Tuyệt đại đa số các cuốn sách trên đều là những công trình thiên về việc bình luận, giải thích các quy định của Luật Hôn nhân và gia đình, trong bối cảnh đó, chế định chia tài sản chung
Trang 1đại học quốc gia hà nội
Trang 2đại học quốc gia hà nội
Trang 3Lời cam đoan
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong luận văn đảm bảo độ tin cậy, chính xác và trung thực Những kết luận khoa học của luận văn ch-a từng đ-ợc ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Hạnh
Trang 4CỦA VỢ CHỒNG THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM
8
1.1 Một số vấn đề lý luận về chia tài sản chung của vợ chồng
theo pháp luật Việt Nam
8
1.1.1 Tài sản chung của vợ chồng 10 1.1.1.1 Khái niệm tài sản chung của vợ chồng 10 1.1.1.2 Nguồn gốc tài sản chung của vợ chồng 11 1.1.2 Chia tài sản chung của vợ chồng 16 1.1.2.1 Khái niệm chia tài sản chung của vợ chồng 16 1.1.2.2 Cơ sở lý luận và thực tiễn của chế định pháp luật về chia tài
Trang 5luật Việt Nam hiện hành
1.2.1 Chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân 29 1.2.1.1 Điều kiện chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ
1.2.1.3 Hậu quả pháp lý của việc chia tài sản chung của vợ chồng
trong thời kỳ hôn nhân
34
1.2.2 Chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn 36 1.2.2.1 Điều kiện chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn 36 1.2.2.2 Nguyên tắc chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn 36 1.2.2.3 Hậu quả pháp lý của việc chia tài sản chung của vợ chồng
HIỆN HÀNH VỀ CHIA TÀI SẢN CHUNG CỦA VỢ CHỒNG
43
2.1 Thực tiễn áp dụng các quy định chia tài sản chung của vợ
chồng trong thời kỳ hôn nhân
43
2.1.1 Thực tiễn áp dụng các quy định về điều kiện chia tài sản
chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân
44
2.1.2 Thực tiễn áp dụng các quy định về nguyên tắc chia tài sản
chung vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân
52
2.1.3 Thực tiễn áp dụng các quy định về hậu quả pháp lý của việc
chia tài sản chung vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân
53
2.2 Thực tiễn áp dụng các quy định chia tài sản chung của vợ
chồng khi ly hôn
61
Trang 62.2.1 Thực tiễn áp dụng quy định về xác định tài sản chung của
vợ chồng khi ly hôn
64
2.2.2 Thực tiễn áp dụng các quy định về nguyên tắc chia tài sản
chung của vợ chồng khi ly hôn
80
2.3 Thực tiễn áp dụng các quy định chia tài sản chung của vợ
chồng khi vợ hoặc chồng chết
86
2.3.1 Thực tiễn áp dụng các quy định về xác định tài sản chung
của vợ chồng khi vợ hoặc chồng chết
87
2.3.2 Thực tiễn áp dụng các quy định về nguyên tắc chia tài sản
chung vợ chồng khi vợ hoặc chồng chết
88
2.3.3 Thực tiễn áp dụng các quy định về hậu quả pháp lý của việc
chia tài sản chung vợ chồng khi vợ hoặc chồng chết
90
LUẬT VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ ÁP DỤNG PHÁP LUẬT VỀ CHIA TÀI SẢN CHUNG CỦA VỢ CHỒNG
93
3.1 Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện chế định pháp luật về
chia tài sản chung của vợ chồng
93
3.1.1 Hoàn thiện quy định pháp luật về chia tài sản chung của vợ
chồng trong thời kỳ hôn nhân
93
3.1.1.1 Giới hạn quyền chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân để
thực hiện nghĩa vụ dân sự riêng
93
3.1.1.2 Quy định cụ thể về lý do chính đáng 95 3.1.1.3 Quy định quyền yêu cầu chia tài sản chung của vợ chồng
cho người thứ ba (người có quyền)
97
3.1.1.4 Quy định cụ thể trường hợp vợ chồng yêu cầu Tòa án chia
tài sản chung và nguyên tắc chia tài sản chung tại Tòa án
98
3.1.1.5 Quy định văn bản thỏa thuận chia tài sản chung phải công
chứng hoặc được Tòa án công nhận
100
3.1.1.6 Bổ sung thêm quy định về hậu quả pháp lý của chế định
chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân
101
3.1.1.7 Quy định cụ thể về thuế, lệ phí liên quan đến tài sản được 103
Trang 7chia khi vợ chồng chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân
3.1.2 Hoàn thiện quy định pháp luật về chia tài sản chung của vợ
chồng khi ly hôn
103
3.1.2.1 Hướng dẫn cụ thể về hình thức nhập tài sản riêng vào tài sản
chung theo quy định tại Khoản 2 Điều 32 Luật Hôn nhân và
3.2 Một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật
về chia tài sản chung của vợ chồng
107
3.2.1 Giải pháp nâng cao chất lượng xét xử các vụ việc liên quan
tới chia tài sản chung của vợ chồng
107
3.2.2 Có cơ chế, chính sách phù hợp để phát triển các tổ chức
hành nghề công chứng
108
3.2.3 Triển khai đồng bộ, nghiêm túc quy định pháp luật về đăng
ký tài sản thuộc sở hữu chung của vợ chồng
109
3.2.4 Tuyên truyền, phổ biến sâu, rộng pháp luật Hôn nhân và gia
đình đặc biệt là các quy định về tài sản chung của vợ chồng
110
Trang 8DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
BLDS : Bộ luật Dân sự DLBK : Bộ Dân luật Bắc Kỳ DLGYNK : Bộ Dân luật giản yếu Nam Kỳ DLTK : Hoàng việt Trung Kỳ hộ luật HN&GĐ : Hôn nhân và gia đình
TAND : Tòa án nhân dân TANDTC : Tòa án nhân dân tối cao
Trang 9Danh môc c¸c b¶ng
Sè hiÖu
b¶ng
2.1 Số lượng văn bản thỏa thuận chia tài sản chung của vợ
chồng trong thời kỳ hôn nhân được công chứng tại Phòng
công chứng số 4 thành phố Hà Nội
70
2.2 Số lượng văn bản thỏa thuận chia tài sản chung của vợ
chồng trong thời kỳ hôn nhân được công chứng tại Văn
phòng công chứng Hà Nội
70
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Lịch sử phát triển xã hội loài người cho thấy, đối với mỗi hình thái kinh tế xã hội có những hình thái gia đình tương ứng phù hợp với nó Các hình thái gia đình này rất đa dạng, khác nhau không chỉ về tính chất mà còn
cả về kết cấu của nó Tuy nhiên, dù ở hình thái nào, các chức năng cơ bản của gia đình vẫn không thay đổi đó là chức năng sinh đẻ, chức năng giáo dục và chức năng kinh tế Chức năng kinh tế sẽ là nền tảng, là một trong những cơ sở đảm bảo cho gia đình thực hiện tốt chức năng sinh đẻ và giáo dục Trong xã hội hiện đại, chức năng kinh tế của gia đình ngày càng được chú trọng và phát huy vai trò to lớn đối với sự phát triển của mỗi gia đình nói riêng và toàn xã hội nói chung Bởi vậy, bên cạnh việc điều chỉnh quan hệ nhân thân, pháp luật
đã dành nhiều quy định điều chỉnh các quan hệ tài sản giữa gia đình và các chủ thể khác trong xã hội, giữa các thành viên trong gia đình và đặc biệt là giữa vợ chồng - những thành viên "hạt nhân" của gia đình Những quy định pháp luật về tài sản của vợ chồng cũng thường xuyên được rà soát, sửa đổi, bổ sung để điều chỉnh các quan hệ xã hội mới phát sinh
Tuy nhiên thực tiễn phát triển nhanh, đa dạng của đời sống kinh tế - xã hội đã và đang làm bộc lộ nhiều điểm chưa hợp lý của pháp luật hiện hành Trong đó, chia tài sản chung của vợ chồng nổi lên như là vấn đề bức thiết bởi những năm gần đây, các tranh chấp về chia tài sản chung của vợ chồng, đặc biệt là chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn gia tăng nhanh chóng Hơn nữa, những tranh chấp này thường là những tranh chấp phức tạp và kéo dài, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến tình cảm giữa các thành viên trong gia đình
và sự ổn định của xã hội Nguyên nhân dẫn tới tình trạng trên một phần do tính chất đa dạng, phức tạp của các quan hệ tài sản của vợ chồng Mặt khác, tình trạng gia tăng các tranh chấp về chia tài sản chung của vợ chồng cũng cho thấy những bất cập, điểm khuyết của pháp luật về chia tài sản chung của vợ chồng
Trang 11Các quy định này đã bộc lộ nhiều hạn chế, vướng mắc gây khó khăn thậm chí lúng túng trong quá trình áp dụng pháp luật của các đương sự cũng như của tòa
án khi giải quyết các vấn đề liên quan đến chia tài sản chung của vợ chồng Thực trạng trên cho thấy, có một công trình nghiên cứu sâu về chế định chia tài sản chung của vợ chồng nhằm nhận dạng những khuyết thiếu của pháp luật dưới góc độ thực tiễn áp dụng là hết sức cần thiết Đây chính là lý do để tác giả
lựa chọn đề tài "Chia tài sản chung vợ chồng theo pháp luật Việt Nam -
Thực tiễn áp dụng và hướng hoàn thiện" để làm luận văn thạc sĩ Luật học
2 Tình hình nghiên cứu
Chế định pháp luật liên quan đến tài sản chung của vợ chồng nói chung và chia tài sản chung của vợ chồng nói riêng luôn là vấn đề dành được nhiều sự quan tâm của xã hội cũng như giới nghiên cứu Bởi vậy, trong thời gian qua đã có nhiều công trình nghiên cứu liên quan đến chế định chia tài sản chung của vợ chồng Có thể tạm phân loại các công trình nghiên cứu này thành ba nhóm lớn như sau:
Nhóm các luận văn, luận án: Các công trình nghiên cứu tiêu biểu
trong nhóm này có: Chế độ tài sản của vợ chồng theo Luật Hôn nhân và gia
đình Việt Nam (Nguyễn Văn Cừ, luận án tiến sĩ Luật học, 2005); "Xác định chế độ tài sản của vợ chồng - một số vấn đề lý luận và thực tiễn" (Nguyễn
Hồng Hải, luận văn thạc sĩ, 2002); Một số vấn đề về tài sản vợ chồng trong
hoạt động sản xuất kinh doanh, (Trần Đức Hoài, 2006, luận văn thạc sĩ)… Tuy
nhiên, các công trình này hoặc có phạm vi nghiên cứu rộng, đề cập đến nhiều khía cạnh khác nhau trong vấn đề tài sản vợ chồng, hoặc chỉ giải quyết một khía cạnh nhỏ trong chế định chia tài sản chung của vợ chồng mà chưa có công trình nào nghiên cứu một cách tổng thể chế định chia tài sản chung vợ chồng Vì vậy, các công trình nói trên chưa có điều kiện phân tích một cách sâu sắc và toàn diện tất cả các khía cạnh của chế định chia tài sản chung của
vợ chồng
Nhóm sách giáo trình, sách chuyên khảo: Trong nhóm này có thể kể
đến một số công trình tiêu biểu như Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về Luật
Trang 12Hôn nhân và Gia đình năm 2000 (Nguyễn Văn Cừ - Ngô Thị Hường, 2002,
Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội); Bình luận khoa học Luật Hôn nhân và gia
đình Việt Nam (Nguyễn Ngọc Điện, 2002, Nxb Trẻ, Thành phố Hồ Chí Minh); Bình luận khoa học Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam (Đinh Thị Mai
Phương chủ biên, 2004, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội) Ngoài ra, còn có các sách giáo trình và sách bình luận Luật Hôn nhân và gia đình của nhiều tác giả khác Tuyệt đại đa số các cuốn sách trên đều là những công trình thiên về việc bình luận, giải thích các quy định của Luật Hôn nhân và gia đình, trong bối cảnh đó, chế định chia tài sản chung của vợ chồng thường chỉ được phân tích một cách chung chung, có tính chất tổng quát, chứ không phân tích một cách chuyên sâu và cụ thể
Nhóm các bài viết trên các báo, tạp chí: Chia tài sản chung của vợ
chồng là chủ đề của nhiều bài viết nghiên cứu của nhiều tác giả trên các báo,
tạp chí chuyên ngành luật, có thể kể đến một số bài như Bàn thêm về chia tài
sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân theo pháp luật hôn nhân gia đình hiện hành (Nguyễn Hồng Hải, 2003, Tạp chí Luật học, số 5); Hậu quả pháp lý của việc chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân (Nguyễn Phương
Lan 2002,Tạp chí Luật học, số 6), Về vấn đề chia tài sản chung của vợ chồng
khi phá sản doanh nghiệp tư nhân (Phạm Văn Thiệu, 2003, Tạp chí Tòa án
nhân dân (TAND), số 11) v.v… Các bài viết này thường phân tích rất sâu một vấn đề trong chế định chia tài sản chung vợ chồng, nhưng do tính chất của một bài viết nghiên cứu, các tác giả chỉ đề cập đến một khía cạnh hoặc một trường hợp cụ thể liên quan đến việc chia tài sản chung của vợ chồng mà không thể phân tích toàn diện các khía cạnh của chế định này
Một điểm chung của cả ba nhóm công trình nghiên cứu kể trên, đó là phần lớn các tác giả thường thiên về việc phân tích, đánh giá thực trạng pháp luật về chia tài sản chung vợ chồng mà chưa soi chiếu sự phản ánh của toàn
bộ các quy định pháp luật đó vào thực tiễn cuộc sống Một số tác giả, trong các công trình nghiên cứu kể trên, cũng đã có dẫn chiếu, liên hệ thực tiễn áp
Trang 13dụng một số quy định pháp luật, tuy nhiên, sự liên hệ, phân tích đó chỉ có tính chất minh họa cho một số trường hợp cụ thể mà chưa có sự soi chiếu một cách tổng thể, toàn diện tất cả các khía cạnh của chế định chia tài sản chung
vợ chồng vào thực tiễn
Như vậy, mặc dù đã có không ít công trình nghiên cứu liên quan đến vấn đề chia tài sản chung của vợ chồng nhưng những công trình này chủ yếu nghiên cứu, phân tích chế độ tài sản của vợ chồng dưới góc độ lý luận mà chưa có công trình nào nghiên cứu chuyên sâu, toàn diện về chia tài sản chung của vợ chồng dưới góc độ thực tiễn áp dụng pháp luật Do vậy, các công trình nghiên cứu trên so với đề tài của luận văn này là hoàn toàn không
có sự trùng lắp về mặt nội dung
3 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
Trên cơ sở tìm hiểu các quy định của pháp luật Việt Nam về chia tài sản chung của vợ chồng, luận văn phân tích, đánh giá việc áp dụng pháp luật, nhận dạng những thuận lợi cũng như những bất cập, hạn chế trong quá trình
áp dụng pháp luật về chia tài sản chung của vợ chồng, trên cơ sở đó chỉ ra những điểm còn thiếu sót, chưa phù hợp của luật thực định và của quá trình
áp dụng luật vào thực tiễn Từ đó, luận văn đưa ra một số kiến nghị, giải pháp
có tính chất khả thi nhằm góp phần hoàn thiện quy định pháp luật về chia tài sản chung của vợ chồng đáp ứng đòi hỏi của thực tiễn đời sống đang ngày càng phát triển đa dạng, phong phú
Để đạt được mục tiêu nêu trên, luận văn xác định những nhiệm vụ cơ bản sau đây:
Thứ nhất, khái quát cơ sở lý luận và thực tiễn của các quy định pháp
luật về chia tài sản chung của vợ chồng;
Thứ hai, rà soát, tổng hợp một cách sơ lược lịch sử phát triển chế định
chia tài sản chung của vợ chồng trong suốt chiều dài lịch sử tiến triển của chế định này trong hệ thống pháp luật Việt Nam;
Trang 14Thứ ba, phân tích, đánh giá quy định của pháp luật hiện hành về chia
tài sản chung của vợ chồng;
Thứ tư, phân tích, nhận dạng những bất cập, hạn chế khi áp dụng quy
định pháp luật thực định về chia tài sản chung của vợ chồng vào thực tiễn Việt Nam;
Và thứ năm, trên cơ sở các phân tích kể trên, kiến nghị một số giải
pháp nhằm hoàn thiện quy định pháp luật về chia tài sản chung của vợ chồng
cả dưới góc độ pháp luật lẫn áp dụng pháp luật
sự (BLDS) năm 2005 và một số văn bản pháp luật khác có liên quan
- Thực tiễn áp dụng các quy định pháp luật hiện hành về chia tài sản chung của vợ chồng Trong đó, tập trung vào một số vấn đề khó khăn, vướng mắc, điển hình; các trường hợp áp dụng sai luật…; tìm hiểu và nghiên cứu những ví dụ cụ thể, những bản án thực tế từ đó bình luận và phân tích những nguyên nhân chính làm giảm hiệu quả áp dụng pháp luật về chia tài sản chung của vợ chồng trong thực tế
- Một số quy định của pháp luật các nước trên thế giới về chia tài sản chung của vợ chồng như BLDS Pháp, Bộ luật dân sự và thương mại Thái Lan… có sự so sánh và đối chiếu với pháp luật Việt Nam, qua đó tiếp thu những điểm tiến bộ và phù hợp với thực tiễn và pháp luật Việt Nam về chia tài sản chung của vợ chồng
Trang 15Luận văn không đề cập đến góc độ thủ tục tố tụng khi giải quyết vấn
đề chia tài sản chung vợ chồng Luận văn cũng không xem xét, nghiên cứu vấn đề chia tài sản chung vợ chồng dưới góc độ tư pháp quốc tế
5 Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu, tác giả sử dụng phối hợp nhiều phương pháp khác nhau như phương pháp phân tích luật học, phương pháp phân tích -
so sánh, phương pháp tổng hợp (trên cơ sở phân tích, so sánh và tham khảo pháp luật nước ngoài), phương pháp thống kê, khảo sát thực tiễn Trong quá trình khảo sát thực tiễn, luận văn đã áp dụng phương pháp phỏng vấn sâu một
số người có liên quan để thu thập những tài liệu mà các tài liệu lưu trữ chính thống còn khuyết thiếu, đồng thời nhằm có thêm tư liệu sinh động từ thực tiễn của người trực tiếp áp dụng pháp luật Các phương pháp nghiên cứu trong luận văn được thực hiện trên nền tảng của phương pháp duy vật biện chứng
và lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin về Nhà nước và pháp luật; trên cơ sở quan điểm, đường lối chính trị, kinh tế, xã hội của Đảng cộng sản Việt Nam
6 Điểm mới của luận văn
- Luận văn đã hệ thống hóa và phân tích khái niệm chia tài sản chung của vợ chồng, những điểm đặc trưng của chia tài sản chung của vợ chồng thuộc hình thức sở hữu chung hợp nhất so với chia tài sản chung ở các hình thức sở hữu khác
- Luận văn khái quát và phân tích cơ sở lý luận và thực tiễn của các quy định pháp luật về chia tài sản chung của vợ chồng
- Từ những ví dụ cụ thể về thực tiễn áp dụng pháp luật, luận văn nhận dạng những quy định chưa phù hợp, những điểm còn khiếm khuyết của pháp luật hiện hành về chia tài sản chung của vợ chồng cả dưới góc độ pháp luật và thực tiễn áp dụng pháp luật Đồng thời, luận văn đưa ra và phân tích một số yếu tố khác tác động vào và làm giảm hiệu quả áp dụng pháp luật về chia tài sản chung của vợ chồng Trên cơ sở đó, luận văn kiến nghị một số giải pháp
Trang 16có tính chất khả thi nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật và tiến tới hoàn thiện pháp luật về chia tài sản chung của vợ chồng
7 Ý nghĩa của luận văn
Luận văn có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo trong quá trình nghiên cứu, hoàn thiện chế định pháp luật về chia tài sản chung của vợ chồng,
từ đó nâng cao vai trò và hiệu quả điều chỉnh của pháp luật đối với đời sống
xã hội
Luận văn cũng có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu và học tập các môn học như Luật dân sự, Luật HN&GĐ tại các
cơ sở đào tạo pháp luật
8 Kết cấu của luận văn
Ngoài Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo và Phụ lục, nội dung chính của luận văn được kết cấu gồm ba chương như sau:
Chương 1: Khái quát chung về chia tài sản chung của vợ chồng theo
pháp luật Việt Nam
Chương 2: Thực tiễn áp dụng các quy định pháp luật hiện hành về
chia tài sản chung của vợ chồng
Chương 3: Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và nâng cao
hiệu quả áp dụng pháp luật về chia tài sản chung của vợ chồng
Trang 17Chương 1
KHÁI QUÁT CHUNG VỀ CHIA TÀI SẢN CHUNG
CỦA VỢ CHỒNG THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM
1.1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CHIA TÀI SẢN CHUNG CỦA VỢ CHỒNG THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM
Hôn nhân là cơ sở hình thành gia đình - tế bào của xã hội Kể từ thời điểm quan hệ hôn nhân được xác lập giữa một người đàn ông và một người đàn bà bằng sự kiện kết hôn, họ chính thức trở thành vợ chồng, có các quyền, nghĩa vụ với nhau, với cha mẹ, con cái… Để đảm bảo các điều kiện vật chất phục vụ đời sống gia đình và thực hiện các quyền, nghĩa vụ chăm sóc, nuôi dưỡng con cái… vợ chồng cần có tài sản Tài sản của vợ chồng là nguồn quan trọng phục vụ nhu cầu vật chất và tinh thần của gia đình Trên bình diện xã hội, gia đình chính là một đơn vị kinh tế Các thành viên trong gia đình, đặc biệt là vợ chồng tham gia tích cực vào các hoạt động tạo ra của cải vật chất cho xã hội qua đó tạo dựng khối tài sản cho mình Vì vậy, tài sản của vợ chồng không chỉ có ý nghĩa quan trọng đối với vợ chồng và gia đình mà còn đóng góp cho sự phát triển chung của toàn xã hội
Tài sản của vợ chồng cũng là một loại tài sản theo pháp luật dân sự, vì vậy, nghiên cứu vấn đề tài sản của vợ chồng phải đặt trong bối cảnh của chế định tài sản nói chung
Tài sản là đối tượng của quyền sở hữu, là khách thể của phần lớn các quan hệ pháp luật dân sự Tuy nhiên, tài sản là một khái niệm rộng, dưới góc
độ pháp lý, rất khó có thể định nghĩa cụ thể về tài sản Pháp luật các nước thường không đưa ra định nghĩa cụ thể về tài sản mà nó thường được hiểu thông qua các học thuyết pháp lý hoặc hiểu gián tiếp thông qua các quy định khác Ví dụ, BLDS Pháp không trực tiếp đưa ra khái niệm tài sản mà chỉ ghi
nhận "tài sản được chia thành động sản và bất động sản" [27, Điều 156],
Trang 18BLDS Nhật Bản cũng chỉ nêu ra những vật được coi là động sản, bất động sản, vật chính, vật phụ (Điều 85 đến Điều 88)… mà không định nghĩa tài sản
Khác với cách quy định của các bộ luật trên, pháp luật dân sự nước ta chọn cách định nghĩa tài sản bằng cách liệt kê những đối tượng được coi là tài
sản "tài sản bao gồm vật, tiền, giấy tờ có giá và các quyền tài sản" [38, Điều 163]
Theo cách liệt kê trên, các đối tượng là tài sản được xác định như sau:
- Vật được coi là tài sản phải là một bộ phận của thế giới vật chất và nằm trong sự kiểm soát của con người Đồng thời, vật phải mang lại lợi ích cho con người, tức là phục vụ cho các nhu cầu về sinh hoạt, sản xuất, tiêu dùng… của con người
- Tiền là thước đo giá trị của hàng hóa, là phương tiện thanh toán… Ngoài ra, tiền còn có ý nghĩa về mặt chính trị - xã hội, nó thể hiện chủ quyền của quốc gia Vì thế, việc phát hành, đưa tiền vào hay rút tiền khỏi lưu thông đều được Nhà nước kiểm soát chặt chẽ
- Giấy tờ có giá là "bằng chứng xác nhận nghĩa vụ trả nợ giữa tổ chức phát hành giấy tờ có giá với người sở hữu giấy tờ có giá trong một thời hạn nhất định, điều kiện trả lãi và các điều kiện khác" [43, Điểm 8 Điều 6] Ví dụ như hối phiếu đòi nợ, hối phiếu nhận nợ, séc, trái phiếu Chính phủ…
- Quyền tài sản theo quy định tại Điều 181 BLDS năm 2005 "là quyền
trị giá được bằng tiền và có thể chuyển giao trong giao dịch dân sự, kể cả quyền sở hữu trí tuệ" Như vậy, để một quyền được coi là quyền tài sản nó
phải đáp ứng được hai yêu cầu cơ bản đó là trị giá được bằng tiền và có thể chuyển giao được trong giao dịch dân sự Có thể kể ra các quyền tài sản như quyền nhận lợi tức cổ phiếu, quyền hưởng nhuận bút của tác giả tác phẩm văn học, nghệ thuật,quyền nhận thù lao của chủ sở hữu văn bằng sáng chế…
Như vậy, theo quy định của BLDS năm 2005 các đối tượng là tài sản bao gồm: vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản
Trang 19Khái niệm và các quy định về tài sản, quyền sở hữu trong Luật dân sự
là khái niệm gốc, là cơ sở để các luật chuyên ngành xây dựng các khái niệm tài sản cụ thể theo tính chất riêng của ngành luật mình, ví dụ như khái niệm tài sản góp vốn trong Luật Doanh nghiệp, tài sản của vợ chồng trong Luật HN&GĐ…
1.1.1 Tài sản chung của vợ chồng
1.1.1.1 Khái niệm tài sản chung của vợ chồng
Trong bối cảnh nền kinh tế đất nước đang phát triển sôi động trên tất
cả các ngành, các lĩnh vực như hiện nay, gia đình là chủ thể tham gia vào rất nhiều các hoạt động kinh tế, xã hội khác nhau Việc hộ gia đình được BLDS công nhận là một chủ thể của quan hệ pháp luật dân sự và Luật Đất đai công nhận hộ là chủ thể được Nhà nước giao đất, cho thuê đất…đã tạo những tiền
đề cơ bản để kinh tế hộ gia đình nói chung và tài sản của vợ chồng nói riêng phát triển ngày càng nhanh chóng
Theo nội hàm của khái niệm tài sản quy định tại Điều 163 BLDS năm 2005 thì tài sản của vợ chồng bao gồm vật, tiền, giấy tờ có giá và các
quyền tài sản khác Như vậy, tài sản của vợ chồng cũng bao gồm vật, tiền,
giấy tờ có giá và các quyền tài sản thuộc sở hữu của vợ chồng
Tài sản của vợ chồng gồm có tài sản chung của vợ chồng và tài sản riêng của vợ, chồng Tuy nhiên, vì phạm vi luận văn chỉ đề cập đến vấn đề tài sản chung của vợ chồng nên xin phép không phân tích vấn đề tài sản riêng ở
đây Về tài sản chung, Điều 214 BLDS năm 2005 quy định "tài sản thuộc hình
thức sở hữu chung là tài sản chung" [38] Như vậy, tài sản chung của vợ chồng
là tài sản thuộc sở hữu chung của cả vợ và chồng - vợ, chồng cùng là chủ sở hữu đối với khối tài sản đó Đặc điểm của tài sản chung của vợ chồng là tài sản thuộc
hình thức sở hữu chung hợp nhất, tức là "phần quyền của mỗi chủ sở hữu chung
không được xác định đối với tài sản chung" [38, Khoản 1 Điều 217] Theo đó,
khi hôn nhân còn tồn tại, không thể xác định được phần tài sản cụ thể của vợ, chồng trong khối tài sản chung Khối tài sản chung của vợ chồng thường hình thành từ khi hai bên nam nữ bắt đầu bước vào cuộc sống vợ chồng thông qua
Trang 20sự kiện kết hôn và sẽ liên tục được bổ sung trong suốt thời kỳ hôn nhân bằng nhiều nguồn khác nhau
1.1.1.2 Nguồn gốc tài sản chung của vợ chồng
Pháp luật của nhiều nước trên thế giới thừa nhận quyền tự do thỏa thuận của vợ chồng về chế độ tài sản hay còn được gọi là khế ước hôn nhân
hoặc hôn ước "Hôn ước là chứng thư thể hiện sự thỏa thuận của người kết
hôn hay của vợ chồng về chế độ tài sản của họ trong hôn nhân" [19] Bởi
vậy, thành phần, nguồn gốc của khối tài sản chung của vợ chồng thường phụ thuộc vào sự thỏa thuận của vợ chồng được thể hiện trong hôn ước Điển hình cho cách quy định này là BLDS Pháp, BLDS Nhật Bản…
Theo quy định của pháp luật Việt Nam, chế độ tài sản của vợ chồng là chế độ tài sản pháp định
Chế độ tài sản pháp định là chế độ tài sản mà ở đó pháp luật
đã dự liệu từ trước về căn cứ, nguồn gốc, thành phần các loại tài sản chung và tài sản riêng của vợ, chồng (nếu có); quyền và nghĩa vụ của
vợ, chồng đối với từng loại tài sản đó; các trường hợp và nguyên tắc chia tài sản chung của vợ chồng; phương thức thanh toán liên quan đến các khoản nợ chung hay nợ riêng của vợ, chồng [7, tr 35]
Theo chế độ tài sản này, vợ chồng phải tuân theo quy định pháp luật
về các vấn đề liên quan đến tài sản chung của vợ chồng, tài sản riêng của vợ, chồng như nguồn gốc tài sản, nguyên tắc sử dụng, định đoạt tài sản… Quan điểm lập pháp này được duy trì và thể hiện thống nhất trong Luật HN&GĐ của Nhà nước ta qua các thời kỳ
Luật HN&GĐ năm 1959 là Luật HN&GĐ đầu tiên của nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Mặc dù được xây dựng trong hoàn cảnh đất nước còn chiến tranh, điều kiện kinh tế nhiều khó khăn và chỉ có vẻn vẹn
35 điều luật nhưng Luật HN&GĐ năm 1959 đã có những quy định đầu tiên về
tài sản chung của vợ chồng "vợ và chồng có quyền sở hữu, hưởng thụ và sử
dụng ngang nhau đối với tài sản có trước và sau khi cưới" [30, Điều 15] Với
Trang 21quy định trên, có thể suy luận mọi tài sản của vợ, chồng đều là tài sản chung của vợ chồng không phân biệt tài sản do ai tạo ra, có trước hay trong thời kỳ hôn nhân… Do đó, khái niệm tài sản riêng của một bên vợ hoặc chồng không tồn tại trong các quy định của Luật HN&GĐ năm 1959
Đến Luật HN&GĐ năm 1986 và Luật HN&GĐ năm 2000, các vấn đề liên quan đến tài sản chung của vợ chồng trong đó có nguồn gốc tài sản chung
đã được luật quy định cụ thể hơn Theo quy định tại Điều 14, Điều 16 Luật HN&GĐ năm 1986 và Điều 27 Luật HN&GĐ năm 2000 nguồn gốc tài sản chung của vợ chồng bao gồm:
Tài sản chung do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động và thu nhập hợp pháp khác của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân
Tài sản do vợ, chồng tạo ra có thể là kết quả lao động trực tiếp của vợ chồng như giường, tủ do vợ chồng tự đóng, nhà do vợ chồng tự xây Hoặc tài sản nhận được từ hợp đồng mua bán, trao đổi tài sản… mà một bên vợ, chồng hoặc hai vợ chồng tham gia Trong trường hợp thứ hai này, mặc dù vợ chồng không tạo ra tài sản bằng lao động trực tiếp nhưng đã dùng tài sản hiện
có của mình như tiền, vật để mua hoặc trao đổi lấy tài sản khác Vì vậy, những tài sản này cũng được xác định là tài sản do vợ chồng tạo ra Bằng việc nhận được một số tiền, vật… thông qua các giao dịch kể trên, ngay lập tức số tiền, vật… đó trở thành tài sản chung của vợ chồng theo hiệu lực của chế độ tài sản Lý thuyết này được áp dụng trong cả trường hợp vợ hoặc chồng tiến hành giao dịch bằng tài sản riêng của mình Ví dụ, vợ hoặc chồng dùng tiền riêng của mình có trước khi kết hôn để mua tivi Do chiếc tivi được mua sau khi kết hôn, tức là trong thời kỳ hôn nhân, nên theo quy định tại Điều 27 Luật HN&GĐ năm 2000, đây là tài sản do vợ chồng tạo ra trong thời kỳ hôn nhân nên chiếc tivi trở thành tài sản chung của vợ chồng chứ không phải tài sản riêng của bên đã dùng tiền riêng của mình ra mua
Thu nhập của vợ chồng có thể bao gồm thu nhập do lao động như thu nhập từ tiền lương, tiền công…, thu nhập do hoạt động sản xuất kinh doanh như lợi tức… và thu nhập hợp pháp khác như hoa lợi, tiền trúng thưởng xổ
Trang 22số… Trong đó, thu nhập do hoạt động sản xuất kinh doanh thực chất cũng là thu nhập do lao động khi hiểu lao động theo nghĩa rộng là hoạt động có mục đích của con người nhằm tạo ra của cải vật chất Các thu nhập này, không phân biệt của vợ hay chồng trực tiếp làm ra, đều là tài sản chung của vợ chồng nếu các thu nhập đó được tạo ra trong thời kỳ hôn nhân tức là khoảng thời gian tồn tại quan hệ vợ chồng, tính từ ngày đăng ký kết hôn đến ngày chấm dứt hôn nhân Những thu nhập kể trên đặc biệt là thu nhập do lao động
là nguồn đóng góp chủ yếu vào khối tài sản chung của vợ chồng vì đây là hoạt động thường xuyên và tạo nguồn thu ổn định cho vợ chồng
Tài sản chung do vợ chồng được thừa kế chung, tặng cho chung
Theo tập quán của người Việt, cha mẹ thường dành dụm tài sản của mình để đến lúc con cái trưởng thành hoặc lấy vợ, lấy chồng, cha mẹ cho con một số tài sản với ý nghĩa gây dựng số vốn ban đầu cho con hoặc làm của hồi môn… Vì thế, việc vợ chồng được tặng cho chung hay thừa kế chung tài sản
từ cha mẹ là khá phổ biến trong thực tiễn Tuy nhiên, liên hệ với các quy định pháp luật về thừa kế, cần lưu ý rằng, chỉ gọi là thừa kế chung khi vợ chồng cùng được gọi để hưởng di sản theo di chúc và di chúc ghi nhận rằng tài sản được chuyển giao chung cho cả vợ và chồng không phân biệt nhiều, ít hay tài sản thừa kế này của vợ, tài sản thừa kế kia của chồng Chỉ trong trường hợp
đó, tài sản thừa kế mới có thể trở thành tài sản thuộc hình thức sở hữu chung hợp nhất và là nguồn của tài sản chung của vợ chồng Trường hợp thừa kế theo pháp luật, dù vợ, chồng cùng hàng thừa kế ví dụ như thừa kế di sản của con - nếu con chết trước, cùng được hưởng phần di sản bằng nhau nhưng do phần tài sản thừa kế của mỗi người được xác định riêng - mỗi người là một suất thừa kế nên tài sản nhận được sẽ trở thành tài sản riêng của vợ, chồng do được thừa kế riêng mà không phải là tài sản chung của vợ chồng Như vậy, thừa kế chung vợ chồng chỉ xuất hiện khi vợ chồng được thừa kế chung theo
di chúc mà không xuất hiện ở thừa kế theo pháp luật Tương tự như thừa kế, đối với trường hợp tặng cho, vợ chồng được tặng cho chung nếu theo ý chí của người tặng cho, tài sản được tặng cho cả vợ và chồng, không phân biệt
Trang 23cái này cho vợ, cái khác cho chồng… Đáp ứng được điều kiện trên, tài sản được tặng cho sẽ trở thành tài sản chung của vợ chồng
Tài sản chung theo thỏa thuận của vợ chồng
Sau một thời gian dài cùng chung sống, cùng nhau gánh vác trách nhiệm, và cùng thực hiện quyền, nghĩa vụ với nhau và với gia đình, đối với nhiều cặp vợ chồng, ranh giới giữa tài sản chung của họ và tài sản riêng của mỗi người trở nên mờ nhạt, thậm chí đến một giai đoạn nào đó, ranh giới đó mất hẳn, không còn tồn tại Tuy nhiên, về mặt pháp lý, việc chuyển hóa một tài sản riêng của mỗi người thành tài sản chung của cả hai vợ chồng thường được thực hiện qua hai phương thức: Hoặc là bằng cách họ có thể cùng nhau thỏa thuận một tài sản nào đó là tài sản chung của vợ chồng, hoặc là một bên vợ hoặc chồng, với tư cách là chủ sở hữu, tự nguyện nhập tài sản riêng của mình vào tài sản chung của hai vợ chồng Đối với phương thức thứ nhất (cùng thỏa thuận về tài sản chung), Luật HN&GĐ năm 1986 chưa quy định Phương thức này chỉ được ghi nhận kể từ Luật HN&GĐ năm 2000, tại Điều 27 Tuy nhiên, một điều cần phải lưu ý, theo Nghị định số 70/2001/NĐ-CP ngày 3/10/2001 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật Hôn nhân và gia đình (sau đây gọi tắt là Nghị
định số 70/2001/NĐ-CP): "Việc nhập tài sản là nhà ở, quyền sử dụng đất và
các tài sản có giá trị lớn thuộc sở hữu riêng của một bên vợ hoặc chồng phải được lập thành văn bản và có chữ ký của cả vợ và chồng" [4, Điều 13]
Tài sản chung do áp dụng nguyên tắc suy đoán
Về nguyên tắc, đời sống hôn nhân thường kéo dài suốt cuộc đời vợ, chồng, trừ khi vợ, chồng chết trước hoặc ly hôn Trong quá trình đó, xu
hướng "lẫn lộn" tài sản chung, tài sản riêng là khó tránh khỏi và thông
thường, quan hệ hôn nhân càng lâu dài thì càng khó phân biệt ranh giới giữa tài sản chung của vợ chồng và tài sản riêng của mỗi người Bởi vậy, khi có tranh chấp liên quan đến tài sản chung của vợ chồng, vấn đề xác định tài sản chung, tài sản riêng trong những trường hợp này trở nên vô cùng khó khăn, phức tạp Để giải quyết vấn đề có tính thực tiễn nêu trên, nhà làm luật sử dụng nguyên tắc suy đoán tài sản chung Theo nguyên tắc này, những trường
Trang 24hợp không có chứng cứ chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang có tranh chấp
là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó là tài sản chung của vợ chồng (Khoản 3 Điều 27 Luật HN&GĐ năm 2000) Nguyên tắc suy đoán tài sản chung được xây dựng trên cơ sở ưu tiên và hướng tới bảo vệ lợi ích chung của gia đình Tuy nhiên, không phải bất kỳ trường hợp nào chưa phân định được tài sản chung hay tài sản riêng trong thực tế cũng áp dụng nguyên tắc này
"Nguyên tắc suy đoán tài sản chung chỉ được áp dụng một khi tính chất chung
hay riêng của tài sản chưa được giải quyết dứt khoát; đối với tài sản có xuất
xứ rõ ràng và xuất xứ ấy được ghi nhận ngay từ hình thức biểu hiện bề ngoài của tài sản, việc suy đoán phải bị loại trừ" [12, tr 87] Như vậy, với những
tài sản không "rõ ràng" về nguồn gốc, trong trường hợp có tranh chấp, nếu vợ hoặc chồng muốn khẳng định tài sản đó là tài sản riêng của mình thì người đó
có nghĩa vụ chứng minh Nếu không chứng minh được quyền sở hữu riêng của mình đối với tài sản (có trước khi kết hôn, được thừa kế riêng hoặc tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân) thì tài sản đó là tài sản chung của vợ chồng theo nguyên tắc suy đoán tài sản chung nêu trên
Tài sản chung là quyền sử dụng đất vợ chồng có được sau khi kết hôn
Theo quy định của Luật Đất đai năm 2003, ngoài những quyền chung như quyền được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, hưởng thành quả lao động, đầu tư trên đất… người sử dụng đất còn có các quyền đối với tài sản là quyền sử dụng đất và quyền đối với tài sản gắn liền trên đất như quyền chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho quyền sử dụng đất… Dưới góc độ pháp luật HN&GĐ, quyền sử dụng đất là tài sản chung của vợ chồng bao gồm: Quyền sử dụng đất mà cả vợ và chồng hoặc mỗi bên vợ, chồng được Nhà nước giao; Quyền sử dụng đất mà cả vợ và chồng hoặc chỉ một bên
vợ, chồng được Nhà nước cho thuê; Quyền sử dụng đất mà vợ chồng được chuyển đổi, chuyển nhượng, thừa kế chung; Quyền sử dụng đất mà vợ chồng được giao chung với hộ gia đình và quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được trước khi kết hôn, được thừa kế riêng nhưng vợ chồng thỏa thuận là tài sản
Trang 25chung (Khoản 1 Điều 27 Luật HN&GĐ 2000; Điều 24, 25, 26, 27 Nghị định số 70/2001/NĐ-CP)
Như vậy, theo quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành, nguồn hình thành tài chung của vợ chồng bao gồm tài sản do vợ chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất kinh doanh và những thu nhập hợp pháp khác của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân; tài sản vợ chồng được thừa kế chung, tặng cho chung; tài sản vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung; tài sản riêng mà vợ, chồng tự nguyện nhập vào tài sản chung; tài sản có tranh chấp nhưng vợ, chồng không có chứng cứ chứng minh là tài sản riêng và quyền sử dụng đất mà vợ chồng có được sau khi kết hôn
1.1.2 Chia tài sản chung của vợ chồng
1.1.2.1 Khái niệm chia tài sản chung của vợ chồng
Trong hầu hết các gia đình, chức năng kinh tế được đảm bảo chủ yếu bằng tài sản chung của vợ chồng Nó được sử dụng để đáp ứng những nhu cầu vật chất hàng ngày của gia đình Nói cách khác, tài sản chung của vợ chồng chính là nguồn sống của gia đình Bởi vậy, việc duy trì sự ổn định, thường xuyên bổ sung và phát triển khối tài sản chung là hết sức cần thiết Tuy nhiên, trong quá trình chung sống, do những lý do hoặc sự kiện đặc biệt mà việc duy trì khối tài sản chung đó lại không đảm bảo lợi ích của gia đình hoặc không còn điều kiện để tồn tại khối tài sản chung của vợ chồng, việc chia tài sản chung của
vợ chồng trong những trường hợp này được đặt ra như một tất yếu khách quan
Bình thường, tài sản chung của vợ chồng là tài sản chung hợp nhất - phần quyền sở hữu của vợ, chồng không được xác định Khi đem chia, khối tài sản chung được phân, tách thành từng phần (tính theo hiện vật hoặc giá trị) để
vợ, chồng có quyền sở hữu riêng Sau khi chia, tài sản thuộc khối tài sản chung của vợ chồng sẽ trở thành tài sản riêng của vợ hoặc chồng và vợ, chồng có toàn quyền quyết định việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt đối với tài sản đó Như
vậy, "chia tài sản chung của vợ chồng là phân chia tài sản chung của vợ chồng
thành từng phần thuộc sở hữu riêng của vợ và của chồng" [53]
Trang 26Với vai trò quan trọng của tài sản chung của vợ chồng, việc chia tài sản chung không chỉ là vấn đề riêng của vợ chồng mà còn là mối quan tâm của các thành viên còn lại trong gia đình (nếu có) và bên thứ ba có liên quan Trước hết, chia tài sản chung của vợ chồng có thể gây ra những xáo trộn nhất định trong đời sống gia đình, đặc biệt là đời sống vật chất - việc đáp ứng các nhu cầu sinh hoạt của gia đình có thể bị ảnh hưởng Ngoài ra, bên thứ ba có liên quan đặc biệt là các chủ nợ của vợ chồng cũng sẽ hết sức lưu tâm đến vấn
đề này để đảm bảo khả năng thu hồi nợ của mình khi tài sản chung của vợ chồng trở thành tài sản riêng của một người và khối tài sản chung nay đã giảm sút hoặc không còn
1.1.2.2 Cơ sở lý luận và thực tiễn của chế định pháp luật về chia tài sản chung của vợ chồng
Theo quy định pháp luật, tài sản chung của vợ chồng có thể được chia khi thuộc một trong ba trường hợp gồm: chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân; chia tài sản chung của vợ chồng khi vợ chồng ly hôn
và chia tài sản chung của vợ chồng khi vợ hoặc chồng chết
Trước hết, chế định pháp luật về chia tài sản chung của vợ chồng được xây dựng trên cơ sở các quy định của Hiến pháp và BLDS
Việc Hiến pháp nước ta ghi nhận và bảo vệ quyền sở hữu tài sản hợp pháp của công dân (Điều 58 Hiến pháp 1992) là cơ sở đầu tiên để vợ, chồng xác lập quyền sở hữu riêng đối với tài sản được chia Khi chia tài sản chung, khối tài sản chung của vợ chồng bị giảm sút nhưng khối tài sản riêng của vợ, chồng lại tăng lên tương ứng Đồng thời, với tư cách là luật chung, những quy định của BLDS về sở hữu chung, đặc biệt là các quy định liên quan đến sở hữu chung của vợ chồng như sở hữu chung hợp nhất (Điều 217 BLDS năm 2005); sở hữu chung của vợ chồng (Điều 219); chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung (Điều 221, 222, 223); chia tài sản thuộc hình thức sở hữu chung (Điều 224)… là những quy định tiền đề để luật chuyên ngành (Luật HN&GĐ) quy định cụ thể về các trường hợp cũng như điều kiện, nguyên tắc… chia tài
Trang 27sản chung của vợ chồng Theo quy định của các điều luật kể trên thì sở hữu chung hợp nhất cùng với sở hữu chung theo phần là hai loại thuộc hình thức
sở hữu chung Tuy nhiên, việc sử dụng, định đoạt tài sản chung hợp nhất có nhiều điểm khác biệt so với sở hữu chung theo phần Nếu như, trong sở hữu chung theo phần, mỗi chủ sở hữu chung có quyền khai thác công dụng, hưởng hoa lợi, lợi tức từ tài sản chung tương ứng với phần quyền sở hữu của mình thì ở sở hữu chung hợp nhất các chủ sở hữu chung lại có quyền ngang nhau trong việc khai thác công dụng, hưởng hoa lợi, lợi tức từ tài sản chung Về định đoạt tài sản chung, trong sở hữu chung theo phần, việc định đoạt tài sản chung của mỗi đồng chủ sở hữu là việc định đoạt phần quyền của họ trong khối tài sản chung, do đó, mỗi một đồng chủ sở hữu có toàn quyền trong việc định đoạt phần quyền của mình đối với tài sản thuộc sở hữu chung Ngược lại, do đặc thù của sở hữu chung hợp nhất là phần quyền của sở hữu của mỗi chủ sở hữu chung không được xác định nên việc định đoạt tài sản chung hợp nhất lại đòi hỏi phải có sự thỏa thuận của các đồng chủ sở hữu chung
Với tính chất cộng đồng của hôn nhân, BLDS năm 2005 quy định tài sản chung của vợ chồng là tài sản thuộc sở hữu chung hợp nhất có thể phân chia Điều kiện hình thành và duy trì khối tài sản chung của vợ chồng là có tồn tại quan hệ hôn nhân hợp pháp giữa vợ chồng Là tài sản thuộc sở hữu chung hợp nhất, khi hôn nhân còn tồn tại phần quyền của vợ, chồng đối với tài sản chung không được xác định Trong khối tài sản chung, không thể phân định được tài sản nào của vợ, tài sản nào của chồng Đồng thời, vợ chồng có quyền ngang nhau trong việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung Với những giao dịch dân sự có liên quan đến tài sản có giá trị không lớn, đáp ứng nhu cầu thiết yếu hàng ngày của gia đình chỉ cần một bên vợ hoặc chồng thực hiện hoặc đương nhiên coi là có sự thỏa thuận của cả hai vợ chồng Tuy
nhiên, "việc xác lập, thực hiện và chấm dứt giao dịch dân sự liên quan đến tài
sản có giá trị lớn hoặc là nguồn sống duy nhất của gia đình, việc dùng tài sản chung để đầu tư, kinh doanh phải được vợ chồng bàn bạc, thỏa thuận" [34,
Khoản 3 Điều 28] Như vậy, nếu không có sự thỏa thuận, bàn bạc và nhất trí
Trang 28của hai vợ chồng thì các giao dịch dân sự liên quan đến tài sản chung có giá trị lớn hoặc là nguồn sống duy nhất của gia đình và việc sử dụng tài sản chung
để đầu tư, kinh doanh sẽ không có giá trị pháp lý
Tài sản chung của vợ chồng có vai trò hết sức quan trọng đối với cuộc sống gia đình Nó được sử dụng để đảm bảo các hoạt động của gia đình, phục
vụ nhu cầu, lợi ích của gia đình và được coi là "nguồn sống" chủ yếu của gia đình Tuy nhiên, khi một đồng sở hữu chung hợp nhất không còn do vợ chồng
ly hôn hoặc vợ, chồng chết trước, lúc này, cuộc sống chung của vợ chồng chấm dứt, khối tài sản chung của vợ chồng không còn cơ sở để duy trì và phát triển Chia tài sản chung của vợ chồng trong những trường hợp này - khi không còn sự tồn tại của một cuộc sống chung - được đặt ra như một hệ quả tất yếu Mặt khác, khi vợ hoặc chồng chết, việc chia tài sản chung của vợ chồng còn nhằm đảm bảo quyền lợi của những người thừa kế theo quy định của pháp luật thừa kế và để người còn sống có thể thực hiện đầy đủ quyền năng của chủ sở hữu đối với tài sản của mình
Bên cạnh đó, ngay cả trong trường hợp vợ chồng vẫn duy trì cuộc sống chung, hôn nhân vẫn còn tồn tại, thì để đảm bảo cuộc sống gia đình, vợ, chồng phải tham gia nhiều giao dịch liên quan đến tài sản chung, vì vậy, tài sản chung của vợ chồng trở thành đối tượng của nhiều giao dịch khác nhau Đặc biệt, trong điều kiện kinh tế thị trường hiện nay, các giao dịch tài sản diễn
ra đa dạng, nhanh chóng, đòi hỏi một cơ chế quản lý, sử dụng tài sản linh hoạt Trong khi đó, việc sử dụng, định đoạt tài sản chung của vợ chồng trong nhiều trường hợp bắt buộc phải có sự thỏa thuận, bàn bạc của cả hai vợ chồng (Khoản 3 Điều 28 Luật HN&GĐ năm 2000) phần nào hạn chế tính chủ động, nhanh nhạy của vợ, chồng Xây dựng một cơ chế hợp lý, vừa tạo điều kiện cho
vợ, chồng đầu tư kinh doanh; thực hiện các nghĩa vụ tài sản khác…vừa đảm bảo sự ổn định, phát triển của gia đình đồng thời không làm phá vỡ chế độ sở hữu chung của vợ chồng là một đòi hỏi khách quan Vì vậy, bên cạnh hai trường hợp chia tài sản chung thường thấy là chia khi vợ chồng khi ly hôn và khi vợ hoặc chồng chết trước, thì chia tài sản chung của vợ chồng trong thời
Trang 29kỳ hôn nhân được cũng bắt đầu được quy định từ Luật HN&GĐ năm 1986 (Điều 18) và tiếp tục được Luật HN&GĐ năm 2000 kế thừa (Điều 29, 30)
1.1.2.3 Đặc điểm của chia tài sản chung của vợ chồng
Sở hữu của vợ chồng đối với tài sản chung thuộc hình thức sở hữu chung Do vậy, chia tài sản chung của vợ chồng cũng mang một số đặc điểm
chung của chia tài sản thuộc hình thức sở hữu chung Theo đó, vợ chồng với
tư cách là các đồng sở hữu đối với tài sản chung đều có quyền yêu cầu chia tài sản chung; tài sản chung không thể chia bằng hiện vật thì được trị giá thành tiền để chia… Tuy nhiên, so với các sở hữu chung khác, sở hữu chung của vợ chồng mang nhiều nét đặc thù như sở hữu chung của vợ chồng là sở hữu chung hợp nhất với phần quyền sở hữu của vợ, chồng đối với tài sản chung không được xác định; khi hình thành quan hệ hôn nhân hợp pháp, sở hữu chung của vợ chồng cũng mặc nhiên được xác lập theo quy định của pháp luật
mà không cần bất cứ thỏa thuận nào về tài sản của vợ chồng…Vì vậy, bên cạnh một số điểm chung như chia tài sản thuộc các loại sở hữu chung khác,
chia tài sản chung của vợ chồng còn mang những đặc điểm riêng sau đây:
Chỉ được chia tài sản chung của vợ chồng khi thuộc trường hợp chia pháp luật quy định
Mục đích tiến tới hôn nhân của hầu hết các đôi nam, nữ là cùng nhau xây dựng gia đình, no ấm, hạnh phúc, cùng yêu thương, chia sẻ Vì vậy, nhiều tác giả cho rằng sự liên kết giữa một người đàn ông và một người đàn bà nhằm chung sống với nhau suốt đời, xây dựng gia đình no ấm, tiến bộ, hạnh
phúc, bền vững là một trong những đặc điểm của hôn nhân và tính chất bền
vững suốt đời là đặc trưng của hôn nhân xã hội chủ nghĩa Với đặc trưng đó của hôn nhân, pháp luật Việt Nam quy định chế độ tài sản chung của vợ chồng bắt đầu từ khi quan hệ hôn nhân được xác lập và được thực hiện trong suốt thời
kỳ hôn nhân, vợ chồng không thể thoả thuận nhằm thay đổi trongộ tài sản chung này Bởi vậy, không giống như hình thức sở hữu chung theo phần, các chủ sở hữu có thể yêu cầu hoặc thỏa thuận chia tài sản chung với nhiều lý do khác nhau xuất phát từ ý muốn chủ quan của họ, việc chia tài sản chung của vợ
Trang 30chồng chỉ được thực hiện khi "rơi" vào các trường hợp chia do pháp luật dự liệu,
vợ chồng không thể chia tài sản chung chỉ vì ý thích cá nhân của vợ chồng
Đặc biệt, trường hợp chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân, mặc dù vợ chồng được quyền chủ động trong việc thỏa thuận chia hoặc không chia tài sản chung nhưng không phải là sự thỏa thuận "tùy hứng" theo ý chí của vợ chồng mà phải trên cơ sở các lý do pháp luật quy định Trong trường hợp này, lý do chia phù hợp với quy định pháp luật trở thành một trong những điều kiện để công nhận hiệu lực của việc chia tài sản chung của vợ chồng Quy định như vậy nhằm tránh tình trạng vợ chồng lạm dụng quyền yêu cầu chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân làm phá vỡ chế độ tài sản chung của vợ chồng, gây ảnh hưởng đến đời sống chung của gia đình
Cơ chế phân chia đặc biệt
Các trường hợp chia tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp chia khi vợ hoặc chồng chết, cơ quan nhà nước có thẩm quyền chỉ can thiệp khi vợ chồng không thỏa thuận được hoặc sự thỏa thuận của vợ chồng vi phạm các quy định pháp luật như không đảm bảo lợi ích hợp pháp của vợ, con chưa thành niên… Với đặc điểm của sở hữu chung hợp nhất - phần quyền của vợ, chồng trong khối tài sản chung không được xác định trước, khi tài sản chung được chia tại Tòa án, về nguyên tắc tài sản chung được chia đôi cho vợ và chồng Trên cơ sở đó, công sức đóng góp của vợ chồng được cân nhắc để đảm bảo việc phân chia tài sản chung công bằng và hợp lý khi vợ chồng ly hôn Như vậy, chia tài sản chung của vợ chồng đặc biệt ngay từ cách chia tài sản Thông thường, để chia tài sản chung trước tiên người ta phải tính toán phần đóng góp nhiều ít của các đồng chủ sở hữu từ đó mới phân chia tài sản cho các đồng sở hữu tương ứng với phần đóng góp đó Vì vậy, đóng góp của mỗi đồng chủ sở hữu là căn cứ đầu tiên để tính toán giá trị tài sản chung được chia Ví dụ như khi công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên giải thể hoặc phá sản, các thành viên sẽ được chia giá trị tài sản còn lại của công
ty tương ứng với phần vốn góp của mình (Điểm đ Khoản 1 Điều 41 Luật Doanh nghiệp năm 2005) Ngược lại, chia tài sản chung của vợ chồng lại bắt
Trang 31đầu bằng việc áp dụng nguyên tắc chia đôi, sau đó mới xem xét đến công sức đóng góp, hoàn cảnh…của mỗi bên Đồng thời, việc tính toán công sức đóng góp của vợ, chồng cũng chỉ mang tính ước lượng tương đối mà không thể tính toán số học một cách tuyệt đối như đối với các trường hợp đóng góp ở hình thức sở hữu chung theo phần Đặc biệt hơn, khi vợ, chồng chết tài sản chung được chia đôi mà không xét đến công sức đóng góp nhiều hay ít của vợ, chồng Cơ chế phân chia này duy nhất chỉ xuất hiện ở chia tài sản chung của
vợ chồng mà không tồn tại ở các sở hữu chung khác
1.1.3 Lịch sử phát triển chế định chia tài sản chung của vợ chồng trong pháp luật Việt Nam
Khảo cứu các quy định của pháp luật Việt Nam qua các thời kỳ, các vấn đề về tài sản trong gia đình đặc biệt là quan hệ tài sản giữa vợ chồng cũng
đã ít nhiều được nhắc tới trong các văn bản pháp luật thời kỳ phong kiến và ngày càng được chú trọng trong pháp luật hiện đại
1.1.3.1 Chia tài sản chung của vợ chồng trong pháp luật thời kỳ phong kiến
Pháp luật dưới các triều đại phong kiến Việt Nam điển hình là Bộ Quốc triều hình luật ban hành dưới triều Lê niên hiệu Hồng Đức (1470-1497) và Bộ Hoàng việt luật lệ ban hành dưới triều Nguyễn (1812), có rất ít quy định về quan hệ tài sản giữa vợ và chồng, cụ thể là về chia tài sản chung của vợ chồng
Tài sản của vợ chồng, theo các quy định của Bộ Quốc triều hình luật
(Bộ luật Hồng đức) chỉ có điền thổ mà không nói đến các động sản khác Về
chia tài sản chung, theo Điều 375 Bộ luật Hồng đức, trường hợp vợ chồng
không có con thì khi một bên vợ hoặc chồng chết trước, điền thổ của vợ
chồng sẽ được chia như sau:
Với điền thổ có được do bố mẹ dành cho: Điền thổ được chia làm hai
phần bằng nhau, một phần dành cho gia đình bên vợ/chồng (bố mẹ hoặc người thừa tự) để lo việc tế lễ, một phần giành cho chồng/vợ để phụng dưỡng một đời (không có quyền sở hữu) Khi người chồng/vợ chết thì phần tài sản này giao lại cho gia đình bên vợ/chồng Nếu người vợ đi lấy chồng khác thì
Trang 32phần tài sản được chia phải trả lại cho gia đình bên chồng Tuy nhiên, nếu
người chồng đi lấy vợ khác thì vẫn tiếp tục có quyền đối với tài sản được chia
Với điền thổ do hai vợ chồng tạo ra trong thời kỳ hôn nhân: Điền thổ
được chia làm hai phần bằng nhau, một phần giành cho chồng/vợ còn sống làm của riêng, một phần giành cho vợ/chồng để chia ra như sau: 1/3 giành cho nhà vợ/chồng để lo việc tế lễ, 2/3 giành cho chồng/vợ còn sống để phụng dưỡng một đời (không được làm của riêng, khi chết giao trả lại cho gia đình bên chồng/vợ) Nếu người vợ đi lấy chồng khác, 2/3 số tài sản được chia từ số tài sản của chồng phải được trả lại cho gia đình bên chồng Nếu chồng đi lấy
vợ khác, 2/3 số tài sản được chia từ số tài sản của vợ vẫn được tiếp tục sử dụng
Trái với trường hợp vợ, chồng chết trước được pháp luật quy định khá
cụ thể như trên, thì khi vợ chồng ly hôn, vấn đề phân chia con cái, tài sản sau ly hôn không được quy định trong Bộ luật Lý giải cho việc này,bỏ ngỏ quy định
về chia tài sản chung khi vợ chồng ly hôn theo Vũ Văn Mẫu thì,"giá thú được
coi như một chế định có tính cách cao đẹp và trang nghiêm, nhằm mục đích thờ phụng tổ tiên và nối dõi tông đường, chứ không phải vì tiền tài điền sản Vì vậy, khi ly hôn, nhà làm luật cũng không đề cập đến vấn đề này" [24, tr 103]
Bộ Hoàng việt luật lệ (Bộ luật Gia Long): “Do lệ thuộc và sao chép
Luật Đại Thanh nên Bộ luật Gia Long đã hoàn toàn thủ những chế định tương đối tiến bộ đã được ghi nhận trong Bộ luật Hồng Đức như chế định pháp luật
về thừa kế, chế định bình đẳng về tài sản giữa vợ và chồng” [44, tr 48] Theo
các quy định của Bộ luật Gia Long, người vợ được coi là vô năng lực, hoàn toàn phụ thuộc vào người chồng và gia đình chồng Do đó, Bộ luật không quy định quyền thừa kế của người vợ, việc chia tài sản khi vợ hoặc chồng chết và
khi ly hôn Tóm lại, "vấn đề tài sản giữa vợ và chồng hầu như không được
Luật Gia Long đề cập tới" [29, tr 85]
1.1.3.2 Chia tài sản chung của vợ chồng theo pháp luật thời kỳ Pháp thuộc
Trong thời kỳ Pháp thuộc, tồn tại song song ba Bộ dân luật là Bộ Dân luật giản yếu Nam Kỳ (DLGYNK) năm 1883, Bộ Dân luật Bắc Kỳ (DLBK)
Trang 33năm 1931 và Hoàng việt Trung Kỳ hộ luật (DLTK) năm 1936 DLGYNK không
có quy định về hôn sản, di sản và tự sản Do đó, chế độ hôn sản ở Nam Kỳ được
áp dụng theo án lệ trên các nguyên tắc: Người vợ không có của riêng theo quy định của DLGYNK, người chồng là chủ sở hữu toàn thể gia sản Do tài sản trong gia đình được coi là thuộc quyền sở hữu duy nhất của chồng nên trường hợp vợ chết thì chồng là chủ sở hữu đối với toàn bộ tài sản của gia đình nhưng nếu chồng chết thì vợ chỉ có quyền hưởng dụng thu lợi trên toàn bộ tài sản của gia đình trong thời kỳ ở góa Đồng thời, trong trường hợp vợ chồng ly hôn, toàn bộ tài sản của gia đình phải để lại cho người chồng, người vợ chỉ có quyền lấy đi những tài sản được coi là của riêng của vợ theo án lệ (đồ tư trang của vợ, tài sản người vợ được gia đình vợ tặng cho ) Như vậy, theo DLGYNK chia tài sản không được đặt ra trong bất kỳ trường hợp nào
Ở Bắc Kỳ và Trung Kỳ, DLBK và DLTK đều quy định cho vợ chồng
có quyền lập hôn ước Chế độ hôn sản pháp định chỉ được áp dụng khi vợ chồng không có hôn ước hoặc hôn ước bị tiêu hủy do không hợp lệ Theo quy định trong DLBK và DLTK chế độ tài sản của vợ chồng là chế độ cộng đồng toàn sản Về chia tài sản của vợ chồng, trường hợp chồng chết trước, người vợ chỉ có quyền hưởng dụng khối cộng đồng tài sản trong thời kỳ ở góa, nhưng nếu
vợ chết trước thì chồng trở thành chủ sở hữu tất cả của cải trong khối cộng đồng
kể cả kỷ phần của vợ (Điều 113 DLBK và Điều 111 DLTK) Trường hợp vợ chồng ly hôn, việc chia tài sản của vợ chồng được thực hiện theo hôn ước Nếu không có hôn ước, thì áp dụng Điều 112 DLBK và Điều 110 DLTK chia như sau: Nếu vợ chồng không có con, sau khi mỗi người nhận lại kỷ phần của mình, tài sản còn lại được chia đôi cho vợ chồng, nếu vợ "phạm gian" dẫn tới
ly hôn thì vợ chỉ được một phần tư Nếu vợ chồng ly hôn mà còn có con, pháp luật quy định không thanh toán tài sản, người vợ chỉ được hưởng một phần của chung, phần này nhiều hay ít tùy theo phần người vợ đã góp vào và làm tăng thêm khối của chung và sẽ giảm đi nếu vì vợ "phạm gian" mà dẫn tới ly hôn
Như vậy, cả ba Bộ Dân luật kể trên, các quy định về chia tài sản của
vợ chồng khi vợ hoặc chồng chết và khi vợ chồng ly hôn đều thể hiện sự bất
Trang 34bình đẳng giữa vợ và chồng, sự bất công đối với người vợ, bảo vệ quyền của người gia trưởng - người chồng trong gia đình Bên cạnh đó, trường hợp chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân cũng chưa được quy định
1.1.3.3 Chia tài sản chung của vợ chồng trong pháp luật Việt Nam
từ 1945 đến nay
Thời kỳ từ 1945 đến nay là giai đoạn chứng kiến nhiều bước ngoặt lớn của lịch sử dân tộc với thắng lợi của hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, đế quốc Mỹ thống nhất đất nước và thành công của công cuộc đổi mới Bởi vậy, pháp luật nói chung và pháp luật về chia tài sản chung của vợ chồng nói riêng cũng có những điều chỉnh tương ứng nhằm đáp ứng yêu cầu của thực tiễn trong từng giai đoạn cụ thể
Giai đoạn 1945 - 1954
Sau Cách mạng Tháng Tám các quan hệ HN&GĐ tạm thời được điều chỉnh một cách có chọn lọc bởi các quy định của ba Bộ Dân luật đó là DLGYNK năm 1883, DLTK năm 1931, DLBK năm 1936.Ngày 22/5/1950, Sắc lệnh số 97/SL sửa đổi một số quy lệ và chế định trong dân luật được ban hành Sắc lệnh đã xóa bỏ chế độ bất bình đẳng nam nữ, sự bất công đối với người vợ bằng việc ghi nhận chồng và vợ có địa vị bình đẳng trong gia đình (Điều 5) Mặc dù không được quy định cụ thể nhưng chia tài sản chung của vợ chồng cũng đã được nhắc tới khi phân chia di sản thừa kế của vợ, chồng chết
"trong lúc còn sinh thời người chồng góa hay vợ góa, các con đã thành niên
có quyền xin chia phần tài sản thuộc quyền sở hữu của người chết, sau khi đã thanh toán tài sản chung" (Điều 11) Ngày 17/11/1950 Chủ tịch nước Việt
Nam dân chủ cộng hòa tiếp tục ban hành Sắc lệnh số 159/SL quy định về ly
hôn Điều 6 của Sắc lệnh quy định về hiệu lực của ly hôn “… Hai vợ chồng
đã ly hôn cùng chịu phí tổn về việc nuôi dạy con, mỗi người tùy theo khả năng của mình" Như vậy, khi ly hôn, tài sản chung của vợ chồng phải được chia và
vợ, chồng cùng có trách nhiệm trong việc nuôi dạy con Quy định này cho thấy, quyền bình đẳng giữa hai vợ chồng trong gia đình đặc biệt là trong quan
Trang 35hệ tài sản được quy định tại Sắc lệnh số 97/SL đã tiếp tục được khẳng định trong Sắc lệnh 159/SL
Mặc dù cả Sắc lệnh số 97/SL và Sắc lệnh số 159/SL đều không quy định trực tiếp về chia tài sản chung của vợ chồng khi vợ hoặc chồng chết và khi
ly hôn nhưng "cứ chiểu theo tinh thần của những văn bản này, có thế suy luận
rằng tài sản chung của vợ chồng phải được chia đôi, mỗi bên vợ, chồng được chia một nửa giá trị tài sản chung" [7, tr 87] Trường hợp chia tài sản chung
khi hôn nhân còn tồn tại chưa được quy định trong các văn bản pháp luật giai đoạn này
Giai đoạn 1954 - 1975
Giai đoạn 1954 - 1975, đất nước bị chia cắt làm hai miền Miền Bắc dưới sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, tiến lên xây dựng chủ nghĩa xã hội, còn miền Nam, đế quốc Mỹ thay chân thực dân Pháp thiết lập chế độ Cộng hòa ngụy quyền âm mưu xâm chiếm nước ta Vì vậy, trong giai đoạn này, các quan hệ HN&GĐ, cụ thể là quan hệ tài sản giữa
vợ, chồng ở hai miền được điều chỉnh bởi các văn bản luật khác nhau
Ở miền Nam: các quan hệ HN&GĐ lần lượt được điều chỉnh bởi các
văn bản là Luật Gia đình số 1-59 ngày 2/1/1959, Sắc luật 15/64 ngày 23/7/1964 quy định giá thú, tử hệ và tài sản cộng đồng, Bộ Dân luật ngày
20/12/1972 Về chia tài sản chung, Luật Gia đình năm 1959 không quy định
về hai trường hợp chia tài sản chung khi ly hôn do luật cấm ly hôn (trừ trường hợp Tổng thống cho phép ly hôn), và khi vợ hoặc chồng chết việc phân chia tàì sản do pháp luật thừa kế và án lệ điều chỉnh Sắc luật 15/64 không dự liệu việc chia tài sản chung của vợ chồng khi một bên vợ, chồng chết trước mà chỉ
dự liệu chia tài sản chung khi vợ chồng ly thân tại Điều 97- khi ly thân, vợ
chồng áp dụng chế độ biệt sản ("chế độ biệt sản là một loại chế độ tài sản
giữa vợ chồng trong đó không có khối cộng đồng tài sản" [7, tr 187] - tức là
không có tài sản chung của hai vợ chồng) hoặc ly hôn tại Điều 94 Bộ Dân luật 1972 lại dự liệu cả ba trường hợp chia tài sản chung đó là khi vợ hoặc
Trang 36chồng chết; khi vợ chồng ly thân (sự ly thân đương nhiên đặt vợ chồng vào tình trạng biệt sản) và ly hôn Ngoài ba trường hợp trên, trong thời kỳ hôn nhân, vợ chồng cũng có thể làm đơn yêu cầu Tòa án tuyên phán sự biệt sản trong một số trường hợp được luật dự liệu như chồng quản trị tài sản bất cẩn khiến tài sản riêng của vợ hoặc tài sản chung của vợ chồng có thể bị nguy hại hoặc vợ được kinh doanh thương mại theo sự cho phép của Toà án khi chồng không đồng ý (Điều 165) Khi ly hôn hoặc khi vợ, chồng chết, tài sản chung của vợ chồng được chia theo hôn ước, nếu không có hôn ước thì được chia theo
nguyên tắc tài sản chung sẽ chia đôi (Điều 201 và Điều 532)
Ở miền Bắc: Luật HN&GĐ năm 1959 được Quốc hội thông qua ngày
29/12/1959 với hai nhiệm vụ cơ bản là xóa bỏ những tàn tích của chế độ hôn nhân gia đình phong kiến lạc hậu và xây dựng chế độ hôn nhân gia đình mới
xã hội chủ nghĩa Vì vậy, về tài sản của vợ chồng, luật quy định một chế độ tài sản duy nhất là tài sản chung Vợ, chồng không có tài sản riêng Khi một bên vợ, chồng chết hoặc khi hai vợ chồng ly hôn tài sản chung sẽ được chia
"căn cứ vào sự đóng góp về công sức của mỗi bên, vào tình hình tài sản và
tình trạng cụ thể của gia đình Lao động trong gia đình được kể như lao động sản xuất" [30, Điều 29] Luật HN&GĐ năm 1959 chưa quy định trường hợp
chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân
Giai đoạn 1975 đến nay
Với thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước (30/4/1975) nước ta hoàn toàn thống nhất Tuy nhiên, sau thống nhất, miền Nam vẫn tiếp tục áp dụng Bộ Dân luật 1972 Đến ngày 25 tháng 3 năm 1977 Hội đồng Chính phủ ra Nghị quyết số 76/CP quy định về việc thực hiện pháp luật thống nhất trong cả nước Kể từ khi Nghị định số 76/CP ra đời, các quan hệ HN&GĐ trong cả nước được điều chỉnh thống nhất bằng Luật HN&GĐ năm
1959 Ngày 29/12/1986 Quốc hội khóa VII đã thông qua Luật HN&GĐ năm
1986 (có hiệu lực từ 3/1/1987) với nhiều quy định mới phù hợp với yêu cầu phát triển đất nước trong thời kỳ mới Các trường hợp chia tài sản chung cũng được quy định cụ thể, rõ ràng Ngoài hai trường hợp chia như Luật HN&GĐ
Trang 37năm 1959, Luật HN&GĐ năm 1986 còn quy định thêm trường hợp chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân Điều 18 Luật HN&GĐ năm
1986 quy định "Khi hôn nhân tồn tại, nếu một bên yêu cầu và có lý do chính
đáng thì có thể chia tài sản chung của vợ chồng theo quy định ở Điều 42 của Luật này" [31] Chia tài sản chung khi hôn nhân còn tồn tại được chia như khi
ly hôn "tài sản chung của vợ chồng được chia đôi, nhưng có xem xét một cách
hợp lý đến tình hình tài sản, tình trạng cụ thể của gia đình và công sức đóng góp của mỗi bên" [31, Điều 42] Trường hợp vợ, chồng chết, tài sản chung của
vợ chồng có thể được chia (nếu cần) theo nguyên tắc chia đôi mà không cần căn cứ vào công sức đóng góp của các bên
Luật HN&GĐ năm 2000 được Quốc hội khóa X thông qua ngày 9/6/2000, bắt đầu có hiệu lực từ ngày 1/1/2001 và hiện nay đang có hiệu lực thi hành, tiếp tục quy định các trường hợp chia tài sản chung của vợ chồng giống như Luật HN&GĐ năm 1986 Đồng thời, các trường hợp chia tài sản chung đã được quy định chi tiết, cụ thể hơn tạo điều kiện thuận lợi cho việc thực thi, áp dụng pháp luật trên thực tế
1.2 CÁC TRƯỜNG HỢP CHIA TÀI SẢN CHUNG CỦA VỢ CHỒNG THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM HIỆN HÀNH
Theo pháp luật Việt Nam hiện hành thì tài sản chung của vợ chồng có thể được chia trong ba trường hợp đó là khi ly hôn, khi một bên vợ hoặc chồng chết, và trong một số điều kiện mà pháp luật quy định, tài sản chung của vợ chồng cũng có thể được chia ngay cả khi quan hệ hôn nhân vẫn tồn tại
1.2.1 Chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân
Do lần đầu tiên được ghi nhận nên các quy định về chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân trong Luật HN&GĐ năm 1986 còn sơ lược, chưa tính đến những đặc thù riêng của chia tài sản chung khi hôn nhân còn tồn tại Đến Luật HN&GĐ năm 2000, trường hợp chia tài sản chung này đã được quy định đầy đủ, chi tiết hơn từ điều kiện chia, phương thức chia, hậu quả
Trang 38pháp lý…tạo cơ sở pháp lý để vợ chồng tự thỏa thuận hoặc yêu cầu Tòa án giải quyết khi có nhu cầu chia tài sản chung
1.2.1.1 Điều kiện chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân
Theo quy định tại Điều 29 Luật HN&GĐ năm 2000 thì vợ chồng có thể thỏa thuận hoặc yêu cầu tòa án chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân khi
vợ chồng đầu tư, kinh doanh riêng, thực hiện nghĩa vụ dân sự riêng hoặc có lý
do chính đáng khác; việc chia tài sản chung phải lập thành văn bản Chia tài sản chung nhằm trốn tránh thực hiện nghĩa vụ về tài sản không được pháp luật công nhận Như vậy, để được coi là hợp pháp, việc chia tài sản chung của vợ chồng phải đồng thời đáp ứng các điều kiện cả về mặt nội dung và về hình thức
* Điều kiện về nội dung
Về nội dung, chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân phải có lý do chia phù hợp với quy định pháp luật và mục đích chia không nhằm trốn tránh thực hiện nghĩa vụ về tài sản
Lý do chia tài sản chung
Chia tài sản chung để vợ chồng đầu tư kinh doanh riêng
Khái niệm đầu tư kinh doanh riêng không bị bó hẹp trong các loại hình doanh nghiệp, người đầu tư không nhất thiết phải là thương nhân theo quy định của Luật Doanh nghiệp, Luật Thương mại… Khái niệm đầu tư kinh doanh riêng được nhà làm luật nêu ra ở đây có nội hàm rộng và mở Đó có thể
là vợ, chồng bỏ vốn thành lập công ty riêng, trở thành một thành viên sáng lập của một công ty hay tham gia một dự án đầu tư… Trong điều kiện kinh tế thị trường ngày càng đa dạng, phong phú thì nhu cầu đầu tư kinh doanh riêng của
vợ chồng cũng ngày một gia tăng Chia tài sản chung trong trường hợp này sẽ tạo điều kiện cho vợ, chồng được độc lập sử dụng tài sản vào hoạt động kinh doanh một cách chủ động, linh hoạt hơn bởi tài sản chung sau khi chia sẻ trở thành tài sản riêng, việc sử dụng, định đoạt tài sản sẽ áp dụng quy chế đối với tài sản riêng Khi đó, việc sử dụng tài sản được chia không bị chi phối bởi các
Trang 39quy định hạn chế trong việc sử dụng tài sản chung của vợ chồng Đồng thời, chia tài sản chung trong trường hợp này cũng đồng thời giúp bảo vệ lợi ích của gia đình, tránh những ảnh hưởng tiêu cực do hoạt động kinh doanh mang lại bởi bản thân hoạt động đầu tư kinh doanh thường chứa đựng nhiều rủi ro
Chia tài sản chung để vợ chồng thực hiện nghĩa vụ dân sự riêng
Nghĩa vụ dân sự riêng là nghĩa vụ được bảo đảm thực hiện bằng tài sản riêng của vợ hoặc chồng có nghĩa vụ Khi có nghĩa vụ dân sự riêng, về nguyên tắc, người có nghĩa vụ phải thực hiện nghĩa vụ bằng tài sản riêng của mình mà không thể lấy tài sản chung của vợ chồng để thanh toán Nếu vợ, chồng không có tài sản riêng hoặc tài sản riêng không đủ để thực hiện nghĩa
vụ thì có thể yêu cầu chia tài sản chung của vợ chồng để lấy tài sản được chia cho mình thực hiện nghĩa vụ Tuy nhiên, một vấn đề đặt ra là, với những nghĩa vụ xác lập trong tương lai thì vợ chồng có quyền yêu cầu chia tài sản chung để thực hiện nghĩa vụ dân sự riêng hay không? Theo tác giả Nguyễn Ngọc Điện thì:
Luật không nói rõ nghĩa vụ tài sản riêng là nghĩa vụ hiện hữu hay nghĩa vụ sẽ được xác lập trong tương lai Bởi vậy, việc chia tài sản chung cũng có thể được tiến hành nhằm bảo đảm việc thực hiện một nghĩa vụ mà ở thời điểm tài sản chung được phân chia, chỉ nằm trong dự tính của vợ hoặc chồng [12, tr 171]
Chia tài sản chung khi có lý do chính đáng khác
Ngoài chia tài sản chung của vợ chồng để vợ chồng đầu tư kinh doanh riêng, thực hiện nghĩa vụ dân sự riêng, pháp luật còn ghi nhận vợ chồng có quyền thỏa thuận hoặc yêu cầu Tòa án chia tài sản chung khi có lý do chính
đáng Điều 29 Luật HN&GĐ năm 2000 quy định "Khi hôn nhân còn tồn tại,
trong trường hợp vợ chồng đầu tư kinh doanh riêng, thực hiện nghĩa vụ dân
sự riêng hoặc có lý do chính đáng khác thì vợ chồng có thể thỏa thuận chia
tài sản chung" [34] Như vậy, có lý do chính đáng là một trong những điều
kiện để vợ chồng có thể thỏa thuận chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân
Trang 40Tuy nhiên, đến nay, Luật HN&GĐ năm 2000 và văn bản hướng dẫn chưa giải thích thế nào là lý do chính đáng và những trường hợp nào được coi là có lý
do chính đáng theo quy định tại Điều 29 kể trên
Chia tài sản chung của vợ chồng không nhằm trốn tránh thực hiện nghĩa vụ về tài sản
Theo nguyên tắc thực hiện nghĩa vụ dân sự, "bên có nghĩa vụ phải
thực hiện nghĩa vụ của mình một cách trung thực, theo tinh thần hợp tác, đúng cam kết, không trái pháp luật, đạo đức xã hội" [38, Điều 283] Vì vậy,
nếu vợ chồng chia tài sản chung nhằm mục đích làm giảm sút hoặc mất đi khả năng thực hiện nghĩa vụ về tài sản do giá trị khối tài sản đảm bảo thực hiện nghĩa vụ đã giảm sau khi chia là vợ chồng đã không trung thực và thiếu tinh thần hợp tác…trong quá trình thực hiện nghĩa vụ, tức là vi phạm nguyên tắc thực hiện nghĩa vụ dân sự Trong trường hợp này, pháp luật quy định những người có quyền, lợi ích liên quan có thể yêu cầu Tòa án tuyên bố vô hiệu đối với việc chia tài sản chung của vợ chồng Các nghĩa vụ về tài sản của vợ chồng bao gồm: nghĩa vụ nuôi dưỡng, cấp dưỡng người khác theo quy định pháp luật; nghĩa vụ bồi thường thiệt hại; nghĩa vụ thanh toán khi bị Tòa án tuyên bố tuyên bố phá sản doanh nghiệp; nghĩa vụ nộp thuế và nghĩa vụ tài chính đối với Nhà nước; nghĩa vụ trả nợ cho người khác và các nghĩa vụ tài sản khác theo quy định của pháp luật (Điều 11 Nghị định 70/2001/NĐ-CP)
* Điều kiện về hình thức
Thỏa thuận chia tài sản chung của vợ chồng phải được lập thành văn bản và có thể được công chứng theo yêu cầu của vợ chồng hoặc theo quy định pháp luật Trong văn bản chia phải thể hiện rõ các nội dung như lý do chia tài sản, phần tài sản chia, phần tài sản còn lại không chia (nếu có), thời điểm phát sinh hiệu lực của việc chia tài sản chung…(Khoản 1 Điều 6 Nghị định số 70/2001/NĐ-CP) Trong trường hợp vợ chồng không tự thỏa thuận được về việc chia tài sản chung và yêu cầu Tòa án giải quyết, các vấn đề cụ thể về chia tài sản chung được thể hiện trong quyết định của Tòa án Như vậy, chia tài