Tình hình nghiên cứu Nghiên cứu những vấn đề liên quan đến việc định tội danh đối với tội lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
ĐINH THỊ LAN HƯƠNG
ĐỊNH TỘI DANH ĐỐI VỚI TỘI LỢI DỤNG CÁC QUYỀN TỰ DO
DÂN CHỦ XÂM PHẠM LỢI ÍCH CỦA NHÀ NƯỚC, QUYỀN,
LỢI ÍCH HỢP PHÁP CỦA TỔ CHỨC, CÔNG DÂN
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Hà Nội – 2019
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
ĐINH THỊ LAN HƯƠNG
ĐỊNH TỘI DANH ĐỐI VỚI TỘI LỢI DỤNG CÁC QUYỀN TỰ DO
DÂN CHỦ XÂM PHẠM LỢI ÍCH CỦA NHÀ NƯỚC, QUYỀN,
LỢI ÍCH HỢP PHÁP CỦA TỔ CHỨC, CÔNG DÂN
Chuyên ngành: Luật hình sự và tố tụng hình sự
Mã số: 60 38 01 04
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học:
TS HOÀNG VĂN HÙNG
Hà Nội – 2019
Trang 3iii
MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục các từ viết tắt
Danh mục các bảng, biểu đồ
MỞ ĐẦU 1
1.Tính cấp thiết của đề tài 1
2.Tình hình nghiên cứu 2
3 Mục đích, nhiệm vụ, đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài 3
4.Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu 5
5.Ý nghĩa khoa học và những đóng góp của luận văn 5
6.Bố cục luận văn 6
Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ ĐỊNH TỘI DANH ĐỐI VỚI TỘI LỢI DỤNG CÁC QUYỀN TỰ DO DÂN CHỦ XÂM PHẠM LỢI ÍCH CỦA NHÀ NƯỚC, QUYỀN, LỢI ÍCH HỢP PHÁP CỦA TỔ CHỨC, CÔNG DÂN 8
1.1 Khái niệm tội lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân 8
1.1.1 Khái niệm tự do, dân chủ và quyền tự do, dân chủ 8
1.1.2 Khái niệm, đặc điểm của tội lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân 14
1.2 Khái niệm định tội danh đối với tội lợi dụng quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân 18
1.2.1 Khái niệm định tội danh trong luật hình sự Việt Nam 18
Trang 4iv
1.2.2 Khái niệm, đặc điểm định tội danh đối với tội lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức,
công dân 21
1.3 Khái quát lịch sử pháp luật hình sự Việt Nam về định tội danh đối với tội lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân 25
1.3.1 Giai đoạn từ thời kỳ nhà nước phong kiến đến năm 1945 25
1.3.2 Quá trình từ năm 1945 đến nay 27
Kết luận Chương 1 33
Chương 2: CƠ SỞ PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM VỀ ĐỊNH TỘI DANH ĐỐI VỚI TỘI LỢI DỤNG CÁC QUYỀN TỰ DO DÂN CHỦ XÂM PHẠM LỢI ÍCH CỦA NHÀ NƯỚC, QUYỀN, LỢI ÍCH HỢP PHÁP CỦA TỔ CHỨC, CÔNG DÂN 34
2.1 Cơ sở khoa học của định tội danh đối với tội lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân 34
2.1.1 Khách thể của tội phạm 34
2.1.2 Mặt khách quan của tội phạm 37
2.1.3 Mặt chủ quan của tội phạm 42
2.1.4 Chủ thể của tội phạm 44
2.2 Cơ sở pháp lý của định tội danh đối với tội lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân 46
2.2.1 Cơ sở pháp lý về nội dung 47
2.2.2 Cơ sở pháp lý về hình thức 50
Trang 5v
2.3 Chính sách hình sự đối với tội lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân
52
Kết luận Chương 2 56
Chương 3: THỰC TIỄN ĐỊNH TỘI DANH ĐỐI VỚI TỘI LỢI DỤNG CÁC QUYỀN TỰ DO DÂN CHỦ XÂM PHẠM LỢI ÍCH CỦA NHÀ NƯỚC, QUYỀN, LỢI ÍCH HỢP PHÁP CỦA TỔ CHỨC, CÔNG DÂN 58 3.1 Tình hình định tội danh đối với tội lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân 58
3.1.1 Kết quả đạt được 58
3.1.2 Một số tồn tại, hạn chế và nguyên nhân 67
3.2 Giải pháp bảo đảm đúng định tội danh đối với tội lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân 70
3.2.1 Giải pháp hoàn thiện pháp luật 71
3.2.2 Một số giải pháp bảo đảm đúng định tội danh 74
Kết luận Chương 3 78
KẾT LUẬN 80
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 82
Trang 6UBND : Ủy ban nhân dân
VKSNDTC : Viện kiểm sát nhân dân tối cao XHCN
CTTP
: Xã hội chủ nghĩa : Cấu thành tội phạm
Trang 7vii
DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 3.1 Tổng số vụ án/bị can bị đưa ra xét xử sơ thẩm
từ năm 2012 đến năm 2016 theo số liệu thống
kê của Tòa án nhân dân tối cao
60
Bảng 3.2 Tổng hợp hình phạt áp dụng trong các bản án
đã xét xử tội lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân từ năm 2012 đến năm 2016
63
Trang 81
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Tội phạm là chế định quan trọng và chủ yếu của luật hình sự Nội dung của khái niệm tội phạm đã “thể hiện một cách rõ nét bản chất giai cấp, các đặc điểm chính trị xã hội cũng như những đặc điểm pháp lí của luật hình sự” Đồng thời nó còn “được xem như là điều kiện cần thiết có tính nguyên tắc để giới hạn giữa tội phạm và không phải là tội phạm, giữa trách nhiệm hình sự và những trách nhiệm pháp lí khác…”
BLHS năm 1999 được Quốc hội nước Cộng hòa XHCN Việt Nam thông qua ngày 21-12-1999 Tuy nhiên các điều, khoản của Bộ luật này dựa trên cơ sở pháp điển hóa các văn bản pháp luật hình sự từ trước đến thời điểm
đó, trong đó có BLHS năm 1985 Điều này cũng có nghĩa, BLHS năm 1999
đã đáp ứng đòi hỏi của thực tiễn trong tình hình mới, đặc biệt là trong bối cảnh cuộc “chiến tranh lạnh” đã kết thúc, các thế lực thù địch đẩy tới chiến lược “Diễn biến hòa bình” đối với các nước đi theo con đường XHCN, trong
đó có nước ta
Trong những năm qua, các tổ chức chính trị thù địch đã tăng cường các thủ đoạn tuyên truyền xuyên tạc, tạo dựng dư luận quốc tế cô lập Việt Nam Tương tự như “kẻ tung, người hứng”, ở trong nước người ta thúc đẩy các lực lượng chống đối, các trang mạng tự xưng là “chiến sỹ” đấu tranh cho “dân chủ” và “nhân quyền”, phá hoại sự ổn định chính trị ở Việt Nam Về hình thức, tuy các lực lượng chống phá có khác nhau, song về nội dung chủ yếu vẫn là cường điệu hóa những sai lầm, khuyết điểm của Đảng và Nhà nước ta trong quá khứ, những khó khăn trên lĩnh vực kinh tế, xã hội, tình trạng quan liêu, tham nhũng, sự suy thoái của một bộ phận cán bộ, đảng viên
Những năm gần đây người ta còn trắng trợn đòi Nhà nước ta phải hủy
bỏ nhiều điều luật quan trọng liên quan đến các tội phạm an ninh quốc gia, trật
Trang 92
tự công cộng trong BLHS Trong những đòi hỏi đó có Điều 88 (về tội Tuyên truyền chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam), Điều 79 (tội Hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân), Điều 258 (tội Lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân)
Mặc dù tỷ lệ các vụ án lợi dụng quyền khiếu nại tố cáo, quyền tự do báo chí xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân trên tổng số các vụ án hình sự được đưa xét xử hăng năm rất thấp song do tính chất nhạy cảm nên được dư luận trong và ngoài nước đặc biệt quan tâm Các thế lực thù địch và một số phần tử chống đối cũng lợi dụng vấn
đề này để vu cáo Nhà nước ta vi phạm dân chủ, nhân quyền
Nhận thức được tầm quan trọng cũng như yêu cầu cấp thiết của xã hội
về vấn đề này, tác giả lựa chọn đề tài “Định tội danh đối với tội lợi dụng các
quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân” làm luận văn thạc sĩ luật học
2 Tình hình nghiên cứu
Nghiên cứu những vấn đề liên quan đến việc định tội danh đối với tội lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân đã được một số nhà khoa học và cán bộ làm công tác thực tiễn tiến hành, công bố trong nhiều công trình khoa học Có một luận văn thạc sỹ và một số giáo trình giảng dạy, sách bình luận BLHS đã nghiên cứu về những vấn đề này Cụ thể như sau:
Về tài liệu nghiên cứu là sách giáo trình, sách chuyên khảo, gồm có: Giáo trình Luật hình sự Việt Nam (Tập II), do GS.TS Nguyễn Ngọc Hòa
chủ biên, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, 2010; Giáo trình Luật hình sự
Việt Nam (Phần các tội phạm), của Khoa Luật trực thuộc Đại học Quốc gia
Hà Nội, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, năm 2003; Giáo trình Luật hình sự
Trang 103
Việt Nam, (Phần các tội phạm) của TS Cao Thị Oanh (chủ biên), Nxb Giáo
dục, năm 2010; Bình luận các tội phạm cụ thể của Bộ luật Hình sự năm
1999, do TS Uông Chu Lưu chủ biên, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội,
2003; Bình luận các tội phạm cụ thể của Bộ luật Hình sự năm 1999, tập
VIII, của tác giả Đinh Văn Quế, Nxb Đại học quốc gia Thành phố HồChí
Minh, Thành phố Hồ Chí Minh, 2010; TS Cao Đức Thái, Điều 258 BLHS
năm 1999 và chính sách hình sự của Nhà nước Cộng hòa XHCN ViệtNam,
Tạp chí Nội chính, số 5/2014; v.v
Tài liệu nghiên cứu dưới góc độ là luận văn, luận án, gồm có "Tội lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân trong luật hình sự Việt Nam" của
tác giả Bùi Xuân Hạ, năm 2015
Tuy nhiên, các công trình đã nêu trên chỉ nghiên cứu riêng rẽ qua việc tranh luận tội danh để áp dụng giữa tội phạmnày với tội phạm khác hay chỉ đề cập phân tích chung trong các chương giáo trình, sách tham khảo, khóa luận tốt nghiệp mà chưa có một công trình khoa học nào ở cấp
độ một luận văn thạc sĩ giải quyết riêng rẽ và độc lập việc định tội danh đối với tội lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân để qua đó đưa ra những giải pháp định tội danh, cũng như để đưa ra giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng các qui định trong việc phòng, chống tội phạm này trong thực tiễn Tính cấp thiết và ý nghĩa khoa học thực tiễn của luận văn hoàn toàn có tính thời sự, nhất là trong giai đoạn hiện nay tình hình các loại tội phạm nói chung diễn biến phức tạp, hành vi thực hiện tội phạm ngày càng tinh vi
3 Mục đích, nhiệm vụ, đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
Mục đích của đề tài: Mục đích nghiên cứu của luận văn là trên cơ sở
sáng tỏ những vấn đề lý luận và thực tiễn về việc định tội danh đối với tội
Trang 114
lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân, chỉ ra những khó khăn, vướng mắc trong quá trình áp dụng pháp luật, từ đó đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả áp dụng quy định BLHS Việt Nam đối với tội phạm này
Để đạt được mục tiêu trên, một số nhiệm vụ mà tác giả đặt ra trong luận văn bao gồm:
Về mặt lý luận: trên cơ sở nghiên cứu lịch sử hình thành và phát triển
của tội lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân trong sự phát triển chung của pháp luật hình sự, làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận chung về tội phạm này, qua đó xây dựng mô hình lý luận và rút ra ý nghĩa của việc ghi nhận tội lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân trong luật hình sự Việt Nam
Về mặt thực tiễn: từ việc nghiên cứu, phân tích, đánh giá thực tiễn
xét xử về việc định tội danh đối với tội lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân, luận văn đề xuất hoàn thiện pháp luật và các giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng quy định BLHS về tội phạm này
Đối tượng nghiên cứu của luận văn đúng như tên gọi của nó: Định
tội danh đối với tội lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân
Phạm vi nghiên cứu của đề tài: Luận văn nghiên cứu vấn đề định tội
danh đối với tội lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân
Trang 125
4 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Luận văn thực hiện trên cơ sở luận điểm của Triết học Mác – Lê Nin
về chủ nghĩa duy vật lịch sử và duy vật biện chứng Mac–xit, tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp luật, quan điểm của Đảng và Nhà nước ta
về xây dựng Nhà nước pháp quyền, về chính sách hình sự, về vấn đề cải cách tư pháp được thể hiện trong các Nghị quyết Đại hội Đảng VIII, IX, X
và các Nghị quyết số 08 – NQ/TW ngày 02/01/2002, Nghị quyết số 49 – NQ/TW ngày 26/05/2005 về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 của
Bộ Chính trị
Trong quá trình nghiên cứu đề tài, tác giả luận văn đã sử dụng các phương pháp cụ thể và đặc thù của Khoa học luật hình sự như: sử dụng phương pháp nghiên cứu phân tích, phương pháp tổng hợp, phương pháp
so sánh và phương pháp lịch sử
5 Ý nghĩa khoa học và những đóng góp của luận văn
Kết quả nghiên cứu và những đề xuất được nêu trong luận văn, có ý nghĩa lý luận và thực tiễn trong việc nâng cao hiệu quả đấu tranh phòng ngừa tội lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân và áp dụng các quy định của pháp luật hình sự trong thực tiễn xét xử trên địa bàn cả nước
Những giải pháp đề cập trong đề tài luận văn giúp các cơ quan có thẩm quyền xem xét, nghiên cứu áp dụng góp phần nâng cao hiệu quả công tác đấu tranh phòng ngừa tội lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân
Luận văn là công trình khoa học ở cấp độ luận văn thạc sĩ luật học nghiên cứu tương đối toàn diện, hệ thống về định tội danh đối với tội lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân trên cả phương diện lý luận và thực tiễn trên địa bàn cả nước
Trang 13- Phân tích, đánh giá đúng thực tiễn việc định tội danh đối với tội lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân; phân tích, làm rõ những hạn chế, tồn tại về khía cạnh này trong thực tiễn xét xử tội lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân và nguyên nhân của nó
- Đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả
áp dụng quy định của bộ luật hình sự Việt Nam hiện hành về định tội danh đối với tội lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân
Luận văn có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo cho cán bộ làm công tác nghiên cứu, giảng dạy về khoa học pháp lý nói chung, khoa học luật hình sự, tội phạm học nói riêng và các cán bộ thực tiễn đang công tác tại các cơ quan bảo vệ pháp luật
6 Bố cục luận văn
Luận văn bao gồm 3 chương được triển khai theo hướng sau:
Chương 1: Một số vấn đề chung về định tội danh đối với tội lợi dụng
các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân
Trang 147
Chương 2: Cơ sở pháp luật hình sự về định tội danh đối với tội lợi
dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân
Chương 3: Thực tiễn định tội danh đối với tội lợi dụng các quyền tự
do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân
Trang 158
Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ ĐỊNH TỘI DANH ĐỐI VỚI TỘI LỢI DỤNG CÁC QUYỀN TỰ DO DÂN CHỦ XÂM PHẠM LỢI ÍCH CỦA NHÀ NƯỚC, QUYỀN, LỢI ÍCH
HỢP PHÁP CỦA TỔ CHỨC, CÔNG DÂN
1.1 Khái niệm tội lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân
1.1.1 Khái niệm tự do, dân chủ và quyền tự do, dân chủ
Từ xưa đến nay, tự do luôn là một khái niệm bí ẩn và trừu tượng đối với con người Đúng như tên gọi, tự do không chịu khuôn mình vào bất kỳ chiếc khung nào, ngay cả trong những nỗ lực của các nhà triết học, các nhà khoa học ở mọi thời đại nhằm mô tả và lý giải khái niệm tự do
Tự do, theo cách hiểu thông thường của nhiều người, đó là quyền (của một cá nhân) được làm điều mình muốn mà không phải chịu một sự cưỡng ép hay bị ràng buộc bởi một mệnh lệnh nào Tự do là một giá trị mà con người luôn hằng kiếm tìm, chinh phục
Tự do gần như xuất hiện trong ngôn ngữ của tất cả dân tộc trên thế giới
Ví dụ, tự do được viết là ελευθερία trong tiếng Hy Lạp hay trong tiếng Anh tự
do được viết là liberty Từ điển tiếng Việt thì từ "tự do" có thể được sử dụng
theo hai cách: tự do với ý nghĩa là một danh từ và tự do với ý nghĩa là một tính từ Ở dạng từ loại danh từ, tự do được hiểu theo ba nghĩa: 1 Là trạng thái một dân tộc, một xã hội và các thành viên không bị cấm đoán, hạn chế vô lý trong các hoạt động chính trị - xã hội; 2 Là trạng thái không bị giam cầm hoặc không
bị làm nô lệ; 3 Là trạng thái không bị cấm đoán, hạn chế vô lý trong việc làm nào đó Ở dạng từ loại tính từ, tự do được hiểu theo bốn nghĩa: 1 Có các quyền
tự do về xã hội – chính trị; 2 Không bị lực lượng ngoại xâm chiếm đóng; 3 Không bị cấm đoán, hạn chế vô lí trong hoạt động cụ thể nào đó; 4 Không có những sự ràng buộc, hạn chế về những mặt nào đó, đối lập với những trường hợp thông thường khác [21, tr 876]
Trang 169
Còn trong Triết học, một trong những cách hiểu được thừa nhận rộng rãi nhất về tự do là khái niệm của Locke: “Tự do là khả năng con người có thể làm bất cứ điều gì mà mình mong muốn mà không gặp bất kỳ cản trở nào” [35, tr.18] Theo đó, tự do là quyền, là khả năng của con người được biểu hiện bởi sự làm chủ trong suy nghĩ, hành động của mình mà không bị trói buộc, kìm hãm Như vậy, tự do thể hiện, hành động theo mong muốn của bản thân mình nhưng phải trên cơ sở nhận thức và tôn trọng cái tất yếu
- các quy luật tự nhiên, xã hội Do đó, tự do là khả năng của con người biểu hiện ý chí và hành động theo ý muốn của mình mà không ngăn cấm, cản trở, ràng buộc
Từ định nghĩa của từ điển Tiếng Việt có thể khái quát nên một khái
niệm về tự do như sau: Tự do là một trạng thái tồn tại của con người mà
không bị sự ép buộc, cấm đoán, có cơ hội để lựa chọn và hành động theo đúng với ý chí nguyện vọng của chính mình [36, tr 15]
Thường xuyên được nhắc tới cùng với tự do là khái niệm dân chủ Trong Từđiển tiếng Việt, dân chủ được giải thích là "chế độ dân chủ hoặc quyền dân chủ" [21, tr.180] Xét trong mối quan hệ với tự do và pháp luật, muốn có dân chủ thực sự, thì dân chủ phải đặt trong mối quan hệ với
tự do và pháp luật Theo đó, pháp luật là đại lượng, động lực thúc đẩy và phát triển và là phương tiện của dân chủ Pháp luật còn là điều kiện, là bảo đảm của dân chủ Đến lượt mình, dân chủ lại làm cho pháp luật phát triển
và trở nên công bằng hơn, hoàn thiện hơn cũng như bảo vệ vững chắc các quyền và tự do của con người hơn Dân chủ nếu được xem xét với tư cách
là quyền dân chủ, tự do được xem với tư cách là quyền tự do lúc này các quyền tự do dân chủ chính là các quyền con người và là sự cụ thể hóa quyền con người trong pháp luật
Ở Việt Nam, tư tưởng này được thể hiện ngay tại Điều 2 Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam như sau:
Trang 1710
1 Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân
2 Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam do Nhân dân làm chủ; tất cả quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân
và đội ngũ trí thức [15]
Theo tác giả Trịnh Tiến Việt trong sách Các tội xâm phạm quyền tự
do, dân chủ của công dân theo luật hình sự Việt Nam thì:
Ngày nay, dân chủ không chỉ là mục tiêu phấn đấu của con người, là một vấn đề được tất cả các quốc gia trên thế giới nói chung
và Việt Nam nói riêng quan tâm, mà còn coi đó là một trong những giá trị có ý nghĩa rất quan trọng đối với sự phát triển của xã hội nói chung và pháp luật xã hội chủ nghĩa nói riêng [34, tr.58]
Dân chủ không chỉ đơn thuần là một loạt thể chế quản lý cụ thể Dân chủ dựa trên nhóm giá trị, quan điểm và thực tiễn đã được nhận thức rõ Tất cả các giá trị, quan điểm và thực tiễn đó được thể hiện dưới những hình thức khác nhau tùy theo nền văn hóa và các xã hội trên thế giới
Những đặc điểm dân chủ cơ bản như sau:
• Dân chủ là hình thức chính phủ trong đó quyền lực và trách nhiệm công dân do công dân trưởng thành trực tiếp thực hiện hoặc thông qua các đại diện của họ được bầu lên một cách tự do
• Dân chủ dựa trên các nguyên tắc đa số cai trị và các quyền cá nhân Các nền dân chủ chống lại các chính phủ trung ương tập quyền và phi tập trung hóa chính quyền ở cấp khu vực và địa phương, với nhận thức rằng tất cả các cấp độ chính quyền đều phải được tiếp cận và phải đáp ứng người dân khi có thể
Trang 1811
• Các nền dân chủ nhận thức rằng một trong những chức năng chính của họ là bảo vệ các quyền con người cơ bản như tự do ngôn luận và tự do tôn giáo; quyền được pháp luật bảo vệ bình đẳng và cơ hội được tổ chức và tham gia đầy đủ vào đời sống kinh tế, chính trị và văn hóa của xã hội
• Các nền dân chủ thường xuyên tổ chức các cuộc bầu cử tự do và công bằng cho công dân ở độ tuổi bầu cử tham gia
• Công dân ở một nền dân chủ không chỉ có các quyền, mà còn có trách nhiệm tham gia hệ thống chính trị Đổi lại, hệ thống chính trị đó bảo vệ các quyền lợi và sự tự do của họ
• Các xã hội dân chủ cam kết với các giá trị khoan dung, hợp tác và thỏa hiệp Theo lời của Mahatma Gandhi: “Không khoan dung là biểu hiện của tình trạng bạo lực và cản trở phát triển tinh thần dân chủ thực sự”
Có hai loại hình dân chủ cơ bản, đó là dân chủ trực tiếp và dân chủ đại diện Trong nền dân chủ trực tiếp, công dân có thể tham gia quyết định công việc chung mà không có sự can thiệp của các quan chức được bầu lên hoặc được bổ nhiệm Hình thức thứ hai của dân chủ là dân chủ đại diện Trái ngược với hình thức dân chủ trực tiếp, ở nền dân chủ đại diện, công dân bầu lên các quan chức để đưa ra các quyết định chính trị, xây dựng luật
và điều hành các chương trình vì lợi ích chung
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tiếp thu những tư tưởng dân chủ tiên tiến
và đã áp dụng thành công ở Việt Nam Người khẳng định: "Nước ta là nước dân chủ, địa vị cao nhất là dân, vì dân là chủ" [37, tr.515] Và: "Bao nhiêu quyền lực là của nhân dân"; "Chúng ta hiểu rằng, các cơ quan của Chính phủ từ toàn quốc cho đến các làng, đều là công bộc của dân, nghĩa là để gánh việc chung cho dân, chứ không phải để đè đầu dân như trong thời kỳ dưới quyền thống trị của Pháp, Nhật" [38, tr.56]
Trang 19Và tại Ðiều 6 ghi nhận "Nhân dân thực hiện quyền lực nhà nước bằng các hình thức dân chủ trực tiếp, dân chủ đại diện thông qua Quốc hội, Hội đồng nhân dân và thông qua các cơ quan khác của Nhà nước"
Từ những luận điểm nói trên có thể khái quát thành khái niệm dân
chủ như sau: “Dân chủ là một chế độ xã hội mà dân làm chủ, dân là gốc
của quyền lực nhà nước, mọi hoạt động của cơ quan nhà nước phải xuất phát từ ý chí, ý nguyện của nhân dân và phục vụ lợi ích của nhân dân.”
Tự do và dân chủ thường được dùng thay thế cho nhau Thực ra hai khái niệm này không đồng nghĩa Dân chủ không chỉ là một loạt ý tưởng và các nguyên tắc về tự do, mà còn bao hàm cả những thực tiễn và các tiến trình đã được hình thành trong suốt chiều dài lịch sử vốn phức tạp Dân chủ
là sự thể chế hóa tự do
Quyền tự do, dân chủ là một bộ phận của quyền con người được ghi nhận trong Hiến pháp và trong các luật liên quan Quyền tự do, dân chủ cần phải được quy định trong Hiến pháp - văn bản pháp luật có hiệu lực pháp lý cao nhất, vì đây là các quyền liên quan đến con người và để bảo đảm sự thống nhất trong việc áp dụng Đây đồng thời là chế định pháp lý cơ bản, xác định địa vị pháp lý của công dân trong mối quan hệ với Nhà nước và xã hội, là cơ sở để xác định các quyền và nghĩa vụ khác của công dân ở mọi cấp độ và trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội
Ở Việt Nam, từ khi thành lập cho đến nay, Nhà nước luôn luôn tôn trọng các quyền tự do, dân chủ của công dân và coi đó là một trong những
Trang 2013
nguyên tắc xây dựng pháp luật của Nhà nước Việc đề cao các quyền tự do
cơ bản của công dân xuất phát từ mục đích hoạt động của Nhà nước ta luôn vì con người, đề cao nhân tố con người trong quá trình xây dựng và phát triển Nhà nước và xã hội Đặc biệt, hiện nay, nước ta đang trong quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa mà một trong những nội dung quan trọng của Nhà nước pháp quyền là khẳng định cội nguồn quyền lực nhà nước là ở nhân dân, trong đó nhà nước là của nhân dân
Hiến pháp nước ta dành một chương riêng (Chương II) quy định các quyền con người, quyền công dân, trong đó có các quyền liên quan đến tự
do dân chủ của công dân Các quyền này trực tiếp chỉ ra đối tượng tự do dân chủ của công dân Công dân có quyền bầu cử, ứng cử (Điều 54), quyền tham gia trưng cầu ý dân của (Điều 53); quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, quyền được thông tin (Điều 69), quyền lập hội của công dân (Điều 69), quyền hội họp, biểu tình (Điều 69); quyền tham gia quản lý nhà nước và xã hội, tham gia thảo luận các vấn đề chung của cả nước và địa phương, kiến nghị với cơ quan Nhà nước (Điều 53), quyền khiếu nại, quyền tố cáo của công dân (Điều 74) Các quyền trên của công dân không biệt lập mà gắn liền với việc việc ghi nhận đồng thời các quyền khác của công dân có tính chất bổ trợ hoặc chỉ rõ tính chất của quyền như: “Mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật” (Điều 52), “Công dân nữ và nam có quyền ngang nhau về mọi mặt chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội và gia đình (Điều 3),
“Công dân có quyền tự do đi lại và cư trú ở trong nước, có quyền ra nước ngoài và từ nước ngoài về nước theo quy định của pháp luật” (Điều 68)…
Từ sự phân tích nêu trên, có thể đưa ra khái niệm về tự do, dân chủ
và quyền tự do, dân chủ như sau:
Tự do là một trạng thái tồn tại của con người mà không bị sự ép buộc, cấm đoán, có cơ hội để lựa chọn và hành động theo đúng với ý chí nguyện vọng của chính mình
Trang 2114
Dân chủ là một chế độ xã hội mà dân làm chủ, dân là gốc của quyền lực nhà nước, mọi hoạt động của cơ quan nhà nước phải xuất phát từ ý chí,
ý nguyện của nhân dân và phục vụ lợi ích của nhân dân
Quyền tự do dân chủ của công dân là quyền làm chủ của người dân đối với Nhà nước, xã hội; quyền làm chủ suy nghĩ, hành động của bản thân mình trên cơ sở tôn trọng lợi ích chung và trật tự của cộng đồng, của xã hội Là các quyền con người nên quyền tự do dân chủ chỉ thực sự có ý nghĩa trên thực tế khi nó được thừa nhận và bảo hộ bởi Nhà nước
1.1.2 Khái niệm, đặc điểm của tội lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân
Hiện nay, chưa có một văn bản pháp luật nào quy định rõ ràng khái niệm tội lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân
Giáo trình Luật hình sự Việt Nam, Phần các tội phạm của Khoa Luật trực thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội đưa ra khái niệm về tội lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân như sau:
Theo Điều 258 Bộ luật hình sự, tội phạm này được hiểu là hành vi lợi dụng các quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do tín ngưỡng, tôn giáo, tự do hội họp, lập hội và các quyền tự do dân chủ khác xâm phạm lợi ích của Nhà nước, lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân [19, tr.630]
Giáo trình Luật hình sự Việt Nam, Tập II của Trường Đại học Luật
Hà Nội đưa ra khái niệm tương tự:
Tội lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân là hành
Trang 2215
vi lợi dụng các quyền tự do ngôn luận, tự do hội họp, lập hội và các quyền tự do dân chủ khác để xâm phạm lợi ích của Nhà nước, lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân [26, tr.262]
Từ đây có thể thấy, cả 2 quan điểm nêu trên đều dựa vào điều 258 của BLHS nên chỉ nêu ra hành vi phạm tội và khách thể của tội phạm, nhưng thiếu dấu hiệu chủ thể của tội phạm, dấu hiệu đủ tuổi chịu TNHS và
có năng lực TNHS
Trong BLHS năm 1999 không quy định cụ thể khái niệm tội lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân mà chỉ quy định khái niệm tội phạm nói chung
Tại khoản 1 Điều 8 BLHS năm 1999 quy định khái niệm tội phạm như sau:
Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hoá, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tự do, tài sản, các quyền, lợi ích hợp pháp khác của công dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa [13]
Căn cứ vào quy định của BLHS về khái niệm tội phạm nói chung, cũng như căn cứ vào các khái niệm được nêu ra kể trên, có thể rút ra một số đặc điểm của tội tội lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân như sau:
Trang 2316
Thứ nhất, tội lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích
của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân được quy định tại chương XX BLHS 1999 là một trong những tội phạm thuộc nhóm các tội xâm phạm trật tự quản lí hành chính, do đó tội này mang một số đặc điểm cơ bản của các tội phạm thuộc nhóm này Cụ thể:
- Về khách thể của tội phạm: Khách thể của nhóm tội xâm phạm trật tự quản lí hành chính nói chung và tội lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân nói riêng chính là quan hệ xã hội được hình thành thông qua trật tự quản lí, điều hành của cơ quan nhà nước trong lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội Tội xâm phạm trật tự quản lí hành chính xâm phạm trật tự quản lí, điều hành
xã hội, xâm phạm lợi ích của Nhà nước, tổ chức, công dân
- Về mặt khách quan của tội phạm: Phần lớn các tội xâm phạm quản lí hành chính có cấu thành tội phạm hình thức Điều này có nghĩa rằng mặt khách quan của nhóm tội phạm này nói chung và tội lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân nói riêng chỉ có dấu hiệu hành vi khách quan của tội phạm Hành vi khách quan của các tội xâm phạm trật tự quản lí hành chính rất đa dạng
- Về mặt chủ quan của tội phạm: Các tội xâm phạm trật tự quản lí hành chính nói chung và tội lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân nói riêng được thực hiện chủ yếu với lỗi cố ý Khi thực hiện tội phạm, người phạm tội nhận thức được tính nguy hiểm cho xã hội, tính trái pháp luật của hành vi của mình nhưng vì những động cơ cá nhân khác nhau (như vụ lợi, thù tức…) người phạm tội vẫn thực hiện tội phạm Lỗi cũng là dấu hiệu bắt buộc duy nhất trong mặt chủ quan của nhóm các tội phạm xâm phạm trật tự quản lí hành chính
Trang 2417
- Về chủ thể của tội phạm: Phần lớn các tội phạm xâm phạm trật tự quản lí hành chính, cấu thành tội phạm chỉ đòi hỏi chủ thể của tội phạm là người có năng lực trách nhiệm hình sự và đạt độ tuổi nhất định
- Về hình phạt: Các hình phạt chính của các tội phạm xâm phạm trật
tự quản lí hành chính bao gồm: cảnh cáo, cải tạo không giam giữ, phạt tiền
và tù có thời hạn Các tội phạm trong Chương này thường có 2 khung hình phạt chính với mức phạt tù cao nhất là 5 hoặc 7 năm Ngoài hình phạt chính, người phạm tội còn có thể bị áp dụng một hoặc nhiều hình phạt bổ sung sau: phạt tiền, cấm cư trú, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 1 đến 5 năm
Thứ hai, tội lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của
Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân còn có một số đặc điểm riêng để phân biệt nó với các tội phạm khác trong nhóm các tội xâm phạm trật tự quản lí hành chính nói chung cũng như các tội phạm khác nói riêng như sau:
- Hành vi khách quan của tội lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân
là lợi dụng các quyền tự do, dân chủ mà Hiến pháp và pháp luật quy định như quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do tín ngưỡng, tôn giáo và các quyền tự do khác để xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân Tuy đều là những dạng hành vi xâm phạm trật
tự quản lí hành chính nhưng người phạm tội này chỉ mang tính chất xâm hại các lợi ích hợp pháp của Nhà nước, tổ chức, cá nhân một cách đơn thuần vì mục đích cá nhân Người phạm tội có ý thức sử dụng các quyền tự
do, dân chủ được pháp luật quy định như phương tiện phạm tội
- Về đối tượng xâm hại, người phạm tội lợi dụng quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân thường hướng đến đối tượng là những thiệt hại về vật chất hoặc tinh thần của Nhà nước hoặc các tổ chức, cá nhân
Trang 2518
Từ sự phân tích nêu trên, có thể rút ra khái niệm tội lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân như sau:
Tội lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân là hành vi lợi dụng các quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do tín ngưỡng, tôn giáo, tự do hội họp, lập hội và các quyền tự do dân chủ khác được quy định trong Điều
258 BLHS Việt Nam năm 1999 do người có năng lực TNHS và đủ tuổi chịu TNHS thực hiện một cách cố ý, xâm hại lợi ích của Nhà nước, các quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân, cũng như trật tự chung của xã hội
1.2 Khái niệm định tội danh đối với tội lợi dụng quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân
1.2.1 Khái niệm định tội danh trong luật hình sự Việt Nam
Định tội danh được thực hiện ở tất cả các giai đoạn tố tụng và các cơ quan tiến hành tố tụng Tội danh là sự thể hiện có tính nền tảng và quan trọng về trách nhiệm hình sự của người thực hiện tội phạm Trên cơ sở tội danh đã xác định, các cơ quan có thẩm quyền mới tiến hành định khung và quyết định hình phạt Tội danh được xác định đúng là tiền đề cho việc phân hóa trách nhiệm hình sự, cá thể hóa hình phạt ở các bước tiếp theo (định khung hình phạt và quyết định hình phạt), nhờ đó vụ án được giải quyết chính xác, công bằng cũng như đạt được mục đích của hình phạt Hiện nay
về định tội danh còn tồn tại nhiều quan điểm khác nhau và chưa có những nghiên cứu chuyên sâu đảm bảo đúng cho việc định tội
Các học giả nước ngoài đã đưa ra nhiều nhận định khác nhau về định tội danh, có thể chỉ ra hai học giả tiêu biểu đó là Viện sĩ Kuđriavtxev VN (Liên Xô cũ) và Học giả Sliapôtrnhikôv A.C Trong khi Viện sĩ
Trang 2619
Kuđriavtxev VN cho rằng: Định tội danh là việc xác định và ghi nhận về mặt pháp lý hình sự, sự phù hợp, chính xác giữa các dấu hiệu của hành vi được thực hiện với các cấu thành tội phạm do quy phạm pháp luật hình sự quy định [1, tr.19]
Học giả Sliapôtrnhikôv A.C thì lại cho rằng: Định tội danh là một giai đoạn của hoạt động bảo vệ pháp luật do các Cơ quan điều tra, truy tố, xét xử thực hiện trên cơ sở các quy phạm pháp luật hình sự và dựa vào các tình tiết thể hiện sự nguy hiểm cho xã hội của một hành vi cụ thể để xác định dấu hiệu của cấu thành tội phạm tương ứng với hành vi đó [1, tr.20]
Khoa học luật hình sự Việt Nam cũng chưa có sự thống nhất chung
về khái niệm định tội danh Các học giả, nhà nghiên cứu chủ yếu nghiên cứu định tội danh ở góc độ áp dụng pháp luật, xác định sự phù hợp giữa hành vi xảy ra trên thực tế và các quy định của BLHS
GS.TSKH Lê Cảm đã đưa ra định nghĩa về định tội danh như sau:
Định tội danh là một quá trình nhận thức lý luận có tính logic, đồng thời là một trong những dạng của hoạt động thực tiễn
áp dụng pháp luật hình sự cũng như pháp luật tố tụng hình sự và được tiến hành bằng cách trên cơ sở các chứng cứ, tài liệu thu thập được và các tình tiết thực tế của vụ án hình sự để đối chiếu,
so sánh và kiểm tra nhằm xác định sự phù hợp giữa các dấu hiệu của hành vi nguy hiểm cho xã hội được thực hiện với các dấu hiệu của cấu thành tội phạm cụ thể tương ứng do luật hình sự quy định [17, tr.33]
PGS.TS Dương Tuyết Miên lại đưa ra quan điểm khác về khái niệm định tội danh như sau:
Định tội danh được hiểu là hoạt động thực tiễn của các cơ quan tiến hành tố tụng (Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án)
Trang 2720
và một số cơ quan khác có thẩm quyền theo quy định của pháp luật để xác định một người có phạm tội hay không, nếu phạm tội thì đó là tội gì, theo điều luật nào của BLHS hay nói cách khác đây là quá trình xác định tên tội cho hành vi nguy hiểm đã thực hiện [26, tr 9]
TS Lê Văn Đệ thông qua việc đưa ra nghiên cứu chế định nhiều tội phạm lại đưa ra định nghĩa:
“Định tội danh là việc xác định và ghi nhận về mặt pháp luật sự phù hợp chính xác giữa các dấu hiệu của hành vi phạm tội cụ thể đã được thực hiện với các dấu hiệu của cấu thành tội phạm được pháp luật hình sự quy định” [39]
Tuy nhiên dù khác nhau về các tiếp cận, phương pháp diễn đạt cũng như mục đích mà tác giả hướng tới song ở các định nghĩa về định tội danh đều thống nhất ở điểm: Định tội danh là hoạt động đối chiếu, so sánh về mặt pháp luật nhằm xác định một tội phạm xảy ra trên thực tế có tên gọi là gì theo quy định của pháp luật hình sự BLHS là nguồn duy nhất để xác định một hành vi là tội phạm cũng như các loại tội phạm theo ý chí của Nhà nước
Việc phân chia các giai đoạn trong định tội danh chỉ có tính ước lệ, bởi thực tế các hoạt động này có diễn ra đồng thời, đan xen, bổ trợ cho nhau khó có thể phân tách chính xác Người tiến hành định tội danh luôn phải nhận thức các tình tiết của vụ việc trong sự đối chiếu, so sánh với tất cả các quy định của pháp luật hình sự có liên quan đến tội phạm đó: quy định về thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự, độ tuổi, năng lực trách nhiệm hình sự, hành vi, hậu quả, lỗi Toàn bộ các quy định của BLHS về tội phạm cũng như các trường hợp loại trừ trách nhiệm hình sự tạo thành hệ quy chiếu, khuôn mẫu, làm căn cứ xem xét hành vi thực tế có là tội phạm hay không phải được người tiến hành định tội danh nắm rõ
Trang 2821
Tổng hợp các quan điểm trên đây, đồng thời nghiên cứu thực tiễn áp dụng các quy phạm pháp luật hình sự và pháp luật tố tụng hình sự liên quan đến việc định tội danh ở Việt Nam, có thể đưa ra định nghĩa khoa học khái
niệm định tội danh như sau: Định tội danh có thể được hiểu là một quá
trình nhận thức lý luận có tính logic, đồng thời là một trong những dạng của hoạt động thực tiễn áp dụng pháp luật hình sự, cũng như pháp luật tố tụng hình sự và được tiến hành bằng cách trên cơ sở các chứng cứ, các tài liệu thu thập được và các tình tiết thực tế của vụ án hình sự để đối chiếu, so sánh và kiểm tra nhằm xác định sự phù hợp giữa hành vi thực tế đã thực hiện với các cấu thành tội phạm cụ thể, tương ứng do luật hình sự quy định
[17, tr.21]
1.2.2 Khái niệm, đặc điểm định tội danh đối với tội lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân
Theo tác giả của luận văn, định tội danh đối với tội lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân là quá trình mà các cơ quan tiến hành tố tụng (Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, tòa án) thông qua các giai đoạn tiến hành
tố tụng, trên cơ sở các chứng cứ, tài liệu thu thập được và các tình tiết thực tế của vụ án hình sự để xác định sự phù hợp giữa các dấu hiệu của hành vi nguy hiểm cho xã hội được thực hiện với các dấu hiệu của cấu thành tội phạm của loại tội này được luật hình sự quy định Mục đích cuối cùng là đạt được sự thật khách quan và đưa ra sự đánh giá chính xác tội phạm về mặt pháp lý hình sự rằng "hành vi đó có phải là hành vi phạm tội lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân" hay không
Trang 2922
Như vậy, quá trình định tội danh đối với tội lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân theo tác giả của luận văn cần thỏa mãn được những vấn đề sau:
- Việc định tội danh đối với tội lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân có chủ thể định tội danh là các cơ quan tiến hành tố tụng: Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án Trong đó, Tòa án là cơ quan duy nhất có quyền định tội danh pháp lý khẳng định trách nhiệm hình sự đối với hành vi phạm tội lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân và thể hiện chính thức quan điểm của Nhà nước về hành vi phạm tội bằng một bản án kết tội có hiệu lực pháp luật
- Định tội danh đối với tội lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân phải dựa trên những quy định của BLHS về tội danh này, đây là căn cứ duy nhất để so sánh đối chiếu nhằm xác định hành vi nguy hiểm cho xã hội có phải là hành vi phạm tội lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân hay không?
- Việc xác định một hành vi nguy hiểm cho xã hội có phạm tội lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân hay không? Ngoài việc dựa trên các quy định của BLHS đối với tội này, còn phải căn cứ vào tình tiết, hồ sơ, chứng cứ của vụ án để xác định
Từ cơ sở lý luận cùng với các quy định của BLHS có thể đưa ra khái niệm định tội danh đối với tội lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân như
Trang 3023
sau: Định tội danh đối với tội lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân là hoạt động áp dụng pháp luật, trên cơ sở phân tích, đối chiếu, so sánh các tình tiết thể hiện tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội cụ thể với các quy định của pháp luật hình sự, các yếu tố cấu thành tội phạm, tùy thuộc vào từng giai đoạn tố tụng hình sự mà Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án xác định được tên gọi của tội phạm, căn cứ vào những đặc điểm nhân thân người phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình
sự của họ để Tòa án đưa ra loại và mức hình phạt tương xứng được quy
có thể tiến hành được việc quyết định hình phạt
Do đó, định tội danh đối với tội lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân có các đặc điểm sau:
Thứ nhất, định tội danh đối với tội lợi dụng các quyền tự do dân chủ
xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân là một quá trình nhận thức lý luận có tính logic được thể hiện dưới hai khía cạnh: Xác định xem các dấu hiệu của hành vi nguy hiểm cho xã hội được thực hiện có phù hợp với các dấu hiệu của CTTP cụ thể do điều tương ứng trong phần các tội phạm của BLHS này hay không Trên cơ sở đó, đưa
ra sự đánh giá nhất định về mặt pháp lý hình sự đối với một hành vi nguy hiểm cho xã hội cụ thể đã xảy ra trong thực tế khách quan
Trang 3124
Về nguyên tắc, chỉ khi sự đối chiếu giữa các dấu hiệu thực tế của CTTP với các dấu hiệu pháp lý của CTTP được xác định là tương ứng và phù hợp với nhau thì mới có thể kết luận được chính xác tội phạm đã xảy ra
có phải là tội lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân hay không và người phạm tội đã phạm vào tội này hay chưa, đồng thời buộc họ chịu trách nhiệm về hành vi phạm tội mà họ đã thực hiện
Thứ hai, định tội danh đối với tội lợi dụng các quyền tự do dân chủ
xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân còn được hiểu là một hình thức hoạt động tiến hành tố tụng được tiến hành bởi cơ quan tiến hành tố tụng (Cơ quan điều tra, Viện Kiểm sát và Toà án) và một số cơ quan khác có thẩm quyền để cụ thể hóa các quy phạm pháp luật hình sự trừu tượng vào đời sống thực tế, tức là lựa chọn đúng quy phạm pháp luật hình sự để áp dụng đối với hành vi nguy hiểm cho xã hội cụ thể nào đó được thực hiện trong thực tế khách quan và từ đó đưa ra kết luận là hành vi được xem xét ấy có đầy đủ các dấu hiệu của tội phạm này được quy định trong pháp luật hình sự thực định hay không
Thứ ba, việc thiết lập các dấu hiệu đặc trưng cơ bản và điển hình để
xác định bản chất pháp lý của hành vi nguy hiểm cho xã hội được thực hiện trong thực tế khách quan là một vấn đề rất quan trọng của quá trình định tội danh đối với tội lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân, mà toàn bộ quá trình này phải tuân thủ nghiêm chỉnh các quy phạm của luật nội dung - được quy định trong BLHS hiện hành, cũng như của luật hình thức - được quy định trong BLTTHS
Trang 3225
Thứ tư, với tính chất là hoạt động thực tiễn áp dụng pháp luật hình
sự, việc định tội danh đối với tội lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân được tiến hành về cơ bản theo bốn bước cụ thể:
- Xem xét và thiết lập đúng các tình tiết thực tế của vụ án đã xảy ra trong sự phù hợp với hiện thực khách quan và các quy định của pháp luật đối với tội lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân
- Nhận thức một cách thống nhất và chính xác nội dung các quy phạm pháp luật hình sự đang có hiệu lực thi hành
- Lựa chọn đúng điều luật tương ứng trong phần các tội phạm của BLHS quy định trách nhiệm hình sự đối với tội lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân, để so sánh, đối chiếu và kiểm tra các dấu hiệu CTTP này với các tình tiết cụ thể của hành vi nguy hiểm cho xã hội đã được thực hiện
-Sau khi đã so sánh, đối chiếu, kiểm tra đầy đủ, chính xác thì ra một văn bản áp dụng pháp luật mà trong đó đưa ra kết luận có căn cứ và đảm bảo sức thuyết phục về sự phù hợp của hành vi thực tế đã được thực hiện với cấu thành tội lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân được quy định tại điều 258 BLHS Việt Nam năm 1999
1.3 Khái quát lịch sử pháp luật hình sự Việt Nam về định tội danh đối với tội lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân
1.3.1 Giai đoạn từ thời kỳ nhà nước phong kiến đến trước năm
1945
Trong xã hội có giai cấp và đấu tranh giai cấp, pháp luật là ý chí, là quyền lực của các thế lực, giai cấp thống trị được cụ thể hoá, thể chế hoá bằng luật Vì vậy, pháp luật là một trong những biện pháp hữu hiệu nhất để
Trang 3326
ràng buộc, bắt buộc mọi người, mọi giai cấp khác phải tuân thủ, phục tùng tuyệt đối, vô điều kiện ý chí, quyền lực của thế lực, giai cấp thống trị Đồng thời, pháp luật cũng còn là một trong những công cụ chủ yếu nhất, quan trọng nhất của giai cấp thống trị nhằm duy trì, bảo vệ địa vị thống trị và những quyền lợi ích kỷ của chúng
Thời phong kiến, Nhà nước Việt Nam được xây dựng theo mô hình quân chủ chuyên chế trung ương tập quyền như hầu hết các quốc gia phương Đông khác Nguyên tắc bao trùm, chi phối trong tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước Việt Nam thời bấy giờ là tập trung thống nhất quyền lực vào một cá nhân - Hoàng đế, tăng cường sự quản lý, giám sát chặt chẽ của nhà nước trung ương đối với tất cả các địa phương, quan lại các cấp Chính vì thế, quan hệ giữa người dân với Nhà nước là mối quan hệ bất bình đẳng Người dân phải phục tùng tuyệt đối theo ý chí của giai cấp thống trị, không hề có quyền tự do dân chủ Do đó, tội lợi dụng các quyền
tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của
tổ chức, công dân không hề xuất hiện trong lịch sử pháp luật Việt Nam thời phong kiến
Tuy nhiên, mặc dù không có sự hiện hữu trong luật thực định nhưng ở một số bộ luật vẫn có những điều luật có nhiều nội dung tương tự với nội dung cấu thành của tội lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân Cụ thể, Điều
45 Chương Đấu tụng của Quốc triều Hình luật quy định:
Kẻ làm đơn từ kiện cáo mà phỉ báng quan ty, thì xử biếm một tư; phỉ báng quan tể tướng đến mức gây nguy hại thì xử tội đồ làm chủng điền binh; không thậm tệ thì xử biếm ba tư; phỉ báng đến chính sự đương thời, thì xử tội như là tội gửi thư giấu tên chê bai chính sự đương thời [32, tr.184]
Trang 3427
Nội dung của Điều 45 Chương Đấu tụng đề cập đến sự việc người phạm tội lợi dụng việc khiếu nại, kiện cáo mà xúc phạm quan trên Hành vi nào có thể được liên tưởng tới hành vi lợi dụng quyền khiếu nại, tố cáo trong
"các quyền tự do, dân chủ khác" mà Điều 258 BLHS hiện hành nhắc tới
Từ điều luật của Quốc triều Hình luật nêu trên, có thể thấy:
- Hành vi lợi dụng những việc làm bình thường, hợp pháp, biến chúng thành vỏ bọc để thực hiện một âm mưu, ý đồ hay toan tính cá nhân nào đó đã xuất hiện từ nhiều thế kỷ trước trong lịch sử Việt Nam
- Việc quy định những hành vi nói trên là tội phạm đã có sự phân biệt các trường hợp phạm tội khác nhau; các chế tài hình sự xử lý những hành vi đó cũng thể hiện nguyên tắc phân hóa tội phạm rõ ràng
- Cách quy định của luật hình sự phong kiến về các tội phạm trên là tương đối cụ thể, rõ ràng, dễ hiểu và dễ áp dụng
Những điều trên có thể là bài học kinh nghiệm cho các nhà lập pháp hình
sự hiện hành trong việc hoàn thiện quy định của Điều 258 BLHS hiện hành
1.3.2 Giai đoạn từ năm 1945 đến nay
Quyền tự do, dân chủ là một bộ phận của quyền con người được ghi nhận trong Hiến pháp và trong các luật liên quan Quyền tự do, dân chủ cần phải được quy định trong Hiến pháp - văn bản pháp luật có hiệu lực pháp lý cao nhất, vì đây là các quyền liên quan đến con người và để bảo đảm sự thống nhất trong việc áp dụng Đây đồng thời là chế định pháp lý cơ bản, xác định địa vị pháp lý của công dân trong mối quan hệ với Nhà nước và xã hội, là cơ sở để xác định các quyền và nghĩa vụ khác của công dân ở mọi cấp độ và trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội Chính vì thế, quá trình hình thành quy định về tội lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi
Trang 3528
ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân từ năm
1945 đến nay gắn liền với việc ghi nhận và cụ thể hóa quyền con người, quyền công dân
Mặc dù có rất nhiều quyền tự do dân chủ của cá nhân có thể xâm hại nhưng khi xây dựng điều luật quy định về tội lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân, các nhà làm luật lại sử dụng phương pháp liệt kê hành vi Điều
đó chứng tỏ mức độ của các hành vi lợi dụng quyền tự do, dân chủ này là tiêu biểu nhất trên thực tế Đó là bốn hành vi sau:
• Lợi dụng quyền tự do ngôn luận xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân;
• Lợi dụng quyền tự do báo chí xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân
• Lợi dụng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân
• Lợi dụng quyền tự do hội họp, lập hội xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân
Quay ngược trở lại lịch sử, trước lần pháp điển hóa thứ nhất, các hành vi lợi dụng quyền tự do dân chủ trên được quy định phân tán trong nhiều văn bản pháp luật khác nhau
Chẳng hạn, Sắc lệnh số 282/SL ngày 14/12/1956 kèm theo luật về chế độ báo chí có quy định:
Để quyền tự do ngôn luận trên báo chí được sử dụng một cách đúng đắn, báo chí phải tuân theo những điều sau đây: a) Không được tuyên truyền chống pháp luật của nhà nước Không được cổ động nhân dân không thi hành hoặc chống lại những luật lệ và những đường lối chính sách của Nhà nước
Trang 3629
Không được viết bài có tính chất chống lại chế độ dân chủ nhân dân, chống lại chính quyền nhân dân, chia rẽ nhân dân và chính quyền, nhân dân và bộ đội, không được gây ra những dư luận hoặc những hành động có hại cho an ninh trật tự xã hội
b) Không được tuyên truyền phá hoại sự nghiệp củng cố hòa bình, thực hiện thống nhất, hoàn thành độc lập và dân chủ của nước Việt Nam, làm giảm sút tinh thần đoàn kết, ý chí phấn đấu của nhân dân và bộ đội
c) Không được tuyên truyền chia rẽ dân tộc, gây thù hằn giữa nhân dân các nước, làm tổn hại tình hữu nghị giữa nhân dân
ta với nhân dân các nước bạn, không được tuyên truyền cho chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi, không được tuyên truyền cho chủ nghĩa đế quốc, không được tuyên truyền chiến tranh
d) Không được tiết lộ bí mật quốc gia như: những bí mật quốc phòng, những hội nghị cơ mật chưa có công bố chính thức của cơ quan có trách nhiệm, những vụ án đang điều tra chưa xét xử, những bản án mà tòa án không cho phép công bố, những tài liệu, số liệu và những cơ sở kiến thiết về kinh tế, tài chính mà Ủy ban kế hoạch nhà nước hoặc các cơ quan có thẩm quyền chưa công bố
e) Không được tuyên truyền dâm ô, trụy lạc, đồi bại [8, Điều 9]
Đoạn thứ 2 Điều 13 Sắc lệnh nói trên cũng quy định:
Báo chí nào vi phạm Điều 9 hoặc Điều 12 sẽ bị trừng phạt: tùy theo lỗi nặng nhẹ mà bị cảnh cáo, tịch thu ấn phẩm, đình bản tạm thời, đình bản vĩnh viễn, hoặc bị truy tố trước tòa án, có thể
bị phạt tiền từ mười vạn đồng đến một triệu đồng, hoặc người
Trang 3730
chịu trách nhiệm bị phạt tù từ một tháng đến hai năm, hoặc cả hai hình phạt đó Nếu xét đương sự phạm vào những luật lệ khác, tòa
án sẽ chiểu theo những luật lệ ấy mà trừng phạt them [8]
Hay trong Sắc lệnh số 223/SL ngày 14/6/1955 về việc bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng tại Điều 7 có quy định:
Pháp luật sẽ trừng trị những kẻ nào mượn danh nghĩa tôn giáo để phá hoại hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ, tuyên truyền chiến tranh, phá hoại đoàn kết, ngăn trở tín đồ làm nghĩa vụ công dân, xâm phạm đến tự do tín ngưỡng và tự do tư tưởng của người khác, hoặc làm những việc khác trái pháp luật [9] Khi BLHS năm 1985 được ban hành, hành vi lợi dụng quyền tự do, dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân lúc đầu chưa được quy định là tội phạm
Đến ngày 12/8/1991, Quốc hội thông qua Luật sửa đổi, bổ sung BLHS (năm 1985), tội lợi dụng quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân mới chính thức được ghi nhận trong Điều 205a Nội dung cụ thể của điều luật này như sau:
Điều 205a Tội lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, của tổ chức xã hội hoặc của công dân
Người nào lợi dụng các quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do tín ngưỡng, quyền hội họp, lập hội hoặc các quyền tự
do dân chủ khác xâm phạm lợi ích của Nhà nước, của tổ chức xã hội hoặc của công dân, thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến hai năm hoặc bị phạt tù từ ba tháng đến ba năm [12] Khi BLHS năm 1999 được ban hành, Điều 205a được sửa đổi thành Điều 258 BLHS hiện hành BLHS hiện hành quy định:
Trang 38Phạm tội trong trường hợp nghiêm trọng thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm
So sánh quy định về tội lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, của tổ chức xã hội hoặc của công dân trong Luật sửa đổi, bổ sung BLHS 1985 ngày 12/8/1991 và BLHS năm 1999, có thể thấy ở BLHS 1999 đã sửa đổi những điểm sau:
- Hoàn chỉnh chi tiết về mặt câu chữ: Điều 258 BLHS 1999 đã bổ
sung thêm từ “tôn giáo” vào cụm từ “tự do tín ngưỡng, tôn giáo” trong cấu
thành tội phạm mà điều luật ghi nhận
Ở BLHS 1999 còn sửa đổi cụm từ “tổ chức xã hội” thành từ “tổ
chức” trong tình tiết “xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp
pháp của tổ chức, công dân”
- Bổ sung khoản 2 với tình tiết định khung “Phạm tội trong trường hợp nghiêm trọng”
- Sửa đổi hình phạt áp dụng đối với người phạm tội này Hình phạt áp dụng trong Điều 205a Luật sửa đổi, bổ sung BLHS 1985 ngày 12/8/1991, hình phạt đối với người phạm tội được quy định là “phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến hai năm hoặc bị phạt tù từ ba tháng đến ba năm” Đến Điều 258 BLHS năm 1999, hình phạt áp dụng đã được thay đổi
Trang 3932
theo hướng tăng mức hình phạt Cụ thể, được chia thành 2 khung: khung 1
“phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm” và khung 2 “phạt tù từ hai năm đến bảy năm”
Trang 4033
Kết luận Chương 1
Từ việc bóc tách các khái niệm liên quan đến tội lợi dụng các quyền
tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của
tổ chức, công dân, Chương 1 của Luận văn đã luận giải một số vấn đề về khái niệm, đặc điểm định tội danh đối với tội lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân
Về mặt lý luận, rất nhiều khái niệm vẫn còn mơ hồ, chưa được quy định cụ thể trong các văn bản pháp luật như khái niệm “định tội danh”, “tội lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân” Nhìn chung, định tội danh đối với tội lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân là hoạt động áp dụng pháp luật, trên cơ sở phân tích, đối chiếu, so sánh các tình tiết thể hiện tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội cụ thể với các quy định của pháp luật hình sự, các yếu tố cấu thành tội phạm, tùy thuộc vào từng giai đoạn tố tụng hình sự mà Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án xác định được tên gọi của tội phạm, căn cứ vào những đặc điểm nhân thân người phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự của họ để Tòa án đưa ra loại và mức hình phạt tương xứng được quy định trong BLHS
Trong chương này, tác giả của luận văn cũng đã làm rõ lịch sử hình thành tội lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân từ thời kỳ phong kiến Việt Nam đến nay Qua đó tạo cho người đọc một bức tranh toàn cảnh về định tội danh đối với tội lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân gắn với từng giai đoạn phát triển của đất nước