Trong thực tế, không phải vụ án nào Cơ quan điều tra khởi tố, điều tra thì Viện kiểm sát đều ra quyết định truy tố và Tòa án đều đưa ra xét xử được, mà có nhiều vụ án cần phải điều tra b
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
TRẦN ANH ĐỨC
CHẾ ĐỊNH TRẢ HỒ SƠ ĐỂ ĐIỀU TRA BỔ SUNG THEO LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM
(TRÊN CƠ SỞ THỰC TIỄN ĐỊA BÀN TỈNH PHÚ THỌ)
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Cán bộ hướng dẫn khoa học: PGS.TS NGUYỄN NGỌC CHÍ
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực
Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể bảo vệ Luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
NGƯỜI CAM ĐOAN
Trần Anh Đức
Trang 4MỤC LỤC
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
Các từ viết tắt
Danh mục bảng biểu
MỞ ĐẦU 1
Chương 1:MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TRẢ HỒ SƠ ĐỂ ĐIỀU TRA BỔ SUNG 7
1.1 Khái niệm và đặc điểm của trả hồ sơ để điều tra bổ sung 7
1.1.1 Khái niệm 7
1.1.2 Đặc điểm 17
1.2 Trả hồ sơ điều tra bổ sung trong tố tụng hình sự một số quốc gia trên thế giới 23
1.2.1 Quy định về trả hồ sơ để điều tra bổ sung của Cộng hoà Liên bang Đức 24
1.2.2 Quy định về trả hồ sơ để điều tra bổ sung của Liên bang Nga 27
1.2.3 Quy định về trả hồ sơ để điều tra bổ sung của Cộng hoà nhân dân Trung Hoa 30
Chương 2:CHẾ ĐỊNH TRẢ HỒ SƠ ĐỂ ĐIỀU TRA BỔ SUNG VÀ THỰC TRẠNG TRẢ HỒ SƠ ĐỂ ĐIỀU TRA BỔ SUNG TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH PHÚ THỌ 33
2.1 Quy định của pháp luật tố tụng hình sự về trả hồ sơ để điều tra bổ sung 33 2.1.1 Quy định về trả hồ sơ để điều tra bổ sung trước khi ban hành Bộ luật tố tụng hình sự 2003 và Bộ luật tố tụng hình sự 2015 33
2.1.2 Quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 về trả hồ sơ để điều tra bổ sung 40
2.1.3 Những điểm mới của Bộ luật tố tụng hình sự 2015 về trả hồ sơ để điều tra bổ sung 57
2.2 Thực trạng áp dụng quy định về trả hồ sơ điều tra bổ sung trong giải quyết vụ án hình sự trên địa bàn tỉnh Phú Thọ 60
Trang 52.2.1 Tình hình chung về kinh tế xã hội tỉnh Phú Thọ 60
2.2.2 Kết quả xử lý các vụ án hình sự trên địa bàn tỉnh Phú Thọ 62
2.2.3 Thực trạng trả hồ sơ để điều tra bổ sung giữa các cơ quan tiến hành tố tụng trên địa bàn tỉnh Phú Thọ 63
2.3 Những kết quả đạt được và hạn chế trong hoạt động trả hồ sơ điều tra bổ sung tại tỉnh Phú Thọ 65
2.3.1 Những kết quả đạt được 65
2.3.2 Những bất cập, hạn chế 65
2.3.3 Các nguyên nhân của những hạn chế 66
Chương 3:MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM HẠN CHẾ VIỆC TRẢ HỒ SƠ ĐỂ ĐIỀU TRA BỔ SUNG 70
3.1 Các yêu cầu nâng cao hiệu quả chế định trả hồ sơ để điều tra bổ sung 70
3.2 Tiếp tục hoàn thiện các quy định của pháp luật tố tụng hình sự về trả hồ sơ điều tra bổ sung 72
3.3 Các giải pháp khác 77
3.3.1 Nâng cao trách nhiệm của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng 77
3.3.2 Hoàn thiện cơ chế phối hợp và chế ước giữa các cơ quan tiến hành tố tụng 80
3.3.3 Phân định rõ trách nhiệm của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng trong việc trả hồ sơ để điều tra bổ sung 80
3.4 Tăng cường công tác tập huấn và rút kinh nghiệm nghiệp vụ tại các cơ quan điều tra, truy tố trên đại bàn tỉnh Phú Thọ……… ………82
3.4 Tăng cường kinh phí, cơ sở vật chất phục vụ công tác điều tra, truy tố trên đại bàn tỉnh Phú Thọ……….…………85
KẾT LUẬN 87
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO …….…90
Trang 6DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
VKSNDTC Viện kiểm sát nhân dân tối cao
Trang 7DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1 Số liệu thụ lý vụ án hình sự trên địa bàn tỉnh Phú Thọ
Bảng 2.2 Kết quả điều tra, truy tố, xét xử các vụ án hình sự trên
đại bàn tỉnh Phú Thọ từ năm 2012 – năm 2016 63
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong tố tụng hình sự, điều tra là một giai đoạn tố tụng quan trọng đầu tiên trong quá trình giải quyết vụ án hình sự, giai đọan này cơ quan điều tra tiến hành các hoạt động tố tụng để thu thập chứng cứ phục vụ cho việc chứng minh, làm sáng rõ vụ án hình sự Vì vậy, mọi hành vi và quyết định của C ơ quan điều tra và Điều tra viên trong giai đoạn này rất quan trọng Việc điều tra thu thập chứng cứ không đầy đủ hoặc vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng trong quá trình điều tra sẽ ảnh hưởng đến các giai đoạn tố tụng tiếp theo
Viện kiểm sát thực hiện chức năng kiểm sát tuân theo pháp luật trong hoạt động tố tụng của Cơ quan điều tra và ra các quyết định phù hợp với kết quả kiểm sát việc khởi tố, kết luận điều tra của Cơ quan điều tra; truy tố người phạm tội ra trước Tòa án và thực hiện quyền công tố tại phiên tòa
Xét xử là giai đoạn quan trọng nhất trong quá trình giải quyết vụ án hình
sự Vì Tòa án sẽ quyết định người bị truy tố phạm tội và phải chịu hình phạt theo quy định của pháp luật hoặc tuyên bố người bị truy tố không phạm tội
Trong thực tế, không phải vụ án nào Cơ quan điều tra khởi tố, điều tra thì Viện kiểm sát đều ra quyết định truy tố và Tòa án đều đưa ra xét xử được,
mà có nhiều vụ án cần phải điều tra bổ sung theo các căn cứ của Bộ luật Tố tụng hình sự quy định như:
Theo tinh thần của Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02/01/2002 và Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về chiến lược cải cách
tư pháp đến năm 2020 thì Tòa án là trung tâm, công tác xét xử là trọng tâm và phán quyết của Tòa án phải căn cứ chủ yếu vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa Do đó, để ra đươc ̣ bản án, quyết định đúng pháp luật, có sức thuyết phục, trong quá trình chuẩn bị xét xử cần có sự phối kết hợp chặt chẽ giữa các cơ
Trang 9quan tiến hành tố tụng Trước khi xét xử và tại phiên tòa, Tòa án có quyền trả
hồ sơ để điều tra bổ sung [2,tr.3]
Chế định trả hồ sơ để điều tra bổ sung được quy định tại Điều 240 và Điều 280 Bộ luật Tố tụng hình sự, nhưng trong thực tiễn xét xử trên toàn quốc nói chung, địa bàn tỉnh Phú Thọ nói riêng vẫn còn nhiều vướng mắc, bất cập cần được giải thích hướng dẫn thi hành hoặc sửa đổi bổ sung quy đinḥ
này.Chính vì vậy, chúng tôi quyết định chọn đề tài "Chế định trả hồ sơ để điều tra bổ sung theo luật tố tụng hình sư ̣Việt Nam (trên cơ sở thực tiễn địa bàn tỉnh Phú Thọ)" cho luận văn thạc sĩcủa mình
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Chế định trả hồ sơ để điều tra bổ sung nói chung và chế định trả hồ sơ
để điều tra bổ sung của Tòa án nói riêng luôn thể hiện rõ nét mối quan hệ giữa các cơ quan tiến hành tố tụng Chế định này được nghiên cứu trong một số tác phẩm của một số nhà khoa học, nghiên cứu dưới dạng các bài viết, bài báo, chuyên đề…Một số công trình nghiên cứu về vấn đề trả hồ sơ để điều tra bổ sung ở Việt Nam cho đến nay gồm có:
Tài liệu tham khảo là sách giáo trình, sách chuyên khảo gồm có:
Nguyễn Ngọc Chí (2015), Giáo trình Luật tố tụng hình sự, NXB Đại học Quốc gia, Hà Nội; GS TSKH Lê Cảm & TS.Nguyễn Ngọc Chí (Đồng chủ biên)Cải
cách tư pháp ở Việt Nam trong giai đoạn xây dựng nhà nước pháp quyền; Lê
Cảm (1999), “ Những cơ sở khoa học - thực tiễn của việc hoàn thiện pháp luật hình sự nước ta trong giai đoạn hiện nay”, Khoa học (KHXH), tr21; PGS.TS
Võ Khánh VinhBình luận khoa học Bộ luật tố tụng hình sự; Trường Đại học
Luật Hà Nội (2007), Giáo trình Luật hình sự, NXB Công an nhân dân; Lê kim
Quế (1989) Những điều cần biết về điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án,
NXB pháp lý, Hà Nội, tr 20
Trang 10Tài liệu tham khảo là bài viết đăng trên tạp chí chuyên ngành:Một
số vấn đề về hoạt động tư pháp và kiểm sát hoạt động tư pháp ở nước ta hiện nay; Vụ 1A Viện kiểm sát nhân dân tối cao 2008, Chuyên đề trả hồ sơ để điều tra bổ sung; Tác giả Nguyễn Ngọc Kiện, Một số vấn đề về việc Tòa án trả lại
hồ sơ để điều tra bổ sung, Tạp chí Tòa án nhân dân số 4/2008;Tạp chí kiểm
sát số 6/2008, Chuyên đề về việc trả hồ sơ để điều tra bổ sung giữa các cơ
quan tiến hành tố tụng hình sự; Tác giả Nguyễn Hải Ninh, Sửa đổi, bổ sung quy định của pháp luật về điều tra bổ sung, Tạp chí Luật học, số 7/2008; Tác
giả Nguyễn Hữu Hậu, Thẩm quyền của Viện kiểm sát và của Kiểm sát viên
trong việc đề ra các yêu cầu điều tra và điều tra bổ sung, Tạp chí kiểm sát số
16/2009; Tác giả Lê Ngọc Huấn, Một số giải pháp nhằm hạn chế việc trả hồ
sơ để điều tra bổ sung giữa các cơ quan tiến hành tố tụng, Tạp chí kiểm sát
số 10/2009; Tác giả Nguyễn Đình Huề, Một số vấn đề về trả hồ sơ vụ án hình
sự để điều tra bổ sung, Tạp chí Tòa án số 4/2009; Tác giả Trần Vi Dân, Một
số giải pháp khắc phục việc trả hồ sơ điều tra bổ sung, điều tra lại, Tạp chí
kiểm sát số 2/2010; Tác giả Nguyễn Ngọc Kiện, Hoàn thiện chế định Tòa án
trả hồ sơ điều tra bổ sung trong Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003, Tạp chí
Dân chủ và pháp luật số 7/2012; Tác giả Nguyễn Thị Phương Thảo, “Một số
vấn đề về hoạt động điều tra bổ sung của Viện kiểm sát ở giai đoạn xét xử phúc thẩm, Tạp chí kiểm sát số 6/2012;Tác giả Vũ Gia Lâm, Hoàn thiện quy định của Bộ luật tố tụng hình sự về việc Tòa án cấp sơ thẩm trả hồ sơ để điều tra bổ sung”, Tạp chí Tòa án số 8/2013; Tác giả Nguyễn Quang Lộc, Bàn về chế định trả hồ sơ để điều tra bổ sung, Tạp chí Tòa án số 8/2013; Tác giả
Thái Chí Bình, “Hoàn thiện các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm
2013 về yêu cầu điều tra bổ sung”, Tạp chí Nhà nước và pháp luật số
11/2013; Tác giả Lê Ngọc Duy, Một số giải pháp nhằm hạn chế việc trả hồ sơ
điều tra bổ sung đối với Viện kiểm sát nhân dân quận Cầu Giấy, thành phố
Hà Nội, Tạp chí kiểm sát số 6/2013; Tác giả Lê Tấn Cường, Giải pháp để hạn
Trang 11chế việc trả hồ sơ điều tra bổ sung trong giai đoạn truy tố, Tạp chí kiểm sát
số 10/2014; Tác giả Đào Anh Tới, Hoàn thiện chế định trả hồ sơ điều tra bổ
sung, Tạp chí kiểm sát số 13/2014…
Trong các công trình trên, ở mức độ này hay mức độ khác vấn đề trả hồ
sơ để điều tra bổ sung đã được đề cập đến, nhất là các căn cứ trả hồ sơ để điều tra bổ sung, thủ tục trả hồ sơ để điều tra bổ sung, thậm chí có người đặt vấn
đề xem xét tính hợp lý, cần thiết của chế định này trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền
Tuy nhiên, việc nghiên cứu chế định này trên một địa bàn cụ thể là tỉnh Phú Thọ cho đến nay chưa có một công trình nào nghiên cứu một cách đầy
đủ, toàn diện và hệ thống về chế định trả hồ sơ để điều tra bổ sung; nhiều nội dung liên quan chưa có được cách nhìn và giải quyết thống nhất; các công trình chưa giải đáp triệt để được những vướng mắc trong thực tế
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Mục đích của luận văn là trên cơ sở phân tích các quy định của Bộ luật
Tố tụng hình sự về trả hồ sơ để điều tra bổ sung, đánh giá thực tiễn áp dụng các quy định đó, tìm ra những bất cập, hạn chế để đề xuất những kiến nghị cũng như đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của chế định này trong hoạt động tố tụng hình sự
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Từ mục đích nghiên cứu nêu trên, chúng tôi đặt cho mình các nhiệm vụ nghiên cứu chủ yếu sau:
- Nghiên cứu các vấn đề lý luận về chế định trả hồ sơ để điều tra bổ sung và mối quan hệ giữa ba cơ quan tiến hành tố tụng;
- Phân tích các quy định của pháp luật về chế định trả hồ sơ điều trabổ sung;
- Nghiên cứu thực tiễn áp dụng chế định trả hồ sơ điều tra bổ sung trên địa bàn tỉnh Phú Thọ trong khoảng thời gian 05 năm gần đây, mối quan hệ
Trang 12giữa các cơ quan tiến hành tố tụng trong áp dụng chế định này;
- Đưa ra các kiến nghị hoàn thiện các quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự và giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực tiễn
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là những vấn đề lý luận và thực tiễn
về chế định trả hồ sơ để điều tra bổ sung và thông qua chế định này sẽ nghiên cứu về mối quan hệ giữa Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát nhân dân và Tòa án nhân dân theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam
4.2.Phạm vi nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu về chế định trả hồ sơ điều tra bổ sung trong pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam và một số quy phạm pháp luật hình sự, một số văn bản hướng dẫn thi hành pháp luật nhằm hỗ trợ cho việc nghiên cứu đề tài được tốt hơn
Luận văn nghiên cứu về chế định trả hồ sơ để điều tra bổ sung và mối quan hệ giữa Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát nhân dân và Tòa án nhân dân từ trước khi Bộ luật Tố tụng hình sự ra đời và các quy định của pháp luật về chế định trả hồ sơ để điều tra bổ sung trong tố tụng hình sự Việt Nam hiện hành
Luận văn nghiên cứu thực trạng áp dụng các quy định về trả hồ sơ để điều tra bổ sung trên địa bàn tỉnh Phú Thọ trong thời gian 5 năm từ năm 2012 đến năm 2016
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở phương pháp luận của luận văn là quan điểm của chủ nghĩa Mác
- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về Nhà nước và pháp luật, về xây dựng Nhà nước pháp quyền, về cải cách tư pháp, về đấu tranh phòng và chống tội phạm
Luận văn sử dụng một số phương pháp tiếp cận để làm sáng tỏ về mặt khoa học từng vấn đề tương ứng, đó là các phương pháp nghiên cứu như: so
Trang 13sánh, phân tích, tổng hợp, thống kê Đồng thời, tác giả sử dụng những số liệu thống kê, tổng kết hàng năm của ngành Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân; nghiên cứu các bản án hình sự, các quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung cũng như những thông tin trên mạng internet để phân tích, tổng hợp các tri thức khoa học pháp luật tố tụng hình sự và các vấn đề tương ứng được nghiên cứu trong luận văn
6 Những điểm mới và đóng góp của đề tài
Về mặt lý luận: Đây là công trình nghiên cứu đồng bộ đề cập một
cáchcó hệ thống và toàn diện những vấn đề lý luận và tổng kết thực tiễn về chế định trả hồ sơ để điều tra bổ sung
Về mặt thực tiễn: Luận văn góp phần vào việc xác định đúng đắn
nhữngđiều kiện cụ thể của từng trường hợp trả hồ sơ để điều tra bổ sung trong thực tiễn truy tố, xét xử của các cơ quan tiến hành tố tụng, cũng như đưa ra các kiến nghị hoàn thiện chế định trả hồ sơ để điều tra bổ sung và việc áp dụng chúng trong thực tiễn
Kết quả nghiên cứu của đề tài có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo dùng để nghiên cứu, học tập và giảng dạy chuyên ngành Tư pháp hình
sự tại các cơ sở đào tạo luật, viện nghiên cứu luật và các cơ quan hoạt động
thực tiễn như: Viện kiểm sát, Tòa án, Cơ quan điều tra…
7 Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung của luận văn gồm 3 chương, cụ thể:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về trả hồ sơ để điều tra bổ sung trong
tố tụng hình sự
Chương 2:Chế định trả hồ sơ để điều tra bổ sung trong Bộ luật tố tụng
hình sự 2015 và thực trạng trả hồ sơ để điều tra bổ sung trên địa bàn tỉnh Phú Thọ
Chương 3: Một số giải pháp, kiến nghị nhằm hạn chế việc trả hồ sơ để
điều tra bổ sung
Trang 14Chương 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TRẢ HỒ SƠ ĐỂ ĐIỀU TRA BỔ
SUNG TRONG BỘ LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ
1.1 Khái niệm và đặc điểm của trả hồ sơ để điều tra bổ sung
1.1.1 Khái niệm
Theo Giáo trình Luật tố tụng hình sự Việt Nam "Điều tra bổ sung là hoạt động điều tra thêm về vụ án hình sự của cơ quan điều tra theo yêu cầu của Viện kiểm sát hay Tòa án nhằm phát hiện, thu thập bổ sung tài liệu, chứng cứ để giải quyết vụ án được đúng đắn, khách quan" [10,tr 15]
Để nghiên cứu chế định trả hồ sơ để điều tra bổ sungcủa Tòa án trongtố tụng hình sự Việt Nam, cần xuất phát từ đặc trưng của mô hình tố tụng hình
sự mà Việt nam đã áp dụng Mô hình tố tụng hình sự, theo cách hiểu chung nhất, là sự khái quát cao những đặc trưng cơ bản, phổ biến, phản ánh cách thức tổ chức hoạt động tố tụng hình sự, cách thức tìm đến sự thật khách quan của vụ án Cách thức tổ chức này quyết định địa vị tố tụng của các chủ thể trong quá trình thực hiện các chức năng cơ bản của tố tụng hình sự (chức năng buộc tội, chức năng bào chữa và chức năng xét xử) [52,tr.9]
Đặc trưng của mô hình tố tụng hình sự thẩm vấn là huy động các cơ quan tố tụng chuyên trách của Nhà nước (Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát/ Viện Công tố, Toà án) vào quá trình đi tìm sự thật của vụ án, các cơ quan này cùng được giao trách nhiệm chứng minh tội phạm Thủ tục tố tụng không nặng về buộc tội hay gỡ tội của một bên tranh tụng, do vậy sẽ tránh được xu hướng che giấu sự thật khách quan của vụ án, bảo đảm khả năng kiểm soát tình hình tội phạm, không bỏ lọt tội phạm Hiệu quả đấu tranh phòng, chống tội phạm trong mô hình tố tụng hình sự thẩm vấn được đánh giá là cao hơn so với mô hình tố tụng hình sự tranh tụng (đại diện của mô hình này là các nước
Trang 15theo hệ thống luật lục địa như Pháp, Italia, Đức…)
Mỗi mô hình tố tụng hình sự trên đây đều có ưu điểm nhược điểm hạn chế nhất định Đối với Việt Nam, mô hình tố tụng hình sự trong quá trình phát triển chịu ảnh hưởng lớn từ mô hình tố tụng hình sự Pháp và mô hình Xô viết (hai mô hình tố tụng hình sự vốn bắt nguồn từ truyền thống luật Châu Âu lục địa) và đã tiếp thu đậm nét những yếu tố của mô hình tố tụng thẩm vấn
Đến nay, tuy trong quá trình phát triển, Việt Nam đã tiếp thu một số hạt nhân hợp lý của mô hình tố tụng hình sự tranh tụng, phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế - xã hội cụ thể của Việt Nam, nhưng mô hình tố tụng hình
sự ở nước ta cho đến thời điểm ban hành Hiến pháp năm 2013 về cơ bản vẫn
là mô hình tố tụng hình sự thẩm vấn Đặc trưng của mô hình tố tụng hình sự hiện hành thể hiện ở một số điểm sau
+ Tố tụng hình sự Việt Nam không coi vụ án hình sự là tranh chấp, xung đột pháp lý giữa các bên, điều này khác với mô hình tố tụng hình sự tranh tụng Vụ án hình sự xảy ra bị xem là đã xâm hại tới trật tự công cộng, lợi ích chung của xã hội và Nhà nước phải có trách nhiệm giải quyết, việc giải quyết vụ án hình sự hoàn toàn phụ thuộc vào ý chí của Nhà nước Các cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đại diện cho Nhà nước trong giải quyết vụ án hình sự, bị can, bị cáo có vai trò thụ động phụ thuộc rất lớn vào các cơ quan tiến hành tố tụng và gần như là đối tượng xem xét của các cơ quan tiến hành tố tụng Người bị hại không có quyền lựa chọn cách thức giải quyết vụ việc Khởi tố hay không khởi tố vụ án không phụ thuộc vào
ý muốn của người bị hại, mà hoàn toàn phụ thuộc vào quyết định của các cơ quan tiến hành tố tụng
+ Mục tiêu tố tụng hình sự Việt Nam là tìm ra sự thật, chân lý khách quan của sự việc, mục tiêu này chi phối mọi trình tự, thủ tục, cũng như thẩm quyền của các chủ thể trong tố tụng hình sự Pháp luật trao trách nhiệm tìm
Trang 16kiếm chứng cứ, xác định sự thật vụ án cho các cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng
+ Tố tụng hình sự Việt Nam xác định việc tìm kiếm sự thật vụ án bằng phương pháp điều tra, thẩm vấn Trong giai đoạn điều tra, Điều tra viên thực hiện mọi biện pháp điều tra do pháp luật quy định để thu thập chứng cứ Trong giai đoạn truy tố, Viện kiểm sát tiếp tục kiểm tra hồ sơ vụ án để ra quyết định truy tố hoặc không truy tố người phạm tội Tại phiên tòa áp dụng chủ yếu phương pháp điều tra, thẩm vấn mà không phải là sự đối tụng giữa bên buộc tội và bên bào chữa Phương pháp điều tra được thực hiện dưới hình thức xét hỏi Hội đồng xét xử đặt những câu hỏi về từng tình tiết của vụ án nhằm xác minh tính trung thực, tính đúng đắn của các chứng cứ có trong hồ
sơ vụ án; thẩm tra các nhân chứng; xem xét những vật chứng liên quan Sau việc xét hỏi của Hội đồng xét xử, pháp luật quy định thẩm quyền hỏi của Kiểm sát viên, người bào chữa, người bảo vệ quyền lợi của đương sự
+ Tố tụng hình sự Việt Nam phân chia quá trình giải quyết vụ án thành các giai đoạn tố tụng: khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án Ở mỗi một giai đoạn thực hiện bởi các chủ thể khác nhau và gắn với quyền hạn, nghĩa vụ, trách nhiệm cụ thể nhưng đều hướng tới mục tiêu chung là làm sáng
tỏ sự thật khách quan của vụ án Các giai đoạn tố tụng được tiến hành gắn liền
và kế tiếp nhau, giai đoạn tố tụng trước làm tiền đề cho giai đoạn tố tụng sau, giai đoạn tố tụng sau kiểm nghiệm lại kết quả đạt được của giai đoạn tố tụng trước đó Việc phân chia các giai đoạn tố tụng gắn với quyền hạn, trách nhiệm các chủ thể tiến hành tố tụng Như vậy làm cho các hoạt động tố tụng có tính chuyên nghiệp, tạo nên hiệu quả hoạt động tố tụng đáp ứng yêu cầu điều tra,
xử lý tội phạm phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh của Việt Nam, hạn chế việc
vi phạm quyền của bị can, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác
+ Tố tụng hình sự Việt Nam phân chia các chủ thể tố tụng thành hai
Trang 17loại: chủ thể tiến hành tố tụng và chủ thể tham gia tố tụng Việc phân chia này khác với mô hình tố tụng tranh tụng gồm bên buộc tội, bên gỡ tội và Tòa án trung lập Chủ thể tiến hành tố tụng có thẩm quyền chứng minh trong vụ án hình sự, độc quyền trong việc thu thập chứng cứ Những người tham gia tố tụng không có quyền thu thập chứng cứ của vụ án, chỉ có quyền cung cấp tài liệu, đồ vật, đưa ra yêu cầu Trong toàn bộ quá trình giải quyết vụ án hình sự,
cơ quan tiến hành tố tụng luôn ở thế chủ động, từ việc thu thập, kiểm tra, đánh giá các chứng cứ đến việc đưa ra các quyết định tố tụng liên quan đến việc giải quyết vụ án Đối lập với vai trò tích cực, chủ động của các cơ quan tiến hành tố tụng là vai trò thụ động của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo Người bị tạm giữ, bị can, bị cáo không được xem là một bên trong quan hệ tố tụng như trong mô hình tố tụng tranh tụng và trên thực tế, nhiều trường hợp gần như là đối tượng xem xét của các cơ quan tiến hành tố tụng
+ Việc thực hiện chức năng cơ bản của tố tụng hình sự Việt Nam cũng giống với mô hình tố tụng hình sự của nhiều nước trên thế giới, tố tụng hình
sự Việt Nam quy định Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát thực hiện chức năng buộc tội; chức năng bào chữa do người bị tạm giữ, bị can, bị cáo và người bào chữa của họ thực hiện; Tòa án thực hiện chức năng xét xử
+ Trong tố tụng hình sự Việt Nam luôn tồn tại khái niệm “hồ sơ vụ án hình sự”, điều này ngược lại với mô hình tố tụng tranh tụng Hồ sơ vụ án hình
sự được các cơ quan tiến hành tố tụng lập thống nhất từ giai đoạn điều tra, chứa đựng các tài liệu, chứng cứ về tội phạm, người phạm tội và được các cơ quan tiến hành tố tụng dựa vào đó để thực hiện các chức năng tố tụng của mình, đồng thời được bổ sung, hoàn thiện qua từng giai đoạn tố tụng
Tố tụng hình sự Việt Nam, mặc dù có một số yếu tố của mô hình tố tụng hình sự tranh tụng, nhưng về cơ bản vẫn là mô hình TTHS thẩm vấn
Trang 18Do đó, mọi quyết định của Viện kiểm sát, phán quyết của Tòa án đều phải dựa trên kết quả của hoạt động điều tra Khi vụ án được Cơ quan điều tra ra quyết định đề nghị truy tố và chuyển hồ sơ đến Viện kiểm sát hoặc Viện kiểm sát ra quyết định truy tố và chuyển vụ án đến Tòa án Nhưng các cơ quan này thấy còn thiếu những chứng cứ quan trong cần phải bổ sung mà tự mình không thể tiến hành điều tra nên việc trả hồ sơ cho Cơ quan điều tra để điều tra bổ sung là cần thiết
Tố tụng hình sự Việt nam được xây dựng dựa trên những đặc điểm về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, đạo đức, phong tục tập quán cũng như hệ thống pháp luật hiện hành Những nguyên tắc được xác định trong tố tụng hình sự là tiền đề và cơ sở để xây dựng nhiệm vụ cũng như mối quan hệ giữa các cơ quan tiến hành tố tụng Điều 1 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 quy định "Bộ luật Tố tụng hình sự quy định trình tự, thủ tục khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hình sự; chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và mối quan hệ giữa các cơ quan tiến hành tố tụng" Do đó, mỗi cơ quan tiến hành tố tụng đều có chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn nhất định nhưng có quan hệ phối hợp với nhau, chế ước lẫn nhau trong quá trình giải quyết vụ án hình sự [23,trt.14]
Chủ thể được Nhà nước giao thẩm quyền điều tra vụ án là Cơ quan điều tra Trong hệ thống các cơ quan tư pháp, Cơ quan điều tra giữ một vị trí quan trọng, là cơ quan thu thập, kiểm tra, đánh giá chứng cứ chứng minh tội phạm
và người thực hiện hành vi phạm tội, phục vụ cho việc truy tố của Viện kiểm sát và xét xử của Tòa án Điều tra là giai đoạn tố tụng gần như là đầu tiên trong quá trình giải quyết vụ án hình sự Vì vậy, hoạt động của Điều tra viên
và quyết định củ a Cơ quan điều tra trong giai đoạn này rất quan trọng Quan trọng vì đây là khâu đầu tiên để chứng minh có hành vi phạm tội hay không
và chỉ có Cơ quan điều tra mới có quyền lập hồ sơ vụ án hình sự Khoản 1
Trang 19Điều 2 Luật tổ chức cơ quan điều tra hình sự quy định:
Cơ quan điều tra có nhiệm vụ tiến hành điều tra tất cả các tội phạm, áp dụng mọi biện pháp do Bộ luật tố tụng hình sự quy định để xác định tội phạm
và người đã thực hiện hành vi phạm tội, lập hồ sơ, đề nghị truy tố, tìm ra nguyên nhân và điều kiện phạm tội để làm cơ sở cho việc xử lý tội phạm
Trong quá trình thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình, Cơ quan điều tra được pháp luật cho phép tiến hành các hoạt động điều tra như: Khởi tố bị can, hỏi cung, khám xét, tạm giữ đồ vật, đối chất, nhận dạng, thực nghiệm điều tra… Qua hoạt động điều tra của mình, Cơ quan điều tra lập hồ sơ vụ án hình sự đề nghị Viện kiểm sát truy tố người có tội ra trước Tòa án Hồ sơ vụ
án hình sự là một loại hồ sơ quan trọng trong hệ thống hồ sơ của Nhà nước, là nguồn thông tin trực tiếp phản ánh toàn bộ diễn biến vụ án, quá trình và kết quả điều tra Tại giai đoaṇ này, Cơ quan điều tra tiến hành các hoạt động tố tụng để thu thập chứng cứ, thực hiện đúng, đủ trình tự, thủ tục, các biện pháp
do Bộ luật Tố tụng hình sự quy định để xác định tội phạm và người thực hiện hành vi phạm tội phục vụ cho việc chứng minh làm sáng rõ vụ án hình sự, làm cơ sở cho việc truy tố của Viện kiểm sát và xét xử của Tòa án [11,tr.8]
Chứng cứ trong hồ sơ một vụ án hình sự luôn là yếu tố quyết định để kết luận hành vi phạm tội của một người nào đó Để giải quyết đúng đắn một
vụ án thì điều tra viên phải chứng minh được sự kiện phạm tội, người thực hiện tội phạm và việc chứng minh này không có con đường nào khác ngoài việc dựa vào chứng cứ thu thập được với những biện pháp như hỏi cung, lấy lời khai, khám nghiệm hiện trường… Vì quá trình thực hiện hành vi phạm tội
là quá trình diễn ra trong quá khứ, do đó để hình dung ra diễn biến của nó, điều tra viên cần phải lựa chọn vào việc đánh giá những sự kiện hay tài liệu
đã thu được một cách khách quan và lôgic [10,tr.12] Nếu việc điều tra thu thập chứng cứ không đầy đủ hoặc vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng trong
Trang 20quá trình điều tra sẽ ảnh hưởng đến các giai đoạn tố tụng tiếp theo Các biện pháp điều tra chỉ được phép tiến hành sau khi khởi tố vụ án hình sự, tức là sau khi đã xác định rõ ràng rằng có một vụ án hình sự đã xảy ra Trong việc điều tra, Cơ quan điều tra phải thu thập cả chứng cứ xác định có tội và chứng cứ xác định vô tội, làm rõ những tình tiết tăng nặng và những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị can, tìm ra nguyên nhân, điều kiện phạm tội Mục đích chủ đạo và xuyên suốt của hoạt động điều tra là chứng minh tội phạm và người phạm tội [10, tr.30]
Đối với nhiệm vụ "điều tra bổ sung" theo yêu cầu của Viện kiểm sát hoặc của Tòa án lại đặt điều tra viên trước một yêu cầu khắt khe và cụ thể hơn, đó là ngoài những tài liệu, chứng cứ đã thu thập được trong quá trình điều tra, Cơ quan điều tra còn phải thực hiện theo đúng yêu cầu đã nêu trong Quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung của Viện kiểm sát và Tòa án Thông thường đó là còn thiếu những chứng cứ vô cùng quan trọng đối với vụ án; có tội phạm khác, có đồng phạm khác hoặc là có vi phạm nghiêm trọng thủ tục
tố tụng Khi nhận được yêu cầu điều tra bổ sung, Cơ quan điều tra có trách nhiệm thực hiện đầy đủ các nội dung nêu trong quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung của Viện kiểm sát hoặc của Tòa án.Sau khi kết thúc điều tra bổ sung, Cơ quan điều tra phải có bản kết luận điều tra bổ sung, trong đó kết luận
rõ đối với từng vấn đề điều tra bổ sung và quan điểm giải quyết vụ án Nếu kết quả điều tra bổ sung dẫn đến đình chỉ điều tra, đình chỉ vụ án thì Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát ra quyết định đình chỉ theo thẩm quyền quy định tại các Điều 230, 247, 248 của Bộ luật tố tụng hình sự [38 Tr,17]
Nếu kết quả điều tra bổ sung không làm thay đổi quyết định truy tố thì Viện kiểm sát có văn bản nêu rõ lý do giữ nguyên quyết định truy tố và chuyển lại hồ sơ cho Tòa án; nếu kết quả điều tra bổ sung làm thay đổi quyết định truy tố thì Viện kiểm sát ban hành cáo trạng mới thay thế cáo trạng cũ và chuyển hồ sơ đến Tòa án để xét xử Viện kiểm sát nhân dân khi thực hiện
Trang 21quyền của mình là hoàn toàn độc lập, không bị ảnh hưởng của cơ quan hành chính, đoàn thể xã hội và của công dân Viện kiểm sát nhân dân được tổ chức phù hợp với tổ chức của tòa án
Theo Hiến pháp năm 2013 và Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014, trong lĩnh vực tư pháp hình sự, Viện kiểm sát nhân dân có hai chức
năng chính là: Thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tưpháp Đây là
hai chức năng độc lập, nhưng trong thực tiễn công tác, nó cómối quan hệ mật thiết với nhau [33,tr,14]
Chức năng, nhiệm vụ của Viện kiểm sát được quy định cụ thể tại Điều
20Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:Viện kiểm sát thực hành quyền công tố
và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng hình sự, quyết định việc buộc tội, phát hiện vi phạm pháp luật nhằm bảo đảm mọi hành vi phạm tội, người phạm tội, pháp nhân phạm tội, vi phạm pháp luật đều phải được phát hiện và xử lý kịp thời, nghiêm minh, việc khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không để lọt tội phạm và người phạm tội, pháp nhân phạm tội, không làm oan người vô tội
Viện kiểm sát kiểm sát đảm bảo việc điều tra được khách quan, toàn diện và đầy đủ Viện kiểm sát phải kịp thời phát hiện những vi phạm pháp luật trong quá trình điều tra và đề ra biện pháp khắc phục, bảo đảm mọi hoạt động điều tra phải được tiến hành theo đúng quy định của luật tố tụng hình sự
Khi tội phạm được phát hiện, vụ án được khởi tố điều tra là thời điểm quyền của Viện kiểm sát cũng được phát động Đó là việc Viện kiểm sát tiến hành kiểm sát hoạt động của Cơ quan điều tra như khởi tố… Khi Viện kiểm sát ra Quyết định truy tố bị cáo ra trước Tòa án và Tòa án trong quá trình nghiên cứu ra quyết định đưa vụ án ra xét xử thì đó là lúc Kiểm sát viên đại diện cho Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa Theo quy định của tố tụng hình sự, Viện kiểm sát được trả hồ sơ để điều tra bổ sung khi có những căn cứ quy định tại Điều 168 Bộ luật tố tụng hình sự [10,tr.45]
Trang 22Xét xử là một giai đoạn cuối cùng của quá trình giải quyết một vụ án hình sự, và cũng là giai đoạn quan trọng nhất trong quá trình tố tụng, giai đoạn này là sự tổng kết của cả một quá trình tố tụng Vì nó quyết định "sinh mệnh chính trị" của một con người Chỉ có Tòa án mới có quyền xét xử, khác với hai cơ quan tiến hành tố tụng trên, Tòa án với chức năng "cầm cân, nảy mực" của mình, Tòa án cần sử dụng hết mức sự công tâm, sự nghiêm minh, khách quan để nghiên cứu, xem xét khi nghiên cứu hồ sơ vụ án; lắng nghe, phân xử, phán xét công minh tại phiên tòa khi ngồi giữa với một bên "buộc tội" là đại diện Viện kiểm sát và một bên "gỡ tội" là luật sư
Giai đoạn xét xử là bước cuối cùng, quyết định cho câu hỏi lớn mà các
cơ quan tiến hành tố tụng đã tốn bao nhiêu công sức đi tìm, đó là: có tội phạm xảy ra không, ai là người thực hiện hành vi phạm tội, quyết định tội danh, mức hình phạt, các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ, vấn đề trách nhiệm bồi thường dân sự, án phí… Tóm lại, Tòa án bằng phán quyết của mình trước phiên tòa và được ghi nhận trong bản án sẽ quyết định người bị khởi tố, truy
tố phạm tội và phải chiu ̣ hình phạt theo quy đinḥ của pháp luật hoặc tuyên bố ngườì bị khởi tố, truy tố không phạm tội
Tư tưởng cải cách Tư pháp hiện nay đòi hỏi "phán quyết của Tòa án phải căn cứ chủ yếu vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa" Vì vậy, để ra những bản án, quyết định đúng pháp luật, có sức thuyết phục, trong quá trình chuẩn bị xét xử hoặc tại phiên tòa, Tòa án có quyền trả hồ sơ để điều tra bổ sung [5,tr.20]
Cơ quan điều tra có trách nhiệm điều tra bổ sung theo yêu cầu của Tòa án; nhưng khi Tòa án trả hồ sơ theo quy định tại Điều 280 Bộ luật tố tụng hình sự thì Tòa án phải ra quyết định trả hồ sơ cho Viện kiểm sát mà không trả trực tiếp cho Cơ quan điều tra Sở dĩ tố tụng hình sự quy định như vậy là
vì, Viện kiểm sát là cơ quan truy tố bị can ra trước Tòa án chứ không phải là
Cơ quan điều tra, vì thế Tòa án nhận hồ sơ từ Viện kiểm sát chuyển đến, chứ không phải là từ Cơ quan điều tra Hơn nữa, Viện kiểm sát là cơ quan quyết
Trang 23định chuyển hồ sơ cho Cơ quan điều tra hay tự mình điều tra bổ sung Điều đó cũng phù hợp với chức năng nhiệm vụ của Viện kiểm sát nhân dân Đồng thời cũng phù hợp với quy định của pháp luật tố tụng hình sự về giới hạn xét xử
của Tòa án tại Điều 298 Bộ luật tố tụng hình sự: "1 Tòa án xét xử những bị
cáo và những hành vi theo tội danh mà Viện kiểm sát truy tố và Tòa án đã quyết định đưa vụ án ra xét xử
2 Tòa án có thể xét xử bị cáo theo khoản khác với khoản mà Viện kiểm sát đã truy tố trong cùng một điều luật hoặc về một tội khác bằng hoặc nhẹ hơn tội mà Viện kiểm sát đã truy tố
3 Trường hợp xét thấy cần xét xử bị cáo về tội danh nặng hơn tội danh Viện kiểm sát truy tố thì Tòa án trả hồ sơ để Viện kiểm sát truy tố lại và thông báo rõ lý do cho bị cáo hoặc người đại diện của bị cáo, người bào chữa biết; nếu Viện kiểm sát vẫn giữ tội danh đã truy tố thì Tòa án có quyền xét xử bị cáo về tội danh nặng hơn đó.”
Mặc dù mỗi cơ quan tiến hành tố tụng đều có chức năng, nhiệm vụ riêng nhưng đều có một trách nhiệm, mục đích chung là: Xác định sự thật của vụ án
Trách nhiệm chứng minh tội phạm thuộc về cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng.Người bị buộc tội có quyền nhưng không buộc phải chứng minh là mình vô tội
Trong phạm vi nhiệm vụ , quyền hạn của mình, cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải áp dụng các biện pháp hợp pháp để xác định sự thật của
vụ án một cách khách quan, toàn diện và đầy đủ, làm rõ chứng cứ xác định có tội và chứng cứ xác định vô tội, tình tiết tăng nặng và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của người bị buộc tội
Xác định sự thật của vụ án là một trong những nguyên tắc rất quan trọng của tố tụng hình sự, bảo đảm để xử lý vụ án được đúng người, đúng tội, đúng pháp luật Có thể nói xác định sự thật của vụ án vừa là nội dung vừa là
Trang 24bản chất của hoạt động tố tụng hình sự, của mối quan hệ giữa các cơ quan tiến hành tố tụng Để xác định sự thật của vụ án đòi hỏi các cơ quan tiến hành tố tụng phải phối hợp, kết hợp để tiến hành các biện pháp điều tra cụ thể nhưng phải trên cơ sở vị trí, chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của từng cơ quan được quy định trong tố tụng hình sự
Trả hồ sơ để điều tra bổ sung là một hoạt động của Viện kiểm sát và Tòa án nhằm mục đích để giúp các cơ quan tiến hành tố tụng khác thực hiện tốt nhiệm vụ quy định tại Điều 15 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015
Tác giả đưa ra khái niệm trả hồ sơ điều tra bổ sung như sau: Trả hồ sơ
để điều tra bổ sung là chế định của luật tố tụng hình sự quy định Viện kiểm sát hoặc Tòa án chuyển trả hồ sơ cho Viện kiểm sát hoặc Cơ quan điều tra để điều tra thêm về vụ án hình sự Theo các căn cứ được quy định trong Bộ luật Tố tụng hình sự nhằm mục đích làm sáng tỏ vụ án hình sự, để Tòa án xét xử vụ án một cách công minh, chính xác, khách quan, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không bỏ lọt tội phạm, không làm oan người vô tội
1.1.2 Đặc điểm
a Đặc điểm về chủ thể
Chủ thể có thẩm quyền trả hồ sơ để điều tra bổ sung đó là Viện kiểm sát và Tòa án tùy thuộc vào giai đoạn giải quyết vụ án đang ở bước nào Khi xác định đặc điểm này, chúng ta cần phải xác định các lý luận về giai đoạn tố tụng hình sự Hiện nay, còn nhiều quan điểm khác nhau về các giai đoạn tố tụng hình sự thể hiện ở các công trình đã được công bố ở Việt Nam, nhưng phần lớn các quan điểm đều cho rằng tố tụng hình sự gồm 4 giai đoạn: khởi
tố, điều tra, truy tố và xét xử Như vậy, đúng như tên gọi của chế định này là
“trả hồ sơ để điều tra bổ sung”, thực chất của quá trình trả hồ sơ để điều tra bổ sung là quay trở lại thực hiện các hoạt động điều tra để tiến hành hoạt động bổ sung chứng cứ, khắc phục những sai sót đã mắc phải ở các giai đoạn trước đó
Trang 25để phục vụ việc giải quyết chính xác vụ án Do đó, chủ thể có thẩm quyền trả
hồ sơ để điều tra bổ sung chỉ có thể là Viện kiểm sát và Tòa án ở từng giai đoạn khác nhau [43,tr.12]
Viện kiểm sát là hệ thống cơ quan nhà nước thực hiện hai chức năng được Hiến pháp quy định là thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp Do đó, nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát trong tố tụng hình sự được diễn ra xuyên suốt các giai đoạn tố tụng, trong đó có cả giai đoạn khởi
tố và điều tra Tuy nhiên, tố tụng hình sự quy định giai đoạn truy tố chính là giai đoạn quan trọng, thể hiện đầy đủ nhất vai trò của Viện kiểm sát trong quá trình thực hành quyền công tố Trong giai đoạn này, Viện kiểm sát nghiên cứu, đánh giá các tài liệu, chứng cứ đã thu thập được ở giai đoạn trước đó, đồng thời tiến hành một số hoạt động điều tra để bổ sung thêm chứng cứ nhằm mục đích truy tố người phạm tội ra trước Tòa án Theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự, trong giai đoạn này khi kết thúc thời hạn truy tố, Viện kiểm sát được quyền ra các quyết định tố tụng gồm: tạm đình chỉ, đình chỉ vụ
án, trả hồ sở để điều tra bổ sung và quyết định truy tố Trong đó, quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung của Viện kiểm sát diễn ra trong trường hợp có các căn cứ quy định của BLTTHS như, chứng cứ để truy tố chưa đầy đủ, thiếu các chứng cứ quan trọng mà kể cả khi Viện kiểm sát áp dụng các biện pháp điều tra do BLTTHS cho phép vẫn không thể bổ sung được; hoặc trường hợp qua nghiên cứu hồ sơ vụ án phát hiện có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng xảy ra trong giai đoạn điều tra vụ án Như vậy, Viện kiểm sát là cơ quan có thẩm quyền ra quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung cho Cơ quan điều tra
để khắc phục những sai sót, thiếu sót trong giai đoạn điều tra trước đó [54,tr.22]
Thẩm phán được phân công nghiên cứu hồ sơ vụ án là người tiến hành
tố tụng của Tòa án được Chánh án/ Phó chánh án Tòa án phân công giải quyết
Trang 26vụ án hình sự Theo đó, ngay sau khi nhận được hồ sơ vụ án do Viện kiểm sát chuyển sang, Chánh án phải ra quyết định phân công Thẩm phán nghiên cứu
hồ sơ vụ án ở giai đoạn chuẩn bị xét xử Trong quá trình nghiên cứu vụ án, những tài liệu, chứng cứ do Viện kiểm sát chuyển sang, Thẩm phán cần đánh giá toàn diện chứng cứ trong hồ sơ vụ án để xác định có các căn cứ trả hồ sơ
để điều tra bổ sung hay không Nếu xuất hiện các căn cứ trả hồ sơ để điều tra
bổ sung như: thiếu các chứng cứ quan trọng hoặc vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng ở các giai đoạn trước đó, Thẩm phán được phân công nghiên cứu
hồ sơ vụ án sẽ ra quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung cho Viện kiểm sát
đã ra quyết định truy tố
Hội đồng xét xử trong tố tụng hình sự được thành lập theo nguyên tắc đảm bảo quyết định theo đa số và chế độ xét xử tập thể Theo nguyên tắc chung, Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm: 1 thẩm phán và 02 hội thẩm hoặc 2 thẩm phán và 03 hội thẩm; Hội đồng xét sở phúc thẩm gồm: 3 thẩm phán hoặc 5 thẩm phán Tại phiên tòa sơ thẩm và phúc thẩm vụ án hình sự, Hội đồng xét xử là chủ thể có thẩm quyền tuyệt đối và mọi quyết định tố tụng được ban hành đều phải được đa số các thành viên của Hội đồng xét xử đồng
ý thông qua Trong trường hợp qua hoạt động xét xử tại phiên toà, Hội đồng xét xử xét thấy có đủ các căn cứ để trả hồ sơ điều tra bổ sung thì Hội đồng xét
xử ra quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung cho Viện kiểm sát [52,tr.20]
b Đặc điểm về căn cứ trả hồ sơ để điều tra bổ sung
Đây là một trong những nội dung rất quan trọng của chế định trả hồ sơ
để điều tra bổ sung, thể hiện đặc điểm riêng biệt khác so với các quyết định tố tụng khác như quyết định đình chỉ, tạm đình chỉ, quyết định truy tố hoặc bản án… Theo đó, căn cứ trả hồ sơ để điều tra bổ sung là những cơ sở được luật
tố tụng hình sự quy định mà khi xuất hiện các căn cứ đó, các chủ thể có thẩm quyền sẽ tiến hành trả hồ sơ để điều tra bổ sung Tùy thuộc vào giai đoạn tiến
Trang 27hành trả hồ sơ để điều tra bổ sung mà căn cứ trả hồ sơ để điều tra bổ sung có những sự khác nhau Tuy nhiên, có thể thấy, ba căn cứ cơ bản để các chủ thể trả hồ sơ điều tra bổ sung là:
Khi thiếu các chứng cứ quan trọng của vụ án Đây là căn cứ mà khi nghiên cứu, đánh giá chứng cứ ở giai đoạn truy tố hoặc xét xử, các chủ thể có thẩm quyền nhận thấy, những chứng cứ để hoạt động truy tố, xét xử diễn ra bình thường còn chưa đầy đủ và không thể tự mình bổ sung được Như chúng
ta đã biết, giai đoạn điều tra là giai đoạn tố tụng quan trọng có vai trò chính trong việc thực hiện quá trình thu thập chứng cứ của vụ án hình sự Do đó, nếu thiếu đi các chứng cứ quan trọng để giải quyết vụ án thì cần phải trả hồ sơ
để điều tra bổ sung nhằm bổ sung thêm các chứng cứ còn thiếu đó
Trường hợp khi có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng Thủ tục tố tụng hình sự là các bước, trình tự để tiến hành hoạt động giải quyết vụ án hình
sự Thủ tục tố tụng hình sự được quy định rất chặt chẽ về chủ thể có thẩm quyền, nhiệm vụ, quyền hạn của các chủ thể đó, các quyết định tố tụng, các hoạt động tố tụng cần phải được tiến hành đầy đủ theo các quy định của BLTTHS Do đó, qua quá trình nghiên cứu hồ sơ vụ án mà các chủ thể thấy ở giai đoạn trước đó (điều tra, truy tố) thủ tục tố tụng đã bị vi phạm, tức các cơ quan tiến hành tố tụng không tuân thủ đầy đủ các quy định của BLTTHS về thủ tục tố tụng, mà xét thấy vi phạm này là nghiêm trọng thì phải trả hồ sơ để tiến hành hoạt động khắc phục những vi phạm đó
Trường hợp khi phát hiện người phạm tội đã bị khởi tố còn chưa có tội phạm, chưa bị khởi tố hoặc có đồng phạm khác Đây cũng thực chất là thiếu sót trong quá trình giải quyết vụ án, làm ảnh hưởng đến tính chính xác của hoạt động tố tụng, dẫn đến bỏ lọt tội phạm Vì vậy, cần thiết phải trả hồ sơ để điều tra bổ sung để khắc phục điều đó [51,tr.21]
Để cơ sở xem xét việc điều tra và truy tố có căn cứ và đúng pháp luật
Trang 28hay không, Viện kiểm sát hay Thẩm phán có quyền trả hồ sơ để điều tra bổ sung, Hội đồng xét xử có quyền yêu cầu điều tra bổ sung Việc này đòi hỏi cần nghiên cứu thật kĩ hồ sơ vụ án để phát hiện những vấn đề cần làm rõ Việc trả hồ sơ để điều tra bổ sung, khi cần làm rõ những chứng cứ quan trọng đối với vụ án mà không thể bổ sung tại giai đoạn truy tố hoặc tại phiên tòa, được đòi hỏi đó là chứng cứ quan trọng tức là phải liên quan đến việc xác định bị cáo có hay không có trách nhiệm hình sự, mức độ thiệt hại do tội phạm gây ra, tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự…có ảnh hưởng lớn đến việc quyết định hình phạt, nhưng nếu chỉ thiếu những chứng cứ ít quan trọng có thể bổ sung tại phiên tòa được, thì không cần yêu cầu điều tra bổ sung [8,tr.23]
c Đặc điểm về thủ tục
Thủ tục trả hồ sơ để điều tra bổ sung được quy định rất chặt chẽ trong BLTTHS Thủ tục này nhằm đảm bảo quá trình trả hồ sơ điều tra bổ sung sẽ khắc phục, giải quyết được những thiếu sót, tồn tại đã diễn ra trong giai đoạn điều tra hoặc truy tố Theo đó, khi có căn cứ để trả hồ sơ điều tra bổ sung, Viện kiểm sát, Thẩm phán được phân công nghiên cứu hồ sơ vụ án hoặc Hội đồng xét xử sẽ ra quyết định trả hồ sơ điều tra bổ sung cho Cơ quan điều tra hoặc Viện kiểm sát để các cơ quan này tiến hành điều tra bổ sung.Việc tiếp nhận yêu cầu điều tra bổ sung và thực hiện yêu cầu điều tra bổ sung được quy định rất chặt chẽ nhằm đảm bảo các yêu cầu điều tra bổ sung được thực hiện nghiêm túc, đồng thời cũng thể hiện quyền độc lập tương đối của chủ thể phải thực hiện yêu cầu bổ sung đó
d Việc giải quyết yêu cầu điều tra bổ sung
Việc giải quyết yêu cầu điều tra bổ sung là một nội dung quan trọng trong quá trình thực hiện chế định này trong tố tụng hình sự Tuy thuộc vào giai đoạn tố tụng, chủ thể trả hồ sơ điều tra bổ sung và chủ thể nhận yêu cầu
Trang 29điều tra bổ sung mà việc giải quyết yêu cầu này được xác định khác nhau Theo đó, nếu Viện kiểm sát trong giai đoạn truy tố thực hiện việc trả hồ sơ điều tra bổ sung thì chủ thể nhận yêu cầu điều tra bổ sung và thực hiện nhiệm
vụ giải quyết yêu cầu đó là Cơ quan điều tra Theo quy định của BLTTHS thì,
Cơ quan điều tra phải nghiêm túc thực hiện đầy đủ các yêu cầu điều tra bổ sung đã được nêu rõ trong quyết định trả hồ sơ điều tra bổ sung của Viện kiểm sát Theo đó, Cơ quan điều tra có trách nhiệm thực hiện đầy đủ yêu cầu nêu trong quyết định trả hồ sơ, yêu cầu điều tra bổ sung của Viện kiểm sát; trường hợp vì lý do bất khả kháng hoặc do trở ngại khách quan mà không thực hiện được thì phải nêu rõ lý do bằng văn bản.Kết thúc điều tra bổ sung,
Cơ quan điều tra phải có bản kết luận điều tra bổ sung Bản kết luận điều tra
bổ sung phải ghi rõ kết quả điều tra bổ sung, quan điểm giải quyết vụ án Nếu kết quả điều tra bổ sung làm thay đổi cơ bản kết luận điều tra trước đó thì Cơ quan điều tra phải ra bản kết luận điều tra mới thay thế
Nếu trường hợp Tòa án trả hồ sơ điều tra bổ sung cho Viện kiểm sát thì chủ thể có nhiệm vụ thực hiện yêu cầu điều tra bổ sung là Viện kiểm sát và Viện kiểm sát thực hiện việc này theo ba hướng sau: một là, tự mình tiến hành các hoạt động điều tra khi xét thấy không cần phải trả hồ sơ điều tra bổ sung cho Cơ quan điều tra; tiến hành ra quyết định trả hồ sơ điều tra bổ sung cho Cơ quan điều tra; và giữ nguyên quyết định truy tố và nêu rõ lý do giữ nguyên đó
e Hệ quả của việc trả hồ sơ điều tra bổ sung
Mục đích của điều tra bổ sung là để xác minh đầy đủ những tội phạm
và người phạm tội Đó là các trường hợp qua hồ sơ mà thấy rằng bị cáo còn phạm tội khác hoặc cần định tội danh nặng hơn đối với tội đã bị truy tố, hoặc qua hồ sơ thấy có người khác phải truy cứu trách nhiệm trong vụ án Vì vậy, việc yêu cầu điều tra bổ sung nhằm trách việc đưa ra xét xử vụ án mà bỏ sót tội phạm và người phạm tội, hoặc định tội danh không phù hợp với mức độ
Trang 30nghiêm trọng của tội phạm
Những vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng như: không thay đổi kiểm sát viên, điều tra viên, giám định viên trong những trường hợp cần phải thay đổi, không trưng cầu giám định trong trường hợp bắt buộc phải có giám định,
vi phạm quyền bào chữa của bị can…
Khi Viện kiểm sát hoặc Tòa án trả điều tra bổ sung thì Cơ quan điều tra hoặc Viện kiểm sát phải bổ sung những tài liệu, chứng cứ cần thiết theo yêu cầu điều tra bổ sung của Viện kiểm sát và Tòa án Nếu kết quả điều tra bổ sung dẫn tới việc đình chỉ vụ án thì Cơ quan điều tra hoặc Viện kiểm sát ra quyết định đình chỉ vụ án và thông báo cho Viện kiểm sát hoặc Tòa án biết Trong trường hợp Cơ quan điều tra hoặc Viện kiểm sát không thực hiện được những yêu cầu điều tra bổ sung, hoặc vẫn giữ nguyên quyết định đề nghị truy
tố hoặc truy tố thì Viện kiểm sát vẫn truy tố hoặc Tòa án vẫn phải tiến hành xét xử vụ án
1.2 Trả hồ sơ điều tra bổ sung trong tố tụng hình sự một số quốc gia trên thế giới
Trên thế giới có hai mô hình tố tụng khác nhau, nắm vị trí chi phối trong truyền thống pháp luật các quốc gia trên thế giới, đó là mô hình tố tụng tranh tụng và mô hình tố tụng thẩm vấn Trong mô hình tố tụng tranh tụng, do quan điểm khác biệt về vị trí, vai trò của các chủ thể tiến hành tố tụng, đặc biệt là vị trí vai trò trung tâm của Tòa án, đặc biệt hoạt động xét xử, cũng như vai trò gỡ tội quan trọng của luật sư Do đó, trong mô hình tố tụng tranh tụng không xuất hiện chế định trả hồ sơ điều tra bổ sung Nếu như trong phiên tòa hình sự, Công tố viên không thuyết phục được bồi thẩm đoàn và thẩm phán, tức không bảo vệ thành công cáo trạng thì Thẩm phán sẽ tuyên không phạm tội mà không trả hồ sơ cho bên công tố để bổ sung chứng cứ hoặc khắc phục các sai sót về thủ tục tố tụng Chỉ trong các mô hình tố tụng thẩm vấn, việc
Trang 31phân chia chủ thể tố tụng thành các cơ quan và người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng Các cơ quan tiến hành tố tụng thực hiện hoạt động tố tụng xuyên suốt từ giai đoạn điều tra đến giai đoạn truy tố Do đó, hoạt động trả hồ sơ điều tra bổ sung trong đó có hoạt động trả hồ sơ điều tra bổ sung của Tòa án là chủ yếu nhất, thường xuyên diễn ra và được luật tố tụng hình sự quy định rất kỹ lưỡng Dưới đây là một số quy định trong tố tụng hình sự một số quốc gia về vấn đề này
1.2.1 Quy định về trả hồ sơ để điều tra bổ sung của Cộng hoà Liên bang Đức
Cộng hoà Liên bang Đức (CHLB) là một đất nước có truyền thống pháp luật lục địa, thủ tục tố tụng hình sự của họ được xây dựng và áp dụng trên mô hình tố tụng thẩm vấn, xét hỏi Trên cơ sở được xây dựng, hình thành
từ những năm đầu thập kỷ 90 của thế kỷ trước, qua quá trình dài hoàn thiện, được sửa đổi, bổ sung nhiều lần, cho đến nay Bộ luật tố tụng hình sự (BLTTHS) của CHLB Đức có thể nói là một Bộ luật đồ sộ, công phu gồm 6 phần với khoảng gần 470 điều quy định cụ thể từng hoạt động, thủ tục trong trình tự tố tụng giải quyết vụ án hình sự của CHLB Đức
Thẩm quyền xét xử của Toà án được quy định dẫn chiếu tại Điều 1, theo đó nêu ngắn gọn: Thẩm quyền xét xử của các Toà án sẽ được Luật tổ chức Toà án quy định Tố tụng ở cấp sơ thẩm được quy định tại Phần hai từ Điều 151 đến Điều 295, bao gồm các quy định về điều tra, truy tố và xét xử
sơ thẩm
Giai đoạn xét xử sơ thẩm (hay còn gọi là giai đoạn tố tụng chính) bắt đầu khi công tố viên chuyển sang Toà án bản cáo trạng, hồ sơ vụ án và đơn đề nghị đưa vụ án ra xét xử (Điều 199 - Quyết định mở thủ tục chính thức) Trước khi Toà án quyết định mở thủ tục chính thức, Toà án có thể yêu cầu thuthập chứng cứ riêng biệt để làm rõ vụ án Quyết định này của Toà án
Trang 32không bị khiếu nại (Điều 202 - Điều tra bổ sung)
Cơ quan thực hiện yêu cầu điều tra bổ sung của Toà án là Viện công tố Tuy nhiên, theo quy định của pháp luật Tố tụng hình sự thì Viện công tố của Cộng hoà Liên bang Đức không trực tiếp tiến hành điều tra, bổ sung chứng cứ
mà Viện công tố chỉ đạo tiến trình tiền xét xử và đưa ra các mệnh lệnh cho cảnh sát để tiến hành hoạt động điều tra theo yêu cầu của Toà án Sau khi điều tra bổ sung đầy đủ theo yêu cầu của Toà án thì Viện công tố chuyển toàn bộ tài liệu đó cho Toà án Sau đó, Toà án có thẩm quyền sẽ quyết định liệu có đưa vụ án ra xét
xử hay tạm thời đình chỉ (từ chối xét xử) Về nguyên tắc Toà án sẽ quyết định xét xử vụ án khi thấy có đủ lý do để nghi ngờ bị can bị truy tố đã thực hiện tội phạm (Điều 203 - Điều kiện mở thủ tục chính thức ) Tất nhiên điều này hoàn toàn tuỳ thuộc vào các nhận định, đánh giá của Toà án trên cơ sở chứng cứ do các bên đưa ra trong giai đoạn chuẩn bị cho việc mở phiên toà (các căn cứ thực tế) Toà án không có nghĩa vụ bắt buộc phải hành động theo đơn của công tố viên trong việc đưa ra các quyết định của mình (Điều 206 – Yêu cầu không bắt buộc Tuy nhiên, Luật quy định cụ thể các căn cứ để Toà án tạm thời đình chỉ tố tụng (các căn cứ pháp lý), đó là khi vắng mặt bị can bị truy tố hoặc khi có cản trở mang tính cá nhân khác ngăn cản việc đưa vụ án ra xét xử trong một thời hạn đáng kể (Điều 205 - Chấm dứt tạm thời) Cũng thuộc các căn cứ pháp lý để đình chỉ tố tụng (phân biệt với tạm thời đình chỉ và cũng có nghĩa là từ chối xét xử)
đó là khi có một cản trở mang tính thủ tục phát sinh sau khi đã có quyết định đưa
vụ án ra xét xử; khi một chuẩn mực hình sự áp dụng vào thời điểm thực hiện tội phạm được sửa đổi trước khi ra quyết định; và nếu tố tụng đang bị tạm hoãn tại toà án hình sự liên quan đến một tội phạm bị xử phạt theo luật cũ nhưng không
bị xử phạt theo luật mới Có thể hiểu là việc sửa đổi luật diễn ra trong thời gian tạm hoãn tố tụng Do đó khi có căn cứ thì Toà án phải ra lệnh đình chỉ tố tụng Các quyết định đình chỉ tố tụng này đều có thể bị khiếu nại trong thời hạn ngắn
Trang 33nhất (Điều 206a - Chấm dứt mở phiên toà khi cản trở tố tụng và Điều 206b - Chấm dứt thủ tục tố tụng khi luật pháp có sửa đổi) Trường hợp sau khi có quyết định từ chối xét xử mà phát hiện các tình tiết hoặc chứng cứ mới thì có thể phục hồi tố tụng (Điều 211- Hiệu lực quyết định từ chối mở thủ tục chính)
Nhìn chung, trong giai đoạn tiền xét xử (ở Đức không có khái niệm về giai đoạn truy tố) có thể thấy rằng, Công tố viên có nhiều thẩm quyền hơn so với cảnh sát đối với việc ra lệnh áp dụng các biện pháp cưỡng chế tố tụng trong giai đoạn tiền xét xử
Kết quả là trong suốt giai đoạn tiền xét xử, không chỉ thẩm quyền của Công tố viên mà cả những quyết định bãi bỏ tố tụng (đình chỉ) của họ đều là đối tượng kiểm soát của Thẩm phán tiền xét xử.Tuy nhiên, dưới góc độ phương pháp và chủ động trong hoạt động điều tra, công tố viên độc lập và hoàn toàn chịu trách nhiệm Do đó, Công tố viên có quyền kiểm soát cảnh sát, bao gồm cả quyền chỉ đạo hoạt động điều tra, đưa ra các hướng dẫn, được thông báo về tiến độ điều tra và ra các lệnh để cảnh sát thực hiện nếu các hoạt động điều tra liên quan, ảnh hưởng đến các quyền cơ bản của công dân
Một điểm đáng lưu ý nữa trong giai đoạn tiền xét xử là Thẩm phán của Đức khi tham gia tiến hành tố tụng có các chức năng khác nhau trong giai đoạn tiền xét xử và xét xử Ở giai đoạn điều tra, Thẩm phán tiền xét xử (chứ không phải là công tố viên) thực hiện chức năng kiểm soát đối với các cơ quan có chức năng điều tra Bất chấp vai trò chỉ đạo của công tố viên đã được BLTTHS quy định, thì công tố viên không thể ra tất cả các mệnh lệnh áp dụng các biện pháp cưỡng chế và hầu hết thẩm quyền áp dụng các biện pháp cưỡng chế tố tụng nghiêm khắc nhất thuộc về Thẩm phán tiền xét xử Thẩm phán có quyền xem xét tính hợp pháp của các biện pháp do Công tố viên áp dụng, chứ không chỉ xem xét tính cần thiết của các biện pháp đó Tuy nhiên, thẩm phán không có quyền thực hiện điều tra tư pháp Nếu thông tin mà thẩm phán yêu cầu chưa được đáp ứng đủ thì Thẩm phán phải đề nghị cảnh sát hoặc
Trang 34Công tố viên cung cấp thêm bằng chứng
Khác với luật tố tụng Việt Nam, các quy định liên quan đến xét xử vụ
án hình sự của Toà án tại phiên toà được quy định ở phần thủ tục xét xử Bộ luật tố tụng hình sự CHLB Đức quy định về các quyết định và thông báo của Toà án (Chương IV) ở phần những quy định chung Bên cạnh đó, Luật tố tụng hình sự của Liên bang Đức không quy định cụ thể về thẩm quyền, thủ tục và các căn cứ để Toà án trả hồ sơ vụ án hình sự để điều tra bổ sung cho Viện công tố, cũng như quy định thời gian Viện công tố phải hoàn thành hồ sơ điều tra bổ sung[56,tr.14]
1.2.2 Quy định về trả hồ sơ để điều tra bổ sung của Liên bang Nga
Bộ luật tố tụng hình sự Liên bang Nga được ĐuMa quốc gia thông qua ngày 22/11/2001 và được Hội đồng Liên bang phê chuẩn ngày 5/12/2001.Bộ luật gồm 18 Chương 473 Điều Chức năng, nhiệm vụ và thẩm quyền xét xửcủa Toà án được quy định tại Mục 5 Chương II – Các chủ thể tham gia tố tụng hình sự Theo quy định của Bộ luật tố tụng Liên bang Nga thì Toà án không phải là cơ quan truy tố hình sự, không thuộc bên buộc tội hoặc bên bào chữa Toà án tạo điều kiện cần thiết để các bên thực hiện các nghĩa vụ tố tụng của mình thực hiện các quyền được giao cho họ
Điều 30 Khoản 2 quy định: Toà án cấp sơ thẩm xét xử vụ án hình sự với thành phần sau:
1
2 Thẩm phán Toà án liên bang thẩm quyền chung và Đoàn bồi thẩm gồm 12 thành viên xét xử những vụ án theo yêu cầu của bị can về những tội phạm quy định tại khoản 3 Điều 31 Bộ luật này
Điều 227 quy định – Quyền hạn của Thẩm phán đối với vụ án hình sự
được chuyển đến Toà án:
1 Đối với vụ án được chuyển đến Toà án Thẩm phán ra một trong
Trang 35những quyết định sau:
1) Chuyển vụ án theo thẩm quyền xét xử
2) Tiến hành điều tra sơ bộ
3) Đưa vụ án ra xét xử
2 Quyết định của Thẩm phán được thể hiện ở bản quyết định, trong đó nêu rõ:
1) Thời gian và địa điểm ra quyết định
2) Tên của Toà án, họ, tên, Thẩm phán ra quyết định
3) Những căn cứ của việc ra quyết định
3 Quyết định được ban hành trong thời hạn không quá 30 ngày kể từ ngày vụ án được chuyển đến Toà án Nếu trong vụ án có bị can bị tạm giam thì Thẩm phán ra quyết định trong thời hạn không quá 14 ngày kể từ ngày vụ
án được chuyển đến Toà án Yêu cầu của các bên về việc nghiên cứu bổ sung
hồ sơ vụ án trong thời hạn nói trên được Thẩm phán xem xét giải quyết theo thủ tục quy định tại Mục 15 Bộ luật này
Khoản 2 Điều 229 - Những căn cứ tiến hành điều tra sơ bộ quy định: Khi có căn cứ để trả lại vụ án cho Kiểm sát viên trong những trường hợp quy định tại Điều 237 Bộ luật này
Điều 236 quy định - Những quyết định do Thẩm phán ban hành khi kiểm tra sơ bộ
1 Căn cứ kết quả thẩm tra sơ bộ Thẩm phán ra một trong những quyết định sau:
1)
2) Về việc trả hồ sơ vụ án cho Kiểm sát viên
2 Phán quyết của Thẩm phán thể hiện dưới hình thức bản quyết định phù hợp với những yêu cầu quy định tại Khoản 2 Điều 227 Bộ luật này
Điều 237 quy định - Trả hồ sơ cho Kiểm sát viên
Trang 361.Thẩm phán tự mình hoặc theo yêu cầu của một trong các bên trả lại
hồ sơ vụ án cho Kiểm sát viên để khắc phục những trở ngại trong việc xét xử của Toà án trong những trường hợp, nếu:
1) Việc lập Cáo trạng hoặc quyết định truy tố vi phạm những quy định của Bộ luật này dẫn đến Toà án không có khả năng ra bản án hoặc quyết định dựa trên cơ sở bản Cáo trạng hoặc quyết định truy tố đó
2) Bản sao bản Cáo trạng hoặc quyết định truy tố không được giao cho
3 Trong trường hợp trả hồ sơ vụ án cho Kiểm sát viên, Thẩm phán quyết định vấn đề về biện pháp ngăn chặn đối với bị can
Khoản 2 Điều 238 quy định - Tạm đình chỉ giải quyết vụ án
1.Thẩm phán ra quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án:
1) Trong trường hợp bị can bỏ trốn và không biết được họ đang ở đâu
2 Trong trường hợp quy định tại điểm 1 khoản 1 Điều này Thẩm phán tạm đình chỉ giải quyết vụ án và nếu bị can bị tạm giam bỏ trốn, thì trả hồ sơ cho Kiểm sát viên và giao cho Kiểm sát viên bảo đảm việc truy nã hoặc bị can không bị tạm giam nhưng bỏ trốn, thì áp dụng biện pháp tạm giam đối với họ
và giao cho Kiểm sát viên bảo đảm việc truy nã họ
Như vậy, thẩm quyền ra quyết định trả hồ sơ là Thẩm phán và chủ thể nhận hồ sơ là Kiểm sát viên Khi nhận hồ sơ, trong quá trình nghiên cứu nếu thấy cần phải trả hồ sơ để điều tra bổ sung về tố tụng (tức là việc lập cáo trạng
có vi phạm tố tụng dẫn đến Toà án không có khả năng ra bản án) hoặc bị can
Trang 37bỏ trốn phải ra quyết định truy nã Thẩm phán cũng có thể trả hồ sơ cho Kiểm sát viên theo yêu cầu của các bên tham gia tố tụng nếu có căn cứ cho rằng việc lập Cáo trạng có vi phạm Khi trả hồ sơ cho Kiểm sát viên thì Thẩm phán phải ra quyết định nêu rõ nội dung trả hồ sơ để điều tra bổ sung và giao trách nhiệm cho Kiểm sát viên trong thời hạn 05 ngày phải bảo đảm khắc phục những vi phạm đó
Những quy định về thẩm quyền, thủ tục và thời hạn của việc trả hồ sơ
để điều tra bổ sung của Toà án cấp sơ thẩm rất cụ thể, rõ ràng làm cho quá trình giải quyết vụ án được nhanh chóng đảm bảo đúng các quy định của pháp luật Đây là điểm khác biệt so với quy định tương ứng trong pháp luật nước ta [19,tr.10]
1.2.3 Quy định về trả hồ sơ để điều tra bổ sung của Cộng hoà nhân dân Trung Hoa
Bộ luật tố tụng của nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa được thông qua tại Kỳ họp thứ hai Đại hội Đại biểu nhân dân Toàn quốc lần thứ 5 ngày
01 tháng 7 năm 1979 và được sửa đổi theo quyết định sửa đổi Luật tố tụng hình sự cua nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa thông qua tại Kỳ họp thứ tư Đại biểu Nhân dân Toàn Quốc lần thứ 8 ngày 17 tháng 3 năm 1996, có hiệu lực thi hành kể từ ngày 1/1/1997 Bộ luật bao gồm 4 phần Phần thứ 1: Những quy định chung gồm 9 Chương 82 Điều; Phần thứ 2: Khởi tố vụ án, Điều tra
và Truy tố, gồm 3 Chương 10 Mục 53 điều; Phần thứ 3: Xét xử, gồm 5 Chương 68 Điều; Phần thứ 4: Thi hành án, 17 điều và điều khoản bổ sung
Thẩm quyền và thủ tục xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự của Toà án được quy định tại Phần thứ 3: Xét xử
Điều 5 quy định: Toà án nhân dân thực hành quyền tư pháp độc lập theo quy định của pháp luật và Viện kiểm sát nhân dân thực hành quyền công
tố độc lập theo quy định của pháp luật và không bị can thiệp bởi bất kỳ cơ
Trang 38quan hành chính, tổ chức hoặc cá nhân nào
Điều 19 quy định: Toà án nhân dân sơ cấp có thẩm quyền xét xử sơ thẩm những vụ án hình sự thông thường, trừ những vụ án thuộc thẩm quyền của Toà án nhân dân cấp trên theo quy định của Bộ luật này
Điều 150 quy định: Sau khi thẩm tra vụ án đã đề nghị truy tố, Toà án nhân dân quyết định mở phiên toà xét xử nếu cáo trạng đã nêu được đầy đủ các tình tiết, chứng cứ phạm tội rõ ràng ngoài ra còn có danh sách chứng cứ và nhân chứng cũng như bản sao hoặc ảnh của các chứng cứ quan trọng đi kèm
Điều 158 quy định: Trong quá trình xét xử tại toà, nếu Hội đồng xét xử
có nghi ngờ về chứng cứ thì có thể tuyên bố hoãn để tiến hành điều tra kiểm tra chứng cứ
Điều 159 quy định: Trong quá trình xét xử tại phiên toà, các bên đương
sự, người bào chữa và người có quyền và nghĩa vụ liên quan đến vụ án phải
có quyền yêu cầu triệu tập nhân chứng mới, thu thập chứng cứ mới, giám định
bổ sung và các yêu cầu khác
Điều 165 quy định: Có thể tạm dừng xét xử nếu xảy ra một trong những tình huống ảnh hưởng đến tiến trình xét xử như sau:
1 Nếu cần triệu tập người làm chứng mới, thu thập chứng cứ mới, giám định bổ sung hoặc thẩm tra khác
2 Nếu Kiểm sát viên thấy rằng vụ án mình truy tố cần điều tra bổ sung,
và kiến nghị điều này, hoặc 3 Nếu việc xét xử không thể tiếp tục vì một bên đương sự đề nghị thay đổi một nhân viên tư pháp
Điều 166 quy định: Nếu việc xét xử vụ án bị tạm đình chỉ theo quy định tại đoạn (2) Điều 165 Luật này, Viện kiểm sát nhân dân phải hoàn tất việc điều tra bổ sung trong vòng một tháng
Điều 168 quy định: Đối với vụ án Viện kiểm sát phải tiến hành điều tra bổ sung, Toà án phải bắt đầu tính thời hạn giải quyết mới sau khi hoàn tất
Trang 39việc điều tra bổ sung và vụ án đã được chuyển sang cho mình
Qua nghiên cứu các quy định về trả hồ sơ để điều tra bổ sung của Toà
án sơ cấp, có thể thấy thủ tục trả hồ sơ điều tra bổ sung của Toà án chỉ được
thực hiện tại phiên toà nếu thấy cần bổ sung về chứng cứ hoặc giám định lại
về nội dung nào đó thì Thẩm phán ra quyết định trả hồ sơ Việc yêu cầu để
điều tra bổ sung có thể là Kiểm sát viên thực hành quyền công tố tại phiên toà
hoặc có thể là do yêu cầu của một bên đương sự tham gia tố tụng Mặc dù
những quy định về thủ tục và căn cứ trả hồ sơ để điều tra bổ sung còn quy
định chung chung, chưa cụ thể nhưng Luật tố tụng của Cộng hoà nhân dân
Trung Hoa lại quy định rất cụ thể thời hạn Viện kiểm sát phải điều tra bổ
sung, theo yêu cầu của Thẩm phán và cách tính thời hạn Toà án phải mở
phiên toà xét xử khi hồ sơ điều tra bổ sung được chuyển sang [57,tr.33]
Trang 40Chương 2 CHẾ ĐỊNH TRẢ HỒ SƠ ĐỂ ĐIỀU TRA BỔ SUNG VÀ THỰC TRẠNG TRẢ HỒ SƠĐỂ ĐIỀU TRA BỔ SUNG TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH PHÚ THỌ
2.1 Quy định của pháp luật tố tụng hình sự về trả hồ sơ để điều tra
về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật tại Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020) [2,tr.11]
Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2005 nhấn mạnh:
Xây dựng nền tư pháp trong sạch, vững mạnh, dân chủ, nghiêm minh, bảo vệ công lý, từng bước hiện đại, phục vụ nhân dân, phụng sự Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa; hoạt động tư pháp mà trọng tâm chính là hoạt động xét xử được tiến hành có hiệu quả cao xác định Tòa án có vị trí trung tâm vàxét xử là hoạt động trọng tâm[1.tr12]
Theo tinh thần cải cách tư pháp đó, ngành Tòa án đã từng bước thực hiện việc tranh tụng tại phiên tòa
Chế định trả hồ sơ để điều tra bổ sung nhìn từ khía cạnh tích cực thì cũng góp phần vào công cuộc cải cách tư pháp do sự thận trọng của Viện kiểm