòa án làm phát sinh các quyền và nghĩa vụ của các bên (bao gồm vợ, chồng và những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan), và giá trị pháp lý ràng buộc các bên phải tôn trọng và phải thi hành nghiêm túc các quyền và nghĩa vụ đó

Việc nhận thức đúng khái niệm “hiệu lực của ly hôn” là cơ sở để tiếp cận

các vấn đề khác có liên quan đến việc nghiên cứu quá trình tạo lập, xác nhận giá trị pháp lý và thực thi phán quyết của Tòa án Khái niệm này cũng thể hiện rõ các yếu

tố quan trọng mang tính bản chất hiệu lực của ly hôn, đó là căn cứ làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt các quyền và nghĩa vụ giữa các bên; đồng thời tạo ra sự ràng buộc pháp lý nhằm bắt buộc và bên tôn trọng và nghiêm túc thực hiện các quyền và nghĩa vụ đó

Trang 14

Thời điểm có hiệu lực của việc ly hôn là thời điểm có hiệu lực của bản án hoặc quyết định chấp thuận ly hôn của Tòa án Bản án hoặc quyết định chấp thuận

ly hôn có tác dụng thiết lập một tình trạng pháp lý mới không tồn tại trước đó cũng như thiết lập các quyền mới của bên này hoặc bên kia Tình trạng và các quyền đó phải được tôn trọng không chỉ bởi vợ và chồng trước đây mà cả bởi người thứ ba

Việc Tòa án nhân dân xét xử cho ly hôn do một bên yêu cầu hoặc công nhận thuận tình ly hôn sẽ dẫn đến những hậu quả pháp lý nhất định cho vợ chồng về nhân thân, tài sản và con Đối với hệ quả nhân thân, quan hệ vợ chồng chấm dứt khi bản

án hoặc quyết định ly hôn có hiệu lực pháp luật.Vợ và chồng có quyền kết hôn với người khác Đối với hệ quả tài sản, khi ly hôn, các quan hệ tài sản của vợ chồng cũng chấm dứt Khối tài sản chung hình thành trong thời kỳ hôn nhân được chia theo yêu cầu của vợ, chồng Nếu chưa tiến hành phân chia thì khối tài sản ấy thuộc

sở hữu chung theo phần của vợ và chồng và chịu sự chi phối của các quy định thuộc luật chung về sở hữu chung theo phần: việc quản lý tài sản chung được thực hiện theo nguyên tắc thỏa thuận; chủ sở hữu chung có quyền yêu cầu chia tài sản chung

mà không cần viện dẫn lý do như trước đây, khi chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân Đối với hệ quả về con, việc ly hôn của vợ chồng không làm ảnh hưởng đến quyền và nghĩa vụ của cha mẹ đối với con mà vẫn tiếp tục được duy trì

- Khái niệm hiệu lực của ly hôn đối với con:

Quan hệ pháp luật giữa cha mẹ và con được hình thành dựa trên sự kiện sinh

đẻ hoặc sự kiện nuôi con nuôi được nhà nước công nhận làm phát sinh các quyền và nghĩa vụ của cha mẹ và con theo quy định của pháp luật Quyền và nghĩa vụ giữa cha mẹ và con không phụ thuộc vào quan hệ hôn nhân hợp pháp hay không hợp pháp còn tồn tại hay chấm dứt của cha mẹ Trong mọi trường hợp quyền và nghĩa

vụ không thay đổi vì yếu tố hôn nhân nhưng phương thức thực hiện có thể khác nhau sao cho phù hợp với từng hoàn cảnh cụ thể giữa cha mẹ và con

Quyền và nghĩa vụ giữa cha mẹ và con có thể được xem xét từ hai góc độ:

Trang 15

Dưới góc độ quyền con người: Quyền và nghĩa vụ giữa cha mẹ và con là quyền tự nhiên của con người, thể hiện tình cảm trong mối quan hệ huyết thống và mối quan hệ nuôi dưỡng giữa thế hệ cha mẹ và thế hệ con, là tất cả những việc mà cha mẹ và con có thể làm được cho nhau để cùng nhau tồn tại và phát triển, thỏa mãn những nhu cầu tình cảm và vật chất của hai bên đối với nhau trong đời sống

Dưới góc độ pháp lý: Khi vợ chồng ly hôn, quan hệ hôn nhân chấm dứt, tuy nhiên quan hệ huyết thống và quan hệ nuôi dưỡng giữa cha mẹ và con vẫn không thay đổi Vì vậy, trên phương diện pháp lý, các quyền và nghĩa vụ của vợ chồng đối với nhau sẽ chấm dứt nhưng các quyền và nghĩa vụ của cha, mẹ đối với con vẫn tồn tại Để bảo đảm lợi ích cho con là người dưới thành niên và người thành niên bị tàn tật, mất năng lực hành vi, không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi sống mình, pháp luật quy định cha mẹ phải thực hiện quyền và nghĩa vụ đối với con sau ly hôn

Như vậy “hiệu lực của ly hôn đối với con” là giá trị pháp lý bản án hoặc

quyết định cho ly hôn của Tòa án làm phát sinh các quyền và nghĩa vụ của cha mẹ đối với con, và giá trị pháp lý ràng buộc các bên phải tôn trọng và phải thi hành nghiêm túc các quyền và nghĩa vụ đó

Bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của con khi cha mẹ ly hôn là hệ thống các biện pháp, cơ chế, cách thức được pháp luật quy định nhằm đảm bảo thực hiện các quyền và lợi ích hợp pháp của con trên thực tế, đảm bảo cho các quyền cơ bản của con không bị xâm phạm, hạn chế hoặc bị ảnh hưởng xấu do việc ly hôn của cha mẹ gây ra, cũng như đảm bảo việc xử lý nghiêm khắc, kịp thời mọi hành vi xâm phạm

quyền và lợi ích hợp pháp của con

- Khái niệm con đẻ, con nuôi:

Theo từ điển Luật học, xác định con chung là “con sinh ra trong thời kì hôn nhân hoặc do người vợ có thai trong thời kì hôn nhân Con sinh ra trước ngày đăng

ký kết hôn và được cha mẹ thừa nhận cũng là con chung của vợ chồng Trong trường hợp cha hoặc mẹ không thừa nhận, nhưng có chứng cứ để Tòa án căn cứ ra quyết định xác định là con của hai người thì cũng là con chung của vợ chồng Con

Trang 16

sinh ra mà cha mẹ không có đăng ký kết hôn, không sống chung với nhau như vợ chồng, trên thực tế thì vẫn là con chung của hai người và thường được gọi là con ngoài giá thú Con nuôi do vợ chồng cùng nhận nuôi cũng là con chung của vợ

chồng…”

Đối với con đẻ, quan hệ giữa cha mẹ và con đẻ được xác định dựa vào hai yếu tố: sinh học và xã hội học Về yếu tố sinh học là sự thành thai và sinh sản Về yếu tố xã hội học dựa trên danh xưng, thái độ và dư luận Con của một người mang

họ của người đó Thông thường, con sinh ra từ quan hệ hôn nhân mang họ cha Con sinh ra từ quan hệ chung sống như vợ chồng cũng thường mang họ cha, trừ trường hợp những người chung sống như vợ chồng chấp nhận phong tục của cộng đồng dân tộc ít người mà họ có xuất xứ, theo đó, con sinh ra phải mang họ mẹ Con của một người phụ nữ độc thân thường mang họ của chính người phụ nữ đó Ngoài danh xưng ra, các đương sự phải cư xử với nhau như cha-con, mẹ-con Việc cha, mẹ

cư xử với tư cách đó trong quan hệ với con thể thiện một cách chung nhất qua việc cha mẹ trông nom, chăm sóc, giáo dục, gây dựng tương lai của con Việc con cư xử với tư cách đó trong quan hệ với cha mẹ thể hiện một cách chung nhất qua việc con

tỏ ra kính trọng, chăm sóc, nuôi dưỡng, tuân theo lời khuyên của cha mẹ Cuối cùng, quan hệ cha mẹ-con chỉ có giá trị nếu quan hệ đó được thừa nhận bởi gia đình

và xã hội, bởi bất kỳ người thứ ba nào cũng như bởi quyền lực công cộng: ông bà gọi cha mẹ đến để góp ý về cách giáo dục con; nhà trường gọi cha mẹ đến để họp bàn về việc học của con; Tòa án gọi cha mẹ đến để tham gia vào vụ án hủy hoại tài sản của người khác mà con chưa thành niên là thủ phạm…Trong tất cả những trường hợp đó, người thứ ba cũng như quyền lực công cộng thừa nhận quan hệ cha mẹ-con chỉ trên cơ sở ghi nhận sự hội tụ của những yếu tố xã hội đặc trưng của quan hệ ấy.[25]

Còn khái niệm con nuôi được xuất phát từ sự kiện nhận nuôi con nuôi Nuôi con nuôi là hình thức nuôi con nuôi làm hình thành quan hệ cha mẹ và con giữa người nhận nuôi và người được nhận làm con nuôi Việc nhận nuôi thoả mãn đầy đủ các điều kiện của việc nuôi con nuôi, không trái với mục đích của việc nuôi con

Trang 17

nuôi và đạo đức xã hội Người con nuôi cùng sống trong gia đình cha mẹ nuôi Giữa người nhận nuôi và người được nhận nuôi có mong muốn thiết lập quan hệ cha mẹ

và con, đối xử với nhau trong tình cảm cha mẹ và con, đồng thời thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của cha mẹ và con đối với nhau để xây dựng một gia đình thật sự Quan hệ nuôi con nuôi thực tế phải có đầy đủ các dấu hiệu sau: Một là, giữa người nhận nuôi và con nuôi có mong muốn thiết lập quan hệ cha mẹ và con, đã thật sự coi nhau như cha mẹ và con, đối xử với nhau trong tình cảm cha mẹ và con Hai là, người nhận nuôi và con nuôi đáp ứng đầy đủ các điều kiện theo quy định của pháp luật, như điều kiện về tuổi, tư cách đạo đức, điều kiện chăm sóc, nuôi dưỡng…Ba là, các bên đã cùng chung sống với nhau, gắn bó, cư xử với nhau trong tình cảm cha mẹ và con, thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của cha mẹ và con đối với nhau Quan hệ giữa cha mẹ và con giữa hai bên được họ hàng và mọi người xung quanh thừa nhận Việc nuôi con nuôi là đúng mục đích, không trái pháp luật

và đạo đức xã hội

Khi được công nhận là quan hệ nuôi con nuôi thực tế thì giữa người nhận nuôi và con nuôi có đầy đủ các quyền và nghĩa vụ pháp lý của quan hệ cha mẹ và con

Bên cạnh trường hợp con nuôi và con đẻ, Luật HN&GĐ năm 2014 có quy định mới về việc xác định cha mẹ con trong trường hợp mang thai hộ Hiện nay, tình trạng vợ chồng hiếm muộn hoặc không muốn trực tiếp sinh con ngày càng nhiều dẫn đến nhu cầu mang thai hộ, đẻ thuê cũng trở nên phổ biến Luật HN&GĐ năm 2000 chưa có một quy định nào về vấn đề mang thai hộ tuy nhiên Nghị định số 12/2003/NĐ-CP về sinh con theo phương pháp khoa học đã nghiêm cấm hành vi mang thai hộ này Theo quan niệm của người Việt, con đẻ phải do người mẹ trực tiếp mang thai và sinh ra Dù mang thai hộ thì giữa người mẹ và đứa trẻ được sinh

ra có sự gắn kết tự nhiên, không dễ dàng giao con cho người nhờ mang thai hộ Tuy nhiên, nếu nhìn nhận theo khía cạnh khác, việc mang thai hộ không trái đạo đức, đạo lý khingười vợ không thể mang thai, người chồng không có quan hệ tình dục trực tiếp với người mang thai hộ, và đứa trẻ được hình thành từ trứng của người vợ,

Trang 18

tinh trùng của người chồng Trong trường hợp này, dù người vợ không trực tiếp mang thai thì đứa trẻ vẫn là máu mủ của họ Chính vì vậy, Luật HN&GĐ năm 2014

đã có quy định công nhận việc mang thai hộ vì mục đích nhân đạo và việc xác định

cha mẹ cho con trong trường hợp này tại Điều 94: “Con sinh ra trong trường hợp

mang thai hộ vì mục đích nhân đạo là con chung của vợ chồng nhờ mang thai hộ kể

từ thời điểm con được sinh ra” Có thể nói đây là quy định mới hoàn toàn phù hợp

với khoa học cũng như thỏa thuận của các bên trong việc nhờ mang thai hộ vì mu ̣c đích nhân đa ̣o Khi đó, quan hê ̣ cha me ̣ và con của người mang thai hô ̣ sẽ chấm dứt

Việc công nhân trường hợp mang thai hộ là một điểm mới của Luật HN&GĐ năm 2014, đồng thời thay đổi khái niệm về con đẻ Theo quan niệm truyền thống, con đẻ phải là con được sinh ra từ sự kết hợp của cha và mẹ, do người mẹ sinh trực tiếp sinh ra từ bào thai Tuy nhiên, trong trường hợp người mẹ không thể trực tiếp mang thai thì có thể nhờ người mang thai hộ Đứa trẻ do người mang thai hộ được xác định là con đẻ của vợ - chồng nhờ mang thai hộ khi sự thụ tinh là kết quả của sự phối hợp giữa các yếu tố vật chất của vợ - chồng đó, người mang thai hộ chỉ đóng vai trò là người hỗ trợ cần thiết cho sự ra đời của đứa trẻ đó Nếu vợ hoặc chồng không cung cấp được yếu tố vật chất của chính mình cho việc thụ tinh, thì lai lịch của người cung cấp yếu tố bổ khuyết không được công bố cho vợ và chồng biết, cũng như bản thân người cung cấp yếu tố bổ khuyết không biết lai lịch của vợ và chồng muốn có con bằng con đường thụ tinh nhân tạo Con được sinh ra coi như có cha và mẹ ruột là người chồng và người vợ đó

1.1.2 Đối tƣợng là con đƣợc pháp luật bảo vệ sau khi vợ chồng ly hôn

Theo quy định của pháp luật HN&GĐ thì đối tượng con mà cha mẹ có nghĩa

vụ nuôi dưỡng và được pháp luật bảo vệ quyền lợi khi cha mẹ ly hôn bao gồm: phải

là con chung chưa thành niên, con đã thành niên bị tàn tật, mất năng lực hành vi dân

sự, không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình

- Con chưa thành niên: Người chưa thành niên là những người chưa hoàn

toàn phát triển đầy đủ về nhân cách, chưa có năng lực hành vi dân sự đầy đủ Ở Việt Nam, độ tuổi người chưa thành niên được xác định trong BLDSnăm 2005 và một số

Trang 19

văn bản quy phạm pháp luật khác Căn cứ vào Hiến pháp năm 2013 (Điều 27) và BLDS năm 2005 (Điều 18) thì người dưới 18 tuổi là người chưa thành niên Người chưa thành niên là những đối tượng còn phải sống phụ thuộc vào gia đình, dễ bị ảnh hưởng mạnh từ môi trường xung quanh Độ tuổi này đang có sự non nớt về thể chất

và nhận thức nên luôn cần được xã hội và pháp luật quan tâm chăm sóc nhiều hơn

so với người thành niên, đồng thời cần nhận được sự chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đầy đủ từ cha mẹ Người chưa thành niên có cha mẹ ly hôn cóquyền được hưởng những quyền mà mọi trẻ em được hưởng như học tập, vuichơi, sự quan tâm, chăm sóc…Người chưathành niên chưa có đủ năng lực hành vi dân sự nên cần có người đại diện đểthực hiện các giao dịch dân sự hoặc tham gia vào các quan hệ pháp luật khác

- Con đã thành niên bị tàn tật, mất năng lực hành vi dân sự, không cókhả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình Đây là những người đã thành niên nhưng họ lại bị khiếm khuyết vềthể chất hoặc nhận thức nên không có khả năng lao động Những người này không thể tự chăm sóc mình nên pháp luật vẫn quy địnhcha mẹ có nghĩa vụ chăm sóc, nuôi dưỡng con và đây là nghĩa vụ bắt buộc.Quy định này thể hiện tính nhân văn sâu sắc, tính nhân đạo của pháp luật bởivì, nếu chỉ dựa vào sự tự nguyện, trách nhiệm của cha mẹ thì quyền lợi củanhững người con sau ly hôn không phải lúc nào cũng được đảm bảo

Việc quy định quyền và nghĩa vụ của cha mẹ đối với con đã thành niên bị tàn tật, không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình trong hệ thống pháp luật HN&GĐ nhằm nâng cao trách nhiệm của những người làm cha mẹ Trước

đây, Pháp lệnh Người tàn tật năm 1998 quy định người tàn tật làngười "…bị khiếm

khuyết một hay nhiều bộ phận cơ thể hoặc chức năng biểuhiện dưới những dạng tật khác nhau, làm suy giảm khả năng hoạt động, khiếncho lao động, sinh hoạt, học tập gặp nhiều khó khăn" Hiện nay khái niệmngười tàn tật được thay bằng khái niệm

người khuyết tật theo Luật Ngườikhuyết tật năm 2009, theo đó, "người khuyết tật là

người bị khiếm khuyết mộthoặc nhiều bộ phận cơ thể hoặc bị suy giảm chức năng được biểu hiện dưới dạngtật khiến cho lao động, sinh hoạt, học tập gặp khó khăn"

Trang 20

Nhưng không phảimọi người con đã thành niên bị tàn tật cha mẹ đều phải có nghĩa

vụ chăm sóc, nuôi dưỡng mà chỉ những người không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôimình Còn những người đã đủ 18 tuổi, bị tàn tật nhưng vẫn lao độngđược thì họ có trách nhiệm với bản thân mình, có khả năng nuôi sông bản thân Vì vậy đối với trường hợp con đã thành niên, bị tàn tật nhưng vẫn có khả năng lao lộng, pháp luật không quy định nghĩa vụ chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục của cha mẹ Việc cha mẹ tự nguyện hỗ trợ, giúp đỡ, chăm sóccon thành niên bị tàn tật và có khả năng lao động xuất phát từ tình yêu thương, sự quan tâm của cha mẹ

mà không phải từ nghĩa vụ luật định

Người mất năng lực hành vi dân sự theo quy định của BLDS là người do bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức,làm chủ được hành vi của mình và có quyết định của Toà án tuyên bố ngườiđó mất năng lực hành vi dân

sự Vì vậy, BLDS năm 2005 cũng quy định: "Giao dịchdân sự của người mất năng

lực hành vì dân sự phải do người đại diện theopháp luật xác lập, thực hiện" Người

mất năng lực hành vi dân sự không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình.Vì vậy họkhông có khả năng lao động tạo ra của cải nuôi sống bản thân và không tự thực hiện các giao dịch dân sự để phục vụ cuộc sống hàng ngày của mình Dođó họ cần có người trông nom, chăm sóc và đại diện trước pháp luật để bảo

vệquyền và lợi ích hợp pháp cho mình

1.1.3 Nội dung hiệu lực của ly hôn đối với con

Theo Khoản 1Điều 81 Luật HN&GĐ năm 2014, sau khi ly hôn, vợ, chồng vẫn có nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con chưa thành niên hoặc đã thành niên bị tàn tật, mất năng lực hành vi dân sự, không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình Các nghĩa vụ đồng thời cũng là quyền của cha mẹ đối với con đã có từ khi con sinh ra và không thể bị ảnh hưởng bởi việc

ly hôn của cha, mẹ Thực ra, tất cả các quyền và nghĩa vụ của cha mẹ và con đều được duy trì sau khi ly hôn: các quyền và nghĩa vụ ấy được xác lập trên cơ sở quan

hệ cha mẹ-con chứ không phải quan hệ hôn nhân của cha và mẹ Bởi vậy, điều buộc các đương sự về việc tiếp tục thực hiện các quyền và nghĩa vụ của cha mẹ đối với

Trang 21

con, chứ không phải nhằm mục đích giới hạn nội dung của các quyền và nghĩa vụ

ấy sau khi cha và mẹ ly hôn.Do những quyền và nghĩa vụ này khôngđơn thuần phát sinh từ quan hệ ruột thịt, quan hệ nuôi dưỡng mà là nghĩa vụ pháp định, vì vậy ràng buộc người cha, người mẹ có sự tự giác trong các nghĩa vụ đối với con Nếu người cha, người mẹ không thực hiện đúng các nghĩa vụ đó thì pháp luật sẽ có những chế tài, biện pháp buộc người cha, người mẹ đó phải thực hiện nghĩa vụ pháp định

Các nguyên tắc phải tuân thủ khi thực hiện quyền và nghĩa vụ của cha mẹ đối với con:

- Nguyên tắc bình đẳng giữa vợ và chồng: Khi ly hôn, người cha, người mẹ đều có cơ hội ngang nhau trong việc được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc con Theo

đó, vợ chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, quyền và nghĩa của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con, nếu không thỏa thuận được thì mới cần đến sự can thiệp

từ Tòa án Ngoài ra vợ chồng còn bình đẳng trong quyền thăm nom con sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom con, không ai được cản trở người đó thực hiện quyền thăm nom con của mình và bình đẳng trong quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn Sau khi ly hôn, nếu phát hiện người cha (hoặc người mẹ) đang trực tiếp nuôi con không bảo đảm quyền lợi về mọi mặt của con thì người kia có quyền yêu cầu Tòa án quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con

- Nguyên tắc tôn trọng quyền của cha, mẹ Theo đó, quyền cha, mẹ là quyền tuyệt đối

Về quyền và nghĩa vụ nhân thân: Theo Luật định, vợ và chồng (với tư cách

là cha, mẹ của con) đều có quyền và nghĩa vụ bình đẳng trong việc thương yêu, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con Sau khi ly hôn, con chưa thành niên hoặc đã thành niên bị tàn tật, mất năng lực hành vi dân sự, không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình sẽ do bên nào trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục phải căn cứ vào điều kiện thực tế của vợ chồng và phải bảo đảm vì lợi ích mọi mặt của con Tòa án cần xem xét về tư cách đạo đức, hoàn cảnh công tác, điều kiện kinh tế, thời gian của vợ, chồng…để lựa chọn người đảm bảo tốt quyền trông

Trang 22

nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con Cũng có trường hợp cả cha, mẹ không ai

có đủ tư cách và điều kiện để trực tiếp nuôi con thì có thể giao con cho một người khác nuôi dưỡng Người đó có thể là ông, bà, cô, dì, chú, bác…hoặc anh, chị đã thành niên có đủ điều kiện đảm bảo cuộc sống của đứa trẻ, tất nhiên việc quyết định giao đứa trẻ cho ai nuôi phải xuất phát từ nguyên tắc bảo vệ quyền lợi về mọi mặt cho đứa trẻ đó, ngoài ra, không vì thế mà nghĩa vụ của cha mẹ đối với con có thể mất đi

Về quan hệ tài sản: Sau khi vợ chồng ly hôn, quan hệ tài sản thể hiện qua nghĩa vụ cấp dưỡng, nghĩa vụ bồi thường thiệt hại do con gây ra trong một số trường hợp pháp luật quy định

Như vậy hiệu lực của ly hôn đối với con là việc giải quyết mối quan hệ vợ chồng (với tư cách là cha, mẹ của con) trong vấn đề thực hiện các quyền và nghĩa

vụ của cha mẹ đối với con sau ly hôn Trong quan hệ này quy định những việc cha

mẹ được phép làm trong giới hạn quyền làm cha, làm mẹ của mình như: quyền được quản lý tài sản riêng của con chưa thành niên, quyền chăm sóc, nuôi dưỡng hay quyền thăm nom…đồng thời họ cũng phải thực hiện các nghĩa vụ nhất định như nghĩa vụ bồi thường thiệt hại do con chưa thành niên gây ra, nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con…Trong số các quyền và nghĩa vụ đó có những nội dung vừa là quyền cũng vừa là nghĩa vụ, nó thể hiện được quan hệ qua lại, tương hỗ của hai yếu tố này, đồng thời cũng phần nào phản ánh được tính chất riêng biệt và đặc thù của quan hệ pháp luật HN&GĐ - mặc dù là quan hệ pháp luật điều chỉnh nhưng vẫn mang trong

đó yếu tố đạo đứcvà truyền thống dân tộc

1.1.4 Đặc điểm hiệu lực của ly hôn đối với con

Thứ nhất, hiệu lực của ly hôn đối với con xuất phát từ quan hệ pháp luật

giữa cha mẹ và con dựa trên sự kiện pháp lý nhất định: Sự kiện sinh đẻ và sự kiện nhận nuôi con nuôi Chính vì vậy, quan hệ pháp luật giữa cha mẹ và con sẽ không

bị chấm dứt khi cha mẹ ly hôn Việc vợ chồng ly hôn chỉ làm chấm dứt quan hệ vợ chồng, quan hệ tài sản chứ không làm chấm dứt quan hệ giữa cha mẹ - con Sự kiện

Trang 23

ly hôn chỉ làm thay đổi phương thức thực hiện các quyền và nghĩa vụ của cha mẹ đối với con

Thứ hai, hiệu lực của ly hôn đối với con bao gồm các quyền và nghĩa vụ của

cha mẹ đối với con được pháp luật quy định mang tính chất bắt buộc cha mẹ phải thực hiện sau ly hôn Để bảo vệ quyền lợi cho con chưa thành niên và con đã thành niên bị tàn tật, mất năng lực hành vi dân sự, không có khả năng lao động và không

có tài sản để tự nuôi mình, pháp luật đã quy định các quyền và nghĩa vụ của cha mẹ đối với con nhằm ràng buộc ý thức trách nhiệm của người làm cha, mẹ, đặc biệt là khi họ đã ly hôn

Thứ ba, quyền và nghĩa vụ nhân thân trong Luật HN&GĐ không xuất phát

từ tài sản, còn quyền, nghĩa vụ tài sản không mang tính chất đền bù ngang giá và gắn liền với nhân thân củavợ và chồng, không được chuyển giao Quyền và nghĩa

vụ giữa cha mẹ với con không thể thỏa thuận thay đổi được, nó gắn liền với quan hệ giữa cha mẹ và con trong một thời gian dài, thậm chí đến suốt cả cuộc đời Quyền

và nghĩa vụ này phần lớn được thực hiện một cách tự giác, thể hiện tình cảm thiêng liêng giữa cha mẹ và con Điều này phù hợp quy luật tự nhiên và chuẩn mực đạo đức, xã hội

Khi thực hiện nghĩa vụ của mình, cha mẹ không được phân biệt đối xửgiữa những người con bình thường và những người con tàn tật, mất năng lựchành vi dân

sự Người trực tiếp nuôi con không được dành sự quan tâm, yêuthương của mình cho một người con và bỏ bê người con khácmà phải dựavào nhu cầu chăm sóc, nhu cầu tình cảm của mỗi đứa con để chúng khôngcảm thấy bị thiệt thòi Còn người không trực tiếp nuôi con cấp dưỡng cho conở mức độ nào là căn cứ vào nhu cầu chữa bệnh, học tập của con, để có mứccấp dưỡng cho phù hợp, đảm bảo được

quyền và lợi ích của con

Thứ tư, khi cha mẹ ly hôn, con chỉ được một bên cha hoặc mẹ trựctiếp nuôi

dưỡng, chăm sóc và giáo dục.Khi Tòa án giải quyết cho vợ chồng ly hôn là lúc mà tình trạng mâuthuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được Ly hôn làm chấm dứt đời sống chung của vợ chồng Khi

Trang 24

chamẹ không sống cùng nhau nữa, con chung của họ chỉ được một bên cha, mẹ làngười trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục Việc giáo dục con giao cho aitrực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục được đặt ra và là vấn đề có ý nghĩa quan trọng đối với

con

Thứ năm, việc thực hiện nghĩa vụ nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục củangười

không trực tiếp nuôi dưỡng con là không thường xuyên, không liên tục.Việc cha mẹ

ly hôn sẽ dẫn đến hệ quả là con chỉ được sống với mộtbên vợ hoặc chồng là người trực tiếp nuôi con Mặc dù pháp luật quy định những nghĩavụcủa cha mẹ đối với con nhưng việc thực hiện các nghĩa vụ đó đến đâu hoàntoàn phụ thuộc vào cha mẹ Mặc dù pháp luật đề ra những chế tài để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp củacon trong trường hợp cha mẹ vi phạm nhưngtrên thực tế số vụ việc xửlý đối với trường hợp cha mẹ vi phạm quyền của con còn quáít Các cơ quan chức năng cũng chưa giám sát, can thiệp kịp thời để bảo vệ cho những người con sau khi cha mẹ họ ly hôn.Bởi thể, việcthựchiện quyền và nghĩa vụ của cha mẹ đối với con sau ly hôn chủ yếu phụ thuộc vào sự tự nguyện, tự giác của cha mẹ

1.2.Căn cứ phát sinh hiệu lực của ly hôn đối với con

- Quan hệ giữa cha mẹ và con là quan hệ đặc biệt quan trọng trong mọi chế

độ xã hội Cha mẹ là người có trách nhiệm đầu tiên trong việc nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con Vì vậy, việc điều chỉnh quan hệ giữa cha mẹ và con bằng pháp luật không những đảm bảo các quyền của cả cha mẹ và con mà còn vì sự phát triển của thế hệ trẻ, vì tương lai của đất nước

Trang 25

Việc quy định quyền và nghĩa vụ giữa cha mẹ và con phải phù hợp đạo đức

xã hội, phải đảm bảo hài hòa quyền và nghĩa vụ giữa các thành viên trong gia đình cũng như trong xã hội, phù hợp với lợi ích của nhà nước trong việc bảo vệ và xây dựng gia đình

- Những truyền thống đạo đức tốt đẹp về quan hệ giữa cha mẹ và con cần được gìn giữ và phát huy và đưa vào các văn bản quy phạm pháp luật như việc: con

có nghĩa vụ yêu thương kính trọng ông bà, cha mẹ; cha mẹ có nghĩa vụ yêu thương, chăm sóc giáo dục con.[27]

1.2.2 Cơ sở pháp lý

Bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của con khi cha mẹ ly hôn có nội dung xuất phát từ quyền con người hay cụ thể hơn là quyền cơ bản của trẻ em được cộng

đồng quốc tế ghi nhận trong các văn bản pháp luật quốc tế và của từng quốc gia

Văn bản pháp lý quốc tế đầu tiên đề cập đến vấn đề bảo vệ “quyền trẻ em” làTuyên bố Giơnevơ về quyền trẻ em được Hội Quốc liên thông qua năm 1924 Trải qua quá trình phát triển của lịch sử quốc tế, năm 1989, bằng sự vận động tích cực của một số quốc gia, Liên Hợp quốc đã thông qua Công ước về quyền trẻ em (CRC) Lần đầu tiên trong lịch sử loài người, một văn bản quốc tế đề cập toàn diện

về quyền trẻ em theo hướng tiến bộ, bình đẳng, toàn diện và mang tính pháp lý cao, làm cơ sở cho việc thúc đẩy chăm sóc và bảo vệ các quyền trẻ em trên thực tế.[35]CRC đề cập đến việc bảo vệ quyền của trẻ em vànhững nhóm trẻ có hoàn cảnh đặc biệt (gồm: trẻ em tàn tật, lang thang cơ nhỡ, bị ảnh hưởng của xung đột vũ

trang ) Điều 1 Công ước quy định: "Trẻ em có nghĩa là người dưới 18 tuổi, trừ

trường hợp luật pháp áp dụng với trẻ em đó quy định tuổi thành niên sớm hơn"

Như vậy theo quy định của Công ước, trẻ em là người chưa thành niên Công ước

đã đưa ra những nguyên tắc bảo vệ trẻ em như "đảm bảo cho trẻ em được bảo vệ

khỏi mọi hình thức phân biệt đối xử" (Điều 22) hay "trong mọi hoạt động đối với trẻ

em, dù của cơ quan phúc lợi xã hội của nhà nước hay của tư nhân, Tòa án, nhà chức trách hành chính hay cơ quan lập pháp, những lợi ích tốt nhấtcủa trẻ em phải

là mối quan tâm hàng đầu“ Tại Khoản 1 Điều 7 Công ước, bên cạnh việc công

Trang 26

nhận trẻ em sinh ra có quyền khai sinh, có họ tên, có quốc tịch, còn công nhận trong chừng mực có thể trẻ em có quyền được biết cha mẹ mình và được cha mẹ mình chăm sóc Cũng theo Công ước, trẻ em không bị buộc cách ly cha mẹ trừ trường hợp luật định và vì lợi ích của chính đứa trẻ, nếu phải cách ly thì sự cách ly đó phải

do nhà chức trách có thẩm quyền quyết định Công ước cũng quy định, quyền của trẻ em bị buộc phải cách ly khỏi cha, mẹ vẫn được duy trì quan hệ riêng tư và được tiếp xúc trực tiếp với cha mẹ Điều 12 Công ước còn ghi nhận quyền của trẻ em được tự do thể hiện quan điểm về các vấn đề có liên quan đến trẻ em

Ngay sau khi được thông qua, ngày 20/02/1990, Việt Nam chính thức phê chuẩn Công ước này

Ngoài Công ước Liên hợp Quốc về quyền trẻ em còn có Công ước Lahay số

33 ngày 29/5/1993 về bảo vệ trẻ em và hợp tác trong lĩnh vực nuôi con nuôi quốc

tế Ngày 18/7/2011, Chủ tịch nước đã ký Quyết định số 1103/2011/QĐ-CTN về việc phê chuẩn Công ước Lahay số 33

Những nội dung, tinh thần cơ bản của các Công ước quốc tế về quyền trẻ em

đã được nội luật hóa trong pháp luật Việt Nam một cách chi tiết và cụ thể từ Hiến pháp đến các văn bản pháp luật chuyên ngành Hiến pháp năm 1992 của nước Cộng

hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam quy định: "Cha mẹ có nghĩa vụ nuôi dạy con thành

người công dân tốt" (Điều 64) và “Trẻ em được gia đình, Nhà nước và xã hội bảo

vệ, chăm sóc và giáo dục” (Điều 65) Tại Điều 41 BLDS năm 2005 có quy định:

"Các thành viên trong gia đình có quyền được hưởng sự chăm sóc, giúp đỡ nhau

phù hợp với truyền thống đạo đức tốt đẹp của gia đình Việt Nam Con, cháu chưa thành niên được hưởng sự chăm sóc, nuôi dưỡng của cha mẹ, ông bà"

Trên cơ sở Công ước Liên hợp Quốc về quyền trẻ em, Hiến pháp 1992 được sửa đổi, bổ sung năm 2001 và BLDSnăm 2005, quyền trẻ em được quy định và bảo

vệ một cách chi tiết và cụ thể tại Luật BVCS&GDTE năm 2004 và Luật HN&GĐ năm 2000 Luật BVCS&GDTE năm 2004 quy định trẻ em (công dânViệt Nam dưới

16 tuổi) có quyền được chăm sóc, nuôi dưỡng, quyền được sống chung với cha mẹ, quyền được tôn trọng; bảo vệ tính mạng,thân thể, nhân phẩm và danh dự, quyền

Trang 27

được chăm sóc sức khỏe, được học tập Trên cơ sở nguyên tắc vì lợi ích tốt nhất của trẻ em, pháp luật HN&GĐ Việt Nam cũng thể hiện mối quan tâm hàng đầu đến những lợi ích tốt nhất của trẻ em khi điều chính các quan hệvề HN&GĐ trongđó có quan hệ ly hôn

Trẻ em trong hoàn cảnh cha mẹ ly hôn nói riêng và trẻ em nói chung đều cần được bảo vệ, chăm sóc và giáo dục Khi cha mẹ ly hôn, con là đối tượng dễ bị tổn thương nhất, do vậy bảo vệ quyền và lợi ích cho con khi cha mẹ ly hôn luôn là việc làm cần thiết

Đặc biệt Luật HN&GĐ năm 2014 thay thế Luật HN&GĐ năm 2000 đã có những quy định cụ thể các quyền, lợi ích của con khi chamẹ ly hôn như nghĩa vụ cấp dưỡng của người không trực tiếp nuôi con, quyền được bày tỏ ý kiến của con về việc ở với ai khi đủ 07 tuổi Trong trường hợp quyền và lợi ích hợp pháp của con sau khi cha mẹ ly hôn bị xâm hại thì pháp luật đã dự liệu trước bằng hệ thống các biện pháp xử lý các hành vi viphạm thông qua các chế tài hành chính hoặc hình sự, tùy theo mức độ của hành vi vi phạm

Ngoài việc xây dựng hệ thống các quy phạm pháp luật bảo vệ quyền vàlợi ích của con khi cha mẹ ly hôn thì pháp luật còn đảm bảo các quyền, lợi íchnày được thực hiện trên thực tế thông qua hoạt động của các cá nhân, cơ quan,tổ chức hữu quan Pháp luật quy định trách nhiệm của cha mẹ, nhà trường, Tòa án, cơ quan thì hành án, cơ quan, tổ chức trả tiền lương, tiền công, các thu nhậpthường xuyên khác cho người có nghĩa vụ cấp dưỡng trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của con sau khi cha mẹ ly hôn

1.2.3.Cơ sở thực tiễn

- Trong giai đoạn hiện nay, nền kinh tế nước ta đang trên đà phát triển và hội nhập quốc tế, bên cạnh những mặt tích cực đã đạt được thì không thể tránh khỏi những mặt tiêu cực Tác động của nền kinh tế thị trường vào các quan hệ xã hội cũng như quan hệ giữa cha mẹ và con ngày càng lớn, quan hệ truyền thống gia đình ngày một mai một, chuẩn mực xã hội ngày xuống cấp, những quy định trước đây về quyền và nghĩa vụ giữa cha mẹ và con không còn phù hợp với điều kiện kinh tế - xã

Trang 28

hội hiện nay Nhà nước đang tiến hành cải cách, sửa đổi các văn bản quy phạm pháp luật để theo kịp với sự phát triển của thời đại nhằm đảm bảo quyền và nghĩa

vụ của công dân nói chung và quyền và nghĩa vụ của cha mẹ và con nói riêng được thực hiện một cách có hiệu quả trong thực tế

Việc vi phạm quyền và nghĩa vụ giữa cha mẹ và con xảy ra trong xã hội hiện nay với nhiều mức độ khác nhau, từ việc các con không kính trọng, biết ơn dẫn đến

có những hành vi xúc phạm hay ngược đãi cha mẹ Hay cũng có những trườnghợp cha mẹ đánh đập, hành hạ con dẫn đến tổn thương cả về thể chất lẫn tinh thần cho đứa trẻ.Đây là một thực tế cần được nghiên cứu và đưa ra được những quy định pháp luật để ngăn chặn, răn đe, giáo dục những người có hành vi vi phạm này

Ngoài ra, tại các cơ quan chức năng của nhà nước, việc thực thi pháp luật về quyền và nghĩa vụ giữa cha mẹ và con vẫn còn nhiều bất cập như sinh con bằng phương pháp khoa học, mang thai hộ, pháp luật nước ta chưa công nhận nhưng trên thực tế đã xảy ra.Nếu sau này có tranh chấp thì các cơ quan chức năng căn cứ vào

sự kiện sinh đẻ hay căn cứ vào giám định gen để xác định cha mẹ - con cho đứa trẻ đây là một thực tiễn mà các cơ quan nhà nước có thẩm quyền còn đang lúng túng, chưa tìm ra cách giải quyết triệt để

Sự cần thiết quy định về quyền và nghĩa vụ giữa cha mẹ và con: việc quy định về quyền và nghĩa vụ giữa cha mẹ trong hệ thống pháp luật là hết sức cần thiết

vì nó duy trì trật tự trong xã hội, phát huy những truyền thống tốt đẹp vốn có của gia đình Việt Nam, tránh những tranh chấp đáng tiếc xảy ra trong thực tế, gây ảnh hưởng xấu đến sự phát triển của xã hội

- Việc quy định về quyền và nghĩa vụ giữa cha mẹ và con là nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cha mẹ và con, để các chủ thể trong mối quan hệ này xác định quyền và nghĩa vụ của mình Cha mẹ được thực hiện những quyền gì và phải thực hiện những nghĩa vụ gì Ngược lại, con cũng vậy, cũng xác định được quyền và nghĩa vụ của mình trong quan hệ với cha mẹ Như việc con có quyền sống chung với cha mẹ quy định tại Điều 13 của Luật BVCS&GDTE năm 2004 Việc quy định concó quyền sống chung với cha mẹ là đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp

Trang 29

của đứa trẻ vì chỉ khi sống chung với cha mẹ thì con mới có điều kiện để phát triển tốt cả về thể chất lẫn tinh thần Quyền và nghĩa vụ giữa cha mẹ và con được nhà nước bảo vệ và bình đẳng, không phân biệt đối xử trước pháp luật

1.3.Ý nghĩa của việc quy định hiệu lực của ly hôn đối với con trong Luật HN&GĐ

1.3.1.Ýnghĩa về pháp lý

Việc quy định hiệu lực của ly hôn đối với con là cơ sở pháp lý để nâng cao tinh thần trách nhiệm của cha mẹ và cũng là cơ sở để họ thực thi quyền và nghĩa vụ của mình đối với con sau ly hôn Cha mẹ là người sinh thành ra các con, cho con sự sống hoặc nhận nuôi dưỡng con nuôi từ nhỏ, tình cảm giữa cha mẹ con sâu sắc vì vậy cha mẹ là người có trách nhiệm nuôi dưỡng con Dù cuộc sống khó khăn hay đầy đủ, cha mẹ có hạnh phúc hay không thể sống chung với nhau thì cũng không được chối bỏ trách nhiệm của mình Trong cuộc sống HN&GĐ, vợ chồng mong muốn được chung sống hạnh phúc, cùng nhau nuôi nấng, chăm sóc, dạy dỗ con với mong muốn đem lại sự đầy đủ, niềm vui cho con Tuy nhiên, khi mục đích của hôn nhân không đạt được, vợ chồng kết tội cho nhau về sự tan vỡ của gia đình, chối bỏ trách nhiệm của mình đối với con Vì vậy, để bảo vệ quyền lợi cho trẻ pháp luật đã quy định nuôi con không chỉ là quyền mà còn là nghĩa vụ của cha mẹ Nuôi con là một nghĩa vụ luật định nhằm nâng cao ý thức trách nhiệm của người làm cha, mẹ đặc biệt là khi họ đã ly hôn Đó cũng là cơ sở pháp lý để bảo vệ quyền lợi cho con khi người làm cha mẹ không thực hiện đúng nghĩa vụ của mình

Ngoài ra việc quy định quyền và nghĩa vụ của cha mẹ đối với con sau ly hôn

là sự cụ thể hóa nguyên tắc bảo vệ quyền lợi của trẻ em trong trường hợp đặc biệt Bảo vệ trẻ em luôn là một điều được xã hội quan tâm, nhất là trong giai đoạn hiện nay Cả xã hội đã luôn cố gắng tạo điều kiện cho trẻ em được phát triển một cách toàn diện Nhà nước đã đưa ra rất nhiều chủ trương, chính sách và nâng lên thành luật Rất nhiều quyền lợi của trẻ được pháp luật bảo vệ như quyền được cha mẹ chăm sóc, nuôi dưỡng, được học hành, được vui chơi và phát triển toàn diện Trẻ

em có cha mẹ ly hôn là một đối tượng đặc biệt bởi vì so với những trẻ khác thì

Trang 30

chúng phải chịu nhiều thiệt thòi và bất hạnh Do vậy, pháp luật đã có những quy định để bảo đảm quyền lợi cho cha mẹ khi ly hôn và những quyền lợi của trẻ chính

là một sự cụ thể nguyên tắc bảo vệ trẻ em trong trường hợp đặc biệt

1.3.2 Ý nghĩa về mặt xã hội

Con chưa thành niên, con đã thành niên tàn tật, mất năng lực hành vi dân sự, không có khả năng lao động và không có tài sản nuôi sống bản thân vốn đã cần được bảo vệ nhưng việc bảo vệ ấy càng có ý nghĩa hơn khi chúng phải sống trong hoàn cảnh có cha mẹ ly hôn

Thứ nhất, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của con khi cha mẹ ly hôn là

đảm bảo cho tương lai của trẻ cũng là đảm bảo an ninh xã hội Trẻ em chính là đại diện cho tương lai, là nhân tố quyết định sự phát triển của xã hội trong tương lai Bảo vệ trẻ em luôn được xã hội quan tâm, nhất là trong giai đoạn hiện nay, cả xã hội luôn cố gắng tạo điều kiện cho trẻ em được phát triển một cách toàn diện Nhà nước đã đưa ra rất nhiều chủ trương, chính sách và nâng lên thành luật Rất nhiều quyền lợi của trẻ được pháp luật bảo vệ như quyền được cha mẹ chăm sóc, nuôi dưỡng, được học hành, được vui chơi và phát triển toàn diện Trẻ em có cha mẹ ly hôn có hoàn cảnh đặc biệt hơn những đứa trẻ khác nhưng không vì thế mà vị trí, vai trò của chúng với tương lai bị thay đổi Chính vì vậy việc quan tâm, bảo vệ quyền

và lợi ích hợp pháp của chúng càng có giá trị đối với việc bảo vệ và phát triển tương lai của đất nước

Hơn nữa, đảm bảo các quyền và lợi ích hợp pháp của con khi cha mẹ ly hôn đặc biệt là quyền được chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đầy đủ sẽ hạn chế được số lượng trẻ em rơi vào các tệ nạn xã hội, thực hiện các hành vi phạm pháp, do đó góp phần đảm bảo an ninh, trật tự xã hội

Thứ hai, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của con khi cha mẹ ly hôn là thể

hiện tính công bằng, dân chủ, nhân đạo của pháp luật xã hội chủ nghĩa Khi vợ chồng mâu thuẫn đến mức không thể hàn gắn và tiếp tục cuộc sống hôn nhân, việc tiếp tục quan hệ hôn nhân sẽ ảnh hưởng đến tâm lý vợ chồng và trách nhiệm nuôi dạy con Vì vậy pháp luật quy định vợ chồng có quyền tự do ly hôn để giải quyết

Trang 31

những mâu thuẫn trong cuộc sống hôn nhân và ràng buộc quyền và nghĩa vụ của cha mẹ đối với con Quy định về giao con cho ai nuôi cũng thể hiện tính nhân đạo của pháp luật Việc giao con cho ai nuôi là vì lợi ích của con chứ không phải căn cứ vào lỗi của cha mẹ

Khi cha mẹ ly hôn, con dễ rơi vào những tình huống xấu, bị tổn thương về thể chất và tinh thần Vì vậy việc quan tâm, bảo vệ quyền của trẻ em có cha mẹ ly hôn là thể hiện bản chất nhân đạo của Nhà nước, thể hiện sự tiến bộ trong pháp luật bảo vệ quyền trẻ em

Không chỉ trẻ em mà người đã thành niên bị tàn tật, mất năng lực hành vi dân sự, không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình cũng thuộc đối tượng được pháp luật bảo vệ khi cha mẹ ly hôn vừa thể hiện tính công bằng vừa thể hiện tính nhân đạo của pháp luật,góp phần tiếp nối truyền thống đạo đức tốt đẹp của dân tộc

1.4 Sơ lƣợc về sự hình thành và phát triển các quy định về hiệu lực của ly hôn đối với con trong Hệ thống pháp luật Việt Nam

1.4.1 Quyền và nghĩa vụ về nhân thân

Quyền và nghĩa vụ nhân thân của cha mẹ đối với con sau ly hôn là một nội dung cơ bản và quan trọng trong các chế định luật có nội dung bảo vệquyền lợi trẻ

em, mà điển hình nhất là Luật HN&GĐ Tuy nhiên vấnđề này có cách tiếp cận khác

nhau tương ứng với từng thời điểm lịch sửnhất định

- Giai đoạn từ sau Cách mạng tháng Tám năm 1945 đến trước năm 1986: Trướccách mạng tháng Tám năm 1945, quan hệ HN&GĐ chưa được ghi nhận riêng biệt ở một văn bản pháp luật nào của Việt Nam Các quy định về quyền và nghĩa vụ của cha mẹ con sau ly hôn còn rất sơ lược

Một trong những văn bản đầu tiên về pháp luật HN&GĐ của Nhà nước Việt Nam dân chủ Cộng hòa là Sắc lệnh số 97-SL ngày 22/5/1950 về sửa đổi một sốquy

lệ và chế định trong dân luật và Sắc lệnh số 159-SL ngày 17/11/1950 quy định về vấn đề ly hôn Hôn nhân trong thời kỳ phong kiến hạn chế quyền của người vợ trong việc ly hôn Tuy nhiên, trong Sắc lệnh số 159-SL đã ghi nhận quyền bình

Trang 32

đẳng của vợ và chồng, cụ thể quy định 5 duyên cớ (lỗi) ly hôn cho cả vợ và chồng: ngoại tình; một bên can án phát giam; một bên mắc bệnh điên hoặc một bệnh khó chữa khỏi;một bên bỏ nhà đi quá hai năm không có duyên cớ chính đáng; vợ chồng tính tình không được hoặc đối xử với nhau đến nỗi không thể sống chung được Về

quyền và nghĩa vụ nhân thân của cha mẹ sau ly hôn, Sắc lệnh đã có quy định: "Toà

sẽ căn cứ vào quyền lợi của con vị thành niên để quyết định việc trông nom, nuôi nấng và dạy dỗ chúng…" (Điều 6)

Vào những năm 50 của thế kỷ XX, miền Bắc căn bản hoàn thành cuộc cải cách ruộng đất, đất nước ta đang chuẩn bị những điều kiện vật chất và con người để tiến lên xã hội chủ nghĩa nhưng những tàn dư của chế độ HN&GĐphong kiến vẫn còn tác động rất lớn đến cuộc sống của gia đình và xã hội Việc ban hành một đạo luật mới về HN&GĐ trở thành một đòi hỏi cấp thiết của toàn thể xã hội Chính vì vậy, ngày 29/12/1959,Luật HN&GĐđầu tiên của Nhà nước ta ra đời, là công cụ pháp lý nhằm xóa bỏ những tàn tích của chế độ HN&GĐ phong kiến, chống những ảnh hưởng của hôn nhân tư sản, xây dựng chế độ HN&GĐ xã hội chủ nghĩa Luật dựa trên bốn nguyên tắc cơ bản: hôn nhân tự do tiến bộ, một vợ một chồng; nam nữ bình đẳng, bảo vệ quyền lợi của người phụ nữ trong gia đình; bảo vệ quyền lợi của con Luật đã dành hẳn một chương để quy định về vấn đề ly hôn và hậu quả pháp lý của ly hôn Trong đó nội dung về quyền và nghĩa vụ về nhân thân của cha mẹ đối

với con sau khi ly hônđược đề cập khá rõ:"Khi ly hôn, việc cho ai nuôi nâng, giáo

dục con còn bú phải do mẹ phụ trách Người không có quyền giữ con vẫn có quyền chăm nom, săn sóc con…" (Điều 32)

Như vậy, bảovệ quyền lợi của con nói chung đã trở thành một điều bắt buộc,

là căn cứ cần xem xét khi giải quyết các mối quan hệ khác trong gia đình

Ở miền Nam Việt Nam, dưới chế độ Ngụy quyền Sài Gòn, các vấn đề về HN&GĐ được quy định trong các văn bản pháp luật như Luật gia đình ngày 2/1/1959, Sắc luật số 15/64 ngày 23/7/1964 quy định về giá thú, tử hệ và tài sản cộng đồng và BLDS ngày 20/12/1972 Luật gia đình ngày 2/1/1959 dưới chế độ Ngô Đình Diệm, tại Điều 55đã quy định rõ cấm vợ chồng không được ly hôn, việc

Trang 33

ly hôn chỉ đặt ra trong trường hợp đặc biệt và phải do chính tổng thống quyết định

Vì thế, cũng không tồn tại những quy định về quyền và nghĩa vụ củacha mẹ sau ly hôn Đến năm 1964, việc ban hành Sắc luật số 15/64 quy định về giá thú, tử hệ và tài sản cộng đồng thay thế Luật gia đình dưới chế độ Ngô Đình Diệm Sắc luật này vừa chấp nhận cho vợ chồng lythân đồng thời công nhận quyền ly hôn của vợ chồng (chương II từ Điều 62 đến Điều 99 đã quy định về ly thân, ly hôn) BLDS ngày 20/12/1972 của ngụy quyền Sài Gòn thay thế Sắc luậtsố 15/64 cũng quy định cho

vợ chồng vừa được ly hôn vừa có quyền yêu cầu ly thân Điều 170 của Bộ luật này

đã quy định các duyên cớ (lỗi) để vợ chồng xin ly hôn hoặc ly thân Như vậy,Sắc luật số 15/64 ngày 23/7/1964 và Bộ Dân luật Sài Gòn năm 1972 đã đặt ra vấn đề ly hôn Những văn bản này đã xuất hiện những quy định về bảo vệ quyền lợi của con khi chamẹly hôn Pháp luật đã xem xét đến quyền lợi của những đứa con, nhất là

khi con còn nhỏ:" nếu không có lý do gì cản trở, những đứa trẻ còn thơ ấu cần sự

chăm sóc của người mẹ sẽ được giao cho người này” (Điều 198)

Tuy nhiên do ảnh hưởng của quan niệm về ly hôn của chủ nghĩa tư bản, việc giải quyết ly hôn dựa trên cơ sở lỗi của hai vợ chồng nên những quyđịnh về quyền

và nghĩa vụ nhân thân của vợ chồng cũng đi theo hướng đó.Người không có lỗi trong việc làm gia đình tan vỡ sẽ đương nhiên có quyền nuôi con dưới 16 tuổi Mặc

dù đã có quy định cụ thể, rõ ràng về người trực tiếp nuôi dưỡng con sau khi vợ chồng ly hôn nhưng vẫn còn nhiều hạn chế Con được giao cho ai nuôi không dựa trên nguyên tắc vì quyền lợi của con mà dựa vào những sai lầm của bố mẹ, cho dù sai lầm đó có thể là nhất thời, không liên quan đến khả năng chăm sóc, nuôi dưỡng con Vì vậy trong nhiều trường hợp, quyền lợi chính đáng của con không được bảo

vệ mặc dù có khả năng thực hiện được điều đó

- Giai đoạn từ 3/1/1987 đến trước năm 2000: Bước sang những năm 80 của thế kỷ XX, khi đất nước đã thống nhất và dần ổn định, tình hình kinh tế xã hội đã có những biến chuyển, Hiến pháp năm 1980 ra đời quy định nhiều nguyên tắc bảo vệ quyền lợi của trẻ em…Việc ban hành Luật HN&GĐ mới áp dụng trên phạm vi cả nước là một nhu cầu cấp bách Sự ra đời của Luật HN&GĐ năm 1986 đã tạo nên

Trang 34

một bước triển lớn của pháp luật HN&GĐ Việt Nam nói chung và bảo vệ quyền lợi của trẻ em khi cha mẹ ly hôn nói riêng Lần đầu tiên, bảo vệ quyền lợi của bà mẹ và

trẻ em được ghi nhận là một nguyên tắc cơ bản của Luật HN&GĐ năm 1986: “Nhà

nước và xã hội bảo vệ bà mẹ và trẻ em, giúp đỡ các bà mẹ thực hiện tốt chức năng cao quý của người mẹ” (Điều 3)

Quyền và nghĩa vụ của cha mẹ nói chung và quyền, nghĩa vụ nhân thân nói

riêng sau khi ly hôn đã có quy định cụ thể, theo đó: “Vợ chồng đã ly hôn vẫn có mọi

nghĩa vụ và quyền đối với con chung”(Điều 44)

Nghĩa vụ và quyền đó bao gồm: nghĩa vụ thương yêu, nuôi dưỡng, giáo dục con, chăm lo việc học tập và sự phát triển lành mạnh của con về thể chất, trí tuệ và đạo đức; cha mẹ phải làm gương tốt cho con về mọi mặt và phối hợp chặt chẽ với nhà trường và các tổ chức xã hội trong việc giáo dục con; cha mẹ có nghĩa vụ nuôi dưỡng con đã thành niên mà không có khả năng lao động để tự nuôi mình…Đồng thời khi ly hôn, việc giao con chưa thành niên cho ai trông nom, nuôi dưỡng, giáo dục phải căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con Về nguyên tắc, con còn bú được giao cho người mẹ nuôi giữ Người không nuôi giữ con có nghĩa vụ và quyền thăm nom, chăm sóc con, vì lợi ích của con khi cần thiết có thể thay đổi việc nuôi giữ con Như vậy, Luật HN&GĐ năm 1986 đã có những điểm tiến bộ đáng kể so với các giai đoạn lịch sử trước đó, góp phần quan trọng việc đảm bảo cho những đứa trẻ

có một cuộc sống bình thường, ổn định sau khi cha mẹ chúng ly hôn

- Giai đoạn từ năm 2000 đến 1/1/2015: Đến những năm 90 của thế kỷ XX, đất nước ta đã gặt hái được những thành công trong công cuộc đổi mới Hiến pháp năm 1992 và BLDS năm 1995 là những văn bản pháp luật lớn ra đời bổ sung rất nhiều quy định quan trọng liên quan đến lĩnh vực HN&GĐ Để cụ thể hóa các quy định trong Hiến pháp năm 1992 và BLDS năm 1995 về HN&GĐ, củng cố gia đình theo truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tránh ảnh hưởng của lối sống dụng của kinh

tế thị trường đối với quan hệ HN&GĐ, ngày 9/6/2000, Luật HN&GĐ năm 2000 tiếp tục ghi nhận và bảo vệ quyền lợi của trẻ em là một trong những nguyên tắc cơ

bản của HN&GĐ:“Cha mẹ có nghĩa vụ nuôi dạy con thành công dân có ích cho xã

Trang 35

hội”, “Nhà nước, xã hội và gia đình có trách nhiệm bảo vệ phụ nữ, trẻ em…” (Điều

2)

Các quy định về quyền và nghĩa vụ nhân thân của cha mẹ đối với con được quy định một cách đầy đủ và cụ thể như đối tượng con được bảo vệ, giao cho ai chăm sóc, nuôi dưỡng, quyền thăm nom con, vấn đề thay đổi người trực tiếp nuôi con, hỏi ý kiến của con khi con đủ 09 tuổi trở lên…

- Giai đoạn từ 1/1/2015 đến nay: Sau 15 năm thực hiện, Luật HN&GĐ năm

2000 đã bộc lộ những bất cập, hạn chế cần phải có sự thay đổi phù hợp với thực tiễn cuộc sống Luật HN&GĐ năm 2014 chính thức có hiệu lực và thay thế cho Luật HN&GĐ2000 đã có sự sửa đổi, bổ sung các quy định mới về quyền và nghĩa vụ của cha mẹ đối với con sau ly hôn Theo đó, bổ sung quy định quyền và nghĩa vụ của

cha mẹ đối với con sau ly hôn tại Điều 58 Luật HN&GĐ năm 2014 như sau: “Việc

trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn được áp dụng theo quy định tại các điều 81, 82, 83 và 84 của Luật này” Đồng thời quyền và nghĩa vụ

của người trực tiếp nuôi con và người không trực tiếp nuôi con cũng được quy định

cụ thể hơn so với Luật HN&GĐ năm 2000.[21, tr24-27]

1.4.2 Quyền và nghĩa vụ về tài sản

So với quyền và nghĩa vụ về nhân thân thì quyền và nghĩa vụ về tài sản được tiếp cận khá sớm, ngay từ thời kỳ Pháp thuộc, trong các bộ dân luật đã có quy định

về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con của cha mẹ khi ly hôn Tại Sắc lệnh số 159-SL ngày 17/11/1950 quy định về vấn đề ly hôn nội dung này tiếp tục được đề cập đến:

“Hai vợ chồng đã ly hôn phải cùng nhau chịu phí tổn về việc nuôi dạy con, mỗi bên

tùy theo khả năng của mình” (Điều 6)[2] Quy định này còn mang tính chất chung

chung và chưa có những ràng buộc trách nhiệm cụ thể, cả hai vợ chồng phải cùng chịu phí tổn nuôi con nhưng với mức đóng góp lại “tùy theo khả năng” “Tùy theo khả năng” là một cụm từ khá mơ hồ khi nhìn nhận dưới khía cạnh pháp luật, bởi việc xác định khả năng của vợ và chồng là rất khó khăn trên thực tế Hạn chế này đến văn bản pháp luật HN&GĐ đầu tiên của Việt Nam năm 1959 vẫn không có

nhiều thay đổi: “…Vợ chồng đã ly hôn phải cùng chịu phí tổn về việc nuôi nấng và

Trang 36

giáo dục con, mỗi người tùy theo khả năng của mình Vì lợi ích của con, khi cần thiết, có thể thay đổi việc nuôi giữ hoặc góp phần vào phí tổn nuôi nấng giáo dục con” (Điều 32)

Luật HN&GĐ năm 1986 có nhiều điểm tiến bộ đã khắc phục được những

khó khăn trong việc xác định trách nhiệm đóng góp nuôi con: “Nếu trì hoãn hoặc

lẩn tránh việc đóng góp thì Tòa án nhân dân quyết định khấu trừ vào thu nhập hoặc buộc phải nộp những khoản phí tổn đó” Ngoài ra Luật còn mở rộng thêm một số

nội dung như: Cha mẹ quản lý tài sản của con chưa thành niên, cha mẹ chịu trách nhiệm bồi thường các thiệt hại do hành vi trái pháp luật của con dưới 16 tuổi gây ra

Giai đoạn từ năm 2000 đến nay, Luật HN&GĐ năm 2014 được ban hành thay thế Luật HN&GĐ năm 2000 đã thể hiện sự tiến bộ và hoàn thiện của pháp luật

về các nguyên tắc bảo vệ quyền lợi của trẻ em cũng như quy định cụ thể vấn đề quyền và nghĩa vụ về tài sản của cha mẹ đối vớicon sau ly hôn.[21, tr28-30]

1.5 Hiệu lực của ly hôn theo pháp luật của một số nước trên thế giới

Pháp luật của mỗi quốc gia có cách tiếp cận và các nguyên tắc, các nội dung quy định khác nhau trên cơ sở phù hợp với tình hình kinh tế-chính trị-xã hội của quốc gia đó; và pháp luật về ly hôn với nội dung về quyền và nghĩa vụ của cha mẹ sau khi ly hôn cũng không là ngoại lệ Tuy nhiên trong phạm vi luận văn tác giả nghiên cứu nội dung trên bằng cách phân loại thành 2 nhóm vấn đề là quyền và nghĩa vụ về nhân thân; quyền và nghĩa vụ về tài sản để dễ dàng hơn khi so sánh với pháp luật Việt Nam

1.5.1 Quyền và nghĩa vụ về nhân thân

- Liên Bang Nga

Hiện nay các quan hệ pháp luật HN&GĐ được quy định trong Luật Gia đìnhnăm 2011 Luật gia đình thiết lập các điều kiện và trình tự của hôn nhân, hủy

bỏ hôn nhân và chấm dứt hôn nhân, điều chỉnh các mối quan hệ đạo đức và kinh tế giữa các thành viên trong gia đình Theo Điều 23 và Điều 24 Luật Gia đình Nga, trong quá trình xét xử ly hôn, vợ chồng có thể yêu cầu Toà án giải quyết các vấn đề của mình đối với con liên quan đến việc cư trú cho con, thăm viếng và chăm sóc

Trang 37

con Nếu vợ chồng không thỏa thuận được quyền và nghĩa vụ của mình đối với con hoặc thỏa thuận đó không được Tòa án chấp thuận thì Tòa án căn cứ vào nguyện vọng của con

BLDSnăm 1995 của Liên Xô và Điều 65 Luật Gia đình Nga quy định sau khi

ly hôn, cả cha và mẹ đều là người giám hộ của con Trách nhiệm của cha và mẹ là ngang bằng nhau Cha và mẹ chỉ có thể xác định nơi cư trú tốt nhất cho con mình và thỏa thuận quyền thăm nom, chăm sóc của mỗi bên Trên thực tế, 90% các trường hợp ly hôn, Tòa ánchấp thuận để con được sống cùng với người mẹ.[43]

- Mỹ:

Các quan hệ HN&GĐ cũng được điều chỉnh bởi Luật gia đình Văn bản Luật gia đình chứa đựng nội dung rất phong phú, trong đó mỗi nội dung có thể xem như một luật riêng Vấn đề ly hôn tại Mỹ không chỉ được xem là một trong những trường hợp chấm dứt hôn nhân mà thực tế nó là một tập hợp của Luật gia đình và được quyết định bởi pháp luật nhà nước, quy chế, quy tắc, mã số và thông luật Vì vậy, pháp luật và thủ tục có thể khác nhau ở rất nhiều bang

Nội dung về quyền và nghĩa vụ về nhân thân của cha mẹ với con sau ly hôn được cụ thể hóa trong chủ đề chăm sóc và thăm viếng trẻ em: chủ đề này quy định

bố hoặc mẹ ai là người trực tiếp nuôi dưỡng con sau ly hôn để đảm bảo lợi ích tốt nhất cho con Vấn đề trực tiếp nuôi dưỡng khá linh hoạt, có thể toàn thời gian hoặc bán thời gian theo thỏa thuận của hai bên hoặc quyết định của Tòa án Ngoài ra, chủ

đề còn đề cập đến lịch trình các kỳ nghỉ, lịch trình thăm viếng…của mỗi phụ huynh

- Pháp:

Cả hai cha mẹ được dự kiến sẽ chịu trách nhiệm và chăm sóc, cấp dưỡng chocon của họ sau khi ly hôn Người con được hưởng sự chăm sóc, giáo dục và nuôi dưỡng từ cha mẹ của mình Trong thực tế, Tòa án thường mong muốn thiết lập

sự ổn định về nơi cư trú cho đứa trẻ sau khi cha mẹ ly hôn Vì vậy, Tòa sẽ căn cứ vào nhu cầu và khả năng tài chính của người vợ hoặc chồng để lựa chọn người trực tiếp nuôi con Người không trực tiếp nuôi con sẽ phải trả chi phí sinh hoạt cho người trực tiếp nuôi con đến khi con đủ 18 tuổi Về vấn đề cấp dưỡng, người không

Trang 38

trực tiếp nuôi con sẽ thực hiện nghĩa vụ hỗ trợ và giáo dục con thông qua hình thức thanh toán định kỳ Những khoản thanh toán đó có thể là toàn bộ hoặc một phần dựa trên chi phí phát sinh trực tiếp từ đứa trẻ đó

- Hà Lan:

Vợ chồng sau khi ly hôn coi như chấm dứt quan hệ vợ chồng; tuy nhiên cả hai vẫn giữ trách nhiệm của cha mẹ trong việc chăm sóc và nuôi dạy con.BLDSHà Lan được chia thành nhiều cuốn sách có chứa các quy định liên quan đến tất cả các vấn đề pháp luật dân sự Trong đó cuốn sách 01 liên quan đến thể nhân và Luật gia đình

Tại phần 1.14.2.1, quy định về quyền của cha mẹ trong thời kỳ hôn nhân và sau khi ly hôn, Điều 1:251 quy định khi hôn nhân chấm dứt, vợ chồng có quyền chung đối với con chưa thành niên Các quyền và nghĩa vụ của cha mẹ đối với con

là phân phối nhiệm vụ chăm sóc và nuôi dưỡng con, tuy nhiên một bên có thể bị cấm tạm thời tiếp xúc với con nếu việc đó mang lại lợi ích tốt hơn cho con Ngoài

ra, nơi cư trú chính của con sẽ được quyết định là nơi ở của cha hoặc mẹ

Điểm đặc biệt của quan hệ HN&GĐ trong pháp luật Hà Lan là khi ly hôn, nếu không muốn chia sẻ trách nhiệm đối với con, vợ hoặc chồng có thể yêu cầu Tòa ánchuyển trách nhiệm hoàn toàn cho người còn lại Nếu vợ chồng có nhiều hơn một con, Tòa án sẽ chỉ định trách nhiệm của cha mẹ đối với mỗi đứa trẻ một cách độc lập

Sự khác biệt giữa Luật của Hà Lan với Luật của Việt Nam thể hiện ở việc lựa chọn người trực tiếp nuôi con Ở Việt Nam, trường hợp không thỏa thuận được người trực tiếp nuôi con thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con Còn ở Hà Lan, con từ đủ 12 tuổi có thể yêu cầu Tòa án phân công trách nhiệm cho cha hoặc mẹ Người không trực tiếp nuôi con sẽ thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình cho đến sinh nhật thứ 21 của con Nếu đứa trẻ trên 12 tuổi, khi có sự kiện cha mẹ ly hôn, Tòa án sẽ gửi thông báo dự kiến thời điểm tham dự phiên tòa Nếu một đứa trẻ dưới 12 tuổi yêu cầu được lắng nghe lý do

Trang 39

ly hôn của cha mẹ, Tòa án sẽ mời đứa trẻ đó đến tham dự phiên tòa Như vậy, ở Hà Lan cho phép đối tượng con có liên quan đến quyền và nghĩa vụ của cha mẹ sau ly hôn được tham dự phiên tòa ly hôn của cha mẹ Cha mẹ có quyền và nghĩa vụ ngang nhau đối với việc chăm sóc và nuôi dạy con của họ

Nếu vợ chồng chia sẻ trách nhiệm nuôi con thì hai bên sẽ thỏa thuận về việc

bố trí chăm sóc và thăm nom con Thậm chí nếu một trong hai người không còn trách nhiệm của cha mẹ, họ vẫn có quyền thăm nom và nhận các thông báo về tình trạng con của mình [42]

- Trung Quốc:

Luật HN&GĐ Trung Quốc được xây dựng tương đối sớm từ năm 1950 Trải qua quá trình phát triển của lịch sử, văn bản pháp luật này cũng đã có những thay đổi, bổ sung nhất định phù hợp với từng điều kiện kinh tế, xã hội theo từng thời kỳ Hiện nay, Luật HN&GĐ năm 2001 đã sửa đổi, bổ sung các quy định thay thế Luật HN&GĐ năm 1980, trong đó có các quyền và nghĩa vụ về của cha mẹ đối với con sau ly hôn Điều 36 Luật HN&GĐ năm 2001 quy định mối quan hệ giữa cha mẹ và con không chấm dứt do sự kiện ly hôn của cha mẹ Sau khi ly hôn, con vẫn là con của cả hai bên dù chúng có được nuôi dưỡng hoặc chăm sóc trực tiếp bởi một trong hai bên cha hoặc mẹ Quyền và nghĩa vụ về nhân thân của cha mẹ và con còn được

cụ thể hóa qua quyền thăm viếng con của người không trực tiếp nuôi dưỡng Người kia có nghĩa vụ giúp đỡ đối phương trong việc thực hiện quyền này, thời gian và địa điểm thăm viếng do hai bên thỏa thuận hoặc nếu không thỏa thuận được thì theo quyết định của Tòa án, tất nhiên nếu quyền này ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe, tâm lý của con do một nguyên nhân bất kỳ nào đó thì đương nhiên bị chấm dứt và

nó chỉ được phục hồi khi nguyên nhân này chấm dứt [44]

1.5.2 Quyền và nghĩa vụ về tài sản

- Liên Bang Nga:

Khác với quyền và nghĩa vụ về nhân thân, quyền và nghĩa vụ về tài sản của cha mẹ đối với con sau ly hôn được đề cập khá chi tiết, cụ thể Luật Gia đình ở Nga không có quy định cung cấp cho các khoản thanh toán cấp dưỡng trực tiếp cho một

Trang 40

người phối ngẫu thứ hai (tức là cho chồng hoặc vợ) (lưu ý này là riêng biệt để hỗ trợ trẻ em) Có trường hợp ngoại lệ ly hôn ở Nga đó là vợ hoặc chồng có quyền yêu cầu

hỗ trợ trong trường hợp đó là: người khuyết tật (tức là không thể làm việc); mang thai, nuôi con dưới 03tuổi, chăm sóc trẻ em tàn tật; thiết lập để đến tuổi hưu trí trong vòng 05 năm hoặc một thời gian nhất định (khoảng thời gian này có quy định

cụ thể của luật) Điều đặc biệt là những nội dung về quyền và nghĩa vụ về tài sản của cha me sau ly hôn tại Nga chủ yếu tập trung cho đối tượng là con chưa thành niên Nếu vợ chồng thỏa thuận được với nhau về người trực tiếp nuôi dưỡng con chưa thành niên và khoản tài chính phía bên kia phải cung cấp phục vụ cho nhu cầu sinh hoạt, học tập và sức khỏe của con thì theo sự thỏa thuận đó, còn nếu hai bên không thỏa thuận được thì đương nhiên tuân theo quyết định của Tòa án Luật Gia đình yêu cầu hỗ trợ trẻ em trong một trường hợp ly hôn của Nga là 25% thu nhập ròng hàng tháng cho một đứa trẻ, 33% thu nhập ròng hàng tháng cho hai đứa con và 50% thu nhập ròng hàng tháng cho ba hoặcnhiều hơn trẻ em Đó là tỷ lệ tối thiểu áp dụng, ngay cả trường hợp cha mẹ có thỏa thuận được mức hỗ trợ cấp dưỡng, không phải Tòa án giải quyết nhưng cũng không được thấp hơn tỷ lệ trên Ngoại lệ cho trường hợp này khi có thể tăng hoặc giảm mức hỗ trợ tùy theo quyết định của Tòa

án trong thời gian ly hôn, tùy thuộc vào gia đình và tình hình tài chính của người không trực tiếp nuôi dưỡng và hoàn cảnh khác Những quy định này có chăng là quá đơn giản và chưa bao hàm hết các vấn đề cần phải giải quyết Quyền lợi của trẻ chưa thành niên được bảo vệ là đúng nhưng quyền và nghĩa vụ của cha mẹ nói chung đối với con cũng là nội dung quan trọng không thể bỏ qua.[21, 32-33]

- Pháp:

Luật Dân sự nước pháp quy định quyền và nghĩa vụ của cha mẹ đối với tài sản của con từ Điều 382 đến 387 tại chương II mục IX, theo đó cha và mẹ có quyền hưởng tài sản của con trong quyền hạn của mình Quyền hưởng tài sản của cha hoặc

mẹ sẽ kết thúc khi đứa trẻ đủ 16 tuổi hoặc khi quyền cha mẹ chấm dứt Các chi phí

mà cha mẹ phải trả cho việc hưởng các tài sản của con là chịu trách nhiệm bồi thường những thiệt hại mà con gây ra; hỗ trợ ăn uống, giáo dục con

Ngày đăng: 17/03/2021, 11:39

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w