Ngày nay, mặc dù cơ sở kinh tế - xã hội của nhà nước phong kiến không còn nhưng phần nào tư tưởng của Nho giáo vẫn còn tồn tại ảnh hưởng đến việc đảm bảo quyền bình đẳng của người phụ nữ
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
PHÙNG THỊ KHÁNH LINH
ảnh h-ởng của Nho giáo
đến việc bảo đảm quyền bình đẳng của phụ nữ trong quan hệ hôn nhân, gia đình ở Việt Nam
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
PHÙNG THỊ KHÁNH LINH
ảnh h-ởng của Nho giáo
đến việc bảo đảm quyền bình đẳng của phụ nữ trong quan hệ hôn nhân, gia đình ở Việt Nam
Chuyờn ngành: Phỏp luật về quyền con người
Mó số: 8380101.07
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Cỏn bộ hướng dẫn khoa học: GS.TS PHẠM HỒNG THÁI
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội
Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể bảo vệ Luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
NGƯỜI CAM ĐOAN
Phùng Thị Khánh Linh
Trang 4MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục bảng, đồ thị, bản đồ
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: NHỮNG TRIẾT LÝ CĂN BẢN CỦA NHO GIÁO VỀ HÔN NHÂN, GIA ĐÌNH VÀ BẢO ĐẢM QUYỀN BÌNH ĐẲNG TRONG QUAN HỆ HÔN NHÂN, GIA ĐÌNH CỦA PHỤ NỮ VIỆT NAM 9
1.1 Những triết lý căn bản của Nho giáo 9
1.1.1 Khái quát sự hình thành và phát triển của Nho giáo 9
1.1.2 Quá trình du nhập tư tưởng Nho giáo vào Việt Nam 10
1.1.3 Những nội dung cơ bản của triết lý Nho giáo về hôn nhân và gia đình 18
1.2 Quyền bình đẳng và bảo đảm quyền của người phụ nữ trong quan hệ hôn nhân và gia đình 23
1.2.1 Khái quát về quyền bình đẳng 23
1.2.2 Bảo đảm quyền bình đẳng của phụ nữ trong hôn nhân và gia đình 24
1.3 Bảo đảm quyền bình đẳng của phụ nữ về hôn nhân và gia đình trong pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam 27
1.3.1 ảo đảm quyền bình đẳng của phụ nữ về hôn nhân và gia đình trong pháp luật quốc tế 27
1.3.2 ảo đảm quyền bình đẳng của phụ nữ trong hôn nhân và gia đình theo pháp luật Việt Nam 29
Tiểu kết chương 1 33
CHƯƠNG 2: NHỮNG TÁC ĐỘNG, ẢNH HƯỞNG CỦA NHO GIÁO ĐẾN VIỆC BẢO ĐẢM QUYỀN BÌNH ĐẲNG CỦA PHỤ NỮ VIỆT NAM TRONG QUAN HỆ HÔN NHÂN, GIA ĐÌNH 34 2.1 Ảnh hưởng tích cực của Nho giáo đến việc bảo đảm quyền
Trang 5bình đẳng của phụ nữ Việt Nam trong quan hệ hôn nhân,
gia đình 34
2.2 Ảnh hưởng tiêu cực của Nho giáo đến việc bảo đảm quyền bình đẳng của phụ nữ Việt Nam trong quan hệ hôn nhân, gia đình 42
2.2.1 Ảnh hưởng tiêu cực của Nho giáo đến quyền bình đẳng của phụ nữ Việt Nam trong quan hệ hôn nhân, gia đình 42
2.2.2 Những hạn chế chủ yếu về bảo đảm quyền bình đẳng của phụ nữ trong hôn nhân và gia đình 47
2.3 Những yếu tố làm biến đổi sự ảnh hưởng của Nho giáo đến việc bảo đảm quyền bình đẳng của phụ nữ Việt Nam trong quan hệ hôn nhân, gia đình 50
2.3.1 Các yếu tố tích cực 50
2.3.2 Các yếu tố gây cản trở 54
2.4 Một số vấn đề đặt ra từ ảnh hưởng từ Nho giáo đến việc bảo đảm quyền bình đẳng của phụ nữ Việt Nam trong quan hệ hôn nhân, gia đình 58
2.4.1 Mất cân bằng giới tính khi sinh và sự ưa thích con trai 66
2.4.2 ạo lực gia đình 72
Tiểu kết chương 2 76
CHƯƠNG 3: QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP NHẰM PHÁT HUY Ả NH HƯỞNG TÍCH CỰC, HẠN CHẾ ẢNH HƯỞNG TIÊU CỰC CỦA NHO GIÁO ĐẾN VIỆC BẢO ĐẢM QUYỀN BÌNH ĐẲ NG CỦA PHỤ NỮ VIỆT NAM TRONG QUAN HỆ HÔN NHÂN, GIA ĐÌNH 77
3.1 Quan điểm nhằm phát huy ảnh hưởng tích cực và hạn chế ảnh hưởng tiêu cực Nho giáo đến việc bảo đảm quyền bình đẳng của phụ nữ Việt Nam trong quan hệ hôn nhân, gia đình 77
3.1.1 Quán triệt quan điểm Đảng Cộng sản Việt Nam và Hồ Chí Minh
Trang 6trong việc kế thừa các giá trị đạo đức của Nho giáo đối với người
phụ nữ Việt Nam hiện nay 77
3.1.2 Kế thừa các giá trị của đạo đức Nho giáo phải nhằm nâng cao vai trò, vị trí của người phụ nữ Việt Nam trong thời đại mới 82
3.2 Giải pháp nhằm phát huy ảnh hưởng tích cực và hạn chế ảnh hưởng tiêu cực của Nho giáo đến việc bảo đảm quyền bình đẳng của phụ nữ Việt Nam trong quan hệ hôn nhân, gia đình 87
3.2.1 Phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, đẩy mạnh đào tạo nghề và giải quyết việc làm cho người phụ nữ Việt Nam hiện nay 87
3.2.2 Đẩy mạnh công tác giáo dục và nâng cao nhận thức về vị trí, vai trò của người phụ nữ trong xã hội, gia đình 91
3.2.3 Tăng cường năng lực, hiệu quả quản lý nhà nước về bình đẳng của người phụ nữ Việt Nam trong quan hệ hôn nhân, gia đình hiện nay 92
3.2.4 Nâng cao vai trò của Hội Liên hiệp phụ nữ và các tổ chức xã hội 94
3.2.5 Hoàn thiện về cơ chế, chính sách và hệ thống pháp luật, thực hiện bình đẳng giới 95
3.2.6 Tăng cường vai trò của các thiết chế xã hội về bảo đảm quyền bình đẳng của phụ nữ trong hôn nhân và gia đình 98
3.2.7 Tuyên truyền, giáo dục sâu rộng quyền bình đẳng của phụ nữ trong hôn nhân và gia đình 101
3.2.8 Tăng cường và thiết lập hệ thống thu thập dữ liệu thống nhất và khung kế hoạch, theo dõi và đánh giá; nghiên cứu về quyền bình đẳng của phụ nữ trong hôn nhân và gia đình 104
3.2.9 Xoá bỏ bạo lực đối với phụ nữ và trẻ em gái 106
KẾT LUẬN 108
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 109
Trang 7DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
ĐG: ình đẳng giới
TSGTKS: Tỉ số giới tính khi sinh
TSGTTE: Tỷ số giới tính trẻ em dưới 5 tuổi
Trang 8DANH MỤC BẢNG, ĐỒ THỊ, BẢN ĐỒ
ảng 1.1 Các quyền cơ bản trong ộ luật nhân quyền quốc tế 27
Đồ thị 2.1 Tỷ số giới tính khi sinh theo vùng 67
Đồ thị 2.2 Tỷ số giới tính khi sinh tại thành thị và nông thôn 67
ản đồ 2.1 Tỷ số giới tính khi sinh theo tỉnh 68
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Nho giáo là học thuyết chính trị - xã hội có nguồn gốc ở Trung quốc thời kì cổ đại, hình thành từ thời Phục Hy và có sự đóng góp rất lớn của Chu Công ở thời kì Tây Chu Đến thời Đông Chu, Khổng Tử là người có kiến thức uyên bác đã đóng vai trò to lớn trong việc hệ thống hoá tư tưởng của Chu Công và truyền bá tư tưởng của Nho giáo Vì vậy, Khổng Tử được coi là người sáng lập Nho giáo Trải qua các giai đoạn lịch sử khác nhau, Nho giáo tồn tại và phát triển không thuần nhất ở Trung Quốc: Nho giáo thời Tây Chu (Chu Công), Nho giáo thời Tiên Tần (Khổng Mạnh), Hán Nho, Đường Nho, Tống Nho…
Nho giáo ra đời thời Xuân Thu - Chiến Quốc - thời kỳ mà tình hình kinh tế - xã hội có nhiều biến động nhất trong lịch sử Trung Quốc Các nước chư hầu nhà Chu tranh giành quyền lực, tàn sát lẫn nhau làm cho xã hội lâm vào cảnh loạn lạc, rối ren Trước tình hình đó, các nhà tư tưởng của Nho giáo
đã lý giải các vấn đề xã hội và họ muốn tìm ra phương pháp đưa xã hội từ loạn lạc tới thịnh trị Chính vì vậy, có nhiều ý kiến cho rằng, thực chất Nho giáo là đạo trị nước, Nho giáo là đạo làm người vì bàn nhiều tới việc giáo dục đạo đức cho con người - nhân tố giúp xã hội ổn định, trật tự
Nội dung giáo dục đạo đức cho con người của Nho giáo tập trung ở các phạm trù cơ bản như Tam cương, Ngũ thường, Chính danh Đối với người phụ nữ, nội dung giáo dục đạo đức của Nho giáo thể hiện rõ thông qua thuyết tam tòng, tứ đức
Nho giáo được truyền vào nước ta từ thời ắc thuộc Khi vào Việt Nam, nó được cải biến đi cho phù hợp với tính chất ôn hòa vốn có của người Việt Trong quá trình tồn tại, giai cấp phong kiến Việt Nam sử dụng Nho giáo
Trang 10làm công cụ để thiết lập ổn định trật tự xã hội và duy trì sự thống trị của giai cấp cầm quyền Trải qua những bước thăng trầm của lịch sử, Nho giáo đã có chỗ đứng nhất định trong đời sống tư tưởng của người Việt Trong các nội dung đạo đức của Nho giáo thì thuyết tam tòng, tứ đức là những quy phạm giáo dục đạo đức cơ bản đối với người phụ nữ Tư tưởng này đã có ảnh hưởng rất sâu sắc đến vai trò, vị trí, cuộc sống của
người phụ nữ Việt Nam ên cạnh các giá trị tích cực, Nho giáo có nhiều mặt tiêu cực, trói buộc người phụ nữ Việt Nam vào lễ giáo phong kiến, kìm hãm các bước tiến của họ, đặc biệt là trong quan hệ hôn nhân, gia đình Tuy nhiên, Nho giáo trên chặng đường dài của lịch sử dân tộc, vẫn có giá trị nhất định góp phần làm nên vẻ đẹp truyền thống của người phụ nữ Việt Nam
Ngày nay, mặc dù cơ sở kinh tế - xã hội của nhà nước phong kiến không còn nhưng phần nào tư tưởng của Nho giáo vẫn còn tồn tại ảnh hưởng đến việc đảm bảo quyền bình đẳng của người phụ nữ Việt Nam trong quan hệ hôn nhân, gia đình trên cả hai bình diện tích cực và hạn chế Những ảnh hưởng tiêu cực của nó như trọng nam khinh nữ, áp đặt hôn nhân… là một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng bạo lực gia đình và bất bình đẳng giới ở nước ta hiện nay
Tại Đại hội Đảng lần thứ VI (1986), Đảng ta thực hiện công cuộc Đổi mới Sự kiện này đánh dấu bước chuyển mình lớn lao của dân tộc Trải qua gần ba mươi năm thực hiện, quá trình Đổi mới của đất nước đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng trên các lĩnh vực, trong đó có đổi mới kinh tế là nền tảng Tuy nhiên, mục đích của Đảng ta trong công cuộc Đổi mới không chỉ đơn giản về kinh tế mà đổi mới toàn diện, trong đó có đổi mới quan niệm
về con người và giải phóng con người Đảng ta luôn xác định, con người là yếu tố quan trọng hàng đầu, trong đó, người phụ nữ là lực lượng đông đảo nắm vai trò to lớn trong gia đình và xã hội Công cuộc Đổi mới đã dẫn đến
Trang 11những thay đổi về tiêu chí đánh giá của xã hội, của gia đình đối với người phụ
nữ nhằm đáp ứng nhu cầu mới của thời đại Người phụ nữ Việt Nam ngày nay phải hướng tới vẻ đẹp toàn diện hơn, trí tuệ hơn, giỏi việc nước đảm việc nhà, tích cực tham gia các hoạt động xã hội
Những quy tắc, chuẩn mực của đạo đức Nho giáo được sử dụng một cách hợp lý sẽ trở thành nhân tố quan trọng nâng cao vị trí, vai trò của người phụ nữ trong xã hội Việt Nam hiện đại, đảm bảo được quyền bình đẳng của
họ trong mối quan hệ hôn nhân, gia đình nói riêng Điều đó cho thấy việc cần thiết phải nghiên cứu thực trạng ảnh hưởng của Nho giáo đối với việc bảo đảm quyền bình đẳng của người phụ nữ Việt Nam hiện nay trong quan hệ hôn nhân, gia đình để đưa ra những giải pháp nhằm phát huy giá trị tích cực và hạn chế ảnh hưởng tiêu cực đối với sự nghiệp giải phóng phụ nữ
Xuất phát từ những vấn đề nêu trên, tác giả chọn đề tài: “Ảnh hưởng
của Nho giáo đến việc bảo đảm quyền bình đẳng của phụ nữ trong quan hệ hôn nhân, gia đình ở Việt Nam” làm đề tài luận văn thạc sỹ của mình
2 Tình hình nghiên cứu
Đề tài ảnh hưởng của Nho giáo đến việc bảo đảm quyền bình đẳng trong quan hệ hôn nhân, gia đình của phụ nữ ở Việt Nam cũng đã có một số tác giả nghiên cứu Có thể kể ra như đề tài nghiên cứu được các chuyên gia
dưới các góc độ và trong phạm vi khác nhau, như: “Ảnh hưởng của đạo đức
phong kiến trong cán bộ lãnh đạo quản lý của Việt Nam hiện nay” của tác giả
Nguyễn Thế Kiệt làm chủ biên; “Ảnh hưởng tiêu cực của tư tưởng phong kiến
trong cán bộ lãnh đạo, quản lý và phương hướng khắc phục” của tác giả
Nguyễn ình Yên; “Ảnh hưởng của Nho giáo trong lịch sử tư tưởng Việt
Nam” của tác giả Nguyễn Đức Quỳ; hay “Gia đình Việt Nam và vai trò của người phụ nữ trong giai đoạn hiện nay” của tác giả Dương Thị Minh; “Bảo đảm quyền bình đẳng của phụ nữ trong Hôn Nhân Gia đình tại Việt Nam
Trang 12Hiện Nay “ của Lê Thu Thảo hay “Lễ giáo Nho gia phong kiến kìm hãm bước tiến của phụ nữ Việt Nam hiện nay” của tác giả Lê Văn Quán; “Công, dung, ngôn, hạnh thời nay” của tác giả Lê Thị ừng, Nguyễn Thị Vân Hương;
“Ảnh hưởng của thuyết tam tòng, tứ đức đối với người phụ nữ Việt Nam xưa
và nay” - Đề tài nghiên cứu khoa học cấp trường - Đại học Sư phạm của
Hoàng Thị Thuận; Cuốn “Nho giáo và gia đình” của tác giả Vũ Khiêu, Đặng
Như và Lê Thị Quý nhà xuất bản Khoa học xã hội, 1995
Những nội dung các công trình nghiên cứu đã đạt được:
Thứ nhất, các công trình đã khái quát quá trình hình thành, phát triển
của Nho giáo qua các giai đoạn chủ yếu: Nho giáo Xuân Thu; Nho giáo thời Lưỡng Hán; Nho giáo thời Tam quốc; Nho giáo thời Thanh Và đặc biệt là Nho giáo ở Việt Nam
Thứ hai, các công trình đã làm rõ những phạm trù, nguyên lý cơ bản
của Nho giáo Trong đó, các tác giả đặc biệt đề cao những giá trị của Nho giáo và coi đạo đức Nho giáo có vai trò to lớn trong việc giáo dục, hoàn thiện nhân cách con người
Thứ ba, các công trình đã khái quát một số đặc điểm đạo đức truyền
thống của người phụ nữ Việt Nam và nêu lên những tàn dư của đạo đức Nho giáo cần phải quét sạch trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta
Thứ tư, các công trình đã làm rõ khái niệm và nội dung chủ yếu của
thuyết tam tòng, tứ đức trong lịch sử phát triển của Nho giáo Trung Quốc và Nho giáo Việt Nam Thuyết tam tòng, tứ đức có ảnh hưởng lớn đối với đời sống tinh thần con người Việt Nam, đạo đức và vai trò vị trí của người phụ nữ Việt Nam xưa và nay Tuy nhiên các tác giả cũng khẳng định: khi vào Việt Nam nó được người Việt tiếp thu và biến đổi nó cho phù hợp với xã hội Việt
Thứ năm, các công trình phân tích sự ảnh hưởng của thuyết tam tòng,
tứ đức thông qua các bài Gia huấn và Hương ước được truyền tụng trong đời
Trang 13sống xã hội Việt Nam cho thấy rõ mức độ ảnh hưởng sâu đậm của những tư tưởng này đối với con người Việt Nam
Thứ sáu, các công trình chỉ ra điều luật của các triều đại phong kiến
Việt Nam đối với người phụ nữ trên tinh thần bị ảnh hưởng tư tưởng trọng nam khinh nữ, tam tòng, tứ đức của Nho giáo
Thứ bảy, các công trình đã nghiên cứu sự ảnh hưởng của thuyết tam
tòng, tứ đức đối với người phụ nữ Việt Nam hiện nay dưới các lát cắt:
- Chỉ ra những nguyên nhân tồn tại của các tàn dư đạo đức phong kiến
Thứ tám, các công trình còn nghiên cứu về người phụ nữ Việt Nam
hiện đại dưới các góc độ:
- Xác định rõ nhiệm vụ phụ nữ trong cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa
và sự nghiệp giải phóng triệt để cho phụ nữ
- Nghiên cứu tác động tiêu cực của kinh tế thị trường, của tư tưởng đạo đức của Nho giáo đối với đạo đức gia đình, đạo đức phụ nữ Việt Nam ngày nay
Thứ chín, các công trình nghiên cứu đã đưa ra một số quan điểm và giải
pháp chủ yếu nhằm phát huy ảnh hưởng tích cực và hạn chế ảnh hưởng tiêu cực của thuyết tam tòng, tứ đức đối với người phụ nữ Việt Nam hiện nay
Tuy nhiên, chưa có công trình nào khái quát, phân tích Nho giáo và những ảnh hưởng tích cực cũng như những ảnh hưởng tiêu cực của nó đối việc bảo đảm quyền bình đẳng của người phụ nữ Việt Nam trong quan hệ hôn nhân, gia đình mang tính độc lập, hệ thống, chuyên sâu Chưa có công trình
Trang 14nào đưa ra quan điểm và giải pháp phát huy phát huy ảnh hưởng tích cực và hạn chế ảnh hưởng tiêu cực của Nho giáo đối với việc đảm bảo quyền bình đẳng của người phụ nữ Việt Nam hiện nay trong quan hệ hôn nhân, gia đình một cách đồng bộ, hiệu quả Đây là một khoảng trống đòi hỏi tác giả phải tiếp tục đi sâu, làm rõ
Vấn đề bình đẳng của phụ nữ nói riêng và bình đẳng giới nói chung
có ý nghĩa quan trọng khi nước ta đang bước vào giai đoạn mới của tiến trình đổi mới, khi chúng ta thực hiện mục tiêu mở rộng giao lưu, hợp tác quốc tế trên nhiều lĩnh vực Vì vậy, việc nghiên cứu về quyền bình đẳng tiếp tục là đề tài được nhiều nhà khoa học quan tâm, đi sâu nghiên cứu nhằm khẳng định địa vị của người phụ nữ và tạo cơ hội cho phụ nữ trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, đóng góp cho sự nghiệp đổi mới đất nước Nhiều công trình, đề tài được công bố là cơ sở cho việc xây dựng và hoàn thiện pháp luật, chính sách dành cho phụ nữ, vì sự tiến bộ của phụ nữ, phòng, chống phân biệt đối xử đối với phụ nữ
Như vậy, mặc dù đã có nhiều công trình về bình đẳng giới và quyền phụ nữ, nhưng nhìn chung những công trình nêu trên chỉ mới đề cập một số khía cạnh liên quan đến bình đẳng giới Các công trình này đã xuất bản cách đây vài năm, đến nay pháp luật và thực tiễn về quyền bình đẳng của phụ nữ
đã có nhiều thay đổi Vì vậy, luận văn này là công trình mới nghiên cứu có hệ thống và chuyên sâu về ảnh hưởng của Nho giáo đối với việc bảo đảm quyền bình đẳng của phụ nữ trong hôn nhân, gia đình và đề xuất phương hướng, giải pháp bảo đảm quyền bình đẳng trong vấn đề này
3 Mục tiêu nghiên cứu và nhiệm vụ
3.1 Mục tiêu nghiên cứu
Trên cơ sở làm rõ nội dung đạo đức cơ bản của người phụ nữ trong Nho giáo Trung Quốc và Việt Nam, phân tích ảnh hưởng của nó; luận văn đề xuất một số quan điểm và giải pháp nhằm phát huy những ảnh hưởng tích cực và hạn
Trang 15chế những ảnh hưởng tiêu cực của Nho giáo đối với việc bảo đảm quyền bình đẳng của người phụ nữ Việt Nam hiện nay trong quan hệ hôn nhân, gia đình
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Thứ nhất, làm rõ những nội dung cơ bản của Nho giáo
Thứ hai, ảnh hưởng của Nho giáo đối với việc bảo đảm quyền bình
đẳng của người phụ nữ Việt Nam hiện nay trong quan hệ hôn nhân, gia đình
Thứ ba, đưa ra được các quan điểm và giải pháp cơ bản nhằm kế thừa
hạt nhân hợp lý và khắc phục những ảnh hưởng tiêu cực của Nho giáo đối với việc bảo đảm quyền bình đẳng của người phụ nữ Việt Nam hiện nay trong quan hệ hôn nhân, gia đình
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đạo đức của người phụ nữ trong Nho giáo và sự ảnh hưởng của nó đối với việc bảo đảm quyền bình đẳng của phụ nữ Việt Nam hiện nay trong quan
hệ hôn nhân, gia đình, các quan điểm và giải pháp bảo đảm quyền bình đẳng của người phụ nữ Việt Nam hiện nay trong quan hệ hôn nhân, gia đình
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu ảnh hưởng của Nho giáo đối với việc bảo đảm quyền bình đẳng của phụ nữ Việt Nam hiện nay trong quan hệ hôn nhân, gia đình
5 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng
Hồ Chí Minh; kết hợp chặt chẽ lý luận và thực tiễn, sử dụng các phương pháp cụ thể: phân tích và tổng hợp, logic và lịch sử, thống kê, đối chiếu, so sánh
6 Tính mới và những đóng góp của đề tài
6.1 Tính mới của đề tài
- Luận văn khái quát những nội dung đạo đức của Nho giáo Trung Quốc và Việt Nam
Trang 16- Luận văn phân tích rõ hơn những ảnh hưởng tích cực và tiêu cực của Nho giáo đối với việc bảo đảm quyền bình đẳng của phụ nữ Việt Nam hiện nay trong quan hệ hôn nhân, gia đình
- Các quan điểm và giải pháp nhằm phát huy ảnh hưởng tích cực và hạn chế ảnh hưởng tiêu cực của Nho giáo đối với việc bảo đảm quyền bình đẳng của phụ nữ Việt Nam hiện nay trong quan hệ hôn nhân, gia đình
6.2 Đóng góp của đề tài
Luận văn lý giải rõ hơn về nội dung đạo đức cơ bản của người phủ nữ trong Nho giáo và ảnh hưởng của nó đối với việc bảo đảm quyền bình đẳng của phụ nữ Việt Nam hiện nay trong quan hệ hôn nhân, gia đình Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể sử dụng làm tư liệu tham khảo trong việc hoạch định, thực thi chính sách trong công tác phụ nữ của Đảng và Nhà nước
ta hiện nay Luận văn có thể làm tài liệu tham khảo phục vụ cho việc nghiên cứu Nho giáo ở Việt Nam, vị trí, vai trò của người phụ nữ Việt Nam hiện nay
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Những triết lý căn bản của Nho giáo về hôn nhân, gia đình
và khái niệm bảo đảm quyền bình đẳng trong quan hệ hôn nhân, gia đình của phụ nữ Việt Nam
Chương 2: Thực trạng những yếu tố tác động, ảnh hưởng của Nho giáo
đến việc bảo đảm quyền bình đẳng của phụ nữ Việt Nam trong quan hệ hôn nhân, gia đình
Chương 3: Quan điểm và giải pháp nhằm phát huy ảnh hưởng tích cực,
hạn chế ảnh hưởng tiêu cực của Nho giáo đến việc bảo đảm quyền bình đẳng của phụ nữ Việt Nam trong quan hệ hôn nhân, gia đình
Trang 17CHƯƠNG 1 NHỮNG TRIẾT LÝ CĂN BẢN CỦA NHO GIÁO VỀ HÔN NHÂN, GIA ĐÌNH VÀ BẢO ĐẢM QUYỀN BÌNH ĐẲNG TRONG QUAN HỆ HÔN
NHÂN, GIA ĐÌNH CỦA PHỤ NỮ VIỆT NAM
1.1 Những triết lý căn bản của Nho giáo
1.1.1 Khái quát sự hình thành và phát triển của Nho giáo
Cơ sở của Nho giáo được hình thành từ thời Tây Chu, đặc biệt với sự đóng góp của Chu Công Đán, còn gọi là Chu Công Đến thời Xuân Thu, xã hội loạn lạc, Khổng Tử (sinh năm 551 trước công nguyên) phát triển tư tưởng của Chu Công, hệ thống hóa và tích cực truyền bá các tư tưởng đó Chính vì thế mà người đời sau coi ông là người sáng lập ra Nho giáo
Cũng giống như nhiều nhà tư tưởng khác trên thế giới như Thích Ca Mâu Ni, Giê-xu, người đời sau không thể nắm bắt các tư tưởng của Khổng tử một cách trực tiếp mà chỉ được biết các tư tưởng của ông bằng các ghi chép do các học trò của ông để lại Khó khăn nữa là thời kỳ "đốt sách, chôn Nho" của nhà Tần, vào khoảng hai trăm năm sau khi Khổng Tử qua đời, khiến cho việc tìm hiểu tư tưởng gốc của Khổng Tử càng khó khăn Tuy nhiên, các nhà nghiên cứu đời sau vẫn cố gắng tìm hiểu và hệ thống các tư tưởng và cuộc đời của ông
Thời Xuân Thu, Khổng Tử đã san định, hiệu đính và giải thích bộ Lục kinh gồm có Kinh Thi, Kinh Thư, Kinh Lễ, Kinh Dịch, Kinh Xuân Thu và Kinh Nhạc Về sau Kinh Nhạc bị thất lạc nên chỉ còn năm bộ kinh thường được gọi là Ngũ kinh Sau khi Khổng Tử mất, học trò của ông tập hợp các lời dạy để soạn ra cuốn Luận ngữ Học trò xuất sắc nhất của Khổng Tử là Tăng Sâm, còn gọi là Tăng Tử, dựa vào lời thầy mà soạn ra sách Đại học Sau đó, cháu nội của Khổng Tử là Khổng Cấp, còn gọi là Tử Tư viết ra cuốn Trung
Trang 18Dung Đến thời Chiến Quốc, Mạnh Tử đưa ra các tư tưởng mà sau này học trò của ông chép thành sách Mạnh Tử Từ Khổng Tử đến Mạnh Tử hình thành nên Nho giáo nguyên thủy, còn gọi là Nho giáo tiền Tần (trước đời Tần), Khổng giáo hay "tư tưởng Khổng-Mạnh" Từ đây mới hình thành hai khái niệm, Nho giáo và Nho gia Nho gia mang tính học thuật, nội dung của nó còn được gọi là Nho học; còn Nho giáo mang tính tôn giáo Ở Nho giáo, Văn Miếu trở thành thánh đường và Khổng Tử trở thành giáo chủ, giáo lý chính là các tín điều mà các nhà Nho cần phải thực hành
Đến đời Hán, Đại Học và Trung Dung được gộp vào Lễ Ký Hán Vũ
Đế đưa Nho giáo lên hàng quốc giáo và dùng nó làm công cụ thống nhất đất nước về tư tưởng Và từ đây, Nho giáo trở thành hệ tư tưởng chính thống bảo
vệ chế độ phong kiến Trung Hoa trong suốt hai ngàn năm Nho giáo thời kỳ này được gọi là Hán Nho Điểm khác biệt so với Nho giáo nguyên thủy là Hán Nho đề cao quyền lực của giai cấp thống trị, Thiên Tử là con trời, dùng
1.1.2 Quá trình du nhập tư tưởng Nho giáo vào Việt Nam
Nho giáo là học thuyết triết học, chính trị, đạo đức của Trung Quốc được hình thành và phát triển qua ba giai đoạn lớn, từ Nho thời Tiên Tần đến
Trang 19Nho Lưỡng Hán và Nho thời Tống - Minh - Thanh Được truyền vào Việt Nam từ đầu Công nguyên, tuy ban đầu vấp phải sự phản kháng của người Việt nhưng về sau Nho giáo đã dần được các triều đại Việt Nam chủ động tiếp nhận, sử dụng làm công cụ trị nước trong suốt nhiều thế kỷ cho đến khi chế
độ phong kiến lụi tàn Căn cứ vào lý thuyết tiếp biến văn hóa và chuyển đổi tư tưởng có thể chia quá trình du nhập của Nho giáo vào Việt Nam thành ba giai đoạn lớn Giai đoạn đầu Nho giáo được truyền bá vào Việt Nam tương ứng với thời kỳ ắc thuộc trong lịch sử dân tộc, Nho giáo được truyền vào Việt Nam một cách áp đặt trong âm mưu đồng hóa dân tộc của các thế lực phong kiến phương ắc, do đó thời kỳ này người Việt tiếp nhận Nho giáo hết sức chậm chạp, thụ động, tiếp thu chủ yếu những yếu tố kỹ thuật, văn hóa mang tính thực dụng và gần gũi với truyền thống người Việt Giai đoạn tiếp theo là
từ thế kỷ X-XV, trước yêu cầu đặt ra về việc xây dựng và phát triển nhà nước Đại Việt, giai cấp phong kiến dân tộc đã chủ động tiếp thu Nho giáo thông qua giao lưu kinh tế, văn hóa, ngoại giao với Trung Hoa Những quan niệm của Nho giáo về chính trị - xã hội, đạo đức, nhân sinh đã có những tác động nhất định vào đội ngũ những người học đạo Nho Trong bối cảnh đất nước chưa ổn định, yêu cầu bảo vệ và thống nhất nước nhà được đặt lên trên hết, Nho giáo được tiếp nhận giai đoạn này mang đậm tinh thần dân tộc, gắn với thực tiễn và truyền thống văn hóa người Việt Nho giáo cùng với Phật giáo và Đạo giáo tạo thành hiện tượng tam giáo đồng nguyên trong đó Phật giáo đóng vai trò chủ đạo Ở giai đoạn thứ ba, tương ứng với thời kỳ lịch sử từ thế kỷ
XV đến XIX, với yêu cầu về việc hoàn thiện thể chế trung ương tập quyền, các triều đại từ nhà Lê đến nhà Nguyễn, đã dựa vào tư tưởng Nho giáo để tuyển lựa và chấn chỉnh bộ máy quan lại, dùng cương thường đạo lý, tập quán tông pháp để chuẩn mực hóa hành vi của nhân dân Tuy nhiên, càng về sau,
sự tiếp nhận Nho giáo diễn ra một cách cực đoan hơn, là một trong những
Trang 20nguyên nhân dẫn đến sự suy tàn cùng với chế độ phong kiến Quá trình du nhập Nho giáo vào Việt Nam từ đầu Công nguyên đến thế kỷ XIX có những đặc điểm, tính chất sau: Thứ nhất, tính phức tạp của quá trình du nhập Nho giáo; Thứ hai, tính dung hợp của Nho giáo với Phật giáo và Đạo giáo trên cơ
sở văn hóa truyền thống Việt Nam; Thứ ba, tính Việt hóa Nho giáo Từ quá trình du nhập của Nho giáo vào Việt Nam, có thể rút ra một số ý nghĩa mang tính lịch sử: Thứ nhất, ý nghĩa về phương diện văn hóa Quá trình du nhập của Nho giáo vào Việt Nam trong lịch sử đã bổ sung và làm cho diện mạo văn hóa Việt Nam có thêm những sắc thái mới Thứ hai, ý nghĩa về phương diện
tư tưởng, đạo đức Quá trình du nhập của Nho giáo vào Việt Nam đã tác động lớn đến thế giới quan, nhân sinh quan và tư tưởng chính trị - xã hội của người Việt Thứ ba, ý nghĩa về phương diện chính trị - xã hội Quá trình du nhập, tiếp thu và cải biến Nho giáo ở người Việt không chỉ đáp ứng được yêu cầu quản lý đất nước của giai cấp phong kiến dân tộc bấy giờ mà còn góp phần vào việc nâng cao ý thức độc lập, tự chủ của người Việt nói chung trước triều đình phương ắc
Trước khi Nho giáo du nhập Việt Nam, nước ta đã là một quốc gia độc
lập “có một nền văn hóa với những đặc điểm cơ bản riêng của mình” [20, tr.56]
Đó là nhà nước Văn Lang, Âu Lạc Quá trình hình thành và phát triển lâu dài nền văn minh Văn Lang, Âu Lạc đã trở thành cội nguồn, làm nên bản sắc dân tộc Việt Nam ngày nay Những tài liệu và hiện vật mà khảo cổ học Việt Nam phát hiện được đã chứng tỏ rằng, người Văn Lang, Âu Lạc thời xưa có nền
văn hóa phát triển phong phú, rực rỡ, “biểu hiện bằng các món dụng cụ, trang
sức, trống đồng, thạp đồng, mũi tên đồng, thành quách, v.v mà người Việt Nam hiện đại rất tự hào” [20, tr.57] Tuy nhiên, năm 179 TCN, Âu Lạc rơi
vào ách đô hộ của nhà Triệu, mở đầu một thời kỳ đen tối kéo dài hơn một nghìn năm đầy đau thương tủi nhục trong lịch sử nước ta, thường gọi là thời
Trang 21kỳ ắc thuộc Sau khi chiếm được nước ta, Triệu Đà chia Âu Lạc thành hai quận là Giao Chỉ, Cửu Chân và sát nhập vào nước Nam Việt Năm 111 trước công nguyên (TCN), nhà Hán thôn tính Nam Việt và biến Âu Lạc thành đất đai của nhà Hán Âu Lạc bị chia thành ba quận thuộc bộ Giao Chỉ là: Giao Chỉ, Cửu Chân và Nhật Nam Để nô dịch nhân dân ta về tư tưởng, ngay từ thời Tây Hán, Nho giáo đã được chính quyền đô hộ truyền bá vào nước ta
Theo Đại Việt sử ký toàn thư, vào thời kỳ đầu công nguyên, hai viên thái thú
quận Giao Chỉ và Cửu Chân là Tích Quang và Nhâm Diên đã tích cực “dựng học hiệu” để dạy lễ nghĩa, tức mở trường dạy Nho học và truyền bá phong tục
Hán tộc Nho giáo vào Việt Nam chính thức từ đây và “Phong tục văn minh
của đất Lĩnh Nam bắt đầu từ hai thái thú ấy” [24, tr.155] Từ năm thứ 8 đến
thứ 25 sau công nguyên, do vụ loạn Vương Mãng và các cuộc khởi nghĩa nông
dân ở Sơn Đông mà “đông đảo kẻ sĩ nhà Hán lánh nạn, di cư sang Giao Châu;
họ góp phần truyền bá đạo Nho bằng cách mở trường kiếm sống” [20, tr.61]
Đến thời Sĩ Nhiếp, một người gốc Hán làm thái thú Giao Chỉ thì việc học Nho
ở nước ta đã tương đối phổ biến Theo Đại Việt sử ký toàn thư, Sĩ Nhiếp là
người có tài kinh bang tế thế, tài năng và đức độ của ông vượt xa các thủ lĩnh chính trị của nước Hán đương thời Hơn nữa, Sĩ Nhiếp còn là người rất thông hiểu kinh sách và tích cực truyền bá Nho giáo và Đạo giáo vào Việt Nam Vì thế, các nhà Nho Việt Nam đời sau rất kính trọng Sĩ Nhiếp, tôn là “Sĩ vương”
và xem Sĩ Nhiếp là ông tổ của nền học vấn phương Nam - “Nam giao học tổ” Miền đất Giao Châu dưới quyền cai trị của ông là một xã hội ổn định và thịnh
vượng Vua Hán Hiến Đế thời đó đã phải ngợi khen: “Giao Châu là đất văn
hiến, sông núi hun đúc, trân bảo rất nhiều, văn vật khả quan, nhân tài kiệt xuất” [19, tr.87] Do vậy, ở Trung Quốc từ đời Hán đến đời Đường khi xảy ra
loạn lạc nhiều người từ miền Nam Trung Quốc tìm cách di cư sang Giao
Trang 22Châu Nhiều sĩ phu người Hán đến nương náu nơi đây đều được Sĩ Nhiếp khuyến khích mở trường dạy Nho học Sử thần Ngô Sĩ Liên nhận xét:
Nước ta thông thi thư, học lễ nhạc, làm một nước văn hiến, là bắt đầu từ Sĩ Vương, công đức ấy không những chỉ ở đương thời
mà còn truyền mãi đời sau, há chẳng lớn sao? Góp sức vào việc truyền bá đạo Nho còn có cả những danh nho Trung Quốc do đối lập về chính trị mà bị triều đình đày đi biệt xứ ngoài biên ải, như Ngu Phiên bị đày sang Giao Châu mở trường “dạy học không biết mỏi, môn đệ thường có đến vài trăm [20, tr.61]
Tuy nhiên, nếu nhìn một cách tổng quát thì có thể thấy rằng, trên dưới một ngàn năm ắc thuộc, Nho giáo tuy có phát triển song vẫn chưa xâm nhập được vào mọi tầng lớp xã hội và ảnh hưởng của nó vẫn còn hạn chế Suốt thời
kỳ lịch sử này, giới Nho sĩ bản địa vẫn còn ít ỏi và chưa trở thành một lực lượng xã hội đáng kể Trong dân gian, tín ngưỡng Phật giáo và Đạo giáo lại
phổ biến hơn nhiều Sở dĩ có tình hình đó là do: Một là, như trên đã phân tích,
khi Nho giáo nói riêng và các triết lý tôn giáo khác nói chung vào Việt Nam thì nước ta đã từng có một nền văn hóa tương đối phát triển với ngôn ngữ, phong tục, tập quán, lối sống riêng, được bảo tồn trong suốt qúa trình dựng nước và giữ nước Vì vậy, các hệ tư tưởng triết học, tôn giáo từ ngoài vào Việt Nam không phải dễ dàng chiếm ngay được chỗ đứng trong đời sống tinh thần xã hội Việt Nam, hay chúng có thể dễ dàng xóa bỏ, chinh phục, đồng hóa nền văn hóa bản địa mà không gặp một sự phản ứng nào Để thích nghi với nền văn hóa bản địa, cần phải có một quá trình biến đổi để phù hợp với “miền
đất mới” mà chúng xâm nhập Hai là, muốn tiếp thu Nho giáo thì phải học lâu
dài, mà chữ Hán lại rất khó học Hơn nữa, Nho giáo vào Việt Nam không như Phật giáo và Đạo giáo Phật giáo từ Ấn Độ và Trung Quốc du nhập Việt Nam hầu như không gặp sự phản ứng và chống đối nào từ phía nhân dân và phát
Trang 23triển khá nhanh Phật giáo nhanh chóng được người Việt thời đó tiếp nhận vì bản thân nó vốn không phải là hệ tư tưởng của kẻ xâm lược như Nho giáo Mặt khác, giáo lý Phật giáo với tư tưởng từ bi, cứu khổ cứu nạn, đề cao lòng nhân ái vị tha, sự độ lượng khoan dung, đức đạm bạc thanh khiết đã tỏ ra rất gần gũi với những tập quán, tín ngưỡng dân gian bản địa nên dễ dàng cải biến
để thâm nhập, hoà quyện với tư tưởng, tín ngưỡng của người Việt Nam xưa Còn Đạo giáo, nhất là Đạo giáo phù thủy trong thời kỳ ắc thuộc, cũng ảnh hưởng sâu rộng không kém gì Phật giáo ởi lẽ, Đạo giáo phù thủy rất gần với tín ngưỡng ma thuật vốn có của người Việt cổ Cho đến tận thời kỳ sau này vẫn còn không ít người Việt Nam còn tin tưởng và sùng bái đồng bóng, bùa chú Hơn nữa, Đạo giáo phù thủy cũng góp phần cung cấp cho nhân dân ý thức về sức mạnh của chính nghĩa, cổ vũ tinh thần đoàn kết, chống áp bức cường quyền [19, tr.80-87] Trong khi đó, Nho giáo vào Việt Nam theo gót chân của quân xâm lược và việc truyền bá nó nằm trong chính sách đồng hóa dân tộc của các thế lực phong kiến phương ắc nhằm nô dịch đời sống tinh thần của dân tộc ta Do vậy, để bảo tồn di sản văn hóa cổ truyền của dân tộc, bảo tồn những tín ngưỡng, phong tục, tập quán mà tổ tiên để lại, nhân dân ta không thể không phản ứng lại hệ tư tưởng thống trị do kẻ xâm lược mang vào
Năm 938, với chiến thắng vĩ đại của Ngô Quyền chôn vùi quân Nam Hán trên sông ạch Đằng, lịch sử dân tộc Việt Nam đã bước sang trang mới – thời kỳ độc lập Tuy nhiên, công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước ở thời kỳ đầu mới giành được độc lập diễn ra vô cùng khó khăn, phức tạp Nhà nước phong kiến lúc này quá bận rộn với việc ổn định và thống nhất đất nước, tổ chức chống ngoại xâm; mặt khác, các triều đại đầu tiên như Ngô, Đinh, Tiền
Lê đều tồn tại rất ngắn ngủi, chưa có đủ thời gian để xây dựng trật tự, kỷ cương chặt chẽ; thể chế chính trị, tổ chức nhà nước và những tập tục của các
triều đại “Ngô, Đinh, Lê, Lý, Trần không theo mẫu Bắc phương là mẫu xây
Trang 24dựng khớp với tư tưởng Nho giáo” [23, tr 64] Do vậy, Nho giáo cũng chưa
có điều kiện dựa vào triều đình để duy trì và phát triển ảnh hưởng của mình
Sang thời Lý, việc củng cố nhà nước quân chủ tập quyền và trật tự xã hội, phát triển văn hóa, giáo dục để phục vụ cho chế độ phong kiến đã trở thành một nhu cầu cấp bách Lúc này, Nho giáo, với chủ trương tôn quân, đề cao việc tề gia, trị quốc có tôn ty, trật tự đã tỏ ra thích hợp với thực tiễn lịch
sử đó nên được giai cấp phong kiến Việt Nam đề cao, đặc biệt trên các lĩnh vực chính trị, văn hóa, tư tưởng ằng một hệ thống lý thuyết chặt chẽ và những bài học kinh nghiệm về đạo trị nước của người xưa, Nho giáo giúp cho giai cấp phong kiến Việt Nam bước đầu xây dựng và củng cố trật tự xã hội, tạo ra một nền giáo dục có hệ thống và thúc đẩy các ngành văn hóa, học thuật phát triển Do sự phát triển đồng hành của Nho, Phật, Đạo nên Nho giáo mặc dù đã được coi trọng, song ảnh hưởng của nó đến đời sống chính trị-xã hội, phong tục và nếp sống người Việt trong suốt triều đại nhà Lý vẫn diễn ra chậm chạp Nhiều nghi lễ, tập tục trong triều đình cũng như các việc hôn nhân, tang tế còn bị các nhà Nho viết sử sau này cho là trái với quy phạm của Nho giáo
Sang thế kỷ XV, khi nhà nước phong kiến Lê Sơ được thiết lập thì chế
độ phong kiến Việt Nam đi vào giai đoạn phát triển cực thịnh Từ thời kỳ này, Nho giáo giành được vị trí độc tôn trong đời sống chính trị và tinh thần của nước Đại Việt Lúc này, không chỉ việc học tập, thi cử theo khuôn mẫu Nho học, mà cả lĩnh vực văn học, nghệ thuật mang nội dung Nho học cũng phát triển mạnh
Từ cuối thời Trần và giai đoạn nhà Hồ, những mâu thuẫn xã hội đã bộc
lộ khá gay gắt Sự phản kháng của nhân dân chống lại trật tự hà khắc của chế
độ phong kiến cùng với sự tranh giành quyền lực giữa các tập đoàn thống trị
đã khiến bộ máy nhà nước suy yếu nghiêm trọng Trước tình hình đó, để củng
Trang 25cố và tăng cường bộ máy nhà nước, lập lại trật tự kỷ cương xã hội, giai cấp phong kiến Việt Nam không thể không tìm đến đạo tu, tề, trị, bình cùng lý thuyết chính danh định phận và lễ trị của Nho giáo
Cuộc đại phá quân Thanh đã đưa nhà Tây Sơn lên cầm quyền và vẫn lấy Nho giáo làm quốc giáo Do trước đó, việc học tập, thi cử chỉ nhằm mục đích cầu danh, cầu lợi mà quên đạo lý, cương thường, nên sau khi lên nắm quyền, vua Quang Trung đã hạ chiếu yêu cầu Nguyễn Thiếp, vị đứng đầu viện Sùng Chính phải chấn chỉnh Nho học, đồng thời quyết định lấy chữ Nôm làm văn tự chính thống của quốc gia
Năm 1858, quân Pháp nổ súng tấn công Đà Nẵng, mở đầu cho cuộc xâm lược Việt Nam Sau hàng ước 1884, giai cấp phong kiến triều Nguyễn trở thành tay sai cho Pháp và tiếp tục cấu kết với bọn đế quốc để nô dịch nhân dân ta Trong thời kỳ lịch sử này, Nho giáo vẫn tiếp tục được tồn tại và các kỳ thi Nho giáo vẫn được duy trì cho đến đầu thế kỷ XX mới chấm dứt
Như vậy, triều Nguyễn là triều đại cuối cùng trên đất nước ta khẳng định địa vị quốc giáo của Nho giáo Nếu như Nho giáo Việt Nam ở những triều đại trước còn mang tính tích cực, hợp lý thì Nho giáo triều Nguyễn (trừ một số nhà nho yêu nước, có tư tưởng tiến bộ, cách tân) đã trở nên tiêu cực, bảo thủ và lỗi thời, nên sự suy tàn của nó là một tất yếu trước những thách thức mới của lịch sử Trên cơ sở tìm hiểu quá trình Nho giáo du nhập và truyền bá ở Việt Nam, chúng ta có thể rút ra một vài nhận xét sau đây:
Một là, du nhập vào Việt Nam từ đầu công nguyên, song phải trải qua
một thời gian khá dài, Nho giáo mới bén rễ được vào đời sống chính trị và
tinh thần của xã hội
Hai là, Nho giáo du nhập vào Việt Nam không còn là Nho nguyên
thủy, mà là Hán Nho và Tống Nho, song cũng đã được cải biến cho phù hợp với truyền thống của dân tộc và nhu cầu của đất nước để trở thành nhân tố của
chính nền văn hóa và hệ tư tưởng thống trị ở Việt Nam
Trang 26Ba là, Nho giáo du nhập vào Việt Nam trong sự phát triển đồng hành,
tác động qua lại với Phật giáo và Đạo giáo
Tóm lại, quá trình Nho giáo du nhập vào Việt Nam, chúng ta thấy rằng, nếu tính từ thời ắc thuộc thì Nho giáo đã có mặt trên đất nước ta hơn hai ngàn năm, trong đó trên năm trăm năm được coi là hệ tư tưởng thống trị trong kiến trúc thượng tầng của xã hội phong kiến Vì lẽ đó, Nho giáo đã có đủ thời gian và điều kiện để thấm sâu, bám rễ và ảnh hưởng sâu sắc đến đời sống tinh thần của dân tộc ta Năm tháng qua đi, chế độ phong kiến Việt Nam không còn nữa, nhưng tư tưởng Nho giáo vẫn còn lưu lại trong con người và lối sống ngày nay Thái độ của chúng ta là cần khắc phục những ảnh hưởng tiêu cực, lạc hậu của Nho giáo, đồng thời chọn lọc, kế thừa, cải tạo những yếu tố tích cực, hợp lý của nó để bổ sung, phát triển, làm phong phú thêm bản sắc văn hóa Việt Nam
1.1.3 Những nội dung cơ bản của triết lý Nho giáo về hôn nhân và gia đình
Trong học thuyết Nho giáo, gia đình là một phạm trù lớn, chứa đựng nhiều nội dung thâm thuý, ý nghĩa sâu xa, có nhiều liên quan ảnh hưởng đến những phạm trù khác về đạo đức và cuộc sống con người Coi gia đình
là cơ sở của xã hội, Nho giáo nêu cao nguyên lý thiên hạ quốc gia: "Thiên
hạ chi bản tại quốc, quốc chi bản tại gia" [14, tr.24-26], nghĩa là: Gốc của
thiên hạ là ở nước, gốc của nước là nhà Vì vậy: "Dục trị kỳ quốc giả, tiên
tề kỳ gia” (Đại học), tức là muốn trị nước, làm cho nước yên ổn thì trước hết phải yên nhà
Là một học thuyết chuộng gốc, nhớ nguồn, rất coi trọng lòng hiếu thảo phụng dưỡng cha mẹ và thờ cúng tổ tiên, coi trọng dòng giống họ hàng; Nho giáo đòi hỏi ở gia đình một tổ chức ngăn nắp, được xây dựng trên mọi quan
hệ huyết thống, giữa những người thân thuộc không chỉ quan hệ tình cảm mà
Trang 27còn phải có trách nhiệm với nhau Mỗi một người đều nằm trong một mạng lưới phức tạp, quan hệ anh em, cha mẹ, cô dì chú bác đều phải theo những quy định, nề nếp, tục lệ, cách cư xử cho đúng phép tắc
Nho giáo xây dựng nên những mối quan hệ chặt chẽ trong gia đình: cha
ra cha, con ra con, anh ra anh, em ra em, chồng ra chồng, vợ ra vợ, thế là gia đạo chính ("phụ phụ, tử tử, huynh huynh, đệ đệ, phu phu, phụ phụ, nhi gia đạo chính" - Kinh dịch) [14, tr.24-26] Trong ba mối quan hệ: cha - con, chồng -
vơ, anh - em thì quan hệ cha - con, anh - em, được tiêu biểu bằng Chữ "Hiếu"
và chữ "Đễ", được Nho giáo tôn lên cao, đặt vào vị trí đặc biệt quan trọng, trở thành cốt lõi của các mối quan hệ xã hội (ngũ luân): vua tôi, cha con, chồng
vợ, anh em, b bạn và cả các mối quan hệ khác như quan hệ thầy trò, lớn bé,
chủ khách Nho giáo cho rằng: "Quân tử vụ bản, bản tập nhi đạo sinh, hiếu
đễ giả, kỳ vĩ nhân chi bản dư" [15] nghĩa là: có được hiếu đễ là có được các
đức khác Hiếu đễ là cái gốc mà người quân tử phải nắm lấy, vì cái gốc được vững tốt, tự nhiên đạo lý từ đó mà sinh ra
Hiếu là nết đầu trong trăm nết ("Hiếu từ giả hạnh chi tiên") là gốc rễ của tất cả đức hạnh Hiếu là cái đức cao nhất mà vua tôi, kẻ sĩ và thứ dân đều phải đề cao và thi hành
Hiếu là hiếu thảo với cha mẹ, người con hiếu thảo có ý thức đầy đủ về tình cảm và bổn phận của mình đối với cha mẹ Đó là tình cảm yêu thương
qúy trọng cha mẹ; là sự biết ơn công lao sinh thành của cha mẹ: "Cha sinh ta,
mẹ nuôi ta, thương thay cha mẹ"; làm con phải luôn luôn ý nguyện làm cho
cha mẹ suốt đời vui sướng, không phải chịu cảnh đói ngh o dù mình có phải
"chịu khó, chịu khổ, ăn gạo xấu, uống nước lã cũng thoả lòng" (Xuyết thúc,
ẩm thuỷ, tận kỳ hoan, tư chi vị hiếu" - Lễ ký) [15]; không được để cha mẹ vì
mình mà lo lắng ưu phiền, "không ham mê sắc đẹp để cha mẹ u buồn", "khi
cha mẹ còn sống chớ đi xa để cha mẹ lo lắng" Khổng Tử nói: "Làm con chớ
Trang 28nên trái ngược Hễ làm con, khi cha mẹ còn sống thì phải phụng sự cha mẹ cho có lễ, khi cha mẹ mất cần chôn cất, cúng tế cho đủ lễ, nghiêm trang"
Hiếu còn có nghĩa là lòng người còn phải suốt đòi yêu mến cha mẹ, quyết chí
nêu cao thanh danh làm vinh hiển cho cha mẹ Nho giáo cho rằng: "Hiếu hữu
tam: đại hiếu tôn thân, kỳ thứ phất nhục, kỳ hạ năng dưỡng"- Lễ ký [15]
Nghĩa là: làm cho cha mẹ được tôn trọng là bậc hiếu cao nhất, không làm nhục đến cha mẹ là bậc hiếu thứ hai, có thể nuôi cha mẹ là bậc hiếu cuối
cùng Nuôi được cha mẹ là việc tốt, là có hiếu, song không phải "Hễ thấy ai
nuôi được cha mẹ thì đã khen là có hiếu Những con thú như chó, ngựa người
ta cũng nuôi được vậy Cho nên nuôi cha mẹ mà chẳng kính trọng thì có khác
Trong gia đình, Nho giáo chủ trương đàn ông là chủ, có bề trên kẻ dưới, người dưới phải phục trùng trên: con phải nghe cha, em phải nghe anh,
vợ phải nghe chồng; phụ nữ không bao giờ là chủ gia đình Xuất phát từ quan điểm coi trọng dòng giống, trọng nam, coi rẻ phụ nữ nên Nho giáo đặt tình nghĩa anh em cao hơn tình nghĩa vợ chồng; cho rằng vợ chết thì có thể lấy được vợ khác chứ anh em không còn thì biết lấy gì thay thế Phụ nữ theo quan niệm nho giáo là người phải gánh chịu nhiều thiệt thòi; từ lúc nhỏ đã không được yêu quý như con trai, (vì chỉ có con trai mới là người nối dõi), không được học hành (Theo nho giáo người phụ nữ là tiểu nhân là những kẻ có dạy
Trang 29cũng không biết), luôn bị dồn nén phận mình vào khuôn phép của công dung ngôn hạnh, chịu thuần dưỡng để vâng lời; trước khi được về nhà chồng mẹ dặn: về nhà chồng phải kính nhường, giữ mình cho khéo, đừng trái ý chồng; lấy chồng lại tiếp tục đeo đẳng đạo lý tam tòng: "tại gia tòng phụ, xuất giá tòng phu, phu tử tòng tử" (ở nhà theo cha, lấy chồng theo chồng, chồng chết theo con, cả đòi người phụ nữ phụ thuộc vào đàn ông Mọi việc đối ngoại, khách khứa, thăm viếng, việc làng, việc họ là của đàn ông còn mọi việc nội trợ bếp núc phục vụ mọi người là của đàn bà Trong quan hệ vợ chồng, người phụ nữ chỉ là người giúp chồng và phải nghe lời chồng; người chồng có quyền dạy vợ, mà người dạy thì có quyền mắng chửi, đánh đập và xua đuổi ra khỏi nhà, vợ không được cãi lại hay kêu ca, người chồng có h n kém, xấu xa,
vô trách nhiệm, vợ mà lấn át chồng thì bị chê cười là không có nề nếp, mang tiếng xấu cho cả gia đình họ hàng người vợ đó
Đạo lý về tiết hạnh của người phụ nữ cũng không kém phần ác nghiệt Phụ nữ chưa có chồng mà chửa là sự ô nhục cho cả dòng họ, còn khi đã có chồng thì một người đàn bà không thể hai chồng (mặc dù người đàn ông năm thê bảy thiếp) ví như bậc trung thần không thể thờ hai vua Người đàn bà chồng chết thì phải ở vậy suốt đời còn đi lấy chồng khác là thất tiết và nếu người đàn ông mà cưới người đã thất tiết thì chính mình cũng là thất tiết; kể
cả đàn bà goá ngh o đói không con cũng không được đi bước nữa vì "nhiên ngạc tử sự cực tiểu, thất tiết sự cực đại" - đói chết là việc nhỏ, thất tiết mới là việc cực lớn
Trong các quan hệ gia đình, Nho giáo chủ trương dùng lễ, nghĩa để thể chế hoá, làm cho mỗi thành viên theo đó mà cư xử, tự kiềm chế, nhằm xây dựng gia đình êm ấm, hoà thuận Ngoài những quy định trong các quan hệ cha
- con, anh em, chồng - vợ như đã đề cập ở phần trên, Nho giáo còn đề ra những lễ nghi, quy tắc trong cách cư xử của mỗi người với quan hệ trong họ
Trang 30tộc, làng xóm, những quan niệm về cưới vợ gả chồng Nho giáo coi lấy vợ cho con trai để có người chăm sóc, nuôi dưỡng cha mẹ, thờ phụng tổ tiên, sinh con cái nối dõi giòng giống; vì vậy, con dâu tuy là người lạ nhưng lại là người của gia đình, còn con gái đem gả chồng tức là về nhà chồng, về lâu dài con gái không thuộc về gia đình nên không được yêu quý nhiều như con trai
và nếu chỉ sinh con gái thì dầu có nhiều cũng coi là không có con, là mất dòng giống, là điều nhục, là có tội với tổ tiên Cha mẹ không coi trọng việc kén rể bằng chọn dâu, coi con rể chỉ là con một nửa, đối xử với con rể khách khí lễ nghi chứ không như với con dâu, cha mẹ chết dâu để tang ba năm còn rể chỉ một năm Con dâu quan hệ với họ hàng nhiều nên cả họ bàn và quyết định lựa chọn chứ không căn cứ vào tình yêu, ý nguyện của đôi trai gái
Về nhà chồng, người con dâu phải tuân theo lễ nghĩa nhà chồng, cốt sao vừa ý mọi ngươi trong gia đình - từ bố mẹ chồng đến anh em để "nhập gia tùy tục" Chính vì vậy người con gái từ lúc nhỏ ở với cha mẹ đến lớn được dạy dỗ: biết thức khuya dạy sớm, làm công việc nội trợ, may vá thêu thùa rồi học cách đi đứng khoan thai nhẹ nhàng, ăn mặc trang điểm sao cho gọn gàng sạch sẽ vẻ mặt phải dịu dàng tươi cười, cách ứng xử giao tiếp với mọi người tránh thô tục chua ngoa đanh đá, phải r n luyện tính tình dịu dàng, hiền hoà bao dung có lòng thương người, giúp đỡ kẻ khó, không kiêu ngạo, đây chính
là các đức tính thuộc về công - dung - ngôn - hạnh theo quan điểm nho giáo
Nho giáo phân biệt gia đình tốt và gia đình xấu, coi trọng những gia đình đông con cháu, có con trai nối dõi dòng giống, có của, có danh vọng, nhiều người sống lâu, trong nhà hoà thuận, sống hiền lành phúc đức, con cháu có hiếu, học hành nên người và khinh thường những gia đình trong nhà
có người cờ bạc, rượu ch , độc ác, phải tù tội, có con bất hiếu, anh em bất hoà cãi lộn nhau, có dâu hư đoảng, không biết làm ăn cư xử làm mất lòng bà con xóm giềng
Trang 311.2 Quyền bình đẳng và bảo đảm quyền của người phụ nữ trong quan hệ hôn nhân và gia đình
1.2.1 Khái quát về quyền bình đẳng
Trước hết, để hiểu thế nào là quyền bình đẳng là gì thì cần hiểu “bình đẳng” như thế nào Theo Từ điển Tiếng Việt thì bình đẳng được hiểu là
“Ngang hàng nhau về địa vị, về quyền lợi” [43]
Quyền bình đẳng này là một trong những chuẩn mực quan trọng mà các quốc gia hướng đến nhằm giữ gìn hòa bình, ổn định dân chủ, tiến bộ xã hội
mà đây còn là yếu tố cơ sở của các quyền con người
Quyền bình đẳng là một khái niệm rất rộng, bao hàm tất cả các yếu
tố để đảm bảo quyền lợi của mọi người trong xã hội Ví dụ: Quyền bình đẳng về giới, quyền bình đẳng của tất cả mọi người trước pháp luật ình đẳng giới ngụ ý rằng nam giới và nữ giới, trong đó gồm cả cộng đồng người đồng tính luyến ái và người chuyển giới cần nhận được những đối xử công bằng trong tất cả các khía cạnh của đời sống kinh tế - xã hội và quyền con người như: giáo dục, y tế, văn hóa, hôn nhân, gia đình, việc làm, các chính sách phúc lợi Khái niệm này dựa trên Tuyên bố Liên Hiệp Quốc về Nhân quyền, với mục tiêu cơ bản là nhằm cung cấp sự bình đẳng về mặt luật pháp cũng như bình đẳng trong vị thế xã hội, đặc biệt là trong hoạt động bầu cử và bảo đảm trả lương công bằng Một ví dụ điển hình là Tu chính án Quyền ình đẳng ở Hoa Kỳ [44]
Về quyền bình đẳng trước pháp luật là một quyền con người Đó là quyền được xác lập tư cách con người trước pháp luật; không bị pháp luật phân biệt đối xử, quyền có vị thế ngang nhau trước pháp luật và được pháp luật bảo vệ như nhau Nó được xem xét ở các cấp độ khác nhau Trước hết, quyền bình đẳng trước pháp luật được thể hiện là nhu cầu của một chủ thể tự nhiên với tư cách là một con người buộc phải có và cần phải có Thứ hai,
Trang 32quyền bình đẳng trước pháp luật là một giá trị của xã hội loài người Thứ ba, người ta thực hiện quyền bình đẳng đó bằng công cụ pháp luật thông qua việc thể chế hóa và tạo ra cơ chế bảo vệ khi nó bị xâm phạm Nói cách khác, quyền bình đẳng trước pháp luật là sự bao quát gần như toàn bộ các quyền bình đẳng trong mọi lĩnh vực như: kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội dưới vùng "phủ sóng” của pháp luật Điều này được quyết định bởi thuộc tính, vai trò của pháp luật trong xã hội với tư cách là các quy phạm do nhà nước ban hành, thừa nhận và đảm bảo thực hiện nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội Một trong những nguyên tắc quan trọng trong điều chỉnh pháp luật là bình đẳng Cách tiếp cận này phù hợp với các Điều 6, 7 Tuyên ngôn Quốc tế về nhân quyền (UDHR) quy định về quyền bình đẳng và quyền bình đẳng trước pháp luật mà Công ước về quyền dân sự, chính trị năm 1966 đã cụ thể hóa
1.2.2 Bảo đảm quyền bình đẳng của phụ nữ trong hôn nhân và gia đình
Trước tiên, để hiểu bảo đảm quyền bình đẳng của phụ nữ trong hôn nhân và gia đình cần nắm bắt được quyền bình đẳng của phụ nữ trong hôn nhân và gia đình Vai trò của phụ nữ được phát huy bình đẳng trong xã hội và trong gia đình, mang một ý nghĩa lớn đối với sự giữ gìn và phát huy truyền thống tốt đẹp của gia đình Việt Nam và truyền thống văn hoá của dân tộc Văn hoá gia đình là nền tảng của văn hoá xã hội, ở đó vai trò của người phụ
nữ với chức năng sàng lọc và giữ gìn văn hoá dân tộc mang ý nghĩa đặc biệt
Để phụ nữ làm được chức năng quan trọng này với gia đình và dân tộc, trước hết họ phải được bình đẳng để tiến bộ và theo kịp thời đại
Quyền bình đẳng của phụ nữ được quy định trong Luật ình đẳng giới, theo đó, thì mọi người, dù là nam giới hay phụ nữ, với tư cách là các
cá nhân đều có quyền bình đẳng và cần được tạo cơ hội để phát huy tiềm năng sẵn có của mình cũng như có quyền thụ hưởng bình đẳng trong quá trình phát triển chung
Trang 33Quyền bình đẳng trong hôn nhân và gia đình không có nghĩa và không đòi hỏi số lượng phụ nữ và nam giới tham gia vào các hoạt động phải ngang bằng nhau mà quyền bình đẳng của phụ nữ có nghĩa là phụ nữ và nam giới phải có cơ hội ngang nhau trong việc sử dụng các quyền của họ Quyền bình đẳng trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình bao gồm các mối quan hệ: bình đẳng giữa vợ và chồng, bình đẳng giữa cha mẹ và con cái, bình đẳng giữa ông
bà và con cháu Quyền bình đẳng trong gia đình không phải là tự nhiên mà có được Người phụ nữ phải có ý thức tự vươn lên để học hỏi và phát triển Đồng thời, người chồng cũng phải có ý thức hỗ trợ và khuyến khích, tạo điều kiện cho người vợ ình đẳng là biểu hiện của văn hoá trong đời sống con người,
có bình đẳng trong gia đình mới thực sự có bình đẳng trong xã hội Hạnh phúc bao giờ cũng là của cải quý giá nhất trong gia đình mà mỗi thành viên hằng vun đắp và vươn tới
Như vậy, bản chất của quyền bình đẳng của phụ nữ trong hôn nhân và gia đình là người phụ nữ có cơ hội hưởng các quyền ngang nhau với nam giới trong mối quan hệ giữa vợ, chồng và giữa các thành viên trong gia đình trên
cơ sở nguyên tắc dân chủ, công bằng, tôn trọng lẫn nhau, không phân biệt đối
xử trong các mối quan hệ ở phạm vi gia đình và xã hội Phụ nữ được tôn trọng, đảm bảo, tạo điều kiện cho nữ giới phát triển, cống hiến nhiều nhất cho
xã hội, xoá bỏ bớt công việc gia đình
ảo đảm theo định nghĩa của từ điển tiếng Việt là: “tạo điều kiện để chắc chắn giữ gìn được, hoặc thực hiện được, hoặc có được những gì cần thiết” ảo đảm quyền con người đã có từ lâu đời trong lịch sử Việt Nam, có thể nói Đảng và Nhà nước luôn coi quyền con người thực hiện trên thực tế là yếu tố quan trọng, là bản chất của nhà nước Việt Nam Cương lĩnh thông qua Đại hội XI khẳng định:
Trang 34Xã hội XHCN mà nhân dân ta xây dựng là một xã hội: Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; do nhân dân làm chủ;… (Nhà nước ta là) Nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân…; Đảng và Nhà nước tạo điều kiện để: Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể nhân dân hoạt động
có hiệu quả, thực hiện vai trò giám sát và phản biện xã hội… [18]
ảo đảm quyền bình đẳng của phụ nữ trong hôn nhân và gia đình chưa được các nhà nghiên cứu và chuyên gia đưa ra một khái niệm cụ thể Tuy nhiên, cũng như bảo đảm quyền con người nói chung, quyền bình đẳng của phụ nữ trong hôn nhân và gia đình luôn được Việt Nam tôn trọng và có cơ chế pháp lý đầy đủ để bảo đảm thực hiện tốt Điều này được thể hiện trong Hiến pháp nước ta “Công dân nữ và nam có quyền ngang nhau về mọi mặt chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội và gia đình” [34, Điều 26, khoản 1] Hiến pháp
2013 cũng ghi nhận địa vị pháp lý bình đẳng của người phụ nữ, đặc biệt trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình và việc bảo đảm phải tuân thủ nguyên tắc:
“Nghiêm cấm phân biệt đối xử về giới” [34, Điều 36]
Như vậy, cần được hiểu, quyền bình đẳng của phụ nữ trong hôn nhân và gia đình phải được đảm bảo các yếu tố về mọi mặt về mọi mặt như: giáo dục, chăm sóc, bảo vệ con cái; chia sẻ công việc gia đình; tạo điều kiện cho người phụ nữ có việc làm, tham gia công tác xã hội; có quyền quyết định trong công việc gia đình, quyền có tài sản và thừa kế… Các quyền này được bảo đảm không chỉ là trách nhiệm của Nhà nước, các tổ chức xã hội mà là của cả cộng đồng
Như vậy, bảo đảm quyền bình đẳng của phụ nữ trong hôn nhân và gia đình là việc Nhà nước tôn trọng và tạo điều kiện để quyền bình đẳng của phụ nữ trong hôn nhân và gia đình được thực hiện trên thực tế, trong
đó bảo vệ bà mẹ, trẻ em gái, quyền và lợi ích của phụ nữ và lợi ích gia đình, Nhà nước và xã hội
Trang 351.3 Bảo đảm quyền bình đẳng của phụ nữ về hôn nhân và gia đình trong pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam
1.3.1 Bảo đảm quyền bình đẳng của phụ nữ về hôn nhân và gia đình trong pháp luật quốc tế
ảo đảm quyền bình đẳng của phụ nữ là quyền cơ bản của con người, được thừa nhận trong ộ luật nhân quyền quốc tế (the International ill of Human Rights) ộ luật nhân quyền quốc tế là thuật ngữ chỉ tập hợp ba văn kiện quốc tế cơ bản trên lĩnh vực này, đó là Tuyên ngôn quốc tế về nhân quyền năm 1948 (viết tắt là UDHR), Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị (viết tắt là ICCPR) và Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội, văn hoá (viết tắt là ICESCR) Trong đó, quyền bình đẳng của phụ nữ trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình được xếp vào nhóm quyền dân sự và quyền văn hoá, là tổng thể không thể tách rời nhau giữa các quyền, cụ thể:
Bảng 1.1: Các quyền cơ bản trong Bộ luật nhân quyền quốc tế
Quyền không bị phân biệt đối xử, được thừa
pháp luật
Thứ nhất, quyền bình đẳng của phụ nữ được ghi nhận ngay trong điều
đầu tiên của UDHR, đó là quyền không phân biệt đối xử Quyền này đồng
Trang 36thời được coi là một trong các nguyên tắc cơ bản của luật nhân quyền quốc tế
Nó gồm ba quyền hàm chứa liên kết với nhau là: (i) quyền không bị phân biệt đối xử; (ii) được thừa nhận tư cách con người trước pháp luật, (iii) có vị thế bình đẳng trước pháp luật và được pháp luật bảo vệ một cách bình đẳng Đồng thời, quyền này cũng được quy định trong cả ICCPR và ICESCR
Thứ hai, bảo đảm về kết hôn, lập gia đình và bình đẳng trong hôn nhân
Đây là nhóm quyền có mối quan hệ mật thiết với quyền bảo vệ gia đình, chăm sóc bà mẹ, trẻ em và quyền bình đẳng của phụ nữ được ghi nhận trong ICESCR và ICCPR
Thứ ba, quyền được hỗ trợ về gia đình
Quyền này được ghi nhận tại khoản 3 ĐIều 16 UDHR và khoản 2 Điều
25 UDHR Quy định đó như sau:
Gia đình phải được xem là một đơn vị tự nhiên và căn bản của xã hội, và được quyền bảo vệ của xã hội và quốc gia” và “Các
bà mẹ và trẻ con phải được hưởng sự chăm sóc và trợ giúp đặc biệt Tất cả mọi trẻ con, sinh có hôn thú hay không, đều được xã hội bảo
định: “…niềm tin vào… sự bình đẳng về các quyền giữa phụ nữ và đàn
ông…” Và việc ra đời của ộ luật nhân quyền quốc tế quy định cụ thể quyền
cơ bản nhằm xoá bỏ sự bất bình đẳng phụ nữ Quá trình ra đời CEDAW trải qua nhiều giai đoạn Tuy nhiên, phải đến khi Liên hiệp quốc thông qua Tuyên
ố về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử chống phụ nữ năm 1967, là tiền
Trang 37đề của Công ước về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử chống phụ nữ, các biện pháp đảm bảo cho phụ nữ được thụ hưởng đầy đủ các quyền con người mới được thiết lập và được nhiều quốc gia cam kết thực hiện
1.3.2 Bảo đảm quyền bình đẳng của phụ nữ trong hôn nhân và gia đình theo pháp luật Việt Nam
Nguyên tắc nam nữ bình đẳng được ghi nhận ngay trong Hiến pháp đầu
tiên của nước Việt Nam dân chủ Cộng hoà – Hiến pháp 1946 – “Đàn bà
ngang quyền với đàn ông về mọi phương diện” Nguyên tắc ấy được kế thừa,
phát triển trong tất cả các Hiến pháp sau đó của Việt Nam Đặc biệt, quyền bình đẳng của phụ nữ trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình cũng được ghi nhận trong Hiến pháp, ộ luật, pháp lệnh…
Hiến pháp 1992 quy định các quyền cơ bản của con người, trong đó có bảo đảm bình đẳng giữa nam và nữ Với tư cách là một công dân, người phụ
nữ được thực hiện bình đẳng và đầy đủ các quyền về dân sự chính trị cũng như các quyền kinh tế xã hội và văn hoá được ghi nhận trong Hiến pháp
Hiến pháp sửa đổi năm 2013 được Quốc hội thông qua ngày 28/11/2013
và có hiệu lực ngày 1/1/2014 khẳng định:
Các quyền con người, quyền công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội được công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật; Quyền con người, quyền công dân chỉ
có thể bị hạn chế theo quy định của luật trong trường hợp cần thiết
vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng
Thiên chức làm mẹ là chức năng cao quý của người phụ nữ và người phụ nữ thực hiện chức năng này trong khi họ vẫn phải thực hiện chức năng là người lao động trong xã hội, người tổ chức cuộc sống trong gia đình Vì vậy,
để tạo điều kiện cho phụ nữ thực hiện tốt chức năng làm mẹ Điều 26 Hiến
Trang 38pháp năm 2013 quy định: “Nhà nước, xã hội và gia đình tạo điều kiện để phụ
nữ phát triển toàn diện, phát huy vai trò của mình trong xã hội”
Quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về vấn đề phụ nữ được khẳng định cụ thể ở Điều 26 Hiến pháp năm 2013 Khoản 1 Điều 26 quy định:
“Công dân nữ và nam có quyền ngang nhau về mọi mặt chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội và gia đình” Điều này ghi nhận địa vị pháp lý bình đẳng của
người phụ nữ, đặc biệt trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình Để đạt được mục
tiêu này, khoản 3 Điều 26 Hiến pháp năm 2013 quy định: “Nghiêm cấm phân
biệt đối xử về giới”
Ngoài ra, hạnh phúc gia đình có ý nghĩa cực kỳ to lớn với mỗi người phụ nữ Nhưng cũng chính gia đình là nơi ẩn chứa nhiều quan niệm và thói quen ứng xử bất bình đẳng với phụ nữ Chế độ hôn nhân mua bán, ép gả, chế
độ đa thê, quyền gia trưởng của người chồng, người cha trong gia đình…đã
đ nén bất công, bất bình đẳng của phụ nữ Vì vậy, Điều 36 Hiến pháp 2013 quy định việc bảo vệ chế độ hôn nhân gia đình tiến bộ cũng đồng thời là bảo
vệ bình đẳng giới
Pháp luật dân sự, hôn nhân gia đình nước ta luôn bảo vệ sự bình đẳng
đó và đã có các quy định cụ thể nhằm xoá bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ, đặc biệt trong quan hệ dân sự, lĩnh vực hôn nhân và gia đình Pháp luật là công cụ sắc bén và hiệu quả nhằm bảo vệ quyền lợi hợp pháp của mọi công dân, trong đó có các quyền bình đẳng của phụ nữ Việt Nam trên phương diện hôn nhân và gia đình
Thứ nhất, Pháp luật công nhận và bảo vệ quyền tài sản của phụ nữ Phụ
nữ có quyền bình đẳng như nam giới trong lĩnh vực quyền sử dụng đất, khi phụ nữ được Nhà nước giao đất thì phụ nữ có quyền ký kết hợp đồng chuyển nhượng, chuyển đổi, cho thuê, thế chấp quyền sử dụng đất, và các quyền này được pháp luật bảo vệ Quyền sở hữu tài sản hợp pháp của mọi cá nhân không
Trang 39phân biệt nam nữ đều được pháp luật bảo vệ Không ai có thể bị hạn chế, bị tước đoạt trái pháp luật quyền sở hữu đối với tài sản của mình Chủ sở hữu có quyền tự bảo vệ, ngăn cản bất kỳ người nào có hành vi xâm phạm quyền sở hữu của mình, truy tìm, đòi lại tài sản bị người khác chiếm hữu, sử dụng, định đoạt không có căn cứ pháp luật Trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh và vì lợi ích quốc gia, Nhà nước trưng mua hoặc trưng dụng
có bồi thường tài sản của cá nhân, pháp nhân hoặc của các chủ thể khác theo quy định của pháp luật
Thứ hai, pháp luật công nhận và bảo vệ quyền kết hôn, xây dựng gia
đình và ly hôn
Thứ ba, pháp luật công nhận và bảo hộ quyền nhân thân giữa cha mẹ và
con, các thành viên trong gia đình Trong quan hệ hôn nhân, Điều 36 Hiến
Pháp năm 2013 quy định thực hiện chế độ “Nam nữ có quyền kết hôn, ly hôn
Hôn nhân theo nguyên tắc tự nguyện tiến bộ, một vợ một chồng, vợ chồng bình đẳng, tôn trọng lẫn nhau Nhà nước bảo hộ hôn nhân và gia đình, bảo
hộ quyền lợi của người mẹ và trẻ em”
Pháp luật ghi nhận nguyên tắc bình đẳng, không phân biệt đối xử giữa các con (con trai – con gái, con nuôi – con đẻ, con trưởng – con thứ, con thừa tự hay con không thừa tự) khi tiếp nhận quyền và thực hiện nghĩa vụ đối với cha mẹ Quyền và nghĩa vụ giữa cha mẹ và con không phụ thuộc vào hôn nhân của cha mẹ hợp pháp hay không hợp pháp Trong mọi trường hợp quyền và nghĩa vụ giữa cha mẹ và con là không thay đổi vì yếu tố hôn nhân của cha mẹ, nhưng phương thức thực hiện quyền và nghĩa vụ có thể có sự khác biệt cho phù hợp với hoàn cảnh cụ thể trong quan hệ cha mẹ và con, quan hệ giữa cha mẹ với nhau Con được hưởng các lợi ích nhân thân từ cha mẹ: họ, dân tộc, tôn giáo, quốc tịch Tuy nhiên, con có quyền thay đổi họ từ cha sang mẹ hoặc ngược lại, con có thể mang họ của cha, mẹ nuôi khi họ
Trang 40làm con nuôi, con cũng có thể không theo quốc tịch, tôn giáo của cha, mẹ Con có quyền được cha mẹ chăm sóc, giáo dục và nuôi dưỡng (hoặc cấp dưỡng) khi chưa thành niên hoặc đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự Con đã thành niên đồng thời cũng có nghĩa vụ chăm sóc, phụng dưỡng cha
mẹ khi cha mẹ già yếu, cô đơn, không còn sức lao động, không có thu nhập, tài sản để tự nuôi mình
Thứ tư, pháp luật công nhận và bảo vệ tính mạng, sức khoẻ, danh dự và
nhân phẩm của người phụ nữ trong gia đình