Để thu thập chứng cứ, trong giai đoạn điều tra, Cơ quan điều tra có quyền và nghĩa vụ tiến hành các hoạt động, các biện pháp điều tra khác nhau theo quy định của luật tố tụng hình sự bao
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
NGUYỄN TRỌNG HIỀN
BIỆN PHÁP HỎI CUNG BỊ CAN TRONG LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM
(Trên cơ sở số liệu thực tiễn tại địa bàn thành phố Hải Phòng)
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI - 2018
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Cán bộ hướng dẫn khoa học: TS LÊ LAN CHI
HÀ NỘI - 2018
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội
Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể bảo vệ Luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
NGƯỜI CAM ĐOAN
Nguyễn Trọng Hiền
Trang 4MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục các từ viết tắt
Danh mục các bảng, biểu đồ
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BIỆN PHÁP HỎI CUNG BỊ CAN 6
1.1 Khái niệm, đặc điểm của biện pháp hỏi cung bị can 6
1.1.1 Khái niệm biện pháp hỏi cung bị can 6
1.1.2 Đặc điểm của biện pháp hỏi cung bị can 8
1.1.3 Phân biệt biện pháp hỏi cung bị can với các biện pháp điều tra khác thu thập chứng cứ từ nguồn lời khai của người tham gia tố tụng 16
1.2 Các tiêu chí đặt ra đối với biện pháp hỏi cung bị can 19
1.2.1 Tiêu chí về tuân thủ pháp luật 19
1.2.2 Tiêu chí về tính hiệu quả, kịp thời 21
1.2.3 Tiêu chí về bảo đảm quyền con người 22
1.3 Biện pháp hỏi cung trong pháp luật tố tụng hình sự tại một số quốc gia trên thế giới 25
1.3.1 Biện pháp hỏi cung trong pháp luật tố tụng hình sự Cộng hoà nhân dân Trung Hoa 25
1.3.2 Hoạt động hỏi cung trong pháp luật tố tụng hình sự Liên bang Nga 26
1.3.3 Hoạt động hỏi cung trong pháp luật tố tụng hình sự Nhật Bản 28
Chương 2: CÁC QUY ĐỊNH CỦA LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM VỀ BIỆN PHÁP HỎI CUNG BỊ CAN VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG TRONG ĐIỀU TRA CÁC VỤ ÁN HÌNH SỰ TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG 30
Trang 52.1 Các quy định của luật tố tụng hình sự Việt Nam hiện hành về
hỏi cung bị can trong Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 và
Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 30
2.1.1 Quy định về thành phần, chủ thể hỏi cung, tham gia hỏi cung 30
2.1.2 Quy định về quyền và nghĩa vụ của bị can trong quá trình hỏi cung 34
2.1.3 Quy định về trình tự, thủ tục hỏi cung 36
2.1.4 Quy định về việc ghi biên bản, ghi âm, ghi hình hỏi cung bị can 37
2.2 Thực tiễn áp dụng các quy định về hỏi cung bị can và lấy lời khai người tham gia tố tụng trong điều tra các vụ án hình sự trên địa bàn thành phố Hải Phòng (giai đoạn 2013-2017) 41
2.2.1 Tình hình chung 41
2.2.2 Hạn chế trong thực hiện biện pháp điều tra hỏi cung và nguyên nhân 58
Chương 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP TIẾP TỤC HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỰC HIỆN BIỆN PHÁP HỎI CUNG BỊ CAN 65
3.1 Giải pháp tiếp tục hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự 65
3.1.1 Bối cảnh và định hướng tiếp tục hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự 65
3.1.2 Giải pháp tiếp tục hoàn thiện pháp luật về hỏi cung bị can 66
3.2 Một số giải pháp khác nâng cao hiệu quả thực hiện biện pháp điều tra hỏi cung bị can 71
KẾT LUẬN 76
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 78
Trang 6DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
BLTTHS: Bộ luật Tố tụng hình sự CQĐT: Cơ quan điều tra
ĐTV: Điều tra viên KSV: Kiểm sát viên TNHS: Trách nhiệm hình sự TTHS: Tố tụng hình sự VKSND: Viện kiểm sát nhân dân
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU ĐỒ
Bảng 2.1 Thống kê số lượng tố giác, tin báo, số lượng vụ án
được khởi tố trên địa bàn thành phố Hải Phòng giai
Bảng 2.2 Thống kê số án khởi tố/số tố giác, tin báo trên địa bàn
thành phố nếu xét theo cơ cấu quận, huyện giai đoạn
Biểu đồ 2.1 Thống kê số vụ án, số bị cáo được đưa ra xét xử trên
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Điều tra vụ án hình sự là một giai đoạn quan trọng trong quá trình giải quyết vụ án hình sự, truy cứu trách nhiệm hình sự (TNHS) người phạm tội, được tiến hành bởi những cơ quan, những người có thẩm quyền tiến hành tố tụng, theo những nguyên tắc, trình tự luật định nhằm phát hiện, thu thập, đánh giá và sử dụng chứng cứ Quá trình truy cứu TNHS có đúng người, đúng tội, đúng pháp luật hay không phụ thuộc rất nhiều vào chất lượng điều tra và việc tuân thủ pháp luật trong quá trình điều tra Để thu thập chứng cứ, trong giai đoạn điều tra, Cơ quan điều tra có quyền và nghĩa vụ tiến hành các hoạt động, các biện pháp điều tra khác nhau theo quy định của luật tố tụng hình sự bao gồm những hoạt động như: khởi tố bị can, hỏi cung bị can, lấy lời khai của người làm chứng, người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân
sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án; đối chất và nhận dạng; khám xét, thu giữ, tạm giữ, kê biên tài sản, giám định, định giá, thực nghiệm điều tra Trong đó, hỏi cung bị can là biện pháp điều tra phổ biến, quan trọng, mang tính truyền thống trong điều tra hình sự nói riêng và có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với quá trình chứng minh vụ án hình sự nói chung Hiệu quả hỏi cung bị can phụ thuộc vào sự chuẩn bị kỹ lưỡng, sự phối hợp kết quả các công tác nghiệp vụ và các biện pháp điều tra tố tụng, phụ thuộc vào trình độ, kỹ năng, kỹ chiến thuật hỏi của Điều tra viên và cán bộ điều tra Mặt khác hỏi cung bị can cũng là những biện pháp điều tra tố tụng, phải tuân thủ quy định về thẩm quyền, trình tự, thủ tục tố tụng, bảo đảm các quyền tố tụng của bị can, các quyền và nghĩa vụ của người tham gia tố tụng trong quá trình lấy lời khai của họ
Những năm gần đây, nhiều chuyển biến theo chiều hướng tích cực
Trang 9trong thực tiễn áp dụng pháp luật tố tụng hình sự (TTHS) đã làm tăng hiệu quả hỏi cung, lấy lời khai phục vụ yêu cầu điều tra, xác định tội phạm và người phạm tội, đồng thời giảm đi các trường hợp hỏi cung, lấy lời khai vi phạm thủ tục tố tụng, vi phạm các quyền của người tham gia tố tụng Cơ quan điều tra (CQĐT) đã thể hiện sự tôn trọng và đảm bảo yêu cầu về tính hiệu quả và tính hợp pháp của hoạt động hỏi cung, lấy lời khai Mặt khác CQĐT cũng đã tạo điều kiện để bị can thực hiện quyền tự mình bào chữa, quyền nhờ người khác bào chữa - bảo đảm cho người bào chữa có mặt trong các buổi hỏi cung bị can
Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy vẫn còn tồn tại nhiều hạn chế, sai sót trong tiến hành biện pháp điều tra nêu trên Thậm chí, tại một số địa phương vẫn tồn tại những hình thức bức cung, dùng nhục hình hoặc các thủ thuật mớm cung, dục cung để lấy cung bị can, lấy lời khai người tham gia tố tụng,
vi phạm quyền bào chữa của người bị buộc tội Điển hình là các vụ án gây bức xúc trong dư luận xã hội như vụ dùng nhục hình gây chết người ở Phú Yên, vụ án oan ở Sóc Trăng… Những hiệu tượng tiêu cực trên dẫn đến việc
xử lý tội phạm không đúng, ảnh hưởng trực tiếp tới quá trình giải quyết vụ án, xâm phạm nghiêm trọng đến quyền, lợi ích của tổ chức, cá nhân, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm của con người, từ đó gián tiếp xâm phạm tới hoạt động
tư pháp, làm giảm uy tín của CQĐT nói riêng và các cơ quan tiến hành tố tụng khác nói chung Điều này xuất phát từ nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan khác nhau, trong đó phải kể đến nguyên nhân pháp luật Pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam hiện hành còn nhiều bất cập trong các quy định về quyền và nghĩa vụ của chủ thể hỏi cung, lấy lời khai, quy định chưa cụ thể về quyền của bị can và người tham gia tố tụng, thiếu các quy định về cơ chế giám sát kỹ thuật và kiểm sát, giám sát của Viện kiểm sát và các chủ thể khác, đặc biệt, còn có những rào cản cho việc tham dự hỏi cung, lấy lời khai của người bào chữa, người bảo vệ quyền lợi của đương sự…
Trang 10Vì vậy, việc đi sâu nghiên cứu về hỏi cung bị can, lấy lời khai người tham gia tố tụng có ý nghĩa to lớn cả về mặt lý luận và thực tiễn đấu tranh phòng chống tội phạm, thực tiễn áp dụng pháp luật tố tụng hình sự Chính vì
vậy, tác giả quyết định chọn đề tài “Biện pháp hỏi cung bị can trong Luật tố
tụng hình sự Việt Nam (Trên cơ sở số liệu thực tiễn tại địa bàn TP Hải Phòng)” làm luận văn thạc sĩ luật học
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Ở Việt Nam, cho đến nay đã có một số công trình nghiên cứu về biện pháp hỏi cung bị can ở những mức độ và phạm vi nghiên cứu khác nhau như:
“Hỏi cung bị can phạm tội xâm phạm an ninh quốc gia trong tình hình hiện nay”, đề tài NCKH cấp Bộ của Phó giáo sư, tiến sỹ Lê Minh Hùng năm 2001
– Học viện An ninh nhân dân; “Hỏi cung bị can phạm tội gián điệp trong tình
hình hiện nay”, luận án tiến sỹ của Nguyễn Quý Khoát năm 2003 – Học viện
An ninh nhân dân; “Các biện pháp điều tra trong tố tụng hình sự”, "Sổ tay
điều tra hình sự" (Nhà xuất bản Công an nhân dân, 2010); "Khoa học Điều tra hình sự" của Trường Đại học Luật Hà Nội (Nhà xuất bản Công an nhân
dân, 2012); “Chiến thuật điều tra hình sự” (sách chuyên khảo) của Phó giáo
sư, tiến sỹ Nguyễn Huy Thuật (Nhà xuất bản Công an nhân dân, 2010)… và một số bài báo đăng trên các Tạp chí Công an nhân dân, Tạp chí Phòng chống tội phạm dưới dạng lưu hành nội bộ do yêu cầu nghiệp vụ Đây là những công trình nghiên cứu các vấn đề về hỏi cung, lấy lời khai tư cách các hoạt động nghiệp vụ điều tra hình sự
Ngoài ra, một số công trình nghiên cứu khác cũng đề cập tới hỏi cung,
lấy lời khai ở giác độ các hoạt động tố tụng hình sự, như: “Giáo trình Luật tố
tụng hình sự” của Trường Đại học Luật Hà Nội (Nhà xuất bản Công an nhân
dân, 2013); “Bình luận khoa học Bộ luật tố tụng hình sự” của GS.TS Nguyễn
Ngọc Anh (Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, 2013); …các nghiên cứu dưới
Trang 11dạng các bài báo được công bố trong một số tạp chí khoa học pháp lý Tuy nhiên các công trình này ở những mức độ khác nhau mới chỉ đề cập tới vấn đề mang tính bình luận các quy định của pháp luật về hỏi cung và lấy lời khai mà chưa đi sâu phân tích từ giác độ lý luận cũng như thực tiễn áp dụng, chưa đi sâu phân tích các bất cập, hạn chế Như vậy, có thể nói rằng chưa có công trình nào nghiên cứu rộng và sâu về biện pháp hỏi cung bị can với tư cách là một đề tài cấp luận văn thạc sĩ luật học Do đó, việc tiếp tục nghiên cứu về hỏi cung bị can với những vấn đề lí luận cơ bản, những vấn đề của luật thực định
và thực tiễn áp dụng là cần thiết Đặc biệt, đây cũng là đề tài đầu tiên tiếp cận vấn đề nghiên cứu từ thực tiễn điều tra trên địa bàn thành phố Hải Phòng
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu: Trên cơ sở nghiên cứu, phân tích những vấn đề
lý luận cơ bản, luận văn đánh giá một cách có hệ thống quy định của pháp luật và thực tiễn áp dụng biện pháp hỏi cung bị can trong các vụ án hình sự, từ
đó đề xuất những giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện các biện pháp điều tra này trong thời gian tới, góp phần bổ sung, hoàn thiện lý luận trong pháp luật tố tụng hình sự
Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Tiếp tục hoàn thiện những vấn đề lý luận có liên quan đến hỏi cung trong điều tra vụ án hình sự như khái niệm, đặc điểm, chủ thể, nội dung, phương thức, tiêu chí đánh giá biện pháp hỏi cung bị can
- Phân tích, đánh giá thực tiễn hỏi cung điều tra vụ án hình sự (gắn với thực tiễn điều tra các vụ án hình sự trên địa bàn thành phố Hải Phòng, giai đoạn 2013-2017)
- Đưa ra các giải pháp nâng cao hiệu quả biện pháp hỏi cung trong điều tra vụ án hình sự
Trang 123 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Luận văn nghiên cứu một số vấn đề lý luận
cũng như quy định của pháp luật Việt Nam liên quan đến biện pháp hỏi cung trong điều tra vụ án hình sự
Phạm vi nghiên cứu: đề tài chủ yếu nghiên cứu thực tiễn áp dụng các
quy định của pháp luật Việt Nam liên quan đến hỏi cung bị can, trong thực tiễn tố tụng hình sự tại Hải Phòng mà cụ thể là trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự giai đoạn 5 năm gần đây (từ năm 2013-2017)
4 Phương pháp nghiên cứu
Trên cơ sở phương pháp luận của phép duy vật biện chứng, duy vật lịch
sử lựa chọn các phương pháp nghiên cứu cụ thể là: phương pháp phân tích, tổng hợp, lịch sử, so sánh, phương pháp chuyên gia: trao đổi với các cán bộ thực tiễn, thu thập tài liệu, số liệu, thông tin trong thực tiễn
5 Các đóng góp của đề tài
Đề tài góp phần hoàn thiện các vấn đề lý luận liên quan đến biện pháp hỏi cung trong tố tụng hình sự, đồng thời cung cấp những đánh giá thực tiễn pháp luật và thực tiễn áp dụng pháp luật trong thực thi biện pháp điều tra tố tụng này Đề tài cũng có ý nghĩa thực tiễn cao qua việc đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật và thực hiện pháp luật về hỏi cung, lấy lời khai trong tố tụng hình sự ở nước ta trong thời gian tới
6 Kết cấu của luận văn
Luận văn ngoài phần mở đầu, kết luận, nội dung luận văn gồm 3 chương, 8 mục
Trang 13Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BIỆN PHÁP HỎI CUNG BỊ CAN
1.1 Khái niệm, đặc điểm của biện pháp hỏi cung bị can
1.1.1 Khái niệm biện pháp hỏi cung bị can
Hỏi cung bị can là biện pháp điều tra mang tính chất truyền thống của
tố tụng hình sự và mang tính chất phổ biến ở tất cả ở các quá trình tố tụng, tại các quốc gia trên thế giới Là một biện pháp điều tra quan trọng, hỏi cung bị can được quy định trong luật tố tụng hình sự và cũng là đối tượng được khoa học luật tố tụng hình sự quan tâm nghiên cứu
Trong tiếng Anh, hỏi cung (“interogation”) theo Từ điển Cambridge
được hiểu là “hỏi ai đó nhiều câu hỏi trong một thời gian dài để lấy thông tin,
đôi khi có thể sử dụng biện pháp đe doạ hoặc bạo lực” [47] hoặc theo Từ điển
Macmillan được hiểu là“quá trình hỏi một ai đó nhiều câu hỏi trong trạng thái
cáu bực hoặc đe doạ để lấy thông tin” [48] Hỏi cung là hoạt động “hỏi” + “để
lấy lời khai” nếu chiết tự từ nguồn gốc Hán Việt Chữ “cung” trong “hỏi cung”, hay “cung” trong “khẩu cung”, “bức cung”, “phiên cung”, “phản cung”, “chiêu
cung” là đều có nghĩa là lời khai, là “tra hỏi kẻ khác, kẻ khác xưng hết sự mình
gọi là cung” Còn trong tiếng Việt phổ thông, theo giải thích của từ điển Tiếng
Việt, hỏi cung được định nghĩa là “hỏi để lấy lời khai của bị can”
Giáo trình Luật Tố tụng hình sự Việt Nam của Khoa Luật, ĐHQGHN
do Nguyễn Ngọc Chí chủ biên, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, năm 2001, trang 281 và Giáo trình Luật Tố tụng hình sự Việt Nam của Khoa Luật, ĐHQGHN do Nguyễn Ngọc Chí chủ biên, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội,
năm 2013, trang 334 đưa ra khái niệm: “Hỏi cung bị can là một trong các
biện pháp điều tra thu thập chứng cứ từ lời khai của bị can, do điều tra viên tiến hành” Khái niệm này đã chỉ ra đúng bản chất của hỏi cung bị can: đây
Trang 14là: 1, một trong các biện pháp điều tra thu thập chứng cứ; 2, thu thập chứng
cứ từ lời khai của bị can Tương tự như vậy, Giáo trình Luật Tố tụng hình sự Việt Nam của Trường Đại học Luật Hà Nội, do Ths Hoàng Văn Hạnh chủ
biên, Nxb Công an nhân dân, năm 2005, trang 281 định nghĩa: “Hỏi cung bị
can là hoạt động điều tra nhằm thu thập chứng cứ từ lời khai của bị can”
Đưa ra một định nghĩa với nhiều sự giải thích hơn, Cuốn Sổ tay Pháp luật của Điều tra viên do PGS.TS Nguyễn Ngọc Anh chủ biên, Nxb Tư pháp năm
2006, trang 136 cho rằng:
Hỏi cung bị can là biện pháp điều tra để thu thập tài liệu, chứng cứ theo quy định của BLTTHS năm 2003 do Điều tra viên và trong trường hợp cần thiết là Kiểm sát viên tiến hành bằng cách đưa
ra câu hỏi về những vấn đề cần làm sáng tỏ trong quá trình điều tra
vụ án hình sự cụ thể yêu cầu đối tượng được hỏi là bị can trả lời Còn từ góc độ tâm lý học, hỏi cung bị can “là một dạng hoạt động điều tra sử dụng các phương pháp tác động tâm lí đến tư duy, tình cảm, ý chí của
bị can” [39, tr 162]
Từ phương diện luật thực định, “hỏi cung bị can là một hoạt động điều tra nhằm phát hiện, thu thập chứng cứ do Điều tra viên tiến hành bằng cách đặt ra câu hoỉ để bị can trả lời và ghi nhận những câu hỏi, nội dung trả lời vào biên bản hỏi cung bị can” [20, tr.250] Có thể nói, các định nghĩa khoa học nêu trên về hỏi cung bị can đã đưa ra khái niệm hỏi cung bị can với tư cách một thuật ngữ của luật tố tụng hình sự Chúng tôi cũng tán thành nội dung của khái niệm hỏi cung bị can mà các công trình nêu trên đưa ra và cho rằng hỏi cung bị can: Trước hết, về bản chất là một hoạt động hay một biện pháp điều tra để thu thập chứng cứ do BLTTHS quy định; Thứ hai, biện pháp này được đặc trưng bởi việc lấy lời khai bằng cách đưa ra câu hỏi làm rõ đối tượng chứng minh trong vụ án để bị can trả lời; Thứ ba, hỏi cung bị can là hỏi cung
Trang 15đối tượng tình nghi đã bị khởi tố bị can, có tư cách tố tụng là bị can, do đó khởi tố bị can được tiến hành sau khi khởi tố bị can; Thứ tư chủ thể hỏi cung
bị can là điều tra viên, kiểm sát viên và người có thẩm quyền được giao nhiệm
vụ tiến hành một số hoạt động điều tra
Ngoài ra, hỏi cung bị can còn được tiếp cận ở góc độ nghiệp vụ của các ngành cảnh sát, an ninh, hỏi cung bị can là một hoạt động nghiệp vụ với sự kết hợp các phương pháp, chiến thuật xét hỏi, kế hoạch xét hỏi Chẳng hạn, Giáo trình khoa học điều tra hình sự của Trường Đại học Luật Hà Nội, do TS Bùi Kiên Điện chủ biên, Nxb Công an nhân dân, năm 2012, trang 81 nhận định: “Thực chất của hỏi cung bị can là cuộc đấu tranh về ý chí và lý trí giữa Điều tra viên và bị can Do đó, để hoạt động này có hiệu quả cao, đòi hỏi Điều tra viên phải có trình độ văn hoá pháp luật, nghiệp vụ cao, kiến thức sâu rộng về xã hội, tâm lý, có kinh nghiệm dày dặn trong công tác hỏi cung…” Chúng tôi cho rằng hỏi cung bị can là biện pháp điều tra tố tụng, đồng thời cũng là một hoạt động nghiệp vụ, tuy nhiên, trong phạm vi đề tài, hỏi cung bị can là một biện pháp điều tra tố tụng, theo luật tố tụng hình sự Việt Nam
Từ các phân tích và đặt vấn đề như trên, chúng tôi đưa ra khái niệm
như sau về hỏi cung bị can: “Hỏi cung bị can là biện pháp điều tra để thu
thập chứng cứ theo quy định của luật tố tụng hình sự, do Điều tra viên và một
số người có thẩm quyền tiến hành tố tụng khác thực hiện bằng cách đặt câu hỏi để bị can trả lời về những vấn đề cần làm sáng tỏ trong quá trình giải quyết vụ án”
1.1.2 Đặc điểm của biện pháp hỏi cung bị can
- Đặc điểm về chủ thể biện pháp hỏi cung
Hỏi cung bị can là hoạt động do Điều tra viên và những người có thẩm quyền tiến hành tố tụng khác thực hiện trong các giai đoạn điều tra, truy tố vụ
án hình sự
Trang 16Trong giai đoạn điều tra, sau khi có quyết định khởi tố vụ án, xác định được người có dấu hiệu thực hiện hành vi phạm tội, Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra, trong phạm vi thẩm quyền của mình, tiến hành khởi tố bị can và sau đó hỏi cung bị can ngay Hỏi cung bị can được thực hiện ngay sau khi khởi tố bị can để khẩn trương thu thập các chứng cứ quan trọng của vụ án Hỏi cung bị can do Điều tra viên là chủ thể chính thực hiện, với sự giúp đỡ của cán bộ điều tra (ghi biên bản), cán
bộ kỹ thuật hay cán bộ chuyên môn về kỹ thuật (ghi âm, ghi hình)
Hoạt động hỏi cung bị can thực chất là hoạt động lấy lời khai nhưng có tính chính thức, tính “tố tụng” rõ ràng, đầy đủ hơn hoạt động lấy lời khai của chính đối tượng bị tình nghi ở các thời điểm trước đó của vụ án Cùng phương thức hỏi – đáp để thu thập thông tin, hoạt động lấy lời khai của đối tượng có thể không phải do người có thẩm quyền tiến hành tố tụng nếu thực hiện trước khi khởi tố bị can như công an xã, phường, đồn, trạm lấy lời khai ban đầu… Đặc điểm này về chủ thể của hoạt động hỏi cung bị can góp phần bảo đảm chất lượng, hiệu quả của nguồn chứng cứ là biên bản hỏi cung bị can và là loại nguồn chứng cứ chủ yếu thuộc nhóm nguồn lời khai trong hồ sơ vụ án
Khi xét thấy cần thiết, Kiểm sát viên tham gia việc hỏi cung bị can Việc tham gia hỏi cung bị can của Kiểm sát viên với tư cách chủ thể hỏi cung
bị can (vai trò đồng hỏi cung với Điều tra viên mà chưa phải hoạt động hỏi cung bị can một cách độc lập) Khi đồng hỏi cung, Kiểm sát viên hỏi cung xuất phát từ việc thực hiện cả hai chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp: hỏi để thu thập các chứng cứ buộc tội, gỡ tội và tham
dự hỏi cung bị can còn nhằm khẳng định tính chính xác, tính hợp pháp của các thông tin thu được từ hỏi cung
Khi trực tiếp và tự mình hỏi cung bị can, Kiểm sát viên sẽ hỏi cung bị can trong các trường hợp thấy nghi ngờ về tính chính xác, tính nhất quán trong
Trang 17lời khai của bị can, khi thấy có những điểm bất bình thường trong tư duy và diễn biến tâm lý của bị can cũng như khi xét thấy các nội dung kêu oan, khiếu nại, tố cáo cần phải kiểm tra xác minh thông qua việc trực tiếp gặp hỏi bị can Như vậy, cùng là việc hỏi cung bị can nhưng sự tham gia của Điều tra viên và Kiểm sát viên có sự khác nhau nhất định về mục đích của việc hỏi cung
Trong quá trình hỏi cung bị can, chủ thể hỏi cung chủ yếu là Điều tra viên, Kiểm sát viên Ngoài ra, còn có thể do những người có thẩm quyền tiến hành một số hoạt động điều tra khi thụ lý điều tra các vụ án về những tội phạm ít nghiêm trọng và đơn giản Theo đó, với những loại án này, các cơ quan như Hải quan, Kiểm lâm, Bộ đội biên phòng, Cảnh sát biển, Kiểm ngư… có thể khởi tố vụ án, khởi tố bị can, tiến hành hỏi cung bị can và thực hiện một số hoạt động điều tra khác, sau đó chuyển lại hồ sơ cho cơ quan điều tra chuyên trách
Như đã đề cập, ngoài Điều tra viên, Kiểm sát viên còn có thể có các cán
bộ giúp việc là cán bộ điều tra, kiểm tra viên là những người tiến hành tố tụng được tham gia một số hoạt động điều tra nhất định - trong đó có hoạt động hỏi cung bị can Họ tham gia hỏi cung bị can nhưng chỉ với vai trò ghi biên bản hỏi cung mà không phải là người đặt câu hỏi, không phải là người chịu trách nhiệm chính trong việc hỏi cung bị can
Quá trình hỏi cung còn có thể có sự hiện diện của những cán bộ kỹ thuật có trình độ chuyên môn kỹ thuật và sử dụng thành thạo các phương tiện, thiết bị kỹ thuật ghi âm hoặc ghi hình có âm thanh, có trách nhiệm quản lý
hệ thống phương tiện, thiết bị kỹ thuật sử dụng để ghi âm hoặc ghi hình có
âm thanh và bảo quản, lưu trữ kết quả dữ liệu ghi âm hoặc ghi hình có âm thanh nhưng họ cũng chỉ tham gia quá trình hỏi cung với vai trò hỗ trợ mà không phải là chủ thể hỏi cung bị can
Một số chủ thể khác như người giám định cũng có thể có mặt trong một
Trang 18số trường hợp nhất định khi hỏi cung bị can, sự hiện diện của họ là “tham dự”
mà không phải là chủ thể hỏi cung bị can dù họ có quyền được đặt câu hỏi, việc đặt câu hỏi của họ là về những vấn đề liên quan đến đối tượng giám định
- Đặc điểm về đối tượng của biện pháp hỏi cung
Đối tượng của hỏi cung bị can chính là bị can, những người đã bị khởi
tố về hình sự - những người đã có quyết định khởi tố bị can của cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng “Một người hoặc một pháp nhân chỉ có thể bị khởi tố với tư cách bị can trong vụ án hình sự khi có đủ căn cứ xác định người hoặc pháp nhân đó đã thực hiện hành vi phạm tội” [20, tr 77] Khi trở thành
bị can, người bị buộc tội đã có một tư cách tố tụng mới và có nguy cơ bị hạn chế đáng kể một số quyền con người, quyền công dân cơ bản, bị áp dụng các biện pháp ngăn chặn như tạm giam, cấm đi khỏi nơi cư trú, bị áp dụng biện pháp cưỡng chế áp giải nếu không thực hiện theo giấy triệu tập có mặt tại trụ
sở cơ quan điều tra để hỏi cung, bị áp dụng các biện pháp cưỡng chế khác như
kê biên tài sản, phong toả tài khoản…
Bị can có thể bị hỏi cung nhiều lần, ngay sau khi hỏi cung bị can, trong quá trình điều tra và ngay cả trong giai đoạn truy tố, khi cơ quan điều tra đã chuyển hồ sơ vụ án và bản kết luận điều tra đề nghị truy tố sang cho Viện kiểm sát thì Viện kiểm sát vẫn có thể hỏi cung bị can để kiểm tra, củng cố hồ
sơ chứng cứ phục vụ cho việc truy tố
Tham dự hỏi cung bị can, đứng về phía bị can, ngoài người có thẩm quyền tiến hành tố tụng còn có thể có sự hiện diện của người bào chữa cho bị can, đó là luật sư được chỉ định hoặc được bị can và gia đình mời bào chữa cho bị can, là trợ giúp viên pháp lý khi bị can thuộc diện được trợ giúp pháp
lý, bào chữa viên nhân dân và người đại diện của bị can trong trường hợp bị can thuộc diện phải có người đại diện theo quy định của pháp luật Những người này đứng về phía bị can nhưng không phải là đối tượng hỏi cung Họ
Trang 19tham dự hỏi cung xuất phát từ trách nhiệm nghề nghiệp là bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị can, hỗ trợ về tâm lý cho bị can (đặc biệt là bị can dưới
16 tuổi, người có nhược điểm về thể chất hoặc tâm thần) Mặt khác, sự tham
dự hỏi cung bị can của nhóm chủ thể này còn thể hiện tính chất tranh tụng, yếu tố tranh tụng của tố tụng hình sự đã bắt đầu có ngay từ thời điểm trước phiên toà xét xử Họ có thể được đặt các câu hỏi để bị can trả lời, nội dung hỏi đáp này được ghi vào biên bản hỏi cung bị can Nội dung hỏi của người bào chữa để bổ sung, để đặt lại vấn đề (mà chủ thể hỏi cung đã hỏi theo hướng buộc tội) qua đó tìm ra những chứng cứ chứng minh không có sự việc phạm tội, bị can không phạm tội, phạm vào một tội danh khác nhẹ hơn hoặc phổ biến là để tìm ra các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, các tình tiết về nhân thân có lợi cho việc bào chữa
Ngoài ra, đối với một số vụ án, quá trình hỏi cung bị can còn có thể có
sự hiện diện của người phiên dịch khi bị can không nói được tiếng Việt (bị can là người dân tộc thiểu số hoặc người nước ngoài), khi bị can là người có nhược điểm về thể chất và tâm thần (bị câm, điếc…) Người phiên dịch – người tham gia tố tụng cũng thực hiện vai trò dịch thuật của mình nhưng chính vì mang vai trò này, họ không phải là chủ thể hay đối tượng hỏi cung bị can Sự hiện diện của người phiên dịch nhằm đảm bảo truyền tải đúng câu hỏi của điều tra viên đối với bị can cũng như theo chiều ngược lại là bảo đảm truyền tải đúng câu trả lời của bị can đến Điều tra viên Tuy nhiên, hoàn toàn
có khả năng người phiên dịch dịch sót ý hoặc truyền tải không đúng, do vậy, pháp luật phải đặt ra các quy định về nghĩa vụ, trách nhiệm, tính khách quan
vô tư của người phiên dịch
- Đặc điểm về nội dung, mục đích của biện pháp hỏi cung bị can
Hỏi cung bị can là quá trình khai thác thông tin một cách trực tiếp và hiệu quả từ chính người bị tình nghi phạm tội, họ là người nắm rõ hơn ai hết
Trang 20về nội dung vụ án; từ động cơ, mục đích, kế hoạch phạm tội, phương pháp, thủ đoạn phạm tội, công cụ, phương tiện phạm tội, các đồng phạm, nạn nhân, tài sản đã chiếm đoạt, huỷ hoại, cất giấu… “Là chủ thể của tội phạm, bị can là chủ sở hữu một lượng thông tin tương đối lớn về vụ án” [41, tr 83] Vì vậy, hỏi cung bị can là hoạt động được thực hiện với mục đích nhằm phát hiện, thu thập, kiểm tra, đánh giá các thông tin xác định có hành vi phạm tội xảy ra hay không, thời gian, địa điểm; người thực hiện hành vi phạm tội; có lỗi hay không có lỗi, do cố ý hay vô ý; có năng lực trách nhiệm hình sự hay không; mục đích, động cơ phạm tội, phương thức, thủ đoạn phạm tội, vị trí, vai trò của bị can trong vụ án và các đồng phạm, những người khác trong vụ án Nội dung hỏi cung bị can còn nhằm làm rõ tình tiết tăng n ặng trách nhiệm hình sự của bị can, bị cáo và đặc điểm về nhân thân của bị can, bị cáo, tính chất và mức độ thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra, nguyên nhân và điều kiện phạm tội Mặc dù về mặt thực tế, Cơ quan điều tra khi tiến hành hỏi cung có
xu hướng hỏi để làm rõ các tình tiết buộc tội bị can nhưng về nguyên tắc, xuất phát từ yêu cầu xác định sự thật của vụ án, hỏi cung bị can còn phải làm rõ cả những tình tiết giảm nhẹ, những tình tiết khác liên quan đến việc loại trừ trách nhiệm hình sự, miễn trách nhiệm hình sự, miễn hình phạt Để giải quyết vụ án một cách đầy đủ, trọn vẹn, hoạt động hỏi cung bị can còn được trông đợi tìm
ra nguyên nhân điều kiện phạm tội để đưa ra các đề xuất kiến nghị phòng ngừa tội phạm và kiểm soát tội phạm
Khi hỏi cung, chủ thể hỏi cung phải xác định rõ ràng những vấn đề cần làm rõ trong quá trình hỏi cung để đưa ra danh sách các câu hỏi và chiến thuật hỏi cung hợp lý Tuy nhiên, đây là đặc điểm nội dung hỏi cung vụ án nói chung, trong quá trình hỏi cung bị can, mỗi lần hỏi cung bị can lại thực hiện một số nhiệm vụ cụ thể, hướng tới tìm ra những nhóm thông tin cụ thể hoặc ngược lại, một số nhiệm vụ cụ thể, một số nhóm thông tin cụ thể cũng chỉ có thể hoàn
Trang 21thành qua một số buổi hỏi cung bị can khi mỗi buổi hỏi cung bị can không thể kéo dài vô thời hạn, bị can không hợp tác Trong những trường hợp như vậy, để làm rõ một hành vi phạm tội có thể phải kéo dài nhiều buổi, nhiều ngày, thậm chí thu thập chứng cứ qua biện pháp hỏi cung bị can không đạt được hiệu quả, phải áp dụng các biện pháp điều tra khác để hỗ trợ hoặc thay thế
- Đặc điểm về phương thức hỏi cung bị can
Về lý thuyết, hỏi cung bị can là hoạt động hỏi của chủ thể hỏi cung và hoạt động trả lời của bị can, hoạt động hỏi – trả lời này lặp đi lặp lại với các câu hỏi khác nhau, kế tiếp nhau được đặt ra và các câu trả lời cũng kế tiếp tương ứng với các câu hỏi Tuy nhiên, hỏi cung bị can thực chất là hoạt động đòi hỏi trí tuệ, kỹ năng, kinh nghiệm và bản lĩnh của Điều tra viên, nhất là những trường hợp bị can có sự tính toán, cân nhắc, đấu trí với cơ quan tiến hành tố tụng, bị can thuộc nhóm đối tượng lỳ lợm, ngoan cố chống đối hoặc thậm chí bị can sợ hãi, lo lắng thái quá dẫn đến không khai, không hợp tác Việc đặt ra các câu hỏi là nghệ thuật sử dụng chứng cứ, là sự kết hợp các phương thức, chiến thuật hỏi cung một cách uyển chuyển, đúng đối tượng, đúng tính chất của sự việc, đúng đặc điểm tâm lý khí chất của bị can Vì vậy, Điều tra viên luôn chủ động định hướng và điều khiển giao tiếp để đạt được các mục đích đề ra “Trong hoạt động điều tra, hỏi cung bị can là một việc làm
có tính pháp luật, nghiệp vụ rất cao để đạt yêu cầu trong việc hỏi cung, người hỏi có thể sử dụng những phương pháp, chiến thuật hỏi khác nhau như hỏi vòng quanh, đó là đặt ra những câu hỏi để làm rõ những chi tiết không liên quan trực tiếp hoặc ít liên quan đến vấn đề chính cần hỏi, khiến người bị hỏi mất cảnh giác để lộ manh mối hoặc bộc lộ mâu thuẫn từ đó làm cơ sở để hỏi
về các sự việc có liên quan trực tiếp đến vấn đề chính, buộc người bị hỏi phải khai đúng sự thật; hoặc hỏi thẳng là việc hỏi cung bằng cách hỏi trực tiếp vào vấn đề cần làm rõ và yêu cầu người được hỏi trả lời thẳng vào vấn đề đó Áp
Trang 22dụng chiến thuật hỏi cung nào Điều tra viên phải chú ý đến tình huống cụ thể của hoạt động điều tra và thời điểm hỏi cung Việc hỏi cung phải tuân thủ các quy định của pháp luật” và “Điều tra viên luôn chủ động định hướng và điều khiển giao tiếp để đạt được các mục đích đề ra”[39, tr 163]
Hỏi cung bị can vì vậy vừa là hoạt động tố tụng hình sự, vừa là hoạt động nghiệp vụ với các yêu cầu cao về phương thức hỏi cung để đạt được ở mức độ tốt nhất về nguồn thông tin thu thập được, thậm chí cần có “kế hoạch phối hợp với các lực lượng nghiệp vụ khác để phục vụ hoạt động hỏi cung” [41, tr 92] Mặt khác, khi hỏi cung bị can tuyệt đối không được bức cung, dùng nhục hình hoặc có những hành động, cử chỉ đe doạ bị can, xúc phạm đến tính mạng, sức khoẻ, nhân phẩm, danh dự của bị can
Hỏi cung bị can là hình thức vấn đáp bằng lời, tuy nhiên, phải được lưu lại bằng những phương thức, hình thức nhất định Hoạt động hỏi cung chủ yếu được lưu lại dưới hình thức văn bản, đó là biên bản hỏi cung bị can, việc văn bản hoá hoạt động hỏi cung bị can không có nghĩa là hỏi cung bị can được thực hiện dưới hình thức viết mà là lưu trữ dưới dạng văn bản, biên bản hoạt động hỏi cung bị can nhằm đảm bảo các thông tin được phản ánh một cách chính xác, lâu dài, thuận lợi cho việc kiểm tra đánh giá Cùng với sự phát triển của hạ tầng công nghệ, ngày nay, nhiều quốc gia trên thế giới đã quy định việc hỏi cung bị can còn phải được lưu lại bằng phương thức ghi âm, ghi âm và ghi hình Phương thức này tạo ra các sản phẩm lưu trữ dưới hình thức băng ghi âm, ghi hình và các dữ liệu điện tử số hoá trên các phương tiện điện tử Phương thức, hình thức ghi âm, ghi hình không những có độ chính xác, trung thực cao hơn biên bản hỏi cung bị can truyền thống mà còn đảm bảo cho việc kiểm chứng thái độ, biểu hiện bên ngoài của bị can khi hỏi cung, qua đó còn giúp cho các chủ thể đánh giá chứng cứ bằng kỹ năng, kinh nghiệm và niềm tin nội tâm của mình xác định bị can có khai báo thật sự
Trang 23trung thực, tự nguyện, thành khẩn hay không, có bị mớm cung, dụ cung, bức cung hay không…
Ngoài ra, Cơ quan điều tra còn có thể cho bị can viết bản tự khai, bản
tự trình bày, bản tường trình Đây là biện pháp thu thập chứng cứ tôn trọng sự
tự nguyện của bị can về nội dung, trình tự khai báo thông tin khi họ chủ động trong việc cung cấp nội dung thông tin theo văn phong, ngôn ngữ diễn đạt riêng Hình thức này bảo đảm sự tự chủ của người khai Về mặt nghiệp vụ, Điều tra viên chỉ đề xuất họ tự viết lời khai theo các hình thức nêu trên mà không có sự can thiệp, ép buộc để bị can phải viết như thế nào, nếu can thiệp,
ép buộc thì sẽ là vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng
1.1.3 Phân biệt biện pháp hỏi cung bị can với các biện pháp điều tra khác thu thập chứng cứ từ nguồn lời khai của người tham gia tố tụng
Hoạt động lấy lời khai người tham gia tố tụng rất đa dạng trên thực tế
về chủ thể, đối tượng và thời điểm lấy lời khai Đối tượng lấy lời khai có thể
là người bị tố giác, kiến nghị khởi tố, người tố giác, kiến nghị khởi tố, người
bị bắt, bị tạm giữ, người làm chứng, người chứng kiến, người bị hại, đương
sự trong vụ án… Việc lấy lời khai có thể trước khi khởi tố vụ án, ngay sau khi tiếp nhận nguồn tin về tội phạm, trong quá trình điều tra, truy tố thậm chí chuẩn bị xét xử Do đó, chủ thể lấy lời khai có thể là Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán được phân công thụ lý vụ án, người có thẩm quyền tiến hành một số hoạt động điều tra hay thậm chí là cán bộ công an phường, thị trấn, đồn công an có quyền lấy lời khai ban đầu Chính sự đa dạng tại các khía cạnh nêu trên, lấy lời khai là hoạt động điều tra được áp dụng thường xuyên, liên tục, đáp ứng nhiều mục đích khác nhau để lấy thông tin từ đối tượng được hỏi Như đã phân tích, hỏi cung bị can cũng là một trường hợp lấy lời khai - hỏi cung bị can là trường hợp lấy lời khai đặc biệt Hỏi cung bị can có vừa điểm chung vừa có điểm riêng so với hoạt động lấy lời khai khác
Trang 24Điểm chung ở đây là bản chất tìm kiếm thông tin, thu thập chứng cứ từ đối tượng được hỏi là người tham gia tố tụng bằng cách yêu cầu người tham gia
tố tụng làm rõ các vấn đề chưa rõ mà cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải làm rõ, được thực hiện chủ yếu dưới hình thức đặt câu hỏi và trả lời câu hỏi, nội dung hỏi là những vấn đề liên quan đến việc giải quyết vụ
án Do đều là các biện pháp điều tra luật định nên đều phải tuân thủ quy định
về thẩm quyền, trình tự, thủ tục nhất định Luật đều quy định các nghĩa vụ nhất định của người hỏi cũng như các quyền nhất định của người được hỏi theo hướng bảo đảm tính hiệu quả, khẩn trương của các biện pháp điều tra cũng như bảo đảm quyền con người, bảo đảm tính hợp pháp của các hoạt động thu thập chứng cứ này Tuy nhiên, giữa hỏi cung bị can với các biện pháp thu thập chứng cứ từ nguồn lời khai của những người tham gia tố tụng
có những điểm khác nhau sau:
Hỏi cung bị can và lấy lời khai các đối tượng không phải là người bị buộc tội
Sự khác nhau cơ bản giữa hỏi cung và lấy lời khai không phải là người
bị buộc tội chính là đối tượng hỏi Bị can là đối tượng hỏi cung, điều đó có nghĩa hỏi cung chỉ được thực hiện trong giai đoạn điều tra và áp dụng đối với người bị buộc tội có tư cách bị can Người bị buộc tội có các quyền đặc trưng của mình được quy định trong Hiến pháp và luật tố tụng hình sự Họ có quyền được suy đoán vô tội, có nghĩa là khi hỏi cung, họ được quyền từ chối khai báo, quyền im lặng Việc khai báo là quyền của họ nhưng không phải là nghĩa
vụ của họ Điều này khác với hỏi các đối tượng khác không phải là người bị buộc tội, đặc biệt là người làm chứng, người bị hại Họ đều có nghĩa vụ trình bày trung thực những tình tiết mà mình biết liên quan đến nguồn tin về tội phạm, về vụ án và lý do biết được những tình tiết đó Người làm chứng khai báo gian dối hoặc từ chối khai báo, trốn tránh việc khai báo mà không vì lý do
Trang 25bất khả kháng hoặc không phải do trở ngại khách quan thì phải chịu trách nhiệm hình sự
Hỏi cung bị can và lấy lời khai bị cáo tại phiên toà
Việc lấy lời khai của người bị buộc tội với tư cách là bị cáo khác với lấy lời khai với tư cách bị can Bị can là người bị khởi tố về hình sự (hỏi cung
bị can được tiến hành ngay sau khi khởi tố bị can) còn bị cáo là người đã có quyết định đưa vụ án ra xét xử (dù bị can, bị cáo cùng là người bị buộc tội) Việc lấy lời khai bị cáo chủ yếu là tại phiên toà Do phiên toà là cơ chế điều tra công khai, trên cơ sở các chứng cứ đã thu thập từ điều tra, từ quá trình tố tụng trước đó nên nguy cơ vi phạm quyền con người thấp hơn trong giai đoạn điều tra Lấy lời khai bị cáo tại phiên toà chủ yếu là nhằm kiểm tra, đánh giá chứng cứ, trong khi đó, lấy lời khai bị can là để phát hiện thu thập kiểm tra đánh giá chứng cứ Vì tính chất, mục đích hỏi khác nhau nên phương thức, chiến thuật, nghiệp vụ hỏi cũng khác nhau, các câu hỏi được thẩm phán, kiểm sát viên hỏi bị cáo cũng khác nhau
Hỏi cung bị can và đối chất
Việc hỏi cung bị can và đối chất cùng đều là các biện pháp lấy lời khai nhưng đối chất được thực hiện khi có sự mâu thuẫn trong lời khai giữa hai hay nhiều người mà đã tiến hành các biện pháp điều tra khác nhưng chưa giải quyết được mâu thuẫn này Khi bắt đầu đối chất, Điều tra viên hỏi về mối quan hệ giữa những người tham gia đối chất, sau đó hỏi họ về những tình tiết cần làm sáng tỏ
Đối chất chủ yếu là nhằm kiểm chứng thông tin, trước hết là nhằm giúp
cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng kiểm tra, đánh giá chứng cứ, củng cố niềm tin nội tâm, loại trừ các mâu thuẫn hoặc tìm ra chìa khoá để giải quyết các mâu thuẫn Trong khi đó, hỏi cung bị can là việc hỏi – đáp trực tiếp giữa điều tra viên, các chủ thể hỏi cung khác với bị can Còn đối với hoạt động đối
Trang 26chất, trong quá trình đối chất, Điều tra viên có thể đưa ra chứng cứ, tài liệu,
đồ vật có liên quan; có thể để cho những người tham gia đối chất hỏi lẫn nhau; câu hỏi và trả lời của những người này phải được ghi vào biên bản Chỉ sau khi những người tham gia đối chất đã khai xong mới được nhắc lại những lời khai lần trước của họ
1.2 Các tiêu chí đặt ra đối với biện pháp hỏi cung bị can
1.2.1 Tiêu chí về tuân thủ pháp luật
Biện pháp hỏi cung bị can là một biện pháp điều tra quan trọng của tố tụng hình sự, phải tuân thủ các quy định của pháp luật TTHS Cụ thể, hỏi cung bị can phải tuân thủ pháp luật về thẩm quyền, trình tự, thủ tục áp dụng Các yêu cầu này nhằm đảm bảo tính hợp pháp của hoạt động thu thập chứng
cứ, đảm bảo cho những thông tin thu được từ hoạt động hỏi cung bị can đáp ứng yêu cầu về tính hợp pháp, có thể trở thành chứng cứ để sử dụng nhằm đấu tranh tiếp theo với bị can và sử dụng để buộc tội bị can Hỏi cung bị can phải tuân thủ pháp luật về thẩm quyền, tức là phải do người có thẩm quyền tiến hành tố tụng thực hiện (Điều tra viên, cán bộ điều tra, người có thẩm quyền tiến hành một số hoạt động điều tra, Kiểm sát viên, Kiểm tra viên) Về trình
tự, thủ tục, việc hỏi cung bị can phải tiến hành ngay sau khi có quyết định khởi tố bị can Do tính cấp bách, việc hỏi cung có thể được tiến hành khẩn trương và về nguyên tắc, không được hỏi cung vào ban đêm, trừ trường hợp không thể trì hoãn được, nhưng phải ghi rõ lý do vào biên bản Trước khi tiến hành hỏi cung lần đầu, Điều tra viên phải giải thích cho bị can biết rõ quyền
và nghĩa vụ của bị can để bị can nắm được các quyền của mình, đặc biệt là quyền không bị buộc phải đưa ra những lời khai chống lại chính mình Trường hợp vụ án có nhiều bị can thì hỏi riêng từng người và không để họ tiếp xúc với nhau nhằm tránh thông cung và tránh các hiện tượng tiêu cực khác có thể xảy ra
Trang 27Mặt khác, để bảo đảm tuân thủ nguyên tắc về trình tự, thủ tục, trước khi hỏi cung bị can, Điều tra viên phải thông báo cho Kiểm sát viên và người bào chữa thời gian, địa điểm hỏi cung Khi xét thấy cần thiết, Kiểm sát viên tham gia việc hỏi cung bị can Kiểm sát viên hỏi cung bị can trong những trường hợp
bị can kêu oan, khiếu nại hoạt động điều tra hoặc có căn cứ xác định việc điều tra vi phạm pháp luật hoặc trong các trường hợp khác khi xét thấy cần thiết
Việc hỏi cung bị can tại cơ sở giam giữ hoặc tại trụ sở Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra hoặc tại địa điểm khác, tuy nhiên, chủ yếu hỏi cung bị can tại các cơ sở giam giữ như Trại tạm giam, Nhà tạm giữ và trụ sở Cơ quan điều tra Địa điểm hỏi cung cũng góp phần bảo đảm tính chặt chẽ, tính nghiêm túc của hoạt động
tố tụng đòi hỏi yêu cầu cao trên nhiều phương diện, nhiều tiêu chí như hoạt động hỏi cung bị can
Để hoạt động hỏi cung bị can được giám sát về tính hợp pháp cũng như
để thuận lợi cho việc đánh giá diễn biến khai báo của bị can, thuận lợi cho việc lưu trữ, hạn chế tình trạng bị can sau này khi được đưa ra xét xử tại Toà
án “đổ” cho Điều tra viên đánh, ép cung, mớm cung dẫn tới phải khai sai sự thật hay phải nhận tội oan, việc hỏi cung phải được ghi âm hoặc ghi hình có
âm thanh Việc hỏi cung bị can tại địa điểm khác được ghi âm hoặc ghi hình
có âm thanh theo yêu cầu của bị can hoặc của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng
Như vậy, nguyên tắc về thẩm quyền, trình tự, tủ tục là một nguyên tắc quan trọng trong hoạt động hỏi cung bị can, bảo đảm tính hợp pháp của chứng
cứ thu được từ hoạt động hỏi cung bị can, đồng thời, góp phần bảo đảm giá trị chứng minh của chứng cứ Ngoài ra, việc bảo đảm nguyên tắc này còn nhằm thực hiện nguyên tắc bảo đảm quyền con người của người bị buộc tội trong hỏi cung bị can, ngăn ngừa nguy cơ bức cung, ép cung, dùng nhục hình và những tiêu cực phát sinh trong hỏi cung bị can
Trang 281.2.2 Tiêu chí về tính hiệu quả, kịp thời
Hỏi cung bị can là một hoạt động điều tra mang tính truyền thống, đã từng xuất hiện từ rất lâu trong tố tụng hình sự trên thế giới, và cũng là một trong các hình thức thu thập chứng cứ phổ biến Điều này xuất phát từ hiệu quả
mà hoạt động này mang lại trong quá trình điều tra, những ưu thế của hoạt động hỏi cung bị can so với các hoạt động điều tra khác Hỏi cung bị can giúp làm sáng tỏ sự thật của vụ án từ chính đối tượng bị tình nghi phạm tội, nếu bị can hợp tác, bị can nhận tội, có thể thu được một lượng đáng kể nguồn tin về tội phạm về hầu hết các vấn đề thuộc đối tượng chứng minh trong vụ án hình
sự Trên cơ sở nguồn thông tin này, có thể tiến hành các hoạt động điều tra khác để thu thập bổ sung chứng cứ, để kiểm chứng thông tin Ví dụ, bị can khai
ra nơi cất giấu tiền vàng là đối tượng phạm tội, nơi cất dấu vũ khí, hung khí là công cụ phạm tội, khai ra nơi cất dấu vật mang dấu vết tội phạm… Trên cơ sở
đó, Cơ quan điều tra tiến hành khám xét, thu giữ, tạm giữ đồ vật, tài liệu Qua hỏi cung bị can, Điều tra viên còn có thể xác định được các đồng phạm khác hoặc đối tượng khác liên quan đến vụ án, đến các hành vi phạm tội khác để mở rộng phạm vi vụ án, ngăn ngừa việc các đối tượng khác tiếp tục phạm tội, bỏ trốn hoặc tiêu huỷ chứng cứ, làm rõ nguyên nhân điều kiện phạm tội để đề xuất các giải pháp, phòng ngừa Do đó, hỏi cung bị can hoàn toàn có thể giúp cho việc giải quyết vụ án hình sự, đấu tranh phòng chống tội phạm được tiến hành một cách nhanh chóng, khẩn trương, kịp thời, hiệu quả Để thực hiện được nguyên tắc về tính hiệu quả, kịp thời, hoạt động hỏi cung phải được tiến hành ngay sau khi khởi tố bị can, trong trường hợp không thể trì hoãn, có thể hỏi cung vào ban đêm (dù về nguyên tắc không được phép hỏi cung vào ban đêm) Mặt khác, hoạt động hỏi cung bị can không thể thoả mãn nguyên tắc trên bằng mọi giá với việc mớm cung, dụ cung, ép cung, bức cung nhằm buộc bị can phải khai báo, phải khai theo ý chí, quan điểm của cán bộ hỏi cung
Trang 29Tuy nhiên, tiêu chí về tính hiệu quả của hoạt động hỏi cung bị can đòi hỏi cách tiếp cận hiệu quả của Điều tra viên khi hỏi cung nhằm thu được thông tin ở mức độ nhiều nhất, chính xác nhất Trước khi hỏi cung bị can, điều tra viên phải nghiên cứu hồ sơ, nghiên cứu về nhân thân, diễn biến tư tưởng tâm lý của bị can, về hoàn cảnh gia đình, tiểu sử, các mối quan hệ của
bị can Đặc biệt, phải nghiên cứu các lời khai trước đó, biên bản ghi âm, ghi hình các buổi hỏi cung trước đó để có đầy đủ dữ liệu lựa chọn các chiến thuật hỏi cung phù hợp Chiến thuật hỏi cung là các cách tiếp cận bị can khi hỏi cung tương ứng với mỗi phương án, mỗi tình huống được dự liệu sẽ phát sinh
Đó là các tình huống thuận lợi như bị can thành khẩn khai báo, bị can tương đối thành khẩn khai báo, đó là các tình huống bất lợi như bị can có thái độ im lặng do sợ hãi, do thận trọng, hoặc bất lợi hơn đối với cán bộ hỏi cung như bị can có thái độ thách thức, chống đối, bị can chủ động tung thông tin giả để đánh lạc hướng cơ quan điều tra, bị can cũng có những “chiến thuật” để thương lượng, đấu trí với Cơ quan điều tra… Do đó, nguyên tắc này không những đòi hỏi cán bộ hỏi bị cung phải có sự chuẩn bị kỹ, phải có sự dự liệu và quyền biến trong việc lựa chọn các phương án hỏi cung bị can sát với các tình huống trong thực tế, vận dụng linh hoạt các kỹ thuật hỏi thẳng, hỏi vòng, hỏi thăm dò, hỏi độp, hỏi kiểm tra, hỏi truy vấn… cùng với các kỹ thuật chốt, gút vấn đề trong khi hỏi, kỹ thuật dừng lại đúng lúc hoặc gợi mở, chiến thuật sử dụng chứng cứ để đấu tranh, sử dụng nghệ thuật tâm lý, sự động viên, khích
lệ để bị can nhận tội mà không phải là mớm cung, dụ cung…
1.2.3 Tiêu chí về bảo đảm quyền con người
Quyền con người trong tố tụng hình sự được ghi nhận trong Hiến pháp, trong luật tố tụng hình sự, trong luật tổ chức cơ quan điều tra, viện kiểm sát, toà án… Điều đó cho thấy thực tiễn tố tụng, thực tiễn điều tra nói chung và hỏi cung bị can nói riêng phải tuân thủ nguyên tắc bảo đảm quyền con người
Trang 30của người bị buộc tội Nhiều quyền của người bị buộc tội có nguy cơ bị vi phạm trong hoạt động hỏi cung bị can, đặc biệt là quyền không bị buộc phải đưa ra lời khai chống lại mình Quyền im lặng được áp dụng trong quá trình hỏi cung và trong giai đoạn xét xử, xét hỏi tại phiên tòa Không phải người bị buộc tội nào cũng nhận thức được quyền này nên pháp luật yêu cầu chủ thể hỏi cung ngay từ khi bắt giữ người bị buộc tội có trách nhiệm thông báo cho
họ Nếu người bị buộc tội không biết về quyền này thì lời khai của họ không được coi là chứng cứ Quan trọng hơn, sự im lặng của người bị buộc không được coi là chứng cứ để chống lại họ Quyền im lặng không chỉ có vai trò thúc đẩy cơ quan tiến hành tố tụng thực hiện nghĩa vụ chứng minh mà còn giảm thiểu nguy cơ người bị buộc tội bị ép cung và kết án chỉ với lời nhận tội Tuy nhiên, nếu họ thú tội thì đấy chỉ được xem là chứng cứ nếu thật sự tự nguyện và phù hợp với chứng cứ khác
Với nội dung quyền này của bị can, bị can có quyền khai báo hoặc bị can cũng có quyền im lặng, từ chối khai báo, bởi lẽ, trách nhiệm chứng minh tội phạm thuộc về cơ quan tiến hành tố tụng, bị can, bị cáo có quyền nhưng không có nghĩa vụ chứng minh là mình vô tội Đây là nguyên lí cơ bản của tố tụng hình sự - ai đưa ra lời buộc tội, người đó có nghĩa vụ chứng minh Quyền này cũng bảo đảm cho bị can không bị bức cung, dùng nhục hình trong quá trình bị thẩm vấn lấy lời khai để buộc phải khai ra những tình tiết bất lợi cho chính mình khi hoạt động hỏi cung được tiến hành trong bối cảnh không công khai, chủ yếu chỉ có Điều tra viên và bị can, lại chủ yếu tại cơ sở giam giữ hoặc tại trụ sở Cơ quan điều tra Sự giám sát, kiểm tra của Viện kiểm sát và các thiết chế khác không thể tuyệt đối, mọi lúc, mọi nơi Trong niềm tin nội tâm của cán bộ điều tra, bị can thường được suy đoán là có tội, vì vậy, nếu bị can từ chối khai báo có thể bị suy đoán là không thành khẩn khai báo hoặc
Trang 31ngoan cố chối tội Tâm lý này cùng với yêu cầu khẩn trương, nhanh chóng giải quyết vụ án dễ dẫn tới tâm lý nóng vội, thậm chí nóng nảy, thiếu kiềm chế dẫn đến những lời nói cử chỉ xúc phạm, mắng mỏ bị can, thậm chí dùng
vũ lực đối với bị can, mặc dù, theo nguyên tắc suy đoán vô tội, bị can phải được coi là chưa có tội cho đến khi có bản án kết tội có hiệu lực pháp luật của toà án có thẩm quyền
Ngoài quyền không bị đưa ra lời khai chống lại mình, rất nhiều quyền của bị can có thể bị vi phạm trong hoạt động hỏi cung, đó là các quyền được biết mình bị khởi tố về tội gì, quyền được thông báo về quyền, quyền được đưa ra tài liệu yêu cầu, quyền tự bào chữa, quyền nhờ người khác bào chữa
Việc vi phạm quyền im lặng của bị can trong hoạt động hỏi cung bị can có thể dẫn tới những oan, sai, vi phạm khác để che dấu như vi phạm quyền được tiếp cận người bào chữa, quyền được liên hệ với thân nhân Vi phạm quyền con người trong hoạt động hỏi cung là vi phạm khó bị phát hiện
do vụ án đang trong giai đoạn điều tra, yếu tố tranh tụng chưa rõ nét, yếu tố giám sát không thường xuyên liên tục Đặc biệt, việc bị can bị bức cung trong khi lấy lời khai hay bạo hành về tinh thần, thể xác trong quá trình giam giữ để phải đưa ra lời khai là hành vi vi phạm quyền con người nghiêm trọng nhất, xâm phạm quyền sống, quyền bất khả xâm phạm về sức khoẻ, tính mạng, danh dự, nhân phẩm, bảo hộ tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, tài sản của cá nhân Do đó, để đảm bảo nguyên tắc tôn trọng và bảo
vệ quyền con người, quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, bảo đảm quyền bất khả xâm phạm về thân thể, nguyên tắc suy đoán vô tội, nguyên tắc xác định sự thật của vụ án và một loạt các nguyên tắc cơ bản khác của luật tố tụng hình sự thì hoạt động hỏi cung bị can phải tuân thủ nguyên tắc bảo đảm quyền con người của người bị buộc tội
Trang 321.3 Biện pháp hỏi cung trong pháp luật tố tụng hình sự tại một số quốc gia trên thế giới
1.3.1 Biện pháp hỏi cung trong pháp luật tố tụng hình sự Cộng hoà nhân dân Trung Hoa
BLTTHS Cộng hoà nhân dân Trung Hoa năm 2012 rất coi trọng biện pháp hỏi cung/thẩm vấn trong quá trình điều tra xác định sự thật của vụ án Theo đó, “Điều tra viên của Viện kiểm sát nhân dân hoặc cơ quan công an phải tiến hành thẩm vấn nghi can”, điểm đặc biệt là Điều 91 Bộ luật này quy định “Khi thẩm vấn phải có từ 2 điều tra viên trở lên tham gia” và nhất là về địa điểm hỏi cung bị can, Điều 92 BLTTHS đặt ra cơ chế cho phép hỏi cung tại một địa điểm ngoài trụ sở hỏi cung Theo đó “nghi can không cần phải bắt hoặc giam giữ có thể bị triệu tập đến một địa điểm chỉ định trong thành phố hoặc thị trấn nơi người phạm tội cư trú hoặc thẩm vấn tại nơi cư trú của người này Tuy nhiên, người thẩm vấn phải xuất trình giấy tờ do Viện kiểm sát nhân dân hoặc cơ quan công an cấp” Về thời điểm thẩm vấn từ lúc việc triệu tập hoặc buộc phải trình diện không quá 12 giờ Không được lợi dụng việc triệu tập hoặc buộc phải trình diện để giam giữ nghi can
Một điểm có thể tham khảo đó là việc quy định Điều tra viên phải tạo
cơ hội cho nghi can được chủ động giải thích, chứng minh sự vô tội của mình Điều 93 quy định:
Khi thẩm vấn một nghi can, điều tra viên trước tiên phải hỏi nghi can liệu có thực hiện bất kỳ hành vi phạm tội nào hay không,
và để cho họ trình bày các tình tiết phạm tội hoặc giải thích sự vô tội của mình; và sau đó có thể hỏi thêm Nghi can phải trả lời thành thật các câu hỏi của điều tra viên, nhưng có quyền từ chối trả lời bất
kỳ câu hỏi nào không liên quan đến vụ án
Trong khi thẩm vấn một nghi can bị câm hoặc điếc, cán bộ có khả năng
Trang 33sử dụng tốt ngôn ngữ dấu hiệu phải tham gia và những tình huống như vậy phải được ghi vào biên bản Tương tự Việt Nam, tại Trung Hoa, biên bản thẩm vấn phải được đưa cho nghi can xem; nếu nghi can không thể đọc, biên bản phải được đọc cho họ nghe Nếu thấy biên bản còn thiếu hoặc chưa chính xác, nghi can có thể bổ sung hoặc sửa chữa Khi nghi can công nhận biên bản không có sai sót thì phải ký tên hoặc điểm chỉ vào đó Điều tra viên cũng ký tên vào biên bản Nếu nghi can yêu cầu viết một bản tường trình thì phải được phép làm điều này Khi cần, điều tra viên cũng có thể yêu cầu nghi can viết bản tường trình
Sau khi nghi can bị cơ quan điều tra thẩm vấn lần đầu tiên hoặc từ ngày bị
áp dụng các biện pháp ngăn chặn thì nghi can có thể chỉ định một luật sư tư vấn pháp lý và thực hiện việc khiếu nại, tố cáo thay mặt mình Nếu nghi can bị bắt, luật sư được chỉ định có thể thay mặt họ để yêu cầu có người bảo lĩnh trong giai đoạn chờ xét xử Nếu vụ án liên quan đến bí mật nhà nước, nghi can phải có được sự phê chuẩn của cơ quan điều tra đối với việc chỉ định luật sư
Tuy nhiên, BLTTHS của Trung Quốc chưa quy định về việc gặp hỏi của Luật sư đối với nghi can Luật sư được chỉ định có quyền tìm kiếm từ cơ quan điều tra các thông tin về tội phạm bị tình nghi, và có thể gặp gỡ nghi can trong trại giam để tìm hiểu vụ án Điểm hạn chế của luật là quy định về sự can thiệp của Cơ quan điều tra trong trao đổi giữa Luật sư với nghi can là thân chủ của mình Điều 94 của Bộ luật này cho phép khi luật sư gặp gỡ nghi can trong trại giam, căn cứ vào tính nghiêm trọng của tội phạm và nếu thấy cần thiết thì
cơ quan điều tra có thể cử người tham gia cuộc gặp Nếu vụ án liên quan đến
bí mật nhà nước, trước khi gặp nghi can, luật sư phải có sự phê chuẩn của cơ quan điều tra
1.3.2 Hoạt động hỏi cung trong pháp luật tố tụng hình sự Liên bang Nga
BLTTHS Liên bang Nga cũng yêu cầu hỏi cung bị can ngay sau khi
Trang 34khởi tố bị can, theo đó Điều 173 quy định “Dự thẩm viên tiến hành hỏi cung
bị can ngay sau khi đã đưa ra lời buộc tội đối với họ và phải tuân theo các quy định tại điểm 9 khoản 4 Điều 47 và khoản 3 Điều 50 Bộ luật này”
Tương tự BLTTHS Trung Quốc, khi bắt đầu hỏi cung, Dự thẩm viên cần làm rõ bị can có nhận tội hay không, họ có mong muốn khai báo về bản chất việc buộc tội họ không và nếu có thì khai báo bằng ngôn ngữ nào Trong trường hợp bị can từ chối khai báo thì Dự thẩm viên phải xác nhận việc này trong biên bản hỏi cung họ Việc hỏi cung được tiến hành theo thủ tục quy định tại Điều 190 Bộ luật này và những ngoại lệ quy định tại Điều này Việc hỏi cung lại bị can trong trường hợp người đó từ chối khai báo ở lần hỏi cung đầu tiên chỉ có thể được tiến hành theo yêu cầu của bị can Biên bản hỏi cung
bị can quy định tại Điều 174 như sau: “1 Mỗi lần hỏi cung bị can, Dự thẩm viên phải lập biên bản theo quy định tại Điều 190 Bộ luật này
2 Trong biên bản lần hỏi cung đầu tiên phải ghi rõ những thông tin về nhân thân bị can, bao gồm:
1) Họ và tên;
2) Ngày, tháng, năm sinh và nơi sinh;
3) Quốc tịch;
4) Trình độ văn hoá;
5) Hoàn cảnh gia đình, các thành viên trong gia đình;
6) Nơi làm việc hoặc học tập, nghề nghiệp hoặc chức vụ; 7) Nơi cư trú;
8) Tiền án (nếu có);
9) Những thông tin khác có ý nghĩa đối với vụ án
3 Trong biên bản những lần hỏi cung tiếp theo nếu không có thay đổi những thông tin về nhân thân bị can thì có thể chỉ cần ghi
họ và tên bị can
Trang 351.3.3 Hoạt động hỏi cung trong pháp luật tố tụng hình sự Nhật Bản
Để bảo đảm tính khách quan cũng như bảo đảm quyền con người của nghi can, Điều 203, BLTTHS Nhật Bản quy định: “Khi bắt bị can theo lệnh bắt, hoặc nhận bị can bị bắt theo lệnh bắt, sỹ quan cảnh sát phải thông báo ngay cho người này các tình tiết chính cấu thành tội phạm và quyền chỉ định người bào chữa, và phải cho người này cơ hội giải thích; và phải trả tự do ngay nếu tin rằng không cần thiết phải giữ người này lại; và nếu tin rằng cần phải giữ người này, thi phải tiến hành các thủ tục để đưa người này đến trước công tố viên trong vòng bốn mươi tám giờ kể từ thời điểm bị can bị bắt, cùng với tài liệu và chứng cứ
2 Trong trường hợp của đoạn trên, phải hỏi bị can là liệu họ có người bào chữa hay không, và nếu có thì không phải thông báo quyền chỉ định người bào chữa
3 Trường hợp thông báo là bị can có thể chỉ định người bào chữa theo quy định tại đoạn 1 liên quan đến trường hợp quy định tại Điều 37-2 đoạn 1,
sỹ quan cảnh sát phải chỉ thị cho bị can là, nếu họ không thể tự mình chỉ định người bào chữa do không đủ kinh phí hoặc vì lý do khác trong trường hợp bị yêu cầu giam giữ, người này có thể yêu cầu thẩm phán chỉ định người bào chữa, cũng như đối với vấn đề là người này phải nộp một bản Báo cáo Phương tiện để yêu cầu thẩm phán chỉ định luật sư, và nếu các phương tiện của họ là trên mức tiêu chuẩn, thì trước đó họ phải yêu cầu Đoàn luật sư chỉ định người bào chữa (có nghĩa là Đoàn luật sư được yêu cầu theo Điều 31-2 đoạn 1 phù hợp với quy định của Điều 37-3 đoạn 2)
4 Trường hợp không tiến hành thủ tục gửi trong thời hạn đề cập tại đoạn 1 thì phải trả tự do ngay cho bị can
(Thủ tục do công tố viên tiến hành; thời hạn yêu cầu giam giữ)
Tương tự như cảnh báo Miaranda của Hoa Kỳ theo án lệ Miaranda vs Arizona [49], BLTTHS Nhật Bản yêu cầu khi bắt bị can theo lệnh bắt hoặc nhận
bị can (trừ bị can bị gửi đi theo quy định tại Điều trên) bị bắt theo lệnh bắt, công
Trang 36tố viên phải thông báo ngay cho người này các tình tiết chính cấu thành tội phạm
và quyền chỉ định người bào chữa và cho người này cơ hội giải thích; và trường hợp tin là không cần thiết giam giữ người này thì trả tự do ngay; và trường hợp tin rằng cần phải giam giữ người này thì yêu cầu thẩm phán giam giữ bị can trong vòng bốn mươi tám giờ kể từ thời điểm khi bị can bị bắt: Với điều kiện là yêu cầu giam giữ là không cần thiết trong trường hợp có việc truy tố trong thời hạn này Trường hợp thông báo là bị can có thể chỉ định người bào chữa theo quy định tại đoạn 1 liên quan đến trường hợp quy định tại Điều 37-2 đoạn 1, công tố viên phải chỉ thị cho bị can là, nếu họ không thể tự mình chỉ định người bào chữa do không đủ kinh phí hoặc vì lý do khác trong trường hợp bị yêu cầu giam giữ, người này có thể yêu cầu thẩm phán chỉ định người bào chữa, cũng như đối với vấn đề là người này phải nộp một bản Báo cáo Phương tiện để yêu cầu thẩm phán chỉ định luật sư, và nếu các phương tiện của họ là trên mức tiêu chuẩn, thì trước đó họ phải yêu cầu Đoàn luật sư chỉ định người bào chữa (có nghĩa là Đoàn luật sư được yêu cầu theo Điều 31-2 đoạn 1 phù hợp với quy định của Điều 37-3 đoạn 2) Nếu không có yêu cầu giam giữ hoặc truy tố trong thời hạn đề cập tại đoạn 1 thì bị can phải được trả tự do ngay
Tương tự các BLTTHS Nga, Trung Quốc, Điều 205 BLTTHS Nhật Bản quy định trường hợp nhận bị can được chuyển đến theo quy định của Điều 203, công tố viên phải cho người này cơ hội giải thích, và khi thấy không cần giam giữ thì trả tự do ngay, và khi thấy cần giam giữ thì yêu cầu thẩm phán ra lệnh giam giữ trong vòng hai mươi bốn giờ kể từ thời điểm nhận người Quy định của đoạn 2 Điều trên áp dụng với những sửa đổi cần thiết trong trường hợp công tố viên, đối với bị can bị bắt trong trường hợp ngoài trường hợp quy định tại Điều 37-2 đoạn 1 và bị chuyển đi trong trường hợp quy định tại đoạn này theo quy định của Điều 203, phải cho họ cơ hội giải thích theo quy định tại đoạn 1 (với điều kiện là điều này không áp dụng nếu bị can có người bào chữa)
Trang 37Chương 2 CÁC QUY ĐỊNH CỦA LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM
VỀ BIỆN PHÁP HỎI CUNG BỊ CAN VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG TRONG ĐIỀU TRA CÁC VỤ ÁN HÌNH SỰ TRÊN ĐỊA BÀN
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
2.1 Các quy định của luật tố tụng hình sự Việt Nam hiện hành về hỏi cung bị can trong Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 và Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015
2.1.1 Quy định về thành phần, chủ thể hỏi cung, tham gia hỏi cung
Hỏi cung bị can là một hoạt động điều tra tố tụng do những người có thẩm quyền quy định tại các Điều 37, 38, 39, 42 BLTTHS thực hiện, cụ thể
là Điều tra viên, Kiểm sát viên, người có thẩm quyền tiến hành một số hoạt động điều tra
Ngoài những người có thẩm quyền hỏi cung nêu trên, BLTTHS năm
2015 còn quy định những người có thẩm quyền tiến hành tố tụng khác hiện diện trong quá trình hỏi cung, đó là cán bộ điều tra, kiểm tra viên:
BLTTHS năm 2015 quy định:
Cán bộ điều tra ghi biên bản lấy lời khai, ghi biên bản hỏi cung
và ghi các biên bản khác khi điều tra viên tiến hành kiểm tra, xác minh nguồn tin về tội phạm và điều tra vụ án hình sự [38, Điều 43]
BLTTHS năm 2015 quy định:
Kiểm tra viên thực hiện việc ghi biên bản lấy lời khai, ghi biên bản hỏi cung và ghi các biên bản khác trong tố tụng hình sự theo sự phân công của Kiểm sát viên [31, Điều 43]
Việc BLTTHS năm 2015 quy định mở rộng phạm vi những người có thẩm quyền tham gia thực hiện việc hỏi cung bị can so với BLTTHS năm 2003
Trang 38góp phần tạo điều kiện cho quá trình hỏi cung bị can thuận lợi, đạt hiệu quả hơn đồng thời giúp những người có thẩm quyền tiến hành hoạt động hỏi cung
bị can như điều tra viên, kiểm sát viên có thời gian để thực hiện các biện pháp điều tra hoặc giải quyết các nội dụng khác của vụ án hình sự nhanh chóng, kịp thời đảm bảo thời hạn điều tra theo quy định của luật tố tụng hình sự
Về sự tham gia hỏi cung của người bào chữa, theo quy định của BLTTHS năm 2003:
Người bào chữa có quyền có mặt khi hỏi cung bị can và nếu Điều tra viên đồng ý thì được hỏi bị can; đề nghị cơ quan điều tra báo trước về thời gian và địa điểm hỏi cung bị can để có mặt khi hỏi cung bị can [30, Điều 58]
Còn theo quy định của BLTTHS năm 2015:
Người bào chữa có quyền có mặt khi hỏi cung bị can, nếu người có thẩm quyền tiến hành hỏi cung đồng ý thì được hỏi bị can; được cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng báo trước về thời gian, địa điểm hỏi cung bị can [31, Điều 73]
So với quy định của BLTTHS năm 2003 thì BLTTHS năm 2015 đã có những thay đổi trong cách tiếp cận về vai trò và sự tham gia của người bào chữa trong quá trình hỏi cung bị can Nếu như trong quy định của BLTTHS năm 2003, người bào chữa phải đề nghị cơ quan điều tra báo trước về thời gian và địa điểm hỏi cung bị can để có mặt khi hỏi cung bị can, thì trong quy định của BLTTHS năm 2015, vai trò, vị thế của người bào chữa đã được nâng cao hơn, người bào chữa không cần phải đề nghị mà được cơ quan tiến hành
tố tụng báo trước về thời gian, địa điểm hỏi cung bị can để chủ động tham gia vào quá trình hỏi cung Điểm thay đổi này đã thể hiện rõ tính chất tranh tụng, dân chủ của TTHS ngay từ giai đoạn điều tra, hỏi cung bị can
Về sự tham gia hỏi cung của người đại diện, của gia đình bị can chưa thành niên, BLTTHS năm 2003 quy định:
Trang 39Đại diện của gia đình bị can; thầy cô giáo, đại diện của nhà trường, Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, tổ chức khác nơi
bị can học tập, lao động và sinh sống có quyền và nghĩa vụ tham gia
tố tụng theo quyết định của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa
án Trong trường hợp bị can là người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi hoặc là người chưa thành niên có nhược điểm về mặt tâm thần hoặc thể chất hoặc trong những trường hợp cần thiết khác, thì việc hỏi cung những người này phải có mặt của đại diện gia đình, trừ trường hợp đại diện gia đình cố ý vắng mặt mà không có lý do chính đáng Đại diện gia đình có thể hỏi bị can nếu được Điều tra viên đồng ý; được đưa ra tài liệu, đồ vật, yêu cầu, khiếu nại; đọc lại hồ sơ vụ án khi kết thúc điều tra [30, Điều 306]
Về vấn đề này, Điều 420 BLTTHS năm 2015 quy định: “Người đại diện của người dưới 18 tuổi, thầy, cô giáo, đại diện của nhà trường, Đoàn thanh niên, tổ chức khác nơi người dưới 18 tuổi học tập, lao động và sinh hoạt
có quyền và nghĩa vụ tham gia tố tụng theo quyết định của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án Người đại diện của người dưới 18 tuổi được tham gia việc hỏi cung người dưới 18 tuổi; đưa ra chứng cứ, tài liệu, đồ vật, yêu cầu, khiếu nại, tố cáo; đọc, ghi chép, sao chụp tài liệu liên quan đến việc buộc tội người dưới 18 tuổi trong hồ sơ vụ án sau khi kết thúc điều tra”
Khi hỏi cung bị can là người dưới 18 tuổi, cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải thông báo trước thời gian, địa điểm hỏi cung chó người bào chữa, người đại diện, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ Việc hỏi cung bị can dưới 18 tuổi phải có mặt của người bào chữa hoặc người đại diện của họ Người bào chữa, người đại diện có thể hỏi bị can là người dưới
18 tuổi nếu được Điều tra viên, Kiểm sát viên đồng ý
Như vậy, BLTTHS năm 2015 đã có những quy định bổ sung, hoàn
Trang 40thiện về việc tham gia của người đại diện, của gia đình trong quá trình hỏi cung bị can chưa thành niên Điều này đã thể hiện tính chất tranh tụng, dân chủ trong tố tụng hình sự đồng thời đảm bảo các quyền và lợi ích hợp pháp của bị can chưa thành niên trong quá trình tham gia tố tụng hình sự
Về bị can là pháp nhân, người bị hỏi cung trong trường hợp này là người đại diện theo pháp luật của pháp nhân BLTTHS năm 2015 quy định:
Mọi hoạt động tố tụng của pháp nhân bị truy cứu trách nhiệm hình sự được thông qua người đại diện theo pháp luật của pháp nhân Pháp nhân phải cử và đảm bảo người đại diện theo pháp luật của mình tham gia đầy đủ các hoạt động khởi tố , điều tra, truy tố , xét xử , thi hành án theo yêu cầu của cơ quan , ngườ i
có thẩm quyền;
Trường hợp người đại diện theo pháp luật của pháp nhân bị khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử hoặc không thể tham gia tố tụng được thì pháp nhân phải cử người khác làm người đại diện theo pháp luật của mình tham gia tố tụng Trường hợp pháp nhân thay đổi người đại diện thì pháp nhân phải thông báo ngay cho cơ quan
có thẩm quyền tiến hành tố tụng Tại thời điểm khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử mà pháp nhân không có người đại diện theo pháp luật hoặc có nhiều người cùng là đại diện theo pháp luật thì cơ quan
có thẩm quyền tiến hành tố tụng chỉ định một người đại diện cho pháp nhân tham gia tố tụng [31, Điều 434]
Tuy nhiên, căn cứ chỉ định một người trong số đó đại diện cho pháp nhân tham gia tố tụng là ai? Có mâu thuẫn giữa họ, mâu thuẫn trong lời khai giữa họ dẫn tới pháp nhân khiếu nại về tính đại diện của người mới mà Cơ quan điều tra chỉ định là như thế nào… chưa được quy định cụ thể
Như vậy, theo quy định của BLTTHS năm 2015, hoạt động hỏi cung bị