1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Các quyền của công đoàn trong luật công đoàn năm 1990 thực trạng và phương hướng hoàn thiện

108 5 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 108
Dung lượng 832,16 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tính chất, vị trí của tổ chức công đoàn Điều 10 Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 đã ghi nhận: Công đoàn là tổ chức chính trị - xã hội của giai cấp công nhân và

Trang 1

đại học quốc gia hà nội

Trang 2

đại học quốc gia hà nội

khoa luật

khúc thị ph-ơng nhung

các quyền của công đoàn trong luật công đoàn năm 1990 - thực trạng và ph-ơng h-ớng hoàn thiện

Chuyên ngành : Luật kinh tế

Trang 3

Lời cam đoan

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong luận văn đảm bảo độ tin cậy, chính xác và trung thực Những kết luận khoa học của luận văn ch-a từng đ-ợc ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Tác giả luận văn

Khúc Thị Ph-ơng Nhung

Trang 4

CÁC QUYỀN CỦA CÔNG ĐOÀN VIỆT NAM

6

1.1 Những vấn đề chung về tổ chức công đoàn 6

1.1.1 Tính chất, vị trí của tổ chức công đoàn 6

1.2 Khái quát chung về các quyền của công đoàn 18

1.2.1 Đặc điểm địa vị pháp lý của công đoàn 18

1.2.2 Khái niệm, đặc điểm các quyền của Công đoàn 21

1.2.2.1 Khái niệm các quyền của Công đoàn 21

1.2.2.2 Đặc điểm các quyền của Công đoàn 21

1.3 Quá trình hình thành và phát triển pháp luật Công đoàn ở

Trang 5

2.3 Quyền đại diện của công đoàn 44 2.4 Quyền tham gia kiểm tra, giám sát việc thi hành các quy

định của pháp luật lao động

50

2.5 Quyền tham gia vào hoạt động quản lý, sử dụng lao động 54

2.6 Quyền tổ chức và nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho

người lao động

56

2.7 Quyền khởi kiện và tham gia vào giải quyết tranh chấp lao động 58

2.9 Một số nhận xét về các quyền của công đoàn và thực tiễn

thực hiện

63

QUYỀN CỦA TỔ CHỨC CÔNG ĐOÀN

75

3.1 Một số yêu cầu cơ bản nhằm thực hiện có hiệu quả các

quyền của tổ chức công đoàn

75

3.1.2 Những yêu cầu đối với tổ chức công đoàn 76

3.2 Một số kiến nghị cụ thể nhằm phát huy các quyền của tổ

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài

Trong quan hệ lao động, sự hòa hợp giữa các chủ thể, giữa một bên là người sử dụng lao động và một bên là người lao động, giữa người thuê mướn

và người bán sức lao động thường chỉ có tính bền vững và ổn định tương đối

vì quyền và trách nhiệm của mỗi bên có tính đối ứng Với trách nhiệm và tư cách là người quản lý xã hội, Nhà nước thông qua hệ thống pháp luật và bộ máy quyền lực tác động có ý thức vào quan hệ lao động, nhằm làm cho quan hệ lao động được hài hòa, ổn định, tạo điều kiện phát triển sản xuất kinh doanh

Tuy nhiên, trong từng thời kỳ xã hội khác nhau mà quan hệ lao động này có biểu hiện cũng khác nhau Trong thời kỳ kế hoạch hóa tập trung, Nhà nước quản lý kinh tế bằng chỉ tiêu, kế hoạch đã định sẵn Lúc đó, nền kinh tế chỉ tồn tại với hai thành phần chủ yếu là kinh tế nhà nước và kinh tế tập thể Quan hệ lao động trong thời kỳ này thực chất là quan hệ hành chính Người

sử dụng lao động thay mặt cho Nhà nước ra những mệnh lệnh quản lý bắt buộc người lao động phải thực hiện, người lao động bị phụ thuộc hoàn toàn vào sự quản lý, lãnh đạo của người sử dụng lao động

Từ sau Đại hội VI của Đảng, nhất là từ năm 1990 trở lại đây, đường lối cải cách kinh tế, mở cửa, hội nhập quốc tế đã tạo điều kiện thuận lợi cho

sự phát triển của thị trường lao động, giải phóng sức lao động Cũng trong thời kỳ này, với chính sách phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, Nhà nước ta đã cho phép và khuyến khích các thành phần kinh tế cùng tồn tại và phát triển theo các quy luật của thị trường Kinh tế thị trường cạnh tranh sôi động đã tạo động lực thúc đẩy sự phát triển của các doanh nghiệp cũng như toàn bộ nền kinh tế Số lượng các doanh nghiệp tham gia vào hoạt động sản xuất kinh doanh tăng lên nhanh chóng kéo theo nhu cầu sử dụng lao động cũng gia tăng Do đó, quan hệ lao động cũng trở nên sôi động,

Trang 7

đa dạng và phức tạp hơn Trong mối quan hệ đó, người sử dụng lao động và người lao động đều muốn tối đa hóa lợi ích của mình.Tuy nhiên, lợi ích của hai bên khi tham gia vào quan hệ lao động lại thường khác nhau, thậm chí đối lập nhau Người sử dụng lao động muốn có được những lao động có tay nghề,

có trình độ nhưng chi phí lương, điều kiện và môi trường lao động lại thấp nhất đến mức có thể Và, để đạt được mục đích này người sử dụng lao động thường phải tìm mọi cách, bất chấp mọi thủ đoạn để bóc lột hiệu quả nhất sức lao động của người lao động Còn những người lao động lại mong muốn có được điều kiện và môi trường lao động thuận lợi, an toàn, được trả lương cao…Song, trong quan hệ lao động họ luôn ở vị thế yếu hơn so với người sử dụng lao động, bị phụ thuộc vào người sử dụng lao động Chính vì vậy, cần phải có một tổ chức đứng ra đại diện cho họ, bảo vệ họ trong quan hệ lao động đó chính là tổ chức công đoàn Công đoàn là tổ chức chính trị - xã hội của giai cấp công nhân, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp chính đáng của công nhân lao động có vai trò vô cùng quan trọng Sự có mặt của tổ chức công đoàn trong quan hệ lao động đã ảnh hưởng không nhỏ đến sự ổn định và tính bền vững của quan hệ lao động cũng như sự phát triển của kinh tế - xã hội, góp phần hạn chế những tiêu cực đến thị trường lao động Sự tham gia của tổ chức công đoàn trong quan hệ này đã được pháp luật ghi nhận và trao cho công đoàn những quyền năng nhất định để công đoàn có thể thực hiện được "sứ mệnh" của mình Tuy nhiên, từ thực tiễn ở Việt Nam trong những năm qua, công đoàn chưa thể hiện tốt vai trò của mình, thậm chí ở nhiều nơi vai trò của tổ chức công đoàn còn rất mờ nhạt, công đoàn chưa thể hiện và chưa phát huy được hết những quyền năng của tổ chức mình trong quan hệ lao động Vì vậy, để nâng cao hơn nữa vai trò, trách nhiệm của công đoàn trong quan hệ lao động, cũng như nhằm nâng cao các quyền của tổ chức công đoàn phát huy

có hiệu quả và "thực quyền" hơn nữa đang là một vấn đề được xã hội quan tâm

Với những lý do đó, tác giả chọn đề tài "Các quyền của công đoàn trong Luật Công đoàn năm 1990 - Thực trạng và phương hướng hoàn thiện" làm

Trang 8

luận văn thạc sỹ luật học của mình, với mong muốn góp phần vào quá trình sửa đổi, bổ sung Luật Công đoàn cũng như trong tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Trong quan hệ lao động, công đoàn là tổ chức đại diện và bảo vệ quyền lợi của người lao động Sự tham gia của công đoàn vào quan hệ lao động là một đòi hỏi tất yếu

Tuy nhiên, trong quan hệ đó, công đoàn được pháp luật trao cho những quyền năng gì và thực tiễn thực hiện như thế nào thì vẫn đang là vấn

đề được nhiều người quan tâm Đã có không ít những công trình, đề tài nghiên cứu về tổ chức công đoàn song lại ở những khía cạnh khác nhau như

Vũ Thị Thu (2001), Ví trí pháp lý của công đoàn trong giải quyết tranh chấp

lao động, Khóa luận tốt nghiệp; Nguyễn Thị Thái Thuận (2005), Giải quyết tranh chấp lao động và vấn đề nâng cao vị trí của tổ chức công đoàn trong giải quyết tranh chấp lao động, Luận văn Thạc sỹ Luật học; Nguyễn Thị

Phương Thúy (2009), Vai trò của Công đoàn trong giải quyết tranh chấp lao

động và đình công, Luận văn thạc sĩ Luật học Ngoài ra, đã có một số bài viết

đăng trên tạp chí khoa học pháp lý chuyên ngành như Nguyễn Hữu Chí

(2001), Vai trò của công đoàn trong cơ chế ba bên và trong việc giải quyết

tranh chấp lao động, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật; Dương Văn Sao (2003), Nâng cao hiệu quả hoạt động của công đoàn trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, Tạp chí Lao động và Công đoàn; Nguyễn Thanh Tuấn

(2006), Bảo vệ người lao động ở Liên bang Nga - Bộ luật Lao động và vai trò

của công đoàn, Tạp chí Lao động và Công đoàn; Lê Thị Hoài Thu (2009), Cơ chế ba bên và vai trò của công đoàn, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp; … Các

công trình nghiên cứu trên mới chỉ mang tính chất gợi mở, đi sâu vào nghiên cứu một khía cạnh, lĩnh vực cụ thể chứ chưa đi vào nghiên cứu một cách toàn diện, đầy đủ và có hệ thống vấn đề các quyền của tổ chức công đoàn - một vấn đề có ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc

Trang 9

3 Mục đích nghiên cứu và nhiệm vụ nghiên cứu

Luận văn làm sáng tỏ về mặt lý luận các quyền của tổ chức công đoàn Trên cơ sở các quy định của pháp luật và thực tiễn thực hiện đề xuất một số biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả việc thực hiện các quyền của tổ chức công đoàn

Mục đích của đề tài được cụ thể hóa ở những nhiệm vụ nghiên cứu sau đây:

- Nghiên cứu vấn đề khái quát chung về quyền, vị trí, vai trò của tổ chức công đoàn

- Nghiên cứu một cách có hệ thống những vấn đề lý luận và thực tiễn việc thực hiện các quyền của tổ chức công đoàn

- Đánh giá những ưu, nhược điểm về thực tiễn việc thực hiện các quyền của tổ chức công đoàn

- Đưa ra một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả việc thực hiện các quyền của tổ chức công đoàn

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Trong khuôn khổ luận văn thạc sỹ luật học, tác giả tập trung nghiên cứu một số vấn đề lý luận cơ bản về quyền của tổ chức công đoàn, quy định của pháp luật về quyền của tổ chức này cũng như thực tiễn thực hiện để bước đầu đưa ra những kiến nghị nhằm nâng cao hơn nữa hiệu quả việc thực hiện các quyền của tổ chức công đoàn trong quan hệ lao động, từ đó có thể bảo vệ được người lao động một cách triệt để nhất

5 Phương pháp nghiên cứu

Trong quá trình nghiên cứu đề tài, tác giả sử dụng phép biện chứng của Triết học Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm cơ sở cho quá trình nghiên cứu Ngoài ra, các phương pháp phân tích, tổng hợp, đối chiếu, so sánh, khảo sát, thu thập, điều tra xã hội học…được sử dụng phù hợp với từng mặt, từng lĩnh vực nghiên cứu của đề tài Các Nghị quyết của Đảng Cộng sản

Trang 10

Việt Nam, các quy định của Hiến pháp, Bộ luật lao động, Luật Công đoàn….có liên quan đến quyền của tổ chức công đoàn được sử dụng với tư cách là cơ sở lý luận, cơ sở pháp lý cho quá trình nghiên cứu

6 Kết quả của luận văn

Luận văn nghiên cứu vấn đề lý luận và sự cần thiết phải nâng cao hiệu quả các quyền của tổ chức công đoàn trong quan hệ lao động, đánh giá các quy định của pháp luật hiện hành cũng như thực tiễn thực hiện từ đó đưa ra các kiến nghị đồng bộ cả về mặt lập pháp và tổ chức thực hiện nhằm góp phần phát triển quan hệ lao động nói riêng và phát triển kinh tế - xã hội nói chung Kết quả của luận văn sẽ là nguồn tài liệu tham khảo cho các nhà hoạch định chính sách, các nhà nghiên cứu và những ai quan tâm đến vấn đề này nhất là trong giai đoạn hiện nay những vấn đề đang được đặt ra trong quá trình sửa đổi, bổ sung Luật Công đoàn

7 Kết cấu của luận văn

Luận văn ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 3 chương:

Chương 1: Khái quát chung về tổ chức công đoàn và các quyền của

Công đoàn Việt Nam

Chương 2: Các quyền của công đoàn và thực tiễn thực hiện

Chương 3: Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quyền của tổ

chức công đoàn

Trang 11

Chương 1

KHÁI QUÁT CHUNG VỀ TỔ CHỨC CÔNG ĐOÀN

VÀ CÁC QUYỀN CỦA CÔNG ĐOÀN VIỆT NAM

1.1 Những vấn đề chung về tổ chức công đoàn

1.1.1 Tính chất, vị trí của tổ chức công đoàn

Điều 10 Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm

1992 đã ghi nhận:

Công đoàn là tổ chức chính trị - xã hội của giai cấp công nhân

và của người lao động cùng với cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế,

tổ chức xã hội chăm lo và bảo vệ quyền lợi của cán bộ, công nhân, viên chức và những người lao động khác; tham gia quản lý nhà nước và xã hội, tham gia kiểm tra giám sát hoạt động của cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, giáo dục cán bộ, công nhân, viên chức và những người lao động khác; xây dựng và bảo vệ Tổ quốc [27] Giai cấp công nhân vừa là nguồn gốc vừa là cơ sở xã hội hình thành, tồn tại phát triển tổ chức công đoàn Bởi công đoàn ra đời với mục tiêu cao cả

là để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của giai cấp công nhân Hình thức tổ chức của công đoàn là liên hiệp công nhân lao động theo nghề nghiệp và dựa trên nguyên tắc tự nguyện Công đoàn Việt Nam được Đảng thành lập, giáo dục và rèn luyện luôn luôn thể hiện bản chất cách mạng của giai cấp công nhân Khác với Công đoàn các nước, Công đoàn Việt Nam từ khi ra đời cho đến nay luôn luôn trung thành với lợi ích của dân tộc, của giai cấp Công đoàn Việt Nam thể hiện hai tính chất cơ bản đó là: tính chất quần chúng rộng lớn và tính chất giai cấp Thông qua hai tính chất này, Công đoàn Việt Nam luôn vận động, phát triển qua các thời kì cách mạng, luôn thống nhất trong lý luận và hành động, trong mục tiêu hoạt động dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam Tuy nhiên, tính chất của Công đoàn Việt Nam

Trang 12

vẫn kế thừa tính chất cách mạng của Công đoàn cách mạng thế giới, được vận dụng một cách linh hoạt, sáng tạo và biện chứng phù hợp với thực tiễn lịch sử dân tộc và giai cấp Cụ thể như sau:

Tính chất quần chúng rộng lớn của công đoàn Việt Nam được thể hiện

ở chỗ ngay từ khi mới ra đời Công đoàn Việt Nam gắn liền với công nhân, lao động bị áp bức bóc lột Thông qua phong trào đấu tranh của công nhân lao động, Công đoàn Việt Nam tồn tại phát triển thành một tổ chức chính trị - xã hội rộng lớn Ngày nay, tính chất quần chúng của Công đoàn Việt Nam thể hiện qua việc Kết nạp công nhân viên chức lao động vào tổ chức không phân biệt nghề nghiệp, tín ngưỡng, thành phần…; Cán bộ công đoàn trưởng thành

từ phong trào quần chúng công nhân viên chức lao động và được họ tín nhiệm bầu ra; Nội dung hoạt động của Công đoàn đáp ứng yêu cầu, nguyện vọng của đông đảo công nhân viên chức lao động

Bên cạnh đó, tính chất giai cấp của công đoàn Việt Nam cũng được biểu hiện ở chỗ giai cấp công nhân, lao động nước ta là cơ sở xã hội để hình thành và phát triển của tổ chức công đoàn Tổ chức Công đoàn làm nhiệm vụ bảo vệ lợi ích của những người lao động, chống lại mọi sự bóc lột của đế quốc, thực dân, phong kiến Sau khi Cách mạng tháng Tám thành công, nhà nước công - nông được thành lập thì tổ chức Công đoàn là đại diện cho quyền lợi của công nhân, lao động trong điều kiện lịch sử mới Thấy rõ tính chất giai cấp của Công đoàn có ý nghĩa quan trọng trong việc xác định đúng vị trí, vai trò của Công đoàn trong xã hội Công đoàn là một tổ chức chính trị - xã hội rộng lớn của giai cấp công nhân, của người lao động tự nguyện thành lập nên, khác với Nhà nước của giai cấp công nhân Việt Nam là tổ chức chính trị, là công cụ của giai cấp công nhân Ngày nay tính chất giai cấp của Công đoàn Việt Nam được biểu hiện ở những nội dung cơ bản như Công đoàn Việt Nam đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng - đội ngũ tiên phong của giai cấp công nhân, phấn đấu theo mục tiêu chiến lược cách mạng mà Đảng đã đề ra Đảng giáo dục, rèn luyện và tạo mọi điều kiện để Công đoàn phát triển Đồng thời Công

Trang 13

đoàn Việt Nam là sợi dây nối liền giữa Đảng với quần chúng; mọi hoạt động của Công đoàn Việt Nam nhằm thực hiện thắng lợi mục tiêu chính trị của Đảng đề ra và thực hiện sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân là xóa bỏ chế

độ người bóc lột người Ở Việt Nam đó là việc hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ, đánh đổ thực dân phong kiến, xây dựng nhà nước dân chủ nhân dân

và tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa; xây dựng tổ chức Công đoàn Việt Nam phải đảm bảo tính thống nhất về lý luận và hành động của giai cấp công nhân trong mọi thời kì của cách mạng nước ta; xây dựng và phát triển đội ngũ cán bộ Công đoàn theo đường lối, chính sách và tiêu chuẩn cán bộ của Đảng Cộng sản Việt Nam; tổ chức và hoạt động của Công đoàn Việt Nam là quán triệt nguyên tắc tập trung dân chủ- nguyên tắc tổ chức quan trọng nhất của giai cấp công nhân, của Đảng Cộng sản Việt Nam

Ngoài ra, hoạt động của Công đoàn Việt Nam vì lợi ích dân tộc, bởi lẽ trong hoàn cảnh lịch sử nước ta thì lợi ích giai cấp của giai cấp công nhân Việt Nam cũng phù hợp với lợi ích dân tộc, nên mục tiêu phấn đấu của Công đoàn Việt Nam còn mang ý nghĩa to lớn là vì lợi ích của dân tộc, của Tổ quốc Việt Nam

Hai tính chất của công đoàn có quan hệ gắn bó mật thiết phản ánh bản chất của Công đoàn Việt Nam Chúng có ý nghĩa quan trọng quyết định sự tồn tại và phát triển của Công đoàn Việt Nam Hai tính chất đó luôn luôn được quán triệt trong tôn chỉ và mục đích chỉ đạo, trong xây dựng tổ chức và hoạt động của Công đoàn Việt Nam Do vậy, cần quán triệt sâu sắc hai tính chất này trong tư tưởng chỉ đạo, xây dựng tổ chức và hoạt động, không coi trọng tính chất này mà xem nhẹ tính chất kia Bởi lẽ, nếu chỉ coi trọng tính chất giai cấp của giai cấp công nhân mà xem nhẹ tính chất quần chúng thì về mặt tổ chức dần dần sẽ bị bó hẹp lại và ngược lại nếu chỉ coi trọng tính chất quần chúng mà xem nhẹ tính chất giai cấp thì sẽ dẫn đến xa rời mục tiêu chính trị, dần dần sẽ biến thành phường hội, sai lệch với mục tiêu chính trị, sai lệch với phương hướng hành động cách mạng và không đúng với bản chất của công đoàn cách mạng

Trang 14

Từ những tính chất đó cũng phần nào nói lên vị trí của Công đoàn Việt Nam Trước hết phải khẳng định rằng vị trí của Công đoàn chính là địa

vị của Công đoàn trong hệ thống chính trị - xã hội, là mối quan hệ của Công đoàn với các tổ chức đó

Có thể nói Công đoàn Việt Nam là tổ chức chính trị - xã hội rộng lớn của giai cấp công nhân, đội ngũ tri thức và những người lao động tự nguyện lập ra nhằm mục đích tập hợp, đoàn kết lực lượng, xây dựng giai cấp công nhân Việt Nam lớn mạnh về mọi mặt; đại diện và bảo vệ các quyền, lợi ích hợp pháp chính đáng của người lao động, phấn đấu xây dựng nước Việt Nam độc lập, thống nhất đi lên chủ nghĩa xã hội Công đoàn là trung tâm tập hợp, đoàn kết, giáo dục, rèn luyện, xây dựng đội ngũ giai cấp công nhân, lao động

Vị trí của Công đoàn Việt Nam được Hiến pháp, Pháp luật của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và toàn thể công nhân, viên chức, lao động thừa nhận.Công đoàn là thành viên trong hệ thống chính trị xã hội Việt Nam

Ngày nay, khi quá trình hội nhập kinh tế quốc tế đang tác động mạnh

mẽ đến vị trí của tổ chức công đoàn trong đời sống kinh tế - xã hội ở Việt Nam Cơ chế thị trường với sức mạnh của nó đang lay chuyển chỗ đứng của

tổ chức công đoàn Do nhiều nguyên nhân công đoàn còn lúng túng trong bước chuyển biến của nền kinh tế, còn vướng mắc về mô hình tổ chức và phương pháp hoạt động trong tình hình mới Vì vậy, có nhiều người cảm thấy

vị trí của công đoàn như đang bị lướt đi trước sự gia tăng của quá trình hội nhập và sự phát triển của các tổ chức xã hội nghề nghiệp

Nếu nhìn lại lịch sử, công đoàn đã ra đời từ những thập niên cuối thế

kỷ XVIII, khi mà nền kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa, cơ chế tự do cạnh tranh đang bộc lộ rất nhiều khuyết điểm Công đoàn ra đời vì yêu cầu lợi ích của công nhân, lao động và để thống nhất lực lượng giai cấp công nhân, đấu tranh cho sự phát triển xã hội Ngày nay, ở hầu hết các quốc gia có nền kinh

tế thị trường phát triển, có rất nhiều tổ chức xã hội - nghề nghiệp, tổ chức từ

Trang 15

thiện hoạt động nhưng chỉ có tổ chức công đoàn mới trực tiếp tham gia giải quyết quan hệ lao động

Ở Việt Nam, trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, các doanh nghiệp liên doanh với nước ngoài, các doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài ngày càng nhiều Đó là mảnh đất để tổ chức công đoàn hoạt động, đòi hỏi công đoàn phải đổi mới nội dung và phương pháp hoạt động cho phù hợp, phải tập hợp được nhiều đoàn viên, bám sát cơ sở để giữ vững vị trí, phát huy vai trò tích cực của mình

Một lý do rất quan trọng để khẳng định vị trí của công đoàn là yêu cầu của quá trình hội nhập kinh tế quốc tế Muốn bảo đảm quá trình hội nhập ở Việt Nam đi đúng hướng phải nâng cao vai trò của hệ thống chính trị Việt Nam, trong đó Công đoàn Việt Nam là thành viên của hệ thống chính trị, là cầu nối giữa quần chúng với Đảng, có mối liên hệ mật thiết với Nhà nước Giải quyết tốt mối quan hệ giữa Đảng, Nhà nước và Công đoàn không những tạo nguồn lực thúc đẩy quá trình hội nhập có hiệu quả cao mà còn khẳng định

vị trí của tổ chức công đoàn trong đời sống kinh tế, chính trị, xã hội của đất nước Và, việc giải quyết mối quan hệ này cần được thực hiện theo hướng:

Với Đảng, Công đoàn chịu sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, chỗ dựa vững chắc và là sợi dây chuyền nối liền quần chúng với Đảng Mối quan hệ giữa Công đoàn và Đảng Cộng Sản trong chặng đầu quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta thể hiện: Vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Công đoàn, mặt khác thể hiện trách nhiệm của Công đoàn trong việc thực hiện đường lối, chính sách của Đảng và tham gia xây dựng Đảng Công đoàn hoạt động không thể thiếu sự lãnh đạo của Đảng vì Đảng là bộ phận tiên phong nhất, tích cực nhất của giai cấp công nhân Sự lãnh đạo của Đảng đối với Công đoàn được hình thành trong lịch sử đấu tranh cách mạng của giai cấp công nhân và Công đoàn Việt Nam Dưới sự lãnh đạo của Đảng, Công đoàn Việt Nam đã tham gia tích cực trong cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân

Trang 16

dân, cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước và trong cách mạng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam Đảng lãnh đạo Công đoàn bằng đường lối, chủ trương Nghị quyết của cấp ủy Đảng Công đoàn Việt Nam với chức năng của mình triển khai đường lối, chủ trương Nghị quyết của Đảng thành chương trình công tác của tổ chức mình Đảng lãnh đạo Công đoàn thông qua phát huy vai trò của từng đảng viên trong tổ chức Công đoàn các cấp Đảng tôn trọng tính độc lập về mặt tổ chức của tổ chức Công đoàn Tính độc lập về mặt tổ chức của Công đoàn có nghĩa là: Công đoàn xây dựng tổ chức và hoạt động phù hợp với điều lệ của tổ chức Công đoàn Việt Nam trên cơ sở Nghị quyết Đại hội Công đoàn các cấp Cần tránh nhận thức sai lầm về sự lãnh đạo của Đảng đối với Công đoàn là sự can thiệp trực tiếp của Đảng vào công việc của Công đoàn Đảng không gán ghép cán bộ của Đảng làm công tác Công đoàn, mà Đảng chỉ giới thiệu những đảng viên tốt để Đại hội Công đoàn lựa chọn và bầu vào các cương vị lãnh đạo Công đoàn Đồng thời, không được đồng nhất tính độc lập về mặt tổ chức của Công đoàn với sự "biệt lập", "trung lập", "đối lập", "tách biệt" của Công đoàn với Đảng dẫn đến sự xa rời lãnh đạo của Đảng đối với Công đoàn Nếu nhầm lẫn sẽ dẫn đến sự lệch lạc mục tiêu hoạt động và không còn đúng bản chất của Công đoàn Cách mạng Ngoài ra, Đảng cũng tiến hành kiểm tra Công đoàn thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng Trong quá trình hội nhập, Đảng thông qua tổ chức công đoàn để liên hệ mật thiết với giai cấp công nhân, giúp đỡ công đoàn trong việc đại diện và bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của quần chúng công nhân lao động Đảng thông qua công đoàn để đưa chủ trương, mục tiêu hội nhập kinh tế của Đảng vào công nhân, viên chức, lao động, động viên họ tích cực tham gia vào quá trình này

Công đoàn thực hiện sự lãnh đạo của Đảng, phát huy vai trò trường học của mình, tham gia quản lý kinh tế, quản lý nhà nước, quản lý xã hội, thuyết phục quần chúng phát huy tính chủ động, sáng tạo trong công cuộc xây

Trang 17

dựng xã hội mới, thực hiện mục tiêu chính trị của Đảng Trong quá trình hội nhập, nguồn nội lực có thể được phát huy và đạt hiệu quả cao khi đông đảo quần chúng nhân dân tham gia xây dựng, bảo vệ Đảng và Nhà nước Công đoàn đại diện cho người lao động, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của người lao động, động viên người lao động tích cực tham gia xây dựng cuộc sống mới, vươn lên thành người chủ đất nước Như vậy, sự tồn tại của công đoàn chỉ có ý nghĩa khi bản thân tổ chức này thực sự phát huy vai trò, thực hiện tốt mục tiêu, phương hướng, nhiệm vụ của mình, góp phần thực hiện mục tiêu chính trị của Đảng Công đoàn là tổ chức chính trị - xã hội của giai cấp công nhân, là chiếc cầu và sợi dây liên hệ nối liền Đảng với quần chúng Phong trào công đoàn chỉ tiếp nhận sự lãnh đạo của Đảng mới trở thành phong trào tự giác đi theo con đường phát triển lành mạnh

Với Nhà nước, Công đoàn là người cộng tác đắc lực, bình đẳng tôn trọng lẫn nhau, ngược lại Nhà nước tạo điều kiện về pháp lý và cơ sở vật chất cho Công đoàn hoạt động Quan hệ giữa công đoàn với Nhà nước là quan hệ hợp tác Giữa Công đoàn và Nhà nước không có sự đối lập Công đoàn vận động công nhân, viên chức, lao động thực hiện chính sách, pháp luật của Nhà nước, ủng hộ Nhà nước triển khai các kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội Không

có sự ủng hộ của Công đoàn thì chính quyền nhà nước sẽ bị lung lay Nhà nước tôn trọng và giải quyết những kiến nghị của Công đoàn một cách hữu hiệu Công đoàn phát huy vai trò tham gia, kiểm tra, giám sát hoạt động của Nhà nước Dưới chủ nghĩa xã hội mối quan hệ giữa Công đoàn Việt Nam với Nhà nước là mối quan hệ bình đẳng, hợp tác, tôn trọng, phối hợp chặt chẽ với nhau trong các mặt hoạt động nhằm thực hiện mục tiêu chung là: " Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ và văn minh" Công đoàn Việt Nam luôn cộng tác đắc lực với Nhà nước, góp phần xây dựng chính quyền Nhà nước không ngừng lớn mạnh Công đoàn là người cung cấp, bồi dưỡng, rèn luyện những cán bộ ưu tú cho Đảng và Nhà nước Vì thế, giải quyết tốt mối quan hệ giữa Công đoàn với

Trang 18

Nhà nước sẽ tạo cơ sở xã hội - chính trị thuận lợi cho cả hai tổ chức này hoàn thành tốt hơn vai trò của mình trong hệ thống chính trị ở Việt Nam

Với tổ chức chính trị, xã hội khác Công đoàn là thành viên của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, hạt nhân trong khối liên minh Công, Nông, trí thức, bình đẳng, tôn trọng, tạo điều kiện cho nhau hoạt động Công đoàn tham gia vào Mặt trận Tổ quốc với tư cách là một tổ chức độc lập, có đối tượng vận động cụ thể là công nhân, viên chức, lao động, có chức năng, nhiệm vụ, phương pháp hoạt động riêng của mình Công đoàn góp phần to lớn vào mục tiêu hoạt động của Mặt trận Tổ quốc, khơi dậy tiềm năng, sức sáng tạo, tinh thần yêu nước, truyền thống cách mạng kiên cường của quần chúng lao động, tăng thêm sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân Có thể nói, mối quan hệ giữa Công đoàn với Mặt trận Tổ quốc là quan hệ hiệp thương, dân chủ, thống nhất hành động Ngoài ra, với các tổ chức chính trị- xã hội khác như Đoàn thành niên, Hội nông dân, Hội Cựu chiến binh, Hội phụ nữ, Công đoàn có quan hệ bình đẳng, phối hợp nhằm thực hiện mục tiêu chính trị của Đảng Hệ thống chính trị Việt Nam là một thể thống nhất, các thành viên của nó có mối quan hệ biện chứng lẫn nhau Vì vậy, xây dựng tổ chức Công đoàn gắn liền với quá trình xây dựng và hoàn thiện hệ thống chính trị của Nhà nước

1.1.2 Chức năng của tổ chức công đoàn

Cùng với sự phát triển của xã hội, chức năng Công đoàn cũng phát triển, ở mỗi một điều kiện lịch sử - xã hội khác nhau, Công đoàn thực hiện chức năng khác nhau và nó luôn luôn được bổ sung những nội dung mới, ý nghĩa mới cho phù hợp Đồng thời, sự phát triển chức năng không có nghĩa là phủ định, rũ bỏ những chức năng đã có của Công đoàn Vì vậy, cần hiểu đúng

để tránh sự trì trệ, bảo thủ, đồng thời tránh sa vào tư tưởng nóng vội, phủ định một cách vô căn cứ những chức năng của Công đoàn

Các chức năng của Công đoàn gắn chặt với các mặt hoạt động của đời sống xã hội, sản xuất kinh doanh, quản lý kinh tế, chính trị, tư tưởng, văn hóa -

Trang 19

xã hội, đời sống vật chất và tinh thần của người lao động Chức năng của Công đoàn trong chủ nghĩa xã hội khác hẳn về chất so với chức năng của Công đoàn trong chủ nghĩa tư bản Có sự khác nhau này là do sự thay đổi vị trí, vai trò của giai cấp công nhân và tổ chức Công đoàn trong xã hội quyết định

Xác định đúng chức năng của Công đoàn Việt Nam có ý nghĩa lý luận, thực tiễn và tư tưởng sâu sắc Về mặt lý luận nó sẽ phản ánh được đầy đủ và toàn diện bản chất của Công đoàn Về mặt thực tiễn, nó tránh được sự trùng lắp, chồng chéo giữa Công đoàn với Nhà nước và các đoàn thể, các tổ chức chính trị - xã hội khác Đồng thời, xác định đúng chức năng của Công đoàn còn có ý nghĩa tư tưởng là giải đáp những vướng mắc, phân vân của quần chúng, củng cố lòng tin, đáp ứng nguyện vọng của công nhân, viên chức và lao động, đồng thời đấu tranh chống lại các luận điệu xuyên tạc, bôi đen chức năng của Công đoàn cách mạng

Xuất phát từ tính chất của Công đoàn Việt Nam là tính chất giai cấp và tính chất quần chúng nên Công đoàn Việt Nam hiện nay có ba chức năng sau:

Một là, Công đoàn đại diện và bảo vệ các quyền, lợi ích hợp pháp

chính đáng của người lao động; có trách nhiệm tham gia với Nhà nước phát triển sản xuất, giải quyết việc làm, cải thiện đời sống vật chất, tinh thần của người lao động

Công đoàn Việt Nam phải thực hiện chức năng bảo vệ quyền, lợi ích của người lao động bởi lẽ trình độ và kinh nghiệm quản lý của chính quyền các cấp còn non kém, bộ máy Nhà nước còn quan liêu, hành chính Tình trạng tham ô, lãng phí, móc ngoặc, hối lộ, tham nhũng, vi phạm đến lợi ích, đời sống của người lao động vẫn còn tồn tại Vì vậy, Công đoàn phải là người bảo vệ lợi ích của người lao động chống lại tệ nạn quan liêu, chống lại các biểu hiện tiêu cực Đó là sự bảo vệ đặc biệt khác hẳn sự bảo vệ trong chủ nghĩa tư bản

Công đoàn Việt Nam thực hiện chức năng bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người lao động không bằng cách đấu tranh chống lại Nhà nước, làm

Trang 20

suy yếu Nhà nước, không mang tính đối kháng giai cấp Ngược lại Công đoàn còn tiến hành vận động, tổ chức cho công nhân viên chức lao động tham gia xây dựng Nhà nước trong sạch, vững mạnh Đồng thời Công đoàn cũng bảo

vệ chính lợi ích của Nhà nước Đấu tranh chống lại thói hư, tật xấu của một số người, nhóm người bị tha hóa, đấu tranh chống lại những hành vi vi phạm pháp luật Nhà nước, bảo vệ chính quyền Nhà nước

Thực tế hiện nay của nước ta, trong điều kiện của nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, các xí nghiệp, doanh nghiệp tư nhân, liên doanh; xí nghiêp có vốn đầu tư nước ngoài, người lao động làm việc trong sự quản lý của chủ doanh nghiệp đã làm xuất hiện quan hệ chủ - thợ và tình trạng vi phạm đến quyền, lợi ích hợp pháp của người lao động có xu hướng phát triển

Do vậy, chức năng bảo vệ quyền, lợi ích chính đáng của người lao động của Công đoàn có ý nghĩa hết sức quan trọng và cần thiết

Để thực hiện chức năng này, Công đoàn chủ động tham gia cùng chính quyền tìm việc làm và tạo điều kiện làm việc cho người lao động; Công đoàn tham gia trong lĩnh vực tiền lương, tiền thưởng, nhà ở, trong việc kí kết hợp đồng lao động của người lao động; đại diện cho người lao động ký kết thỏa ước lao động tập thể; trong vấn đề thương lượng, giải quyết tranh chấp lao động; tổ chức đình công theo quy định của Bộ luật lao động Quản lý và

sử dụng quỹ phúc lợi tập thể và sự nghiệp phúc lợi tập thể; bảo hiểm xã hội, bảo hộ lao động; tham gia giải quyết khiếu nại, tố cáo của người lao động; phát huy dân chủ, bình đẳng, công bằng xã hội; phát triển các hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể dục thể thao, du lịch, tham quan nghỉ mát cho các công đoàn viên trong Công đoàn

Song, trong quá trình thực hiện các nội dung hoạt động nhằm thực hiện chức năng bảo vệ quyền, lợi ích chính đáng của người lao động cần nhận thức đầy đủ và sâu sắc rằng lợi ích của người lao động gắn liền với lợi ích của Nhà nước, của tập thể, sự tồn tại của Nhà nước chính là sự đảm bảo lợi ích cho người

Trang 21

lao động Lợi ích của người lao động không chỉ đơn giản là miếng cơm, manh

áo mà cao hơn thế là lợi ích chính trị; lợi ích kinh tế; lợi ích văn hóa, tinh thần; lợi ích trước mắt, lâu dài; lợi ích cá nhân, tập thể, Nhà nước Nhà nước là người bảo đảm, Công đoàn là người bảo vệ lợi ích của người lao động Đây là vấn đề quan trọng nói lên mối quan hệ khăng khít, biện chứng giữa quyền và nghĩa vụ Đồng thời nó là cơ sở nhận thức về lợi ích của người lao động trong điều kiện mới, thể hiện đúng bản chất của Công đoàn Cách mạng Việt Nam

Hai là, Công đoàn đại diện và tổ chức người lao động tham gia quản

lý cơ quan, đơn vị, tổ chức; quản lý kinh tế xã hội, quản lý Nhà nước trong phạm vi chức năng của mình; thực hiện quyền kiểm tra, giám sát hoạt động của cơ quan đơn vị, tổ chức theo quy định của pháp luật

Trong điều kiện giai cấp công nhân giành được chính quyền người lao động trở thành người chủ, họ có quyền và có trách nhiệm tham gia quản lý kinh tế, xã hội Vì vậy, vấn đề tham gia quản lý đã trở thành chức năng của Công đoàn Tuy nhiên cần nhận thức rằng, Công đoàn tham gia quản lý chứ không làm thay, không cản trở, không can thiệp thô bạo vào công việc quản lý của Nhà nước Công đoàn tham gia quản lý thực chất là để thực hiện quyền của Công đoàn, quyền của công nhân, viên chức, lao động và để bảo vệ đầy

đủ các quyền, lợi ích chính đáng của người lao động

Chức năng tham gia quản lý của Công đoàn Việt Nam được biểu hiện

ở những nội dung cụ thể như sau: Công đoàn tổ chức phong trào thi đua lao động giỏi trong công nhân, viên chức và lao động - một biện pháp tổng hợp

để họ trực tiếp tham gia quản lý; tham gia xây dựng chiến lược tạo việc làm

và điều kiện làm việc cho người lao động; tham gia xây dựng, hoàn thiện các chế độ, chính sách liên quan trực tiếp đến người lao động như tiền lương, tiền thưởng, nhà ở…; tham gia giải quyết khiếu nại, tố cáo của công nhân, viên chức và lao động; tham gia xây dựng hoàn thiện các chính sách xã hội như Bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, chính sách kế hoạch hóa gia đình, các phong

Trang 22

trào đền ơn đáp nghĩa, cứu trợ xã hội; vận động và tổ chức tốt Đại hội công nhân viên chức, Hội nghị cán bộ công chức ở đơn vị; tham gia vào việc hoạch định chiến lược sản xuất, kinh doanh và đầu tư, đồng thời kiểm tra, giám sát các công việc đã được hoạch định; tham gia xây dựng và thực hiện các chính sách liên quan đến quyền, lợi ích và nghĩa vụ của người lao động Kiểm tra, giám sát việc thực hiện chế độ, chính sách của đơn vị

Ngày nay, trong điều kiện nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa, khi thực hiện chức năng tham gia quản lý Công đoàn Việt Nam cần quan tâm đến việc phát triển tiềm năng lao động, phát huy sáng kiến, phối hợp với lãnh đạo đơn vị, chủ doanh nghiệp, xí nghiệp tìm nguồn vốn, thị trường để mở rộng sản xuất kinh doanh, giải quyết việc làm cho người lao động Kiểm tra, giám sát hoạt động của chính quyền, chống quan liêu tham nhũng

Ba là, Công đoàn có trách nhiệm tổ chức, giáo dục động viên người

lao động phát huy vai trò làm chủ đất nước, thực hiện nghĩa vụ công dân, xây dựng và phát triển bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa

Chức năng giáo dục của Công đoàn Việt Nam ngày càng mở rộng và phát triển thông qua hoạt động thực tiễn trong lao động sản xuất và tham gia các phong trào thi đua góp phần cho công nhân, viên chức và lao động nhận thức và hiểu được lợi ích của họ gắn với lợi ích tập thể, lợi ích của xã hội Muốn có lợi ích và muốn lợi ích của mình được bảo vệ trước hết phải thực hiện tốt nghĩa vụ lao động, nghĩa vụ của người công dân đối với cơ quan, xí nghiệp và xã hội Trên cơ sở đó xây dựng ý thức lao động mới, lao động có

kỷ luật và có tác phong công nghiệp Nâng cao tinh thần tự giác học tập văn hóa, chính trị, chuyên môn, nghiệp vụ, rèn luyện tay nghề để đáp ứng sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

Chức năng này của Công đoàn Việt Nam được biểu hiện qua các hoạt động như: Công đoàn tuyên truyền, giáo dục cho công nhân, viên chức và lao

Trang 23

động vững tin vào đường lối xây dựng chủ nghĩa xã hội, phát triển kinh tế - xã hội mà Đảng ta đã lựa chọn Giáo dục truyền thống cách mạng của dân tộc, của địa phương đặc biệt đối với những người lao động trẻ; tuyên truyền chính sách pháp luật của Nhà nước, giáo dục nâng cao đạo đức nghề nghiệp, kỷ luật lao động, tác phong công nghiệp, xây dựng lối sống văn hóa lành mạnh, sống và làm việc theo pháp luật góp phần xây dựng giai cấp công nhân vững mạnh Với tinh thần thường xuyên cảnh giác và đấu tranh chống lại những âm mưu thù địch

Chức năng của Công đoàn là một chỉnh thể, một hệ thống đồng bộ, đan xen tương tác lẫn nhau Trong đó, chức năng bảo vệ quyền, lợi ích người lao động mang ý nghĩa trung tâm, hết sức được coi trọng Không những vậy,

đó còn được coi là mục tiêu hoạt động của Công đoàn Việt Nam Bên cạnh

đó, chức năng tham gia quản lý của Công đoàn lại mang ý nghĩa phương tiện

và chức năng giáo dục mang ý nghĩa tạo động lực tinh thần để đạt được mục tiêu Từ các chức năng trên sẽ định ra các nhiệm vụ cụ thể của Công đoàn Do vậy, Công đoàn Việt Nam đồng thời quan tâm tới cả ba chức năng, không coi nhẹ chức năng này xem nhẹ chức năng kia

1.2 Khái quát chung về các quyền của công đoàn

1.2.1 Đặc điểm địa vị pháp lý của công đoàn

Địa vị pháp lý của tổ chức Công đoàn Việt Nam được ghi nhận trong điều 1 Luật Công đoàn được xây dựng trên cơ sở quy định tại điều 10 của Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 và xuất phát

từ vai trò, vị trí, tính chất của Công đoàn Việt Nam là tổ chức chính trị - xã hội rộng lớn của giai cấp công nhân - giai cấp lãnh đạo sự nghiệp cách mạng thông qua đội tiên phong là Đảng Cộng sản Việt Nam

Điều 10 Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm

1992 đã xác định:

Công đoàn là tổ chức chính trị - xã hội của giai cấp công nhân và của người lao động, cùng với cơ quan nhà nước, tổ chức

Trang 24

kinh tế, tổ chức xã hội chăm lo và bảo vệ quyền lợi của cán bộ, công nhân viên chức và những người lao động khác; tham gia quản

lý Nhà nước và xã hội, tham gia kiểm tra, giám sát hoạt động của

cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế; giáo dục cán bộ, công nhân viên chức và những người lao động khác xây dựng và bảo vệ Tổ quốc [27] Điều 1 Luật Công đoàn năm 1990 có nêu rõ:

Công đoàn là tổ chức chính trị - xã hội rộng lớn của giai cấp công nhân và của người lao động Việt Nam tự nguyện lập ra đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam, là thành viên trong

hệ thống chính trị của xã hội Việt Nam; đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của công nhân, viên chức và người lao động (gọi chung là người lao động); góp phần xây dựng và bảo vệ

Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa [28]

Điều 5 Nghị định 133-HĐBT ngày 20/4/1991 của Hội đồng bộ trưởng (nay là Chính phủ) hướng dẫn thi hành Luật Công đoàn: "Các cấp công đoàn

có quyền tham gia ý kiến với cơ quan, đơn vị, tổ chức có liên quan về các biện pháp giải quyết việc làm cho người lao động, đào tạo nâng cao trình độ nghề nghiệp của người lao động" [19]

Điều 12 Nghị định 133-HĐBT ngày 20/4/1991 của Hội đồng bộ trưởng (nay là Chính phủ) hướng dẫn thi hành Luật công đoàn:

Các cấp công đoàn có quyền tổ chức kiểm tra, hoặc phối hợp với cơ quan hữu quan để kiểm tra việc chấp hành pháp luật về hợp đồng lao động, tuyển dụng, cho thôi việc, tiền lương, tiền thưởng, bảo hộ lao động, bảo hiểm xã hội và trợ cấp xã hội, thời gian làm việc và nghỉ ngơi, sử dụng quỹ khen thưởng và quỹ phúc lợi tập thể, và các chính sách khác liên quan đến nghĩa vụ, quyền và lợi ích của người lao động [19]

Trang 25

Điều 18 Nghị định 133-HĐBT ngày 20/4/1991 của Hội đồng bộ trưởng (nay là Chính phủ) hướng dẫn thi hành Luật công đoàn:

Cán bộ công đoàn không chuyên trách do Đại hội công đoàn bầu và do Ban chấp hành Công đoàn phân công, được dùng một số thời gian làm việc, sản xuất, kinh doanh của đơn vị kinh tế để hoạt động công đoàn mà vẫn được hưởng nguyên lương Chủ tịch công đoàn của công đoàn cơ sở có trên 150 lao động mỗi tháng được 6 ngày, và Chủ tịch công đoàn của công đoàn cơ sở có từ 80 - 150 lao động mỗi tháng được 3 ngày để hoạt động công đoàn [19]

Điều 155 khoản 4 Bộ luật lao động đã được sửa đổi bổ sung năm

2002, 2006 và 2007 qui định:

Khi người sử dụng lao động quyết định sa thải đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động với người là ủy viên Ban chấp hành công đoàn cơ sở, thì phải có sự thỏa thuận của Ban chấp hành công đoàn cơ sở; nếu là Chủ tịch Ban chấp hành công đoàn cơ sở thì phải

có sự thỏa thuận của tổ chức công đoàn cấp trên trực tiếp [33], [34] Nhìn chung các văn bản pháp lý nêu trên đều thể hiện rõ địa vị pháp lý của Công đoàn Việt Nam đó là: Công đoàn là tổ chức chính trị - xã hội rộng lớn của giai cấp công nhân và của người lao động Việt Nam; Công đoàn là thành viên của hệ thống chính trị, đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam; Công đoàn đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của cán bộ, công chức, viên chức, công nhân, lao động thuộc các thành phần kinh tế, góp phần xây dựng và bảo vệ Tổ quốc

Như vậy, địa vị pháp lý của Công đoàn Việt Nam không chỉ được ghi nhận trong Hiến pháp - văn bản pháp luật cao nhất của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam mà còn tiếp tục được khẳng định trong các văn bản pháp luật khác Tất cả đều ghi nhận những quyền và nghĩa vụ pháp lý của tổ chức Công đoàn Nhận thức đúng, đầy đủ và sâu sắc tinh thần pháp luật ấy sẽ

Trang 26

góp phần làm cho Công đoàn phát huy có hiệu quả quyền, cũng như thực hiện tốt nghĩa vụ, sứ mệnh của mình

1.2.2 Khái niệm, đặc điểm các quyền của Công đoàn

1.2.2.1 Khái niệm các quyền của Công đoàn

Với tư cách là người đại diện cho quyền và lợi ích hợp pháp của người lao động cho nên Công đoàn có địa vị pháp lý đặc biệt khi tham gia vào quan

hệ lao động Công đoàn khi tham gia vào quan hệ hoàn toàn với tư cách là một chủ thể độc lập Xét về bản chất, Công đoàn chỉ là một tổ chức xã hội tự nguyện, song để Công đoàn thực hiện được vai trò sứ mệnh của mình, pháp luật quy định quyền của tổ chức công đoàn, đồng thời đảm bảo thực hiện các quyền này

Quyền công đoàn được hiểu theo hai nghĩa đó là: Quyền của người lao động và quyền của tổ chức Công đoàn

Nếu hiểu theo nghĩa là quyền của người lao động thì nó được hiểu là một trong những quyền cơ bản được pháp luật ghi nhận Mọi công dân, viên chức và những người lao động khác (gọi chung là người lao động), nếu có đủ điều kiện theo quy định của Điều lệ Công đoàn Việt Nam đều có quyền thành lập, gia nhập và hoạt động công đoàn

Nếu hiểu theo nghĩa thứ hai thì quyền công đoàn chính là quyền của tổ chức Công đoàn, với tư cách là tổ chức chính trị - xã hội của giai cấp công nhân và người lao động, được pháp luật ghi nhận Theo nghĩa này, quyền công đoàn chính là những điều kiện và đảm bảo pháp lý để công đoàn thực hiện các chức năng cơ bản của mình

1.2.2.2 Đặc điểm các quyền của Công đoàn

Thứ nhất, quyền công đoàn không phải do công đoàn quyết định mà

do pháp luật quy định Đặc điểm này giúp ta phân biệt quyền công đoàn với một số quyền của các cá nhân, tổ chức khác Mặt khác, giúp ta phân biệt giữa

Trang 27

quyền công đoàn và chức năng công đoàn Bởi vậy, quyền công đoàn là những quyền của tổ chức công đoàn do Nhà nước quy định Quyền công đoàn

là những bảo đảm về mặt pháp lý do Nhà nước tạo ra cho công đoàn, để công đoàn sử dụng nhằm thực hiện chức năng của mình Đó là những điều kiện bảo đảm về pháp lý được công đoàn sử dụng như là một trong những công cụ quan trọng không thể thiếu

Thứ hai, quyền công đoàn không bao gồm các nghĩa vụ hợp thành

Điều này có nghĩa là, thông thường trong các quan hệ pháp lý, chủ thể có quyền thường đi đôi với trách nhiệm gánh vác các nghĩa vụ Quyền của bên này là nghĩa vụ của bên kia và ngược lại Tuy nhiên, với tổ chức công đoàn, Nhà nước chủ yếu quy định các quyền mà không trực tiếp quy định các nghĩa

vụ của công đoàn Như vậy cũng không có nghĩa là trong các quan hệ pháp lý, công đoàn không có nghĩa vụ gì mà cần phải hiểu rằng các nghĩa vụ của công đoàn chủ yếu tồn tại dưới dạng các trách nhiệm của công đoàn

Thứ ba, trong quan hệ lao động, quyền công đoàn góp phần tham gia

điều chỉnh quan hệ lao động Bởi lẽ, trong quan hệ lao động, công đoàn vừa là một bên quan hệ lao động, vừa tham gia vào việc điều chỉnh quan hệ lao động Xuất phát từ đặc điểm của quan hệ lao động, người lao động thường có

vị thế yếu hơn so với người sử dụng lao động Do đó, thông qua công cụ pháp luật, Nhà nước quy định cho công đoàn có những quyền với tư cách như một bên quan hệ lao động, đồng thời với tư cách đại diện cho tập thể lao động tham gia điều chỉnh quan hệ lao động, nhằm bảo đảm cho quan hệ lao động được hài hòa ổn định

1.2.3 Phân loại các quyền của Công đoàn

Có nhiều cách để phân loại quyền công đoàn Nếu căn cứ vào chức năng của công đoàn, quyền công đoàn được chia thành ba loại đó là:

+ Các quyền của công đoàn trong việc đại diện và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người lao động

Trang 28

+ Các quyền của công đoàn trong việc tổ chức, giáo dục, vận động người lao động tham gia quản lý kinh tế - xã hội, quản lý nhà nước, quản lý

cơ quan, doanh nghiệp, đơn vị

+ Các quyền của công đoàn trong việc kiểm tra giám sát hoạt động của các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp

Nếu căn cứ vào tính chất của quyền thì quyền công đoàn bao gồm ba loại như sau:

+ Loại quyền tham gia Với quyền này, công đoàn chỉ được tham gia đóng góp ý, được hỏi ý kiến, song không có quyền quyết định Quyền quyết định thuộc về cơ quan nhà nước có thẩm quyền hay người sử dụng lao động;

+ Loại quyền chung Là quyền của công đoàn bàn bạc, thỏa thuận, nhất trí với cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp khi quyết định về một vấn đề nào

đó Tức là, tổ chức công đoàn và cơ quan nhà nước, người sử dụng lao động

có quyền như nhau

+ Loại quyền độc lập Đây là quyền của công đoàn trong việc độc lập

ra một quyết định Cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp có nghĩa vụ đáp ứng và không có quyền can thiệp vào việc ra quyết định của công đoàn

Nếu căn cứ vào cơ cấu tổ chức của hệ thống công đoàn, ta có:

+ Quyền của Công đoàn trung ương: Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam + Quyền của Công đoàn cấp trên của Công đoàn cơ sở: Các công đoàn tỉnh, ngành, quận, huyện…;

+ Quyền hạn của công đoàn các tập đoàn, tổng công ty nhà nước + Quyền của Công đoàn cơ sở: công đoàn của các đơn vị sản xuất, kinh doanh, dịch vụ

Có thể khẳng định rằng, việc phân loại các quyền của công đoàn là cần thiết và có ý nghĩa cả về lý luận lẫn thực tiễn Nó chẳng những cho thấy

Trang 29

được tính chất các quyền của công đoàn mà còn cho thấy sự tương quan về địa vị pháp lý của tổ chức này với địa vị pháp lý của các cơ quan, tổ chức hữu quan khác, đặc biệt là với người sử dụng lao động

1.3 Qúa trình hình thành và phát triển pháp luật Công đoàn ở Việt Nam

Tiền thân của Công đoàn Việt Nam là từ những tổ chức tương tế buổi đầu đã dần dần xuất hiện các Công hội đỏ bí mật Năm 1919, sau khi tham gia

vụ binh biến Hắc Hải, bị trục xuất về nước, đồng chí Tôn Đức Thắng đã lập ra Công hội đỏ Sài Gòn với nhiều cơ sở ở nhà máy đèn Chợ quán, Xưởng đóng tàu biển Ba Son Trong cuộc bãi công lịch sử ở Ba Son (8- 1925), số hội viên Công hội đỏ ở Sài Gòn lên tới 300 người, ghi một dấu son trong lịch sử phong trào công nhân Việt Nam

Từ năm 1925 đến năm 1928, nhiều Công hội bí mật đã hình thành do

sự hoạt động mạnh mẽ của Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên Đặc biệt từ năm 1928, khi kỳ bộ Bắc kỳ của Việt Nam Cách mạng thanh niên đồng chí Hội chủ trương thực hiện "vô sản hóa" thì phong trào đấu tranh của công nhân Việt Nam ngày càng sôi nổi, thúc đẩy sự phát triển của tổ chức công hội lên một bước mới cả về hình thức lẫn nội dung hoạt động

Từ mùa thu 1928, khi kỳ bộ Bắc kỳ của Việt Nam Thanh niên cách mạng đồng chí Hội phát động phong trào vô sản hóa thì Công hội đỏ càng lớn mạnh, nhất là ở Bắc kỳ - trung tâm của phong trào công nhân nước ta

Sau cuộc bãi công Avia (tháng 6 - 1929) thắng lợi, đồng chí Nguyễn Đức Cảnh, xứ ủy viên đã triệu tập hội nghị Công hội đỏ Bắc Kỳ lần thứ nhất vào ngày 28 /7/1929 Hội nghị quyết định ra báo Lao động, tạp chí Công hội

đỏ để đẩy mạnh công tác công vận

Năm 1929 là thời điểm phong trào công nhân và hoạt động công hội ở nước ta phát triển sôi nổi nhất, đặc biệt là ở miền Bắc Các cuộc đấu tranh của công nhân nổ ra liên tục ở nhiều xí nghiệp, có sự phối hợp chặt chẽ và thống

Trang 30

nhất hành động giữa các cuộc đấu tranh ở xí nghiệp này với xí nghiệp khác trong cùng một địa phương và giữa địa phương này với địa phương khác trong toàn xứ

Sự phát triển mạnh mẽ của phong trào công nhân và tổ chức Công hội đòi hỏi phải có một tổ chức Mác xít, một Đảng thực sự cách mạng của giai cấp công nhân có khả năng tập hợp, lãnh đạo công nhân đấu tranh giành độc lập tự do Tháng 3 năm 1929, chi bộ cộng sản đầu tiên được thành lập ở Hà Nội Tiếp đến, ngày 17/6/1929, Đông Dương cộng sản Đảng ra đời Đông Dương Cộng sản Đảng giao cho đồng chí Nguyễn Đức Cảnh, ủy viên lâm thời phụ trách công tác công vận của Đảng triệu tập đại hội thành lập Tổng Công hội đỏ Bắc kỳ vào ngày 28/7/1929

Sự kiện thành lập Tổng Công hội đỏ miền Bắc Việt Nam là một mốc son chói lọi trong lịch sử phong trào công nhân và công đoàn việt nam Lần đầu tiên giai cấp công nhân Việt Nam có một đoàn thể Cách mạng rộng lớn, hoạt động có tôn chỉ, phản ánh được ý chí, nguyện vọng của đông đảo công nhân lao động Chính vì ý nghĩa đó, theo đề nghị của Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, Bộ Chính trị Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam quyết định lấy ngày 28/7 là ngày truyền thống của công đoàn Việt Nam

Sau cách mạng tháng Tám, công nhân cứu quốc lại đi đầu trong cuộc bảo vệ chính quyền mới: 40 cán bộ công đoàn và công nhân Sài Gòn đã hi sinh trong cuộc tổng tuyển cử Quốc hội 1 - 1946 Để thực sự thống nhất về tổ chức công đoàn, hội nghị cán bộ công nhân cứu quốc họp ngày 20/5/1946 quyết định đổi Hội Công nhân cứu quốc thành Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam Ngày 20/7/1946, tại Thủ đô Hà Nội, Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam chính thức tuyên bố thành lập, đánh dấu bước ngoặt của phong trào công đoàn Việt Nam với một tổ chức thống nhất và ổn định thực sự trong cả nước

Tháng 1 năm 1949, Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam lần thứ nhất họp ở Thái Nguyên đã bầu ra Ban chấp hành trung ương do đồng chí Tôn Đức

Trang 31

Thắng làm chủ tịch danh dự và đồng chí Hoàng Quốc Việt làm chủ tịch Tháng 3/1949, Hội Công nhân cứu quốc đã thống nhất toàn quốc với lực lượng trên 20 vạn đoàn viên Trong sự nghiệp cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc và sự nghiệp giải phóng miền Nam (1954 - 1975) công đoàn Việt Nam lớn mạnh vượt bậc

Vào ngày 14/9/1957, Quốc hội đã nhất trí thông qua Luật Công đoàn, qui định vai trò, trách nhiệm, quyền hạn của Công đoàn Việt Nam Sau đại hội Đảng toàn quốc lần thứ 3 (9-1960), Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam đổi tên là Tổng Công đoàn Việt Nam cho phù hợp với tình hình mới

Tổng công đoàn Việt Nam thu hút tuyệt đại đa số công nhân viên chức, thực sự là người giáo dục và tổ chức đoàn viên trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc Ở miền Nam, Liên hiệp công đoàn giải phóng miền Nam Việt Nam đã phát huy truyền thống Hội công nhân cứu quốc, đưa công nhân và lao động ở các đô thị lên đường đấu tranh góp phần giải phóng miền Nam

Lịch sử phong trào công đoàn Việt Nam gắn chặt với lịch sử giai cấp công nhân và lịch sử Đảng ta Đảng ta thực sự là người ngay từ đầu và duy nhất nắm quyền lãnh đạo cách mạng Việt Nam và đưa phong trào công nhân lên đúng vị trí lịch sử của nó kể từ mùa xuân 1930 Tất cả các tổ chức công đoàn ở Việt Nam đều do Đảng ta tổ chức và lãnh đạo kể từ thời kỳ vận động thành lập Đảng (1925 - 1930) cũng như sau này Đó là một nhân tố không thể thiếu được khiến phong trào công nhân nước ta phát triển mạnh mẽ, vững chắc và mau lẹ

Cùng với đó, tương ứng với lịch sử phát triển công đoàn Việt Nam là lịch sử phát triển pháp luật của tổ chức này, trước Cách mạng tháng Tám, dưới ách đô hộ của chính quyền thực dân Pháp, giai cấp công nhân cũng như toàn thể nhân dân không có bất cứ quyền tự do, dân chủ nào, chính quyền thực dân cấm người lao động lập hội Do vậy, quyền công đoàn của công

Trang 32

nhân và người lao động vì thế cũng không được thừa nhận và đương nhiên pháp luật về Công đoàn cũng không tồn tại.

Đến những năm 1936 - 1937, Mặt trận bình dân lên cầm quyền lúc này chính quyền Pháp ở Việt Nam bắt đầu tỏ vẻ nhân nhượng đôi chút với giai cấp công nhân và người lao động bằng cách ban hành một bản tổng quy lao động vào ngày 27 tháng 1 năm 1937, trong đó có một vài quy định về công đoàn Nhưng sau đó Mặt trận bình dân Pháp bị sụp đổ, những quy định của bản tổng quy lao động hầu như không được áp dụng

Vào năm 1945, sau khi chính quyền Pháp tại Đông Dương bị phát xít Nhật đảo chính, Chính phủ bù nhìn Nam triều Trần Trọng Kim ban hành Dụ

số 73 ngày 5/7/1945 quy định thể lệ cho công nhân thành lập nghiệp đoàn Tuy nhiên chỉ 1 tháng sau, Nhật đầu hàng quân đồng minh, chính phủ thân Nhật bị lật đổ, Cách mạng tháng Tám thành công, nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời Lúc này phong trào công nhân và công đoàn bắt đầu bước sang một giai đoạn mới

Ngay từ Hiến pháp đầu tiên của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Hiến pháp năm 1946 thì quyền thành lập và tổ chức công đoàn của giới lao động nằm trong quyền "tự do tổ chức và lập hội" đã được ghi nhận ở điều 10 Đây là cơ sở pháp lý đầu tiên cho hoạt động Công đoàn Việt Nam

Ngay sau đó vào ngày 12 tháng 3 năm 1947 Hồ Chủ tịch ban hành Sắc lệnh số 29/ SL có một chương gồm 22 điều quy định về "việc lập đoàn thể công nhân" Những quy định chứng tỏ, ngay từ khi Nhà nước dân chủ nhân dân được thành lập, nhà nước non trẻ của chúng ta đã thấy được vai trò của Công đoàn trong đời sống xã hội Vì vậy, bằng pháp luật, Nhà nước qui định cho Công đoàn có quyền bảo vệ quyền lợi của người lao động

Nhưng do điều kiện lịch sử lúc bấy giờ mà việc thực hiện Sắc lệnh 29/

SL còn nhiều hạn chế Tiếp sau đó Chính phủ ban hành Sắc lệnh số 118/ SL ngày 18 tháng 10 năm 1949, với Sắc lệnh này công nhân các xí nghiệp quốc

Trang 33

gia có quyền cử Uỷ ban xí nghiệp để quản lý xí nghiệp của quốc gia bên cạnh

tổ chức Công đoàn xí nghiệp Tháng 5 năm 1950 Chính phủ ban hành Sắc lệnh số 76/ SL, và Sắc lệnh 77/ SL quy định quyền làm việc, tiền lương, tiền công cho công chức và công nhân giúp việc Chính phủ Trong đó xác định, công chức Việt Nam có quyền gia nhập công đoàn và quy định quyền đại diện công đoàn trong xí nghiệp, cơ quan nhà nước; tham gia các Hội đồng trong đơn vị để bảo vệ quyền lợi cho người lao động

Sau khi miền Bắc được giải phóng, để thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược của cách mạng Việt Nam là xây dựng miền Bắc xã hội chủ nghĩa và giải phóng miền Nam, ngày 14/ 9/ 1957 Quốc hội khóa I đã thông qua Luật công đoàn đầu tiên ở nước ta Sau khi có Luật công đoàn, Thủ tướng Chính phủ ban hành Nghị định số 188/ TTG ngày 9 /4/ 1958 qui định chi tiết thi hành Luật công đoàn

Luật công đoàn năm 1957 quy định nhiệm vụ, quyền hạn của Công đoàn trong các cơ quan, xí nghiệp nhà nước, trong xí nghiệp tư doanh; quy định quyền Công đoàn thay mặt cho công nhân viên chức tham gia các hội nghị của cơ quan nhà nước, của ban lãnh đạo xí nghiệp khi bàn về thực hiện

kế hoạch nhà nước; bảo vệ các chính sách, chế độ có liên quan đến quyền lợi của công nhân, viên chức trước tòa án

Hiến pháp năm 1980 đã dành một điều (điều 10) để ghi nhận vị trí, vai trò của Công đoàn Song do nằm trong khuôn khổ của cơ chế quản lý kinh tế -

xã hội của thời kỳ bao cấp nên địa vị pháp lý của Công đoàn còn chung chung, mang tính hình thức, chưa có các quy định về quyền hạn, trách nhiệm của công đoàn cũng như quan hệ phối hợp giữa Công đoàn với các cơ quan nhà nước và các đơn vị tổ chức khác Với cái nhìn toàn diện hơn, đầy đủ hơn

về vị trí, vai trò của tổ chức Công đoàn trong nền kinh tế thị trường, một đạo luật mới về Công đoàn được ban hành vào ngày 7/ 7/ 1990 thay thế Luật công đoàn năm 1957 Luật công đoàn lần này quy định cụ thể chức năng, quyền

Trang 34

hạn và trách nhiệm của Công đoàn cũng như các biện pháp bảo đảm hoạt động Công đoàn

Đến Hiến pháp năm 1992, quy định tại Điều 10 một lần nữa khẳng định vai trò, vị trí của Công đoàn trong thời kì đổi mới, trong đó việc "chăm

lo và bảo vệ quyền lợi của cán bộ, công chức, viên chức và những người lao động khác" được đặt lên hàng đầu

Bộ luật lao động được ban hành đã tiếp tục khẳng định vị trí pháp lý của Công đoàn trong nền kinh tế thị trường, tạo thêm những điều kiện mới để Công đoàn phát triển mạnh mẽ về tổ chức, nâng cao chất lượng hoạt động trong thời kỳ đổi mới Tổ chức Công đoàn sẽ là chỗ dựa vững chắc của cơ quan nhà nước và đáp ứng đòi hỏi của người lao động Đây cũng chính là nét độc đáo của lịch sử phong trào công nhân và công đoàn ở nước ta Trước kia cũng như hiện nay, Công đoàn Việt Nam luôn xứng đáng với vai trò và nhiệm

vụ của mình đối với giai cấp công nhân và viên chức Việt Nam; xứng đáng với truyền thống của dân tộc Việt Nam anh hùng

Trang 35

Chương 2

CÁC QUYỀN CỦA CÔNG ĐOÀN VÀ THỰC TIỄN THỰC HIỆN

Luật Công đoàn năm 1990 với 4 Chương 19 điều là cơ sở pháp lý để phát huy vai trò của công đoàn trong sự nghiệp đổi mới, phát triển nền kinh

tế hàng hóa nhiều thành phần theo cơ chế thị trường, bảo đảm quyền dân chủ

và lợi ích của người lao động trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Luật Công đoàn đã xác định rõ quyền của công đoàn trên tất cả các lĩnh vực của quan hệ lao động, đáp ứng yêu cầu của việc điều chỉnh quan hệ công đoàn hiện nay Đó là: Quyền thành lập, gia nhập và hoạt động công đoàn; Quyền tham gia với cơ quan nhà nước và đại diện của người sử dụng lao động về các vấn đề quan hệ lao động; Quyền đại diện của công đoàn; Quyền tham gia kiểm tra, giám sát việc thi hành các quy định của pháp luật lao động; và Một số quyền của công đoàn trong việc bảo vệ người lao động Điều này đã góp phần bảo vệ người lao động, phát triển quan hệ lao động hài hòa, ổn định

2.1 Quyền thành lập, gia nhập và hoạt động công đoàn

Quyền tự do thành lập, gia nhập công đoàn theo quy định của pháp luật là quyền cơ bản của người lao động thuộc mọi thành phần kinh tế Không những vậy đó còn là một trong những quyền cơ bản nhất trong các "quyền công đoàn", là nhiệm vụ trọng tâm của công đoàn Việt Nam Đây là một trong những yếu tố thể hiện nền dân chủ và sự phát triển của một quốc gia Hay nói theo cách khác, nền dân chủ và sự phát triển bền vững về kinh tế của một quốc gia sẽ không tồn tại nếu một bộ phận dân cư bị tước đi quyền được tự thành lập các tổ chức để bảo vệ quyền và lợi ích của mình Do đó, tôn trọng nguyên tắc tự do công đoàn là việc làm hàng đầu để các mối quan hệ trong hoạt động nghề nghiệp được vận hành tốt và để cho nền dân chủ của một quốc gia được phát huy tích cực

Trang 36

Trong luật lao động quốc tế, tôn trọng quyền tự do công đoàn được xem như là một nguyên tắc cơ bản trong lao động Quyền này bao gồm quyền của mọi người lao động được tự do thành lập, tham gia hoặc không tham gia vào các công đoàn khác nhau Do đó, theo các công ước quốc tế của Liên hợp quốc và Tổ chức lao động quốc tế, tất cả người lao động đều có quyền tự do thành lập, tham gia vào các công đoàn, nếu việc thành lập, tham gia đó không trái với trật tự công cộng hoặc xâm phạm an ninh, lợi ích của quốc gia sở tại

Tại Việt Nam do nhiều nguyên nhân nên việc phê chuẩn những công ước quốc tế liên quan đến công đoàn, đặc biệt là công ước của Tổ chức lao động quốc tế chưa được thực hiện Do đó, người lao động tại Việt Nam, bao gồm cả lao động Việt Nam và lao động là người nước ngoài, chưa có cơ hội thực hiện quyền tham gia thành lập và gia nhập vào các công đoàn một cách đầy đủ như những quyền được ghi nhận trong các công ước quốc tế của hai tổ chức quốc tế nói trên

Ở cấp độ quốc tế, quyền tự do công đoàn được bảo vệ chủ yếu bởi các điều ước quốc tế đa phương của Liên hợp quốc và Tổ chức lao động quốc tế

Trong khuôn khổ của Liên hợp quốc, quyền tự do công đoàn được thể hiện và bảo đảm bởi các văn kiện quan trọng về quyền con người nói chung

và quyền của người lao động nói riêng Trước tiên không thể không kể tới Tuyên ngôn toàn thế giới về nhân quyền năm 1948 Dù không có giá trị pháp

lý bắt buộc nhưng văn kiện này có thể được xem như là một học thuyết pháp

lý làm cơ sở cho việc xây dựng các văn bản pháp lý quốc tế về những quyền

cơ bản của con người, trong đó có quyền tự do công đoàn

Trong nhóm các quyền liên quan đến lao động được ghi nhận tại Điều 23 của Tuyên ngôn nói trên, quyền tự do công đoàn được xem như là một quyền không thể tách rời và không thể chối cãi của người lao động Khoản 4 Điều 23 quy định: "Tất cả mọi người đều có quyền cùng với người khác, thành lập các công đoàn hay gia nhập vào các công đoàn để bảo vệ lợi ích của mình" [41] Để đảm bảo giá trị pháp lý quốc tế của quyền tự do công

Trang 37

đoàn, Liên hợp quốc đã có hàng loạt các công ước, trong đó có những điều khoản buộc các quốc gia thành viên, khi phê chuẩn công ước, phải tôn trọng

và tạo điều kiện cho tất cả người lao động tham gia, thành lập công đoàn để bảo vệ lợi ích của họ trong quan hệ lao động với giới chủ Điều 22 khoản 1 của Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị năm 1966 quy định:

"Mọi người đều có quyền tự do lập hội với những người khác, kể cả quyền lập và gia nhập các công đoàn để bảo vệ lợi ích của mình" Cùng thời điểm này, Điều 8 khoản 1 Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa năm 1962 cũng thừa nhận quyền tự do công đoàn của tất cả mọi người Theo đó, "các quốc gia thành viên của Công ước cam kết đảm bảo quyền của mọi người được thành lập và gia nhập công đoàn mà mình lựa chọn, để thúc đẩy và bảo vệ các lợi ích kinh tế và xã hội của mình, với điều kiện là chỉ phải tuân theo quy chế của tổ chức công đoàn đó" [41] Như vậy, cả hai công ước nêu trên đều cho phép việc thực hiện quyền tự do công đoàn một cách không hạn chế, ngoại trừ những trường hợp pháp luật của quốc gia thành viên quy định hạn chế đối với những đối tượng nhất định, nhằm mục đích đảm bảo cho một xã hội dân chủ, vì lợi ích, an ninh quốc gia và trật tự công cộng hoặc vì mục tiêu bảo vệ các quyền và tự do của những người khác

Ngoài hai văn kiện quốc tế có giá trị pháp lý nêu trên, năm 1990, Liên hợp quốc cũng cho ra đời thêm một công ước trong lĩnh vực lao động nhằm bảo vệ quyền lợi cho người lao động di trú Trong công ước này, quyền công đoàn của người lao động di trú lao động trên lãnh thổ của quốc gia thành viên cũng được đảm bảo giống như người lao động trong nước Với quy định tại Điều 7 về "bảo vệ không phân biệt đối xử" giữa những người lao động có quốc tịch khác nhau, Công ước năm 1990 của Liên hợp quốc về bảo vệ người lao động di trú và thành viên gia đình của họ đã buộc các quốc gia thành viên phải đảm bảo quyền tự do công đoàn của người lao động nước ngoài như quyền của người lao động trong nước Nói cách khác, công ước này cũng đã gián tiếp thừa nhận quyền tự do công đoàn của tất cả mọi người lao động trên lãnh thổ của quốc gia thành viên Điều 26 Công ước nêu trên quy định:

Trang 38

"Các quốc gia thành viên thừa nhận quyền của người lao động di trú tham gia vào những cuộc họp và các hoạt động của các công đoàn và các đoàn thể hợp pháp khác, nhằm để bảo vệ quyền và lợi ích kinh tế, văn hóa, xã hội và các quyền khác, theo quy định của các tổ chức nói trên" [41] Quyền này được cụ thể rõ ràng tại Điều 40 của cùng Công ước: "Người lao động di trú có quyền, cùng với những người khác, thành lập các hội và các công đoàn tại đất nước

họ đang lao động nhằm thực hiện và bảo vệ các lợi ích kinh tế, văn hóa, xã hội và các lợi ích khác của họ" [41]

Như vậy, theo quy định của các văn kiện quốc tế của Liên hợp quốc,

vì mục đích đảm bảo cho lợi ích kinh tế, văn hóa, xã hội của mình, tất cả người lao động kể cả người lao động nước ngoài đều có quyền thành lập và tham gia các công đoàn theo sự lựa chọn của mình

Ngoài Liên hợp quốc, quyền tự do công đoàn của người lao động cũng luôn là tâm điểm được bảo vệ bởi Tổ chức lao động quốc tế Điều 2 Công ước

số 87 về quyền tự do công đoàn và bảo vệ quyền công đoàn của Tổ chức lao động quốc tế năm 1948 quy định: "Tất cả người lao động và người sử dụng lao động đều có quyền thành lập và gia nhập các tổ chức theo sự lựa chọn của

họ với điều kiện tuân thủ Điều lệ của các tổ chức đó" [41] Như vậy, quyền tự

do công đoàn của người lao động, theo Tổ chức lao động quốc tế, cũng bao gồm quyền được thành lập và gia nhập công đoàn theo sự lựa chọn của họ Có nghĩa là, những người lao động có thể thành lập nhiều công đoàn khác nhau trong một cơ sở lao động Trên cơ sở đó, những người lao động khác có quyền tự do lựa chọn tham gia vào công đoàn này, hay công đoàn khác để bảo

vệ lợi ích của mình một cách tốt nhất

Ngoài các công ước có giá trị pháp lý bắt buộc đối với các quốc gia thành viên phê chuẩn, Tổ chức lao động quốc tế còn có những văn kiện mang tính tuyên bố, khuyến nghị tất cả các quốc gia thành viên của Tổ chức lao động quốc tế bảo vệ quyền tự do công đoàn không hạn chế của người lao

Trang 39

động như Tuyên bố năm 1998 về các nguyên tắc và quyền cơ bản trong lao động xác định nghĩa vụ các nước thành viên của Tổ chức lao động quốc tế, kể

cả các nước không phê chuẩn những công ước về quyền tự do công đoàn liên quan phải tôn trọng quyền tự do công đoàn của những người lao động Như vậy, dù không tham gia phê chuẩn những công ước của Tổ chức quốc tế về quyền tự do công đoàn, nhưng ít nhất, các quốc gia thành viên của Tổ chức này phải đảm bảo cho tất cả mọi người lao động phải có quyền tham gia, thành lập các công đoàn

Điều 1 Luật Công đoàn Việt Nam quy định:

Những người lao động Việt Nam làm việc trong các đơn vị sản xuất kinh doanh thuộc các thành phần kinh tế, xí nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, đơn vị sự nghiệp, cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội đều có quyền thành lập và gia nhập công đoàn trong khuôn khổ Điều lệ Công đoàn Việt Nam [28]

Việt Nam cho đến nay vẫn chưa phải là thành viên của bất kỳ Công ước nào của Tổ chức lao động quốc tế về quyền tự do công đoàn nêu trên Do

đó, về mặt pháp lý, chúng ta không buộc phải tuân theo quy định của các Công ước này Tuy nhiên, trong khuôn khổ Liên hợp quốc, Việt Nam đã tham gia hai Công ước năm 1966 về các quyền dân sự, chính trị và các quyền về văn hóa, xã hội, trong đó có quyền tham gia, thành lập các công đoàn của tất

cả mọi người Tuy vậy, so với quyền tự do công đoàn trong hai Công ước năm 1966 nêu trên, Luật Công đoàn Việt Nam vẫn chưa đảm bảo hết quyền tham gia, thành lập và gia nhập công đoàn của người lao động bởi một số hạn chế có tính đặc thù

2.2 Quyền tham gia của công đoàn với cơ quan nhà nước và đại diện của người sử dụng lao động về các vấn đề quan hệ lao động

Đây chính là quyền hạn của hệ thống công đoàn các cấp Theo đó, Công đoàn thay mặt cho người lao động tham gia xây dựng và hoàn thiện cơ

Trang 40

chế, chính sách, pháp luật Công đoàn phối hợp với các cơ quan nhà nước xây dựng hệ thống chính sách, pháp luật của Việt Nam đồng bộ Đồng thời, công đoàn cũng tích cực tham gia thúc đẩy việc hoàn thiện "cơ chế ba bên" trong quan hệ lao động Cơ chế ba bên là một trong những hình thức biểu hiện mối quan hệ giữa Nhà nước - giới chủ - người lao động (đại diện là công đoàn) nhằm thay đổi cách thức quan hệ lao động, làm hài hòa quan hệ chủ - thợ tương thích với cơ chế quản lý nhà nước

Trong cơ chế này, Chính phủ có trách nhiệm đặt ra luật pháp, quy chế Công đoàn là tổ chức chính trị - xã hội đại diện cho người lao động, có kiến nghị, tham gia quá trình lập pháp và đặt ra giải pháp tạo căn cứ pháp luật ổn định cho công đoàn trong quá trình bảo vệ quyền và lợi ích của người lao động

Để giải quyết đúng đắn mối quan hệ ba bên, công đoàn cùng Nhà nước và cơ quan hữu quan tiến hành thương lượng thông qua phương thức hội nghị liên tịch để tham gia với nhà nước, từng bước xây dựng cơ chế ba bên ở tầm cao Hiện nay cơ chế ba bên trong lĩnh vực quan hệ lao động đang hình thành ngày một rõ nét Công đoàn chủ động trong việc xây dựng cơ chế

ba bên để giải quyết đúng quan hệ lao động giữa người sử dụng lao động và người lao động theo pháp luật của Nhà nước Theo đó, việc thực hiện quyền tham gia của tổ chức công đoàn phụ thuộc vào sự phân cấp của tổ chức này

- Quyền tham gia với cơ quan nhà nước xây dựng pháp luật, chính sách, chế độ liên quan đến quyền, lợi ích của người lao động;

Ngày đăng: 17/03/2021, 10:48

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm