1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

An toàn vệ sinh lao động đối với lao động nữ trong pháp luật lao động việt nam

97 20 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 97
Dung lượng 811,23 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ PHÁP LUẬT AN TOÀN, VỆ SINH LAO ĐỘNG ĐỐI VỚI LAO ĐỘNG NỮ Ở VIỆT NAM 1.1 Khái quát chung về pháp luật an toàn, vệ sinh lao động 1.1.1 Khái niệm pháp luật

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

LÊ THỊ PHƯƠNG THÚY

An toàn, vệ sinh lao động đối với lao động nữ trong pháp

luật lao động Việt Nam

LUẬN VĂN THẠC SỸ

HÀ NỘI, 2008

Trang 2

MỤC LỤC

Trang PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài ……… … 1

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề ……… 5

3 Mục đích và nhiệm vụ của nghiên cứu ……… 5

3.1 Mục đích nghiên cứu ……… 5

3.2 Nhiệm vụ của nghiên cứu ……… 6

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ……… 6

5 Phương pháp nghiên cứu ……… 7

6 Bố cục của luận văn ……… 7

CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ PHÁP LUẬT AN TOÀN, VỆ SINH LAO ĐỘNG ĐỐI VỚI LAO ĐỘNG NỮ Ở VIỆT NAM 1.1 Khái quát chung về pháp luật an toàn, vệ sinh lao động ……… 7

1.1.1 Khái niệm pháp luật an toàn, vệ sinh lao động ……… 7

1.1.2 Đặc điểm cơ bản của pháp luật về an toàn, vệ sinh lao động … 10 1.1.3 Các nguyên tắc cơ bản của pháp luật an toàn, vệ sinh lao động 14

1.2 Một số vấn đề cơ bản về pháp luật an toàn, vệ sinh lao động đối với lao động nữ ở Việt Nam ……… 21

1.2.1 Đặc điểm của lao động nữ……… 21

1.2.2 Sự cần thiết khách quan phải có các quy định về an toàn, vệ sinh lao động đối với lao động nữ……… 24

1.2.3 Lược sử pháp luật về an toàn, vệ sinh lao động đối với lao động nữ ở Việt Nam ……… 26

CHƯƠNG 2: PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH VỀ AN TOÀN, VỆ SINH LAO ĐỘNG ĐỐI VỚI LAO ĐỘNG NỮ VÀ THỰC TIỄN THỰC HIỆN Ở VIỆT NAM 2.1 Các quy định hiện hành về an toàn, vệ sinh lao động đối với lao động nữ ……… 30

2.1.1 Các quy định chung về bảo đảm an toàn,vệ sinh lao động đối với lao động nữ ……… 30

Trang 3

2.1.2 Các quy định về an toàn nghề nghiệp và bảo vệ sức khoẻ của lao

động nữ ……… 33 2.1.3 Các quy định về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi hợp lý để bảo

vệ sức khoẻ của lao động nữ……… 37 2.1.4 Các quy định về chế độ thai sản đối với lao động nữ ………… 39 2.1.5 Giải quyết quyền lợi cho lao động nữ bị tai nạn lao động hoặc bệnh

nghề nghiệp ……….……… 40 2.1.6 Quy định về thanh tra và xử lý các trường hợp vi phạm quy định về

an toàn, vệ sinh đối với lao động nữ ……… 42 2.2 Thực trạng thực hiện các quy định về an toàn, vệ sinh lao động đối với

lao động nữ ở Việt Nam ……… 44 2.2.1 Thực trạng điều kiện làm việc của lao động nữ ở Việt Nam … 45 2.2.2 Tình hình thực hiện các quy định về an toàn nghề nghiệp và bảo vệ

sức khoẻ của lao động nữ……… 49 2.2.3 Thực tiễn áp dụng các quy định thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ

ngơi đối với lao động nữ……… 55 2.2.4 Tình hình thực hiện các quy định về thai sản đối với lao động nữ 65 2.2.5.Tình hình thanh tra và xử lý vi phạm đối với các doanh nghiệp

không đảm bảo quy định về an toàn, vệ sinh lao động đối với lao động

nữ 71 2.3 Đánh giá khái quát về thực trạng pháp luật an toàn, vệ sinh lao động đối

với lao động nữ 72 2.3.1 Những kết quả đạt được ……… 74 2.3.2 Những tồn tại và nguyên nhân 75

CHƯƠNG 3: HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT AN TOÀN, VỆ SINH LAO

ĐỘNG ĐỐI VỚI LAO ĐỘNG NỮ VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ ÁP

DỤNG Ở VIỆT NAM

3.1 Sự cần thiết khác quan của việc hoàn thiện pháp luật về về an toàn, vệ

sinh lao động đối với lao động nữ 81 3.2 Những yêu cầu cơ bản của việc hoàn thiện pháp luật về an toàn, vệ sinh

lao động đối với lao động nữ 85 3.1.1 Về mặt chủ quan 88

Trang 4

3.1.2 Về mặt khách quan 89 3.3 Sửa đổi, bổ sung một số quy định an toàn, vệ sinh lao động đối với lao

động nữ 90 3.4 Một số giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật an toàn, vệ sinh lao

động đối với lao động nữ 92 KẾT LUẬN 98 TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Trang 5

Đại hội VI Đảng Cộng sản Việt Nam (1986) đó mở ra một giai đoạn mới cho sự phỏt triển kinh tế của Việt Nam Đ-ờng lối đổi mới đỳng đắn của Đảng thể hiện trước hết ở sự quan tâm tới nhân tố con người với chủ trương coi nguồn nhân lực luôn là trung tõm của quỏ trỡnh sản xuất và là tài sản quớ giỏ nhất của quốc gia Vỡ vậy, việc tạo ra một mụi trường làm việc tốt cho người lao động là yêu cầu ngày càng cấp thiết của xã hội

Trong thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay, vấn đề đảm bảo an toàn, vệ sinh lao động (ATVSLĐ) ngày càng liờn quan chặt chẽ đến sự thành đạt của mỗi doanh nghiệp, góp phần quyết định đến sự phỏt triển kinh tế bền vững của mỗi quốc gia Xõy dựng một nền sản xuất an toàn với những sản phẩm cú tớnh cạnh tranh cao gắn liền với việc bảo vệ sức khỏe người lao động là yờu cầu tất yếu của sự phỏt

triển kinh tế bền vững và đủ sức cạnh tranh trong nền kinh tế toàn cầu húa

Cựng với những thành tựu trong phỏt triển kinh tế - xó hội, thời gian qua cụng tỏc ATVSLĐ ở nước ta đó cú những chuyển biến đỏng kể về hệ thống văn bản phỏp

luật và bộ mỏy tổ chức Chỉ thị số 132CT/TƯ của Ban Bớ thư Trung ương Đảng nhấn

mạnh: Ở đõu, khi nào cú hoạt động lao động sản xuất, thỡ ở đú, khi đú phải tổ chức

cụng tỏc bảo hộ lao động theo đỳng phương chõm: Bảo đảm an toàn để sản xuất - Sản

xuất phải bảo đảm an toàn lao động [27]

Thể chế hoỏ đường lối của Đảng, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ Luật Lao động năm 2002 đó dành chương IX quy định về ATVSLĐ Trờn thực tế, rất nhiều ngành, nhiều địa phương, doanh nghiệp và người sử dụng lao động đó cú những biện phỏp, sỏng kiến cải thiện điều kiện làm việc, bảo đảm an toàn vệ sinh lao động và mụi trường sản xuất kinh doanh

Tuy vậy, cụng tỏc BHLĐ núi chung và cụng tỏc ATVSLĐ nói riêng ở nước ta cũn quỏ nhiều khú khăn và tồn tại cần giải quyết Nhiều doanh nghiệp, đặc biệt cỏc doanh nghiệp khu vực phi chớnh thức mới chỉ quan tõm đầu tư phỏt triển sản xuất, thu lợi nhuận, thiếu sự đầu tư tương xứng để cải thiện điều kiện làm việc an toàn cho người lao động Vỡ vậy, Việt Nam đó xảy ra nhiều vụ tai nạn lao động làm chết và bị thương nhiều người, thiệt hại tài sản của Nhà nước và doanh nghiệp Theo Cục An toàn lao động (Bộ Lao động - Thương binh và Xó hội), trong giai đoạn từ năm 2000 đến 2004, mặc dự chỉ cú 10% tổng số doanh nghiệp thực hiện bỏo cỏo về tai nạn lao động nhưng đó cho thấy những con số đỏng bỡnh quõn mỗi năm xảy ra 4.245 vụ, làm

Trang 6

gần 500 người chết, hơn 4.000 người bị thương; cú người bị tàn phế suốt đời Hiện tại,

cả nước cú gần 22 nghỡn lao động mắc bệnh nghề nghiệp Số vụ tai nạn lao động hằng năm tăng 17,38% Chỉ tớnh riờng 6 thỏng đầu năm 2005, số vụ tai nạn lao động cú người chết tăng 5,5% Điều đỏng lưu tõm là số vụ tai nạn lao động được thống kờ kể trờn cũn thấp hơn rất nhiều so với số vụ xảy ra trong thực tế

Nguyờn nhõn chớnh để xảy ra tai nạn lao động một mặt do chủ sử dụng lao động thiếu quan tõm cải thiện điều kiện làm việc an toàn, mặt khỏc do ý thức tự giỏc chấp hành nội quy, quy chế làm việc bảo đảm an toàn lao động của người lao động chưa cao, thiếu sự kiểm tra, giỏm sỏt thường xuyờn của cơ quan thanh tra Nhà nước về an toàn lao động Hậu quả của thực tế trờn khụng chỉ gõy thiệt hại về tớnh mạng và sức khỏe của người lao động, làm thiệt hại tài sản của nhà nước mà cũn ảnh hưởng khụng tốt đến quỏ trỡnh phỏt triển kinh tế xó hội của đất nước

Ở n-ớc ta, 50,86% dõn số là nữ, tương ứng với hơn 50% lao động nữ đã, đang

và ngày càng có đóng góp quan trọng vào nền kinh tế quốc dân Tuy nhiên, do những đặc điểm về tõm sinh lý, giới tớnh, lao động nữ thường gặp khú khăn hơn so với lao động nam trong quan hệ lao động Cựng với quan niệm sai lệch về Giới, những khú khăn này đó làm cho lao động nữ trở thành đối tượng dễ bị tổn thương hơn trong quan hệ lao động, đặc biệt là đối tượng lao động nữ đang chiếm số đụng trong lực lượng lao động trong cỏc doanh nghiệp cỏc loại - nơi mà việc ỏp dụng phỏp luật ATVSLĐ cũn nhiều bất cập và tồn tại

Với mong muốn nghiờn cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn ỏp dụng phỏp luật

an toàn, vệ sinh lao động đối với lao động nữ nhằm góp phần bảo vệ sự an toàn của lao động nữ trong bối cảnh nền kinh tế thị tr-ờng, học viờn chọn đề tài nghiờn cứu

“An toàn, vệ sinh lao động đối với lao động nữ trong pháp luật lao động Việt

Nam” cho luận văn thạc sĩ của mình

2 Lịch sử nghiờn cứu vấn đề

Qua thực tế tỡm hiểu, học viờn thấy đó xuất hiện một số bài bỏo, cụng trỡnh nghiờn cứu cú đề cập tới một số khớa cạnh của vấn đề an toàn, vệ sinh lao động đối với người lao động núi chung, với một số lượng hạn chế

Tuy nhiờn, chưa cú một cụng trỡnh khoa học nào trực tiếp đi sõu vào tỡm hiểu vấn đề an toàn, vệ sinh lao động đối với lao động nữ cũng như để từ đú cú những kiến

Trang 7

nghị xác đáng nhằm nâng cao việc bảo vệ ngày càng tốt hơn quyền lợi của đối tượng lao động này Luận văn đi vào tìm hiểu, tổng hợp một vấn đề mới với nhiều đóng góp cho việc nghiên cứu, xây dựng và ban hành pháp luật liên quan tới lao động nữ trong chế định an toàn, vệ sinh lao động

3 Mục đích và nhiệm vụ của nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Luận văn muốn làm rõ những vấn đề lý luận cơ bản về pháp luật an toàn, vệ sinh lao động cũng như sự cần thiết của việc ban hành các quy định về an toàn, vệ sinh đối với lao động nữ Trên cơ sở đó, luận văn đi sâu phân tích các quy định về an toàn,

vệ sinh lao động và thực tế thực hiện đối với lao động nữ trong các doanh nghiệp ở Việt Nam, có tham khảo kinh nghiệm điều chỉnh pháp luật quốc tế của các nước trong lĩnh vực này

Dựa vào những kết quả đó, luận văn đưa ra một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật vệ sinh, an toàn lao động và nâng cao hiệu quả áp dụng, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam trong giai đoạn hiện nay

3.2 Nhiệm vụ của nghiên cứu

Để đạt được các mục đích nghiên cứu trên, luận văn phải làm rõ những nhiệm

vụ cụ thể sau:

Thứ nhất: Nghiên cứu làm rõ những vấn đề lý luận cơ bản về pháp luật an toàn,

vệ sinh lao động cũng như sự cần thiết của việc ban hành các quy định pháp luật về an toàn, vệ sinh đối với lao động nữ

Thứ hai: Phân tích và đánh giá thực trạng các quy định pháp luật về an toàn, vệ

sinh lao động đối với lao động nữ và việc thực thi trên thực tế, đánh giá những kết quả cũng như sự bất cập, nguyên nhân của sự bất cập, tồn tại

Thứ ba: Đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật an toàn, vệ sinh lao động

đối với lao động nữ và nâng cao hiệu quả áp dụng các quy định về an toàn, vệ sinh lao động trong thực tiễn

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Trang 8

Đối tượng nghiên cứu: Luận văn đặt mục tiêu nghiên cứu hướng vào tìm hiểu

các quy định pháp luật về an toàn, vệ sinh đối với lao động nữ ở Việt Nam (văn bản và thực tế áp dụng) Bên cạnh đó, trong chừng mực nhất định cũng có đề cập đến các quy phạm quốc tế có liên quan

Phạm vi nghiên cứu: Luận văn tập trung nghiên cứu các quy định pháp luật về

an toàn, vệ sinh đối với lao động nữ trong các loại hình doanh nghiệp ở Việt Nam

5 Phương pháp nghiên cứu

Để giải quyết nhiệm vụ của đề tài đặt ra, đã dựa trên phương pháp luận của chủ nghĩa Mác – Lê Nin với phép duy vật biện chứng và duy vật lịch sử Ngoài ra, luận văn sử dung các phương pháp nghiên cứu cụ thể khác như: phương pháp lịch sử, tổng hợp, so sánh, phân tích số liệu, tài liệu, thống kê, phương pháp chuyên gia, phương pháp liên ngành, …

6 Bố cục của luận văn

Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung chính của luận văn gồm 3 chương:

Chương I: Những vấn đề chung về pháp luật an toàn, vệ sinh lao động đối

với lao động nữ ở Việt Nam Chương II: Pháp luật an toàn, vệ sinh lao động đối với lao động nữ và thực

tế thực hiện ở Việt Nam Chương III Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật an

toàn, vệ sinh đối với lao động nữ ở Việt Nam

Trang 9

CHƯƠNG 1

NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ PHÁP LUẬT AN TOÀN, VỆ SINH LAO ĐỘNG

ĐỐI VỚI LAO ĐỘNG NỮ Ở VIỆT NAM

1.1 Khái quát chung về pháp luật an toàn, vệ sinh lao động

1.1.1 Khái niệm pháp luật an toàn, vệ sinh lao động

An toàn, vệ sinh lao động là tổng hợp các biện pháp được tiến hành nhằm thiết

lập điều kiện làm việc tốt nhất cho người lao động, hạn chế đến mức thấp nhất khả năng bị tai nạn lao động hoặc giảm thiểu tỷ lệ người bị mắc bệnh nghề nghiệp trong môi trường làm việc An toàn, vệ sinh lao động muốn được triển khai thực hiện có hiệu quả trong thực tiễn cần được thể chế hoá thành các quy phạm pháp luật Tập hợp các quy phạm pháp luật về an toàn vệ sinh lao động, có tính chất bắt buộc chung đối với các đơn vị sử dụng lao động, quy định các điều kiện an toàn, vệ sinh lao động trong môi trường làm việc; các biện pháp phòng ngừa, ngăn chặn hoặc khắc phục những yếu tố nguy hiểm, độc hại trong môi trường làm việc nhằm bảo vệ sức khoẻ người lao động; hạn chế các tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp chính là pháp luật

về an toàn, vệ sinh lao động

Các quy định về an toàn, vệ sinh lao động có thể được đề cập trong các văn bản pháp luật về an toàn, vệ sinh lao động do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành (như Bộ luật lao động, Nghị đinh và các Thông tư hướng dẫn các quy định của Bộ luật lao động về an toàn, vệ sinh lao động) Ngoài ra, trong các văn bản nội bộ của công ty như thoả ước, nội quy lao động hay quy chế an toàn, vệ sinh lao động của công ty, cũng có các quy định về an toàn vệ sinh lao động Thực chất các quy định này chính là

sự cụ thể hoá các quy định trong các văn bản pháp luật về an toàn vệ sinh lao động của nhà nước cho phù hợp với điều kiện sản xuất kinh doanh của từng doanh nghiệp Bên cạnh đó, các công ước của Tổ chức lao động quốc tế (ILO) trực tiếp hoặc gián tiếp quy định các tiêu chuẩn lao động quốc tế về an toàn lao động và bảo vệ tính mạng, sức khoẻ của người lao động tại nơi làm việc nếu được Nhà nước Việt Nam thông qua cũng chính là một loại nguồn quan trọng bổ sung các quy định cho pháp luật về an toàn, vệ sinh lao động ở nước ta

Trang 10

Với mục đích bảo vệ sức khoẻ người lao động, hạn chế đến mức thấp nhất các tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp, pháp luật về an toàn, vệ sinh lao động thường bao gồm những nội dung cụ thể sau đây:

i) Các quy định về điều kiện an toàn lao động, vệ sinh lao động chung áp dụng

tại nơi làm việc

ii) Các quy định nhằm hạn chế ảnh hưởng của các yếu tố nguy hiểm, độc hại

đến sức khoẻ của người lao động

iii) Các quy định về chế độ bồi thường cho người lao động bị tai nạn lao động

hoặc bệnh nghề nghiệp

iv) Các quy định về an toàn lao động, vệ sinh lao động đối với những nhóm lao

động đặc thù như lao động nữ, lao động chưa thành niên, lao động là người cao tuổi, lao động là người tàn tật

v) Các quy định quy định về quyền và nghĩa vụ của người lao động, người sử

dụng lao động và trách nhiệm của Nhà nước trong công tác an toàn, vệ sinh lao động

Xuất phát từ tầm quan trọng đặc biệt trong việc bảo vệ sức khỏe của người lao động nên việc thực hiện các quy định về an toàn, vệ sinh lao động có tính bắt buộc cao đối với các đơn vị sử dụng lao động, với các chủ thể tham gia quan hệ lao động Ngoài

ra, những quy định về an toàn, vệ sinh lao động trong nội bộ công ty như quy định trong nội quy, quy chế an toàn vệ sinh lao động hay trong thoả ước của công ty được đặt ra đều nhằm đáp ứng các tiêu chuẩn, thông số kỹ thuật cần thiết được tính toán trên

cơ sở khoa học Do đó, việc thực hiện các quy định này có tính chất bắt buộc chặt chẽ nhằm giảm thiểu đến mức thấp nhất những nguy cơ rủi ro xảy ra, gây ảnh hưởng đến tính mạng và sức khoẻ của người lao động

Như vậy, có thể thấy pháp luật về an toàn, vệ sinh lao động là một chế định trong hệ thống pháp luật lao động Với những nội dung và mục tiêu điều chỉnh như đã

đề cập ở trên, chế định này có tầm quan trọng đặc biệt trong việc bảo vệ người lao động và được coi là một bộ phận không thể thiếu trong hệ thống pháp luật lao động ở mọi quốc gia

1.1.2 Đặc điểm cơ bản của pháp luật về an toàn, vệ sinh lao động

Trang 11

Trong thực tế, hoạt động an toàn, vệ sinh lao động thực chất là tổng hợp các biện pháp về khoa học kỹ thuật, y tế học, vệ sinh học, pháp luật, kinh tế học kết hợp với tuyên truyền, vận động nhằm mục đích bảo vệ tốt nhất tính mạng, sức khoẻ người lao động, phòng ngừa, ngăn chặn và khắc phục hậu quả của tai nạn lao động, hoặc bệnh nghề nghiệp Vì vậy, pháp luật an toàn, vệ sinh lao động khi điều chỉnh hoạt động này cũng có những điểm đặc thù khác với các chế định pháp luật khác Cụ thể là:

Các quy định về an toàn, vệ sinh lao động mang tính chất khoa học kỹ thuật rõ nét Mọi biện pháp nhằm hạn chế, loại trừ các yếu tố nguy hiểm, có hại đến sức khoẻ

người lao động trong môi trường làm việc đều xuất phát từ cơ sở khoa học tự nhiên và được thực hiện bằng các giải pháp kỹ thuật Nó bao gồm các hoạt động điều tra khảo sát điều kiện lao động; phân tích, đánh giá ảnh hưởng của các yếu tố nguy hiểm, có hại đối với người lao động; giải pháp xử lý điều kiện môi trường lao động; ban hành các tiêu chuẩn kỹ thuật về an toàn, vệ sinh lao động trên cơ sở từng ngành nghề; cải tiến trang bị, kỹ thuật công nghệ sản xuất…

Vì đặc thù nói trên nên phần lớn các quy định điều chỉnh hoạt động an toàn, vệ sinh lao động cũng mang tính chất khoa học kỹ thuật Như vậy, tính khoa học và tính pháp lý sẽ cùng tồn tại trong rất nhiều các quy phạm pháp luật về an toàn, vệ sinh lao động Các quy định về tiêu chuẩn ánh sáng, nhiệt độ, độ ẩm không khí, nồng độ bụi tối

đa trong môi trường làm việc,… là những quy định thể hiện kết quả cuối cùng của việc nghiên cứu các yếu tố khoa học, kỹ thuật, sinh học trong môi trường làm việc và sự ảnh hưởng của nó đến sức khoẻ của người làm việc trong môi trường tương ứng Với việc cơ quan nhà nước có thẩm quyền chuyển các kết quả này thành các quy định có tính chuẩn mực về an toàn, vệ sinh lao động trong các văn bản pháp luật có tính chất bắt buộc chung trong phạm vi toàn quốc, hoặc trong phạm vi từng ngành đã cho thấy tính khoa học kỹ thuật là một trong những đặc điểm riêng biệt của pháp luật về an toàn

vệ sinh lao động so với các chế định pháp luật lao động khác

Một trong những khía cạnh quan trọng của công tác quản lý Nhà nước trong lĩnh vực an toàn, vệ sinh lao động là việc ban hành và quản lý thống nhất hệ thống quy phạm, tiêu chuẩn kỹ thuật về an toàn, vệ sinh lao động Theo quy định hiện hành, các

bộ ngành chức năng có trách nhiệm phối hợp ban hành và quản lý thống nhất hệ thống tiêu chuẩn, quy phạm về an toàn, vệ sinh lao động cấp ngành

Trang 12

Khác với quy phạm pháp luật thông thường, các quy phạm, tiêu chuẩn về an toàn, vệ sinh lao động về hình thức cũng chứa đầy đủ những yếu tố của một quy phạm pháp luật (như có tính chất bắt buộc áp dụng), bên cạnh đó, về nội dung, nó chứa đựng những yêu cầu mặt kỹ thuật nghiêm ngặt dựa trên cơ sở nghiên cứu khoa học về an toàn, vệ sinh lao động Những quy chuẩn này (gồm 150 loại) có thể được áp dụng ở cấp Nhà nước hoặc cấp ngành nhằm mục đích hạn chế, ngăn ngừa các tai nạn lao động, sự cố có thể xảy ra đối với con người, môi trường hoặc thiết bị; phòng ngừa các bệnh nghề nghiệp trong quá trình lao động

Đối tượng quản lý về an toàn, lao động của Bộ LĐ -TB & XH là các loại máy, thiết bị, vật tư và các chất có yêu cầu nghiêm ngặt về an toàn, vệ sinh lao động trong

cả nước.Trước đây các thiết bị, máy móc trên được quản lý theo tiêu chuẩn do Nhà nước ban hành, hiện nay những quy phạm an toàn thường mang tên gọi chung là Tiêu chuẩn Việt Nam (TCVN) quy định tại Khoản 1 điều 3 Nghị định 06/ CP Mặc dù đã có nhiều cố gắng trong việc ban hành các TCVN nhưng do điều kiện về kinh phí hạn chế (chỉ có từ 3-5 triệu đồng/ 1 TCVN), chịu ảnh hưởng của hệ thống tiêu chuẩn an toàn,

vệ sinh lao đồng của Liên Xô cũ Một số tiêu chuẩn đã cũ, nội dung đã lạc hậu, không phù hợp so với khu vực và quốc tế như các quy phạm về an toàn lao động trong hầm lo than, điện lạnh, nồi hơi và các thiết bị nâng cần được xem xét lại tiêu chuẩn và ban hành tiêu chuẩn mới cho phù hợp

Để đảm bảo hiệu quả áp dụng pháp luật, các quy định về an toàn, vệ sinh lao động mang tính chất bắt buộc cao Để các giải pháp khoa học kỹ thuật về an toàn, vệ

sinh lao động được thực hiện, Nhà nước đã thể chế các biện pháp này thành quy định, tiêu chuẩn, yêu cầu cụ thể có tính chất bắt buộc chung đối với các đơn vị sử dụng lao động, các cá nhân người lao động và các chủ thể có liên quan khác trong quá trình áp dụng pháp luật Có thể thấy, phần lớn các văn bản pháp luật trong lĩnh vực an toàn, vệ sinh lao động đều chứa đựng các quy định cứng, không thể thoả thuận giữa các chủ thể khi vận dụng Ví dụ như các quy định về điều kiện làm việc, trang thiết bị bảo hộ lao động cá nhân, việc khám sức khoẻ định kỳ cho người lao động

Trong chế định pháp luật về an toàn, vệ sinh lao động vẫn có một số quy định

có tính chất “định khung” khi xác định quyền lợi tối thiểu của người lao động trong việc thực hiện chế độ bồi dưỡng bằng hiện vật, hay tiền bồi thường cho người bị tai nạn lao động Nhưng xét một cách khái quát và so sánh với cơ chế điều chỉnh của

Trang 13

nhiều chế định pháp luật khác của luật lao động, có thể thấy các quy định về an toàn,

vệ sinh lao động mang tính chất “cứng nhắc” hơn và khó có thể có phần linh hoạt để các bên thoả thuận trong hợp đồng lao động hay thoả ước tập thể Đó cũng là nguyên nhân khách quan khiến các chủ thể khi thoả thuận về điều khoản an toàn, vệ sinh lao

động trong hợp đồng lao động hay thoả ước tập thể thường ghi là “theo quy định của pháp luật hiện hành”

Các quy phạm pháp luật về an toàn, vệ sinh lao động mang tính chất xã hội

rộng rãi Việc thực hiện các quy định về an toàn, vệ sinh lao động đòi hỏi sự tham gia của tất cả các chủ thể bao gồm người lao động, người sử dụng lao động, các cơ quan quản lý nhà nước trong lĩnh vực lao động, các tổ chức xã hội và các đoàn thể quần chúng có liên quan Trong quá trình lao động, việc thực hiện đúng, đủ các quy định, tiêu chuẩn an toàn, vệ sinh lao động cũng chính là hoạt động đảm bảo an toàn, vệ sinh lao động của mọi chủ thể tham gia quan hệ lao động Họ là người thực hiện, giám sát việc thực hiện các quy định và cũng là người phát hiện các yếu tố nguy hiểm, có hại từ

đó yêu cầu, đề xuất biện pháp giải quyết nhằm góp phần đảm bảo điều kiện lao động ngày một tốt hơn Do vậy, công tác an toàn, vệ sinh lao động chỉ có hiệu quả khi mọi ngành, mọi tổ chức, cá nhân tự giác thực hiện các quy định của pháp luật về an toàn,

vệ sinh lao động Vì lý do trên, các quy định về an toàn, vệ sinh lao động thường mang tính xã hội rộng rãi và có liên quan đến nhiều đối tượng trong xã hội

Pháp luật về an toàn vệ sinh lao động đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong việc bảo vệ tính mạng, sức khoẻ của người lao động Đảm bảo an toàn, vệ sinh lao

động là yêu cầu tất yếu, khách quan của sản xuất Khi con người tiến hành sản xuất cũng chính là quá trình tác động tới môi trường xung quanh và đó cũng chính là quá trình người lao động chịu các tác động xấu ngược trở lại của môi trường nơi họ lao động Ngay từ thời sơ khai, con người đã biết cải tiến công cụ, điều kiện lao động để

tự bảo vệ mình Do hoạt động sản xuất là một trong những nguyên nhân gây tác hại tới môi trường sống, cùng với sự phát triển của văn minh nhân loại, những tiến bộ của trình độ, công nghệ sản xuất cũng tăng lên đóng góp cho sự tiến bộ của xã hội, nhưng mặt khác lại làm cho môi trường sống, trong đó có môi trường lao động ngày càng xấu

đi do những tác động ngày càng nhiều với các yếu tố nguy hiểm độc hại như phóng xạ, tia tử ngoại… Môi trường lao động ngày càng đa dạng, phức tạp, nguy hiểm đòi hỏi công tác an toàn, vệ sinh lao động phải được phát triển tương xứng

Trang 14

Công tác an toàn, vệ sinh lao động được thực hiện tốt sẽ giảm thiểu các chi phí

về y tế và bảo hiểm xã hội không cần thiết cho đối tượng bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, cũng như góp phần bảo vệ môi trường sống của con người Thực hiện hiệu quả công tác này là góp phần giảm tới mức thấp nhất sự tiêu hao lao động và những tổn thất tới vật chất, con người và môi trường

An toàn lao động, vệ sinh lao động là chính sách kinh tế xã hội lớn, có ý nghĩa quan trọng trong việc phát triển bền vững và bảo vệ sức khoẻ người lao động Đặc biệt trong cơ chế thị trường hiện nay, khi mục tiêu tối đa hoá lợi nhuận là mối quan tâm hàng đầu của các chủ doanh nghiệp thì vấn đề đảm bảo an toàn, vệ sinh lao động càng trở nên bức xúc Chạy theo lợi nhuận, người sử dụng lao động có thể giảm mọi chi phí, bao gồm cả chi phí xây dựng môi trường lao động an toàn, vệ sinh cho người lao động Do đó, nếu không giải quyết thoả đáng vấn đề an toàn, vệ sinh lao động thì nền kinh tế không đảm được sự phát triển bền vững Điều kiện lao động xấu không chỉ ảnh hưởng tới người lao động trực tiếp mà còn có tác động xấu tới thế hệ lao động tương lai Vì vậy, đảm bảo an toàn, vệ sinh lao động là đảm bảo sức khoẻ, tính mạng người lao động, duy trì nền sản xuất ổn định và tạo tiền đề góp phần cho sự phát triển kinh tế

xã hội bền vững

1.1.3 Các nguyên tắc cơ bản của pháp luật an toàn, vệ sinh lao động

Nguyên tắc cơ bản của pháp luật về an toàn vệ sinh lao động là những tư tưởng chỉ đạo xuyên suốt trong quá trình xây dựng và áp dụng các quy phạm pháp luật về an toàn, vệ sinh lao động Cụ thể là các nguyên tắc cơ bản sau:

Nguyên tắc Nhà nước thống nhất quản lý về an toàn, vệ sinh lao động

Như đã trình bày, công tác an toàn, vệ sinh lao động có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong việc bảo vệ an toàn tính mạng, sức khoẻ người lao động, duy trì nền sản xuất tạo tiền đề cho sự phát triển bền vững của xã hội Trong nền kinh tế thị trường hiện nay, an toàn, vệ sinh lao động đang đặt ra nhiều vấn đề ngày càng bức xúc, đòi hỏi phải có sự quản lý thống nhất của Nhà nước – tổ chức có đủ quyền năng và sức mạnh cưỡng chế - với bộ máy từ trung ương đến cơ sở đảm bảo việc tiến hành hiệu quả các hoạt động quản lý về an toàn, vệ sinh lao động Nguyên tắc này đã được quy định tại điều 56 Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi) và được cụ thể tại điều khoản 2 điều

95 Bộ luật Lao động sửa đổi:

Trang 15

“Chính phủ lập chương trình quốc gia về bảo hộ lao động, an toàn lao động, vệ sinh lao động, đưa vào kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội và ngân sách Nhà nước đầu tư nghiên cứu khoa học, hỗ trợ phát triển các cơ sở sản xuất dụng cụ, trang thiết bị an toàn lao động, vệ sinh lao động, phương tiện bảo vệ cá nhân; ban hành hệ thống tiêu chuẩn, quy trình, quy phạm về an toàn lao động, vệ sinh lao động” [25]

Việc quản lý của nhà nước về an toàn, vệ sinh lao động mang tính chất tập trung dân chủ Đây là trách nhiệm của các ngành chức năng và là nghĩa vụ của những đối tượng tham gia quan hệ lao động Quyền quản lý cao nhất thuộc về Chính phủ, bên cạnh đó có sự phân công, phân cấp quản lý cụ thể nhằm tạo cơ chế cho các ngành chức năng được phát huy tính chủ động trong việc thực hiện chức năng quản lý của mình nhằm mang lại hiệu quả quản lý cao nhất

Quản lý Nhà nước về an toàn, vệ sinh lao động là hoạt động tạo cơ sở pháp lý

và thiết lập điều kiện vật chất cho việc thực thi pháp luật an toàn, vệ sinh lao động trên thực tế Việc thiết lập môi trường lao động phải phụ thuộc vào điều kiện kinh tế – xã hội cụ thể Nền kinh tế Việt Nam hiện nay vẫn còn nhiều khó khăn, thách thức và không đồng đều, do vậy, chúng ta chưa thể tạo dựng được một môi trường lao động lý tưởng với việc đảm bảo an toàn, vệ sinh lao động ở mức cao nhất hoặc theo các tiêu chuẩn quốc tế

Với mục đích đảm bảo an toàn về tính mạng và sức khoẻ người lao động nhằm xây dựng một nền kinh tế xã hội phát triển, bền vững, nhà nước đã và đang cố gắng từng bước đảm bảo cho người lao động được làm việc trong môi trường lao động an toàn và vệ sinh theo điều kiện hiện có của đất nước

Nguyên tắc thực hiện an toàn, vệ sinh lao động là nghĩa vụ bắt buộc đối với các bên trong quan hệ lao động

Để các quy định của pháp luật về an toàn, vệ sinh lao động được thực hiện trên thực tế, các bên tham gia quan hệ lao động bắt buộc phải tuân thủ, thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình theo những quy định mà pháp luật đã ban hành Tại khoản

1 điều 95 Bộ luật Lao động sửa đổi quy định

“Người sử dụng lao động có trách nhiệm trang bị đầy đủ phương tiện bảo hộ lao động, bảo đảm an toàn lao động, vệ sinh lao động và cải thiện điều kiện làm việc cho người lao động Người lao động phải tuân thủ các quy định về an toàn lao động, vệ sinh lao động và nội quy lao động của doanh nghiệp Mọi tổ chức và cá

Trang 16

nhân có liên quan đến lao động, sản xuất phải tuân theo pháp luật về an toàn lao động, vệ sinh lao động và bảo vệ môi trường” [25]

Trong quan hệ lao động, người sử dụng lao động phải có trách nhiệm chính trong công tác an toàn, vệ sinh lao động, họ phải đầu tư kinh phí cho xây dựng, cải tạo nhà xưởng, máy móc, trang bị phương tiện đảm bảo an toàn, vệ sinh lao động cho cá nhân và máy móc; thực hiện chế độ bồi dưỡng bằng hiện vật… cho người lao động theo quy định của pháp luật Việc người sử dụng lao động phải chịu chi phí cải tạo điều kiện lao động, đã làm giảm sức cạnh tranh sản phẩm của họ trên thị trường, điều nay gây nên xu hướng giảm đến mức thấp nhất các chi phí đầu vào trong đó bao gồm

cả chi phí dành cho công tác an toàn, vệ sinh lao động để hạ giá thành sản phẩm Do

đó, pháp luật quy định người sử dụng lao động có nghĩa vụ bắt buộc trong việc đảm bảo an toàn, vệ sinh lao động nhằm ràng buộc trách nhiệm của của họ khi thiết lập quá trình sản xuất kinh doanh

Môi trường lao động an toàn, vệ sinh là một trong những yếu tố dễ thu hút lao động có chất lượng cao, trên cơ sở đó người lao động sẵn sàng phát huy chất xám và sức lực đem lại hiệu suất lao động cao cho doanh nghiệp, hơn nữa, việc thiết môi trường lao động an toàn, vệ sinh sẽ làm giảm các chi phí để giải quyết các tai nạn lao động có thể xảy ra trong doanh nghiệp Do vậy, thực hiện an toàn, vệ sinh lao động vừa là nghĩa vụ bắt buộc đối với người sử dụng lao động, vừa mang lại nhiều lợi ích thiết thực cho họ

Các quy định về an toàn, vệ sinh lao động không chỉ có ý nghĩa bắt buộc đối với các cơ quan nhà nước có liên quan, các tổ chức và người sử dụng lao động mà còn

là trách nhiệm của người lao động Để các quy định của pháp luật lao động được thực hiện nghiêm túc và triệt để, bản thân người lao động phải có nghĩa vụ biết và chấp hành các nội quy đó, đồng thời có ý thức trong việc tự bảo vệ tính mạng, sức khoẻ trong quá trình lao động Điều này được quy định tại khoản 1 điều 95 Bộ luật lao động

sửa đổi như sau “… Người lao động phải tuân thủ các quy định về an toàn lao động,

vệ sinh lao động và nội quy lao động của doanh nghiệp” [25] Cụ thể về các quy định

đối với người lao động thường được quy định trong nội quy doanh nghiệp, thoả ước lao động tập thể (nếu có) và điều khoản về điều kiện an toàn, vệ sinh lao động trong hợp đồng lao động

Trang 17

Với các quy định này, nếu người lao động không có ý thức trách nhiệm bảo vệ sức khoẻ, tính mạng của bản thân bởi việc không thực hiện hoặc thực hiện không đúng thì dù có được làm việc trong môi trường an toàn, vệ sinh tuyệt đối thị tai nạn lao động vẫn có thể xảy ra Các quy định về an toàn, vệ sinh lao động đối với người lao động thường gồm các việc như: giữ gìn và sử dụng đúng quy trình các thiết bị bảo vệ an toàn, vệ sinh chung (thiết bị phòng cháy chữa cháy, quạt thông gió…); bảo quản và sử dụng các phương tiện bảo vệ cá nhân, chấp hành các quy định về an toàn, vệ sinh lao động trong nội quy doanh nghiệp…

Việc thực hiện các quy định này phụ thuộc rất lớn vào khả năng nhận thức, ý thức của bản thân người lao động, công tác tuyên truyền về công tác an toàn, vệ sinh lao động của các đơn vị, tổ chức có liên quan, đặc biệt là tổ chức Công đoàn, cũng như việc áp dụng nghiêm minh các biện pháp xử lý người lao động nếu không tuân thủ các quy định về an toàn, vệ sinh lao động Như vậy, việc thực hiện các quy định về an toàn

vệ sinh lao động không chỉ đảm bảo sức khoẻ, tính mạng cho chính bản thân người lao động mà còn là nghĩa vụ bắt buộc đối với họ

Như vậy, các quy định về an toàn, vệ sinh lao động có ý nghĩa bắt buộc đối với tất cả các bên khi tham gia quan hệ lao động Nguyên tắc này được quán triệt, xuyên suốt trong quá trình xác lập quan hệ lao động, cũng như quá trình thực hiện quy trình lao động, sản xuất Thực hiện tốt nguyên tắc này trên thực tế sẽ góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất, kinh doanh và hạn chế đến mức thấp nhất các tai nạn lao động

và bệnh nghề nghiệp có thể xảy ra

Nguyên tắc đảm bảo sự tham gia của tổ chức công đoàn trong lĩnh vực an toàn,

vệ sinh lao động

Công đoàn là tổ chức đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người lao động Với quyền hạn, trách nhiệm và cơ chế hoạt động, công đoàn là tổ chức có nhiều khả năng nhất trong việc bảo vệ quyền của người lao động nói chung và quyền được làm việc trong môi trường an toàn, vệ sinh lao động của người lao động nói riêng Vì vậy, việc đề cao và đảm bảo quyền hạn, trách nhiệm của tổ chức công đoàn trong lĩnh vực an toàn, vệ sinh lao động mang tính tất yếu, khách quan

Bộ luật Lao động sửa đổi đã dành hẳn chương XIII để quy định về quyền hạn

và trách nhiệm của tổ chức công đoàn, đây chính là việc đề cao tổ chức công đoàn Đồng thời, các quy định từ điều 153 đến 156 của Bộ luật và đặc biệt trong Luật Công

Trang 18

đoàn năm 1990, Nhà nước đã quy định rất rõ trách nhiệm của người sử dụng lao động phải tạo điều kiện thuận lợi cho tổ chức công đoàn được thành lập và hoạt động Sau sáu tháng kể từ khi doanh nghiệp đi vào hoạt động, tổ chức công đoàn phải được thành

lập và người sử dụng lao động phải thừa nhận tổ chức đó “Nghiêm cấm mọi hành vi cản trở việc thành lập và hoạt động công đoàn tại doanh nghiệp” [25] Hơn thế nữa,

để tạo điều kiện cho hoạt động của công đoàn, người sử dụng lao động phải có trách nhiệm đảm bảo các phương tiện làm việc cần thiết, phải trả lương và tạo điều kiện về thời gian cho người làm công tác công đoàn

Bên cạnh việc quy định rõ quyền hạn và trách nhiệm của tổ chức công đoàn, pháp luật cũng quy định rất cụ thể về nội dung hoạt động của công đoàn trong lĩnh vực

an toàn, vệ sinh lao động tại các doanh nghiệp gồm các hoạt động củng cố tổ chức, bộ máy bảo hộ lao động, xây dựng kế hoạch bảo vệ an toàn, vệ sinh lao động cho người lao động; tự kiểm tra công tác an toàn, vệ sinh lao động như rà soát máy móc, kẻ vẽ biển báo hiệu nguy hiểm; mua mới và sửa chữa máy móc; khám sức khoẻ định kỳ cho người lao động nhằm sớm phát hiện bệnh nghề nghiệp, đo đạc yếu tố vệ sinh tại nơi làm việc; tổ chức tuyên truyền vận động về an toàn, vệ sinh lao động cho người lao động

Ngoài ra, các tổ chức công đoàn còn tham gia các hoạt động lớn của quốc gia

về an toàn, vệ sinh lao động của quốc gia như tham gia xây dựng Chương trình Quốc gia về an toàn,vệ sinh lao động; Tuần lễ quốc gia về an toàn,vệ sinh lao động và phòng chống cháy nổ hàng năm; và tham gia Mạng thông tin an toàn, vệ sinh lao động đã nói lên vị trí, vai trò của tổ chức công đoàn trong hoạt động đảm bảo thực hiện pháp luật

về an toàn, vệ sinh lao động Khoản 3 điều 95 Bộ luật lao động sửa đổi quy định

“TLĐ LĐVN tham gia với Chính phủ trong việc xây dựng chương trình quốc gia về bảo hộ lao động, an toàn lao động, vệ sinh lao động, xây dựng chương trình nghiên cứu khoa học, xây dựng pháp luật về bảo hộ lao động, an toàn lao động, vệ sinh lao động” [25]

Đối với người lao động, trong hoạt động bảo đảm việc thực hiện pháp luật an toàn, vệ sinh lao động cho họ, tổ chức công đoàn có vai trò quan trọng và cốt yếu trong việc tuyên truyền, vận động nâng cao nhận thức của người lao động trong việc yêu cầu và thực hiện pháp luật an toàn, vệ sinh lao động; trong việc yêu cầu người sử dụng lao động xây dựng và đảm bảo điều kiện lao động được an toàn, vệ sinh

Trang 19

Tuân thủ các tiêu chuẩn quốc tế về an toàn, vệ sinh lao động trong các Công ước có liên quan đến an toàn, vệ sinh lao động mà Việt Nam đã phê chuẩn

Trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế, Việt Nam đã tham gia và phê chuẩn

17 công ước trong đó có nhiều công ước liên quan đến việc bảo đảm an toàn, vệ sinh cho người lao động nói chung, trong đó có lao động nữ nói riêng Khi xây dựng khung pháp lý và chính sách về an toàn, vệ sinh lao động, Việt Nam tôn trọng và thể hiện trong luật pháp của mình đối với các công ước mà Việt Nam đã phê chuẩn Với các công ước liên quan đến an toàn, vệ sinh lao động khác của ILO, Việt Nam luôn coi là nguồn tài liệu tham khảo quan trọng trong quá trình xây dựng pháp luật về an toàn, vệ

sinh lao động

Trong lĩnh vực an toàn lao động nói chung, Công ước 155 (1981) về an toàn và

vệ sinh lao động cuả ILO được coi như một công ước toàn diện và đầy đủ nhất về hoạt động an toàn, vệ sinh lao động Theo công ước này, các quốc gia thành viên phải có hệ thống chính sách quốc gia về an toàn, vệ sinh lao động trong mọi ngành nghề Việt Nam là nước đầu tiên ở Châu Á phê chuẩn công ước này Điều này thể hiện quan điểm của Nhà nước Việt Nam trong hoạt động bảo vệ sức khoẻ người lao động

Với một số ngành kinh tế đặc thù, tiềm ẩn nguy cơ cao về tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp, ILO đã thông qua một số công ước và khuyến nghị như các công ước: Công ước số 62 (1937) và Công ước số 167 (1992) về an toàn của ngành xây dựng; Công ước số 28 (1929) và Công ước số 32 (1932) về an toàn của người làm nghề bốc dỡ trên bến tàu; Công ước 120 (1964) về Vệ sinh trong thương mại và văn phòng

Nhằm đảm bảo mục tiêu bảo vệ đặc biệt cho những người lao động dễ bị tổn thương, ILO đặc biệt chú trọng đến 2 nhóm người lao động là phụ nữ và trẻ em Ngay trong 6 công ước quốc tế của ILO được thông qua tại phiên họp đầu tiên của Hội nghị toàn thể lần thứ nhất năm 1919 thì có đến 4 công ước liên quan đến phúc lợi và an toàn của lao động trẻ em, lao động chưa thành niên và lao động nữ Cụ thể là Công ước số 3 (1919) về chế độ nghỉ thai sản; Công ước số 4 (1919) về chế độ làm ban đêm; Công ước số 5 (1919) về tuổi lao động tối thiểu của trẻ em trong các ngành công nghiệp và Công ước số 6 (1919) về làm việc ban đêm của người lao động chưa thành niên trong công nghiệp Tiếp theo đó là các Công ước số 45 (1935) về sử dụng phụ nữ vào những công việc dưới mặt đất; Công ước số 111 (1958) về phân biệt đối xử trong việc làm và

Trang 20

nghề nghiệp; Công ước số 182 (1999) về Nghiêm cấm và hành động khẩn cấp xoá bỏ những hình thức lao động trẻ em tồi tệ nhất1

Bên cạnh các công ước của ILO, các công ước khác liên quan đến phụ nữ cũng

ít nhiều đề cập đến việc bảo đảm an toàn, vệ sinh lao động cho phụ nữ Công ước quốc

tế về xoá bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ (CEDAW) 1979, của Đại Hội đồng Liên Hợp Quốc (Việt Nam phê chuẩn ngày 19/3/1982) đã quy định tại điều 11, khoản 1 phần f:

“Các nước tham gia phải áp dụng mọi biện pháp thích hợp để xoá bỏ sự phân biệt đối xử với phụ nữ trong lĩnh vực việc làm nhằm bảo đảm những quyền như nhau trên cơ sở bình đẳng nam nữ, đặc biệt là quyền được bảo vệ sức khoẻ và bảo đảm an toàn lao động, kể cả bảo vệ chức năng sinh đẻ” [18]

Có thể nói, tổ chức lao động quốc tế và các công ước khác của Liên hiệp quốc trong lĩnh vực bảo đảm an toàn, vệ sinh lao động đã xây dựng được những khuôn mẫu cho các quốc gia vận dụng trong quá trình xây dựng pháp luật về an toàn, vệ sinh lao động

1.2 Một số vấn đề cơ bản về pháp luật an toàn, vệ sinh lao động đối với lao động

nữ ở Việt Nam

1.2.1 Đặc điểm của lao động nữ

Trong pháp luật lao động Việt Nam, mặc dù có sử dụng cụm từ “lao động nữ” nhưng không có khái niệm lao động nữ mà chỉ có khái niệm người lao động nói chung Trên cơ sở các quy định của pháp luật lao động, chúng ta có thể hiểu, lao động nữ trước hết là người lao động theo quy định của pháp luật nhưng có giới tính là nữ

Lao động nữ có những đặc điểm riêng biệt so với lao động nam chính từ sự khác biệt về giới tính mà chúng ta thường đề cập đến tính đặc thù của lao động nữ Tính đặc thù của lao động nữ thể hiện ở những điểm đặc trưng cơ bản sau đây:

Thứ nhất: về thể lực và tâm sinh lý của lao động nữ:

Xét theo yếu tố sinh học (giới tính) lao động nữ có những đặc điểm về sinh lý, tâm lý, chức năng sinh học và thể lực khác hẳn so với lao động nam Dưới góc độ giới tính, xét về thể lực, lao động nữ thường yếu hơn lao động nam nên họ thường tham gia vào các công việc nhẹ nhàng Ngoài ra, lao động nữ có thời kỳ phát triển thể chất, tinh

1

Xin xem phần Phụ lục 1

Trang 21

thần, thời kỳ lão hoá khác biệt so với lao động nam; nhu cầu ăn uống, nghỉ ngơi, giải trí cũng khác

Theo số liệu được tổng kết trong các đề tài nghiên cứu khoa học về giới, lao động nữ thường có thể lực yếu hơn so với lao động nam Sức chịu đựng của phụ nữ trong điều kiện lao động nguy hiểm, nặng nhọc, độc hại kém hơn so với lao động nam Chính vì vậy, các kết quả nghiên cứu về công tác bảo hộ lao động đều đưa ra những khuyến cáo về việc không nên sử dụng lao động nữ trong những điều kiện lao động chứa nhiều yếu tố nguy hiểm, độc hại Sự tồn tại của những yếu tố này đương nhiên ảnh hưởng đến sức khoẻ của mọi người lao động làm việc trong môi trường đó nói chung Riêng đối với lao động nữ, sự ảnh hưởng không chỉ để lại hậu quả nặng nề đối với sức khoẻ thông thường của lao động nữ mà còn ảnh hưởng tới sức khoẻ sinh sản của họ Từ đó, gây hậu quả tiếp theo cho những đứa con do lao động nữ sinh ra

Thứ hai, lao động nữ có vị thế kinh tế xã hội kém hơn so với lao động nam, đặc

biệt là ở những quốc gia phương Đông như Ấn Độ, Trung Quốc, Việt Nam Điều này bởi chi phối sâu sắc bởi ý thức hệ trọng nam khinh nữ đã có từ ngàn đời nay của các quốc gia này

Theo kết quả nghiên cứu của các nhà sử học và xã hội học, khi xã hội loài người chuyển từ chế độ “mẫu hệ” sang chế độ “phụ hệ”, vai trò của người phụ nữ dần dần bị đẩy xuống hàng thứ yếu so với nam giới Trong chế độ mẫu hệ, với cuộc sống bầy đàn dựa vào nguồn sống sẵn có, người phụ nữ có vai trò chính trong hoạt động hái lượm và là giới nắm vai trò quyền lực Chuyển sang hình thái xã hội “phụ hệ”, bắt đầu với hoạt động săn bắn và trồng trọt, tính chất công việc thay đổi và phụ thuộc nhiều vào sức khoẻ lao động nam là chính, quyền lực xã hội chuyển sang giới nam Quyền lực này đã tồn tại dai dẳng và ăn sâu vào tiềm thức của mọi tầng lớp nhân dân trong xã hội cho đến tận ngày nay Với tư tưởng này, đã dần làm cho phụ nữ có vị trí yếu thế, thiệt thòi hơn trong xã hội, họ mất đi các quyền tham gia, quyền quyết định các vấn đề liên quan đến bản thân, con cái và gia đình của họ; cơ hội học tập, phát triển và thụ hưởng vật chất bị hạn chế làm cho phụ nữ thiếu các điều kiện cần thiết để phát triển

Thứ ba, lao động nữ có ít cơ hội để làm việc và cơ hội thăng tiến của lao động

nữ cũng thấp hơn rất nhiều so với lao động nam:

Do những cản trở về mặt chính trị và thái độ xã hội, lao động nữ luôn thiếu các

cơ hội học tập và tiếp cận công nghệ hiện đại, tiến tiến trong lao động, tiếp cận việc

Trang 22

làm ở khu vực chính thức, không có thu nhập hoặc thu nhập không cao Do vậy, họ luôn phải chịu vị trí thấp, yếu thế hơn trong xã hội, lao động thời gian dài hơn với những công việc giản đơn hơn và thu nhập thấp hơn: Tỷ lệ tham gia lực lượng lao động của lao động nữ hiện nay xấp xỉ 67%, thấp hơn so với lao động nam với 76%; mức lương trung bình theo tháng đối với lao động nữ ở Việt Nam hiện là 616.000 đồng, chỉ bằng 88,5% mức thu nhập chung của cả lao động nam và lao động nữ [75; tr.11]; nghề nông chiếm 63% việc làm ở Việt Nam, phụ nữ làm nông nghiệp có số giờ làm việc trung bình nhiều hơn nam giới tới 8h/ ngày, do vậy, họ thường bị quá tải, điều này không những ảnh hưởng tới sức khoẻ của họ mà còn làm giảm thời gian nghỉ ngơi, cản trở cơ hội học tập và nắm bắt thông tin thị trường và công nghệ mới

Trong quá trình cải cách doanh nghiệp Nhà nước, lao động nữ chiếm 60% số người lao động mất việc, 35% lao động nữ ở lại được giao những công việc không thường xuyên hoặc tạm thời Điều này không chỉ phổ biến trong các ngành nghề của Việt Nam mà còn là tình trạng chung của các nước Châu Á Những con số trên đều cho thấy sự bất bình đẳng giữa lao động nam và lao động nữ Điều này làm cho lao động nữ vốn đã thiệt thòi, hạn chế ngày càng thiệt thòi, hạn chế và kém phát triển hơn

Thứ tư, lao động nữ ngoài công việc mà họ đang tham gia với tư cách là người

lao động thuần tuý còn phải thực hiện những thiên chức của người phụ nữ trong gia đình

Theo những tài liệu và luận thuyết khoa học đã ch thấy đồng hồ sinh học của lao động nữ và lao động nam khác nhau Chính từ sự khác nhau về của cấu tạo cơ thể

về mặt sinh học mà lao động nữ có thiên chức riêng của mình Phụ nữ là chủ thể của

sự kết hợp giữa hoạt động lao động sản xuất ra của cải vật chất cho gia đình và xã hội với hoạt động lao động tái sản xuất sức lao động con người Bên cạnh chức năng lao động, lao động nữ còn phải đảm nhận thiên chức làm mẹ, chỉ có người phụ nữ mới có thể mang thai, sinh đẻ và cho con bú sữa mẹ

Thiên chức làm mẹ của người phụ nữ (sinh đẻ và nuôi dưỡng con cái) thường gắn liền với chức năng nội trợ, công việc gia đình, dần dần, xã hội coi chức năng này

“đương nhiên” thuộc về phụ nữ Với ý thức này, nam giới ngày càng có nhiều thời gian, cơ hội học tập, nắm bắt thông tin và công nghệ hiện đại hơn, do đó, họ có điều kiện lao động sản xuất tốt hơn, tạo ra nhiều của cải hơn, mang lại thu nhập cho gia đình cao hơn, và đương nhiên, họ có vị trí ngày càng cao hơn trong gia đình và xã hội

Trang 23

Tuy nhiên, xã hội dường như lại quên đi công đóng góp đáng kể của phụ nữ trong giá trị lao động của nam giới Theo báo cáo phát triển nhân lực của Liên hiệp Quốc, ước tính công việc không được trả lương hiện nay của phụ nữ trên toàn thế giới (gồm việc nội trợ, chăm sóc trẻ em…) theo giá trị thị trường khoảng 11 tỷ đô la Mỹ

1.2.2 Sự cần thiết khách quan phải có các quy định về an toàn, vệ sinh lao động đối với lao động nữ

Sự cần thiết khách quan phải có các quy định về an toàn, vệ sinh lao động dành riêng cho lao động nữ trước hết xuất phát từ những điểm khác biệt, đồng thời cũng là đặc trưng riêng của lao động nữ nên không thể đồng thời sử dụng các quy định pháp luật về an toàn, vệ sinh lao động cho cả lao động nam và lao động nữ Nhận thức được vấn đề này, thế giới đã và đang đề cao vấn đề bình đẳng giữa giới nam và giới nữ, xác định sự tiến bộ và phát triển của phụ nữ được coi như sự tiến bộ của một nửa nhân loại Hoạt động này sẽ tạo điều kiện cho phụ nữ nói chung, và lao động nữ nói riêng,

có thêm cơ hội và điều kiện tiến bộ, phát triển và thụ hưởng bình đẳng với nam giới Chỉ trong điều kiện đó, họ mới có thể tái sản xuất sức lao động con người tiến bộ hơn, phát triển và hoàn thiện hơn Với nhận thức con người là của cải, vốn quý của xã hội, Đảng và nhà nước Việt Nam đã rất quan tâm đến vốn quý ấy và đã có những chính sách, quy định đảm bảo quyền bình đẳng của nam nữ, cũng như có những quy định riêng đối với nữ giới

Sự cần thiết phải có quy định riêng đối với lao động nữ, đặc biệt trong việc đảm bảo an toàn, vệ sinh lao động còn xuất phát từ xu thế phát triển nền kinh tế trong bối cảnh hội nhập quốc tế Tính đến thời điểm hiên nay, Việt Nam là một trong số ít quốc gia trên thế giới đi đầu trong việc thể chế hoá và đưa vào cuộc sống nguyên tắc nam

nữ bình đẳng trong công tước quốc tế về bình đẳng giới CEDAW

Việt Nam hiện là quốc gia đầu tiên ở Châu Á ký công ước này và cam kết về việc triển khai thực hiện công ước này tại Việt Nam Do đó, quyền bình đẳng giữa lao động nam và lao động nữ trong các lĩnh vực thuộc quá trình lao động, đặc biệt là quyền được làm việc trong điều kiện lao động an toàn, vệ sinh là vấn đề có tính tất yếu khách quan Đây cũng là một trong những lý do khẳng định sự cần thiết phải có các quy định về an toàn, vệ sinh lao động dành riêng cho lao động nữ

Trang 24

Ngoài ra, sự cần thiết của các quy định về an toàn, vệ sinh đối với lao động nữ được lý giải thông qua vai trò thực tế của các quy định này trong việc bảo vệ sức khoẻ, tính mạng, đảm bảo thiên chức của người phụ nữ trong gia đình sau khi hết thời gian làm việc

Cụ thể là, việc có những quy định riêng về an toàn, vệ sinh lao động cho lao

động nữ đã tạo điều kiện và cơ hội tiếp cận việc làm, tham gia vào quan hệ lao động của xã hội của lao động đó Từ đó, một số chị em phụ nữ khi được cân nhắc vào các vị trí nhất định trong quá trình sản xuất đã chứng tỏ được vai trò trong việc tham gia đóng góp vào việc sản xuất ra của cải vật chất cho xã hội, đóng góp vào việc tạo ra những lợi nhuận cho người sử dụng lao động, góp phần giải phòng sức lao động và tăng thu nhập cho lao động nữ và gia đình của họ trong điều kiện phúc lợi xã hội còn hạn chế

Dưới góc độ xã hội, việc ban hành những quy định riêng cho lao động nữ nhằm góp phần nâng cao nhận thức và thực hiện bình đẳng giới ở Việt Nam, giúp lao động

nữ ngày càng tự tin, hòa mình vào cộng đồng và phát huy hết tài năng, sức sáng tạo trong lao động, cả thiện vị trí trong gia đình và ngoài xã hội thông qua thu nhập ổn định, giúp an toàn và ổn định xã hội, tạo điều kiện thuận lợi cho lao động nữ thực hiện tốt cả hai chức năng lao động và chức năng là làm mẹ, chăm sóc và nuôi dạy con cái – lực lượng lao động tương lai

Dưới góc độ pháp lý, những quy định riêng đối với lao động nữ đã góp phần tạo nên tính đầy đủ, toàn diện và thống nhất trong pháp luật Việt Nam nói chung và pháp luật lao động nói riêng Điều này vừa thể hiện sự cam kết cao của nhà nước Việt Nam đối với các công ước về lao động và phụ nữ đã tham gia, vừa khẳng định tính nhân đạo, công bằng của chế độ xã hội mà chúng ta đang xây dựng Đồng thời, tạo điều kiện

để đối tượng lao động nữ có cơ hội và điều kiện tham gia, đóng góp có hiệu quả vào quá trình phát triển kinh tế – xã hội với số lượng ngày càng đông đảo, có văn hoá và tay nghề đáp ứng nền sản xuất tiến tiến, hiện đại trong thời kỳ hội nhập

Như vậy, các quy định ưu tiên cho lao động nữ không phải chỉ vì lợi ích riêng của đối tượng lao động này mà còn vì lợi ích của xã hội, của quốc gia Trong lĩnh vực

an toàn, vệ sinh lao động, việc xây dựng những quy định riêng cho lao động nữ không chỉ nhằm bảo vệ tương xứng, bảo đảm an toàn tính mạng, sức khoẻ, tạo lập địa vị bình đẳng cho nhóm đối tượng này mà còn nhằm đảm bảo tính ổn định, bền vững của nền

Trang 25

sản xuất, lợi ích và sự ổn định các gia đình là tế bào của xã hội và là tiền đề để xây dựng một xã hội tiến bộ, công bằng, dân chủ, văn minh

1.2.3 Lược sử pháp luật về an toàn, vệ sinh lao động đối với lao động nữ ở Việt Nam

Pháp luật về an toàn, vệ sinh đối với lao động nữ ở Việt Nam đã trải qua một quá trình phát triển, ngày càng đầy đủ, hoàn thiện đáp ứng yêu cầu bảo vệ quyền lợi chính đáng của lao động nữ và phù hợp với các cam kết quốc tế về lao động nữ mà Việt Nam tham gia ký kết hoặc phê chuẩn

Ngay từ rất sớm, vấn đề an toàn, vệ sinh lao động đã được quan tâm đề cập tới trong nhiều văn bản chỉ đạo, điều hành, đáng chú ý là một số văn bản như:

Sắc lệnh số 29/SL – sắc lệnh lao động đầu tiên của nước ta được ban hành

tháng 8 năm 1947, trong đó nêu rõ tại các điều 113 và 140: “Các xí nghiệp phải có đủ phương tiện đảm bảo an toàn và giữ gìn sức khoẻ cho công nhân”, “những nơi làm việc phải rộng rãi, thoáng khí và ánh sáng mặt trời”[16]

Ngày 18/12/1964, Hội đồng Chính phủ có Nghị định 181/CP ban hành Điều lệ tạm thời về Bảo hộ lao động Đây là văn bản tương đối toàn diện và hoàn chỉnh về các quy tắc bảo hộ lao động Điều lệ này được ban hành gồm 6 chương, 38 điều và có hiệu lực từ đó đến cuối năm 1991

Tháng 9/1991, Hội đồng Chính phủ đã thông qua và công bố ban hành Pháp lệnh Bảo hộ lao động Pháp lệnh có hiệu lực từ ngày 01/01/1992

Ngày 23/6/1994, Bộ luật Lao động đã được Quốc hội thông qua tại kỳ họp khoá IX, luật có hiệu lực từ ngày 10/01/1995 Ngoài chương IX và chương X quy định

về an toàn lao động và những quy định riêng đối với lao động nữ, bộ luật còn hàng chục điều ở các chương khác liên quan đên công tác bảo hộ lao động Bộ luật Lao động ra đời đánh dấu một giai đoạn phát triển cao hơn trong quá trình xây dựng pháp luật lao động, đặc biệt là các quy định về vấn đề an toàn, vệ sinh lao động đã được tập hợp lại thành một chế định riêng, cụ thể

Tiếp đó, ngày 31/12/1994, Chính phủ ban hành Nghị định 195/CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Bộ luật Lao động về thời gian làm việc, thời giờ nghỉ ngơi của người lao động

Trang 26

Ngày 26/3/1998, Thủ tướng Chính phủ ra chỉ thị số 13/CT/TTg nhằm tăng cường chỉ đạo và tổ chức thực hiện công tác bảo hộ lao động trong tình hình xã hội mới

Ngày 27/12/2002, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 110/2002/NĐ-CP về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 06/CP ngày 20/1/1995 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Bộ luật lao động sửa đổi về an toàn lao động, vệ sinh lao động

Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Lao động năm 2006 Bộ luật lao động sửa đổi đã có nhưng quy định rất cụ thể và chi tiết về an toàn lao động, vệ sinh lao động, cho đến nay, đây là Bộ luật Lao động hoàn chỉnh nhất, có những quy định rõ ràng nhất về quy tắc đảm bảo an toàn lao động, vệ sinh lao động

Cơ quan quản lý chuyên môn về lao động là Bộ Lao động - Thương binh và

Xã hội cũng đã ban hành theo thẩm quyền và phối hợp với cơ quan có thẩm quyền liên quan ban hành nhiều văn bản chỉ đạo cụ thể như:

Thông tư liên bộ số 03/TT – LB ngày 28/01/1994 giữa Bộ LĐ -TB & XH và

Bộ Y tế đã quy định các điều kiện lao động có hại và các công tác làm việc cấm sử dụng lao động vị thành niên

Thông tư số 08/LĐTB và XH-TT ngày 11/4/1995 của Bộ LĐ -TB & XH hướng dẫn công tác huấn luyện về an toàn lao động, vệ sinh lao động

Thông tư số 23/LĐTBXH – TT ngày 18/11/1996 của Bộ LĐ -TB & XH hướng dẫn chế độ thống kê, báo cáo định kỳ về tai nạn lao động

Thông tư số 13/TT-BYT ngày 2/10/1996 của Bộ Y tế hướng dẫn thực hiện việc quản lý sức khỏe người lao động và bệnh nghề nghiệp

Thông tư số 20/1997 TT-LĐTBXH ngày 17/12/1998 hướng dẫn về việc khen thưởng hàng năm về công tác bảo hộ lao động

Thông tư số 10/1998 TT – LĐTBXH ngày 28/5/1998 hướng dẫn thực hiện trang bị phương tiện bảo vệ cá nhân

Thông tư liên tịch số 03/1998 TTL- BLĐTBXH-BYT-TLĐLĐVN giữa Bộ LĐ -TB & XH - Bộ Y tế – Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam ban hành ngày 26/3/1998 hướng dẫn về khai báo, điều tra tai nạn lao động

Ngày 20/4/1998, thông tư liên tịch số 08/1998 TTLT BYT – BLĐTBXH đã được ban hành nhằm hướng dẫn thực hiện các quy định về bệnh nghề nghiệp

Trang 27

Ngày 31/10/1998, thông tư liên tịch số 14/1998/TTLT TLĐLĐVN hướng dẫn việc tổ chức thực hiện công tác bảo hộ lao động trong doanh nghiệp, cơ sở kinh doanh

BLĐTBXH-BYT-Thông tư liên tịch số 10/1999 TTLT-BYT-TLĐLĐVN ngày 17/3/1999 hướng dẫn chế độ bồi dưỡng bằng hiện vật đối với người lao động làm việc với các yếu tố nguy hiểm, độc hại

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX Đảng Cộng sản Việt Nam đã đưa ra đường lối chiến lược phát triển kinh tế – xã hội với sự nhấn mạnh đặc biệt: Thực hiện các chính sách xã hội hướng vào phát triển và lành mạnh hoá xã hội, thực hiện công bằng trong phân phối, tạo động lực mạnh mẽ phát triển sản xuất, tăng năng suất lao động xã hội, thực hiện bình đẳng trong các quan hệ xã hội Một trong những vấn đề

được đặc biệt quan tâm đó là “chăm lo cải thiện điều kiện làm việc, bảo đảm an toàn

và vệ sinh lao động, phòng chống tai nạn và bệnh nghề nghiệp cho người lao động”

[19; tr.105]

Như vậy, pháp luật an toàn, vệ sinh lao động là hệ thống các quy phạm mang tính bắt buộc, quy định về điều kiện lao động, quyền và nghĩa vụ của các tổ chức, cá nhân liên quan tới an toàn, vệ sinh lao động khi tham gia vào quan hệ lao động, về tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp nhằm điều chỉnh quan hệ lao động giữa người sử dụng lao động và người lao động

Trong lực lượng lao động, vấn đề an toàn, vệ sinh lao động đối với lao động nữ rất cần được đặc biệt quan tâm Điều này xuất phát từ đặc điểm về thể lực, về tâm sinh lý cũng như về chức năng xã hội của lực lượng lao động đặc biệt này Có thể nói, phụ nữ là chủ thể của sự kết hợp giữa hoạt động lao động sản xuất ra của cải vật chất cho gia đình và xã hội với hoạt động lao động tái sản xuất sức lao động con người Bên cạnh chức năng lao động, lao động nữ còn phải đảm nhận thiên chức làm

mẹ, vừa gánh vác công việc xã hội và chăm lo việc gia đình

Trên thực tế, vấn đề an toàn, vệ sinh lao động đối với lao động nữ đã được chú trọng và ngày càng được hoàn thiện với hệ thống các quy định pháp luật về lao động

Hệ thống pháp luật quy định về an toàn, vệ sinh lao động nói chung và đối với lao động nữ nói riêng đã được xây dựng với nhiều văn bản có hiệu lực pháp lý và tính khả thi cao, đặc biệt là sự ra đời của Bộ luật Lao động năm 1994 cùng với các Luật sửa đổi, bổ sung Bộ luật Lao động năm 2002, năm 2006 và năm 2007 Bên cạnh đó, Nhà

Trang 28

nước ta cũng tham gia vào một số công ước quốc tế ghi nhận quyền lợi và bảo vệ phụ

nữ, thể hiện rõ hơn sự quan tâm sâu sắc của Nhà nước tới đối tượng lao động đặc biệt này

Trang 29

CHƯƠNG 2

PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH VỀ AN TOÀN, VỆ SINH LAO ĐỘNG ĐỐI VỚI

LAO ĐỘNG NỮ VÀ THỰC TIỄN THỰC HIỆN Ở VIỆT NAM

2.1 Các quy định hiện hành về an toàn, vệ sinh lao động đối với lao động nữ

2.1.1 Các quy định chung về bảo đảm an toàn,vệ sinh lao động đối với lao động nữ

Khả năng làm việc và sức sáng tạo của người lao động nói chung, lao động nữ nói riêng phụ thuộc khá nhiều vào điều kiện làm việc Điều kiện làm việc bao gồm tập hợp các yếu tố vệ sinh công nghiệp, sinh lý, tâm lý xã hội và thẩm mỹ có tác động lên trạng thái, chức năng của cơ thể con người, ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng làm việc, quá trình tái sản xuất sức lao động và hiệu quả làm việc của lao động nữ khi đang tham gia quá trình lao động và sau khi kết thúc quá trình lao động

Pháp luật về an toàn, vệ sinh lao động đặt ra các quy định về đảm bảo an toàn,

vệ sinh chung đối với lao động nữ trong quá trình làm việc nhằm xác định trách nhiệm của người sử dụng lao động trong việc thiết lập điều kiện lao động thuận lợi đối với lao động nữ Từ đó hướng tới mục tiêu đảm bảo tại nơi làm việc không tồn tại hoặc tồn tại ở mức thấp nhất các yếu tố nguy hiểm, độc hại vượt quá giới hạn chịu đựng của lao động nữ về tâm sinh lý và sức khoẻ Các quy định chung về an toàn, vệ sinh lao động đối với lao động nữ thường bao gồm những vấn đề sau đây:

Thứ nhất, đơn vị sử dụng lao động phải đảm bảo những yêu cầu nghiêm ngặt

về an toàn, vệ sinh đối với nhà xưởng, máy móc, nguyên vật liệu, tổ chức sản xuất

Về vấn đề này, điều 97, Bộ luật lao động sửa đổi, bổ sung năm 2002 quy định: “người

sử dụng lao động phải đảm bảo nơi làm việc đạt tiêu chuẩn về không gian, độ thoáng,

độ sáng, đạt tiêu chuẩn vệ sinh cho phép về bụi, hơi, khí độc, phóng xạ, điện từ trường, nóng, ẩm, ồn, rung, và các yếu tố có hại khác Các yếu tố đó phải được định

kỳ kiểm tra đo lường” [25].

Các quy định này nhằm thiết lập nơi làm việc hợp lý, bảo vệ tốt nhất sức khoẻ người lao động Cụ thể là:

i) Máy móc, thiết bị bố trí khoa học, đảm bảo khoảng cách an toàn, phù hợp với trình tự gia công, vận chuyển và đi lại trong quá trình sản xuất;

Trang 30

ii) Nhà xưởng cao ráo, đủ ánh sáng, không khí, nền nhà bằng phẳng, sạch

sẽ, các chất thải, nước thải được xử lý đúng quy định;

iii) Nơi làm việc có nội quy, quy trình làm việc an toàn, hướng dẫn thao tác điều khiển, sử dụng máy móc đúng quy trình, kỹ thuật an toàn

Có thể nói, các quy định trên nếu được tổ chức thực hiện tốt sẽ giúp cho việc

thiết lập môi trường lao động thuận lợi, hạn chế đến mức thấp nhất tai nạn lao động có thể xảy ra Tuy nhiên trong quá triển khai thực hiện các quy định trên, vẫn phát sinh những vấn đề cần tiếp tục xem xét để sửa đổi, bổ sung Ví dụ như: chưa quy định đến việc phải có quy trình an toàn, vệ sinh lao động cho cả dây truyền sản xuất; thiếu danh mục máy móc, thiết bị và các chất bị cấm nhập khẩu và sử dụng do không đảm bảo về

an toàn, vệ sinh lao động; pháp luật hiện hành mới chỉ quan tâm chú trọng hai khâu cấp giấy phép nhập khẩu, việc khai báo, đăng ký và xin cấp giấy phép sử dụng các máy, thiết bị, thiết bị, vật tư và các chất có yêu cầu nghiêm ngặt về an toàn lao động,

mà chưa quan tâm đến quá trình thiết kế, vận chuyển, lắp đặt, bảo quản…

Việc quy định chưa đầy đủ, đồng bộ các quy định liên quan đã phần nào hạn chế đến hiệu quả của những quy phạm pháp luật về an toàn, vệ sinh lao động đã được

ban hành

Thứ hai, các đơn vị sử dụng lao động có trách nhiệm lập báo cáo khả thi về an

toàn, vệ sinh lao động khi xây dựng, cải tạo môi trường lao động

Khi xây dựng mới hoặc mở rộng, cải tạo cơ sở để sản xuất, sử dụng, bảo quản, lưu giữ và tàng trữ các loại máy, thiết bị, vật tư, các chất có yêu cầu nghiêm ngặt về an toàn lao động, vệ sinh lao động, người sử dụng lao động phải lập luận chứng về các biện pháp bảo đảm an toàn lao động, vệ sinh lao động đối với nơi làm việc của người lao động và môi trường xung quanh theo quy định của pháp luật với các nội dung chính như sau:

i) Địa điểm, quy mô, khoảng cách từ công trình, cơ sở đến khu dân cư và các công trình khác;

ii) Những yếu tố nguy hiểm, có hại, sự cố có thể phát sinh trong quá trình hoạt động, các giải pháp phòng ngừa và xử lý

Luận chứng về các biện pháp bảo đảm an toàn lao động, vệ sinh lao động được xây dựng phải được cơ quan thanh tra Nhà nước về an toàn, vệ sinh lao động phối hợp với các cơ quan hữu quan xem xét và chấp thuận

Trang 31

Thứ ba, pháp luật an toàn, vệ sinh lao động cũng đã đưa ra những quy định về

điều kiện lao động khi sử dụng lao động nữ tại Điều 116 Bộ luật lao động như sau:

“Nơi có sử dụng lao động nữ, phải có chỗ thay quần áo, buồng tắm và buồng vệ sinh nữ” [25] Cụ thể hoá vấn đề này, Thông tư số 79/1997/ TT-BTC (6/11/1997) Bộ Tài

chính đã có những biện pháp rất thiết thực để giúp đỡ các doanh nghiệp khi sử dụng nhiều lao động nữ

Tuỳ theo từng mức nguồn vốn và quy mô sử dụng lao động nữ, doanh nghiệp

có thể chi những khoản chi phí thích hợp vào mục đích mua sắm trang thiết bị bảo hộ lao động, cải tạo nhà xưởng, xây dựng nhà tắm, nhà vệ sinh nữ, xây dựng, sửa chữa mua sắm tài sản mau hỏng cho nhà trẻ, lớp mẫu giáo (nếu có) của doanh nghiệp để tạo điều kiện cho lao động nữ làm việc tại đây yên tâm làm việc

Như vậy, do những khác biệt về tâm lý, sức khoẻ và phải thực hiện chức năng sinh đẻ, khác với lao động nam, lao động nữ được cách ly hoàn toàn với những công việc nặng nhọc, nguy hiểm hoặc tiếp xúc với các chất độc hại có ảnh hưởng xấu đến chức năng sinh đẻ và nuôi con và có quyền hưởng những điều kiện về môi trường lao động, điều kiện sinh hoạt tại nơi làm việc thuận lợi Tuy nhiên, trên thực tế thực hiện, những quy định mang tính chất bảo vệ và ưu tiên trên cũng phần nào cản trở quá trình tham gia vào thị trường lao động của lao động nữ

2.1.2 Các quy định về an toàn nghề nghiệp và bảo vệ sức khoẻ của lao động

nữ

Thứ nhất, pháp luật lao động dành quyền ưu tiên cho lao động nữ, dành cho

đối tượng lao động này những quyền ưu đãi riêng biệt mà đối tượng lao động khác không có Đó là quyền được ưu tiên trong việc tuyển chọn vào làm việc khi mà lao động nữ đủ tiêu chuẩn tuyển chọn làm công việc phù hợp cả nam và nữ mà doanh nghiệp đang cần

Bên cạnh đó, người sử dụng lao động không được sa thải hoặc đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động đối với người lao động nữ vì lý do kết hôn, có thai, nghỉ thai sản, nuôi con dưới 12 tháng tuổi, trừ trường hợp doanh nghiệp chấm dứt hoạt động Trên thực tế, nhiều người lao động nữ luôn sợ bị chấm dứt hợp đồng lao động khi họ khi kết hôn, nghỉ thai sản, hay nuôi con nhỏ dưới 12 tháng vì người sử dụng lao động cho rằng khi có những sự kiện này, người lao động nữ sẽ không có nhiều thời

Trang 32

gian để tập trung hoàn thành công việc, ảnh hưởng tới chất lượng lao động của doanh nghiệp

Có thể nói, quy định này là một đảm bảo chắc chắn cho lao động nữ khi tham gia vào quan hệ lao động, đồng thời cũng chỉ rõ trách nhiệm của người sử dụng lao động trong những trường hợp này, ngăn chặn hành vi gây khó khăn cho lao động nữ trong doanh nghiệp Đồng thời, trong thời gian có thai, nghỉ thai sản, nuôi con nhỏ dưới 12 tháng tuổi, người lao động nữ được tạm hoãn việc đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động, kéo dài thời hiệu xem xét xử lý kỷ luật lao động, trừ trường hợp doanh nghiệp chấm dứt hoạt động

Pháp luật lao động còn cho phép người lao động nữ có thai có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động mà không phải bồi thường theo quy định tại Điều

41 của Bộ luật Lao động, nếu có giấy của thầy thuốc chứng nhận tiếp tục làm việc sẽ ảnh hưởng xấu tới thai nhi Trong trường hợp này, lao động nữ cũng không phải tuân thủ thời hạn báo trước đã được pháp luật quy định mà tùy thuộc vào thời hạn do thầy thuốc chỉ định Đây chính là những ngoại lệ riêng biệt dành cho lao động nữ

Thứ hai, pháp luật lao động xác định rõ các công việc, ngành nghề không được

sử dụng lao động nữ nhằm bảo vệ sức khoẻ của lao động nữ Cụ thể là Điều 113 Bộ luật Lao động quy định:

“Người sử dụng lao động không được sử dụng người lao động nữ làm những công việc nặng nhọc, nguy hiểm hoặc tiếp xúc với các chất độc hại có ảnh hưởng xấu tới chức năng sinh đẻ và nuôi con, theo danh mục do Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội và Bộ Y tế ban hành” Đối với các doanh nghiệp đang sử dụng lao động nữ làm các công việc nói trên, pháp luật lao động quy định rõ trách nhiệm của doanh nghiệp trong việc xây dựng kế hoạch đào tạo nghề, chuyển dần người lao động nữ sang công việc khác phù hợp, tăng cường các biện pháp bảo vệ sức khoẻ, cải thiện điều kiện lao động hoặc giảm bớt thời giờ làm việc Đồng thời, “người sử dụng lao động không được sử dụng người lao động nữ bất kỳ độ tuổi nào làm việc thường xuyên dưới hầm mỏ hoặc ngâm mình dưới nước” [25].

Tại nhiều doanh nghiệp, khi chưa thể thiết lập được môi trường lao động thuận lợi, NSDLĐ phải bố trí công việc cho lao động nữ sao cho vừa bảo vệ sức khoẻ của phái nữ, vừa không ảnh hưởng đến thiên chức làm mẹ, làm vợ của lao động nữ Cụ thể

Trang 33

là, Nhà nước quy định người sử dụng lao động không được bố trí lao động nữ làm những công việc nặng nhọc, nguy hiểm hoặc tiếp xúc với các chất độc hại có ảnh hưởng xấu đến chức năng sinh đẻ và nuôi con theo danh mục do Liên bộ Bộ LĐ TB &

XH – Bộ Y tế ban hành kèm theo Thông tư 03/TT- LB ngày 28/1/1994

Các điều kiện có hại không được sử dụng lao động nữ gồm 8 điều kiện chủ yếu,

cụ thể:

- Nơi có áp suất lớn hơn áp suất khí quyển

- Trong hầm lò

- Nơi cheo leo nguy hiểm

- Nơi làm việc không phù hợp với thần kinh, tâm lý phụ nữ

- Ngâm mình thường xuyên dưới nước, ngâm mình dưới nước bẩn dễ bị nhiễm trùng

- Nơi làm việc nặng nhọc quá sức (mức tiêu hao năng lượng trung bình trên 5 Kcal/ phút, nhịp tim trung bình trên 120/ phút)

- Tiếp xúc với phóng xạ hở

- Trực tiếp tiếp xúc với hoá chất có khả năng gây biến đổi gen

Ban hành kèm theo Thông tư 03/TT-LB ngày 28/1/1995 là Danh mục công việc không được sử dụng lao động nữ; các điều kiện có hại không được sử dụng lao động

nữ có thai hoặc đang cho con bú (dưới 12 tháng tuổi), lao động nữ vị thành niên gồm 5 điều kiện chủ yếu, cụ thể gồm:

i) Tiếp xúc trực tiếp với điện từ trường ở mức quá giới hạn cho phép; ii) Trực tiếp tiếp xúc với một số hoá chất mà sự tích luỹ của nó trong cơ

thể ảnh hưởng xấu đến chuyển hoá tế bào, dễ gây sảy thai, đẻ non, nhiễm trùng nhau thai, khuyết tật bẩm sinh, ảnh hưởng xấu đến nguồn sữa mẹ, viêm nhiễm đường hô hấp;

iii) Nhiệt độ không khí trong nhà xưởng từ 450C trở lên về mùa hè hoặc

từ 400C trở lên về mùa đông hoặc chịu ảnh hưởng của bức xạ nhiệt cao;

iv) Trong môi trường có độ rung cao hơn tiêu chuẩn cho phép;

v) Tư thế làm việc gò bó hoặc thiếu dưỡng khí

Điều 13 của Nghị định 195/CP ngày 31/12/1994 quy định “Không được sử dụng lao động nữ làm các công việc nặng nhọc, nguy hiểm hoặc tiếp xúc với các chất độc hại ảnh hưởng đến chức năng sinh đẻ và nuôi con Trong trường hợp đang sử

Trang 34

dụng mà chưa chuyển được họ sang công việc khác thì lao động nữ được giảm bớt ít nhất 2 giờ hàng ngày so với số giờ làm việc đã quy định mà vẫn được trả đủ lương”

[12]

Thứ ba, người sử dụng lao động có trách nhiệm trang bị phương tiện bảo vệ cá

nhân cho lao động nữ Phương tiện bảo vệ cá nhân là những dụng cụ phương tiện cần thiết mà người lao động phải được trang bị để sử dụng trong khi làm việc hoặc thực hiện nhiệm vụ trong điều kiện có các yếu tố nguy hiểm, độc hại khi các thiết bị an toàn

- vệ sinh lao động tại nơi làm việc chưa thể loại trừ hết các yếu tố nguy hiểm độc hại Phương tiện bảo vệ cá nhân trang bị cho người lao động phải phù hợp với việc ngăn ngừa có hiệu quả các tác hại của các yếu tố độc hại, nguy hiểm trong môi trường lao động nhưng dễ dàng trong sử dụng, bảo quản và không gây tác hại khác, phương tiện phải bảo đảm đúng tiêu chuẩn chất lượng của Nhà nước quy định

Việc trang bị phương tiện bảo hộ lao động cá nhân đối với lao động nữ trong quá trình làm việc là loại quy định được đánh giá là mang lại hiệu quả khá tốt trong việc bảo vệ sức khoẻ của lao động nữ Vấn đề này được quy định rõ tại Điều 100 và Điều 101 Bộ luật lao động và cụ thể hoá tại Nghị định 06/CP ngày 20/1/1995, Thông

tư số 10/ LĐTBXH – TT ngày 28/5/1998 và Quyết định 722/ LĐTBXH ngày 2/8/2000

đã quy định chi tiết về việc trang bị phương tiện bảo hộ lao động Theo các văn bản nêu trên, nơi làm việc có yếu tố nguy hiểm, độc hại, dễ gây tai nạn lao động phải được người sử dụng lao động trang bị phương tiện kỹ thuật, y tế, và trang bị bảo hộ lao động thích hợp để đảm bảo ứng cứu kịp thời khi xảy ra sự cố, tai nạn lao động và người lao động làm công việc có yếu tố nguy hiểm, gây độc hại phải được cấp đầy đủ phương tiện bảo vệ cá nhân; Người sử dụng lao động phải đảm bảo các phương tiện bảo vệ cá nhân đạt tiêu chuẩn chất lượng và quy cách theo quy định của pháp luật

Người sử dụng lao động có trách nhiệm trang bị phương tiện, hướng dẫn sử dụng và định kỳ kiểm tra các phương tiện bảo hộ lao động cá nhân trong quá trình lao động nữ làm việc Người sử dụng lao động phải tổ chức hướng dẫn người lao động sử dụng thành thạo các phương tiện bảo vệ cá nhân trước khi cấp phát và phải kiểm tra chặt chẽ quá trình sử dụng của người lao động

Các phương tiện bảo vệ cá nhân chuyên dùng có yêu cầu kỹ thuật cao như găng tay cách điện, ủng cách điện, mặt nạ phòng độc, dây an toàn, phao an toàn, sào cách điện Người sử dụng lao động cùng người lao động kiểm tra để bảo đảm tiêu chuẩn

Trang 35

chất lượng trước khi cấp phát, đồng thời định kỳ kiểm tra trong quá trình sử dụng và

mã số theo dõi Các phương tiện bảo vệ cá nhân sử dụng ở những nơi dễ gây nhiễm độc, nhiễm trùng, nhiễm phóng xạ thì sau khi sử dụng phải khử trùng, khử độc, tẩy xạ đảm bảo tiêu chuẩn vệ sinh và phải định kỳ kiểm tra

Người lao động làm mất hoặc làm hư hỏng phương tiện bảo vệ cá nhân đó được trang bị mà không có lý do chính đáng thì phải bồi thường theo quy định Người lao động phải có trách nhiệm giữ gìn phương tiện bảo vệ cá nhân được giao cất giữ

Mặc dù pháp luật lao động đã quy định khá chặt chẽ về điều kiện được trang bị phương tiện bảo hộ lao động, yêu cầu về trang thiết bị nhưng trên thực tế để các trang thiết bị này có thể phát huy tối đa khả năng bảo vệ lao động, đòi hỏi sự tuân thủ chấp hành nghiêm ngặt của các bên liên quan trong quan hệ lao động mà chủ yếu ở đây là người sử dụng lao động và người lao động:

Trên thực tế, quy định “nghiêm cấm người sử dụng lao động cấp phát tiền thay cho việc cấp phát phương tiện bảo vệ cá nhân hoặc giao tiền cho người lao động tự mua” mới chỉ kiểm soát được khâu cấp phát mà chưa kiểm soát được quá trình sử dụng, bảo quản phương tiện Vấn đề này cho đến nay vẫn bị thả nổi, do vậy, rất nhiều người lao động do nhận thức hạn chế, thiếu ý thức đã sử dụng phương tiện bảo hộ lao động được cấp phát vào mục đích riêng, sử dụng không đúng cách, không sử dụng thậm chí còn mang bán ngay sau khi được trang bị Các quy định về trang bị phương tiện kỹ thuật an toàn, vệ sinh lao động nằm rải rác trong một số văn bản cấp ngành hoặc cơ sở và mang tính chung chung, chưa có quy định cụ thể về hình thức, chất lượng… của phương tiện cung cấp, cũng như chưa đưa ra yêu cầu mức độ bắt buộc thực hiện

2.1.3 Các quy định về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi hợp lý để bảo vệ sức khoẻ của lao động nữ

Pháp luật lao động có những quy định riêng về thời giờ làm việc của lao động

nữ trong các trường hợp đặc biệt nhằm giúp họ thực hiện đầy đủ chức năng của người phụ nữ trong gia đình và trong xã hội:

i) Người sử dụng lao động không được sử dụng người lao động nữ có

thai từ tháng thứ bảy hoặc đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi làm thêm giờ, làm việc ban đêm và đi công tác xa;

Trang 36

ii) Người lao động nữ làm công việc nặng nhọc, khi có thai đến tháng thứ

bảy, được chuyển làm công việc nhẹ hơn hoặc được giảm bớt một giờ làm việc hàng ngày mà vẫn hưởng đủ lương;

iii) Người lao động nữ trong thời gian hành kinh được nghỉ mỗi ngày 30

phút; trong thời gian nuôi con dưới 12 tháng tuổi, được nghỉ mỗi ngày 60 phút trong thời gian làm việc, mà vẫn hưởng đủ lương

Việc yêu cầu lao động nữ làm thêm theo yêu cầu của người sử dụng lao động cũng được quy định hợp lý căn cứ vào những nghiên cứu khoa học về giới hạn sức chịu đựng tối đa của thể lực người phụ nữ

Do thời gian làm việc kéo dài (bao gồm cả thời gian làm việc trong giờ tiêu chuẩn và làm thêm) có ảnh hưởng rất lớn tới chất lượng lao động, sức khoẻ và khả năng tái sản xuất sức lao động của lao động nữ nên pháp luật lao động có xu hướng hạn chế việc huy động lao động nữ làm thêm Thống kê cho thấy, các tai nạn lao động thường xảy ra vào cuối ngày, cuối ca làm việc hoặc khi lao động làm thêm giờ, do cường độ lao động căng thẳng, vượt quá giới hạn sức chịu đựng của sức khoẻ người lao động… lúc này xuất hiện các tác động thiếu chính xác, phản xạ chậm nên không

xử lý kịp thời đối với các tình huống, sự cố do đó rất dễ dẫn đến tai nạn lao động Việc quy định về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi hợp lý sẽ góp phần bảo vệ sức khoẻ,

an toàn tính mạng cho người lao động nói chng và lao động nữ nói riêng

Ngoài việc tuân thủ những quy định chung về thời giờ làm thêm của người lao động như: việc làm thêm giờ phải trên cơ sở thoả thuận nhưng không quá 4 giờ/ ngày,

200 giờ/ năm; một số trường hợp đặc biệt được phép làm thêm không quá 300 giờ/ năm, Điều 3 Nghị định 23/CP của Chính phủ ngày 28/4/1996 đưa thêm quy định riêng như sau đối với lao động nữ:

“Căn cứ vào đặc điểm, điều kiện làm việc, tính chất công việc của doanh nghiệp, người sử dụng lao động nữ chủ động bàn với công đoàn lập kế hoạch

bố trí lao động nữ làm việc theo thời gian biểu linh hoạt, làm việc không trọn ngày, không trọn tuần, giao việc làm tại nhà, tạo điều kiện cho lao động nữ có việc làm thường xuyên, phù hợp với nguyện vọng chính đáng của lao động nữ

”[13]

Trang 37

Để giúp cho việc thuận lợi áp dụng, thực hiện các quy định này, Bộ LĐ -TB &

XH đã có Thông tư số 03/ LĐTBXH – TT ngày 13/1/1997 quy định về chế độ làm việc của lao động nữ bao gồm hình thức và các nguyên tắc áp dụng như:

- Làm việc theo thời gian biểu linh hoạt là việc bố trí, sử dụng lao động nữ làm việc với thời gian khác với thời gian làm việc theo quy định chung của cơ quan, đơn vị;

- Làm việc không trọn ngày, trọng tuần là việc bố trí lao động nữ làm việc với thời gian ít hơn số giờ làm việc chung của cơ quan trong 1 ngày hoặc 1 tuần;

- Giao việc làm tại nhà đảm bảo không ảnh hưởng đến yêu cầu của sản xuất kinh doanh, vừa mang lại lợi ích cho cả người lao động và người sử dụng lao động

Tuy nhiên, để tránh việc người sử dụng lao động lợi dụng chế độ ưu đãi này để

vi phạm quyền lợi của lao động nữ, pháp luật quy định không được dùng chế độ này

để thực hiện việc xử lý kỷ luật đối với trường hợp lao động nữ vi phạm kỷ luật lao động hoặc bố trí, sử dụng lao động nữ làm ca đêm trái với pháp luật lao động hiện hành; thu nhập của lao động nữ khi bố trí làm việc theo các hình thức nêu trên phải trên cơ sở thoả thuận giữa lao động nữ và người sử dụng lao động bằng văn bản

Những quy định như được nêu ở trên đã chỉ rõ quyền của lao động nữ trong trường hợp cụ thể và qua đó buộc người sử dụng lao động thấy rõ trách nhiệm của mình cũng như đảm bảo thực hiện những yêu cầu của pháp luật

2.1.4 Các quy định về chế độ thai sản đối với lao động nữ

Về chế độ thai sản đối với lao động nữ, Bộ luật Lao động và Luật Bảo hiểm xã hội năm 2006 đã có những quy định cụ thể, đảm bảo thực hiện quyền và thiên chức của người phụ nữ Liên quan tới chế độ này, lao động nữ được ưu tiên dành thời gian nghỉ để đi khám thai, dưỡng sức, được nghỉ và hưởng chế độ khi bị sảy thai, khi sinh con và đặc biệt trong trường hợp nhận trẻ sơ sinh làm con nuôi, lao động nữ vẫn được hưởng chế độ bảo hiểm xã hội Đây chính là một trong những đảm bảo giúp lao động

nữ yên tâm thực hiện chức năng cao cả - làm mẹ cũng như bù đắp một phần chi phí cho lao động nữ trong thời gian họ không đi làm, góp phần ổn định cuộc sống của lao động nữ

Trong thời gian nghỉ việc để đi khám thai, để thực hiện biện pháp kế hoạch hoá gia đình hoặc do sảy thai; nghỉ để chăm sóc con dưới bảy tuổi ốm đau, nhận trẻ sơ sinh

Trang 38

làm con nuôi, người lao động nữ được hưởng trợ cấp bảo hiểm xã hội hoặc được người

sử dụng lao động trả một khoản tiền bằng mức trợ cấp bảo hiểm xã hội Thời gian nghỉ việc và chế độ trợ cấp nói tại khoản này do Chính phủ quy định Trường hợp người khác thay người mẹ chăm sóc con ốm đau, thì người mẹ vẫn được hưởng trợ cấp bảo hiểm xã hội Hết thời gian nghỉ thai sản theo chế độ và cả trong trường hợp được phép nghỉ thêm không hưởng lương, khi trở lại làm việc, người lao động nữ vẫn được bảo đảm chỗ làm việc

2.1.5 Giải quyết quyền lợi cho lao động nữ bị tai nạn lao động hoặc bệnh nghề nghiệp

Khi làm việc trong điều kiện lao động không đảm bảo các tiêu chuẩn vệ sinh,

an toàn lao động cho phép, người lao động phải đối mặt với các yếu tố nguy hiểm, độc hại như vật rơi, đổ, cháy nổ, tiếng ồn, rung, xóc… đây là nguy cơ trực tiếp dẫn đến những hậu quả nghiêm trọng về tính mạng, sức khoẻ Những hậu quả đó có thể là các tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, tuổi thọ nghề nghiệp bị rút ngắn, khả năng lao động suy giảm… Nhằm hạn chế những hậu quả nói trên, pháp luật về an toàn, vệ sinh lao động đã xác lập cơ chế khắc phục những hậu quả trên thông qua các quy phạm pháp luật được quy định tại Bộ luật lao động và Luật Bảo hiểm xã hội Cụ thể là:

Những trường hợp được coi là tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp:

Điều 105 của Bộ luật Lao động sửa đổi quy định “tai nạn lao động là tai nạn gây tổn thương cho bất kỳ bộ phận, chức năng nào của cơ thể người lao động hoặc gây tử vong, xảy ra trong quá trình lao động, gắn liền với công việc, nhiệm vụ được giao” [25]

Cụ thể, luật Bảo hiểm xã hội quy định các trường hợp được coi là tai nạn lao

động bao gồm: 1 Bị tai nạn trong giờ làm việc, tại nơi làm việc, kể cả làm việc ngoài giờ do yêu cầu của người sử dụng lao động; 2 Bị tai nạn ngoài giờ làm việc khi thực hiện công việc theo yêu cầu của người sử dụng lao động; 3 Bị tai nạn trên tuyến đường đi và về từ nơi ở đến nơi làm việc

Điều 106 của Bộ luật Lao động sửa đổi quy định “bệnh nghề nghiệp là bệnh phát sinh do điều kiện lao động có hại của nghề nghiệp tác động đối với người lao động Danh mục các loại bệnh nghề nghiệp do Bộ Y tế và Bộ LĐ, TB & XH ban hành sau khi lấy ý kiến của TLĐ LĐVN và đại diện của người sử dụng lao động” [25]

Trang 39

Hiện nay có 21 loại bệnh được xếp vào danh mục bệnh nghề nghiệp quy định tại Phụ lục 1 ban hành kèm theo Thông tư liên bộ số 08/TTLB ngày 19/5/1976, Thông

tư liên bộ số 29/ TTLB ngày 25/12/1991 và Quyết định số 167/BYT – QĐ

Người lao động nữ khi bị tai nạn lao động hoặc bệnh nghề nghiệp được hưởng các quyền lợi như sau:

i) Người sử dụng lao động phải thanh toán các khoản chi phí y tế và tiền lương

từ khi sơ cứu, cấp cứu đến khi điều trị ổn định thương tật;

ii) Được nhận đủ tiền lương trong thời gian điều trị tai nạn lao động hoặc bệnh

nghề nghiệp, tiền lương của lao động nữ trong trường hợp này được tính theo mức tiền lương đóng bảo hiểm xã hội của tháng trước khi bị tai nạn lao động;

iii) Sau khi điều trị thương tật ổn định người bị tai nạn lao động được giới thiệu

đi giám định khả năng lao động tại hội đồng giám định y khoa theo Quyết định của Bộ Y tế Căn cứ vào kết quả giám định sức khoẻ, người bị tai nạn lao động được hưởng trợ cấp của bảo hiểm xã hội một lần từ 4 đến 12 tháng lương tối thiểu nếu mức suy giảm khả năng lao động từ 5 → 30% hoặc được hưởng trợ cấp hàng tháng với mức từ 0,4 đến 1,6 tháng tiền lương tối thiểu nếu mức suy giảm khả năng lao động từ 31 → 100%;

iv) Được phụ cấp phục vụ 80% mức tiền lương tối thiểu nếu mức suy giảm khả

năng lao động từ 81% trở lên mà bị liệt cột sống, mù hai mắt, cụt hai chi, tâm thần nặng;

v) Được trang cấp phương tiện trợ giúp cho sinh hoạt phù hợp với tổn thất

chức năng do tai nạn gây ra với niên hạn sử dụng của từng loại được quy định theo Thông tư số 06 của Bộ Lao động - Thường binh và Xã hội ngày 4/4/1995;

vi) Người lao động chết khi bị tai nạn lao động (kể cả chết trong thời gian điều

trị lần đầu) thì gia đình được trợ cấp một lần bằng 24 tháng tiền lương tối thiểu và được hưởng chế độ tử tuất

2.1.6 Quy định về thanh tra và xử lý các trường hợp vi phạm quy định về an toàn, vệ sinh đối với lao động nữ

Bên cạnh những quy định xác định quyền lợi của lao động nữ, trách nhiệm của Nhà nước, của người sử dụng lao động trong việc đảm bảo an toàn, vệ sinh lao động cho đối tượng lao động đặc biệt này, Nhà nước ta còn quy định rất chặt chẽ công tác

Trang 40

quản lý, thanh tra, xử phạt về an toàn, vệ sinh lao động Điều này được thể hiện tại Điều 118 của Bộ luật Lao động và Nghị định số 113/2004/NĐ-CP ngày 16/04/2004 của Chính phủ quy định xử phạt hành chính về hành vi vi phạm pháp luật lao động Các doanh nghiệp sử dụng nhiều lao động nữ phải phân công người trong bộ máy quản

lý điều hành doanh nghiệp làm nhiệm vụ theo dõi vấn đề lao động nữ; khi quyết định những vấn đề liên quan đến quyền và lợi ích của phụ nữ và trẻ em, phải tham khảo ý kiến của đại diện những người lao động nữ Trong số Thanh tra viên lao động phải có

tỷ lệ thích đáng nữ Thanh tra viên

Nghị định số 113 quy định hai hình thức xử phạt chính là cảnh cáo và phạt tiền Khoản 1 Điều 15 của Nghị định số 113 quy định hình thức phạt tiền từ 1.000.000 đến 5.000.000 đối với tổ chức, cá nhân khi có một trong các hành vi vi phạm pháp luật như:

- Không có chỗ thay quần áo, buồng tắm và buồng vệ sinh nữ tại nơi làm việc

- Không cho lao động nữ nghỉ 30 phút mỗi ngày trong thời gian hành kinh hoặc nghỉ 60 phút mỗi ngày trong thời gian nuôi con dưới 12 tháng tuổi

- Có hành vi phân biệt đối xử với phụ nữ, xúc phạm danh dự và nhân phẩm lao động nữ quy định

- Sử dụng lao động nữ làm những công việc nặng nhọc, nguy hiểm hoặc tiếp xúc với các chất độc hại

Bên cạnh đó, tổ chức, cá nhân vi phạm hành chính về pháp luật an toàn, vệ sinh lao động còn có thể bị áp dụng một hoặc nhiều biện pháp khắc phục hậu quả như buộc khắc phục, sửa chữa đối với các máy, thiết bị không bảo đảm các tiêu chuẩn về an toàn lao động và vệ sinh lao động; buộc kiểm định và đăng ký các loại máy, thiết bị, vật tư, các chất có yêu cầu nghiêm ngặt về an toàn lao động và vệ sinh lao động

Ngày đăng: 17/03/2021, 10:35

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w