Ở nước ta, quảng cáo được đề cập ở một số văn bản quy phạm pháp luật, cụ thể như: Quảng cáo thương mại là hoạt động xúc tiến thương mại của thương nhân để giới thiệu với khách hàng về h
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội
Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể bảo vệ Luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
NGƯỜI CAM ĐOAN
Hà Xuân Huy
Trang 4MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BẢO ĐẢM SỰ TUÂN THỦ PHÁP LUẬT TRONG HOẠT ĐỘNG QUẢNG CÁO 7
1.1 Khái niệm và vai trò của quảng cáo 7
1.1.1 Khái niệm quảng cáo 7
1.1.2 Vai trò của quảng cáo 10
1.2 Bảo đảm sự tuân thủ pháp luật trong hoạt động quảng cáo 12
1.2.1 Khái niệm 12
1.2.2 Nội dung tuân thủ pháp luật trong hoạt động quảng cáo 14
1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến bảo đảm tuân thủ pháp luật trong hoạt động quảng cáo 33
1.3.1 Mức độ hoàn thiện của hệ thống quy phạm pháp luật 33
1.3.2 Hiệu quả hoạt động của cơ quan, tổ chức có chức năng quản lý, kiểm tra, giám sát đối với hoạt động quảng cáo 34
1.3.3 Ý thức pháp luật của chủ thể trong hoạt động quảng cáo 34
Kết luận chương 1 36
Chương 2: THỰC TRẠNG BẢO ĐẢM TUÂN THỦ PHÁP LUẬT TRONG HOẠT ĐỘNG QUẢNG CÁO TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH LAI CHÂU 37
2.1 Kết quả đạt được về tuân thủ pháp luật trong hoạt động quảng cáo trên địa bàn tỉnh Lai Châu 37
2.2 Một số tồn tại, hạn chế và nguyên nhân 41
Kết luận chương 2 54
Trang 5Chương 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP BẢO ĐẢM TUÂN THỦ PHÁP
LUẬT TRONG HOẠT ĐỘNG QUẢNG CÁO TRÊN ĐỊA
BÀN TỈNH LAI CHÂU 56
3.1 Yêu cầu về bảo đảm tuân thủ pháp luật trong hoạt động quảng cáo 56
3.1.1 Tuân thủ pháp luật trong hoạt động quảng cáo phải đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam 56
3.1.2 Tuân thủ pháp luật trong hoạt động quảng cáo phải bảo đảm quyền của người tiêu dùng 57
3.1.3 Tuân thủ pháp luật trong hoạt động quảng cáo phải đáp ứng yêu cầu cải cách hành chính ở nước ta hiện nay 58
3.2 Một số giải pháp bảo đảm tuân thủ pháp luật trong hoạt động quảng cáo 58
3.2.1 Tiếp tục hoàn thiện pháp luật về quảng cáo 58
3.2.2 Tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật về quảng cáo 64
3.2.3 Nâng cao hiệu quả công tác giám sát, thanh tra, kiểm tra đối với hoạt động quảng cáo 65
3.2.4 Nâng cao trình độ, năng lực của những người làm công tác quản lý nhà nước về quảng cáo, ý thức pháp luật của doanh nghiệp và người tiêu dùng 66
3.2.5 Tăng cường vai trò của Hội bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng tỉnh Lai Châu 67
Kết luận chương 3 70
KẾT LUẬN 71
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 73
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong những năm gần đây, cùng với sự phát triển về kinh tế-xã hội, hoạt động quảng cáo ở nước ta đã có bước phát triển mạnh với sự gia tăng
về số lượng doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ quảng cáo, sự mở rộng về hình thức, quy mô và công nghệ Điều này minh chứng rằng trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường, quảng cáo đóng vai trò quan trọng trong việc
mở rộng thị trường tiêu thụ hàng hóa, dịch vụ đáp ứng nhu cầu lựa chọn của người tiêu dùng và khuyến khích cạnh tranh, thúc đẩy sự năng động của doanh nghiệp, tạo động lực cho sự phát triển của nền kinh tế- xã hội Bởi vậy, trong thời gian qua, để tạo sự quản lý thống nhất đối với hoạt động quảng cáo, hệ thống pháp luật về quảng cáo đã không ngừng được hoàn thiện, đảm bảo cho hoạt động quảng cáo phát triển lành mạnh, bảo vệ lợi ích quốc gia; quyền và lợi ích hợp pháp của các tổ chức, cá nhân tham gia vào hoạt động quảng cáo
Tuy nhiên, bên cạnh những mặt tích cực thì quảng cáo cũng có những tác động tiêu cực nhất định đến đời sống xã hội Hoạt động quản lý nhà nước
về quảng cáo cũng còn nhiều bất cập, dẫn đến có những trường hợp không kiểm soát được những thông tin sai lệch, vi phạm điều cấm, thậm chí là an ninh quốc gia; thủ tục hành chính trong lĩnh vực quảng cáo còn chưa thuận lợi cho người dân và doanh nghiệp; việc phân cấp quản lý ở quận, huyện và
sự phối hợp quản lý hoạt động quảng cáo giữa các ngành, lĩnh vực cũng chưa đồng bộ, thống nhất Đáng chú ý, hoạt động quảng cáo diễn ra mọi lúc, mọi nơi dưới nhiều hình thức khác nhau và đưa đến những thông tin làm người dân có lúc không biết đâu là thông tin thật, thông tin giả, thậm chí bị
ức chế phải tiếp nhận các thông tin quảng cáo không mong muốn khi sử
Trang 7dụng các thiết bị công nghệ thông tin, hay bị xúc phạm bởi những thông tin quảng cáo vượt quá các chuẩn mực về văn hóa, thuần phong mỹ tục của con người Việt Nam; một số hoạt động quảng cáo không đúng pháp luật, gây thiệt hại cho người tiêu dùng
Ở tỉnh Lai Châu, trong những năm qua, công tác quản lý nhà nước về hoạt động quảng cáo đã có những chuyển biến tích cực; hoạt động quảng cáo không chỉ góp phần tuyên truyền phục vụ nhiệm vụ chính trị, phát triển kinh
tế - xã hội của tỉnh và các địa phương mà còn là kênh thông tin quang trọng, truyền tải một cách kịp thời, sinh động, hiệu quả các chủ trương chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước cũng như sản phẩm của doanh nghiệp, các tổ chức xã hội đến với các tầng lớp nhân dân Tuy nhiên, hoạt động quảng cáo trên địa bàn tỉnh cũng còn những tồn tại, bất cập nhất định Việc thực hiện hoạt động quảng cáo của một số cơ quan, tổ chức, cá nhân còn mang tính tự phát, không xin phép cơ quan có thẩm quyền khi xây dựng các bảng, biển quảng cáo; tình trạng biến tướng, lách luật trong hoạt động quảng cáo có chiều hướng gia tăng, nhất là hiện tượng quảng cáo kèm biển hiệu, nội dung biển hiệu không đúng quy định… dẫn đến những khó khăn nhất định cho công tác quản lý nhà nước về hoạt động quảng cáo của ngành Văn hoá, Thể thao và Du lịch trên địa bàn tỉnh Lai Châu Nguyên nhân của thực trạng trên là việc tuân thủ pháp luật quảng cáo còn hạn chế; công tác quản lý nhà nước cấp cơ sở (huyện, thành phố, thị trấn) đối với hoạt động quảng cáo còn yếu kém; việc kiểm tra, xử lý sai phạm và cưỡng chế tháo dỡ gặp nhiều khó khăn do lực lượng thanh tra mỏng, kinh phí hoạt động còn hạn chế, chưa
có sự phối hợp hiệu quả giữa các ngành chức năng
Thực trạng và nguyên nhân nêu trên đòi hỏi phải có những phương hướng, giải pháp để khắc phục tồn tại, khó khăn và nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về quảng cáo nói chung, trên địa bàn tỉnh Lai Châu nói riêng
Trang 8Vì vậy, tác giả chọn đề tài "Bảo đảm sự tuân thủ pháp luật trong hoạt động quảng cáo trên địa bàn tỉnh Lai Châu" có ý nghĩa cấp thiết cả về mặt
lý luận và thực tiễn, đáp ứng yêu cầu nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về hoạt động quảng cáo trên địa bàn tỉnh Lai Châu trong thời gian tới
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Liên quan đến quản lý nhà nước về hoạt động quảng cáo nói chung, tuân thủ pháp luật trong hoạt động quảng cáo nói riêng, trong thời gian qua
đã có một số công trình nghiên cứu được công bố với những góc độ tiếp cận khác nhau Có thể kể đến một số công trình nghiên cứu sau đây:
- “Pháp luật về chống quảng cáo không trung thực ở Việt Nam và một
sổ nước trên thế giới” của tác giả Nguyễn Bá Diến đăng trên Tạp chí Nhà
nước và pháp luật, số 10/1997;
- "Pháp luật về hoạt động quảng cáo của doanh nghiệp” của tác giả
Phạm Duy Nghĩa in trong "Pháp luật về cạnh tranh và kiểm soát độc quyền ở Việt Nam", Sách tham khảo, Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội, năm 1999;
- "Nghệ thuật quảng cáo” của tác giả Armand Dayan, Nxb Thế giới,
năm 2002;
- "Khái niệm quảng cáo trong pháp luật Việt Nam và ảnh hưởng của
nó đến việc hoàn thiện pháp luật về quảng cáo” của tác giả Nguyễn Thị
Dung đăng trên Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, (12), tr.7-9, 2005;
- "Điều chỉnh hoạt động quảng cáo trong khuôn khổ pháp luật cạnh tranh tại Việt Nam" của tác giả Đoàn Tử Tích Phước, Luận văn Thạc sĩ luật,
Khoa Luật- Đại học Quốc gia Hà Nội, 2007;
- "Quảng cáo dưới góc độ cạnh tranh" của Cục Quản lý cạnh
tranh-Bộ Công thương, Nxb Lao động xã hội, 2008
- "Pháp luật quảng cáo với vấn đề bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng" của tác giả Đào Tuyết Vân, Luận văn Thạc sĩ luật học, Học viện Chính trị
Quốc gia Hồ Chí Minh, năm 2009;
Trang 9- "Quảng cáo truyền hình - Thực trạng và cơ chế hoàn thiện” của tác
giả Nguyễn Thị Hồng Nhung, Luận văn Thạc sĩ luật học, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, năm 2011;
- “Thẩm quyền quản lý nhà nước đối với hoạt động quảng cáo theo pháp luật một số nước trên thế giới và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam”
của tác giả Vũ Phương Đông đăng trên Tạp chí luật học số 11/2011
- “Quảng cáo- Thực trạng và giải pháp” của Trung tâm thông tin
khoa học - Viện Nghiên cứu lập pháp trên Thông tin chuyên đề, (10), 2011;
- "Hoạt động quảng cáo bị cấm theo pháp luật hiện hành- Bất cập và kiến nghị hoàn thiện” của tác giả Nguyễn Thị Hải Yến đăng trên Tạp chí
Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội, 2016
Ngoài ra, liên quan đến đề tài cũng còn nhiều công trình nghiên cứu được công bố, tuy nhiên, đánh giá chung có thể thấy các công trình được công bố đã đề cập đến một số vấn đề hoạt động quảng cáo; cạnh tranh trong hoạt động quảng cáo; xử lý vi phạm trong hoạt động quảng cáo Tuy nhiên,
ít có công trình nào nghiên cứu liên quan đến thực hiện pháp luật về quảng cáo tại một địa bàn cấp tỉnh cụ thể Vì vậy, trên cơ sở kế thừa, tham khảo các kết quả nghiên cứu đã công bố, luận văn tiếp tục làm rõ một số vấn đề lý luận và thực tiễn về việc tuân thủ pháp luật trong hoạt động quảng cáo để từ
đó đưa ra một số giải pháp bảo đảm tính tuân thủ pháp luật của hoạt động quảng cáo trên địa bàn tỉnh Lai Châu trong thời gian tới
Trang 103 Mục đích, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu của luận văn
3.1 Mục đích nghiên cứu
Mục đích của luận văn là phân tích một số vấn đề lý luận về hoạt động quảng cáo và sự tuân thủ pháp luật trong hoạt động quảng cáo; đánh giá thực trạng và đưa ra một số giải pháp bảo đảm tuân thủ pháp luật trong hoạt động quảng cáo trên địa bàn tỉnh Lai Châu
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích trên, luận văn có một số nhiệm vụ sau:
- Nghiên cứu một số vấn đề lý luận về quảng cáo và sự tuân thủ pháp luật trong hoạt động quảng cáo như: Khái niệm, nội dung, vai trò, các yếu tố ảnh hưởng đến việc tuân thủ pháp luật trong hoạt động quảng cáo
- Đánh giá thực trạng tuân thủ pháp luật trong hoạt động quảng cáo trên địa bàn tỉnh Lai Châu
- Đưa ra một số giải pháp đảm bảo tuân thủ pháp luật trong hoạt động quảng cáo trên địa bàn tỉnh Lai Châu trong thời gian tới
3.3 Phạm vi nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu sự tuân thủ pháp luật trong hoạt động quảng cáo trên địa bàn tỉnh Lai Châu theo quy định pháp luật về quảng cáo của Việt Nam Thời gian nghiên cứu từ khi Luật Quảng cáo năm 2012 có hiệu lực thi hành
4 Phương pháp nghiên cứu
Để đạt được mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu đặt ra, luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu duy vật biện chứng của triết học Mác - Lênin; kết hợp các phương pháp nghiên cứu như: phân tích, tổng hợp, so sánh thống kê, tổng kết thực tiễn Cụ thể như sau:
- Phương pháp phân tích, tổng hợp được sử dụng tại Chương 1 để phân tích cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu là sự tuân thủ pháp luật trong hoạt động quảng cáo
Trang 11- Phương pháp phân tích, so sánh được áp dụng nhằm đánh giá thực trạng tuân thủ pháp luật trong hoạt động quảng cáo trên địa bàn tỉnh Lai Châu để từ đó đưa ra các giải pháp tại Chương 3 của Luận văn
- Phương pháp phân tích, chứng minh được sử dụng chủ yếu ở Chương 3 của Luận văn nhằm luận giải những giải pháp bảo đảm tuân thủ pháp luật trong hoạt động quảng cáo trên địa bàn tỉnh Lai Châu
5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn
- Luận văn là công trình nghiên cứu tương đối có hệ thống về cơ sở lý luận, thực tiễn tuân thủ pháp luật trong hoạt động quảng cáo theo pháp luật hiện hành ở Việt Nam
- Luận văn chỉ ra những ưu điểm, tồn tại và nguyên nhân của thực trạng tuân thủ pháp luật trong hoạt động quảng cáo trên địa bàn tỉnh Lai Châu để từ đó đưa ra giải pháp bảo đảm tuân thủ pháp luật trong hoạt động quảng cáo trên địa bàn tỉnh Lai Châu trong thời gian tới
- Luận văn có thể là tài liệu tham khảo cho công tác nghiên cứu, quảng lý nhà nước về hoạt động quảng cáo và tổ chức, cá nhân quan tâm
6 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn được kết cấu gồm 3 chương, 7 tiết
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về bảo đảm sự tuân thủ pháp luật
trong hoạt động quảng cáo
Chương 2: Thực trạng bảo đảm sự tuân thủ pháp luật trong hoạt động
quảng cáo trên địa bàn tỉnh Lai Châu
Chương 3: Một số giải pháp bảo đảm sự tuân thủ pháp luật trong hoạt
động quảng cáo trên địa bàn tỉnh Lai Châu
Trang 12Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BẢO ĐẢM SỰ TUÂN THỦ PHÁP
LUẬT TRONG HOẠT ĐỘNG QUẢNG CÁO
1.1 Khái niệm và vai trò của quảng cáo
1.1.1 Khái niệm quảng cáo
Quảng cáo nói chung là hoạt động thông tin để định hướng, thuyết phục con người hành động theo một mục tiêu nào đó, vì vậy, có thể tiếp cận quảng cáo dưới những góc độ khác nhau Có quan điểm cho rằng:
Quảng cáo là những nỗ lực nhằm tác động tới hành vi, thói quen mua hàng của người tiêu dùng hay khách hàng bằng cách cung cấp những thông điệp bán hàng theo cách thuyết phục về sản phẩm hay dịch vụ của người bán [2]
Quan điểm khác cho rằng: Quảng cáo là trình bày để giới thiệu rộng rãi cho nhiều người biết nhằm tranh thủ được nhiều khách hàng
Cũng có quan điểm cho rằng: Quảng cáo đó là thông báo phải trả tiền; một chiều và không cho cá nhân ai, được thực hiện thông qua các phương tiện thông tin đại chúng và các dạng truyền thông khác nhằm cổ động có lợi cho một hàng hóa, một nhãn hiệu, một hàng nào đó"[1]
Quan điểm của Hiệp hội Quảng cáo Hoa Kỳ (AMA) cho rằng:
Quảng cáo là hoạt động truyền bá thông tin, trong đó nói rõ ý đồ của chủ quảng cáo, tuyên truyền hàng hóa dịch vụ của chủ quảng cáo trên cơ sở
có thu phí quảng cáo, không trực tiếp nhằm công kích người khác
Còn theo Nghị viện Châu Âu, tại Chỉ thị số 97/360/EC của Hội đồng
và Nghị viện Châu Âu đã nêu rõ:
Quảng cáo không bao gồm các thông tin do cơ quan phát thanh phát
có liên quan tới chương trình của cơ quan và các sản phẩm phụ trực tiếp của các chương trình này; các thông tin về dịch vụ công cộng và các lời kêu gọi cho việc làm từ thiện miễn phí (Điều 18)
Trang 13Theo hiệp hội Marketing Mỹ (American Advertising Association): Quảng cáo là bất cứ loại hình nào của sự hiện diện không trực tiếp của hàng hoá, dịch vụ hay tư tưởng hành động mà người ta phải trả tiền để nhận biết người quảng cáo
Theo hội Quảng cáo Mỹ định nghĩa:
Quảng cáo là hoạt động truyền bá thông tin, trong đó nói rõ ý đồ của chủ quảng cáo, tuyên truyền hàng hoá, dịch vụ của chủ quảng cáo trên cơ sở
có thu phí quảng cáo, không trực tiếp nhằm công kích người khác
Dưới góc độ pháp lý, để quản lý hoạt động quảng cáo, pháp luật của các nước đều quy định cụ thể về hoạt động quảng cáo Ví dụ như: Luật Quảng cáo của Cộng hòa Liên bang Nga quy định:
Quảng cáo là phổ biến các thông tin về thể nhân hoặc pháp nhân, các thể loại hàng hóa, ý tưởng hoặc các dự án (thông tin quảng cáo) dưới mọi hình thức với sự hỗ trợ của bất kỳ phương tiện truyền thông nào, dành cho một nhóm người không xác định và có mục đích tạo năng suất hoặc tăng lãi suất của các pháp nhân và thể nhân, hàng hóa, ý tưởng và các dự án, tạo điều kiện thuận lợi cho việc bán các loại hàng hóa, ý tưởng và dự án
Pháp luật quảng cáo của Hồng Kông quy định:
Quảng cáo hay tài liệu quảng cáo là bất kỳ một tài liệu nào được bao gồm trong một dịch vụ, chương trình truyền hình được thiết kế nhằm tăng doanh thu bán hàng của một sản phẩm hay dịch vụ đặc thù, hay thúc đẩy lợi ích của bất kỳ tổ chức, cơ sở thương mại hay cá nhân nào; dù bằng ngôn từ, hiệu ứng âm thanh (bao gồm nhạc), và/hoặc minh họa trực quan dù ở thể loại khác, cũng như những tham khảo khuyến mãi bao gồm trong một chương trình cho một dịch vụ hay sản phẩm nào
Luật quảng cáo của Cộng hòa nhân dân Trung Hoa ngày 27/10/1994 (có hiệu lực từ ngày 01/2/1995) sửa đổi bổ sung năm 2015 quy định:
Trang 14Quảng cáo được hiểu là một quảng cáo mang tính thương mại mà người cung cấp hàng hoá, dịch vụ giới thiệu cho hàng hoá dịch vụ của mình, cho dù là trực tiếp hay gián tiếp, thông qua các hình thức thông tin công cộng; người quảng cáo (…), dù là tổ chức kinh tế hay pháp nhân mà mục đích của họ là bán các mặt hàng, dịch vụ thiết kế, sản xuất hay xuất bản thuộc lĩnh vực quảng cáo [50]
Ở nước ta, quảng cáo được đề cập ở một số văn bản quy phạm pháp luật, cụ thể như:
Quảng cáo thương mại là hoạt động xúc tiến thương mại của thương nhân để giới thiệu với khách hàng về hoạt động kinh doanh hàng hoá, dịch
vụ của mình [28, Điều 102]; Quảng cáo là việc sử dụng các phương tiện nhằm giới thiệu đến công chúng sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ có mục đích sinh lợi; sản phẩm, dịch vụ không có mục đích sinh lợi; tổ chức, cá nhân kinh doanh sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ được giới thiệu, trừ tin thời sự; chính sách xã hội; thông tin cá nhân [33, Điều 2]…
Mặc dù có các quan niệm khác nhau về quảng cáo nhưng theo nghĩa chung nhất có thể thấy rằng quảng cáo không chỉ là hoạt động truyền đạt thông tin đến với người tiêu dùng, mà còn là hoạt động nhằm tiêu thụ được nhiều hàng hóa, dịch vụ để mang lại lợi nhuận cho quảng cáo Mục đích của hoạt động quảng cáo còn là nhằm tăng cường nhận thức của người tiêu dùng
về hàng hóa, dịch vụ từ đó giúp người tiêu dùng có thể lựa chọn được hàng hóa, dịch vụ phù hợp và có thể tạo nên sự thay đổi các nhu cầu tiêu dùng hay hình thành lối sống tiêu dùng…
Từ đó, có thể khái niệm: Quảng cáo là việc truyền thông tới công chúng về hàng hóa, dịch vụ của cá nhân, tổ chức để thúc đẩy việc tiêu thụ,
sử dụng sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ của chủ quảng cáo
Khái niệm nêu trên cho thấy quảng cáo là hình thức truyền thông phải
Trang 15trả tiền, theo đó về nguyên tắc bên muốn sử dụng dịch vụ quảng cáo buộc phải bỏ ra một số tiền nhất định cho việc truyền bá thông tin về sản phẩm, dịch vụ của doanh nghiệp tổ chức tới công chúng Đồng thời, quảng cáo là
sự thể hiện thông tin một chiều để đưa thông tin đến người tiêu dùng, trong khi đó người tiêu dùng (người nhận thông tin quảng cáo) không bắt buộc phải thể hiện bất cứ hành vi nào và quảng cáo không dành cho riêng cá nhân nào mà hướng tới đông đảo mọi người trong xã hội, thậm chí đối tượng tiếp nhận quảng cáo càng nhiều càng tốt để có thể quảng bá thông tin về hàng hóa, dịch vụ ở phạm vi lớn nhất có thể
1.1.2 Vai trò của quảng cáo
Từ khái niệm quảng cáo nêu trên cho thấy bản chất của quảng cáo là truyền thông hàng hóa, dịch vụ tới công chúng nhằm mục đích thương mại; mang tính một chiều và không giới hạn riêng đối với cá nhân, tổ chức nào
Vì vậy, từ thực tiễn hoạt động quảng cáo, có thể khái quát một số vai trò cơ bản của quảng cáo như sau:
Một là, quảng cáo có vai trò là cầu nối giữa nhà sản xuất, kinh doanh
và người tiêu dùng
Trong đời sống xã hội, nhất là trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường, hoạt động sản xuất, kinh doanh rất đa dạng, phong phú đã tạo ra nhiều loại hàng hóa, dịch vụ, vì vậy để xã hội sử dụng các hàng hóa, dịch vụ
đó thì nhà sản xuất, kinh doanh phải chuyển tải đầy đủ, chính xác thông tin đến với xã hội, người tiêu dùng Thực tế cho thấy, mỗi doanh nghiệp, cơ sở sản xuất, kinh doanh đều cố gắng tạo cho mình một thương hiệu, hình ảnh,
uy tín riêng cho hàng hoá, dịch vụ của mình trong nhận thức của người tiêu dùng, vì vậy các doanh nghiệp đều sử dụng đa dạng các phương thức truyền tải thông tin sản về phẩm, dịch vụ của mình, trong đó quảng cáo được xem
là hình thức phổ biến Quảng cáo chính là cầu nối quan trọng để nhà sản
Trang 16xuất, kinh doanh giới thiệu, quảng bá những sản phẩm, dịch vụ của mình tới người tiêu dùng, đồng thời tạo điều kiện cho người tiêu dùng có thể lựa chọn cho mình các hàng hóa, dịch vụ phù hợp nhất với nhu cầu Khi truyền đi các thông điệp thông qua quảng cáo, người tiêu dùng nhận thức được sản phẩm, dịch vụ thể hiện qua nhãn hiệu, tính năng, công dụng, chất lượng, cách sử dụng, cách bảo dưỡng, giá cả, cách mua, địa điểm mua hay sử dụng hàng hóa dịch vụ và giá cả, chi phí kèm theo để từ đó hình thành niềm tin và đưa
ra quyết định sử dụng hàng hóa, dịch vụ trên thực tế Đặc biệt, trong thời đại phát triển công nghệ thông tin như hiện nay thì vai trò cầu nối của quảng cáo giữa nhà sản xuất, kinh doanh và người tiêu dùng càng thể hiện rõ khi quảng cáo không chỉ đưa đến sự nhận biết của người tiêu dùng mà còn ảnh hưởng, tác động đến quyết định sử dụng hàng hóa, dịch vụ tốt nhất, phù hợp nhất
mà không bị nhầm lẫn hàng hóa, dịch vụ cùng loại của các nhà sản xuất khác trên thị trường
Hai là, quảng cáo góp phần thực hiện các mục tiêu chính trị, kinh tế,
văn hóa- xã hội
Quảng cáo không chỉ đơn thuần chuyển tải thông tin về hàng hóa, dịch vụ mà còn có vai trò trong việc định hướng thái độ, niềm tin của người tiêu dùng đối với hàng hóa, dịch vụ, qua đó phục vụ cho việc thực hiện các chương trình, kế hoạch, nhiệm vụ của cơ quan, tổ chức và đất nước Ví dụ như: quảng cáo định hướng cho xu hướng, thái độ người Việt dùng hàng Việt Hoặc như quảng cáo góp phần vào việc thực hiện các mục tiêu từ thiện, nhân ái, hỗ trợ, chia sẻ trong các chương trình của các
tổ chức chính trị - xã hội
Ba là, quảng cáo góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế- xã hội
Với vai trò cầu nối giữa nhà sản xuất, kinh doanh và người tiêu dùng, quảng cáo tạo động lực cho việc thực hiện các giao dịch, mua bán
Trang 17hàng hóa và sử dụng dịch vụ trong đời sống xã hội Thông qua quảng cáo, nhà sản xuất, kinh doanh sẽ bán được nhiều hàng hóa hơn, dịch vụ được
số người sử dụng nhiều hơn, từ đó hàng hóa, dịch cụ sẽ được sản xuất, cung ứng nhiều hơn, đặc biệt là trong điều kiện phát triển kinh tế thị
trường, thông tin đa dạng, phong phú thì quảng cáo còn là hình thức
marketing, xúc tiến thương mại, đóng vai trò quan trọng đối với sự tồn tại
và phát triển của doanh nghiệp và tạo động lực cho việc thúc đẩy các giao
dịch về tiêu thụ, sử dụng sản phẩm, dịch vụ, qua đó trực tiếp góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội
1.2 Bảo đảm sự tuân thủ pháp luật trong hoạt động quảng cáo
1.2.1 Khái niệm
Như đã khái quát ở trên, quảng cáo có vai trò quan trọng đối với việc thúc đẩy hoạt động sản xuất, kinh doanh của các cá nhân, tổ chức cũng như bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người tiêu dùng Vì vậy, để đảm bảo hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước đối với hoạt động quảng cáo thì Nhà nước có thể sử dụng các công cụ, biện pháp khác nhau, trong đó pháp luật được coi là công cụ quan trọng nhất - đó là hệ thống quy phạm có hiệu lực bắt buộc chung, được áp dụng lặp đi lặp lại nhiều lần đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân trong phạm vi cả nước hoặc đơn vị hành chính nhất định, do
cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền ban hành và được Nhà nước bảo đảm thực hiện
Trong hoạt động quảng cáo, yêu cầu đặt ra là các quy phạm pháp luật phải được ban hành phù hợp và khả thi để điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong hoạt động quảng cáo Cụ thể như: Các quan hệ xã hội phát sinh khi chấp hành nội dung các quy định pháp luật về quảng cáo; mối quan
hệ phát sinh trong tổ chức, quản lý hoạt động quảng cáo (mối quan hệ giữa
cơ quan quản lý nhà nước về quảng cáo với tổ chức, cá nhân cung cấp dịch
Trang 18vụ quảng cáo); mối quan hệ phát sinh trong quá trình thực hiện các trình tự, thủ tục về quảng cáo Từ đó, để điều chỉnh các nhóm quan hệ xã hội phát sinh trong hoạt động quảng cáo thì Nhà nước phải ban hành các quy định pháp luật- các quy phạm pháp luật về quảng cáo và tổng hợp các quy phạm pháp luật về quảng cáo tạo thành pháp luật về quảng cáo Đó là các quy phạm pháp luật do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền ban hành nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong hoạt động quảng cáo, bao gồm các quy định về quyền, nghĩa vụ của cá nhân, tổ chức thực hiện dịch vụ quảng cáo; cơ quan, tổ chức, cá nhân liên quan đến hoạt động quảng cáo và trình
tự, thủ tục thực hiện hoạt động quảng cáo
Như vậy, việc ban hành các quy định pháp luật về quảng cáo có vai trò quan trọng trong việc xác lập cơ sở pháp lý điều chỉnh hoạt động quảng cáo trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường, hội nhập khu vực và quốc
tế Pháp luật về quảng cáo là cơ sở pháp lý điều chỉnh nội dung, hình thức của hoạt động quảng cáo, bao gồm tất cả các hoạt động quảng cáo trên bất
cứ phương tiện nào, có mục đích sinh lời hoặc không sinh lời Thông qua những quy định cụ thể về những hành vi được phép và không được phép thực hiện, Nhà nước thể hiện sự quản lý của mình để hạn chế và tránh tình trạng lộn xộn trong hoạt động quảng cáo Đồng thời, pháp luật về quảng cáo còn tạo cơ sở cho việc góp phần đảm bảo quyền và nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân có nhu cầu quảng cáo, có căn cứ pháp luật góp phần cho việc quảng cáo các nội dung đó trung thực, chính xác, có văn hóa, có tính định hướng
xã hội chủ nghĩa Thông qua các các chế tài cụ thể, Nhà nước kiểm soát các thông tin được đưa lên phương tiện truyền thông đại chúng với mục đích bảo đảm thông tin trung thực, chống quảng cáo gian dối hoặc quảng cáo gây tác động xấu cho xã hội, bảo đảm quyền con người, quyền công dân, bảo vệ lợi ích hợp pháp của công dân và các tổ chức Bên cạnh đó, pháp luật về quảng
Trang 19cáo cũng là cơ sở để xử lý các vi phạm về quảng cáo, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người dân và doanh nghiệp
Tuy nhiên, các quy định pháp luật về quảng cáo có được thực hiện hiệu quả hay không còn phụ thuộc vào nhận thức, hành vi hợp pháp của các chủ thể, thậm chí phải có sự tác động của cơ quan có thẩm quyền để buộc chủ thể liên quan phải thực hiện các nghĩa vụ pháp luật về quảng cáo quy định Hay nói cách khác, các quy định pháp luật về quảng cáo có trở thành hiện thực trong xã hội hay không còn phụ thuộc vào hiệu quả thực hiện pháp luật về quảng cáo Dưới góc độ lý luận, thực hiện pháp luật có bốn hình thức
cơ bản là tuân thủ pháp luật, thi hành pháp luật, sử dụng pháp luật và áp dụng pháp luật Vì vậy, căn cứ vào tính chất của các quy phạm pháp luật về
quảng cáo, có thể khái niệm: Tuân thủ pháp luật trong hoạt động quảng cáo
là hình thức thực hiện pháp luật, theo đó các cá nhân, tổ chức không thực hiện các hành vi xử sự mà pháp luật quảng cáo cấm
1.2.2 Nội dung tuân thủ pháp luật trong hoạt động quảng cáo
Tuân thủ pháp luật trong hoạt động quảng cáo, về bản chất là không thực hiện những điều cấm của pháp luật Vì vậy, tuân thủ pháp luật trong hoạt động quảng cáo có ý nghĩa quyết định đối với hiệu lực, hiệu quả quản
lý nhà nước về quảng cáo; đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của Nhà nước
và tổ chức, cá nhân liên quan, từ đó đòi hỏi các chủ thể liên quan phải tuân thủ đúng những nội dung điều chỉnh của pháp luật đối với hoạt động quảng cáo thể hiện qua các quy định pháp luật về hoạt động quảng cáo, trong đó có các quy định cấm của pháp luật
Nghiên cứu pháp luật ở nước ta có thể thấy rằng yêu cầu tuân thủ pháp luật trong hoạt động quảng cáo ngày càng thể hiện chặt chẽ, phù hợp trong quá trình hoàn thiện pháp luật về quảng cáo Cụ thể là các dấu mốc cơ bản như: Chỉ thị số 738/VP ngày 10/08/1990 của Bộ Văn hoá Thông tin -
Trang 20Thể thao và Du lịch quy định về công tác quảng cáo; Thông tư liên bộ số 1191-TT/LB ngày 29/06/1991 của Uỷ ban Khoa học Nhà nước và Bộ Văn hoá Thông tin - Thể thao và Du lịch quy định về quản lý nhãn và quảng cáo sản phẩm hàng hoá; Nghị định số 194/CP ngày 31/12/1994 của Chính phủ
về hoạt động quảng cáo trên lãnh thổ Việt Nam; Luật Thương mại năm 1997 (trong đó có quy định về hoạt động quảng cáo thương mại); Pháp lệnh Quảng cáo năm 2001; ngày 13/03/2003, Chính phủ đã ban hành Nghị định
số 24/2003/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành Pháp lệnh Quảng cáo; Luật Thương mại năm 2005; Luật Quảng cáo năm 2012 Theo quy định của pháp luật hiện hành, hoạt động quảng cáo phải tuân thủ các quy định pháp luật không chỉ trong Luật Quảng cáo và các văn bản hướng dẫn thi hành mà còn
cả các quy định pháp luật trong các luật chuyên ngành (Luật Dược, Luật Thương Mại, Luật Canh tranh )
1.2.2.1 Tuân thủ pháp luật theo Luật Quảng cáo và các văn bản hướng dẫn thi hành
Nội dung tuân thủ pháp luật theo Luật Quảng cáo và các văn bản hướng dẫn thi hành được thể hiện qua các quy định về những vấn đề cơ bản sau đây:
Thứ nhất, hình thức và phương tiện quảng cáo
Để chuyển tải thông tin đến công chúng hiệu quả nhất, pháp luật quy định cụ thể về hình thức và phương tiện quảng cáo Theo quy định của Luật Quảng cáo năm 2012 thì hình thức quảng cáo được thể hiện bằng hình ảnh,
âm thanh, tiếng nói, chữ viết, biểu tượng, màu sắc, ánh sáng và các hình thức tương tự hay tổng hợp các hình thức này nhằm chuyển tải thông tin và tác động, gây ấn tượng với người tiếp nhận thông tin quảng cáo Đồng thời, các hình thức quảng cáo phải tuân thủ các quy định nghiêm ngặt của pháp luật không chỉ về tính hợp pháp mà còn cả tính thẩm mỹ
Trang 21Cùng với các hình thức quảng cáo nêu trên, pháp luật cũng quy định
về các phương tiện quảng cáo đòi hỏi các cá nhân, tổ chức tham gia hoạt động quảng cáo phải tuân thủ Đó là: Báo chí (gồm báo in, báo nói, báo hình, báo điện tử); Trang thông tin điện tử, thiết bị điện tử, thiết bị đầu cuối
và các thiết bị viễn thông khác; các sản phẩm in, bản ghi âm, ghi hình và các thiết bị công nghệ khác; Bảng quảng cáo, băng-rôn, biển hiệu, hộp đèn, màn hình chuyên quảng cáo; Phương tiện giao thông; Hội chợ, hội thảo, hội nghị,
tổ chức sự kiện, triển lãm, chương trình văn hoá, thể thao; Người chuyển tải sản phẩm quảng cáo; vật thể quảng cáo và các phương tiện quảng cáo khác theo quy định của pháp luật
Thứ hai, nội dung quảng cáo
Nội dung quảng cáo là những thông điệp mà cá nhân, tổ chức thực hiện hoạt động quảng cáo muốn chuyển tải tới công chúng hay một nhóm đối tượng xác định Xuất phát từ mục tiêu quảng cáo, những thông tin quảng cáo đưa ra về hoạt động sản xuất, phân phối, lưu thông sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ rất đa dạng và phong phú, bởi vậy hoạt động quảng cáo phải tuân thủ các quy định pháp luật về nội dung quảng cáo Do đó, các quy định về nội dung thông tin quảng cáo không chỉ có ở pháp luật quảng cáo mà cả ở các quy định pháp luật về báo chí, bảo vệ người tiêu dùng, xuất bản
Để đảm bảo hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và bảo vệ người tiêu
dùng, Luật Quảng cáo năm 2012 quy định: "Nội dung quảng cáo phải bảo đảm trung thực, chính xác, rõ ràng, không gây thiệt hại cho người sản xuất, kinh doanh và người tiếp nhận quảng cáo” [33, Điều 19] Để cụ thể hóa quy
định này, Nghị định số 181/2013/NĐ-CP ngày 14/11/2013 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Quảng cáo Nghị định đã dành toàn bộ chương II (từ Điều 3 đến Điều 12) quy định về nội dung quảng cáo các sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ đặc biệt như: Thuốc; mỹ phẩm; thực
Trang 22phẩm, phụ gia thực phẩm; hoá chất, chế phẩm diệt côn trùng, diệt khuẩn dùng trong gia dụng và y tế; trang thiết bị y tế; sản phẩm sữa và sản phẩm dinh dưỡng bổ sung dùng cho trẻ; dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh; thuốc bảo
vệ thực vật, nguyên liệu thuốc bảo vệ thực vật, vật tư bảo vệ thực vật, sinh vật có ích dùng trong bảo vệ thực vật, thuốc thú y, vật tư thú y; phân bón, chế phẩm sinh học phục vụ trồng trọt, thức ăn chăn nuôi, chế phẩm sinh học phục vụ chăn nuôi, giống cây trồng, giống vật nuôi; yêu cầu xác nhận nội dung quảng cáo đối với các sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ đặc biệt Theo quy định của nghị định này thì việc tuân thủ pháp luật về nội dung quảng cáo tùy thuộc vào tính chất, đặc điểm của từng loại sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ đặc biệt, đáng chú ý là việc quảng cáo các sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ đặc biệt chỉ được thực hiện sau khi được cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác nhận nội dung quảng cáo
Thứ ba, sản phẩm quảng cáo
Sản phẩm quảng cáo là quy định mới trong Luật Quảng cáo năm
2012, bao gồm nội dung và hình thức quảng cáo chứa đựng thông tin được chuyển tải qua các phương tiện quảng cáo tới công chúng Bởi vậy,
để đảm bảo hiệu quả quảng cáo thì nhà quảng cáo cần lựa chọn sản phẩm quảng cáo phù hợp với tính tính chất, đặc điểm, mục đích, phương tiện quảng cáo, đối tượng tác động của hàng hóa, dịch vụ Yêu cầu đối với sản phẩm quảng cáo là phải có nội dung thể hiện bằng tiếng Việt, trừ trường hợp: Nhãn hiệu hàng hoá, khẩu hiệu, thương hiệu, tên riêng bằng tiếng nước ngoài hoặc các từ ngữ đã được quốc tế hoá không thể thay thế bằng tiếng Việt; sách, báo, trang thông tin điện tử và các ấn phẩm được phép xuất bản bằng tiếng dân tộc thiểu số Việt Nam, tiếng nước ngoài; chương trình phát thanh, truyền hình bằng tiếng dân tộc thiểu số Việt Nam, tiếng nước ngoài Trong trường hợp sử dụng cả tiếng Việt, tiếng nước ngoài
Trang 23trên cùng một sản phẩm quảng cáo thì khổ chữ nước ngoài không được quá ba phần tư khổ chữ tiếng Việt và phải đặt bên dưới chữ tiếng Việt; khi phát trên đài phát thanh, truyền hình hoặc trên các phương tiện nghe nhìn, phải đọc tiếng Việt trước tiếng nước ngoài
Thực tế hoạt động quảng cáo cho thấy rằng nếu sản phẩm quảng cáo tốt, mang tính tích cực thì hiệu quả chuyển tải thông tin sẽ cao và ngược lại Vì vậy, khi thực hiện hoạt động quảng cáo, nhà quảng cáo phải tuân thủ các quy định pháp luật về sản phẩm quảng cáo Ví dụ như: khi quảng cáo trên báo in thì diện tích quảng cáo không được vượt quá 15% tổng diện tích một ấn phẩm báo hoặc 20% tổng diện tích một ấn phẩm tạp chí, trừ báo, tạp chí chuyên quảng cáo; phải có dấu hiệu phân biệt quảng cáo với các nội dung khác Hoặc như khi quảng cáo trên bảng quảng cáo, băng-rôn thì việc đặt bảng quảng cáo, băng-rôn phải tuân thủ quy định về khu vực bảo vệ di tích lịch sử, văn hóa; hành lang an toàn giao thông, đê điều, lưới điện quốc gia; không được che khuất đèn tín hiệu giao thông, bảng chỉ dẫn công cộng; không được chăng ngang qua đường giao thông và phải tuân thủ quy hoạch quảng cáo của địa phương và quy chuẩn kỹ thuật do cơ quan có thẩm quyền ban hành
Thứ tư, các hành vi bị cấm trong hoạt động quảng cáo
Để đảm bảo môi trường cạnh tranh lành mạnh sản xuất, kinh doanh cũng như quyền và lợi ích hợp pháp của người tiêu dùng, pháp luật đã quy định cụ thể những hành vi bị cấm trong hoạt động quảng cáo Đó là:
- Quảng cáo những sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ bị cấm quảng cáo Cụ thể như: Hàng hóa, dịch vụ cấm kinh doanh theo quy định của pháp luật; thuốc lá; rượu có nồng độ cồn từ 15 độ trở lên; sản phẩm sữa thay thế sữa
mẹ dùng cho trẻ dưới 24 tháng tuổi, sản phẩm dinh dưỡng bổ sung dùng cho trẻ dưới 06 tháng tuổi; bình bú và vú ngậm nhân tạo; thuốc kê đơn; thuốc
Trang 24không kê đơn nhưng được cơ quan nhà nước có thẩm quyền khuyến cáo hạn chế sử dụng hoặc sử dụng có sự giám sát của thầy thuốc; các loại sản phẩm, hàng hóa có tính chất kích dục; súng săn và đạn súng săn, vũ khí thể thao và các loại sản phẩm, hàng hóa có tính chất kích động bạo lực
- Quảng cáo làm tiết lộ bí mật nhà nước, phương hại đến độc lập, chủ quyền quốc gia, an ninh, quốc phòng
- Quảng cáo thiếu thẩm mỹ, trái với truyền thống lịch sử, văn hóa, đạo đức, thuần phong mỹ tục Việt Nam
- Quảng cáo làm ảnh hưởng đến mỹ quan đô thị, trật tự an toàn giao thông, an toàn xã hội
- Quảng cáo gây ảnh hưởng xấu đến sự tôn nghiêm đối với Quốc kỳ, Quốc huy, Quốc ca, Đảng kỳ, Anh hùng dân tộc, Danh nhân văn hóa, Lãnh
tụ, lãnh đạo Đảng, Nhà nước
- Quảng cáo có tính chất kỳ thị dân tộc, phân biệt chủng tộc, xâm phạm tự do tín ngưỡng, tôn giáo, định kiến về giới, về người khuyết tật
- Quảng cáo xúc phạm uy tín, danh dự, nhân phẩm của tổ chức, cá nhân
- Quảng cáo có sử dụng hình ảnh, lời nói, chữ viết của cá nhân khi chưa được cá nhân đó đồng ý, trừ trường hợp được pháp luật cho phép
- Quảng cáo không đúng hoặc gây nhầm lẫn về khả năng kinh doanh, khả năng cung cấp hàng hóa, dịch vụ của tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ; về số lượng, chất lượng, giá, công dụng, kiểu dáng, bao bì, nhãn hiệu, xuất xứ, chủng loại, phương thức phục vụ, thời hạn bảo hành của hàng hoá, dịch vụ đã đăng ký hoặc đã được công bố
- Quảng cáo bằng việc sử dụng phương pháp so sánh trực tiếp về giá cả, chất lượng, hiệu quả sử dụng hàng hóa, dịch vụ của mình với giá cả, chất lượng, hiệu quả sử dụng hàng hóa, dịch vụ cùng loại của tổ chức, cá nhân khác
- Quảng cáo có sử dụng các từ ngữ “nhất”, “duy nhất”, “tốt nhất”, “số
Trang 25một” hoặc từ ngữ có ý nghĩa tương tự mà không có tài liệu hợp pháp chứng minh theo quy định của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch
- Quảng cáo có nội dung cạnh tranh không lành mạnh theo quy định của pháp luật về cạnh tranh (ví dụ như: So sánh trực tiếp hàng hoá, dịch vụ của mình với hàng hoá, dịch vụ cùng loại của doanh nghiệp khác; bắt chước một sản phẩm quảng cáo khác để gây nhầm lẫn cho khách hàng; đưa thông tin gian dối hoặc gây nhầm lẫn cho khách hàng )
- Quảng cáo vi phạm pháp luật về sở hữu trí tuệ
- Quảng cáo tạo cho trẻ em có suy nghĩ, lời nói, hành động trái với đạo đức, thuần phong mỹ tục, gây ảnh hưởng xấu đến sức khỏe, an toàn hoặc sự phát triển bình thường của trẻ em
- Ép buộc cơ quan, tổ chức, cá nhân thực hiện quảng cáo hoặc tiếp nhận quảng cáo trái ý muốn
- Treo, đặt, dán, vẽ các sản phẩm quảng cáo trên cột điện, trụ điện, cột tín hiệu giao thông và cây xanh nơi công cộng
Ngoài các hành vi bị cấm trong hoạt động quảng cáo nêu trên, pháp luật còn quy định những hành vi bị cấm khác trong từng lĩnh vực cụ thể Ví
dụ như: Quảng cáo trên các sản phẩm in là tiền hoặc giấy tờ có giá, văn bằng chứng chỉ và văn bản quản lý nhà nước [28, Điều 25]; quảng cáo sai sự thật
về một trong các nội dung số lượng, chất lượng, giá, công dụng, kiểu dáng, xuất xứ hàng hóa, chủng loại bao bì, phương thức phục vụ và thời hạn bảo hành của hàng hóa, dịch vụ” [38, Điều 109]; Lợi dụng hình thức thầy thuốc hướng dẫn cách phòng bệnh, chữa bệnh hoặc hướng dẫn sử dụng thuốc bằng các bài viết trên báo, bằng các chương trình phát thanh, truyền hình để quảng cáo thuốc; sử dụng các loại kết quả nghiên cứu lâm sàng chưa đủ cơ
sở khoa học, chưa đủ bằng chứng y học để thông tin, quảng cáo thuốc [7]
Trang 26Thứ năm, điều kiện và trình tự, thủ tục trong hoạt động quảng cáo
Quảng cáo có ảnh hưởng rất lớn đến nhận thức của người tiêu dùng và định hướng xã hội đối với hàng hóa, dịch vụ được quảng cáo, bởi vậy, hoạt động quảng cáo phải tuân thủ những điều kiện và trình tự, thủ tục nhất định
Đó là quảng cáo về hoạt động kinh doanh hàng hoá, dịch vụ phải có giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh; quảng cáo cho các loại sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ phải có các tài liệu chứng minh về sự hợp chuẩn, hợp quy của sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ theo quy định của pháp luật; quảng cáo tài sản
mà pháp luật quy định tài sản đó phải có giấy chứng nhận quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng thì phải có giấy chứng nhận quyền sở hữu hoặc quyền
sử dụng tài sản và quảng cáo cho sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ đặc biệt phải đảm bảo các điều kiện tương ứng đối với sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ đặc biệt đó (ví dụ như: Nội dung quảng cáo thực phẩm, phụ gia thực phẩm phải phù hợp với Giấy tiếp nhận bản công bố hợp quy hoặc Giấy xác nhận phù hợp quy định an toàn thực phẩm) Cùng với các điều kiện quảng cáo, pháp luật cũng quy định các trình tự, thủ tục thực hiện các hoạt động quảng cáo cụ thể nhằm đảm bảo công khai, minh bạch trong quản lý hoạt động quảng cáo
Ví dụ như: Trình tự, thủ tục cấp giấy phép xây dựng công trình quảng cáo; thủ tục đề nghị cấp giấy phép ra kênh, chương trình chuyên quảng cáo…
Thứ sáu, quyền và nghĩa vụ của các chủ thể trong hoạt động quảng cáo
Hoạt động quảng cáo có sự tham gia của nhiều chủ thể, đó là: Chủ thể quản lý nhà nước về quảng cáo; Người quảng cáo (tổ chức, cá nhân có yêu cầu quảng cáo sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ của mình hoặc bản thân tổ chức,
cá nhân đó); người kinh doanh dịch vụ quảng cáo (tổ chức, cá nhân thực hiện một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình quảng cáo theo hợp đồng cung ứng dịch vụ quảng cáo với người quảng cáo); người phát hành quảng cáo (tổ chức, cá nhân dùng phương tiện quảng cáo thuộc trách nhiệm
Trang 27quản lý của mình giới thiệu sản phẩm quảng cáo đến công chúng); người chuyển tải sản phẩm quảng cáo (người trực tiếp đưa các sản phẩm quảng cáo đến công chúng hoặc thể hiện sản phẩm quảng cáo trên người thông qua hình thức mặc, treo, gắn, dán, vẽ hoặc các hình thức tương tự); người tiếp nhận quảng cáo (người tiếp nhận thông tin từ sản phẩm quảng cáo thông qua phương tiện quảng cáo) Vì vậy, việc các chủ thể tuân thủ đúng các quy định
về quyền và nghĩa vụ của mình trong hoạt động quảng cáo, góp phần quan trọng đảm bảo tuân thủ pháp luật trong hoạt động quảng cáo Cụ thể là:
- Quyền và nghĩa vụ của chủ thể quản lý nhà nước về quảng cáo:
Theo quy định hiện hành thì Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về hoạt động quảng cáo Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện quản lý nhà nước về hoạt động quảng cáo Các Bộ, cơ quan ngang bộ trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm phối hợp với Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch thực hiện quản lý nhà nước
về hoạt động quảng cáo Ủy ban nhân dân các cấp thực hiện quản lý nhà nước về hoạt động quảng cáo trong phạm vi địa phương theo thẩm quyền
Để thực hiện vai trò quản lý nhà nước đối với hoạt động quảng cáo, các chủ thể quản lý quy định chính sách đối với hoạt động quảng cáo nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân trong hoạt động quảng cáo, tạo điều kiện để họ phát triển các loại hình và nâng cao chất lượng quảng cáo; khuyến khích các tổ chức, cá nhân nghiên cứu, ứng dụng khoa học và công nghệ hiện đại vào việc thiết kế, xây dựng sản phẩm quảng cáo, đầu tư
có hiệu quả vào quảng cáo; tạo điều kiện và khuyến khích phát triển nguồn nhân lực cho hoạt động quảng cáo Đồng thời, các chủ thể quản lý nhà nước có trách nhiệm ban hành và tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật về hoạt động quảng cáo; xây dựng và chỉ đạo thực hiện chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chính sách phát triển, phổ biến, giáo dục pháp luật về
Trang 28hoạt động quảng cáo Đặc biệt, thường xuyên thực hiện thanh tra, kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm trong hoạt động quảng cáo
- Quyền và nghĩa vụ của người quảng cáo: Người quảng cáo có quyền
quảng cáo về tổ chức, cá nhân, sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ của mình; quyết định hình thức và phương thức quảng cáo và được cơ quan có thẩm quyền
về quảng cáo của địa phương thông tin về quy hoạch quảng cáo ngoài trời đã phê duyệt Người quảng cáo có nghĩa vụ cung cấp cho người kinh doanh dịch vụ quảng cáo hoặc người phát hành quảng cáo thông tin cần thiết, trung thực, chính xác về cơ quan, tổ chức, cá nhân, hàng hóa, dịch vụ, các tài liệu liên quan đến điều kiện quảng cáo và chịu trách nhiệm về các thông tin đó; bảo đảm chất lượng hàng hóa, dịch vụ phù hợp với nội dung quảng cáo; chịu trách nhiệm về sản phẩm quảng cáo của mình trong trường hợp trực tiếp thực hiện quảng cáo trên các phương tiện; liên đới chịu trách nhiệm về sản phẩm quảng cáo trong trường hợp thuê người khác thực hiện; cung cấp tài liệu liên quan đến sản phẩm quảng cáo khi người tiếp nhận quảng cáo hoặc
cơ quan nhà nước có thẩm quyền yêu cầu; thực hiện quyền và nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật
- Quyền và nghĩa vụ của người kinh doanh dịch vụ quảng cáo: Người
kinh doanh dịch vụ quảng cáo có quyền quyết định hình thức và phương thức kinh doanh dịch vụ quảng cáo; được người quảng cáo cung cấp thông tin trung thực, chính xác về tổ chức, cá nhân, sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ được quảng cáo và các tài liệu liên quan đến điều kiện quảng cáo; được tham gia ý kiến trong quá trình xây dựng quy hoạch quảng cáo của địa phương và được cơ quan có thẩm quyền về quảng cáo của địa phương thông tin về quy hoạch quảng cáo ngoài trời Người kinh doanh dịch vụ quảng cáo phải hoạt động theo đúng phạm vi, lĩnh vực được quy định trong giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh và tuân thủ quy định của pháp luật về
Trang 29quảng cáo; thực hiện kiểm tra các tài liệu liên quan đến điều kiện quảng cáo của tổ chức, cá nhân, hàng hóa, dịch vụ cần quảng cáo và thực hiện thủ tục có liên quan theo hợp đồng dịch vụ quảng cáo; chịu trách nhiệm về sản phẩm quảng cáo do mình trực tiếp thực hiện; phải cung cấp tài liệu liên quan đến sản phẩm quảng cáo khi người tiếp nhân quảng cáo hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền yêu cầu; thực hiện quyền và nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật
- Quyền và nghĩa vụ của người phát hành quảng cáo: Người phát
hành quảng cáo được quảng cáo trên phương tiện của mình và thu phí dịch
vụ theo quy định của pháp luật; có trách nhiệm kiểm tra các tài liệu liên quan đến điều kiện quảng cáo của khách hàng, hàng hóa, dịch vụ cần quảng cáo; có trách nhiệm cung cấp tài liệu liên quan đến sản phẩm quảng cáo khi người tiếp nhận quảng cáo hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền yêu cầu Thực hiện quyền và nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật
- Quyền và nghĩa vụ của người tiếp nhận quảng cáo: Người tiếp nhận
quảng cáo được thông tin trung thực về chất lượng, tính năng, tác dụng của hàng hóa, dịch vụ; được từ chối tiếp nhận quảng cáo; được yêu cầu người quảng cáo hoặc người phát hành quảng cáo bồi thường thiệt hại khi hàng hóa, dịch vụ không đúng tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật, chất lượng, số lượng, tính năng, công dụng, giá cả hoặc nội dung khác mà tổ chức, cá nhân
đã quảng cáo; được tố cáo, khởi kiện dân sự theo quy định của pháp luật Người tiếp nhận quảng cáo khi thực hiện việc tố cáo phải hay yêu cầu bồi thường thiệt hại có nghĩa vụ phải cung cấp đầy đủ tài liệu, chứng cứ về hành
vi vi phạm pháp luật về quảng cáo với cơ quan quản lý nhà nước và chứng
cứ chứng minh thiệt hại mà quảng cáo gây ra; được quyền yêu cầu người kinh doanh dịch vụ quảng cáo, người phát hành quảng cáo hoặc người quảng cáo cung cấp tài liệu liên quan đến sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ quảng cáo
Trang 301.2.2.2 Tuân thủ pháp luật theo các luật chuyên ngành
Ngoài việc tuân thủ pháp luật theo Luật Quảng cáo và các văn bản hướng dẫn thi hành, hoạt động quảng cáo còn phải tuân thủ các quy định của các luật chuyên ngành Cụ thể là:
Thứ nhất, các quy định của Luật Thương mại năm 2005
Luật Thương mại năm 2005 quy định: “Quảng cáo thương mại là hoạt động xúc tiến thương mại của thương nhân để giới thiệu với khách hàng về hoạt động kinh doanh, hàng hoá, dịch vụ của mình” [28, Điều 102] Như vậy,
theo quy định thì quảng cáo theo Luật Quảng cáo và quảng cáo thương mại theo Luật Thương mại có điểm giống nhau là quá trình thông tin, nhưng có sự khác biệt cơ bản là:
- Chủ thể của quảng cáo thương mại là thương nhân thực hiện hoạt động quảng cáo để hỗ trợ hoạt động kinh doanh của mình Ngược lại chủ thể của quảng cáo nói chung là các cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức
xã hội, tiến hành các hoạt động thông tin, cổ động nhằm tuyên truyền
về đường lối, chủ trương, chính sách kinh tế - xã hội
- Mục đích của quảng cáo thương mại là đáp ứng nhu cầu cạnh tranh và mục tiêu lợi nhuận của thương nhân, còn lại hoạt động thông tin của các cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức xã hội, không nhằm mục đích kinh doanh Như vậy, quảng cáo hay quảng cáo thương mại đều là các kỹ thuật thuyết phục khác nhau mà mục tiêu là liên hệ với thị trường và công chúng, tuy nhiên mỗi hoạt động lại mang những đặc điểm khác nhau với những quy chế pháp lý riêng biệt
Nội dung quảng cáo thương mại là những thông tin về hoạt động kinh doanh, hàng hóa, dịch vụ (thương hiệu, loại sản phẩm, tính năng ưu việt và những tiện ích của sản phẩm ) mà người quảng cáo muốn thể hiện nhằm thông báo, giới thiệu rộng rãi tới công chúng Nội dung quảng cáo phải lành
Trang 31mạnh, đúng sự thật, không gây nhầm lẫn cho khách hàng, không gây thiệt hại cho người sản xuất, kinh doanh và người tiêu dùng Pháp luật cấm sử dụng các sản phẩm quảng cáo chứa đựng thông tin mang tính so sánh trực tiếp giữa hàng hóa, dịch vụ được quảng cáo với các hàng hóa dịch vụ khác (trừ so sánh với hàng hóa giả, hàng hóa vi phạm bản quyền); cấm các sản phẩm quảng cáo
có nội dung không đúng sự thật, tự khẳng định mình có vị trí cao nhất khi không có bằng chứng hợp lệ bằng văn bản Hình thức quảng cáo được thể hiện bằng tiếng nói, chữ viết, biểu tượng, màu sắc, ánh sáng, hình ảnh, hành động, âm thanh và các hình thức khác có khả năng truyền đạt nội dung thông tin quảng cáo tới công chúng Hình thức quảng cáo phải rõ ràng, dễ hiểu và có tính thẩm mĩ Tiếng nói, chữ viết dùng trong quảng cáo phải là tiếng Việt, trừ các trường hợp: Từ ngữ đã được quốc tế hóa, thương hiệu hoặc từ ngữ không thay thế được bằng tiếng Việt; quảng cáo thông qua sách, báo, ấn phẩm được phép xuất bản bằng tiếng dân tộc thiểu số ở Việt Nam, tiếng nước ngoài; chương trình phát thanh, truyền hình bằng tiếng dân tộc thiểu số ở Việt Nam, tiếng nước ngoài Trong trường hợp sử dụng cả tiếng Việt, tiếng dân tộc thiểu
số ở Việt Nam, tiếng nước ngoài trên cùng một sản phẩm quảng cáo thì viết tiếng Việt trước, tiếp đến tiếng dân tộc thiểu số, tiếng nước ngoài và khổ chữ tiếng dân tộc thiểu số, khổ chữ tiếng nước ngoài không được lớn hơn khổ chữ tiếng Việt Trước khi tiến hành quảng cáo, thương nhân quảng cáo hoặc thương nhân kinh doanh dịch vụ quảng cáo phải xin cấp giấy phép quảng cáo tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền
Hoạt động quảng cáo thương mại là một trong các hình thức cơ bản của hoạt động xúc tiến thương mại, là công cụ quan trọng giúp thương nhân thức đẩy cơ hội bán hàng và cung ứng hàng hóa, dịch vụ Thông qua hoạt động quảng cáo, các thông tin về hàng hóa, dịch vụ được truyền tải tới đông đảo khách hàng Tuy nhiên, trong quảng cáo chỉ là độc thoại, thường là tự đề cao
Trang 32mình vì thế có thể mang lại những phiền toái cho công chúng trong việc phân tích, đánh giá thông tin, thậm chí gây thiệt hại cho công chúng Mặt khác, ranh giới giữa quảng cáo với hành vi cạnh tranh không lành mạnh rất mong manh Luật Thương mại năm 2005 quy định một trong những quảng cáo
thương mại bị cấm đó là: “Quảng cáo sai sự thật về một trong các nội dung
số lượng, chất lượng, giá, công dụng, kiểu dáng, xuất xứ hàng hóa, chủng loại bao bì, phương thức phục vụ và thời hạn bảo hành của hàng hóa, dịch vụ” [28, Điều 109, Khoản 7] Từ đó, việc quảng cáo sai sự thật được hiểu là
việc đưa thông tin không đúng sự thật dưới bất kỳ hình thức nào đều được coi
là vi phạm nguyên tắc trung thực - nguyên tắc cơ bản của Luật Thương mại Trên thực tế thương nhân quảng cáo thương mại đã không ngần ngại thổi phồng về sản phẩm của mình là tốt nhất, duy nhất hay được tổ chức nào đó khuyên dùng trong khi thực tế, chất lượng sản phẩm đó liệu được bao nhiêu phần là đúng sự thật
Như vậy, có thể thấy rằng, quy định nói trên của Luật Thương mại là nhằm: Hoàn thiện và hướng tới một môi trường quảng cáo lành mạnh, đúng với số lượng, chất lượng, giá, công dụng, kiểu dáng, xuất xứ hàng hóa, chủng loại, bao bì, phương thức phục vụ, thời hạn bảo hành của hàng hoá, dịch vụ tránh sự nhầm lẫn cho người tiêu dùng; giảm thiểu những tổn thất về quảng cáo sai sự thật đem lại cho Nhà nước cũng như khách hàng; giúp các nhà làm luật và những người có thẩm quyền xử lý vi phạm pháp luật về quảng cáo có cơ sở để xử lý nghiêm các trường hợp quảng cáo sai sự thật, hướng tới lợi ích chung của Nhà nước, của người tiêu dùng; tạo hành lang pháp lý cho những thương nhân tuân thủ pháp luật trong quảng cáo cũng như trong kinh doanh đúng quy định của pháp luật; tạo ra sự tin tưởng cho người tiêu dùng đối với thị trường hàng hóa, dịch vụ yên tâm khi sử dụng các mặt hàng được quảng cáo
Trang 33Thứ hai, các quy định của Luật Cạnh tranh
Quảng cáo là một trong những lĩnh vực thể hiện rõ nét hoạt động cạnh tranh của doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường Quảng cáo ra đời theo yêu cầu kinh doanh với quy mô lớn và nội dung ngày càng hướng tới việc thể hiện những lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp, sản phẩm và dịch vụ Quảng cáo cũng giúp người tiêu dùng có được những thông tin cần thiết nhằm lựa chọn hàng hoá phù hợp với yêu cầu của mình Tuy nhiên, cùng với sự phát triển của nền kinh tế thị trường, cạnh tranh trong quảng cáo cũng có thể phát sinh các mặt trái tiêu cực như quảng cáo quá mức, nói xấu lẫn nhau, gây nhầm lẫn và thiệt hại cho người tiêu dùng Do đó, việc xây dựng và hoàn thiện cơ chế pháp lý điều chỉnh cạnh tranh trong hoạt động quảng cáo là hết sức cần thiết Luật Cạnh tranh với các quy định về hành vi quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh là một công cụ mới giúp các doanh nghiệp có những định hướng đúng đắn trong hoạt động kinh doanh trên thị trường, đồng thời có thể bảo vệ các quyền và lợi ích chính đáng của xã hội, của doanh nghiệp cũng như đông đảo người tiêu dùng trên khắp cả nước
Khái niệm cạnh tranh không lành mạnh trong pháp luật Việt Nam lần đầu tiên được Luật Cạnh tranh đề cập (Điều 3) Hành vi cạnh tranh không lành mạnh cụ thể được quy định tại Điều 39 của Luật Cạnh tranh trong đó
có hành vi quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh Hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực quảng cáo được quy định cụ thể tại Điều 45 của Luật Cạnh tranh, quy định về quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh
Về quảng cáo so sánh, theo điều luật trên, bị cấm tuyệt đối theo pháp luật cạnh tranh của Việt Nam một khi nội dung quảng cáo có dẫn chiếu trực tiếp đến một doanh nghiệp cạnh tranh khác Quy định này của Luật Cạnh tranh năm 2004 đã không cụ thể hoá các trường hợp khác nhau của quảng cáo
Trang 34so sánh và tỏ ra tụt hậu so với xu hướng điều chỉnh quảng cáo so sánh của pháp luật cạnh tranh trên thế giới những năm gần đây Ở một số quốc gia, trong trường hợp quảng cáo đưa ra những nội dung sai trái, gây nhầm lẫn cho người xem, quảng cáo hoặc bôi nhọ đối thủ cạnh tranh trong quá trình so sánh
có thể xếp vào loại hành vi công kích, gièm pha đối thủ cạnh tranh chung với một loạt các hành vi khác, hình thức quảng cáo cũng như nội dung so sánh chỉ đóng vai trò làm phương tiện cho hành vi công kích Quảng cáo so sánh trở nên phức tạp trong trường hợp thông tin đưa ra là sự thật Một số nước dựa trên nguyên tắc “thương nhân có quyền không bị nói đến”, tức là mọi hành vi quảng cáo so sánh, kể cả so sánh trung thực cũng không được phép diễn ra Một số nước khác lại giải quyết theo cách quảng cáo so sánh chỉ được phép thực hiện trong những trường hợp hết sức đặc biệt, ví dụ như xuất phát từ đòi hỏi rõ ràng của người tiêu dùng Những năm gần đây, xu hướng phủ nhận quảng cáo so sánh đã thay đổi Nhiều quốc gia công nhận sự so sánh trung thực các yếu tố liên quan không chỉ giảm thời gian, chi phí, công sức tìm hiểu của người tiêu dùng mà góp phần làm minh bạch hoá thị trường Các quảng cáo so sánh, đặc biệt là so sánh về giá cả, nếu dựa trên những điều kiện ngang bằng, đầy đủ, hợp lý, được cho phép thực hiện Điều này khẳng định nguyên tắc của pháp luật cạnh tranh là bảo vệ người tiêu dùng và môi trường cạnh tranh nói chung, không bảo vệ một hoặc một vài đối thủ cạnh tranh cụ thể trên thị trường Tuy nhiên, pháp luật cạnh tranh khi cho phép thực hiện quảng cáo
so sánh vẫn cần đặt nó trong sự giám sát chặt chẽ để chống lại việc lạm dụng
Về quảng cáo bắt chước, tại khoản 2 Điều 45 Luật Cạnh tranh quy định đơn giản cấm doanh nghiệp thực hiện quảng cáo bắt chước một sản phẩm quảng cáo khác để gây nhầm lẫn cho khách hàng Tuy nhiên, quy định như vậy không làm rõ được những khía cạnh phức tạp của hành vi này, bởi vì về bản chất, bắt chước là “làm theo cách của người khác” Từ đó, quảng cáo bắt
Trang 35chước là quảng cáo được thực hiện với nội dung, cách thức giống hệt hoặc tương tự quảng cáo của người khác, tuy vậy, tại Việt Nam, pháp luật chưa đưa
ra nguyên tắc giải quyết vấn đề này, vì thế, trong trường hợp quảng cáo bắt chước, có thể lựa chọn vận dụng quy định của pháp luật cạnh tranh hoặc áp luật sở hữu trí tuệ để điều chỉnh Trong trường hợp một quảng cáo bị bắt chước gây nhầm lẫn, có thể thấy quy định phù hợp nhất trong lĩnh vực bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm nghệ thuật thể hiện qua sản phẩm quảng cáo Tuy vậy, việc bảo hộ quyền tác giả chỉ quan tâm đến việc chống sao chép tác phẩm, tức là bắt chước tuyệt đối, cũng không quan tâm đến bản chất cạnh tranh của hành vi vi phạm Vì vậy, dù quảng cáo có thể thuộc phạm vi bảo hộ của pháp luật về sở hữu trí tuệ nhưng hành vi quảng cáo so sánh cần thiết phải được xem xét dưới góc độ một hành vi cạnh tranh và chịu sự điều chỉnh của pháp luật cạnh tranh
Về quảng cáo gian đối gây nhầm lẫn: Khoản 3, Điều 45 của Luật Cạnh tranh quy định cấm doanh nghiệp đưa thông tin gian dối hoặc gây nhầm lẫn cho khách hàng về một trong các nội dung sau: “Giá, số lượng, chất lượng, công dụng, kiểu dáng, chủng loại, bao bì, ngày sản xuất, thời hạn
sử dụng, xuất xứ hàng hoá, người sản xuất, nơi sản xuất, người gia công, nơi gia công; cách thức sử dụng, phương thức phục vụ, thời hạn bảo hành; các thông tin gian dối hoặc gây nhầm lẫn khác Đây là dạng vi phạm phổ biến,
dễ gặp nhất trong hoạt động quảng cáo Vấn đề cốt lõi của quảng cáo với tư cách là một loại hình thông tin đặc biệt chính là vấn đề về tính trung thực của thông tin, được đánh giá theo tác động của nó đến người tiếp nhận quảng cáo Có thể thấy rằng, cả hai loại hình quảng cáo so sánh và quảng cáo bắt chước đều thể hiện khía cạnh gian dối hoặc nhầm lẫn cho người tiêu dùng Tuy nhiên, pháp luật cạnh tranh điều chỉnh hai dạng hành vi này bằng những chế định riêng do đánh giá tác động đặc thù của nó lên đối tượng
Trang 36khác là những đối thủ cạnh tranh Ở chế định thứ ba này, đối tượng tác động của hành vi quảng cáo trực tiếp đặt ra là các khách hàng và người tiêu dùng nói chung Khi khách hàng mua sản phẩm dựa trên các thông tin sai lệch, tức
là các đối thủ cạnh tranh mất khách và phải chịu thiệt hại về kinh tế, thị trường trở nên không minh bạch và phúc lợi của nền kinh tế bị tổn hại Vì vậy, quy định về quảng cáo gian dối và gây nhầm lẫn vẫn tồn tại trong pháp luật cạnh tranh tại nhiều quốc gia khác nhau
Thứ ba, các quy định của Luật Dược
Thực tế việc quảng cáo thuốc chữa bệnh hiện nay trên các phương tiện truyền thông đại chúng phát triển một cách khá rầm rộ Mặc dù đã được cảnh báo là về những hậu quả quảng cáo “con dao hai lưỡi”, nhưng thuốc vẫn đang được quảng cáo với tần suất khá cao Đáng lưu ý là các quảng cáo chỉ nêu toàn ưu điểm của thuốc khiến nhiều người coi việc dùng thuốc trở nên quá bình thường, ai cũng có thể mua về tự uống, dùng càng nhiều càng tốt Thuốc chữa bệnh cho người là những hàng hóa đặc biệt, ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe Vì vậy thông tin, quảng cáo thuốc phải trung thực, khách quan, chính xác nhằm hướng dẫn sử dụng thuốc hợp lý, an toàn Các chương trình quảng cáo trên truyền hình thường theo một kịch bản giống nhau và nhiều khi mang tính chất phản cảm Nhiều cơ sở, công ty quảng cáo các sản phẩm thuốc bất chấp những quy định của Bộ Y tế Tuy nhiên, chế tài xử phạt hiện nay còn quá nhẹ, chưa đủ sức răn đe Cục Quản lý Dược Việt Nam cho hay các vi phạm chủ yếu là: Quảng cáo khi chưa có hồ sơ đăng ký tại Cục, quảng cáo không đúng với hồ sơ đăng ký, sử dụng lợi ích vật chất để thúc đẩy sử dụng thuốc trong đó, có rất nhiều vụ vi phạm quy chế thông tin quảng cáo thuốc
mà cơ quan quản lý không thể biết do lực lượng mỏng, địa bàn rộng Chính vì vậy, các cửa hàng thuốc đã dùng các thủ thuật kinh doanh, quảng cáo tiếp thị thuốc bằng các hình thức tài trợ, khuyến mãi, tặng thuốc, phát tờ rơi, trích hoa
Trang 37hồng cho bác sĩ khiến cho việc sử dụng thuốc nhiều nơi đã rơi vào tình trạng chạy theo quảng cáo, chạy theo lợi nhuận chứ không phải vì mục tiêu sử dụng thuốc an toàn, hợp lý và hiệu quả Kết cục là chỉ có người bệnh đã đau khổ vì bệnh tật còn phải gánh thêm chi phí quảng cáo nhiều khi chiếm đến gần 50% giá trị của mỗi đơn vị thuốc Điều nguy hiểm hơn nữa là có tới 60% sốc phản vệ là do người dân tự xem quảng cáo rồi mua thuốc điều trị, việc quảng cáo thuốc đang dần trở thành nguy cơ đối với người tiêu dùng
Ở các nước tiên tiến, việc quảng cáo thuốc chữa bệnh cực kỳ khắt khe
vì nó liên quan đến sức khỏe và tính mạng của toàn thể người dân Việc quảng cáo sai không chỉ công ty dược phải bồi thường mà cơ quan truyền thông cũng phải chịu trách nhiệm Về nguyên tắc, quảng cáo phải nêu cả ưu điểm và tác dụng phụ của thuốc, nhưng nhà sản xuất, kinh doanh thường nhấn mạnh về ưu điểm và đưa thông tin về tác dụng phụ rất mờ nhạt Thậm chí, họ còn sử dụng những thuật ngữ y học để người dân không thể, hiểu tác dụng phụ của thuốc Từ đó, việc lập lại trật tự và quản lý chặt chẽ các chương trình quảng cáo thuốc chữa bệnh trên các phương tiện truyền thông đại chúng thực
ra mới là bề nổi của tảng băng chìm Bởi vì chính các chương trình khuyến mãi, quảng cáo thuốc là một trong những nguyên nhân khiến cho mục tiêu dùng thuốc an toàn, hợp lý, hiệu quả và kinh tế cho người bệnh nhiều khi chỉ
là hình thức Chính vì vậy, việc Nhà nước điều chỉnh bằng những quy định pháp luật chặt chẽ trong lĩnh vực quảng cáo thuốc là vô cùng cần thiết Xuất phát từ thực tiễn này, tại Khoản 5 Điều 9 Luật Dược năm 2005 quy định về
những hành vi bị nghiêm cấm: “Thông tin, quảng cáo thuốc sai sự thật, gây nhầm lẫn cho người tiêu dùng; quảng cáo thuốc trái với truyền thống lịch sử, văn hóa, đạo đức, thuần phong, mỹ tục của dân tộc Việt Nam” Để cụ thể hóa
các quy định trên, Bộ Y tế đã ban hành Thông tư 13/2009/TT-BYT hướng dẫn hoạt động thông tin, quảng cáo thuốc và quy định các hành vi bị cấm
Trang 381.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến bảo đảm tuân thủ pháp luật trong hoạt động quảng cáo
Tuân thủ pháp luật trong hoạt động quảng cáo là yêu cầu quan trọng để đảm bảo hiệu quả của hoạt động quảng cáo Từ thực tiễn thực hiện pháp luật trong hoạt động quảng cáo cho thấy việc tuân thủ pháp luật trong hoạt động quảng cáo chịu ảnh hưởng của một số yếu tố cơ bản sau:
1.3.1 Mức độ hoàn thiện của hệ thống quy phạm pháp luật
Pháp luật là cơ sở quan trọng để đảm bảo cho các hành vi xử sự của các chủ thể trong đời sống xã hội, trong đó có các hoạt động quảng cáo Hoạt động quảng cáo liên quan đến nhiều ngành, lĩnh vực, vì vậy hệ thống quy phạm pháp luật là cơ sở cho quản lý nhà nước cũng như sự tuân thủ pháp luật trong hoạt động quảng cáo hiện nay được quy định trong nhiều văn bản quy phạm pháp luật Cụ thể như: Luật Quảng cáo năm 2012; Luật Xây dựng, Luật Giao thông, Luật Du lịch, Luật Thương mại, Luật Cạnh tranh, Luật Dược,
Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, Nghị định số 181/2013/NĐ-CP ngày
14/11/2013 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Quảng cáo; Thông tư số 10/2003/TT-BVHTTDL ngày 06/12/2013 của Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch quy định chi tiết và hướng dẫn thực hiện một số điều của Luật Quảng cáo và Nghị định số 181/2013/NĐ-CP ngày 14/11/2013 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật quảng cáo Vì vậy, để đảm bảo việc tuân thủ pháp luật trong hoạt động quảng cáo thì các quy định pháp luật về quảng cáo và các quy định pháp luật liên quan phải thống nhất, đồng bộ và khả thi Điều này đòi hỏi các cơ quan có thẩm quyền phải không ngừng hoàn thiện các quy định pháp luật, kịp thời bãi bỏ các quy định không khả thi và bổ sung các quy định mới nhằm tạo cơ sở pháp lý điều chỉnh hoạt động quảng cáo phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế thị trường, hội nhập khu vực và quốc tế; bảo đảm sự bình đẳng của các tổ chức, cá nhân
Trang 39trong hoạt động quảng cáo cũng như xử lý nghiêm các hành vi vi phạm pháp luật về quảng cáo
1.3.2 Hiệu quả hoạt động của cơ quan, tổ chức có chức năng quản
lý, kiểm tra, giám sát đối với hoạt động quảng cáo
Sự tuân thủ pháp luật là yêu cầu tự thân của mỗi chủ thể trong đời sống
xã hội Tuy nhiên, thực tế cho thấy để đảm bảo sự tuân thủ pháp luật thì không thể thiếu sự kiểm tra, giám sát của cơ quan có thẩm quyền Để đảm bảo
sự tuân thủ pháp luật trong hoạt động quảng cáo, các cơ quan, tổ chức có thẩm quyền phải tăng cường thực hiện chức năng quản lý nhà nước của mình, nhất là việc thanh tra, kiểm tra, giám sát các chủ thể có nghĩa vụ thực hiện pháp luật về quảng cáo nhằm kịp thời hướng dẫn, xử lý các vi phạm pháp luật trong hoạt động quảng cáo Nếu các cơ quan, tổ chức có thẩm quyền, đặc biệt
là các công chức được giao nhiệm vụ theo dõi, quản lý hoạt động quảng cáo thiếu trách nhiệm trong việc thực hiện nhiệm vụ thì sẽ dẫn đến các hoạt động quảng cáo trái pháp luật, xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của người tiêu dùng Từ đó, trong thời gian tới việc nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước, kiểm tra, giám sát đối với hoạt động quảng cáo sẽ là cơ sở cho việc nâng cao
ý thức tuân thủ pháp luật trong hoạt động quảng cáo, nhất là đối với các doanh nghiệp thực hiện dịch vụ quảng cáo
1.3.3 Ý thức pháp luật của chủ thể trong hoạt động quảng cáo
Pháp luật về quảng cáo là cơ sở cho các chủ thể tuân thủ trong hoạt động quảng cáo, do đó việc tuân thủ đúng pháp luật về quảng cáo phụ thuộc nhiều vào ý thức tuân thủ pháp luật của các chủ thể và cơ quan, tổ chức liên quan Thực tiễn cho thấy rằng hoạt động quảng cáo không chỉ liên quan đến hoạt động sản xuất, kinh doanh của các cá nhân, tổ chức mà còn liên quan đến việc bảo vệ quyền của người tiêu dùng cũng như định hướng tiêu dùng trong xã hội, bởi vậy nếu các chủ thể tham gia hoạt động quảng cáo, nhất là
Trang 40các tổ chức, cá nhân trực tiếp thực hiện dịch vụ quảng cáo nhận thức đầy đủ nghĩa vụ của mình và tự giác tuân thủ pháp luật thì hoạt động quảng cáo sẽ phát huy được vai trò của quảng cáo trong việc thúc đẩy sản xuất, kinh doanh, góp phần vào sự phát triển của nền kinh tế Ngược lại, nếu không tuân thủ đúng quy định pháp luật thì sẽ tạo ra sự cạnh tranh không lành mạnh, vi phạm pháp luật trong hoạt động quảng cáo và xâm phạm quyền của người tiêu dùng (thực tế trong thời gian qua có nhiều trường hợp hoạt động quảng cáo vi phạm pháp luật, giới thiệu sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ không đúng với chất lượng thực tế)