1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Bảo đảm quyền bình đẳng của các dân tộc thiểu số qua thực tiễn tỉnh phú thọ

116 5 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 116
Dung lượng 1,02 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chính vì vậy đề tài nghiên cứu chủ yếu dựa vào hệ thống văn bản pháp luật và những chương trình, chính sách bảo đảm quyền của các DTTS, những báo cáo về kết quả triển khai thực hiện các

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Cán bộ hướng dẫn khoa học: TS NGUYỄN MẬU TUÂN

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi Kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất

kỳ công trình nào khác Các số liệu trích dẫn bảo đảm tin cậy, trung thực và chính xác Bản thân tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và chấp hành đầy đủ các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội

Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội xem xét để tôi có thể bảo vệ Luận văn tốt nghiệp

Tôi xin chân thành cảm ơn!

NGƯỜI CAM ĐOAN

Phạm Chí Tuyên

Trang 4

MỤC LỤC

Trang

Trang phụ bìa

Lời cam đoan

Mục lục

Danh mục các chữ viết tắt

MỞ ĐẦU 1

Chương 1: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ QUYỀN BÌNH ĐẲNG CỦA CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ 9

1.1 Khái niệm 9

1.1.1 Khái niệm dân tộc 9

1.1.2 Quan niệm về dân tộc thiểu số 10

1.1.3 Quyền bình đẳng 12

1.1.4 Quyền bình đẳng của các dân tộc thiểu số 14

1.2 Bảo đảm quyền bình đẳng của các dân tộc theo pháp luật Việt Nam 16

1.2.1 Những đặc trưng cơ bản của DTTS ở Việt Nam 16

1.2.2 Bảo đảm quyền bình đẳng của các DTTS trong pháp luật Việt Nam 18

1.3 Những tiêu chí cơ bản đánh giá việc bảo đảm quyền bình đẳng của các dân tộc thiểu số 23

1.4 Kinh nghiệm một số quốc gia bảo đảm quyền bình đẳng của các dân tộc thiểu số 25

1.4.1 Cộng hòa nhân dân Trung Hoa 25

1.4.2 Vương quốc Thái Lan 28

1.4.3 Cộng hòa Malaisia 29

1.4.4 Liên bang Myanmar 31

Kết luận Chương 1 33

Chương 2: THỰC TRẠNG BẢO ĐẢM QUYỀN BÌNH ĐẲNG CỦA CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH PHÚ THỌ 34

2.1 Khái quát chung về tỉnh Phú Thọ 34

Trang 5

2.1.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội của tỉnh Phú Thọ 34

2.1.2 Cơ cấu dân tộc của cư dân tỉnh Phú Thọ 37

2.1.3 Đặc điểm, tình hình kinh tế - xã hội vùng đồng bào Dân tộc thiểu số ở Phú Thọ 39

2.2 Bảo đảm quyền bình đẳng của các dân tộc thiểu số qua thực tiễn tỉnh Phú Thọ 47

2.2.1 Chủ trương, chính sách của tỉnh Phú Thọ bảo đảm quyền bình đẳng của các dân tộc 47

2.2.2 Thành tựu bảo đảm quyền bình đẳng của các dân tộc tỉnh Phú Thọ 49

2.3 Những vấn đề đặt ra cho việc bảo đảm quyền bình đẳng của các dân tộc thiểu số trên địa bàn tỉnh 78

Kết luận Chương 2 82

Chương 3: QUAN ĐIỂM, GIẢI PHÁP BẢO ĐẢM QUYỀN BÌNH ĐẲNG CỦA CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ 84

3.1 Quan điểm bảo đảm quyền bình đẳng của các dân tộc thiểu số 84

3.1.1 Bối cảnh hiện nay 84

3.1.2 Quan điểm 85

3.2 Giải pháp bảo đảm quyền bình đẳng của các dân tộc thiểu số 87

3.2.1 Giải pháp chung 87

3.2.2 Giải pháp cụ thể 89

3.2.3 Một số giải pháp bổ trợ 102

Kết luận Chương 3 105

KẾT LUẬN CHUNG 106

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 107

Trang 6

HĐND: Hội đồng nhân dân

ICCPR: Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị, 1966

(International Covenant on Civil and Political Rights) TTCXMN: Trung tâm cụm xã miền núi

UDHR: Tuyên ngôn thế giới về Quyền con người, 1948

(Universal Declaration of Human Rights) UBND: Uỷ ban nhân dân

XHCN: Xã hội chủ nghĩa

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu

Bình đẳng dân tộc là quyền của mọi dân tộc không phân biệt đa số hay thiểu số, trình độ văn hoá cao hay thấp, không phân biệt chủng tộc, màu da… quyền bình đẳng giữa các dân tộc bao gồm tất cả các lĩnh vực trong kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội

Đây là cơ sở pháp lý chung để giải quyết các mối quan hệ dân tộc trên thế giới, trong khu vực hay trong phạm vi một quốc gia Bởi điều đó đã được ghi nhận trong công pháp quốc tế và pháp luật của mỗi quốc gia Bình đẳng dân tộc cũng là kết quả đấu tranh của nhân dân lao động các nước Sau Cách mạng tháng Tám thành công, nhà nước Việt Nam non trẻ ra đời, Hiến pháp

năm 1946 đã khẳng định nguyên tắc bình đẳng “tất cả các công dân Việt Nam phương diện: chính trị, kinh tế, văn hoá…” (Điều 6), vấn đề hỗ trợ đồng bào dân tộc thiểu số cũng đã được xác định tại Hiến pháp “ngoài sự bình đẳng về quyền lợi, nhưng quốc dân thiểu số được giúp đỡ về mọi phương diện để nhanh chóng tiến kịp trình độ chung” (Điều 8) Tại Điều

5 Hiếp pháp năm 1992 và sửa đổi bổ sung năm 2001 quy định “nhà nước thực hiện chính sách bình đẳng, đoàn kết, tương trợ giữa các dân tộc nghiêm cấm mọi hành vi kì thị chia rẽ dân tộc” Quy định này của Hiến

pháp đã đặt nền móng pháp lý cho việc xây dựng và thực hiện nguyên tắc bình đẳng giữa các dân tộc trong quản lý hành chính nhà nước Các nguyên tắc về quy định quyền bình đẳng không những được quy định trong Hiến pháp mà còn được cụ thể trong luật và các văn bản dưới luật khác có liên quan và được triển khai thực hiện trong thực tiễn

Đảng và Nhà nước ta đã ban hành nhiều chủ trương chính sách ưu tiên đối với đồng bào dân tộc thiểu số một cách toàn diện và đồng bộ trên mọi lĩnh

Trang 8

vực đời sống xã hội Đồng thời, triển khai thực hiện nhiều chương trình, dự án đầu tư phát triển trên địa bàn miền núi, vùng đồng bào dân tộc như: Chương trình xoá đói giảm nghèo; Chương trình phát triển kinh tế - xã hội các xã đặc biệt khó khăn miền núi, vùng sâu, vùng xa; Chương trình trồng mới 5 triệu ha rừng; Chương trình xóa mù chữ cho bà con dân tộc; Chương trình tái định cư cho người dân… Xây mới các công trình lớn như nhà máy thủy điện Sơn La, Lai Châu, đường Hồ Chí Minh,… Những chính sách đó đã phát huy hiệu quả nhất định, kéo người dân ở vùng sâu vùng xa lại gần với vùng đồng bằng, nâng cao chất lượng cuộc sống cho người dân hơn, giúp cho các chính sách

đến gần hơn với bà con dân tộc ít người

Tuy vậy, giữa các dân tộc vẫn còn có sự chênh lệch rất rõ rệt về trình

độ dân trí, về chất lượng cuộc sống, sức khỏe, chưa thật sự bình đẳng,… Nhiều dân tộc tỷ lệ mù chữ còn cao, khó tiếp cận được với những chính sách của Đảng và Nhà nước Lợi dụng việc kém hiểu biết và dân trí thấp đó, những phần tử phản động đã tuyên truyền, kích động, lôi kéo đồng bào dân tộc thiểu

số đi ngược lại với những chủ trương, chính sách của Đảng, tạo sự bất ổn về chính trị Trước tình hình đó, để thấy rõ được bản chất tốt đẹp của Đảng, Nhà nước ta thì càng phải đòi hỏi nguyên tắc bình đẳng giữa các dân tộc phải thực hiện tốt hơn nữa

Phú Thọ là tỉnh miền núi phía Bắc, tổng diện tích tự nhiên 3.534 km2

; toàn tỉnh có 13 huyện, thành, thị trong đó có 10 huyện miền núi với 218/277

xã, thị trấn là miền núi; có 01 huyện nghèo theo Nghị quyết 30a/NQ-CP, 72

xã đặc biệt khó khăn và ATK; 208 thôn đặc biệt khó khăn thuộc 82 xã, thị trấn khu vực I, II Toàn tỉnh có 34 thành phần dân tộc cùng chung sống với tổng số dân trên 1,38 triệu người, trong đó có trên 230.000 người là người dân tộc thiểu số chiếm 16% dân số toàn tỉnh Có 04 dân tộc Mường, Dao, Cao Lan (Sán Chay), H’Mông sinh sống tập trung thành làng bản, trong đó, người dân

Trang 9

tộc Mường có số dân đông nhất, trên 200.000 người chiếm 87% dân số là người dân tộc thiểu số và 14,28% dân số toàn tỉnh

Vùng đồng bào dân tộc thiểu số tỉnh Phú Thọ mang những nét đặc thù riêng do không gian phân bố người dân tộc thiểu số rộng, có nơi sống xen kẽ,

có nơi sống tập trung thành làng bản, do vậy có sự giao thoa về kinh tế - xã hội, phong tục tập quán, lối sống, nếp nghĩ… một mặt, do sống xen kẽ với nhiều dân tộc khác nhau nên có nhiều điều kiện thuận lợi trong phát triển kinh

tế, ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất, tăng năng suất lao động, thu nhập và đời sống xã hội được từng bước nâng cao; văn hóa có sự giao thoa giữa các dân tộc, nhiều hủ tục lạc hậu được xóa bỏ

Mặc dù có nhiều thuận lợi nhưng vùng dân tộc thiểu số cũng tồn tại nhiều hạn chế như: trình độ dân trí của đồng bào dân tộc thiểu số tuy có phát triển nhưng không đồng đều, đa số sinh sống ở các xã, thôn, bản miền núi, vùng sâu, vùng xa, dân cư thưa thớt, điều kiện đất đai khó canh tác, nhiều người không biết chữ, việc tiếp thu chuyển giao khoa học kỹ thuật vào sản xuất còn hạn chế nên đời sống của đồng bào gặp nhiều khó khăn, kinh tế chậm phát triển, hộ nghèo chiếm tỷ lệ cao, một bộ phận nhỏ đồng bào dân tộc thiểu số vẫn có tâm lý ỉ nại trông chờ vào sự đầu tư hỗ trợ của Nhà nước, chưa nỗ lực vươn lên thoát nghèo, vẫn còn một số ít hộ dân tộc thiểu số sinh nhiều con, vì vậy chế độ y tế, an sinh xã hội chưa đảm bảo Về lĩnh vực văn hóa, bản sắc văn hóa các dân tộc mai một nhiều nhất là về tiếng nói, trang phục truyền thống, các làn điệu dân ca,

Đó vừa là thuận lợi, vừa là khó khăn cho công tác thực thi quyền bình đẳng giữa các dân tộc trên địa bàn tỉnh Phú Thọ Việc đi sâu nghiên cứu đề tài

"Bảo đảm quyền bình đẳng của các dân tộc thiểu số - qua thực tiễn tỉnh Phú Thọ” là cần thiết trong việc nghiên cứu chuyên ngành cao học Pháp luật về

Quyền con người áp dụng trong thực tiễn

Trang 10

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Vấn đề bình đẳng giữa các DTTS luôn được Đảng và Nhà nước quan tâm, thể hiện ở việc được ghi nhận ở nhiều văn kiện của Đảng, văn bản pháp luật của Nhà nước; được cụ thể hoá ở hầu khắp các lĩnh vực của đời sống xã hội Chính vì vậy đề tài nghiên cứu chủ yếu dựa vào hệ thống văn bản pháp luật và những chương trình, chính sách bảo đảm quyền của các DTTS, những báo cáo về kết quả triển khai thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước đối với vùng đồng bào dân tộc dân tộc thiểu số trên địa bàn tỉnh Phú Thọ, để từ đó đưa ra những đánh giá về tính hiệu quả cũng như những bất cập cần sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện của những văn

bản pháp luật, chính sách đó

Ngoài ra tác giả còn sử dụng một số nghiên cứu như: Một số vấn đề về người thiểu số trong Luật Quốc tế, Vũ Công Giao, Hà Nội, 2001; Luật Quốc

tế về quyền của nhóm xã hội dễ bị tổn thương, Nhà xuất bản Lao động - Xã

hội, Hà Nội, 2010; Quyết định số 449/QĐ-TTg, ngày 12/3/2013 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược công tác dân tộc đến năm 2020; Báo

cáo của Ban dân tộc tỉnh Phú Thọ về kết quả triển khai thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước đối với vùng đồng bào dân tộc dân tộc thiểu số trên địa bàn tỉnh năm 2015, 2016, 2017; Niên giám thống kê của tỉnh Phú Thọ; “Quyền bình đẳng giữa các dân tộc ở Việt Nam nghiên cứu dưới góc độ lý luận chính trị” của TS Nguyễn Quốc Vinh - Giảng viên Khoa

học cơ bản Trường Đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh trên trang điện tử

Trường Đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh; “Bảo đảm quyền của các dân tộc thiểu số theo tinh thần Hiến pháp 2013” của ThS Lừ Văn Tuyên - Nghiên

cứu sinh Học viện Khoa học xã hội, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt

Nam, theo cuốn Thực hiện các quyền hiến định trong Hiến pháp năm 2013 của Nhà xuất bản lý luận chính trị 2017; Hoàn thiện pháp luật về bảo đảm

Trang 11

quyền của các dân tộc thiểu số ở Việt Nam hiện nay, luận văn thạc sỹ của

Nông Thị Kiều Diễm chuyên ngành pháp luật về quyền con người - Khoa luật

Đại học Quốc gia Hà Nội; Chính sách phát triển vùng dân tộc thiểu số phía Bắc Việt Nam, luận án tiến sỹ quản lý hành chính công của Nguyễn Lâm Thành - Học viện Hành chính; Đảng bộ huyện Thanh Sơn (Phú Thọ) lãnh đạo thực hiện chính sách dân tộc từ năm 2007 đến năm 2014, luận văn thạc sỹ của

Hoàng Thị Phương Thanh - Đại học Khoa học xã hội và nhân văn, Đại học

Quốc gia Hà Nội; Sách “Chính sách dân tộc và định hướng xây dựng chính sách dân tộc”, Nxb Sự thật, Hà Nội 1990; Sách “vấn đề dân tộc và định hướng xây dựng chính sách dân tộc trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa” của Viện nghiên cứu chính sách dân tộc và miền núi, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002; Sách “Bước đầu tìm hiểu tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề dân tộc ở Việt Nam” của Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, Nxb Chính trị quốc gia Hà Nội, 1996; Sách “Vấn đề dân tộc và công tác dân tộc ở nước ta” của Ủy ban Dân tộc, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001; Sách

“Một số vấn đề giảm nghèo của các dân tộc thiểu số của Việt Nam” của tác giả Bùi Minh Đạo, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 2003; Sách “Về công tác dân tộc” của Hồ Chí Minh, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2003; …

Từ những kết quả của các công trình nghiên cứu nói trên là nguồn tài liệu tham khảo bổ ích cho luận văn này Như vậy, qua những vấn đề nghiên

cứu tổng quan trên, tôi thấy việc đầu tư nghiên cứu đề tài "Bảo đảm quyền

bình đẳng của các dân tộc thiểu số - qua thực tiễn tỉnh Phú Thọ” là những

vấn đề mới, chưa được đi sâu phân tích, đánh giá từ những vấn đề lý luận đã

có, để phân tích số liệu thực tiễn của tỉnh Phú Thọ đề ra những giải pháp, kiến nghị cụ thể hóa áp dụng trong thực tiễn phù hợp với tỉnh Phú Thọ theo tinh thần Hiến pháp 2013 trong giai đoạn hiện nay

Trang 12

3 Mục đích, nhiệm vụ của luận văn

3.1 Mục đích

Đánh giá thực trạng quyền bình đẳng của các dân tộc thiểu số Việt Nam, đi sâu phân tích trên địa bàn tỉnh Phú Thọ để chỉ ra những ưu điểm, mặt tích cực, đồng thời nhận dạng những bất cập, hạn chế Trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật về quyền bình đẳng của các dân tộc Việt Nam đã được quy định tại Hiến pháp 2013

Đề xuất các giải pháp thúc đẩy thực thi quyền bình đẳng của các dân tộc tỉnh Phú Thọ, góp phần giảm nghèo nhanh, bền vững, rút ngắn khoảng cách phát triển giữa các dân tộc; từng bước hình thành các trung tâm kinh tế, văn hóa, khoa học vùng dân tộc thiểu số; phát triển nguồn nhân lực và đào tạo đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số; củng cố hệ thống chính trị cơ sở và giữ vững khối đại đoàn kết các dân tộc trong tỉnh

- Đánh giá thực trạng việc đảm bảo quyền bình đẳng của các DTTS trên địa bàn tỉnh Phú Thọ Từ đó đưa ra những điểm phù hợp và chưa phù hợp, trên cơ sở đó rút ra nguyên nhân và những bài học kinh nghiệm của những bất cập trong quá trình thực thi các chính sách bảo đảm và thúc đẩy quyền bình đẳng của các DTTS ở Phú Thọ

- Dự báo một số xu hướng tác động đến việc đảm bảo quyền của các DTTS trong thời gian tới; quan điểm và một số giải pháp hoàn thiện thực thi quyền bình đẳng của các dân tộc Phú Thọ trong thời gian tới

Trang 13

4 Cơ sở phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

- Cơ sở lý luận của Luận văn là quan điểm của Liên hợp quốc, Tư tưởng Hồ Chí Minh và những quan điểm của Đảng, Nhà nước Việt Nam về đảm bảo quyền của các DTTS

- Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu: phân tích - tổng hợp, đánh giá, so sánh, xã hội học, logic và lịch sử để làm sáng tỏ những vấn đề liên quan Luận văn cũng khai thác thông tin tư liệu của các công trình nghiên cứu đã công bố để chứng minh cho các luận điểm

5 Những nét mới của luận văn

- Đánh giá, phân tích các quyền cơ bản mà các DTTS ở tỉnh Phú Thọ được hưởng, từ đó đưa ra những nhận định, góp phần làm rõ về tính phù hợp, hiệu quả, tích cực và những tồn tại, thiếu sót, chỉ ra những khó khăn trong việc đảm bảo quyền của các DTTS ở Phú Thọ hiện nay

- Trên cơ sở đánh giá thực trạng các quy định pháp luật và chính sách

về đảm bảo một số quyền cơ bản của các DTTS ở Phú Thọ hiện nay, lý giải nguyên nhân khách quan, chủ quan và những yếu kém, tồn tại, qua đó mạnh dạn kiến nghị về phương hướng và giải pháp khắc phục, nhằm đảm bảo các quyền cơ bản của các DTTS ở Phú Thọ trong thời gian tới được tốt hơn

6 Kết quả nghiên cứu và ý nghĩa của luận văn

- Luận văn là công trình khoa học nghiên cứu chuyên sâu, có hệ thống, toàn diện về quyền bình đẳng của các dân tộc trong giai đoạn hiện nay; phân tích, đánh giá khái quát và đưa ra khái niệm, nội hàm quyền bình đẳng của các dân tộc

- Các số liệu thực tiễn được tổng hợp, phân tích, đánh giá dưới góc độ riêng về các DTTS của tỉnh Phú Thọ trên các mặt về chính trị, kinh tế, văn hóa - xã hội Qua đó kết hợp với các quy định của Đảng và Nhà nước, thực tế đặc thù vùng, miền đề ra giải pháp phù hợp cho tỉnh Đề tài có tính thiết thực,

Trang 14

là tài liệu tham khảo tốt cho các cơ quan quản lý chuyên ngành về công tác dân tộc của tỉnh Phú Thọ

- Quy mô đề tài phù hợp với thực tiễn, phù hợp với công việc, dễ thu thập số liệu, đối tượng nghiên cứu dễ tiếp cận, có giá trị trong cộng đồng; đề tài có tính nhân văn cao, không vi phạm nguyên tắc đạo đức

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, Luận văn kết cấu gồm 3 chương:

Chương 1: Khái quát chung về quyền bình đẳng của các dân tộc

Chương 2: Thực trạng bảo đảm quyền bình đẳng của các dân tộc trên

địa bàn tỉnh Phú Thọ

Chương 3: Quan điểm và một số giải pháp bảo đảm quyền bình đẳng

của các dân tộc tỉnh Phú Thọ

Trang 15

Chương 1 KHÁI QUÁT CHUNG

VỀ QUYỀN BÌNH ĐẲNG CỦA CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ

1.1 Khái niệm

1.1.1 Khái niệm dân tộc

Dân tộc là một quá trình phát triển lâu dài của xã hội loài người Trước khi dân tộc xuất hiện, loài người đã trải qua trải qua các hình thái cộng đồng đồng từ thấp đến cao như bộ lạc, bộ tộc Dân tộc ra đời cùng với sự xuất hiện của nhà nước

Cho đến nay, khái niệm dân tộc được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau, trong đó có hai nghĩa được dùng phổ biến nhất và cũng thường xuyên có sự lẫn lộn, đó là dân tộc (Nation/Quốc gia) và dân tộc (Ethnie/Tộc người) Tuy nhiên, có thể lý giải hai khái niệm này như sau:

Nghĩa thứ nhất: Dân tộc (Nation/Quốc gia) là một cộng đồng chính trị -

xã hội, được chỉ đạo bởi một nhà nước, thiết lập trên một lãnh thổ nhất định,

có một tên gọi, một ngôn ngữ hành chính (trừ trường hợp cá biệt), một sinh hoạt kinh tế chung, với những biểu tượng văn hóa chung, tạo nên một tính cách dân tộc Ban đầu do sự tập hợp của nhiều bộ lạc liên minh, sau này của nhiều cộng đồng mang tính tộc người (ethnie) Tính chất của dân tộc phụ thuộc vào những phương thức sản xuất khác nhau Bước vào giai đoạn công nghiệp rõ rệt nhất là ở các nước phương Tây, do yêu cầu xóa bỏ tính cát cứ của các lãnh địa trong một dân tộc nhằm tạo ra một thị trường thống nhất, nên cộng đồng dân tộc được kết cấu chặt chẽ hơn Kết cấu của cộng đồng dân tộc rất đa dạng, phụ thuộc vào hoàn cảnh lịch sử, văn hóa trong khu vực và bản thân

Nghĩa thứ hai: Dân tộc (Ethnie/Tộc người) là một cộng đồng mang tính tộc người, có chung một tên gọi, một ngôn ngữ, được liên kết với nhau bằng

Trang 16

những giá trị sinh hoạt văn hóa tạo thành một tính cách tộc người, có chung một ý thức tự giác tộc người, tức là chung một khát vọng cùng chung sống, có chung một số phận thể hiện ở những ký ức lịch sử Một tộc người không nhất thiết phải có cùng một lãnh thổ, một cộng đồng sinh hoạt kinh tế, có thể ở các quốc gia dân tộc khác nhau, ví dụ dân tộc Tày, dân tộc Bana, Mường, Thái, Hmông Các cộng đồng này có thể là bộ phận chủ thể hay thiểu số của một dân tộc (nation) sinh sống ở nhiều quốc gia dân tộc khác nhau được liên kết với nhau bằng những đặc điểm ngôn ngữ, văn hóa và nhất là ý thức tự giác tộc người [31, tr 655]

Để hiểu rõ hơn về dân tộc - tộc người, cộng đồng quốc tế đã thừa nhận rộng rãi 5 tiêu chí sau để xác định thế nào là dân tộc (ethnic) [11, tr.133-154]:

- Có cùng tiếng mẹ đẻ (có ngôn ngữ tộc người thống nhất);

1.1.2 Quan niệm về dân tộc thiểu số

"Dân tộc thiểu số" là một trong những nội hàm của "người thiểu số" nói chung được quốc tế ghi nhận Không có khái niệm chính thức nào về "Dân tộc thiểu số" nói riêng cũng như "người thiểu số" nói chung được quốc tế công nhận Các quan điểm về vấn đề người thiểu số, trong đó bao hàm cả người thiểu số về dân tộc là chủ đề của những cuộc tranh luận trong nhiều diễn đàn về bảo vệ Người thiểu số

Trang 17

Vào năm 1977 báo cáo viên đặc biệt của Tiểu ban chống phân biệt đối

xử và bảo vệ người thiểu số là ông Francesco Capotorti đã đưa ra định nghĩa

về người thiểu số trong báo cáo nghiên cứu của mình như sau:

Là một nhóm người, xét về mặt số lượng, ít hơn phần dân cư còn lại của quốc gia, có vị thế yếu trong xã hội, những thành viên của nhóm- mà đang là kiều dân của một nước- có những đặc trưng

về chủng tộc, tín ngưỡng hoặc ngôn ngữ khác so với phần dân cư còn lại và chứng tỏ rõ ràng là có một ý thức thống nhất trong việc bảo tồn nền văn hóa, truyền thống, tôn giáo và ngôn ngữ của họ Tuy nhiên nỗ lực của Tiểu ban trong việc bảo vệ người thiểu số đã bị một số quốc gia có tư tưởng ủng hộ quá trình hợp nhất, và một số quốc gia đang thúc đẩy sự đồng hóa phản đối, vì thế Tiểu ban này vẫn chưa thể đi đến một định nghĩa chính thức về người thiểu số

Sau khoảng thời gian dài các quan niệm về người thiểu số tiếp tục được các quốc gia tranh luận gay gắt Các quốc gia Bắc Mỹ và Nam Mỹ là các quốc gia ủng hộ việc hợp nhất giữa người thiểu số vào cộng đồng chung, các quốc gia Châu Âu có tư tưởng đồng hóa người thiểu số, các nước Đông Âu lại thể hiện sự quan tâm đến việc bảo vệ người thiểu số, nên tất cả các luồng ý kiến không thể đi đến thống nhất, cho đến vào năm 1984, Ủy ban nhân quyền đã yêu cầu Tiểu ban về vấn đề người thiểu số định nghĩa thuật ngữ người thiểu

số, để định nghĩa thuật ngữ này với mục đích giới hạn, thu hẹp phạm vi đối tượng là người thiểu số, nhằm mục đích tạo sự đồng thuận của nhiều quốc gia, một thành viên của Tiểu ban này là ông Julet Deschenes người CaNaĐa đã đưa ra một định nghĩa về người thiểu số như sau:

Một nhóm các công dân của một quốc gia, tạo thành thiểu số

về số lượng và có vị thế không chiếm ưu thế trong quốc gia đó, mang những đặc trưng về chủng tộc, tôn giáo và ngôn ngữ phân

Trang 18

biệt với nhóm thuộc đa số dân cư, có một ý thức thống nhất giữa các thành viên, một động cơ rõ rệt cho dù là mặc định bởi một ý nguyện tập thể nhằm tồn tại với mục tiêu là đạt đến sự bình đẳng với đa số dân cư, cả trên phương diện pháp luật và thực tiễn

Ngoài ra định nghĩa này không bao gồm (i) cư dân bản địa; (ii) Người không phải công dân nước sở tại và (iii) người thuộc thành phần đa số nhưng

bị áp bức Những đặc trưng về người thiểu số có thể khái quát lại ở những dấu hiệu như:

- Về số lượng: Có số lượng ít (thiểu số), khi so sánh với nhóm đa số sống trên cùng lãnh thổ

- Về vị thế xã hội: trong xã hội là nhóm yếu thế (thể hiện ở tiềm lực, vai trò, ảnh hưởng của nhóm tới đời sống chính trị, kinh tế, xã hội ở lãnh thổ nơi mà họ sinh sống)

- Về bản sắc: Có những đặc điểm riêng về mặt ngôn ngữ, dân tộc, chủng tộc, phong tục tập quán mà vì thế có thể phân biệt họ với nhóm đa số

- Về địa vị pháp lý: có thể là công dân hoặc kiều dân của quốc gia nơi

mà họ đang sinh sống

- Về ý chí chủ quan: Một phần trong các thành viên của cộng đồng ấy phải có ý chí bảo tồn những đặc trưng văn hóa của riêng họ - Yếu tố này cũng còn nhiều tranh cãi về tính bắt buộc

1.1.3 Quyền bình đẳng

Quyền bình đẳng được coi là một trong các nguyên tắc cơ bản của luật nhân quyền quốc tế, do đó nó được đề cập trực tiếp hoặc gián tiếp trong tất cả các văn kiện quốc tế về nhân quyền Nó bao gồm ba khía cạnh liên kết với nhau:

Một là, không bị phân biệt đối xử, Điều 1 UDHR nêu rõ, mọi người sinh ra đều được tự do và bình đẳng về nhân phẩm và các quyền… Điều 2 UDHR quy định, mọi người đều được hưởng tất cả các quyền và tự do… mà

Trang 19

không có bất kỳ sự phân biệt đối xử nào về chủng tộc, màu da, giới tính, ngôn ngữ, tôn giáo, quan điểm chính trị hoặc quan điểm khác, nguồn gốc dân tộc hoặc xã hội, tài sản, thành phần xuất thân hay các địa vị khác Ngoài ra, Điều này cấm phân biệt đối xử dựa trên địa vị chính trị, pháp lý của quốc gia hoặc lãnh thổ, bất kể là lãnh thổ độc lập, uỷ trị, quản thác, chưa được tự quản hay phải chịu bất kỳ hạn chế nào khác về chủ quyền

Hai là được thừa nhận tư cách con người trước pháp luật, Điều 6 UDHR quy định, mọi người đều có quyền được công nhận tư cách là con người trước pháp luật ở mọi nơi, điều này được tái khẳng định nguyên văn trong Điều 16 ICCPR

Ba là, có vị thế bình đẳng trước pháp luật và được pháp luật bảo vệ một cách bình đẳng Điều 26 ICCPR nêu rõ, về mặt này, pháp luật phải nghiêm cấm mọi sự phân biệt đối xử và bảo đảm cho mọi người sự bảo hộ bình đẳng

và có hiệu quả chống lại những phân biệt đối xử về chủng tộc, màu da, giới tính, ngôn ngữ, tôn giáo, quan điểm chính trị hoặc quan điểm khác, nguồn gốc dân tộc hoặc xã hội, tài sản, thành phần xuất thân hoặc các địa vị khác

Trong Bình luận chung số 18 thông qua tại phiên họp lần thứ 37 năm

1989 của Uỷ ban Nhân quyền quốc tế đã phân tích về ý nghĩa và nội hàm của quyền này một cách khá chi tiết, mà có thể tóm tắt những quan điểm quan trọng như sau:

Thứ nhất, không phân biệt đối xử, bình đẳng trước pháp luật và được pháp luật bảo vệ một cách bình đẳng đóng vai trò là cơ sở và nguyên tắc chung trong việc bảo vệ tất cả các quyền con người Các quốc gia thành viên

có trách nhiệm bảo đảm quyền này cho mọi người có mặt trên lãnh thổ nước mình, bất kể người đó là công dân nước mình, người không quốc tịch hay người nước ngoài, bất kể các yếu tố dân tộc, chủng tộc, quốc tịch, giới tính, ngôn ngữ, tôn giáo, quan điểm chính trị, thành phần xã hội, tài sản hay bất kỳ yếu tố nào khác (đoạn 1)

Trang 20

Thứ hai, Điều 26 ICCPR không chỉ cho phép tất cả mọi người có vị thế bình đẳng trước pháp luật và được pháp luật bảo vệ một cách bình đẳng, mà còn nghiêm cấm các quốc gia thành viên ban hành bất kỳ quy định pháp luật nào có tính chất phân biệt đối xử (đoạn 1)

Thứ ba, quyền không bị phân biệt đối xử, bình đẳng trước pháp luật và được pháp luật bảo vệ một cách bình đẳng phải được áp dụng trong mọi tình huống, kể cả trong tình trạng khẩn cấp của quốc gia được quy định trong Điều

4 ICCPR (đoạn 2)

Thứ tư, quyền không bị phân biệt đối xử, bình đẳng trước pháp luật

và được pháp luật bảo vệ một cách bình đẳng mang tính chất khái quát, thể hiện trong nhiều bối cảnh, có mối liên hệ với việc thực hiện các quyền con người khác, cụ thể như với quyền được bình đẳng trước toà án (các Khoản

1 và 3 Điều 14 ICCPR), quyền được tham gia vào đời sống của cộng đồng (Điều 25 ICCPR) … (đoạn 2)

Thứ năm, quyền bình đẳng không có nghĩa là áp dụng một kiểu đối xử cho mọi đối tượng trong cùng một tình huống (tức cào bằng), và không phải mọi sự khác biệt về đối xử đều tạo nên sự phân biệt đối xử Nếu sự thay đổi khác biệt được xác định dựa trên các điều kiện hợp lý, khách quan và nhằm mục đích để đạt được sự bình đẳng thì không coi bị trái với ICCPR (các đoạn

10 và 13) [10, tr 65-67]

1.1.4 Quyền bình đẳng của các dân tộc thiểu số

Năm 1992 một văn kiện quốc tế quan trọng về người thiểu số là Tuyên ngôn về các quyền của những người thuộc các nhóm thiểu số về dân tộc, chủng tộc, ngôn ngữ và tôn giáo được thông qua đã góp phần ghi nhận, bảo vệ

và thúc đẩy quyền của người thiểu số Những văn kiện này hiện đang đóng

vai trò nền tảng để bảo vệ quyền của người thiểu số trên thế giới

Quyền của các dân tộc thiểu số thuộc quyền của nhóm xã hội dễ bị tổn

Trang 21

thương được ghi nhận trong nhiều văn bản pháp luật quốc tế quan trọng, đó không phải là những đặc quyền, mà nó được quy định để tạo điều kiện cho các dân tộc thiểu số có thể bảo tồn những bản sắc, đặc trưng và truyền thống của họ Các quyền đó chỉ quan trọng trong việc bảo đảm sự đối xử bình đẳng

Tuyên ngôn toàn thế giới về quyền con người của Liên hợp quốc (UDHR) năm 1948 ghi:

Mọi người sinh ra đều được hưởng tất cả các quyền và tự do không có bất kỳ sự phân biệt đối xử về chủng tộc, màu da, giới tính, ngôn ngữ, tôn giáo, nguồn gốc dân tộc hoặc xã hội (Điều 2)

và Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị (ICCPR) năm

1996 ghi:

Tại những nước có nhiều nhóm dân tộc thiểu số, tôn giáo và ngôn ngữ cùng chung sống, thì những cá nhân thuộc các dân tộc, tôn giáo, ngôn ngữ và các thiểu số đó, cùng với những thành viên khác của cộng đồng mình, không thể bị tước bỏ quyền được thụ hưởng nền văn hoá riêng, quyền được thể hiện và thực hành tôn giáo riêng hoặc quyền được sử dụng tiếng nói riêng của họ (Điều 27)

Bên cạnh việc ghi nhận quyền của các dân tộc thiểu số, luật pháp quốc tế còn quy định trách nhiệm của các quốc gia thành viên Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị (ICCPR) phải bảo đảm cho các cá nhân thuộc các nhóm dân tộc thiểu số có quyền được hưởng nền văn hoá, ngôn ngữ trong các điều kiện đặc thù của mình Trong Tuyên bố về quyền của những người thuộc nhóm thiểu số về dân tộc, chủng tộc, tôn giáo và ngôn ngữ năm 1992 ghi:

Các quốc gia sẽ bảo vệ sự tồn tại và bản sắc dân tộc, văn hoá, tôn giáo và ngôn ngữ của người thiểu số trong phạm vi lãnh thổ thuộc sự quản lý của họ, và khuyến khích những điều kiện để thúc

Trang 22

đẩy bản sắc đó; các quốc gia sẽ thông qua những biện pháp lập pháp và những biện pháp thích hợp khác để đạt được những mục tiêu này (Điều 1)

1.2 Bảo đảm quyền bình đẳng của các dân tộc theo pháp luật Việt Nam

Việt Nam có 54 dân tộc cùng nhau chung sống, trong đó dân tộc Kinh chiếm đa số với tỷ lệ 85,7%, còn lại 53 dân tộc thiểu số với tỷ lệ 14,3% (hơn

12 triệu người) trên tổng số dân [30] DTTS ở Việt Nam có số dân không đồng đều, có dân tộc có trên 1 triệu người như dân tộc Tày, Thái, Mường, Mông, Khơme, nhưng lại có dân tộc rất ít người như dân tộc Mảng, Chứt, Lô

Lô, Bố Y, La Hủ với quan điểm tất cả mọi dân tộc, dù ít, dù nhiều, lịch sử hình thành sớm hay muộn hay di cư từ nhiều vùng, nhiều quốc gia khác nhau đều được thừa nhận là chủ nhân của nước Việt Nam, không có dân tộc nào,

dù đứng trên bất kỳ danh nghĩa nào cũng không được phép cho mình là dân tộc đứng trên dân tộc khác, là chủ nhân duy nhất của nước Việt Nam

Các dân tộc thiểu số ở Việt Nam sống tập trung chủ yếu tại vùng cao, miền núi, biên giới là những nơi đi lại khó khăn, bị chia cắt, kinh tế, xã hội còn chậm phát triển, đời sống vật chất và tinh thần chưa được nâng cao Mặt khác, địa hình sinh sống của đồng bào DTTS là nơi có vị trí chiến lược, đặc biệt quan trọng trong vấn đề bảo vệ chủ quyền quốc gia, nên suốt trong quá trình xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, đặc biệt trong thời kỳ đổi mới, Đảng và Nhà nước ta luôn coi trọng xây dựng hệ thống các văn bản pháp luật nhằm tạo

cơ sở pháp lý bền vững, nhằm đảm bảo quyền bình đẳng của các DTTS, gắn với thúc đẩy phát triển kinh tế, văn hoá, ổn định chính trị, xã hội vùng đồng bào các DTTS [33, tr.684]

1.2.1 Những đặc trưng cơ bản của DTTS ở Việt Nam

Thứ nhất, về đoàn kết dân tộc: Mặc dù trải qua nhiều biến cố, thăng

trầm, mặc dù có nhiều dân tộc chênh lệch về số lượng sống trên cùng một

Trang 23

lãnh thổ quốc gia, các dân tộc có điều kiện sống, phong tục tập quán riêng biệt nhưng các dân tộc Việt Nam đều có chung truyền thống đoàn kết, gắn

bó, tương trợ lẫn nhau, không có hiện tượng đồng hóa, xâm chiếm lãnh thổ của dân tộc nhiều người hơn với dân tộc ít người hơn, vì vậy cũng không xuất hiện sự mâu thuẫn đối kháng giữa dân tộc thiểu số với dân tộc đa số Truyền thống đoàn kết này là điều kiện cơ bản để Đảng và Nhà nước Việt Nam thực hiện tốt các chính sách và pháp luật trên phạm vi toàn lãnh thổ, là một đặc trưng nổi bật, làm tăng cường sức mạnh các dân tộc Việt Nam trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc

Thứ hai, về địa bàn cư trú: Khu vực cư trú bao gồm cả miền núi, trung

du, đồng bằng, ven biển, thậm chí ở đô thị thành phố, tuy nhiên tập trung nhiều nhất là ở miền núi, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo là địa bàn chiếm tới 3/4 lãnh thổ quốc gia và có vị trí chiến lược về kinh tế, chính trị, an ninh quốc phòng Dân cư phân bố không đồng đều, tập trung ở một số vùng, nhưng không cư trú thành những khu vực riêng biệt mà xen kẽ với các DTTS khác, thậm trí xen kẽ với các dân tộc đa số Đặc điểm xen kẽ giữa các dân tộc một mặt đã tạo điều kiện để các dân tộc này có cơ hội để tăng cường sự hiểu biết, hòa hợp, gắn bó với nhau, nhờ đó các dân tộc có điều kiện học hỏi những tri thức mới, từng bước thu hẹp khoảng cách về trình độ phát triển giữa các dân tộc nhưng mặt khác cũng dễ bị đồng hóa, mất đi nguồn gốc, bản sắc của dân tộc mình

Thứ ba, về trình độ phát triển kinh tế - xã hội: Các DTTS ở Việt Nam

có trình độ phát triển kinh tế - xã hội không đều nhau Một số DTTS như dân tộc Khơme, Chăm, Hoa là những dân tộc thiểu số phân bố ở những vùng đồng bằng, đô thị là nơi có nền kinh tế- xã hội phát triển, lại sinh sống xen kẽ với

đa số người dân tộc Kinh nên có nhiều cơ hội để phát triển; một số dân tộc khác như dân tộc Tày, Nùng, Thái, Mường tuy có cuộc sống khó khăn, thiếu

Trang 24

thốn hơn nhưng phần lớn đã thoát khỏi cuộc sống lạc hậu và đói nghèo Một

số DTTS rất ít người như dân tộc Brâu, Pupéo, Chứt, Mảng lại có đời sống vật chất rất khó khăn, thiếu thốn, lạc hậu, thậm trí vẫn còn lối sống di canh, di

cư và mới đang dần chuyển sang lối sống định canh, định cư tự cung, tự cấp

Thứ tư, về bản sắc văn hóa: Các DTTS ở Việt Nam đều có những nét

riêng biệt về văn hóa, các DTTS ở nước ta đều có ngôn ngữ riêng của dân tộc mình, một số ít DTTS có chữ viết riêng, có nền văn hóa mang bản sắc riêng, thể hiện trong nếp sinh hoạt hàng ngày, thông qua lễ hội, Tết, thông qua phong tục tập quán, trang phục, trong cưới hỏi, ma chay, giỗ, thông qua tín ngưỡng thờ cúng, tâm linh [6, tr.12]

1.2.2 Bảo đảm quyền bình đăng của các DTTS trong pháp luật Việt Nam

Từ những đặc trưng cơ bản của các DTTS ở Việt Nam Trên nền tảng

tư tưởng Hồ Chí Minh và các quan điểm cơ bản của Đảng Cộng sản Việt Nam

về vấn đề dân tộc nói chung và DTTS nói riêng, cũng như nội luật hóa pháp luật quốc tế về quyền con người mà Việt Nam là quốc gia thành viên, Nhà nước Việt Nam đã ban hành một hệ thống các văn bản pháp luật, bao gồm Hiến pháp, Luật và các văn bản dưới luật nhằm bảo đảm quyền bình đẳng của các dân tộc thiểu số ở Việt Nam Quyền bình đẳng của các dân tộc thiểu số theo pháp luật Việt Nam được xem xét trên các khía cạnh đó là: quyền bình đẳng không bị phân biệt đối xử, quyền được giữ gìn bản sắc văn hoá, quyền được Nhà nước hỗ trợ phát triển [33, tr.687-688]

- Quyền bình đẳng không bị phân biệt đối xử

Tương ứng với những nội dung tại Điều 26, 27 ICCPR và Điều 5, Hiến pháp Việt Nam năm 2013 đã ghi nhận:

Nước Cộng hoà XHCN Việt Nam là quốc gia thống nhất của các dân tộc cùng sinh sống trên đất nước Việt Nam Các dân tộc bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp nhau cùng phát triển; nghiêm

Trang 25

cấm mọi hành vi kỳ thị, chia rẽ dân tộc Ngôn ngữ quốc gia là tiếng Việt Các dân tộc có quyền dùng tiếng nói, chữ viết, giữ gìn bản sắc dân tộc, phát huy phong tục, tập quán, truyền thống và văn hoá tốt đẹp của mình Nhà nước thực hiện chính sách phát triển toàn diện

và tạo điều kiện để các dân tộc phát huy nội lực, cùng phát triển với đất nước; Điều 16 quy định: Mọi người đều bình đẳng trước pháp luật Không ai bị phân biệt đối sử trong đời sống chính trị, dân sự, kinh tế, văn hoá, xã hội

Điều này được hiểu là mọi công dân Việt Nam không phân biệt dân tộc đều bình đẳng trước pháp luật, được hưởng các quyền và thực hiện nghĩa vụ

công dân như nhau Điều 27 quy định: “Công dân đủ 18 tuổi trở lên có quyền bầu cử và đủ hai mươi mốt tuổi trở lên có quyền ứng cử vào Quốc hội, Hội đồng nhân dân Việt thực hiện các quyền này do luật định” [17]

Các quy định về quyền bình đẳng giữa các dân tộc trong Hiến pháp được thể chế bằng chế định về Hội đồng Dân tộc (Điều 75) Theo chế định này, Hội đồng Dân tộc do Quốc hội bầu ra, bên cạnh các chức năng, nhiệm

vụ, quyền hạn của mỗi cơ quan của Quốc hội, Hội đồng có nhiệm vụ nghiên cứu và kiến nghị với Quốc hội về công tác dân tộc, giám sát việc thi hành chính sách dân tộc, các chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội miền núi và vùng có đồng bào DTTS Chủ tịch Hội đồng Dân tộc được mời tham

dự phiên họp của Chính phủ bàn về thực hiện chính sách dân tộc Chính phủ

có trách nhiệm tham khảo ý kiến Hội đồng Dân tộc trước khi ban hành các quyến định về chính sách dân tộc Để hỗ trợ Chính phủ trong việc thực hiện chính sách, pháp luật về các vấn đề dân tộc, có một cơ quan chuyên trách cấp

bộ là Uỷ ban Dân tộc [33, tr.688-689]

Ngoài ra, quyền bình đẳng của các dân tộc còn được tái khẳng định và

cụ thể hoá trong nhiều văn bản pháp luật khác của Việt Nam, cụ thể Luật

Trang 26

Quốc tịch Việt Nam năm 2008 (Điều 1) khẳng định sự bình đẳng về quyền có quốc tịch của các DTTS; Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (các Điều 9, 29),

Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 (các Điều 8, 20), Luật Tố tụng hành chính năm 2015 (Điều 17, 21) quy định về quyền bình đẳng của mọi công dân trong tiến hành tố tụng và quyền được sử dụng tiếng nói, chữ viết của các dân tộc trong quá trình tiến hành tố tụng chính là những quy định bảo vệ quyền của người DTTS trong việc bảo đảm sự bình đẳng của mọi công dân trước pháp luật và toà án Đó cũng là điều kiện để họ có thể biểu đạt được hết những suy nghĩ, biện minh cho hành vi vi phạm của mình và cũng là điều kiện để cơ quan và người tiến hành tố tụng có căn cứ xác định được sự thật khách quan của vụ án, từ đó áp dụng pháp luật một cách chính xác nhất trong việc giải quyết vụ án đúng người, đúng tội, đúng pháp luật Bộ luật hình sự năm 2015 (Điều 3) xác định một trong những nguyên tắc của Luật Hình sự là bảo vệ quyền bình đẳng giữa đồng bào các dân tộc Luật Bầu cử Quốc hội và Hội đồng nhân dân năm 2015 (Điều 8, 9) quy định về sự tham gia bình đẳng của các dân tộc thiểu số vào việc bầu cử, ứng cử đại biểu Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp [33, tr.689]

- Quyền giữ gìn bản sắc văn hoá

Hiến pháp năm 2013, Điều 5 ghi rõ: “Các dân tộc có quyền dùng tiếng nói, chữ viết, giữ gìn bản sắc dân tộc, phát huy phong tục, tập quán, truyền thống và văn hoá tốt đẹp của mình”; Điều 41: “Mọi người có quyền hưởng thụ và tiếp cận các giá trị văn hoá, tham gia vào đời sống văn hoá, sử dụng các cơ sở văn hoá”; Điều 42 cũng ghi nhận: “Công dân có quyền xác định dân tộc của mình, sử dụng ngôn ngữ mẹ đẻ, lựa chọn ngôn ngữ giao tiếp”

Đây chính là sự khẳng định một quyền đặc thù của các nhóm thiểu số về dân tộc, đó là quyền được giữ gìn bản sắc văn hoá của cộng đồng [33, tr.689-690]

Trong nhiều văn bản pháp luật khác, trong đó có Bộ luật Dân sự năm

Trang 27

2015 (Điều 7) quy định việc xác lập, thực hiện, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân

sự phải bảo đảm giữ gìn bản sắc dân tộc, tôn trọng và phát huy phong tục, tập quán, truyền thống tốt đẹp của các dân tộc; (Điều 29) quy định về việc bảo vệ các quyền nhân thân, quyền xác định, xác định lại dân tộc Ngoài ra, để bảo tồn và thúc đẩy đời sống văn hoá của đồng bảo DTTS, Thủ tướng Chính phủ

đã ra Chỉ thị số 39/1998/CT-TTg ngày 03-12-1998 về đẩy mạnh công tác văn hoá - thông tin ở miền núi và vùng đồng bào DTTS Chỉ thị này yêu cầu các

cơ quan Nhà nước và chính quyền địa phương tập trung thực hiện mục tiêu nâng cao mức hưởng thụ văn hoá - thông tin cho đồng bào sống ở vùng cao, biên giới, vùng khó khăn, đồng thời làm tốt hơn nữa công tác giữ gìn và phát huy tinh hoa văn hoá truyền thống các DTTS, sưu tầm, nghiên cứu, khai thác

và giới thiệu, có kế hoạch bảo tồn các công trình, địa chỉ văn hoá có giá trị tiêu biểu ở vùng các dân tộc thiểu số như chùa, tháp, nhà rông, nhà dài, nhà sàn, các làng, bản có nghề thủ công truyền thống ) và các di sản văn hoá có giá trị khác [33, tr.690]

- Quyền được Nhà nước hỗ trợ để phát triển về mọi mặt

Hiến pháp năm 2013 không chỉ đưa ra quy định về trách nhiệm của Nhà nước trong việc giúp đỡ đồng bào các DTTS, mà quan trọng hơn là Nhà nước tạo điều kiện để các dân tộc thiểu số phát huy nội lực, cùng phát triển với đất nước Đây là tư duy mới ghi nhận và khẳng định sự vươn lên của đồng bào DTTS chứ không phải chỉ là trông chờ vào sự giúp đỡ của Nhà nước [33, tr.690]

Điều 58 Hiến pháp năm 2013 quy định:

Nhà nước, xã hội đầu tư phát triển sự nghiệp bảo vệ, chăm sóc sức khoẻ của nhân dân, thực hiện bảo hiểm y tế toàn dân, có chính sách ưu tiên chăm sóc sức khoẻ cho đồng bào DTTS, đồng bào ở miền núi, hải đảo và vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc

Trang 28

biệt khó khăn; Điều 60 quy định: Nhà nước, xã hội chăm lo xây

dựng và phát triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc

dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hoá nhân loại, Điều 61 quy định: Nhà

nước ưu tiên phát triển giáo dục ở miền núi, hải đảo, vùng đồng bào DTTS và vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn Luật Giáo dục năm 2005 (các Điều 61, 82) quy định về việc Nhà nước thành lập các trường phổ thông dân tộc nội trú, dân tộc bán trú, dự bị đại học cho con em DTTS và chính sách luân chuyển cán bộ quản lý giáo dục công tác ở các vùng DTTS được học tiếng DTTS để nâng cao chất lượng dạy và học; Luật trợ giúp pháp lý năm 2006 (Điều 10) quy định người dân tộc thiểu số thường trú ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn được cung cấp dịch vụ pháp lý theo quy định; Luật khám chữa bệnh năm 2009 (Điều 4) quy định về chính sách của Nhà nước về khám chữa bệnh cho đồng bào DTTS, được ưu tiên bố trí ngân sách đáp ứng nhu cầu khám bệnh, chữa bệnh cơ bản của nhân dân; Luật Giáo dục đại học năm 2012 (Điều 12) quy định việc Nhà nước được thực hiện chính sách ưu tiên đối với đối tượng ờ vùng đồng bào DTTS, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn v.v [33, tr.691]

Phù hợp với Hiến pháp và Luật, Nhà nước Việt Nam đã xây dựng hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật dưới luật để đảm bảo quyền của các DTTS, bao gồm nghị định, nghị quyết của Chính phủ, quyết định của Thủ tướng Chính phủ, thông tư của bộ, thông tư liên tịch giữa các bộ, ngành và các văn bản quy phạm pháp luật của địa phương về vấn đề dân tộc Nhiều văn bản dưới luật quy định, hướng dẫn về công tác dân tộc, với quy mô triển khai rộng, phạm vi áp dụng hướng đến nhiều đối tượng, nhiều vùng, kéo dài nhiều năm, nhiều giai đoạn, có kế hoạch, mục tiêu, nhiệm vụ cụ thể, rõ ràng, có các biện pháp đảm bảo quyết liệt Vì vậy, trên thực tế các văn bản này thường

Trang 29

được hiểu là các chương trình, chính sách lớn về phát triển toàn diện vùng dân tộc Mục tiêu tổng thể của Nhà nước Việt Nam khi ban hành và thực thi hệ thống các văn bản dưới luật này, nhằm tạo điều kiện để các xã đặc biệt khó khăn, miền núi, vùng sâu, vùng sa, vùng dân tộc phát triển về mọi mặt, hạn chế những khó khăn và yếu kém, góp phần đảm bảo và thúc đẩy các quyền của các DTTS ở Việt Nam [6, tr.33]

Ngoài những văn bản pháp luật quan trọng trên, các cơ quan nhà nước trung ương và địa phương đã ban hành rất nhiều các văn bản pháp luật khác mang nhiều ý nghĩa trong sự nghiệp phát triển toàn diện vùng dân tộc, góp phần đảm bảo quyền của các DTTS

Qua đó thể hiện rõ những nỗ lực, cố gắng to lớn của Nhà nước Việt Nam trong việc đảm bảo quyền của các DTTS trong bối cảnh đất nước vẫn đối mặt với nhiều khó khăn và thách thức Điều này được Quốc tế ghi nhận, đánh giá cao, được toàn thể nhân dân Việt Nam, nhất là đồng bào các DTTS đồng tình, ủng hộ Góp phần thực hiện thắng lợi mục tiêu xây dựng xã hội dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh [6, tr.39]

1.3 Những tiêu chí cơ bản đánh giá việc bảo đảm quyền bình đẳng của các dân tộc thiểu số

Tuyên ngôn toàn thế giới về Quyền con người tuyên bố rằng, mọi người sinh ra đều tự do và bình đẳng về nhân phẩm và các quyền, tất cả mọi người đều được hưởng tất cả các quyền và tự do trong Tuyên ngôn, mà không

có bất kỳ sự phân biệt nào, cụ thể như về chủng tộc, màu da hoặc nguồn gốc dân tộc Phù hợp với những nghĩa vụ cơ bản nêu trong Điều 2 Công ước quốc

tế về xoá bỏ mọi hình thức phân biệt chủng tộc 1965, các quốc gia thành viên cam kết sẽ cấm và xoá bỏ sự phân biệt chủng tộc dưới mọi hình thức và bảo đảm quyền bình đẳng trước pháp luật của tất cả mọi người, đặc biệt trong việc hưởng những quyền sau đây:

Trang 30

1 Quyền được đối xử bình đẳng trước các toà án cũng như trước các cơ quan tài phán khác;

2 Quyền an ninh cá nhân và được nhà nước bảo vệ chống lại những hành vi bạo lực hoặc gây xâm hại đến thân thể do các nhân viên nhà nước gây ra hoặc do bất cứ cá nhân, nhóm người hoặc cơ quan nào gây ra;

3 Những quyền về chính trị, đặc biệt là quyền về bầu cử - được đi bầu và được ứng cử - trên cơ sở phổ thông đầu phiếu, quyền được tham gia vào chính phủ cũng như các hoạt động công cộng khác ở mọi cấp và được bình đẳng trong tiếp cận với các dịch

vụ công cộng;

4 Các quyền dân sự khác, đặc biệt là: Quyền tự do đi lại và

cư trú trong phạm vi lãnh thổ quốc gia; Quyền được xuất cảnh khỏi bất cứ quốc gia nào, kể cả nước mình, và quay trở lại nước mình; Quyền có quốc tịch; Quyền được kết hôn và tự do lựa chọn người phối ngẫu; Quyền sở hữu tài sản riêng cũng như sở hữu chung với những người khác; Quyền thừa kế; Quyền tự do tư tưởng, tự do tín ngưỡng và tôn giáo; Quyền tự do ngôn luận và tự do báo chí; Quyền tự do hội họp và lập hội một cách hoà bình;

5 Các quyền về kinh tế, xã hội, văn hoá, cụ thể là: Quyền được làm việc, được tự do lựa chọn việc làm và được có các điều kiện làm việc công bằng, thuận lợi, được bảo vệ và chống thất nghiệp, được trả lương bình đẳng cho những công việc tương đương, được trả công công bằng và thích đáng; Quyền được thành lập và tham gia các nghiệp đoàn; Quyền có nhà ở; Quyền được tiếp cận với y tế công cộng, chăm sóc sức khoẻ, an sinh xã hội và dịch

vụ xã hội; Quyền được giáo dục và đào tạo; Quyền được tham gia bình đẳng vào các hoạt động văn hoá;

Trang 31

6 Quyền được tiếp cận với bất kỳ địa điểm và dịch vụ công cộng nào, ví dụ như các phương tiện giao thông vận tài, khách sạn, nhà hàng, các quán giải khát, nhà hát, công viên [32, tr.114-115]

1.4 Kinh nghiệm một số quốc gia bảo đảm quyền bình đẳng của các dân tộc thiểu số

Kinh nghiệm một số nước trên thế giới về bảo đảm quyền bình đẳng của các dân tộc là cần thiết, giúp cho việc chọn lọc, định hướng xây dựng những nội dung chính sách phù hợp hơn ở Việt Nam, vận dụng đối với tỉnh Phú Thọ Một số nước có nét tương đồng về điều kiện tự nhiên, kinh tế, dân tộc và yếu tố thể chế gần với Việt Nam như: Cộng hòa nhân dân Trung Hoa, Vương quốc Thái Lan, Cộng hòa Malaisia và Liên bang Mianmar, các nước này nằm trong vùng bán đảo Trung - Ấn với Việt Nam, có chung đặc điểm địa hình vùng đồi núi và là nơi phân bổ nhiều nhóm DTTS mang tính khu vực như: Tày - Thái, Tạng - Miến, Mông - Dao và có nhiều điểm xuất phát điểm, mặt bằng phát triển không quá cách biệt với Việt Nam để việc so sánh, rút ra bài học kinh nghiệm có thể vận dụng

1.4.1 Cộng hòa nhân dân Trung Hoa

Trung Quốc có 55 DTTS với trên 110 triệu người, nhiều nhất trên thế giới Xuất phát từ đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội và lịch sử phát triển, Trung Quốc thực thi chính sách tự trị ở các vùng DTTS, được thông qua tại Hội nghị lần thứ 2, Quốc hội Khóa VI năm 1984 đã đặt nền tảng pháp lý chế độ

tự trị khu vực dân tộc Hệ thống hành chính tự trị hiện nay của Trung Quốc bao gồm 5 khu tự trị cấp tỉnh, 30 châu tự trị cấp thành phố trực thuộc, 121 huyện tự trị và 1.300 xã dân tộc (những nơi có đến 30% dân số là DTTS có thể thành lập khu vực tự trị) [18], Các khu tự trị lớn đã được thành lập từ rất sớm như: Nội Mông (01/5/1947), Ngô Duy Nhĩ Tân Cương (01/10/1955), Choang Quảng Tây (05/3/1958), Hồi Ninh Hạ (25/10/1958) và Tây Tạng (09/9/1965)

Trang 32

Chính sách dân tộc của Nhà nước Trung Quốc thể hiện tính nhất quán trong đường lối phát triển quốc gia, bảo đảm vừa thực hiện theo “chế độ tự trị dân tộc” vừa bảo đảm các mục tiêu phát triển KT-XH, bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa các dân tộc trong một quốc gia thống nhất Điều 119 Hiến

pháp Nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa ghi rõ “Bộ máy chính quyền ở các địa phương tự trị được tự chủ điều hành các vấn đề giáo dục, khoa học, văn hóa, y tế, bảo vệ các di sản văn hóa và nỗ lực vì sự phát triển văn hóa rực rỡ của các dân tộc thiểu số” [18]

“Luật Tự trị vừng dân tộc thiểu số” cụ thể hóa, về hành chính, các cơ quan tự trị địa phương ngoài chức quyền như các cơ quan nhà nước còn có quyền tự trị như: đưa ra các chế định, điều lệ quản lý riêng theo những đặc điểm chính trị, kinh tế, văn hóa ở từng địa phương Các khu vực tự trị được tự chủ về tài chính, hoạch định và thực hiện các chương trình phát triển KT-XH, văn hóa, khoa học trên cơ sở khung chính sách ưu đãi về thuế và khuyến khích đầu tư, hỗ trợ ngân sách cả gói từ Trung ương Công tác giảm nghèo vùng DTTS được đặc biệt quan tâm, thông qua các chương trình, dự án từ những năm 1980 Giai đoạn từ năm 2000 là “Chương trình Hành động Hưng biên Phú dân” tập trung phát triển KT-XH các vùng, tỉnh tự trị khu vực biên giới về cơ sở hạ tầng, sản xuất nông nghiệp, giáo dục, văn hóa, sinh thái - môi trường “Chương trình hỗ trợ phát triển 22 dân tộc thiểu số rất ít người” (có số dân dưới 100.000 người) thực hiện từ 2002 nhằm thúc đẩy phát triển KT-XH toàn diện cho các dân tộc, vùng các dân tộc rất ít người tập trung vào lĩnh vực

hạ tầng, giáo dục, văn hóa và phúc lợi xã hội khác

Bên cạnh đó, Trung Quốc qui định và cấp ngân sách để thực hiện chính sách cán bộ, các hoạt động phát triển văn hóa giữa các vùng, các khu vực tự trị

Ba điểm nhấn quan trọng trong chính sách dân tộc của Trung Quốc cụ thể là:

Về công tác cán bộ Phát triển công tác cán bộ, bảo đảm tính đại diện

Trang 33

theo thành phần dân tộc trong hệ thống chính quyền các cấp địa phương, tỉ lệ cán bộ dân tộc được xác định theo tỷ lệ tương ứng với cơ cấu số dân tộc hiện đang cư trú trên địa bàn Thực hiện luân chuyển cán bộ giữa các vùng, khu vực, từ trung ương đến địa phương, từ vùng chậm phát triển đến vùng phát triển; tham quan, đào tạo ở nước ngoài; thành lập các học viện đào tạo đội ngũ cán bộ dân tộc

Về công tác giáo dục Phát triển giáo dục là một ưu tiên quan trọng

phát triển nguồn nhân lực, mở mang dân trí cho vùng DTTS Thực thi chính sách khuyến khích con em dân tộc đến trường như: đầu tư xây dựng cơ sở vật chất trường lớp và các cơ sở giáo dục đào tạo mới, hiện đại, miễn học phí,

mở trường cho các đối tượng đặc biệt, đặc thù Đa dạng hình thức giáo dục, tăng cường dạy tiếng phổ thông kết hợp với dạy song ngữ, biên soạn tài liệu, xây dựng đội ngũ giáo viên phù hợp Qui hoạch giáo dục gắn với qui hoạch

đô thị, nông thôn mới

Về công tác văn hóa Nhà nước bảo đảm ưu tiên cấp kinh phí cho các

hoạt động nghiên cứu, sưu tầm, phục dựng, biểu diễn văn hóa, các hoạt động

lễ hội của các dân tộc thiểu số Xây dựng và phát triển hệ thống các trường đào tạo nghệ thuật văn hóa dân tộc từ trung ương đến địa phương, nhất là các trường, học viện trong từng khu tự trị của dân tộc Văn hóa luôn được coi là nền tảng để duy trì bản sắc mỗi dân tộc, củng cố tăng cường đoàn kết, thúc đẩy hợp tác phát triển giữa các vùng, các dân tộc thông qua hoạt động giao lưu Mặt khác văn hóa cũng thúc đẩy phát triển kinh tế mạnh mẽ trên cơ sở gắn kết với phát triển du lịch Từ năm 1992, “Hành lang văn hóa quốc gia dọc theo đường biên giới” đã được triển khai để thúc đẩy phát triển kinh tế-văn hóa ở các vùng biên giới, dân tộc [18]

1.4.2 Vương quốc Thái Lan

Thái Lan có diện tích 514.000 km2, số dân 60,6 triệu người Việc phân

Trang 34

chia dân tộc, tộc người ở quốc gia này hiện chưa thống nhất Ngoài nhóm ngôn ngữ Thái (chiếm 74%), Hoa kiều (chiếm 7,5%), còn có các nhóm Môn -Khmer (gần 4%), Ma lai (3%) Nhóm được xem là tộc người điển hình là Tạng - Miến (Ka Ren, La Hủ, Li Su, A Kha) và Mông - Dao, chiếm gần 2% dân số cả nước Các nhóm thiểu số cư trú chủ yếu ở vùng núi phía Bắc và Đông Nam trên địa bàn 20 tỉnh, 75 huyện, đông nhất là vùng biên giới Thái - Myanmar [36, tr.16, 18], chính sách của Thái Lan cơ bản tập trung vào:

Thực thi chính sách phát triển kinh tế - xã hội gắn với các mục tiêu chỉnh trị và giải quyết vẩn đề dân tộc Do lịch sử phát triển và vị trí nằm trong

khu vực Tam giác vàng, vùng DTTS của Thái Lan có vai trò quan trọng trong đời sống chính trị - xã hội an ninh quốc gia và cả khu vực Chính phủ Thái Lan đã thực thi chính sách thống nhất để giải quyết vấn đề các bộ tộc Chính sách tập trung vào phát triển cơ sở hạ tầng các vùng nghèo, hỗ trợ các dân tộc phát triển kinh tế, ổn định đời sống, xóa bỏ cây thuốc phiện gắn với giải quyết vấn đề an ninh biên giới, hỗ trợ phát triển cộng đồng theo hướng tự quản Bên cạnh đó, là thực thi chính sách phân loại, công nhận quyền công dân, truyền

bá đạo Phật để xây dựng hệ tư tưởng tôn giáo thống nhất, tránh sự xung đột

tôn giáo có nguy cơ làm ảnh hưởng đến sự phát triển quốc gia

Thực hiện các chương trình phát triển kinh tế - xã hội mang tỉnh đồng

bộ, chiến lược và lâu dài Thái Lan xây dựng theo hướng thiết lập các chương

trình, dự án kế hoạch dài hạn từ 10 - 15 năm trở lên như: Chương trình phát triển vùng cao Thái- Đức (TG-HDP, 1984-1998) Thực hiện đồng bộ ở tất cả các nội dung, bao gồm: phát triển hạ tầng (giao thông, điện, trường học, trạm y

tế, các cơ sở phúc lợi khác), kết hợp hỗ trợ phát triển sản xuất nông, lâm nghiệp

gắn với thị trường và chế biến tiêu thụ sản phẩm, bảo vệ môi trường [36], về

mặt tổ chức, do một cơ quan chuyên trách của chính phủ chỉ đạo, tổ chức thực hiện Phát triển dựa vào cộng đồng là hướng tiếp cận chính trong chính sách

Trang 35

phát triển tại Thái Lan Cơ quan phát triển cộng đồng (CDD) được thành lập

từ tháng 1.1962, trực thuộc Bộ Nội vụ với sự tham gia của nhiều đại diện từ các cộng đồng khác nhau để điều hành chương trình

Tập trung nâng cao nhận thức và năng lực cộng đồng Công tác đào

tạo, tập huấn nâng cao nhận thức và kiến thức khoa học, thị trường cho lãnh đạo địa phương và người dân được chú trọng và là điểm mấu chốt cho phát triển Vai trò các trường đại học (đặc biệt Đại học Chiang Mai), các trung tâm nghiên cứu, đội ngũ cán bộ kỹ thuật có kinh nghiệm được đề cao và phối hợp chặt chẽ trong thực hiện các chương trình, dự án Vai trò cộng đồng được phát huy do thúc đẩy sự tham gia và chuyển biến nhu cầu và nhận thức của người dân và là yếu tố cơ bản tạo nên thành công của các chương trình, chính sách

Chính sách với các dân tộc của Vương quốc Thái Lan đã góp phần giải quyết những vấn đề tồn tại do lịch sử để lại, phát triển kinh tế - xã hội gắn với vấn đề an ninh biên giới và quốc gia Thực hiện các chương trình

dự án cụ thể, đồng bộ có tính chiến lược, lâu dài, phân cấp quản lý rõ ràng, đơn giản và hiệu quả

1.4.3 Cộng hòa Malaisia

Malaisia là đất nước Cộng hòa hồi giáo thuộc khu vực Đông Nam Á có diện tích hơn 330.000km2, với 2 khu vực chính là phần đất phía Nam bán đảo Malacca ở phía Tây và Bắc đảo Boneo ở phía Đông Dân số gần 30 triệu người, với ba cộng đồng chính là người Mã Lai và các nhóm sắc tộc thiểu số

ở phía Đông gồm bang Sabah và Sarawak, cộng đồng người Trung Quốc và

Ấn Độ Malaisia là quốc gia cấu thành nhiều vấn đề phức tạp cả về tôn giáo, dân tộc và địa chính trị [35, tr.141]

Chính sách dân tộc của Malaisia không thể hiện rõ nét thành hệ thống riêng biệt mà chủ yếu thông qua hệ thống chính sách phát triển, đặc biệt là chính sách giảm nghèo, phát triển nông thôn, chính sách bảo vệ quyền lợi về

Trang 36

đất đai, tài nguyên cho người dân bản địa như: Chính sách về quyền phát triển đất đai liên kết (FELDA), Chương trình phát triển nông nghiệp tổng hợp (IADPs) tiến hành từ những năm 70 của thế kỷ 20 [35, tr.152], Ngoài ra,

có một số chương trình, dự án hỗ trợ các dân tộc phát triển kinh tế, xã hội, tôn giáo và cứu trợ xã hội với các tộc người còn ở trình độ phát triển thấp Các chính sách này được thực hiện tùy theo đặc điểm tình hình, trình độ phát triển và cơ chế ở từng đơn vị tiểu bang khác nhau [35, tr.151] Những điểm chính trong thực hiện chính sách dân tộc và phát triển của Malaisia tựu chung lại như sau:

Một là, giải quyết tốt mối quan hệ giữa tăng trưởng và giảm nghèo đặt vào kế hoạch chung thống nhất trong tổng thể chiến lược và chính sách quốc gia Chiến lược và chính sách của Malaisia tương đối rõ ràng, cụ thể, bù đắp

được những thiếu hụt cũng như loại bỏ được những trùng lắp trong hệ thống chính sách để giải quyết vấn đề đói nghèo Chính từ sự rõ ràng này nên việc huy động nguồn lực, kể cả huy động nguồn lực quốc tế phục vụ công cuộc giảm nghèo, điều phối và sử dụng các nguồn lực trở nên hiệu quả hơn Có sự phân loại trong đánh giá cũng như xây dựng chính sách phân biệt cho từng khu vực thành thị và nông thôn, giữa các bang, các nhóm dân tộc khác nhau sao cho phù hợp với đặc điểm, trình độ, điều kiện phát triển nhằm làm tăng tính hiệu quả của chính sách và các chương trình đầu tư

Hai là, xây dựng và thiết lập hệ thống tổ chức tham gia vào các chương trình giảm nghèo đồng bộ và phát huy tốt vai trò của hệ thống tổ chức này như

các viện, cơ sở, các trung tâm: nghiên cứu nông nghiệp, đào tạo khu vực nông thôn, dạy nghề khu vực đô thị (Viện nghiên cứu và phát triển nông nghiệp Malaisia - MARDI, Ngân hàng nông nghiệp Malaisia - ABM, Hợp tác xã phát triển cao su Malaisia - MARDEC) [35, tr.152], các công ty nhà nước đóng vai trò quan trọng trong thực hiện các chương trình đầu tư của chính phủ cho

Trang 37

vùng nghèo, thực hiện đồng bộ từ cơ sở hạ tầng, với phát triển sản xuất, chế

biến và tiêu thụ sản phẩm, làm tốt vai trò hỗ trợ cho người nông dân

Ba là, tăng cường sự tham gia của khu vực tư nhân vào trong các chương trình giảm nghèo thông qua chỉnh sách hỗ trợ ưu đãi Các mô hình tổ

chức trên thực sự có hiệu quả, là mô hình quản lý “dựa vào thị trường, có tính định hướng của nhà nước” [35, tr.24] Chính phủ chỉ tập trung đầu tư cơ sở vật chất ban đầu hoặc cung cấp một phần ngân sách hằng năm Đây được coi như là cách sử dụng ngân sách hiệu quả, tránh được tình trạng bao cấp tràn lan, mặt khác lại thúc đẩy sự phát triển thông qua cơ chế bảo đảm quyền tự chủ Mô hình đầu tư công - tư (PP) được thực hiện cả trong lĩnh vực đào tạo, dạy nghề là một trong những thành công điển hình Đất nước Malaisia đã đạt được những thành tựu đáng kể trong công cuộc phát triển đất nước, trong đó

có lĩnh vực giảm nghèo, thực hiện chính sách phát triển các vùng dân tộc

1.4.4 Liên bang Myanmar

Myanmar nằm trên bán đảo Trung - Ấn, là một trong 10 quốc gia của Asean, có diện tích 670.000km2, dân số khoảng trên 50 triệu người, về hành

chính được chia thành 13 bang, quận Myanmar là đất nước rất giàu tiềm năng phát triển với tài nguyên đất đai, rừng, năng lượng và khoáng sản phong phú, nổi tiếng như đá quí, vàng, kim cương, dầu mỏ, gỗ và thủy sản

Đây là quốc gia được mệnh danh là đất nước Chùa vàng với trên 85% dân số theo đạo Phật, còn lại là đạo Hinđu, Hồi giáo và Thiên chúa giáo Myanmar có 135 dân tộc với hàng trăm bộ tộc, sắc tộc khác nhau [34], Sự giàu có về tài nguyên, địa chính trị quan trọng của Myanmar đã trở thành tâm điểm chú ý của các thế lực bên ngoài, gây nên những bất ổn chính trị nhiều thập kỷ qua Xác định tầm quan trọng và ý nghĩa của vấn đề phát triển vùng biên giới - dân tộc, Myanmar đã thực thi những chương trình, chính sách tương đối hiệu quả Bài học kinh nghiệm là:

Trang 38

Thực hiện chỉnh sách phát triển kinh tế - xã hội vùng biên giới, dân tộc theo các chương trình tổng hợp Chính phủ dành một khoản đáng kể ngân sách

cho phát triển kinh tế - xã hội vùng biên giới - dân tộc, nhất là những nơi trọng yếu Từ năm 1992, Chính phủ có Chương trình phát triển vùng biên giới, đầu

tư tổng hợp về cơ sở hạ tầng, nông nghiệp, giáo dục nhằm cải thiện và nâng cao đời sống nhân dân nhất là tuyên truyền, giáo dục tinh thần đoàn kết giữa các dân tộc Tư tưởng chỉ đạo xuyên suốt, khẩu hiệu đoàn kết là sức mạnh luôn được đề cao ở mọi nơi, mọi chỗ Đối tượng thanh niên là lực lượng được chú trọng nhằm tạo dựng nền tảng cho một quốc gia thống nhất và phát triển

Quản lý tổ chức theo mô hình trực tuyến, chuyên môn hỏa, nhàm bảo

đảm sự chỉ đạo thống nhất từ trung ương, tăng cường sự tham gia trực tiếp của nhân dân Một Uỷ ban điều hành chương trình được thành lập dưới sự bảo trợ của Bộ phát triển Biên giới và dân tộc, đảm nhiệm chức năng quản lý, điều phối tổ chức thực hiện các hoạt động đầu tư trên tất cả các lĩnh vực Đồng thời cơ quan này cũng có các đơn vị trực thuộc thực hiện kinh doanh nhằm khai thác và phát triển kinh tế vừng biên giới Mô hình hệ thống này được thành lập ở 3 cấp: trung ương, cấp vùng (bang và quận) và cấp cơ sở (xã, thị trấn) Cấp cơ sở có vai trò quan trọng trong việc tổ chức nhân dân tham gia trực tiếp vào các hoạt động chương trình, dự án với cơ chế cùng tham gia, đóng góp và hưởng lợi

Chú trọng chính sách giáo dục dân tộc một cách đa dạng,hiệu quả

Myanmar xác định phát triển nguồn nhân lực có vị trí quan trọng trong củng cố đoàn kết, thống nhất, bảo vệ chế độ và phát triển kinh tế - xã hội vùng biên giới

- dân tộc Hệ thống các trường đảm nhiệm giáo dục cho đối tượng con em các dân tộc với nhiều nội dung, ngành nghề, lĩnh vực Trường Đại học dân tộc do

Bộ Giáo dục quản lý có nhiệm vụ đào tạo ở bậc cao cho con em các dân tộc trong cả nước (đặt tại thành phố Mandalay) trên tất cả các lĩnh vực, đông nhất

Trang 39

là ngành sư phạm Sinh viên vào trường phải qua kỳ thi cấp quốc gia nhưng nội dung đào tạo lại phù hợp với đối tượng và địa bàn mà sau này họ phục vụ Trường có tới 87 thành dân tộc đang theo học Trường cao đẳng kỹ thuật do Bộ Khoa học công nghệ quản lý, với mô hình vừa đào tạo nghề, đào tạo bậc đại học và trên đại học Chính sách chọn lọc, cử tuyển gắn với đào tạo có chất lượng và bố trí sử dụng triệt để là một trong những thành công của chính phủ

Điểm nổi bật trong chính sách phát triển vùng biên giới, dân tộc của Myanmar là các chương trình phát triển kinh tế - xã hội được xây dựng và thực hiện đồng bộ, cơ chế quản lý rõ ràng Công tác đào tạo cán bộ và phát triển nguồn nhân lực cho có trọng tâm, trọng điểm, phù hợp và hiệu quả

Kết luận Chương 1

Vấn đề dân tộc, quyền bình đẳng của các dân tộc, chính sách phát triển kinh tế - xã hội vùng dân tộc, chính sách cho DTTS là mối quan tâm của các quốc gia Tùy điều kiện, hoàn cảnh, giai đoạn lịch sử và thể chế chính trị cụ thể mà mỗi nhà nước, chính phủ của một quốc gia thực thi chính sách phát triển khác nhau nhưng tất cả đều hướng tới mục tiêu cao nhất đó là: duy trì sự

ổn định chính trị, xã hội cũng như nền kinh tế của quốc gia; luôn tạo ra những điều kiện, cơ hội thông qua các chương trình, chính sách cụ thể để các nhóm thiểu số và vùng khó khăn phát triển bất kể đó là thể chế chính trị nào

Trang 40

Chương 2 THỰC TRẠNG BẢO ĐẢM QUYỀN BÌNH ĐẲNG CỦA CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH PHÚ THỌ

2.1 Khái quát chung về tỉnh Phú Thọ

2.1.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội của tỉnh Phú Thọ

Phú Thọ là vùng đất cổ, đất phát tích của dân tộc Việt Nam, nơi có bề dày truyền thống lịch sử và hàng nghìn năm văn hiến từ khi Vua Hùng dựng nước Văn Lang Nằm ở trung tâm của nền văn minh Sông Hồng, Phú Thọ là đất cội nguồn, đất của thế dựng nước và giữ nước, đất của di tích lịch sử, đất của các danh thắng, của các sản vật thiên nhiên độc đáo

Sau 29 năm hợp nhất với tỉnh Vĩnh Phúc, tỉnh Phú Thọ được tái lập từ ngày 01/01/1997 theo Nghị quyết kỳ họp thứ 10, Quốc hội khoá IX, khi đất nước bước vào thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá

Tỉnh Phú Thọ tái lập (1997) có diện tích tự nhiên 3.534km2, dân số 1,38 triệu người, gồm 34 dân tộc anh em, mật độ dân số 391 người/km2

[29] Là tỉnh thuộc vùng miền núi trung du Bắc Bộ, có tọa độ địa lý từ 200 55’ đến

210 43’ vĩ độ Bắc, 1040 48’ đến 1050 27’ kinh độ Đông Địa giới hành chính của tỉnh tiếp giáp với: tỉnh Tuyên Quang về phía Bắc; tỉnh Hòa Bình về phía Nam; tỉnh Vĩnh Phúc về phía Đông; thành phố Hà Nội về phía Đông Nam; tỉnh Sơn La, tỉnh Yên Bái về phía Tây [37]

Phú Thọ có vị trí địa lý mang ý nghĩa là trung tâm tiểu vùng Tây - Đông - Bắc, khu vực giao lưu giữa vùng Đông Bắc, đồng bằng sông Hồng và vùng Tây Bắc; cách trung tâm Hà Nội khoảng 80km về phía Bắc, cách sân bay Quốc tế Nội Bài khoảng 60km Với vị trí “ngã ba sông” - điểm giao nhau của sông Hồng, sông Đà và sông Lô, là cửa ngõ phía Tây của Thủ đô Hà Nội,

là đầu mối trung chuyển, giao lưu kinh tế giữa các tỉnh vùng đồng bằng Bắc

Ngày đăng: 17/03/2021, 10:40

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w