Vừa qua, Bộ luật hình sự BLHS mới năm 2015, sửa đổi năm 2017 đã có nhiều sửa đổi, bổ sung quan trọng so với BLHS năm 1999, sửa đổi năm 2009 để góp phần giải quyết những tồn tại, vướng
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
NGUYỄN HUY HOÀNG
CĂN Cứ MIễN TRáCH NHIệM HìNH Sự THEO LUậT HìNH Sự VIệT NAM
(Trên cơ sở thực tiễn địa bàn tỉnh phú Thọ)
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
NGUYỄN HUY HOÀNG
CĂN Cứ MIễN TRáCH NHIệM HìNH Sự THEO LUậT HìNH Sự VIệT NAM
(Trên cơ sở thực tiễn địa bàn tỉnh phú Thọ)
Chuyờn ngành: Luật hỡnh sự và tố tụng hỡnh sự
Mó số: 60 38 01 04
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Cỏn bộ hướng dẫn khoa học: TS TRỊNH TIẾN VIỆT
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn này là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi Các kết quả trong luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong khóa luận tốt nghiệp đảm bảo độ tin cậy, chính xác và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật- Đại học Quốc gia Hà Nội
Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể bảo vệ Luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
NGƯỜI CAM ĐOAN
Nguyễn Huy Hoàng
Trang 4NHIỆM HÌNH SỰ THEO LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM 8 1.1 Khái niệm, những đặc điểm của căn cứ miễn trách nhiệm
hình sự 8
1.1.1 Khái niệm căn cứ miễn trách nhiệm hình sự 8 1.1.2 Những đă ̣c điểm của căn cứ miễn trách nhiê ̣m hình sự 12 1.1.3 Ý nghĩa của việc quy định căn cứ miễn trách nhiệm hình sự
trong luật hình sự Việt Nam 15
1.2 Khái quát lịch sử lập pháp hình sự Việt Nam của quy định về
căn cứ miễn trách nhiệm hình sự từ sau Cách mạng tháng Tám năm 1945 đến trước năm 1999 18
1.2.1 Giai đoạn từ sau năm 1945 đến trước năm 1985 18 1.2.2 Giai đoạn từ sau năm 1985 đến trước năm 1999 23
1.3 Quy định về căn cứ miễn trách nhiệm hình sự trong Bộ luật
hình sự một số nước trên thế giới 25
1.3.1 Quy định về căn cứ miễn trách nhiệm hình sự trong Bộ luâ ̣t hình
sự Liên bang Nga 25 1.3.2 Quy định về căn cứ miễn trách nhiệm hình sự trong Bộ luâ ̣t hình
sự Nhâ ̣t Bản 27 1.3.3 Quy định về căn cứ miễn trách nhiệm hình sự trong Bộ luâ ̣t hình
Trang 5Chương 2: QUY ĐỊNH VỀ CĂN CỨ MIỄN TRÁCH NHIỆM HÌNH
SỰ TRONG BỘ LUẬT HÌNH SỰ NĂM 1999 VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH PHÚ THỌ 32 2.1 Quy định về căn cứ miễn trách nhiệm hình sự trong phần
chung Bộ luật hình sự năm 1999 32
2.1.1 Căn cứ miễn trách nhiê ̣m hình sự trong trường hợp t ự ý nửa
chừng chấm dứt việc phạm tội 32 2.1.2 Căn cứ miễn trách nhiê ̣m hình sự trong trường hợp do sự chuyển
biến của tình hình 33 2.1.3 Căn cứ miễn trách nhiê ̣m hình sự trong trường hợp do hành vi có
ích của người phạm tội sau khi thực hiện tội phạm 36 2.1.4 Căn cứ miễn trách nhiê ̣m hình sự trong trư ờng hợp khi có quyết
định đại xá 38 2.1.5 Căn cứ miễn trách nhiê ̣m hình sự trong căn cứ trư ờng hợp đối
với người chưa thành niên phạm tội 39
2.2 Quy định về căn cứ miễn trách nhiệm hình sự trong phần
các tội phạm Bộ luật hình sự năm 1999 40
2.2.1 Căn cứ miễn trách nhiê ̣m hình sự trong trường hợp đối với người
phạm tội gián điệp 40 2.2.2 Căn cứ miễn trách nhiê ̣m hình sự trong trư ờng hợp người phạm
tội đưa hối lộ 42 2.2.3 Căn cứ miễn trách nhiê ̣m hình sự trong trư ờng hợp người phạm
tội làm môi giới hối lộ 43 2.2.4 Căn cứ miễn trách nhiê ̣m hình sự trong trư ờng hợp người phạm
tội không tố giác tội phạm 45
2.3 Thực tiễn áp dụng quy định về căn cứ miễn trách nhiệm
hình sự trong Bộ luật hình sự năm 1999 trên địa bàn tỉnh Phú Thọ 46
2.3.1 Khái quát chung về tình chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội… trên
địa bàn tỉnh Phú Thọ 46
Trang 62.3.2 Tình hình áp dụng quy định về căn cứ miễn trách nhiệm hình sự
trong Bộ luật hình sự trên địa bàn tỉnh Phú Thọ của Cơ quan Điều tra, Viện kiểm sát và Tòa án 49 2.3.3 Một số tồn tại, hạn chế trong thực tiễn áp dụng và các nguyên
nhân cơ bản 60
Chương 3: TIẾP TỤC HOÀN THIỆN QUY ĐỊNH VỀ CĂN CỨ
MIỄN TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ TRONG BỘ LUẬT HÌNH
SỰ NĂM 2015 VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ NÂNG CAO HIỆU QUẢ ÁP DỤNG 66 3.1 Những điểm mới của quy định về căn cứ miễn trách nhiệm
hình sự trong Bộ luật hình sự năm 2015 và một số vấn đề đặt
ra cần tiếp tục hoàn thiện 66
3.1.1 Những điểm mới của quy định về căn cứ miễn trách nhiệm hình
sự trong Bộ luật hình sự năm 2015 66 3.1.2 Một số vấn đề đặt ra cần tiếp tục hoàn thiện quy định về căn cứ
miễn trách nhiệm hình sự trong Bộ luật hình sự năm 2015 74
3.2 Nội dung tiếp tục hoàn thiện quy định về căn cứ miễn trách
nhiệm hình sự trong Bộ luật hình sự năm 2015 80
3.2.1 Các yêu cầu của việc tiếp tục hoàn thiện quy định về căn cứ
miễn trách nhiệm hình sự trong Bộ luật hình sự năm 2015 80 3.2.2 Một số đề xuất tiếp tục hoàn thiện quy định về căn cứ miễn trách
nhiệm hình sự trong Bộ luật hình sự năm 2015 85
3.3 Các giải pháp khác bảo đảm áp dụng quy định về miễn
TNHS theo PHLS Việt Nam 93
3.3.1 Sự tham gia của các cơ quan, tổ chức và gia đình người được
miễn trách nhiệm hình sự để giám sát, quản lý và giáo dục 93 3.3.2 Nâng cao ý thức pháp luật, năng lực, trình độ chuyên môn của
nghiê ̣p vu ̣ của người có thẩm quyền áp du ̣ng căn c ứ miễn trách
Trang 73.3.3 Tăng cường hiệu quả của Viện kiểm sát trong việc đình chỉ điều
tra, đình chỉ vụ án do có căn cứ miễn trách nhiệm hình sự 96 3.3.4 Tăng cường hợp tác quốc tế trong trao đổi kinh nghiê ̣m lý luâ ̣n
và thực tiễn về miễn trách nhiệm hình sự 98
KẾT LUẬN 100 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 102
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU ĐỒ
Bảng 2.1 Số bị can , bị cáo được áp dụng miễn TNHS trên đi ̣a
bản tỉnh Phú Thọ giai đoạn 10 năm (2007 - 2016) 50 Bảng 2.2 Số bị can, bị cáo được miễn TNHS là người chưa
thành niên phạm tội theo Điều 69 - BLHS trên địa bàn tỉnh Phú Thọ giai đoạn 10 năm (2007 - 2016) 52 Bảng 2.3 Số bị can, bị cáo được miễn TNHS do chuyển biến về
tình hình (khoản 1 Điều 25 BLHS năm 1999) trên địa bàn tỉnh Phú Thọ giai đoạn 10 năm (2007- 2016) 53 Bảng 2.4 Số bị can, bị cáo được miễn TNHS do hành vi có ích
của bị can, bị cáo sau khi thực hiện tội phạm (khoản 2 Điều 25 BLHS 1999) trên địa bàn tỉnh Phú Thọ trong
Bảng 2.5 Số bị can, bị cáo được miễn TNHS do tự ý nửa chừng
chấm dứt việc phạm tội theo Điều 19 BLHS 1999 trên địa bàn tỉnh Phú Thọ giai đoạn 10 năm (2007 - 2016) 57 Bảng 2.6 Số bị can, bị cáo được miễn TNHS theo các căn cứ
miễn TNHS khác trong BLHS năm 1999 trên địa bàn tỉnh Phú Thọ giai đoạn 10 năm (2007 - 2016) 57 Bảng 2.7 Các tội phạm được miễn TNHS theo các điều luật trên
địa bàn tỉnh Phú Thọ giai đoạn 10 năm (2007 - 2016) 58 Biểu đồ 2.1 Tỷ lệ bị can, bị cáo được miễn TNHS theo các căn cứ
trong BLHS Việt Nam trên địa bàn tỉnh Phú Thọ giai
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Tiếp tục hoàn thiện Hiến pháp và hệ thống pháp luật phục vụ cho công cuộc đổi mới trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội được coi là một trong những nhiệm vụ cấp bách của Nhà nước ta hiện nay, tiến tới xây dựng một Nhà nước pháp quyền XHCN thực sự là Nhà nước của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân Trong Nhà nước pháp quyền, pháp luật luôn luôn là một công cụ quan trọng để Nhà nước thực hiện sự quản lý đối với toàn xã hội, đồng thời pháp luật cũng là một công cụ để củng cố và bảo vệ sự tồn tại của Nhà nước Điều đặc biệt hơn chính là quyền con người, quyền công dân được coi trọng và bảo đảm và đã được đề cập trong một Chương II Hiến pháp năm
2013 Mọi hoạt động của Nhà nước, của cá nhân nào đó đi ngược lại với lợi ích hợp pháp của con người, xâm phạm tới quyền công dân đã được Hiến pháp và pháp luật quy định đều phải bị lên án và bị xử lý nghiêm khắc Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI (2011) và sau đó là lần thứ XII (2016) của Đảng Cộng sản Việt Nam đã đề ra:
Đẩy mạnh việc thực hiện Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020, xây dựng hệ thống tư pháp trong sạch, vững mạnh,
bảo vệ công lý, tôn trọng và bảo vệ quyền con người Hoàn thiện
chính sách, pháp luật về hình sự và về tổ chức bộ máy các cơ
quan tư pháp, bảo đảm tính khoa học, đồng bộ, đề cao tính độc lập, khách quan, tuân thủ pháp luật của từng cơ quan và chức danh tư pháp [19, tr.250], hạn chế tiến tới đẩy lùi tội phạm và giảm tác hại của tệ nạn xã hội [19, tr.80]
Pháp luật hình sự là công cụ hữu hiệu để đấu tranh , phòng chống tội phạm, góp phần bảo vệ trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa Mục đích truy cứu
Trang 11trách nhiệm hình sự (TNHS) với phương châm, mọi hành vi phạm tội đều bị phát hiện và xử lý nghiêm minh , kịp thời và đúng pháp luật Tuy nhiên, mục tiêu truy cứu TNHS đối với người thực hiê ̣n hành vi pha ̣m tô ̣i cần được đă ̣t trong mối quan hê ̣ với viê ̣c khoan hồng , giáo dục thuyết phu ̣c như nguyên tắc
xử lý của luâ ̣t hình sự “ nghiêm trị kết hợp với khoan hồng, trừng trị kết hợp
với giáo dục thuyết phục”, cũng như phản ánh yêu cầu - “không cần thiết phải truy cứu TNHS, mà vẫn bảo đảm yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm và
TNHS là một trong những chế định nhân đạo, phản ánh nguyên tắc phân hóa TNHS và các yêu cầu đó
Vừa qua, Bộ luật hình sự (BLHS) mới năm 2015, sửa đổi năm 2017 đã
có nhiều sửa đổi, bổ sung quan trọng so với BLHS năm 1999, sửa đổi năm
2009 để góp phần giải quyết những tồn tại, vướng mắc trong thực tiễn, qua
đó, nâng cao hiệu quả công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm, cũng như giáo dục, cải tạo người phạm tội như: Sửa đổi tên gọi, bổ sung cụm từ “căn cứ” vào nội dung Điều luật riêng về miễn TNHS cho rõ ràng; thiết kế lại theo
hướng quy định cụ thể các trường hợp đương nhiên được miễn TNHS (khoản 1) và các trường hợp có thể được miễn TNHS (khoản 2); bổ sung trường hợp
miễn TNHS do sự hòa giải giữa người phạm tội và người bị hại; cũng như sửa đổi, bổ sung một số trường hợp miễn TNHS trong Phần các tội phạm BLHS nhằm góp phần giải quyết những vướng mắc trong thực tiễn áp dụng, tạo cơ
sở pháp lý linh hoạt cho cơ quan tố tụng khi xét thấy không cần thiết phải truy cứu TNHS, trong một số trường hợp nhất định
Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy, hiện tượng sai hay bỏ lọt tội phạm, nhầm lẫn giữa miễn TNHS với trường hợp giảm nhẹ TNHS hoặc cho miễn TNHS
để tránh bồi thường oan, sai vẫn xảy ra; v.v Do đó, lợi ích của con người, của xã hội và của Nhà nước ở một góc độ nào đó chưa kịp thời được bảo đảm,
Trang 12hiệu quả đấu tranh phòng, chống tội phạm còn chưa cao Nguyên nhân của tình hình trên là do có sự nhận thức về các căn cứ miễn TNHS chưa đúng và
cơ quan tiến hành tố tụng nghiên cứu chưa kỹ các tình tiết của vụ án Cùng với đó, một số tồn tại, vướng mắc trong quy định của BLHS năm 1999, sửa đổi năm 2009 vẫn chưa được khắc phục hết và việc tổ chức thi hành, hướng dẫn quy định của BLHS năm 2015 cũng là đòi hỏi quan trọng Bởi lẽ, với các căn cứ miễn TNHS được quy đi ̣nh ta ̣i Phần chung (nay là Phần các quy định chung) và Phần các tội phạm BLHS thì việc miễn TNHS luôn là vấn đề được quan tâm trong hoa ̣t đô ̣ng áp du ̣ng pháp luâ ̣t hì nh sự Bởi lẽ, hoạt động này nếu không được tiến hành dựa trên cơ sở các căn cứ luâ ̣t đi ̣nh , trình tự thủ tục chă ̣t chẽ sẽ dẫn đến viê ̣c vi pha ̣m chính sách hình sự, ảnh hưởng tới quyền của người bi ̣ ha ̣i, quyền và lợi ích của nhà nước
Do đó, viê ̣c nghiên cứu làm rõ các căn cứ miễn TNHS và hoa ̣t đô ̣ng áp dụng trên thực tiễn, cũng như đánh giá những điểm mới của BLHS năm 2015, sửa đổi năm 2017 để tổ chức thi hành tốt có vai trò quan tro ̣ng nhằm khắc phục ha ̣n chế , bất câ ̣p , tạo lập chính sách hình sự với phương châm xét xử đúng người , đúng tô ̣i , đúng pháp luâ ̣t có ý nghĩa rất quan tro ̣ng trong giai đoa ̣n hiê ̣n nay Từ những lý do đã nêu trên, học viên quyết định lựa chọn đề
tài: “Căn cứ miễn trách nhiệm hình sự theo Luật hình sự Việt Nam (trên cơ
sở thực tiễn địa bàn tỉnh Phú Thọ)” làm luận văn thạc sĩ luật học của mình
2 Tình hình nghiên cứu
Nghiên cứu chủ đề về “miễn TNHS” và căn cứ miễn TNHS cho thấy đã
có nhiều công trình nghiên cứu trực tiếp và gián tiếp về vấn đề này được thể hiê ̣n trên các công trình nghiên cứu như sau:
Một là, các công trình nghiên cứu trong các sách chuyên khảo , tham
khảo, giáo trình, có thể kể đến một số tác phẩm như : (i) GS TSKH Lê Văn Cảm, Mục III - Chế định miễn TNHS, Chương 8, trong Sách chuyên khảo
Trang 13Sau đại học: Những vấn đề cơ bản trong khoa học luật hình sự (Phần chung),
Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, 2005; (ii) GS TSKH Lê Cảm (chủ biên),
TNHS và miễn TNHS, Nxb Tư pháp, Hà Nội, 2005; (iii) TS Trịnh Tiến Việt,
Chương 3, Trong sách: Tội phạm và TNHS, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội,
2013 và (iv) TS Trịnh Tiến Việt, Pháp luật hình sự Việt Nam về miễn TNHS
và thực tiễn áp dụng, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, 2013; v.v…
Hai là, các công trình nghiên cứu ở cấp đô ̣ bài viết đăng trên các ta ̣p
chí chuyên ngành luật , có thể kể đến một số bài viết như : (i) GS TSKH Lê
Cảm, Về các dạng miễn TNHS được quy định tại Điều 25 BLHS Việt Nam
năm 1999, Tạp chí Tòa án nhân dân, số 01/2001; (ii) GS TSKH Lê Cảm, TS
Trịnh Tiến Việt, Phân biệt miễn TNHS và miễn hình phạt, Tạp chí Khoa học pháp lý, số 2/2004; (iii) PGS TS Nguyễn Ngọc Chí, Chế định miễn TNHS
trong luật hình sự Việt Nam, Tạp chí Khoa học (chuyên san Luật), số 4/1997;
(iv) GS TS Lê Thị Sơn, TNHS và miễn TNHS, Tạp chí Luật học, 5/1997; (v) PGS TS Phạm Hồng Hải, Về chế định miễn TNHS trong BLHS năm 1999, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, số 12/2001; (vi) TS Trịnh Tiến Việt, Hoàn
thiện các quy định về miễn TNHS, miễn hình phạt, miễn chấp hành hình phạt
và án treo, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp , số 11, 12(6)/2013; (vii) TS Trịnh
Tiến Viê ̣t, Về khái niê ̣m miễn TNHS , Tạp chí Khoa học, chuyên san Luâ ̣t học
số 23/2007; (viii) TS Trịnh Tiến Việt, Miễn TNHS theo BLHS năm 2015 và
những vấn đề đặt ra trong quá trình áp dụng, Tạp chí Luật học, số 7/2016;
(ix) Lê Văn Sua, Miễn TNHS sự theo quy đi ̣nh của BLHS 2015 và kiến nghị,
Tạp chí Dân chủ và pháp luật, số 5/2016; v.v
Ba là, các công trình nghiên cứu ở cấ p đô ̣ luâ ̣n án , luâ ̣n văn về miễn
TNHS Đầu tiên là công trình nghiên cứu mang tính chất đầy đủ , chi tiết nhất
về chế đi ̣nh này là Luâ ̣n án tiến sĩ luâ ̣t ho ̣c của tác giả Tri ̣nh Tiến Viê ̣t “ Những
vấn đề lý luận và thực tiễn về miễn TNHS theo luật hình sự Việt Nam” tại
Trang 14Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội năm 2008; ngoài ra còn có một số luận
văn tha ̣c sĩ luâ ̣t ho ̣c như: tác giả Lê Thu Hiền, Mối liên hê ̣ giữa TNHS và miễn
TNHS, Khoa Luâ ̣t , Đa ̣i ho ̣c Quốc gia Hà Nô ̣i , năm 2009; tác giả Lê Ngọc
Duy, Miễn TNHS với người chưa thành thành niên phạm tội theo luật hình sự
Viê ̣t Nam , Khoa Luâ ̣t , Đa ̣i ho ̣c Quốc gia Hà Nô ̣i , năm 2012; tác giả Đặng
Ngọc Huy, Miễn TNHS theo luật hình sự Viê ̣t Nam và thực tiễ n áp dụng trên
đi ̣a bàn tỉnh Đắk Lắk, Khoa Luâ ̣t, Đa ̣i ho ̣c Quốc gia Hà Nô ̣i, năm 2015; v.v
Như vậy, các công trình nghiên cứu trên đây về cơ bản đã nghiên cứu
mô ̣t cách tổng thể cũng như chi tiết về chế đi ̣nh miễn TNHS , cũng như từng trường hợp miễn TNHS theo luâ ̣t hình sự Viê ̣t Nam và tiếp cận theo quy định của BLHS năm 1985 và BLHS năm 1999, sửa đổi năm 2009 Tuy nhiên, chưa
có công trình nào nghiên cứu cụ thể về các căn cứ miễn TNHS theo quy định của BLHS năm 2015, sửa đổi năm 2017, đánh giá và so sánh với BLHS năm
1999, sửa đổi năm 2009, đă ̣c biê ̣t dựa trên cơ sở số liê ̣u thực tiễn của mô ̣t đi ̣a bàn cụ thể là tỉnh Phú Thọ Do đó, viê ̣c học viên lựa chọn để nghiên cứu chủ
đề trên rõ ràng có tính thời sự cấp thiết
3 Mục đích và phạm vi nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Luận văn có mục đích làm sáng tỏ về phương diện lý luận các căn cứ miễn TNHS theo luật hình sự Việt Nam (gồm cả các căn cứ ở Phần chung và Phần các tô ̣i pha ̣m ) và việc áp dụng vào thực tiễn trên địa bàn tỉnh Phú Thọ , chỉ ra một số tồn tại , hạn chế và các nguyên nhân cơ bản , từ đó đề xuất tiếp tục hoàn thiện quy định BLHS năm 2015, sửa đổi năm 2017 về chế đi ̣nh đã nêu và một số kiến nghị khác nâng cao hiệu quả áp dụng, qua đó góp phần đấu tranh phòng, chống tội phạm và giáo dục, cải tạo người phạm tội
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Luận văn được thực hiện theo chuyên ngành Luật hình sự và tố tụng
Trang 15Luận văn có phạm vi nghiên cứu là vấn đề lý luận và thực tiễn về các căn cứ miễn TNHS theo luật hình sự Việt Nam (khái niệm, bản chất pháp lý
và nội dung cơ bản, có so sánh với quy định BLHS một số nước), đồng thời đánh giá thực tiễn áp dụng trên địa bàn tỉnh Phú Thọ trong giai đoạn 10 năm (2007 - 2016), chỉ ra một số tồn tại, hạn chế và các nguyên nhân cơ bản; đánh giá quy định của BLHS năm 2015, sửa đổi năm 2017 về chế định miễn TNHS, từ đó đề xuất tiếp tục hoàn thiện quy định của Bộ luật này, đồng thời
có một số kiến nghị khác nâng cao hiệu quả áp dụng các quy định đó trên đi ̣a bàn cả nước nói chung, tỉnh Phú Thọ nói riêng
4 Đối tượng và nhiệm vụ nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là một số vấn đề lý luận, quy định của BLHS năm 1999, sửa đổi năm 2009 (gọi tắt là BLHS năm 1999), BLHS năm 2015, sửa đổi năm 2007 (gọi tắt là BLHS năm 2015) và quy định một số nước; thực tiễn áp dụng căn cứ miễn TNHS trên địa bàn tỉnh Phú Tho ̣ trong
10 năm từ (2007 - 2016)
4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Từ đối tượng nghiên cứu đã nêu, luận văn có nhiệm vụ nghiên cứu sau đây: 1) Xây dựng khái niệm miễn TNHS, căn cứ miễn TNHS và phân tích ý nghĩa của việc quy định, cũng như làm sáng tỏ những đặc điểm cơ bản của căn cứ miễn TNHS;
2) Hệ thống hóa lịch sử hình thành và phát triển của quy định về căn cứ miễn TNHS theo luật hình sự Việt Nam để rút ra nhận xét , đánh giá làm bài học kinh nghiệm cho việc sửa đổi sau này;
3) Nghiên cứu, so sánh quy định BLHS Việt Nam năm 1999 với BLHS một số nước trên thế giới về căn cứ miễn TNHS để rút ra nhận xét, đánh giá đồng thời rút ra kinh nghiê ̣m lâ ̣p pháp cho nước ta;
Trang 164) Phân tích quy định BLHS năm 1999 về căn cứ miễn TNHS và đánh giá thực tiễn áp dụng trên địa bàn tỉnh Phú Thọ trong giai đoạn 10 năm (2007
- 2016) của những cơ quan tiến hành tố tụng, từ đó chỉ ra một số tồn tại, hạn chế và các nguyên nhân cơ bản;
5) Luận chứng và kiến nghị hoàn thiện quy định về căn cứ miễn TNHS
từ việc đánh giá quy định của BLHS năm 2015 và thực tiễn áp dụng, đồng thời cũng đưa ra kiến nghị nâng cao hiệu quả áp dụng các quy định đó trên đi ̣a
bàn cả nước nói chung và tỉnh Phú Thọ nói riêng
5 Cơ sở lý luận và các phương pháp nghiên cứu
5.1 Cơ sở lý luận
Luận văn dựa trên quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước ta trong đấu tranh phòng, chống tội phạm Đồng thời dựa trên những thành tựu của khoa học như: triết học, luật hình sự, luật tố tụng hình sự, Tội phạm học
5.2 Các phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu như: phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh, thống kê, hệ thống… để tổng hợp các tri thức khoa học luật hình sự và luận chứng các vấn đề tương ứng được nghiên cứu
Ngoài ra, việc nghiên cứu đề tài còn dựa vào thực tiễn xét xử cũng như số liệu của Cơ quan Điều tra, Viện kiểm sát và Tòa án trong giai đoạn
10 năm (2007 - 2016) trên địa bàn tỉnh Phú Thọ
6 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm ba chương với tên gọi như sau:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về căn cứ miễn TNHS
Chương 2: Quy định của BLHS năm 1999 về căn cứ miễn TNHS và
thực tiễn áp dụng trên địa bàn tỉnh Phú Thọ
Chương 3: Tiếp tục hoàn thiện quy định của BLHS năm 2015 về căn cứ
miễn TNHS và một số kiến nghị nâng cao hiệu quả áp dụng
Trang 17Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CĂN CỨ MIỄN TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ THEO LUẬT HÌNH SỰ
VIỆT NAM
1.1 Khái niệm, những đặc điểm của căn cứ miễn trách nhiệm hình sự
1.1.1 Khái niệm căn cứ miễn trách nhiệm hình sự
Miễn TNHS là một trong những chế định quan trọng của luật hình sự Việt Nam, có quan hệ chặt chẽ và gắn liền với chế định TNHS Chính vì vậy, trước khi làm rõ khái niệm căn cứ miễn TNHS cần thiết phải làm sáng tỏ khái niệm TNHS (i) và khái niệm miễn TNHS (ii)
* Khái niệm TNHS
Việc quy định miễn TNHS trong BLHS Việt Nam thể hiện phương châm đúng đắn của đường lối xử lý về hình sự, bảo đảm sự kết hợp hài hòa giữa các biện pháp cưỡng chế hình sự nghiêm khắc của Nhà nước với các biện pháp tác động xã hội khác để cải tạo, giáo dục người phạm tội, qua đó hạn chế áp dụng các biện pháp mang tính trấn áp về mặt hình sự Hơn nữa, nó thể hiện nguyên tắc
“nghiêm trị kết hợp với khoan hồng, trừng trị kết hợp với giáo dục, thuyết phục”
xuyên suốt trong chính sách hình sự của Nhà nước ta [62, tr.81]
Khái niệm, cơ sở và nội dung của miễn TNHS cũng xuất phát từ khái niệm, cơ sở và nội dung của TNHS Cho nên, để tìm hiểu khái niệm và bản chất pháp lý của miễn TNHS, thì không thể không xem xét khái niệm TNHS
và những nội dung xung quanh vấn đề này Bởi lẽ, việc nhận thức khoa học đúng đắn về TNHS sẽ tạo cơ sở vững chắc cho nhận thức về miễn TNHS Do vậy, trước khi đi vào nghiên cứu khái niệm và bản chất pháp lý của chế định miễn TNHS cần phải hiểu khái niệm và một số nội dung cơ bản xung quanh chế định TNHS trong luật hình sự Việt Nam
Trang 18Về khái niê ̣m TNHS , về cơ bản các quan điểm đều thống nhất về nội dung của nó (áp dụng đối với cá nhân người phạm tội) như:
TNHS là một dạng trách nhiệm pháp lý, là tổng hợp các quyền và nghĩa vụ của Nhà nước và người phạm tội, được thể hiện
ở các biện pháp tác động có tính chất pháp lý hình sự mà luật hình
sự quy định, áp dụng đối với người thực hiện tội phạm, bao gồm hình phạt và các biện pháp tác động có tính chất pháp lý hình sự khác không phải hình phạt và được bắt đầu từ khi truy cứu TNHS đối với một người[23, tr.8] hay TNHS là hậu quả pháp lý của việc thực hiện tội phạm và được thể hiện bằng việc áp dụng đối với người phạm tội một hoặc nhiều biện pháp cưỡng chế của Nhà nước
số biện pháp cưỡng chế hình sự khác do luật hình sự quy định; (iv) TNHS là trách nhiệm trước Nhà nước, kết quả của việc áp dụng các quy phạm pháp luật hình sự, được xác định và thực hiện theo một trình tự, thủ tục đặc biệt do pháp luật tố tụng hình sự quy định
Đồng thời, từ những đă ̣c điểm của TNHS, chúng ta cần phải nghiên cứu về cơ sở và những điều kiện của TNHS Cơ sở của TNHS là yêu tố quan tro ̣ng
Trang 19trong viê ̣c bảo đảm xác đi ̣nh đúng đắn TNHS đối với người pha ̣m tô ̣i GS.TSKH Lê Văn Cảm đã viết:
Cơ sở của TNHS là việc thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội mà luật hình sự quy định là tội phạm và Điều kiện của TNHS là căn cứ riêng cần và đủ, có tính chất bắt buộc và do luật hình sự quy định mà chỉ khi nào có tổng hợp tất cả chúng (các căn cứ riêng đó) thì một người mới phải chịu TNHS [5, tr.130]
Như vậy, một người chỉ phải chịu TNHS khi người đó có đầy đủ cơ sở và những điều kiện của TNHS về một tội phạm Song, trên thực tế có một số trường hợp mặc dù có đầy đủ cơ sở và những điều kiện của TNHS nhưng khi có căn cứ
và những điều kiện nhất định, thì một người đã phạm tội có thể bị truy cứu TNHS, có thể không phải chịu TNHS hoặc cũng có thể được miễn TNHS
Do đó, từ logíc này, có thể khẳng định rằng, khái niệm và cơ sở của miễn TNHS cũng xuất phát từ khái niệm và cơ sở của TNHS
* Khái niệm miễn TNHS
Là một trong những chế định quan trọng trong luật hình sự Việt Nam, miễn TNHS thể hiện chính sách khoan hồng, nhân đạo của Đảng và Nhà nước
ta đối với người phạm tội và hành vi do họ thực hiện, đồng thời qua đó nhằm động viên, khuyến khích người phạm tội lập công chuộc tội, chứng tỏ khả năng giáo dục, cải tạo nhanh chóng hòa nhập với cộng đồng và giúp họ trở thành người có ích cho xã hội Hiện nay, cũng giống như khái niệm TNHS, trong khoa học luật hình sự xung quanh khái niệm miễn TNHS vẫn tồn tại nhiều quan điểm khác nhau song cơ bản nội hàm là thống nhất, cụ thể là:
GS.TSKH Lê Văn Cảm định nghĩa: “Miễn TNHS là một chế định nhân
đạo của luật hình sự Việt Nam và được thể hiện bằng việc xóa bỏ hậu quả pháp lý của việc thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội bị luật hình sự cấm đối với người bị coi là có lỗi trong việc thực hiện hành vi đó” [6, tr.7];
Trang 20GS.TS Lê Thi ̣ Sơn cho rằng:
Miễn TNHS đối với người phạm tội có nghĩa là miễn truy cứu TNHS và đương nhiên kéo theo cả miễn phải chịu các hậu quả tiếp theo do việc thực hiện TNHS từ phía Nhà nước đem lại như: miễn bị kết tội, miễn phải chịu biện pháp cưỡng chế của TNHS và miễn bị mang án tích Trên thực tế có thể có trường hợp người phạm tội được Tòa án miễn TNHS trong giai đoạn xét xử Trong trường hợp này, miễn TNHS chỉ bao gồm miễn chịu biện pháp cưỡng chế của TNHS và miễn mang án tích [43, tr.19];
Gần đây, TS Trịnh Tiến Việt định nghĩa:
Miễn TNHS là trường hợp không buộc một người đáp ứng những điều kiện nhất định phải gánh chịu hậu quả pháp lý bất lợi do việc đã thực hiện hành vi phạm tội, mà vẫn bảo đảm yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm, cũng như công tác giáo dục, cải tạo người đó [64, tr.60]; v.v
Như vậy, về cơ bản các quan điểm trên đây về khái niệm miễn TNHS đều đầy đủ về nội dung, ngắn gọn và điều quan trọng là thống nhất trong việc khẳng định rõ được nội dung và bản chất pháp lý của nó Tuy nhiên, để đưa ra một khái niệm đầy đủ và chính xác về nội dung, ngắn gọn và nhất quán về mặt pháp lý, đồng thời phù hợp với thực tiễn và chính sách nhân đạo của Nhà nước, theo học viên, khái niệm miễn TNHS phải bao gồm các nội dung như: (i) Bản chất pháp
lý của nó (miễn TNHS) là gì; (ii) Thẩm quyền áp dụng; (iii) Đối tượng bị áp dụng là ai và; (iv) Đáp ứng căn cứ nào và (v) Mục đích áp dụng làm gì
Như vậy, dưới góc độ khoa học luật hình sự Việt Nam, theo học viên,
khái niệm đang nghiên cứu được định nghĩa như sau: Miễn TNHS là trường
hợp cơ quan tư pháp hình sự có thẩm quyền không buộc một người đáp ứng những căn cứ nhất định phải gánh chịu hậu quả pháp lý bất lợi do việc đã thực hiện hành vi phạm tội, mà vẫn bảo đảm yêu cầu đấu tranh phòng, chống
Trang 21* Khái niệm căn cứ miễn TNHS
Như vậy, từ khái niệm miễn TNHS, để một người không bị buộc phải gánh chịu hậu quả pháp lý bất lợi do việc đã thực hiện hành vi phạm tội trên những cơ sở chung mà lẽ ra người đó phải chịu, mà vẫn bảo đảm yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm, cũng như công tác giáo dục, cải tạo người đó, thì đòi hỏi phải có những căn cứ nhất định, đó là căn cứ pháp lý để miễn TNHS do luật định
“Căn cứ”, theo Từ điển tiếng Viê ̣t “ là cái làm chỗ dựa, làm cơ sở (để
lập luận hoặc hành động)” [29, tr.241] Còn theo Đại từ điển tiếng Việt, “căn
cứ” là: “1 Dựa vào đó để lập luận, hoạt động cho chắn chắn, chính xác; 2 Cái làm cơ sở để lập luận, hành động” [65, tr.200]
Do đó, từ khái niệm miễn TNHS và khái niệm căn cứ , dưới góc độ khoa học luật hình sự, theo học viên, khái niệm đang nghiên cứu được định
nghĩa như sau: Căn cứ miễn TNHS được hiểu là các tình tiết (hay các trường
hợp) mà chỉ có thể và cần dựa vào đó , các cơ quan tư pháp hình sự có thẩm quyền tùy thuộc vào giai đoạn tố tụng hình sự tương ứng sẽ ra quyết đi ̣nh miễn TNHS đối với người phạm tội
1.1.2 Những đặc điểm của căn cứ miễn trách nhiê ̣m hình sự
Trên cơ sở quy định của pháp luật hình sự Việt Nam và thực tiễn, căn
cứ miễn TNHS phản ánh những đặc điểm cơ bản sau đây:
* Căn cứ miễn TNHS là cơ sở pháp lý của miễn TNHS
Căn cứ miễn TNHS là tình tiết (hay trường hợp) mà chỉ có và cần dựa vào đó các cơ quan tư pháp hình sự có thẩm quyền tùy thuộc vào giai đoạn tố tụng hình sự tương ứng sẽ ra quyết định miễn TNHS đối với người phạm tội Nói một cách khác, các trường hợp miễn TNHS đều phải căn cứ vào các tình tiết, trường hợp và điều kiện cụ thể theo quy định của pháp luật Nếu các tình tiết, điều kiện khác không được quy định là căn cứ miễn TNHS thì không là
cơ sở pháp lý để được miễn TNHS
Trang 22* Căn cứ miễn TNHS là quy định phản ánh nguyên tắc nhân đạo của chính sách hình sự nói chung và trong pháp luật hình sự Việt Nam nói riêng
Theo đó, chỉ có thể được đặt ra đối với người nào là chủ thể của chính tội phạm ấy, đồng thời phải đáp ứng đầy đủ căn cứ pháp lý và những điều kiện trong từng trường hợp mà pháp luật hình sự hiện hành quy định, cũng như tùy thuộc vào từng trường hợp miễn TNHS đó là tùy nghi (lựa chọn) hay bắt buộc Bởi lẽ, ngay cả trường hợp khi có đầy đủ căn cứ pháp lý và những điều kiện quy định trong điều luật, nhưng nếu trường hợp đó là tùy nghi (lựa chọn) thì việc có áp dụng hay không áp dụng miễn TNHS đều do các cơ quan
tư pháp hình sự có thẩm quyền quyết định
* Căn cứ miễn TNHS do cơ quan tiến hành tố tụng có thẩm quyền quyết định phải được thể hiện bằng văn bản
Cụ thể, Cơ quan Điều tra ra quyết định đình chỉ điều tra (bằng văn bản) khi có căn cứ quy định tại Điều 19, Điều 25 và khoản 2 Điều 69 BLHS năm 1999; khoản 2 Điều 105 và Điều 107 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 Viện Kiểm sát ra quyết định đình chỉ vụ án (bằng văn bản) khi có một trong các căn cứ quy định tại Điều 19, Điều 25 và khoản 2 Điều 69 BLHS năm 1999; Điều 169 BLTTHS năm 2003 hoặc rút quyết định truy tố và đề nghị Tòa án đình chỉ vụ án theo Điều 181 BLTTHS năm 2003 Tòa án ra quyết định đình chỉ vụ án khi có căn cứ quy định tại Điều 19, Điều 25 và khoản 2 Điều 69 BLHS năm 1999; Điều 180 BLTTHS năm 2003
* Khi có đầy đủ căn cứ pháp lý do luật định để miễn TNHS thì người phạm tội không phải chịu TNHS
Điều này có nghĩa là không buộc người phạm tội phải chịu hậu quả pháp lý bất lợi của việc phạm tội đó mà lẽ ra người đó phải chịu TNHS theo quy định của pháp luật hình sự Điều đó có nghĩa, trường hợp xét thấy không cần phải áp dụng TNHS đối với người phạm tội mà vẫn bảo đảm yêu cầu đấu
Trang 23tranh phòng, chống tội phạm, có căn cứ chứng tỏ khả năng giáo dục, cải tạo nhanh chóng hòa nhập với cộng đồng của người phạm tội, đồng thời đáp ứng những điều kiện nhất định thì các cơ quan tư pháp hình sự có thẩm quyền quyết định cho họ được miễn TNHS [62, tr.96]
* Căn cứ để miễn TNHS chỉ áp dụng đối với người mà trong hành vi của họ thỏa mãn những dấu hiệu của cấu thành tội phạm cụ thể
Như vậy, căn cứ để miễn TNHS chỉ áp dụng đối với người mà trong hành vi, nhưng đối với họ lại có căn cứ và những điều kiện nhất định để được miễn TNHS trong từng trường hợp mà pháp luật hình sự hiện hành quy định,
cũng như tùy thuộc vào từng trường hợp miễn TNHS đó là tùy nghi (lựa chọn) hay bắt buộc Nói một cách khác, không thể áp dụng miễn TNHS đối
với người không có hành vi thỏa mãn dấu hiệu pháp lý của một cấu thành tội phạm cụ thể được quy định trong luật hình sự và đối với họ không có căn cứ
và những điều kiện nhất định
* Căn cứ miễn TNHS luôn gắn liền và quan hệ chặt chẽ với chế định TNHS trong luật hình sự Việt Nam
Khái niệm và cơ sở của miễn TNHS cũng xuất phát từ khái niệm và cơ
sở của TNHS Theo đó, hiểu một cách chung nhất thì TNHS là hậu quả pháp
lý bất lợi mà người phạm tội phải chịu do đã thực hiện hành vi phạm tội và được thể hiện bằng việc áp dụng đối với họ một hoặc nhiều biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc của Nhà nước do luật hình sự quy định Còn miễn TNHS có nghĩa không buộc người phạm tội phải chịu hậu quả pháp lý bất lợi của việc phạm tội đó mà lẽ ra nếu không có đầy đủ căn cứ pháp lý và những điều kiện
do luật định để được miễn TNHS, thì người đó phải chịu TNHS theo quy định của pháp luật hình sự
Ngoài ra, miễn TNHS và TNHS lại có cùng một cơ sở - đó là, việc thực
hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội mà luật hình sự quy định là tội phạm”
Trang 24Trong cả hai trường hợp này, chủ thể thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội
mà luật hình sự quy định là tội phạm đều là người phạm tội Nói cách khác, chủ thể là người thực hiện tội phạm, có lỗi, có đủ năng lực TNHS và đạt độ tuổi theo luật định Tuy nhiên, người phạm tội là người phải chịu TNHS, còn người được miễn TNHS (cũng là người phạm tội) nhưng trường hợp phạm tội của họ lại có đầy đủ căn cứ pháp lý và những điều kiện để được miễn TNHS theo quy định của pháp luật hình sự Điều đó có nghĩa, trường hợp xét thấy không cần phải áp dụng TNHS đối với người phạm tội mà vẫn đảm bảo yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm, có căn cứ chứng tỏ khả năng giáo dục, cải tạo nhanh chóng hòa nhập với cộng đồng của người phạm tội, thì các cơ quan tư pháp hình sự có thẩm quyền cho họ được miễn TNHS
* Người có đầy đủ các căn cứ được miễn TNHS đương nhiên không phải chịu các hậu quả pháp lý hình sự bất lợi của việc phạm tội do mình thực hiện
Theo đó, người được miễn TNHS có thể không bị truy cứu TNHS, không phải chịu hình phạt hoặc biện pháp cưỡng chế về hình sự khác, không bị coi là có án tích và không bị coi là có tội… Tuy nhiên, thực tiễn xét xử cho thấy, người được miễn TNHS vẫn có thể phải chịu một hoặc nhiều biện pháp tác động, như: buộc phải phục hồi lại tình trạng ban đầu, buộc bồi thường thiệt hại… theo quy định của pháp luật dân sự; phạt tiền, cảnh cáo hoặc buộc thôi việc theo quy định của pháp luật hành chính; đình chỉ hợp đồng lao động theo quy định của pháp luật lao động) hoặc biện pháp kỷ luật…[62, tr.194-197]
1.1.3 Ý nghĩa của việc quy định căn cứ miễn trách nhiệm hình sự trong luật hình sự Việt Nam
Từ khái niệm và những đặc điểm của căn cứ miễn TNHS cho thấy ý nghĩa của việc quy định căn cứ này trong luật hình sự nước ta như sau:
Trang 25* Đối với trường hợp có căn cứ miễn TNH S, mặc dù người phạm tội không chi ̣u TNHS nữa nhưng vẫn thể hiê ̣n sự lên án hành vi , người phạm tội từ phía Nhà nước
Một người phạm tội, phải chịu TNHS, có nghĩa là phải chịu sự lên án, trừng phạt của Nhà nước Người được miễn TNHS, có nghĩa vẫn phải chịu TNHS, nhưng có điều kiện để miễn TNHS, do đó, vẫn phải chịu sự lên án của Nhà nước đối với mình, vì với người được miễn TNHS, họ cũng đã thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội mà BLHS quy định là tội phạm, song với người này, tùy thuộc vào giai đoạn tố tụng hình sự tương ứng, các cơ quan tiến hành
tố tụng thấy rằng, việc truy cứu TNHS người đó lại không cần thiết mà vẫn đáp ứng các yêu cầu đấu tranh phòng chống tội phạm, cũng như công tác giáo dục, cải tạo người phạm tội nếu đáp ứng những điều kiện nhất định, họ sẽ không phải chịu TNHS mà được miễn TNHS
Do đó, mặc dù được miễn TNHS, nhưng người phạm tội vẫn có thể chịu một hoặc nhiều biện pháp cưỡng chế không phải hình sự thuộc các ngành luật tương ứng khác trong hệ thống pháp luật của Nhà nước như pháp luật tố tụng hình sự, pháp luật hành chính, pháp luật lao động )
* Trong chính sách hình sự của Nhà nước ở từng thời kỳ, căn cứ miễn TNHS thể hiê ̣n nguyên tắc phân hóa TNHS trong luật hình sự Viê ̣t Nam
Phân hóa trong luật hình sự nước ta được thể hiện trên nhiều phương diện như: phân loại tội phạm, thời hiệu truy cứu TNHS, hệ thống hình phạt và các biện pháp tư pháp, phân hóa TNHS qua việc áp dụng TNHS, chịu TNHS hạn chế, không phải chịu TNHS hay miễn TNHS, đương nhiên được miễn TNHS hay có thể được miễn TNHS, mở rộng hay thu hẹp phạm vi tội danh
trong Phần các tội phạm của BLHS; v.v Do đó, đây chính là sự phân hóa giữa trường hợp phải chịu TNHS với trường hợp được miễn TNHS, giữa trường hợp có thể được miễn TNHS với trường hợp được miễn TNHS
Trang 26* Căn cứ miễn TNHS thể hiê ̣n tập trung nhất chính sách nhân đạo của Nhà nước trong xử lý hình sự đối với người phạm tội
Nhân đạo nói chung và trong pháp luật nói riêng được cụ thể hóa thông qua các quy định của pháp luật (trong đó có pháp luật hình sự) với ý nghĩa bảo vệ lợi ích của công dân khi bị tội phạm xâm phạm, có thể là lợi ích hợp pháp của cá nhân người phạm tội nếu xứng đáng được hưởng lượng khoan hồng của Nhà nước và đáp ứng các điều kiện nhất định Vì vậy, nghiên cứu miễn TNHS không chỉ thể hiện nguyên tắc nhân đạo đối với người phạm tội,
mà còn tạo cơ sở pháp lý cho sự kết hợp các biện pháp cưỡng chế hình sự của Nhà nước với các biện pháp tác động xã hội trong việc giáo dục, cải tạo người phạm tội, không buộc phải cách ly người phạm tội ra khỏi cộng đồng, lấy môi trường đang sinh sống đó làm nơi tự cải tạo, giáo dục, qua đó còn khuyến khích họ lập công chuộc tội, đồng thời giảm nhẹ cường độ áp dụng TNHS và hình phạt mà BLHS cho phép (ví dụ: miễn TNHS khi có quyết định đại xá là một trường hợp mang tính nhân đạo sâu sắc của Nhà nước) [60,tr.99]
* Căn cứ miễn TNHS là sự thể hiê ̣n nguyên tắc công bằng trong luật hình sự Việt Nam
Người được miễn TNHS không phải chịu các hậu quả pháp lý hình sự bất lợi của việc phạm tội nhưng có thể phải chịu một hoặc nhiều biện pháp cưỡng chế không phải hình sự được quy định trong các ngành luật trong hệ thống pháp luật của Nhà nước Như vậy, ý nghĩa của việc quy định miễn
TNHS còn thể hiện sự công bằng trong đánh giá hành vi phạm tội phải chịu
TNHS với trường hợp không bị truy cứu TNHS Trước đây, Nghị quyết số 02/HĐTP ngày 05/01/1986 về việc Hướng dẫn áp dụng một số quy định của
BLHS của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao quy định: “Khi đã
miễn TNHS thì Tòa án không được quyết định bất kỳ loại hình phạt nào, nhưng vẫn có thể quyết định việc bồi thường cho người bị hại và giải quyết
Trang 27tang vật” Ngoài ra, Công văn số 24/1999/KHXX ngày 17/3/1999 của Tòa án
nhân dân dân “Về việc giải đáp bổ sung một số vấn đề về áp dụng pháp luật” thì còn ghi nhận bổ sung - “tùy trường hợp cụ thể người được miễn TNHS có
1.2 Khái quát lịch sử lập pháp hình sự Việt Nam của quy định về căn cứ miễn trách nhiệm hình sự từ sau Cách mạng tháng Tám năm 1945 đến trước năm 1999
1.2.1 Giai đoạn từ sau năm 1945 đến trước năm 1985
Cho đến trước lần pháp điển hóa thứ nhất bằng BLHS năm 1985 thì ở nước
ta, chế đi ̣nh miễn TNHS mới được lần đâu tiên ghi nhâ ̣n, còn trong các giai đoạn trước đó, chế đi ̣nh này chưa được ghi nhận với tính chất là một chế định độc lập Trong thực tiễn xét xử và một số văn bản pháp lý đã thừa nhận và áp dụng với
nhiều tên gọi khác nhau như: “xá miễn”, “tha miễn TNHS”, “miễn tố”, “tha bổng
bị cáo”, “miễn nghị cho bị cáo”, “miễn hết cả tội” [59, tr.103-114]; v.v
Có thể liệt kê đến một số văn bản thời kỳ trước khi ban hành BLHS năm 1985 có đề cập đến vấn đề miễn tránh nhiệm hình sự như: Sắc lệnh số
Trang 2852/SL ngày 20/10/1945 xá miễn cho một số tội phạm trước ngày 19/08/1945; Thông tư số 314-TTg ngày 09/11/1954 của Thủ tướng Chính phủ về đại xá; Sắc lệnh số 223/SL ngày 17/11/1946 quy định tội phạm về chức vụ; Pháp lệnh trừng trị các tội phản cách mạng ngày 30/10/1967; Pháp lệnh trừng trị các tội xâm phạm tài sản XHCN ngày 21/10/1970; Pháp lệnh trừng trị các tội xâm phạm tài sản riêng của công dân ngày 21/10/1970; Thông tư số 03-BTP/TT tháng 4/1976 của Bộ Tư pháp hướng dẫn thi hành Sắc luật quy định
về các tội phạm và hình phạt; Pháp lệnh trừng trị tội đầu cơ, buôn lậu, làm hàng giả, kinh doanh trái phép ngày 10/7/1982; Nghị quyết số 02/HĐTP ngày 05/01/1986 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của BLHS; Nghị quyết số 01/HĐTP ngày 19/04/1989 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn bổ sung việc áp dụng một số quy định của BLHS; Thông tư liên ngành số 05/TTLN ngày 2/6/1990 của Bộ Nội vụ, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao và Bộ Tư pháp hướng dẫn thi hành chính sách đối với người phạm tội ra
tự thú Đến lần pháp điển hóa lần thứ hai luật hình sự Việt Nam bằng việc thông qua BLHS năm 1999, các quy định về miễn TNHS và căn cứ miễn TNHS cũng được sửa đổi, bổ sung và tiếp tục hoàn thiện hơn
Như vâ ̣y, trong các giai đoa ̣n trước năm 1985, quy đi ̣nh về miễn TNHS
và các căn cứ đã được ghi nhâ ̣n nhưng còn rất rời ra ̣c , ở nhiều văn bản khác nhau Viê ̣c ghi nhâ ̣n những trường hợp miễn trách nhiê ̣m hình sự xuất phát từ nguyên tắc nhân đạo trong chính sách hình sự của Nhà nước nói chung và luật hình sự Việt Nam nói riêng, từ quan điểm cho rằng việc truy cứu TNHS và xử phạt về hình sự mặc dù là rất quan trọng trong việc bảo vệ pháp chế, củng cố trật tự pháp luật song không phải là biện pháp duy nhất mà đòi hỏi ngày càng
mở rộng các biện pháp tác động xã hội khác để đấu tranh phòng, chống tội phạm đạt hiệu quả cao
Trang 29Những nô ̣i dung cơ bản có liên quan đến chế đi ̣nh miễn TNHS và căn
cứ miễn TNHS đã được ghi nhâ ̣n như:
- Căn cứ miễn TNHS khi đại xá đối với hành vi phạm tội Điều 1 mục 1
Sắc lệnh số 52/SL ngày 20/10/1945 - văn bản pháp luật hình sự đầu tiên của giai đoạn này quy định về đại xá cho một số tội phạm trước ngày 19/08/1945 Theo đó, những người phạm tội trước ngày 19/08/1945 về những loại kể sau
đây đều được hoàn toàn xá miễn:
1 Tội phạm vào luật lệ báo chí; 2 Tội phạm vào luật lệ hội họp; 3 Tội của thợ thuyền bị phạt do luật lao động; 4 Tội phạm trong khi đình công; 5 Tội phạm vào luật lệ về quan thuế và thương mại, rượu lậu, thuốc phiện lậu, muối lậu và các hàng hóa lậu khác;
6 Tội phạm vào luật lệ kiểm lâm; 7 Tội phạm vào luật lệ kinh tế chỉ huy; 8 Tội vô ý giết người hoặc đánh người có thương tích; và
9 Tội vi cảnh [49, tr.184]
Theo đó, đại xá là một biện pháp khoan hồng của Nhà nước, có tác dụng tha tội - thường là hoàn toàn và triệt để - cho hàng loạt những người phạm những tội nhất định nào đó, có ý nghĩa chính trị rất to lớn, thường chỉ được ban hành vào những dịp có những sự kiện đặc biệt quan trọng trong đời sống chính trị của đất nước Như vậy, miễn TNHS được áp dụng trong trường hợp xá miễn Và cũng theo Điều 4 Sắc lệnh số 52/SL này thì:
Những tội được xá miễn đều coi như không phạm bao giờ; quyền công tố sẽ tiêu hủy, những chính hình và phụ hình mà Tòa án
đã tuyên đều bỏ hết Những tiền phạt hoặc án phí mà công khố đã thu của tội nhân rồi thì không hoàn lại nữa Những của cải đã tịch biên và phát mại rồi cũng không trả lại nữa
- Căn cứ miễn TNHS trong trường hợp đưa hối lộ mà khai báo và cáo giác Điều 2 Sắc lệnh số 223/SL ngày 17/11/1946 quy định tội phạm về chức
Trang 30vụ ghi nhận “Người phạm đưa hối lộ cho một công chức mà tự ý cáo giác cho
nhà chức trách việc hối lộ ấy và chứng minh rằng đưa hối lộ bị công chức cưỡng bách ước hứa, hay là dùng cách trá ngụy thì người ấy được miễn hết
cả tội Trong trường hợp này, tang vật hối lộ được hoàn trả” [49, tr.467];
- Căn cứ miễn TNHS trong trường hợp tham gia tội phản cách mạng
Điều 20 Pháp lệnh trừng trị các tội phản cách mạng ngày 30/10/1967 quy định
về những trường hợp giảm nhẹ hình phạt hoặc miễn hình phạt như sau: Kẻ
nào phạm tội phản cách mạng nêu ở mục 2 mà tội phạm thuộc vào một hoặc nhiều trường hợp sau đây thì được giảm nhẹ hoặc miễn hình phạt
1 Có âm mưu phạm tội, nhưng đã tự nguyện không thực hiện tội phạm
2 Tội phạm chưa bị phát giác mà thành thật tự thú, khai rõ những âm mưu và hành động của mình và của đồng bọn
3 Cố ý không thi hành đầy đủ hoặc khuyên bảo đồng bọn không thi hành đầy đủ những âm mưu của bọn cầm đầu phản cách mạng
4 Có những hành động làm giảm bớt tác hại của tội phạm
5 Phạm tội vì bị ép buộc, bị lừa phỉnh và việc làm chưa gây
thiệt hại lớn
6 Bị bắt, nhưng trước khi bị xét xử đã tỏ ra thành thật hối cải, lập công chuộc tội [49, tr.109]
Sau khi đất nước thống nhất , trong công cuô ̣c xây dựng chủ nghĩa xã
hô ̣i ở cả nước thì tình hình tội phạm nói chung và các tội phản cách mạng nói riêng càng ngày càng có những diễn biến phức ta ̣p Chính vì vậy , ngày 20/05/1981, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã ban hành Pháp lệnh trừng trị tội hối lộ Sự ra đời của Pháp lệnh này là một sự kiện pháp lý quan trọng, góp phần củng cố, giữ vững và tăng cường pháp chế XHCN, động viên và khuyến khích tất cả công dân tích cực tham gia đấu tranh chống tệ hối lộ và những
Trang 31hiện tượng tiêu cực khác trong xã hội Một mặt, Pháp lệnh thể hiện tinh thần đấu tranh rất kiên quyết, triệt để và mạnh mẽ đối với tội hối lộ dưới mọi hình thức như: nhận hối lộ, đưa hối lộ, môi giới hối lộ, nhưng mặt khác cũng thể hiện sự phân hóa rõ ràng trong đường lối xử lý Cụ thể, trong Pháp lệnh đã ghi nhận chính thức vấn đề miễn TNHS và Điều 8 Pháp lệnh đã quy định cụ thể ba trường hợp - miễn TNHS, giảm nhẹ hình phạt và miễn hình phạt, đó là:
1 Người phạm tội hối lộ, trước khi bị phát giác, chủ động khai
rõ sự việc, giao nộp đầy đủ của hối lộ, thì có thể được miễn TNHS; nếu là phạm tội nghiêm trọng thì có thể được giảm nhẹ hình phạt
2 Người phạm tội hối lộ, sau khi bị phát giác, tỏ ra thành thực hối cải, khai rõ sự việc, giao nộp đầy đủ của hối lộ thì có thể được giảm nhẹ hình phạt
3 Người phạm tội lần đầu và không nghiêm trọng, sau khi bị phát giác tỏ ra thành thực hối cải khai rõ sự việc, giao nộp đầy đủ của hối lộ, thì có thể được miễn hình phạt
Như vâ ̣y, trong văn bản này, cụm từ “miễn TNHS” đã lần đầu tiên được
ghi nhâ ̣n và nó thể hiê ̣n rõ chính sách nhân đạo của Đảng và Nhà nước ta đối với người pha ̣m tô ̣i thuô ̣c trường hợp giảm nhe ̣ đă ̣c biê ̣t
Trên cơ sở tổng kết nghiên cứu các văn bản pháp luật hình sự đã ban hành trong thời kỳ này cho thấy, những trường hợp được xem xét để áp dụng miễn TNHS - hay các căn cứ để miễn TNHS có thể bao gồm:
Trang 32- Bị bắt trước khi bị xét xử, người phạm tội đã tỏ ra thành thật hối cải lập công chuộc tội hoặc tự nguyện bồi thường hoặc sửa chữa thiệt hại gây ra
- Phạm tội vì bị ép buộc, lừa phỉnh và việc làm chưa gây thiệt hại lớn hoặc phạm tội có tính chất cơ hội [62, tr.139]
1.2.2 Giai đoạn từ sau năm 1985 đến trước năm 1999
Năm 1985, BLHS đầu tiên của nước Cộng hòa XHCN Việt Nam ra đời
đã đánh dấu một bước phát triển mới của pháp luật hình sự Việt Nam nói chung, các quy định về miễn TNHS nói riêng Trong BLHS đầu tiên này, miễn TNHS được chính thức quy định tại một số điều của Phần chung và Phần các tội phạm BLHS với các quy định cụ thể về căn cứ đối với những trường hợp miễn TNHS Các quy định này ngoài sự ghi nhận thực tiễn áp dụng những trường hợp miễn TNHS còn được mở rộng ra đối với một số trường hợp khác cho phù hợp với tình hình và điều kiện kinh tế - xã hội trong giai đoạn mới Theo đó, trong BLHS năm 1985, những trường hợp miễn TNHS bao gồm: Miễn TNHS do tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội (Điều 16); do sự chuyển biến của tình hình mà hành vi phạm tội hoặc người phạm tội không còn nguy hiểm cho xã hội nữa (đoạn 1 khoản 1 Điều 48); cho người phạm tội tự thú, thật thà khai báo, ăn năn hối cải (đoạn 2 khoản 1 Điều 48); cho người chưa thành niên phạm tội (khoản 3 Điều 59); cho người phạm tội gián điệp (khoản 3 Điều 74); cho người phạm tội đưa hối lộ (khoản 5 Điều 227) và; cho người phạm tội không tố giác tội phạm (khoản 2 Điều 247)
Việc quy định miễn TNHS và căn cứ miễn TNHS trong các điều luật này do xuất phát từ nguyên tắc nhân đạo và chính sách khoan hồng, đồng thời biện pháp này được đặt ra trong các trường hợp phạm tội nếu xét thấy không phải truy cứu TNHS và buộc người phạm tội phải chịu TNHS, hình phạt mà vẫn bảo đảm được yêu cầu phòng ngừa chung và phòng ngừa riêng
Sau một thời gian áp dụng BLHS năm 1985, Hội đồng Thẩm phán Tòa
Trang 33án nhân dân tối cao đã ban hành Nghị quyết số 02-HĐTP ngày 05/01/1986, trong đó có hướng dẫn cụ thể về việc tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội của người thực hành tội phạm, cụ thể đề cập đến các điều kiện của tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội, việc miễn TNHS trong trường hợp người tự ý
nửa chừng chấm dứt việc phạm tội là người tổ chức tội phạm Theo đó, mặc
dầu họ đã tự nguyện nửa chừng chấm dứt việc phạm tội nhưng vẫn để cho đồng bọn thực hiện tội phạm thì người đó không được coi là tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội Ngoài ra, cũng trong Nghị quyết này, Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao đã hướng dẫn cụ thể về miễn TNHS quy định tại BLHS năm 1985
Về sau, qua bốn lần sửa đổi, bổ sung BLHS thì các quy định về miễn TNHS vẫn giữ nguyên như quy định trong BLHS năm 1985 Đến lần pháp điển hóa thứ hai - BLHS năm 1999 đã khẳng định chính sách khoan hồng và nhân đạo của Đảng và Nhà nước ta qua việc mở rộng hơn các quy định về miễn TNHS Đặc biệt, Bộ luật này còn quy định một điều luật riêng về miễn TNHS có tính chất chung áp dụng cho mọi tội phạm tại Điều 25 Ngoài ra, tại Điều luật này ngoài hai trường hợp miễn TNHS cũ quy định ở khoản 1 Điều
48 BLHS năm 1985 trước đây còn quy định thêm trường hợp miễn TNHS khi
có quyết định đại xá Những trường hợp miễn TNHS khác trong Phần chung
và Phần các tội phạm BLHS vẫn được giữ nguyên Theo BLHS năm 1999, những trường hợp miễn TNHS với các căn cứ bao gồm: (i) Miễn TNHS do tự
ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội (Điều 19); (ii) Do sự thay đổi của tình hình (khoản 1 Điều 25); (iii) Do sự ăn năn hối cải của người phạm tội (khoản
2 Điều 25); (iv) Khi có quyết định đại xá (khoản 3 Điều 25); cho người chưa thành niên phạm tội (khoản 2 Điều 69); (v) Cho người phạm tội gián điệp (Điều 80); (vi) Cho người phạm tội đưa hối lộ (đoạn 2 khoản 6 Điều 269); (vii) cho người phạm tội làm môi giới hối lộ (khoản 6 Điều 290) và; (viii) cho người phạm tội không tố giác tội phạm (khoản 3 Điều 314)
Trang 34Các trường hợp miễn TNHS này được nhà làm luật phân chia thành những trường hợp miễn TNHS có tính chất bắt buộc hoặc tùy nghi (lựa chọn) Theo đó, đối với những trường hợp bắt buộc, nếu người phạm tội đáp ứng đầy
đủ căn cứ cụ thể quy định trong điều luật thì các cơ quan tư pháp hình sự có
thẩm quyền bắt buộc phải ra quyết định để miễn TNHS cho họ Ngoài ra, đối với những trường hợp có tính chất lựa chọn (tùy nghi), thì mặc dù người
phạm tội có đầy đủ căn cứ cụ thể quy định trong điều luật, nhưng việc có áp dụng hay không áp dụng miễn TNHS đều do cơ quan tư pháp hình sự có thẩm quyền quyết định, căn cứ vào tình hình thực tế, vào yêu cầu đấu tranh phòng
và chống tội phạm, cũng như nhân thân người phạm tội [60, tr.39]
1.3 Quy định về căn cứ miễn trách nhiệm hình sự trong Bộ luật hình sự một số nước trên thế giới
1.3.1 Quy định về căn cứ miễn trách nhiệm hình sự trong Bộ luật hình sự Liên bang Nga
BLHS Liên bang Nga được Đuma Quốc gia năm 1996, sửa đổi gần đây nhất năm 2010 bằng Luật Liên bang số 147 ngày 01/7/2010 Liên quan đến chế định miễn TNHS, trong BLHS Liên bang Nga đã quy định trong BLHS
này tại một chương riêng biệt (Chương 11) bao gồm ba điều luật tương ứng là
ba trường hợp miễn TNHS (bãi bỏ trường hợp miễn TNHS do sự chuyển biến
của tình hình), cụ thể như sau [51, tr.106]:
- Căn cứ miễn TNHS trong trường hợp do sự ăn năn hối cải (Điều 75)
quy định: Người lần đầu phạm tội ít nghiêm trọng có thể được miễn TNHS nếu sau khi thực hiện hành vi phạm tội đã tự thú, tích cực giúp đỡ việc khám phá và điều tra tội phạm, bồi thường thiệt hại đã gây ra hoặc bằng cách nào đó làm giảm thiểu thiệt hại của tội phạm và do hành vi thực sự ăn năn hối cải, hoặc đã không còn nguy hiểm cho xã hội nữa Người thực hiện loại tội phạm
sẽ được miễn TNHS chỉ trong các trường hợp được quy định cụ thể tại các
Trang 35- Căn cứ miễn TNHS trong trường hợp do đã hòa giải với người bị hại (Điều 76) quy định: “Người lần đầu phạm tội ít nghiêm trọng hoặc nghiêm
trọng có thể được miễn TNHS nếu người phạm tội đã tiến hành hòa giải với người bị hại và đã đền bù thiệt hại cho người bị hại”
- Căn cứ miễn TNHS trong trường hợp do đã hết thời hiệu (Điều 78)
quy định: Người phạm tội được miễn TNHS, nếu kể từ ngày phạm tội đã qua các thời gian sau đây: a) Hai năm sau khi phạm tội ít nghiêm trọng; b) Sáu năm sau khi phạm tội nghiêm trọng; c) Mười năm sau khi phạm tội rất nghiêm trọng; d) Mười lăm năm sau khi phạm tội đặc biệt nghiêm trọng
Thời hiệu được tính từ ngày thực hiện tội phạm đến thời điểm bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật Trong trường hợp thực hiện tội phạm mới thì các thời hiệu đối với từng tội phạm được tính riêng
Thời hiệu tạm dừng nếu người phạm tội trốn tránh điều tra hoặc xét xử Trong trường hợp này thời hiệu được tính lại từ thời điểm người phạm tội bị bắt giữ hoặc ra đầu thú
Vấn đề có áp dụng thời hiệu hay không đối với người phạm tội có hình phạt tử hình hoặc tù chung thân do Tòa án quyết định Nếu Tòa án thấy rằng không thể miễn TNHS cho người phạm tội vì hết thời hiệu, thì cũng không áp dụng hình phạt tử hình hoặc tù chung thân đối với họ
Đối với những người phạm tội chống hòa bình và nhân loại được quy định tại các Điều 353, 356, 357 và 358 Bộ luật này, thì không áp dụng thời hiệu [51, tr.106-108]
Ngoài các trường hợp với các căn cứ miễn TNHS chung quy định trong
Chương 11 Phần chung BLHS, còn có hai căn cứ miễn TNHS trong trường
hợp do đại xá (Điều 85) và trong trường hợp cho người chưa thành niên (Điều 90) Theo đó, đại xá do Đuma Quốc gia Liên bang Nga tuyên bố đối với riêng
một số người không xác định và bằng văn bản đại xá, những người phạm tội có
Trang 36thể được miễn TNHS Đây là trường hợp miễn TNHS mang tính chất lựa chọn,
trong khi đó theo BLHS Việt Nam đây lại là một trường hợp miễn TNHS mang
tính bắt buộc (khoản 3 Điều 25) Còn trường hợp miễn TNHS cho người chưa thành niên được quy định tại điều luật với tên gọi là “Áp dụng biện pháp giáo
dục bắt buộc” và điều kiện loại tội giống với BLHS nước ta - áp dụng người
lần đầu phạm tội ít nghiêm trọng hoặc tội nghiêm trọng, có thể được miễn TNHS, nếu thấy rằng có thể cải tạo được họ bằng các biện pháp giáo dục bắt buộc, nhưng không có điều kiện - họ phải được gia đình, cơ quan hoặc tổ chức nhận giám sát, giáo dục và còn phải có nhiều tình tiết giảm nhẹ TNHS nữa
1.3.2 Quy định về căn cứ miễn trách nhiệm hình sự trong Bộ luật hình sự Nhật Bản
BLHS Nhâ ̣t Bản được công bố ngày 24/4/1907 và được ban hành ngày 1/10/1908 Đây là mô ̣t trong những bô ̣ pháp điển cơ bản được cấu thành từ 06 văn bản luâ ̣t Tuy nhiên, không phải tất cả các tô ̣i pha ̣m và hình pha ̣t đều được quy đi ̣nh trong Bô ̣ luâ ̣t hình sự Có những loại tội danh được quy định r iêng trong những Bô ̣ luâ ̣t đă ̣c biê ̣t khác [22, tr.65-68]
Quy đi ̣nh đầu tiên liên quan đến căn cứ miễn TNHS trong BLHS Nhâ ̣t
Bản đó là Điều 43 về “ Miễn giảm phạm tội chưa đạt ” Theo đó : “Đối với
người đã thực hiê ̣n hành vi phạm tội , nhưng chưa đạt thì có thể được giảm nhẹ hình phạt đối với tội định phạm
Tuy nhiên, trong trường hợp tự ý nửa chừng chấm dứt hành vi phạm tội
thì có thể được giảm án hoặc được miễn án” [22, tr.65-67]
Như vâ ̣y, tuy không trực tiếp quy đi ̣nh về miễn TNHS nhưng bản chất của việc miễn án đối với trường hợp tự ý nửa chừng chấm dứt hành vi phạm
tô ̣i đó chính là miễn TNHS Điều này cũng tương đồng như quy đi ̣nh về miễn TNHS sự do tự ý nửa ch ừng chấm dứt việc phạm tội quy định tại Điều 19 BLHS Viê ̣t Nam
Trang 37Ngoài ra, tình tiết phòng vệ chính đáng quy định tại Điều 36:
Không pha ̣t đối với hành vi buộc phải tiến hành để bảo vê ̣
quyền lợi cho mình , hoặc cho người khác, đối với hành vi xâm
hại một cách bất chính cận kề Hành vi vượt quá mức độ phòng
vê ̣, tùy theo tình tiết có thể được giảm nhẹ hoặc miễn trừ hình
phạt [22, tr.67-68]
Như vâ ̣y , viê ̣c miễn hình pha ̣t do vượt quá giới ha ̣ n phòng vê ̣ chính đáng về cơ bản cũng có nét tương đồng với viê ̣c miễn TNHS đối với người phạm tội
Điều 37 quy đi ̣nh về tình tra ̣ng khẩn cấp, theo đó:
Hành vi buộc phải tiến hành để cho tính mạng , cơ thể, tự do hoă ̣c cho t ài sản của mình hoặc của người khác khỏi phải bị nguy hiểm trong tình tra ̣ng khẩn cấp, mà mức tổn hại cho hành vi đó gây
ra không vượt quá mức đô ̣ thiê ̣t ha ̣i phát sinh đi ̣nh tranh thì không bi ̣ xử lý Tuy nhiên, nếu hành vi đ ó là vượt quá mức độ , thì tùy thuộc
vào tình hình, có thể giảm án hoặc được miễn án [22, tr 67-68]
Như vâ ̣y , quy đi ̣nh trong trường hợp này giống với tình thế cấp thiết trong BLHS Viê ̣t Nam Đối với tình thế cấp thiết thì không bị xử lý hình sự Còn vượt quá mức độ đó thì có thể bị xử lý nhưng có thể giảm án hoặc miễn
án Như vâ ̣y, đây cũng là mô ̣t chế đi ̣nh mang tính chất tương đồng với chế
đi ̣nh miễn TNHS theo luâ ̣t hình sự Viê ̣t Nam
Tóm lại, qua nghiên cứu BLHS Nhâ ̣t Bản về chế đi ̣nh miễn TNHS có
thể thấy, BLHS Nhâ ̣t Bản chỉ quy đi ̣nh về “ miễn án” Tuy nhiên, trên thực tế
miễn án là tương đồng với miễn TNHS trong luâ ̣t hình sự Viê ̣t Nam Thể hiê ̣n sự khoan hồng đă ̣c biê ̣t đối với các trường hợp là tô ̣i pha ̣m nhưng không cần thiết phải xử lý TNHS đối với người pha ̣m tô ̣i Các trường hợp đó đều được ghi nhâ ̣n ở Phần chung của BLHS Nhâ ̣t Bản như : trong tình thế nguy cấp , trong phòng vê ̣ chính đáng và trong pha ̣m tô ̣i chưa đa ̣t Trong khi đó, một số
Trang 38trường hợp như phòng vệ chính đáng, tình thế cấp thiết… theo luật hình sự nước ta lại xếp là những trường hợp loại trừ TNHS
1.3.3 Quy định về căn cứ miễn trách nhiệm hình sự trong Bộ luật hình sự Vương quốc Thụy Điển
BLHS Vương quốc Thụy Điển năm 1962, sửa đổi gần đây nhất là năm
2005 Theo đó, các nhà làm luật Vương quốc Thụy Điển quan niệm miễn TNHS trong luật hình sự được xem như là một nguyên tắc của luật hình sự dựa trên cơ sở xung đột về lợi ích, dùng để chỉ ra rằng không có tội phạm được thực hiện mặc dù trên thực tế hành vi của một người nào đó đã thực hiện thỏa mãn đầy đủ cả các yếu tố chủ quan và yếu tố khách quan đối với một loại tội phạm cụ thể Các nhà làm luật Vương quốc Thụy Điển đã sử dụng kỹ thuật
mà trong đó tất cả những xung đột lợi ích và những ngoại lệ khác có thể làm cho những hành vi phạm tội mất đi tính chất có tội của nó và được đặt cùng
với nhau dưới một tên gọi là “Miễn TNHS” quy định trong Chương 24 BLHS nước này Tuy nhiên, không phải tất cả các trường hợp như vậy đều được điều
chỉnh trong BLHS hay các đạo luật khác Ví dụ như trên thực tế miễn TNHS đối với tội xâm phạm quyền sở hữu của người khác được áp dụng mà không
có một điều khoản pháp luật nào quy định về nó Điều này có thể bởi vì không thể dựa trên nguyên tắc tính hợp pháp - nguyên tắc chi phối luật hình
sự - trong khi việc áp dụng một quy tắc bất thành văn lại đem đến một kết quả tốt đẹp hơn cho bị cáo là sự tha bổng
Như vậy, miễn TNHS xem như là một tính chất khách quan để một mặt phân hóa TNHS, mặt khác tạo ra một ngoại lệ cho người đã thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội không bị trừng phạt ngay cả người đó không hề biết đến
sự tồn tại của một trường hợp ngoại lệ như vậy
Theo BLHS Vương quốc Thụy Điển, những trường hợp sau đây được coi là các trường hợp miễn TNHS - sự ưng thuận, phòng vệ chính đáng, tình
Trang 39thế cấp thiết (hay ngăn ngừa mối nguy hiểm sắp xảy ra), thi hành công vụ, chấp hành mệnh lệnh hay thẩm quyền hợp pháp Như vậy, BLHS Vương
quốc Thụy Điển đã quy định một chương riêng về “Miễn TNHS” (Chương 24)
[52, tr 228-232]trong đó liệt kê những trường hợp miễn TNHS Song, thực chất trong số các trường hợp này nhiều trường hợp mang bản chất pháp lý là
các trường hợp loại trừ TNHS theo luật hình sự nước ta, cụ thể như sau:
- Căn cứ miễn TNHS “do sự đồng ý (hòa hoãn) giữa người phạm tội và người bị hại” (Điều 7 Chương 24) thì giống cũng với pháp luật hình sự Liên
bang Nga Theo đó, sự ưng thuận là dựa trên quan điểm cho rằng mỗi người
sẽ tự định đoạt những lợi ích của chính mình Điều này có nghĩa là sự ưng thuận có thể miễn TNHS cho một người chỉ khi mà người đó có quyền quyết định đối với lợi ích được đề cập đến và họ có sự đồng ý Đối với sự ưng thuận này còn đòi hỏi người ưng thuận phải có khả năng nhận thức được ý nghĩa của sự ưng thuận, cụ thể là anh ta phải có sự nhận thức chính xác về tính chất thực tế và ngoài ra, sự ưng thuận này phải tự nguyện, cụ thể là nó không được đưa ra dưới bất kỳ một sự ép buộc nào để cho là sự tự nguyện
- Căn cứ miễn TNHS trong trường hợp thẩm quyền do luật định - chấp hành mệnh lệnh của cấp trên”, được hiểu là một trường hợp miễn TNHS có
liên quan đến việc sử dụng mệnh lệnh của cảnh sát và cơ quan công quyền khác Việc tuân thủ mệnh lệnh hay chỉ thị của cấp dưới đối với cấp trên có ý nghĩa cực kỳ quan trọng đối với các lực lượng vũ trang trong bấy kỳ một Nhà nước nào Do đó, Điều 8 Chương 24 đã quy định rõ về trường hợp một người thực hiện một hành vi theo mệnh lệnh của cấp trên để thực hiện một tội phạm
sẽ không phải chịu TNHS nếu anh ta buộc phải tuân thủ mệnh lệnh và đáp ứng những điều kiện nhất định Tương tự, theo BLHS Việt Nam, trường hợp này chưa được ghi nhận về mặt lập pháp là một trường hợp loại trừ TNHS, mặc dù tương ứng với nó theo quan điểm trong khoa học luật hình sự nước ta
là trường hợp chấp hành chỉ thị, quyết định hoặc mệnh lệnh của cấp trên
Trang 40- Về hai căn cứ khác là các trường hợp khác - phòng vệ chính đáng và tình
thế cấp thiết trong BLHS Vương quốc Thụy Điển [52, tr.228], theo đó chúng
mặc dù được xem là các trường hợp miễn TNHS nhưng bản chất pháp lý lại chính là các trường hợp loại trừ TNHS theo BLHS Việt Nam Theo đó, phòng vệ chính đáng được điều chỉnh ở Điều 1 Chương 24 Một hành vi được thực hiện trong trường hợp phòng vệ chính đáng chỉ cấu thành tội phạm nếu rõ ràng không giải thích được việc có liên quan đến sự gây gổ, mục đích của hành vi đó và những tình tiết liên quan nói chung Phòng vệ chính đáng nghĩa là người bị tấn công (hoặc sắp bị tấn công) không phải chịu TNHS về hành vi giống như phạm tội được anh ta thực hiện khi đang cố gắng chống lại sự tấn công Thực tế là sự tấn công mang tính tội phạm được chấp nhận là trường hợp phòng vệ chính đáng không thể trái ngược với một hành vi phòng vệ chính đáng Nếu người tấn công hành động không có chủ ý hoặc do vô ý thì không có sự tấn công nào và vì thế cũng không xuất hiện quyền phòng vệ chính đáng
Còn tình thế cấp thiết lại được quy định trong Điều 4 Chương 24 Tình
thế cấp thiết có thể phát sinh do nhiều nguyên nhân khác nhau, chẳng hạn như thiên tai, động đất, máy móc Những người hành động trong tình thế cấp thiết để ngăn chặn một nguy cơ đe dọa tính mạng, sức khỏe hay bảo vệ những tài sản có giá trị được miễn TNHS đối với những hành vi giống như phạm tội nhưng được coi là có thể biện hộ được [52, tr.231] Như vậy, trong BLHS Vương quốc Thụy Điển có những tình tiết mang bản chất là trường hợp miễn
TNHS, nhưng cũng có trường hợp lại chính là những tình tiết loại trừ TNHS
theo BLHS nước ta