Những thách thức đối với các chủ thể có trách nhiệm bảo vệ quyền con người trong việc ứng dụng trí tuệ nhân tạo .... Trách nhiệm bảo vệ quyền con người yêu cầu tất cả các chủ thể có trác
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: TS LÃ KHÁNH TÙNG
Hà Nội – 2020
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả được nêu trong Luận văn chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các trích dẫn, số liệu, ví dụ minh họa trong Luận văn bảo đảm tính trung thực, tin cậy và độ chính xác Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội
Vậy tôi viết Lời cam đoan này kính đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể bảo vệ Luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, tháng 09 năm 2020
NGƯỜI CAM ĐOAN
Đoàn Văn Nhật
Trang 4DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
AGI Artificial General Intelligence
(Trí tuệ nhân tạo tổng quát)
AI Artificial Intelligence
(Trí tuệ nhân tạo)
ICCPR International Convenant on Civil and Polotical Rights
(Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị)
ICESCR International Convenant on Economic, Social and Cultural Rights
(Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa)
UDRH Universal Declaration of Human Rights
(Tuyên ngôn phổ quát về quyền con người)
UNDP United Nations Development Programme
(Chương trình phát triển Liên hợp quốc)
UPR Universal Periodic Review
(Cơ chế đánh giá định kỳ toàn thể)
Trang 5MỤC LỤC
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
MỞ ĐẦU 1
Chương 1 8
KHÁI QUÁT VỀ TRÍ TUỆ NHÂN TẠO VÀ QUYỀN CON NGƯỜI 8
1.1 Trí tuệ nhân tạo và quá trình phát triển của nó 8
1.1.1 Khái niệm và đặc điểm của trí tuệ nhân tạo 8
1.1.2 Lược sử quá trình phát triển của trí tuệ nhân tạo 11
1.2 Quyền con người và chủ thể có trách nhiệm bảo vệ 15
1.2.1 Khái niệm quyền con người 15
1.2.2 Trách nhiệm bảo vệ quyền con người 17
1.2.3 Chủ thể có trách nhiệm bảo vệ quyền con người 20
1.3 Mối quan hệ giữa trí tuệ nhân tạo và quyền con người 24
1.4 Sự cần thiết của việc tăng cường trách nhiệm bảo vệ quyền con người trong việc ứng dụng trí tuệ nhân tạo 27
Chương 2 31
ẢNH HƯỞNG CỦA VIỆC ỨNG DỤNG TRÍ TUỆ NHÂN TẠO 31
ĐỐI VỚI TRÁCH NHIỆM BẢO VỆ QUYỀN CON NGƯỜI 31
2.1 Những ảnh hưởng tích cực của trí tuệ nhân tạo đối với trách nhiệm bảo vệ quyền con người 31
2.2 Những ảnh hưởng tiêu cực của trí tuệ nhân tạo đối với trách nhiệm bảo vệ quyền con người 33
2.2.1 Quyền bình đẳng, không bị phân biệt đối xử và được xét xử công bằng 34
Trang 62.2.2 Quyền sống và an toàn cá nhân 35
2.2.3 Quyền riêng tư 37
2.2.4 Quyền sở hữu 39
2.2.5 Quyền tự do ngôn luận và biểu đạt 41
2.3 Những thách thức đối với các chủ thể có trách nhiệm bảo vệ quyền con người trong việc ứng dụng trí tuệ nhân tạo 43
2.3.1 Về phía các nhà nước 43
2.3.2 Về phía các doanh nghiệp 50
2.3.3 Về phía các chủ thể khác 53
Chương 3 55
GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG TRÁCH NHIỆM BẢO VỆ QUYỀN CON NGƯỜI TRONG VIỆC ỨNG DỤNG TRÍ TUỆ NHÂN TẠO
VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM ĐỐI VỚI VIỆT NAM 55
3.1 Giải pháp tăng cường trách nhiệm bảo vệ quyền con người trong việc ứng dụng trí tuệ nhân tạo 55
3.1.1 Giải pháp thể chế 55
3.1.2 Giải pháp kỹ thuật 64
3.1.3 Giải pháp xã hội 67
3.2 Bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam về tăng cường trách nhiệm bảo vệ quyền con người khi ứng dụng trí tuệ nhân tạo 68
KẾT LUẬN 76
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ 78
LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN VĂN 78
TÀI LIỆU THAM KHẢO 79
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Quyền con người là những giá trị phổ quát, thiêng liêng mà bất cứ ai không phân biệt dân tộc, màu da, địa vị xã hội, giới tính, tuổi tác … đều được hưởng thụ như nhau Những giá trị phổ quát, thiêng liêng ấy được thừa nhận
và được bảo vệ bởi các văn kiện pháp lý quốc tế, hệ thống pháp luật quốc gia
và hệ thống các cơ quan chuyên môn về quyền con người Trách nhiệm bảo
vệ quyền con người trên thực tế thuộc về mọi tổ chức, cá nhân, song vai trò đầu tiên và trước hết thuộc về Nhà nước Bởi lẽ, tất cả cá nhân và tổ chức trong xã hội vừa là chủ thể của quyền, vừa là chủ thể của trách nhiệm trong mối quan hệ với quyền con người Các Nhà nước cũng vậy, vừa là chủ thể đóng vai trò chính trong việc bảo vệ quyền con người, đồng thời cũng là chủ thể chính vi phạm quyền con người Trách nhiệm bảo vệ quyền con người yêu cầu tất cả các chủ thể có trách nhiệm tôn trọng, bảo đảm và thúc đẩy quá trình thực hiện quyền được thừa nhận trong Bộ luật Nhân quyền quốc tế và hệ thống pháp luật quốc gia bằng hệ thống các cơ quan chuyên môn
Hiện nay, cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ Tư đang diễn ra và có sức lan tỏa rất mạnh mẽ trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội AI với tư cách là một trong những thành tựu nổi bật của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ Tư chưa có một định nghĩa thống nhất, mà được hiểu theo nhiều phương diện khác nhau Điều này là do sự phát triển nhanh chóng của công nghệ số, định nghĩa về AI cũng phát triển và ngày càng mở rộng nội hàm Nếu như trước đây AI được biết đến thông qua các bộ phim khoa học viễn tưởng thì ngày nay nó đã hiện diện ở tất cả các lĩnh vực của đời sống theo những chiều hướng khác nhau Một mặt, AI đem lại những lợi ích như: hỗ trợ chẩn đoán hình ảnh, phát hiện bệnh hiểm nghèo, dự báo thiên tai, tham gia vào quá trình quản trị nhà nước… Mặt khác, AI có thể bị lạm dụng, trở thành
Trang 8tác nhân xâm phạm quyền con người, nhất là trong điều kiện cường độ phát triển nhanh chóng thì sự vi phạm sẽ không dừng lại
Trong các điều kiện ngăn chặn sự vi phạm quyền con người: chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và pháp luật… thì pháp luật có vai trò quan trọng nhất Bởi vì, ở phạm vi quốc tế, pháp luật là sự ghi nhận của Liên hợp quốc và các tổ chức quốc tế khác; ở phạm vi quốc gia, pháp luật được nhà nước thừa nhận về giá trị của con người, là phương tiện hữu hiệu để Liên hợp quốc, các
tổ chức quốc tế, tổ chức khu vực và các nhà nước bảo vệ, thúc đẩy quyền con người Pháp luật tạo ra những nguyên tắc, tiêu chuẩn, căn cứ pháp lý để mọi chủ thể thực hiện trách nhiệm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của chính mình
và những cá nhân bị vi phạm; và chính pháp luật còn được thể hiện trong mối quan hệ với các điều kiện khác như: chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội… Pháp luật quốc tế, khu vực và các quốc gia đều quy định trách nhiệm bảo vệ quyền con người Tuy nhiên, trong điều kiện hoàn cảnh là sự phát triển mạnh mẽ của khoa học, công nghệ, đặc biệt là việc ứng dụng AI ngày càng phổ biến, thì hệ thống những quy định và vai trò của các cơ quan chuyên môn có trách nhiệm bảo vệ quyền con người chưa thật sự phù hợp
Việt Nam là quốc gia đang phát triển, có nền văn hóa đa dạng, có lực lượng lao động đông đúc việc ứng dụng AI ít nhiều được thể hiện trong tất
cả các lĩnh vực của đời sống xã hội Tuy nhiên, cũng như các quốc gia khác, khuôn khổ pháp luật ở Việt Nam quy định về trách nhiệm bảo vệ quyền con người vẫn còn những hạn chế nhất định, nhất là khi ứng dụng AI – một lĩnh vực mới, luôn phát triển không ngừng
Chính bởi những lý do trên mà tác giả lựa chọn đề tài: “Trách nhiệm
bảo vệ quyền con người trong việc ứng dụng trí tuệ nhân tạo” làm luận
văn thạc sĩ của mình Thông qua luận văn, tác giả mong muốn góp phần làm sáng tỏ những nội dung lý luận, thực tiễn và pháp luật về trách nhiệm bảo vệ quyền con người trong việc ứng dụng AI trên phạm vi toàn cầu và một số khu vực, quốc gia đi đầu trong lĩnh vực này Từ đó tác giả đề xuất giải pháp tăng
Trang 9cường trách nhiệm bảo vệ quyền con người khi ứng dụng AI nói chung, đồng thời gợi mở bài học kinh nghiệm cho Việt Nam trong thời gian tới
2 Tình hình nghiên cứu
Quyền con người và trách nhiệm bảo vệ quyền con người là nội dung quan trọng được cộng đồng quốc tế và các quốc gia đặc biệt coi trọng trong hoạt động xây dựng và thực hiện pháp luật Trong điều kiện sự phát triển mạnh mẽ của khoa học, công nghệ mà đặc biệt là hệ thống AI, trách nhiệm bảo vệ quyền con người khỏi những rủi ro từ AI gây ra lại càng quan trọng hơn bao giờ hết Để hoàn thành luận văn này, tác giả nghiên cứu, tham khảo những nhóm tài liệu sau:
Thứ nhất, nhóm công trình nghiên cứu về quyền con người và trách
nhiệm bảo vệ quyền con người nói chung: Giáo trình “Lý luận và pháp luật về
quyền con người” do nhóm tác giả Nguyễn Đăng Dung, Vũ Công Giao, Lã
Khánh Tùng thuộc Khoa Luật, ĐHQG Hà Nội (đồng chủ biên), Nxb Chính trị
quốc gia, 2015; Sách tham khảo “Giới thiệu Công ước quốc tế về các quyền
dân sự và chính trị (ICCPR, 1966)”, do nhóm tác giả Lã Khánh Tùng, Vũ
Công Giao, Tường Duy Kiên thuộc Trung tâm nghiên cứu quyền con người
và quyền công dân biên soạn, Nxb Hồng Đức, 2012; Sách “Doanh nghiệp và
quyền con người – Một số vấn đề cơ bản”, do nhóm tác giả Nguyễn Thị
Thanh Hải, Lã Khánh Tùng, Đinh Hồng Hạnh biên soạn, Nxb Tri thứ, 2017;
Sách tham khảo “Cơ quan nhân quyền quốc gia 101 câu hỏi – đáp” do tác giả
Lã Khánh Tùng biên soạn, Nxb Hồng Đức, 2017
Thứ hai, nhóm công trình nghiên cứu về ngành khoa học máy tính và AI,
bao gồm cả tài liệu tiếng Việt và tiếng Anh Tài liệu tiếng Việt gồm: Sách
“Trí tuệ nhân tạo – Các phương pháp giải quyết vấn đề và kỹ thuật xử lý tri
thức” do tác giả Nguyễn Thanh Thủy biên soạn, Nxb Khoa học kỹ thuật,
1995; Bài báo “Trí tuệ nhân tạo trong thời đại số: Bối cảnh thế giới và liên hệ
với Việt Nam” được đăng trên Tạp chí Công thương, do nhóm tác giả Nguyễn
Thanh Thủy, Hà Quang Thụy, Phan Xuân Hiếu, Nguyễn Trí Thành biên soạn
Trang 10Tài liệu tiếng Anh có sách “Artificial Intelligence: A Modern Approach”, do
nhóm tác giả Stuart Russell và Peter Norvig biên soạn, 2010
Thứ ba, nhóm công trình nghiên cứu liên quan cụ thể hơn đến trách
nhiệm bảo vệ quyền con người khi ứng dụng AI, bao gồm cả tài liệu tiếng
Việt và tiếng Anh Tài liệu tiếng Việt có: Sách tham khảo “Trí tuệ nhân tạo
với pháp luật và quyền con người” do nhóm tác giả Nguyễn Thị Quế Anh, Vũ
Công Giao, Mai Văn Thắng đồng chủ biên, Nxb Tư pháp, 2019; Sách chuyên
khảo “Xây dựng và hoàn thiện khung pháp lý về tiền ảo trong bối cảnh hội
nhập và phát triển” do tác giả Nguyễn Minh Oanh chủ biên, Nxb Tư pháp,
2019; Sách “Life 3.0 – Loài người trong kỷ nguyên trí tuệ nhân tạo” do tác giả
Max Tegmark biên soạn, (Hiểu Trần và Thảo Trần dịch), Nxb Thế giới, 2019;
Sách “AI – Bước tiến đột phá hay tham vọng kinh tế của 9 gã khổng lồ” do tác
giả Amy Webb biên soạn, (Phượng Linh dịch), Nxb Đại học kinh tế quốc
dân, 2019; Bài báo “Quyền con người và pháp luật trong thời đại trí tuệ nhân
tạo” do tác giả Nguyễn Minh Tuấn đăng trong Kỷ yếu Hội thảo khoa học
quốc tế: Luật học trước biến đổi của thời đại, 2019
Tài liệu tiếng Anh có: Báo cáo “Peparing for the future of artificial
intelligence” (Dịch: Chuẩn bị cho tương lai của trí tuệ nhân tạo), do Văn
phòng điều hành của Hội đồng Chủ tịch Ủy ban khoa học và công nghệ quốc
gia Hoa Kỳ biên soạn, Washington, D.C, 2016; Báo cáo “Human rights in the
robot age - Challenges arising from the use of robotics, artificial intelligence, and virtual and augmented reality”, (Dịch: Nhân quyền trong thời đại robot –
Những thách thức phát sinh từ việc sử dụng robot, trí tuệ nhân tạo và thực tế
ảo tăng cường), do Ủy ban Nghị viện của Hội đồng Châu Âu chủ trì biên
soạn, 2017; Bài viết “Legal Status of Artificial Intelligence Across Countries:
Legislation on the Move”, (Dịch: Tình trạng pháp lý của trí tuệ nhân tạo tại
các quốc gia: Pháp luật về việc thay đổi), do tác giả A Atabekov và O Yastrebov, đăng trên Tạp chí Nghiên cứu Châu Âu, 2018
Trang 11Ngoài ra, tác giả còn tham khảo một số bài báo của các tác giả khác nhau
như: Đặng Thị Thu Hương, “Ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong việc cung cấp
dịch vụ công tại Hồng Kông”; Tú Anh, “Mỹ bán vũ khí cho Đài Loan : một công đôi ba việc”; Ngọc Minh, “Bảo đảm quyền riêng tư dữ liệu”; Thiên
Long, “Cha đẻ của trí tuệ nhân tạo lo ngại về việc Trung Quốc lạm dụng AI
để giám sát người dân”; Thiên Hương (tổng hợp), “Hate speech trên mạng xã hội - đâu là giới hạn?”; Phạm Thị Thu Hà, “Phát triển trí tuệ nhân tạo (AI) tại Việt Nam: Thực trạng, kinh nghiệm quốc tế và xu hướng phát triển”
Đánh giá chung thì các công trình được công bố trên đây có nội dung đề cập đến trách nhiệm bảo vệ quyền con người nói chung và bước đầu đề cập đến trách nhiệm bảo vệ quyền con người khi ứng dụng AI Tuy nhiên, trong những công trình này chưa có một công trình nào tiếp cận một cách toàn diện,
hệ thống, đồng bộ về trách nhiệm bảo vệ quyền con người trong việc ứng dụng AI Mặc dù vậy, các công trình nêu trên vẫn là những tài liệu tham khảo quan trọng, quý báu để tác giả hoàn thành luận văn
3 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
3.1 Mục đích
Làm rõ những vấn đề lý luận chung và pháp luật về trách nhiệm bảo vệ quyền con người trong việc ứng dụng AI Nghiên cứu ảnh hưởng của việc ứng dụng AI đối với quyền con người, đồng thời đánh giá những nỗ lực và thách thức của các chủ thể có trách nhiệm bảo vệ quyền con người khi ứng dụng AI Từ đó tác giả kiến nghị giải pháp tăng cường trách nhiệm bảo vệ quyền con người trong việc ứng dụng AI nói chung và bước đầu đưa ra khuyến nghị đối với Việt Nam nói riêng trong thời gian tới
3.2 Nhiệm vụ
Để đạt được mục đích nghiên cứu, nhiệm vụ nghiên cứu đặt ra là:
- Làm rõ những vấn đề lý luận và pháp luật về trách nhiệm bảo vệ quyền con người trong việc ứng dụng AI
Trang 12- Phân tích ảnh hưởng của AI đối với quyền con người, đồng thời đánh giá những nỗ lực và thách thức đối với các chủ thể có trách nhiệm bảo vệ quyền con người trong việc ứng dụng AI
- Kiến nghị giải pháp tăng cường trách nhiệm bảo vệ quyền con người trong việc ứng dụng AI nói chung và đưa ra bài học kinh nghiệm đối với nước
ta vào thời gian tới
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu vấn đề lý luận và pháp luật quốc tế, khu vực và pháp luật một số quốc gia về trách nhiệm bảo vệ quyền con người trong việc ứng dụng AI
Luận văn cũng khảo sát những ảnh hưởng hai chiều của AI đối với quyền con người, đồng thời nghiên cứu sự cần thiết và giải pháp bảo vệ quyền con người trong việc ứng dụng AI
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu của luận văn được giới hạn như sau:
- Những vấn đề lý luận chung về trách nhiệm bảo vệ quyền con người trong việc ứng dụng AI
- Quy định của pháp luật quốc tế, pháp luật một số khu vực, một số quốc gia và pháp luật Việt Nam về trách nhiệm bảo vệ quyền con người trong việc ứng dụng AI
Luận văn không tập trung phân tích nội hàm các quyền con người, tuy có
đề cập đến một số quyền con người bị tác động bởi AI để làm cơ sở cho những nhận định, đánh giá
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của đề tài
Luận văn được nghiên cứu dựa trên hệ thống các cơ sở lý luận bao gồm:
- Quan điểm của Liên hợp quốc và cộng đồng quốc tế về quyền con người được thể hiện thông qua Bộ luật Nhân quyền và các văn kiện pháp lý
Trang 13quốc tế chuyên biệt; Hệ thống văn kiện pháp lý khu vực, một số quốc gia và Việt Nam về quyền con người
- Quan điểm của một số học giả pháp lý, các nhà lập pháp và thực tiễn thực hiện pháp luật trên thế giới, các khu vực và ở Việt Nam
Luận văn sử dụng phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, đồng thời kết hợp với các phương pháp nghiên cứu cụ thể như: phân tích, tổng hợp, luật học so sánh, tiếp cận dựa trên quyền… để luận giải, làm rõ mục tiêu, nhiệm vụ và đối tượng nghiên cứu
6 Tính mới và những đóng góp của đề tài
Đề tài luận văn là một công trình nghiên cứu khoa học liên ngành pháp luật về quyền con người và khoa học máy tính, AI Đề tài góp phần làm rõ cơ
sở lý luận và khuôn khổ pháp lý quốc tế, khu vực và một số quốc gia về trách nhiệm bảo vệ quyền con người trong việc ứng dụng AI Đề tài bước đầu đề xuất giải pháp tăng cường trách nhiệm bảo vệ quyền con người khi ứng dụng
AI nói chung và gợi mở khuyến nghị đối với Việt Nam trong thời gian tới Với những đóng góp như trên, tác giả hy vọng luận văn sẽ là tài liệu tham khảo hữu ích cho các chủ thể có liên quan thực hiện trách nhiệm bảo vệ quyền con người trong việc ứng dụng AI Bên cạnh đó, luận văn cũng đóng góp vào thư viện học liệu cho việc nghiên cứu, giảng dạy và học tập chuyên ngành pháp luật về quyền con người
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục từ ngữ viết tắt, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn có kết cầu gồm 3 chương như sau:
Chương 1: Khái quát về trí tuệ nhân tạo và quyền con người
Chương 2: Ảnh hưởng của việc ứng dụng trí tuệ nhân tạo đối với trách nhiệm bảo vệ quyền con người
Chương 3: Giải pháp tăng cường trách nhiệm bảo vệ quyền con người trong việc ứng dụng trí tuệ nhân tạo và bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam
Trang 14Chương 1 KHÁI QUÁT VỀ TRÍ TUỆ NHÂN TẠO VÀ QUYỀN CON NGƯỜI
1.1 Trí tuệ nhân tạo và quá trình phát triển của nó
1.1.1 Khái niệm và đặc điểm của trí tuệ nhân tạo
Trước đây, chúng ta chỉ biết đến AI thông qua những bộ phim khoa học
viễn tưởng Ngày nay, với tư cách là một trong những phát minh công nghệ
cấu thành của Cách mạng công nghiệp lần thứ Tư, AI dần trở nên phổ biến,
gần gũi trong cuộc sống của con người Tuy nhiên, tính đến thời điểm hiện tại
vẫn chưa có một định nghĩa thống nhất về AI, nhưng có khá nhiều quan điểm
tạm thời được tiếp cận theo các chiều hướng khác nhau Có thể dẫn như:
Ủy ban Châu Âu đưa ra định nghĩa: “AI là một hệ thống thể hiện hành vi
thông minh bằng cách phân tích môi trường của chúng và thực hiện các hành
động một cách tự chủ để đạt được các mục tiêu cụ thể” [50]
Các nhà khoa học trong lĩnh vực AI tiếp cận khái niệm này bằng cách
phân loại nó theo phạm vi tác động rộng, hẹp khác nhau Ở góc độ tiếp cận
rộng, các nhà nghiên cứu AI là Shane Legg, Mark Gubrud và Ben Goertzel
gọi tên là “trí tuệ nhân tạo tổng quát” (Artificial General Intelligence – AGI)
AGI được định nghĩa là “hệ thống có khả năng hoàn thành bất kỳ mục tiêu
nào ở mức ít nhất cũng giỏi như con người” [12, tr.71] Ở góc độ tiếp cận
hẹp, các nhà khoa học dựa trên đặc điểm chuyên môn hoặc khả năng hoàn
thành nhiệm vụ cụ thể mà chia AI theo 4 cách như sau: (i) các hệ thống có suy
nghĩ giống con người (ví dụ: kiến trúc nhận thức và mạng lưới thần kinh); (ii)
các hệ thống hoạt động giống như con người (ví dụ: khả năng vượt qua bài
kiểm tra bằng cách xử lý ngôn ngữ tự nhiên hay khả năng biểu diễn tri thức);
(iii) các hệ thống suy nghĩ hợp lý (ví dụ như khả năng suy luận, giải quyết
logic vấn đề); (iv) các hệ thống hoạt động hợp lý (ví dụ: khả năng lập kế
hoạch, đưa ra quyết định và hành động) [44, tr.2]
Trang 15Những cách tiếp cận trên đây xuất phát từ sự đa dạng trong khả năng giải quyết vấn đề mà AI đem lại Nội dung này liên quan đến công năng, hiệu suất cũng như độ chính xác của các thuật toán khiến cho việc xác định rõ ràng khái niệm về AI cũng có sự khác biệt Mặc dù các cách hiểu có thể chưa thống nhất và luôn có xu hướng thay đổi theo thời gian, nhưng điều quan trọng, cốt lõi của các nghiên cứu trên đều chỉ ra những khả năng vượt trội của AI là việc
tư duy, hiểu biết và việc tái tạo hành vi thông minh của con người trong những trường hợp cụ thể Những ví dụ gần gũi minh chứng cho điều này có thể thấy như hệ thống xe tự lái, google maps dùng để tra cứu bản đồ, hệ thống nhận dạng thông qua sinh trắc học, camera dùng để theo dõi giám sát
Trên thực tế, AI có những dạng thức phổ biến sau: học máy, học sâu, hệ thống tự động hóa, đội ngũ robot Những dạng thức này ít nhiều đều có sự giao thoa, hòa trộn với nhau, đồng thời có sự liên kết với các lĩnh vực khác không phải là khoa học máy tính như ngôn ngữ học, khoa học nhận thức, y học, logic học, tâm lý học, xác suất, thương mại
Thứ nhất, AI được thể hiện dưới dạng học máy (machine learning) Học
máy là một quy trình ứng dụng các thuật toán để phân tích khối dữ liệu đầu vào, từ đó đưa ra quy tắc hoặc thủ tục giải thích dữ liệu hoặc có thể dự đoán
dữ liệu trong tương lai Hiểu một cách đơn giản thì học máy là cách tiếp cận tổng quát đối với khối dữ liệu để tìm ra mẫu số chung và thực hiện quyết định
có liên quan Cách thức giải quyết dữ liệu của học máy dựa trên phương pháp thống kê là chủ yếu, cho phép nó thực hiện các tác vụ để tìm ra quy trình hoạt động tốt hơn so với cách thức thủ công Để áp dụng học máy, người dùng bắt đầu với một tập dữ liệu được tổng hợp, thống kê từ nhiều nguồn khác nhau Người dùng tiến hành phân loại dữ liệu và lựa chọn thuật toán đặc trưng để đưa ra quyết định về dữ liệu đó Một ví dụ đơn giản có thể thấy đó là Google Translate Có thể nhiều người nghĩ rằng nó là cuốn đại từ điển tương đối hoàn hảo, nhưng thực ra nó là một tập hợp các thuật toán được lựa chọn để sử dụng Thuật toán này dần phát triển theo thời gian, dựa trên việc cập nhật từ
Trang 16mới, ngữ pháp mới trong hệ ngôn ngữ từ người dùng và từ đó đưa ra các câu dịch tương đối phù hợp Một ưu điểm của học máy là nó có thể được sử dụng ngay cả trong trường hợp khó đưa ra được quy tắc hoặc thủ tục giải quyết về
dữ liệu Ví dụ hệ điều hành dịch vụ thư điện tử có thể sử dụng học máy để phát hiện các nỗ lực đăng nhập của người dùng là gian lận Hệ thống quản lý
có thể bắt đầu với dữ liệu về các lần đăng nhập trong quá khứ, để phân loại đâu là hành vi đăng nhập có khả năng gian lận và phải áp dụng biện pháp bảo mật bổ sung
Thứ hai, AI được thể hiện thông qua hình thức học sâu (deep learning)
Phương pháp này sử dụng các cấu trúc được lấy cảm hứng từ sự hiểu biết về
bộ não con người – tập hợp liên kết về mặt sinh học giữa các nơ-ron thần kinh Tuy nhiên, không giống như bộ não sinh học của con người, hệ thống học sâu là tập hợp các đơn vị dữ liệu đầu vào được phân tích, chuyển đổi tạo thành dữ liệu đầu ra, lần lượt được truyền tải đến các tập hợp đơn vị tiếp theo cho phép nhận dạng dữ liệu cực kỳ phức tạp, bảo đảm độ chính xác Chẳng hạn, trong một ứng dụng nhận dạng hình ảnh, một tập hợp đơn vị đầu tiên kết hợp dữ liệu thô của hình ảnh để nhận dạng mẫu đơn giản trong hình ảnh; tập hợp đơn vị thứ hai kết hợp kết quả của tập hợp thứ nhất để nhận dạng hình ảnh mẫu tiếp theo và cứ như thế cho đến khi tạo thành sản phẩm cuối cùng Trong những năm gần đây, hệ thống máy tính lớn mạnh hơn cả về số lượng
và độ bao phủ, tạo điều kiện cho cấp độ học sâu phát triển nhanh chóng
Thứ ba, AI biểu hiện thông qua hệ thống tự động hoá Thông thường thì
đối với hệ thống học máy, học sâu bắt buộc phải có sự tác động vật lý từ con người để kích hoạt các hành động trực tuyến Hệ thống tự động hoá đề cập đến khả năng hoạt động xử lý dữ liệu nhằm giảm bớt hoặc không có sự tác động vật lý của con người Hệ thống tự động hoá dễ dàng nhận thấy trong cuộc sống ngày nay như ô tô và máy bay không người lái Tuy nhiên, tính chất tự chủ này còn rộng lớn hơn bao gồm các hình thức thể hiện như giao dịch tài chính tự động, hệ thống máy móc có thể tự chuẩn đoán và sữa chữa
Trang 17các lỗi về xác định danh tính người dùng hay lỗ hổng bảo mật Hệ thống tự động hoá này sẽ có nhược điểm là chỉ giới hạn trong các hành động được lập trình sẵn để thực hiện Khi hệ thống được khởi động bởi một thuật toán nó sẽ thực thi nhiệm vụ của mình theo các hướng dẫn và chương trình được cài đặt hợp lý
Thứ tư, một dạng thức đỉnh cao của AI chính là đội ngũ robot Đội ngũ
robot được thiết kế và ứng dụng thông qua sự điều khiển của hệ thống máy tính hoặc các vi mạch điện tử để phản hồi tín hiệu cảm biến và xử lý thông tin
dữ liệu Một trong những lý do robot được xây dựng, thiết kế là để hỗ trợ, bổ sung cho khả năng nhận thức của con người, đôi khi được hiểu là tăng cường trí thông minh Một ví dụ trong lĩnh vực y học, robot có thể kết hợp với trí thông minh của con người để tăng cường tính chính xác trong việc xác định hình ảnh của các tế bào hạch bạch huyết có khả năng bị ung thư hay không
Cụ thể, kết quả nghiên cứu được thực hiện bởi nhà nghiên cứu bệnh học ở người có tỷ lệ lỗi 3,5%; phương pháp tiếp cận dựa trên AI đưa ra tỷ lệ lỗi là 7,5%; cách tiếp cận kết hợp giữa AI và bộ não của nhà nghiên cứu đã hạ tỷ lệ lỗi xuống 0,5% [41, tr.10,11]
Tựu chung lại, những khái niệm và dạng thức phổ biến của AI được trình bày trên đây ít nhiều giúp chúng ta dễ dàng hình dung hơn về nó Dù tiếp cận dưới góc độ nào thì những khái niệm, dạng thức đó đều đề cập đến hai đặc tính quan trọng của AI như sau: (i) khả năng tư duy, hiểu biết của học máy; (ii) khả năng thay thế con người trong một số công việc nhất định Xin nhấn mạnh rằng, tác giả không hướng đến mục đích tìm ra khái niệm chung về AI, bởi đây là lĩnh vực không có tính bất biến, mà luôn phát triển, thay đổi nhanh chóng theo thời gian
1.1.2 Lược sử quá trình phát triển của trí tuệ nhân tạo
Ngày nay, AI được ứng dụng trong hầu hết các lĩnh vực của đời sống, nhưng ít ai biết rằng nó xuất hiện từ bao giờ Mặc dù thuật ngữ AI được xuất
Trang 18hiện lần đầu tiên vào năm 1956, nhưng gốc rễ của lĩnh vực này bắt nguồn từ
năm 1930 Điều này được thể hiện thông qua hai bài báo chuyên đề: “Phân
tích tượng trưng về Chuyển mạch và Rơ-le” của Claude Shannon và “Các số khả tính, ứng dụng trong Entcheidungsproblem (Vấn đề quyết định)” của
Alan Turing [1, tr.45,46] Cả hai bài báo chuyên đề này đều cho chúng ta thấy bước nhảy vọt của máy móc từ có tư duy trong lý thuyết tới máy tính biết mô phỏng suy nghĩ con người Shannon đã có bước đột phá khi vẽ bản đồ mạch điện theo logic tượng trưng, mà thời điểm đó thiết kế mạch điện vẫn chưa theo hệ thống logic nào Ông phát hiện ra rằng máy tính có hai tầng: vật lý (phần chứa) và logic (mã) Còn đối với Turing lại thử nghiệm dịch giả ngôn ngữ phổ quát và đi đến kết luận rằng một chương trình và dữ liệu mà nó sử dụng có thể được lưu trữ trong cùng một máy tính
Thập kỷ tiếp theo, các nghiên cứu về AI dần dần được thực hiện bởi các nhà khoa học trên các lĩnh vực khác nhau Năm 1943, hai nhà nghiên cứu tâm thần học Warren McCulloch và Walter Pitts từ Đại học Chicago đã đưa ra bài
báo: “Tính toán logic của các suy nghĩ nội tại trong hoạt động thần kinh” Bài
báo này mô tả một dạng hệ thống mới về các nơ-ron sinh học thành cấu trúc mạng thần kinh đơn giản cho trí thông minh Tiếp đến năm 1944, John von Neumann (nhà khoa học máy tính, vật lý và toán học) cộng tác cùng với Princeton (nhà kinh tế học) cho xuất bản cuốn sách dày 641 trang giải thích chi tiết cách khoa học lý thuyết trò chơi tiết lộ nền tảng của mọi quyết định kinh tế [1, tr.48,49]
Năm 1950, Alan Turing cho xuất bản trên Tạp chí Triết học Mind Bài báo đặt ra câu hỏi: máy móc có thể suy nghĩ gì không? Đồng thời bài báo cũng đề xuất một bài kiểm tra để trả lời chính câu hỏi đó, và nêu ra khả năng một cỗ máy có thể được lập trình để học hỏi kinh nghiệm như một đứa trẻ Nghiên cứu này có tên gọi: Phép thử Turing [1, tr.50]
Đến năm 1955, các nhà khoa học Marvin Minsky (Đại học Harvard), John McCarthy (Đại học Dartmouth), cùng Claude Shannon (Phòng thí
Trang 19nghiệm điện thoại Bell) và Nathaniel Rochester (Tập đoàn IBM) đã đề xuất một hội thảo nhằm khám phá công trình của Turing Nghiên cứu này được tiến hành trên cơ sở phỏng đoán rằng mọi khía cạnh của việc học hoặc bất kỳ tính năng nào khác của trí thông minh có thể được mô tả chính xác bằng một
cỗ máy được chế tạo Nỗ lực nghiên cứu này nhằm mục đích sử dụng máy móc để mô phỏng lại ngôn ngữ, hình ảnh trừu tượng mà trước đây vốn chỉ do con người thực hiện [55] Tuy nhiên, kỳ vọng về kết quả nghiên cứu của nhóm các nhà khoa học không thành, bởi họ không có đủ thời gian Bên cạnh
đó, để thực hiện được công việc này cần đến một nhóm các nhà khoa học đến
từ nhiều lĩnh vực chuyên môn khác nhau, và việc tập hợp được họ là một công việc khó khăn, căng thẳng
Trong những thập kỷ tiếp theo, lĩnh vực AI đã trải qua những thăng trầm khi gặp những khó khăn nằm ngoài dự đoán, trong đó có cả những khó khăn
về mặt công nghệ và nguồn viện trợ tài chính thời đó Tuy nhiên, thập niên 70-80, lĩnh vực nghiên cứu AI cũng có một vài điểm đáng được ghi nhận Sự kiện năm 1972, nhà khoa học Alain Calmerauer cho ra đời ngôn ngữ lập trình PROLOG [21, tr.7] Đây là dạng lập trình ngôn ngữ phi thủ tục, cho phép hướng tới xử lý và lập trình logic và xử lý ngôn ngữ tự nhiên sang ngôn ngữ máy Năm 1981, Nhật Bản tuyên bố kế hoạch mười năm nhằm phát triển AI với tên gọi Thế hệ thứ Năm [1, tr.64] lấy ngôn ngữ lập trình PROLOG làm nền tảng cơ sở Những động thái này đã thúc đẩy Mỹ, cũng như Châu Âu tăng cường đầu tư tiềm lực tài chính, hỗ trợ chính sách cho việc nghiên cứu và phát triển AI
Đến cuối những năm 1990, nghiên cứu về AI bắt đầu tăng tốc và đạt những thành tích nhất định Những nghiên cứu về AI thời điểm này tập trung vào các ứng dụng thực tế mà nó đem lại như nhận dạng hình ảnh và chuẩn đoán y khoa Vào năm 1997, siêu máy tính chơi cờ vua Deep Blue của IBM đánh bại kiện tướng thế giới Garry Kasparov Kiện tướng này phải vật lộn với
sự căng thẳng đến từ sáu ván cờ cùng một đối thủ dường như không thể đánh
Trang 20bại được [41, tr.5] Những kết quả tiếp theo trong lĩnh vực AI phải kể đến là siêu máy tính trả lời câu hỏi Watson của IBM, dòng xe tự lái Grand Challenge
ra đời năm 2000 của Cơ quan Quản lý các dự án nghiên cứu cao cấp Bộ Quốc phòng Mỹ (DARPA) Có thể nói đây là những kết quả tương đối tuyệt vời khi khép lại thế kỷ XX, tạo những bước đệm quan trọng cho việc ra mắt những siêu phẩm công nghệ trong thế kỷ tiếp theo
Thập niên đầu của thế kỷ XXI đánh dấu những bước phát triển vượt bậc của AI khi các nhà khoa học lần lượt cho ra đời các robot có thể mô phỏng các hành động, thực hiện công việc vốn dĩ của con người Đầu tiên, năm 2000 robot Kismet, Asimo có khả năng tương tác xã hội, giao tiếp với con người, nhận diện giọng nói Tiếp đến, năm 2002, một robot dọn nhà tên Roomba được sản xuất có khả năng phát hiện và tránh các vật cản Năm 2004, bề mặt sao Hỏa được khám phá bằng một robot xe tự hành của NASA với tên gọi Robot Robonaut B Năm 2006, một nhóm các nhà khoa học máy tính lần đầu
sử dụng thuật ngữ “machine reading” (máy đọc) để định nghĩa khả năng nhận biết văn bản của AI Thành công tiếp theo trong năm 2007 khi các cường quốc công nghệ cho ra đời hàng loạt các loại hình robot phục vụ mục đích khác nhau như: robot BEAR của công ty công nghệ Vecna, Mỹ, có khả năng đưa binh sĩ bị thương ra khỏi chiến trường; Eurobot của cơ quan không gian châu Âu có khả năng khám phá Trạm không gian quốc tế Sang năm 2009, Google bí mật phát triển công nghệ xe tự hành và 5 năm sau, công nghệ của
họ đã vượt qua bài kiểm tra xe tự hành của Nevada Có thể khẳng định rằng
có rất nhiều những thành công đáng ghi nhận trong lĩnh vực AI được đưa vào ứng dụng phục vụ con người ở thập kỷ này
Làn sóng nghiên cứu và chế tạo AI trong thập kỷ thứ hai của thế kỷ XXI ngày càng phát triển mạnh mẽ nhờ sự sẵn có của dữ liệu lớn từ các nguồn như thương mại điện tử, hoạt động của phương tiện truyền thông xã hội, từ doanh nghiệp và chính phủ Những hoạt động từ các chủ thể khác nhau sẽ cung cấp nguồn dữ liệu thô cho các hệ thống máy tính thực hành thông qua các phương
Trang 21pháp và thuật toán đã được cải thiện Năm 2010, Google tiến hành thử nghiệm áp dụng kỹ thuật học chuyên sâu để nhận diện giọng nói Kỹ thuật Google Voice này và kỹ thuật sao chép văn bản được áp dụng cho các sản phẩm thương mại Năm 2014, Google đầu tư tài chính để sở hữu cho mình start-up về học chuyên sâu có tên DeepMind và phát triển thêm chương trình
có tên AlphaGo Tiếp đến, năm 2018, Google tung ra thị trường chương trình Duplex – là một phần của DeepMind, được tạo ra trên nền tảng AI Chương trình này nhằm hỗ trợ giọng nói có thể tự động thực hiện cuộc gọi thay người dùng và nói chuyện với lễ tân để đặt bàn tại nhà hàng, hoặc đặt lịch làm tóc tại salon [1, tr.72, 79]
Như vậy, từ những nghiên cứu sơ khai ban đầu của Turing và Shannon
đã đặt nền móng cho sự hình thành và phát triển của AI Quá trình phát triển này tuy có những thăng trầm do những điều kiện khác nhau, nhưng ít nhiều
nó đã trả lời được câu hỏi của Turing rằng máy móc có suy nghĩ So với lịch
sử hình thành và phát triển của loài người, thì AI còn khá non trẻ, đang trong quá trình trưởng thành, nhưng chúng ta có thể dễ dàng nhận thấy khả năng tăng tốc của nó thật sự đáng kinh ngạc AI ra đời có những tác động hai chiều đối với sự phát triển toàn cầu, trong đó đặc biệt có quyền con người Và để bảo vệ quyền con người trong bối cảnh ứng dụng AI thì cần sự chung tay toàn cầu, đặc biệt là vai trò của các nhà nước Những nội dung này sẽ được trình bày trong phần tiếp theo
1.2 Quyền con người và chủ thể có trách nhiệm bảo vệ
1.2.1 Khái niệm quyền con người
Ngay trong lời dẫn tại Chương I, cuốn “Tìm hiểu về quyền con người”, tác giả Wolfgang Benedek có khẳng định: “Khát vọng bảo vệ nhân phẩm của
tất cả con người là cốt lõi của khái niệm quyền con người” [27, tr 29] Nói
cách khác để bảo vệ nhân phẩm của tất cả mọi người, thúc đẩy xây dựng xã
Trang 22hội công bằng, văn minh và phát triển thì một cách hiệu quả đầu tiên, không thể thiếu là phải tìm hiểu khái niệm quyền con người (hay “nhân quyền”) Theo một tài liệu của Liên hợp quốc, từ trước đến nay có đến gần 50 khái niệm khác nhau về quyền con người đã được công bố [4, tr.39] theo các góc độ tiếp cận khác nhau Tuy nhiên hiện nay, trên thế giới có hai khuynh hướng tiếp cận về khái niệm này được đa số mọi người thừa nhận, dựa trên thuộc tính tự nhiên và thuộc tính nhân tạo của quyền con người
Khuynh hướng tiếp cận thứ nhất nhấn mạnh các thuộc tính tự nhiên của các quyền con người Theo khuynh hướng này thì quyền con người là những
gì bẩm sinh, vốn có mà mọi cá nhân sinh ra đều được hưởng bởi đã là con người thì có các quyền Khuynh hướng tiếp cận này được thể hiện ở cả cấp độ quốc tế và quốc gia Biểu hiện, ở cấp độ quốc tế, trong UDHR năm 1948, nêu
rằng: “… thừa nhận phẩm giá vốn có và các quyền bình đẳng, bất khả xâm
phạm của mọi thành viên trong gia đình nhân loại là nền tảng của tự do, công bằng và hòa bình thế giới” [62] Ở cấp độ quốc gia, Tuyên ngôn Độc lập của
Hoa Kỳ (1776) nêu rằng: “…mọi người sinh ra đều có quyền bình đẳng Tạo
hóa ban cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được, trong đó có quyền sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc” [4, tr.44] Những
tuyên bố này được tái khẳng định trong bản Tuyên ngôn về Nhân quyền và dân quyền của nước Pháp (1789) và bản Tuyên ngôn Độc lập của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (1945) Ưu điểm của khuynh hướng tiếp cận thứ nhất nhấn mạnh tính phổ biến của quyền con người, được áp dụng bình đẳng cho tất cả các thành viên trong gia đình nhân loại, không phụ thuộc vào phong tục tập quán, truyền thống văn hóa hay ý chí của bất kỳ chủ thể nào, kể cả Nhà nước Tuy nhiên, khuynh hướng tiếp cận thứ nhất chưa đưa ra một chuẩn mực chung (phổ quát) để làm căn cứ cho sự đồng thuận trong hoạt động xây dựng pháp luật và thực hiện pháp luật nhằm bảo vệ các quyền con người
Khuynh hướng tiếp cận thứ hai nhấn mạnh thuộc tính nhân tạo của quyền con người, cho rằng các quyền con người là do con người thỏa thuận
Trang 23hoặc do Nhà nước quy định trong pháp luật Đại diện cho khuynh hướng này
là định nghĩa của Văn phòng Cao ủy Liên hợp quốc như sau: “Quyền con
người là những bảo đảm pháp lý toàn cầu có tác dụng bảo vệ các cá nhân và các nhóm chống lại những hành động hoặc sự bỏ mặc mà làm tổn hại đến nhân phẩm, những sự được phép và tự do cơ bản của con người” [59] Khác
với khuynh hướng thứ nhất, khuynh hướng tiếp cận thứ hai đưa ra được chuẩn mực chung để làm căn cứ cho sự đồng thuận trong hoạt động xây dựng và thực hiện pháp luật nhằm bảo vệ các quyền con người, nhưng lại không thể hiện được thuộc tính tự nhiên và vốn có của các quyền con người
Như vậy, cả hai khuynh hướng tiếp cận trên đều thể hiện những điểm hợp lý và không hợp lý nhất định Và để có một khái niệm tương đối đầy đủ, phản ánh được các thuộc tính trong nội hàm của quyền con người thì nên tổng hợp cả hai khuynh hướng tiếp cận trên Trong luận văn này, tác giả xác định
khái niệm quyền con người là các giá trị tự nhiên, vốn có của mọi cá nhân
được pháp luật quốc tế ghi nhận và được bảo vệ thông qua hệ thống các nguyên tắc và tiêu chuẩn Những nguyên tắc và tiêu chuẩn về quyền con
người được ghi nhận trong Bộ luật Nhân quyền quốc tế cùng các văn kiện pháp lý riêng biệt khác Sự ghi nhận này tạo ra cơ sở pháp lý thống nhất cho việc thực hiện trách nhiệm bảo vệ quyền con người Bên cạnh đó, pháp luật quốc gia cũng có vai trò quan trọng trong việc bảo vệ quyền con người và không được trái với các nguyên tắc, tiêu chuẩn của Luật Nhân quyền quốc tế
1.2.2 Trách nhiệm bảo vệ quyền con người
Thuật ngữ “trách nhiệm” (responsibility) thường được sử dụng khá phổ biến trong tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội Ở khía cạnh ngôn ngữ học,
“trách nhiệm” được hiểu là “phần việc được giao cho hoặc coi như được giao
cho, phải bảo đảm làm tròn, nếu kết quả không tốt thì phải gánh chịu phần hậu quả” [40] Tuy nhiên, thuật ngữ này thường được sử dụng phổ biến hơn
cả trong lĩnh vực pháp lý Trách nhiệm pháp lý được hiểu là “hậu quả bất lợi
Trang 24mà chủ thể pháp luật phải gánh chịu do pháp luật quy định vì hành vi vi phạm pháp luật của mình (hoặc của người mà mình bảo lãnh hoặc giám hộ)” [26,
tr.803] Như vậy, cả hai cách giải thích này đều xác định mối quan hệ giữa bên có trách nhiệm và bên có quyền Chủ thể có trách nhiệm mà không thực hiện hoặc thực hiện sai trách nhiệm sẽ phải gánh chịu hậu quả do các quy phạm pháp luật hay các quy phạm đạo đức quy định
Ở góc độ pháp lý, có thể có quan điểm cho rằng thuật ngữ “trách nhiệm”
có sự khác biệt nhất định với thuật ngữ “nghĩa vụ” Tác giả cho rằng sự khác nhau giữa hai thuật ngữ này có chăng nhằm phản ánh các giai đoạn của quá
trình thực hiện pháp luật Vì, “nghĩa vụ” được hiểu là “mối quan hệ giữa
người có nghĩa vụ phải làm một công việc, thực hiện một hành vi hoặc không được làm một công việc, một hành vi, vì lợi ích của người có quyền” [26,
tr.560] Từ đó cho thấy, cả hai thuật ngữ “trách nhiệm” và “nghĩa vụ” đều có điểm tương đồng về chủ thể và cả nội dung, công việc Tuy nhiên, điểm khác biệt ở đây là giai đoạn sau của quá trình thực hiện công việc Nếu chủ thể có nghĩa vụ không thực hiện hoặc thực hiện sai nghĩa vụ liên quan đến quyền lợi của chủ thể khác thì sẽ phải gánh chịu hậu quả, tức phải gánh chịu trách nhiệm Điều này cho thấy thuật ngữ “trách nhiệm” sẽ có giới hạn, phạm vi rộng hơn và bao hàm cả thuật ngữ “nghĩa vụ”
Tiếp đến, tác giả luận giải về thuật ngữ “bảo vệ” (protect, defend) Đây
là thuật ngữ được sử dụng khá phổ biến trong mọi lĩnh vực của đời sống xã
hội Ở khía cạnh ngôn ngữ học, “bảo vệ” được hiểu là “chống lại mọi sự huỷ
hoại, xâm phạm để giữ cho được nguyên vẹn” [40] Cũng giống như thuật ngữ
trách nhiệm, thuật ngữ “bảo vệ” được sử dụng phổ biến hơn cả ở lĩnh vực pháp lý Mặc dù vậy, thuật ngữ này lại chưa được giải thích một cách rõ ràng bởi một tài liệu học thuật nào cả Ở lĩnh vực pháp lý, thuật ngữ “bảo vệ” thường gắn liền với các đối tượng được bảo vệ như hiện trường, môi trường hay quyền sở hữu [26, tr.46, 47] Từ những dẫn chứng trên và thực tiễn pháp
lý, tác giả có thể kết luận rằng “bảo vệ” nhằm mục đích giữ gìn, duy trì những
Trang 25nội dung về trật tự, giá trị tốt đẹp đã được pháp luật ghi nhận bằng cách hạn chế, phòng ngừa và xử lý những tác nhân vi phạm, ảnh hưởng đến nội dung được bảo vệ Theo nghĩa rộng, một số đối tượng được bảo vệ như môi trường, không chỉ đơn thuần là giữ gìn, bảo tồn sự nguyên vẹn mà còn được khai thác, sử dụng hợp lý các nguồn tài nguyên, hệ sinh vật Điều này đồng nghĩa với việc tạo các điều kiện phù hợp thúc đẩy hoạt động bảo vệ môi trường được tốt hơn
Trong lĩnh vực quyền con người, bên cạnh thuật ngữ “bảo vệ”, còn có tài liệu [4, tr.70, 71] sử dụng các thuật ngữ khác như bảo đảm quyền con người Theo đó, thuật ngữ bảo đảm có nội hàm rộng hơn và bao trùm cả thuật ngữ bảo vệ Tuy nhiên, tài liệu này lại không có sự giải thích vì sao lại có sự khác biệt như thế Theo tác giả, xét về mục đích của cả hai thuật ngữ “bảo vệ” và
“bảo đảm” đều nhằm mục đích giữ gìn, duy trì và phát huy những giá trị tốt đẹp của quyền con người Bên cạnh đó, như đã phân tích thì quyền con người
là những giá trị tự nhiên chung của nhân loại, được cộng đồng quốc tế thừa nhận trong các văn kiện pháp lý quan trọng Vì vậy, quyền con người không chỉ được bảo vệ một cách toàn vẹn, mà cần được tạo các điều kiện thực thi, thúc đẩy quyền con người phù hợp với các điều kiện chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội Trong phạm vi đề tài này, tác giả hiểu thuật ngữ bảo vệ quyền con người theo nghĩa rộng, tức là có sự đồng nhất với thuật ngữ bảo đảm quyền con người Và bảo vệ quyền con người là sự sự tôn trọng, bảo đảm, thực thi các quyền con người của chủ thể có trách nhiệm
Từ những luận giải trên tác giả đi đến kết luận: trách nhiệm bảo vệ
quyền con người yêu cầu tất cả các chủ thể có trách nhiệm tôn trọng, bảo đảm, thực hiện và thúc đẩy các quyền con người được pháp luật quốc tế,
pháp luật quốc gia thừa nhận trên thực tế Trách nhiệm tôn trọng yêu cầu
các chủ thể thừa nhận, đồng thời không can thiệp, xâm phạm các quyền con người dưới bất kỳ hình thức nào Trách nhiệm bảo đảm đòi hỏi các chủ thể chủ động ngăn chặn hành vi vi phạm quyền con người từ chủ thể thứ ba
Trang 26Trách nhiệm thực thi đặt ra yêu cầu đối với các chủ thể có những biện pháp thúc đẩy, tạo điều kiện thuận lợi, tổ chức thực hiện việc thụ hưởng đầy đủ các quyền con người của chủ thể có quyền Nếu chủ thể có trách nhiệm vi phạm
sẽ phải gánh chịu những hậu quả về mặt pháp lý
1.2.3 Chủ thể có trách nhiệm bảo vệ quyền con người
Trong Lời nói đầu của Báo cáo phát triển con người năm 2015, chỉ ra
quan niệm giản đơn rằng: “Phát triển chính là mở rộng những lựa chọn của
con người – tập trung chủ yếu vào sự thịnh vượng của đời sống con người thay vì đơn thuần là sự thịnh vượng của các nền kinh tế” [3] Rõ ràng quan
niệm này cho chúng ta thấy mục tiêu trung tâm của sự phát triển là con người, chứ không phải là sự thịnh vượng hay sự tăng trưởng của các nền kinh tế Để thực hiện được mục tiêu phát triển và bảo vệ con người cần có sự vào cuộc của tất cả các chủ thể (bao gồm cả nhà nước, doanh nghiệp và các chủ thể khác) Ở góc độ lý luận và pháp luật về quyền con người chỉ ra rằng tất cả các chủ thể (tùy theo vị thế của mình) đều có trách nhiệm bảo vệ quyền con người, trong đó nhà nước là chủ thể có trách nhiệm chủ yếu [4, tr.70]
Trách nhiệm của các nhà nước
Luật Nhân quyền quốc tế xác định nhà nước có 3 trách nhiệm trong việc bảo vệ quyền con người Đó là các trách nhiệm tôn trọng, bảo đảm, thực thi quyền con người Trách nhiệm tôn trọng yêu cầu nhà nước ghi nhận, đồng thời kiềm chế không can thiệp hoặc đặt ra các quy định giới hạn việc thụ hưởng các quyền con người Trách nhiệm bảo đảm yêu cầu nhà nước phòng ngừa, ngăn chặn sự vi phạm quyền con người của bên thứ ba; khi có sự vi phạm, nhà nước có biện pháp chế tài yêu cầu chủ thể vi phạm bồi thường thiệt hại Trách nhiệm thực thi, hỗ trợ quyền con người đòi hỏi các nhà nước phải
có chương trình, biện pháp tổ chức thực hiện, tạo điều kiện để công dân có khả năng thụ hưởng đầy đủ quyền con người
Trang 27Với vai trò là tổ chức chính trị của quốc gia, để bảo vệ quyền con người thì các nhà nước phải thực hiện đầy đủ trách nhiệm đối với tất cả các nhóm quyền dân sự, chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội Bởi lẽ, xét về thuộc tính thì quyền con người là thống nhất, không có sự phân chia, các quyền con người đều quan trọng như nhau, không phân định giá trị cao thấp và tất cả các quyền đều có sự liên hệ phụ thuộc, tác động lẫn nhau
Trách nhiệm của nhà nước trong việc bảo vệ quyền con người là phải tiến hành xây dựng hệ thống pháp luật để ghi nhận các quyền con người cũng như thiết lập cơ chế để ngăn chặn sự vi phạm và thực thi quyền Tuy nhiên, việc tiến hành xây dựng pháp luật để bảo vệ quyền con người cần phải cân bằng về lợi ích giữa các chủ thể quản lý và chủ thể bị tác động Đứng ở góc
độ bảo vệ quyền con người, nhà nước không được đưa ra quy định gây khó khăn, áp đặt ý chí đối với cá nhân Hay việc xây dựng cơ chế ngăn chặn sự vi phạm và thực thi quyền con người cũng cần tính đến yếu tố khả thi, công bằng, khách quan Trong một số trường hợp cần thiết nhất định, nhà nước có thể sử dụng biện pháp tạm thời để quản lý xã hội, nhưng vẫn ưu tiên đặt mối quan tâm chính là quyền con người Ví dụ để bảo đảm an ninh chính trị, ổn định xã hội, các nhà nước có thể đặt ra quy định về việc sử dụng camera giám sát những khu vực được cho là công cộng, không vi phạm địa điểm riêng tư
Trách nhiệm của doanh nghiệp
Bên cạnh chủ thể là nhà nước thì chủ thể là các doanh nghiệp cũng có trách nhiệm trong việc bảo vệ quyền con người Bởi lẽ, như vừa trình bày ở trên thì quyền con người là những giá trị tự nhiên vốn có của chung nhân loại, không có sự phân biệt, đối xử, đòi hỏi sự chung tay bảo vệ của mọi cá nhân,
tổ chức Ngày nay, với sự phát triển nhanh chóng của khoa học kỹ thuật và công nghệ thì sự gia tăng về số lượng, chủng loại các doanh nghiệp, tập đoàn
là điều tất nhiên Điều này cũng kéo theo việc tham gia của các doanh nghiệp vào quan hệ quyền con người ngày càng nhiều hơn Mối quan hệ giữa các doanh nghiệp với quyền con người là mối quan hệ hai bên cùng có lợi (win-
Trang 28win) [8, tr.26] Minh chứng cho điều này có thể thấy thông qua các chỉ số phát triển của cả con người và các doanh nghiệp Con người thì được giải quyết việc làm tạo ra thu nhập, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần; đổi lại các doanh nghiệp có nguồn cung lao động đa dạng cả về số lượng, chất lượng,
từ đó thúc đẩy hoạt động sản xuất, kinh doanh, phát triển quy mô đơn vị
Do sự đa dạng về chủng loại, hình thức kinh doanh, quy mô sản xuất mà mỗi doanh nghiệp sẽ có mức độ trách nhiệm bảo vệ quyền con người là khác nhau, nhưng không phải là không có Trách nhiệm bảo vệ quyền con người của doanh nghiệp yêu cầu chủ thể này phải tôn trọng, thừa nhận các quyền con người, đồng thời không vi phạm cũng như có biện pháp thúc đẩy việc thụ hưởng các quyền con người, trong mọi hoạt động, công đoạn, hình thức sản xuất kinh doanh
Lưu ý cần phân định rõ ràng, tránh nhầm lẫn giữa trách nhiệm xã hội với trách nhiệm bảo vệ quyền con người của doanh nghiệp Trách nhiệm xã hội
của doanh nghiệp là “cam kết của doanh nghiệp đóng góp cho sự phát triển
kinh tế đồng thời với việc cải thiện chất lượng cuộc sống của lực lượng lao động, gia đình họ, cộng đồng và toàn xã hội” [8, tr.32] Từ nhận định này có
thể thấy trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp được tiếp cận theo hướng từ trên xuống, tiếp cận từng vấn đề của xã hội nên phạm vi tác động sẽ ít nhiều
bị giới hạn Ví dụ trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp đối với người lao động là họ sẽ cam kết tăng lương, cải thiện môi trường làm việc cho người lao động nên doanh nghiệp đó có thể thực hiện các biện pháp như đầu tư mua sắm phương tiện, thiết bị hiện đại, trang bị đầy đủ bảo hộ lao động Còn trách nhiệm bảo vệ quyền con người lấy con người làm trung tâm nên phạm vi tác động sẽ có độ bao trùm toàn diện hơn Cùng xem xét ví dụ trên thì bên cạnh trách nhiệm xã hội, thì doanh nghiệp đó phải cân nhắc, tính toán đến việc khi đầu tư thay đổi phương tiện, thiết bị hiện đại thì người lao động có khả năng
sử dụng hay không, nếu không thì quá trình hướng dẫn, đào tạo hoặc sắp xếp công việc của người lao động đó như thế nào, để bảo đảm rằng người lao
Trang 29động vẫn có việc làm phù hợp với nhu cầu và năng lực Bên cạnh đó, việc đầu
tư trang thiết bị, phương tiện hiện đại của doanh nghiệp cần xem xét về những ảnh hưởng đến các tác nhân có liên quan như yếu tố an toàn và năng suất lao động hay sự trong lành của môi trường Rõ ràng là trách nhiệm bảo vệ quyền con người sẽ bao hàm cả trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp
Trách nhiệm của các chủ thể khác
Ngoài chủ thể là các nhà nước và doanh nghiệp thì các chủ thể khác (như các tổ chức xã hội dân sự, các gia đình, cá nhân…) cũng có trách nhiệm tôn trọng, bảo vệ và thúc đẩy quyền con người
Theo tài liệu của UNDP thì tổ chức xã hội dân sự là tổ chức của những người hoạt động không nhằm mục tiêu lợi nhuận và tìm kiếm quyền lực quản
lý [63] Từ khái niệm này có thể thấy các tổ chức xã hội dân sự khá đa dạng như tổ chức phi chính phủ, các tổ chức nghiên cứu độc lập, các tổ chức tín ngưỡng, tôn giáo, các tổ chức hiệp hội nghề nghiệp, tổ chức công đoàn… Những tổ chức này được thành lập một cách tự nguyện, tồn tại bên ngoài chính phủ, đại diện cho tính liên kết nhằm bảo vệ lợi ích cho thành viên hoặc của những người bên ngoài tổ chức Trong việc bảo vệ quyền con người, các
tổ chức này cần tôn trọng, không vi phạm các quyền con người, hỗ trợ thực hiện quá trình thụ hưởng quyền Ví dụ đại diện công đoàn hỗ trợ người lao động trong việc giải quyết tranh chấp lao động với người sử dụng lao động; các tổ chức nghiên cứu học thuật phổ biến, tuyên truyền chính sách pháp luật
về quyền con người theo các hình thức, phương tiện khác nhau
Một chủ thể nữa cũng có trách nhiệm quan trọng trong việc bảo vệ quyền con người, đó là các cá nhân Không phải là chủ thể cơ bản của quyền con người mà cá nhân được phép xâm phạm hoặc không thực hiện trách nhiệm bảo vệ quyền con người Đại hội đồng Liên hợp quốc từng nhấn mạnh
rằng: “tất cả thành viên của cộng đồng quốc tế phải thực hiện, cùng nhau
hoặc riêng rẽ, nghĩa vụ thiêng liêng nhằm thúc đẩy và khuyến khích sự tôn trọng các quyền con người và những sự tự do cơ bản cho tất cả mọi người mà
Trang 30không có bất kỳ sự phân biệt đối xử nào” [31] Như vậy, rõ ràng sự nhấn
mạnh trên không có bất kỳ loại trừ nào về trách nhiệm bảo vệ quyền con người, mà yêu cầu tất cả thành viên cộng đồng quốc tế đều phải thực hiện một cách đơn lẻ hoặc có sự liên kết với nhau Hoạt động bảo vệ quyền con người của cá nhân khá đa dạng cả về phạm vi cũng như loại hình thực hiện như nghiên cứu, giảng dạy, tuyên truyền vận động chính sách, thu thập thông tin
vi phạm quyền con người hay hỗ trợ nạn nhân… Tuy nhiên, hoạt động bảo vệ quyền con người của cá nhân sẽ gặp khó khăn hơn so với các chủ thể khác, bởi yếu tố đơn lẻ cá nhân (không có tính liên kết, nếu có thì sự liên kết thường rời rạc) Mặt khác, các chủ thể vi phạm quyền con người thường là những cán
bộ, cơ quan nhà nước nên việc điều tra vi phạm, xác định căn cứ bảo vệ quyền con người sẽ hạn chế bởi yếu tố quyền lực nhà nước
Tựu chung lại, để bảo vệ quyền con người đòi hỏi sự liên kết của tất cả các chủ thể, trong đó vai trò chính yếu thuộc về nhà nước Mỗi chủ thể sẽ có trách nhiệm không giống nhau, tùy theo vị thế của mình, nhưng đều vì mục tiêu chung đó là tôn trọng, ngăn chặn, hạn chế sự vi phạm, đồng thời có biện pháp thúc đẩy việc thụ hưởng quyền con người
1.3 Mối quan hệ giữa trí tuệ nhân tạo và quyền con người
Như chúng ta nhận thấy thực tế cuộc sống của con người trong xã hội hiện đại ngày càng thay đổi không chỉ về chất lượng, mà còn cả về tốc độ Có được điều này là nhờ những lợi ích to lớn mà AI đem lại Bên cạnh đó, AI cũng tạo nên những rủi ro, thách thức nhất định đối với quyền con người Nhà
vật lý lý thuyết nổi tiếng, Stephen Hawking từng đưa ra cảnh báo: “Sự ra đời
của AI siêu thông minh sẽ là điều tốt nhất hoặc tồi tệ nhất từng xảy ra với nhân loại” [57] Dự báo của nhà khoa học thiên tài này đặt ra những yêu cầu
đối với mọi người là cần phải xác định mối quan hệ, cũng như ảnh hưởng của
AI đối với con người như thế nào để có hành động phù hợp
Trang 31Thứ nhất, mối liên hệ giữa AI với quyền con người là luôn có sự hợp tác,
tương hỗ lẫn nhau Điều này được thể hiện ở chính mục đích phát minh, sáng tạo ra AI để nhằm hỗ trợ con người có điều kiện tốt hơn trong việc thụ hưởng quyền, và quyền con người được bảo vệ, bảm đảm, thực thi trên thực tế cũng chính là lý do để các nhà khoa học có động lực để nghiên cứu và hoàn thiện
AI hơn nữa Như đã phân tích ở phần trên thì một trong những câu hỏi nền tảng được đặt ra thôi thúc các nhà khoa học phát minh ra AI là nó có suy nghĩ hay không? Và thực tế đã chứng minh rằng AI có suy nghĩ, tư duy gần giống như con người Chúng ta hãy nghĩ về những chiếc điện thoại thông minh có chức năng lưu trữ hình ảnh, nhận dạng sinh trắc học giống như trí nhớ của con người; hay những công cụ tìm kiếm thông tin trên internet… đã đem lại cho con người những lợi ích nhất định Nhưng để máy móc kỹ thuật số đó thực hiện được những chức năng vượt trội đó cần phải có sự hợp tác từ khâu thu thập thông tin đầu vào Chính con người là tác nhân tìm kiếm, cung cấp thông tin cho AI để nó có khả năng phân tích, định hình và tạo nên giá trị của chuỗi dữ liệu Quá trình kết hợp và tương hỗ lẫn nhau như vậy tạo nên vòng tuần hoàn khép kín trên không gian mạng: AI có nguồn dữ liệu đầu vào từ con người, và con người nhận được kết quả do chức năng vượt trội của AI
Thứ hai, giữa AI với quyền con người có sự giao thoa, hòa trộn ngay
trong chính cơ thể sinh học của con người hoặc kết cấu của AI Thông qua việc giao thoa, hòa trộn với cơ thể sinh học của con người, những phát minh
AI có thể hỗ trợ con người có điều kiện tốt hơn để thụ hưởng quyền hoặc cũng có khả năng AI xảy ra lỗi kỹ thuật dẫn đến việc xâm hại quyền con người và mục tiêu thụ hưởng quyền lại không đạt được Quá trình giao thoa, hòa trộn này được thúc đẩy bởi sự thành công của các cuộc cách mạng công nghệ, dẫn đến sự giao thoa, hội tụ công nghệ, viết tắt là NBIC
NBIC là 4 chữ cái đầu theo tiếng Anh của 4 lĩnh vực công nghệ mũi nhọn hiện đại: Nanotechnology (công nghệ nano);
Trang 32biotechnology (công nghệ sinh học); information technologies (công nghệ thông tin); cognitive science (khoa học về nhận thức)
Sự hòa trộn giữa AI với con người tạo nên hai xu hướng sinh học Xu hướng thứ nhất được thể hiện là sự xâm nhập, hòa trộn từ các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào cơ thể sinh học Nhờ sự tiến bộ khoa học và kỹ thuật đã cung cấp cho nhân loại ngày càng nhiều những cách thức để đo lường, phân tích, can thiệp vào các sinh vật sống Ví dụ như việc các bác sĩ ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật để thực hiện việc cấy ghép gan, thận được hiến từ bệnh nhân đã chết não Xu hướng thứ hai mà chúng ta thấy là việc kỹ thuật cộng nghệ có khả năng tự sao chép giống như cơ thể sinh học của con người Dẫn chứng cho nhận định này có thể thấy vào năm 2016, một nhóm nghiên cứu do Philip Holloger đứng đầu ở Đại học Cambridge đã tạo ra một phân tử ARN (một dạng axit nucleic tương tự AND), mã hóa 412 bit thông tin di truyền và
có khả năng sao chép các chuỗi ARN dài hơn chính nó [12, tr.81]
Thứ ba, AI dần thay thế con người để thực hiện những chức năng, công
việc mà vốn dĩ về tự nhiên nó chỉ do con người thực hiện Minh chứng cho nhận định này chúng ta có thể thấy như Google translate, xe tự lái, thậm chí là
cả robot tình dục Những công việc, hoạt động như dịch thuật, lái xe trước đây vốn dĩ chỉ thuộc về con người và chỉ có con người thực hiện được Ngày nay, nhờ sự phát triển của AI nên những công việc này AI có thể thực hiện thay con người Điều quan trọng, để AI bắt chước và thực hiện được những công việc vốn dĩ thuộc về con người này cần phải có nguồn dữ liệu, cũng như sự tồn tại về các hoạt động thực tế của con người trên hệ thống kỹ thuật số Ví dụ Google translate sử dụng ngôn ngữ được cung cấp bởi các dịch giả, từ đó kết hợp với kỹ thuật số để tạo nên bản dịch tương đối phù hợp
Đến đây, tác giả có thể nhận định rằng trong khi ứng dụng AI vào cuộc sống con người chúng ta đang trải qua một sự thay đổi rõ rệt Quá trình thay đổi này đi từ sự hợp tác, tương hỗ lẫn nhau đến sự giao thoa, hòa hợp về cơ thể sinh học, kết cấu kỹ thuật, thậm chí dẫn đến sự thay thế con người bởi AI
Trang 33Trong mối liên hệ giữa AI với quyền con người thì quyền con người là nội dung chính bị tác động hai chiều bởi AI Cụ thể đó là những hỗ trợ, tác động tích cực để con người có thể thụ hưởng quyền và chủ thể có trách nhiệm bảo
vệ quyền được hiệu quả hơn Ngược lại, AI cũng đem đến những thách thức nhất định đối với tất cả các quyền con người Những thách thức rõ rệt nhất phải kể đến đối với các quyền như: quyền sống và an toàn cá nhân, quyền được xét xử công bằng, quyền riêng tư, quyền sở hữu, quyền tự do ngôn luận
và biểu đạt Chính những thách thức này đòi hỏi tất cả các chủ thể (từ nhà nước, doanh nghiệp, tổ chức xã hội và cá nhân khác) phải thực hiện tốt trách nhiệm của mình được Luật Nhân quyền quốc tế ghi nhận về việc bảo vệ quyền con người Từ sự phân tích trên cho thấy quyền con người và AI có mối liên hệ tương đối mật thiết và cần phải xây dựng, thiết lập quy định, cơ chế để bảo vệ quyền con người, nhưng vẫn tạo điều kiện cho những nghiên cứu, phát minh AI
1.4 Sự cần thiết của việc tăng cường trách nhiệm bảo vệ quyền con người trong việc ứng dụng trí tuệ nhân tạo
Xây dựng, phát triển và ứng dụng AI trong tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội là một xu hướng khó có thể đảo ngược Cũng tương tự như sự ra đời của các cuộc cách mạng công nghiệp và máy móc, hệ thống AI đem lại những lợi ích to lớn cho đời sống xã hội Song song với đó, hệ thống AI cũng tạo ra những thách thức, rủi ro đáng lo ngại đối với quyền con người Do đó, tất cả các chủ thể có trách nhiệm bảo vệ quyền con người (từ các Nhà nước, các tổ chức, doanh nghiệp và cá nhân) phải đánh giá và giải quyết tác động của việc ứng dụng AI đối với quyền con người Trách nhiệm bảo vệ quyền con người của tất cả các chủ thể này được ghi nhận trong Bộ luật Nhân quyền quốc tế và các văn kiện pháp lý quốc tế khác Mặc dù có sự khác nhau về vị thế, dẫn đến mức độ trách nhiệm cũng có khác nhau, nhưng tất cả các chủ thể
Trang 34này cùng chung mục đích là ghi nhận, tôn trọng, bảo đảm, thực hiện và thúc đẩy các quyền con người trong thực tiễn, đặc biệt trong việc ứng dụng AI Khái niệm và các thuộc tính của quyền con người như đã trình bày là những giá trị chung của toàn nhân loại, không thể chia cắt, có sự phụ thuộc, liên quan đến nhau Tuy nhiên, do sự gia tăng chưa từng thấy trong việc ứng dụng AI cho các công việc khác nhau như truyền thông hiện đại, thu thập, phổ biến thông tin, giáo dục, giải trí… nên mối quan tâm của mọi người chủ yếu tập trung vào các quyền như quyền bình đẳng và không phân biệt đối xử, quyền sống và tự do an toàn cá nhân, quyền riêng tư, quyền tự do ngôn luận
và biểu đạt quyền sở hữu Xin nhấn mạnh lại rằng việc ứng dụng hệ thống AI
có tác động hai chiều đến việc thực hiện, thúc đẩy và thụ hưởng tất cả các quyền con người, không chỉ có những quyền như vừa đề cập
Chúng ta không thể phủ nhận những lợi ích mà hệ thống AI đem lại cho con người Hệ thống AI dựa trên cơ chế hoạt động chủ yếu bằng cách phát hiện và củng cố các nguồn dữ liệu lớn được cung cấp đã đem lại những hiệu suất tương đối hoàn chỉnh cho chủ thể ứng dụng trong tất cả các lĩnh vực như quản lý hành chính nhà nước, tư pháp hình sự, y tế, giáo dục, giao thông vận tải, môi trường, tài chính, ngân hàng Những thuật toán, công nghệ tiên tiến của hệ thống AI đóng vai trò then chốt trong việc chia sẻ thông tin và ý tưởng rộng lớn hơn, nhanh hơn trên toàn cầu Điều này góp phần tăng cường khả năng tự chủ, tự đưa ra quyết định cá nhân và kéo theo đó là sự hưng thịnh của con người bằng cách tạo ra các điều kiện tối ưu để thực thi quyền con người, đặc biệt là quyền tự do ngôn luận và quyền tiếp cận thông tin
Tuy nhiên, do con người ngày càng phụ thuộc vào những thuật toán, công nghệ tiên tiến từ hệ thống AI Chính điều đó đã khiến cho hệ thống AI tạo ra những thách thức đáng lo ngại đối với quyền con người Những thách thức mà hệ thống AI ảnh hưởng trực tiếp đến các quyền con người như quyền bình đẳng, không bị phân biệt đối xử và được xét xử công bằng; Quyền sống,
tự do và an toàn cá nhân; Quyền riêng tư; Quyền sở hữu; Quyền tự do ngôn
Trang 35luận, biểu đạt… Và từ đó hệ thống AI sẽ có thể ảnh hưởng tiêu cực đến tất cả các quyền con người, bởi tính phụ thuộc, không thể phân chia của các quyền con người Một ví dụ đơn giản có thể thấy như việc một cá nhân sử dụng camera theo dõi giám sát hoạt động của người khác để từ đó biết được nơi cất giấu tài sản và thực hiện hành động trộm cắp Trong quá trình thực hiện hành
vi trộm cắp, người này đã bị chủ sở hữu phát hiện và có hành động sử dụng
vũ lực tấn công chủ sở hữu nhằm tẩu thoát Như vậy, chúng ta có thể thấy chủ
sở hữu tài sản trong tình huống này bị xâm phạm những quyền con người cơ bản như quyền riêng tư, quyền sở hữu, quyền an toàn cá nhân
Ở một góc độ khác, hệ thống AI không phải là những sự vật toàn năng, không phải không có nhược điểm Điều này dễ dàng nhận thấy đối với các vật thể AI hẹp khi chúng chỉ thực hiện một hoặc số ít chức năng nhất định theo thiết kế của lập trình viên Khi hoạt động nhằm đạt mục tiêu theo thiết kế ban đầu, AI hẹp thường ưu tiên các giá trị nhất định so với tất cả các giá trị khác,
từ đó làm phá vỡ bối cảnh ban đầu của đối tượng bị tác động Đối với hệ thống AI tổng quát cũng có những nhược điểm nhất định khi thực hiện cùng lúc nhiều chức năng khác nhau sẽ dẫn đến việc không đạt đến mức tối ưu hóa mục tiêu mà lập trình viên xây dựng Bên cạnh đó, hệ thống AI luôn hoạt động trên cơ sở của những thuật toán cứng nhắc, nguyên tắc Nếu người dùng không hiểu, hoặc hiểu sai thuật toán thì khi thực hiện các tác vụ có thể dẫn đến những sai lệch, tai nạn hệ thống khó có thể kiểm soát được
Trên thực tế, các chủ thể đã thực hiện được những công việc nhất định nhằm bảo vệ quyền con người trước những thách thức bởi hệ thống AI Đối với các nhà nước, những kết quả đạt được thể hiện thông qua các Chiến lược quốc gia về AI, việc ghi nhận tư cách pháp lý của AI Đối với các doanh nghiệp tư nhân ít nhiều cũng đã xây dựng nguyên tắc, quy trình kinh doanh các hoạt động công nghệ; việc điều tra, phân tích, đánh giá rủi ro mà AI gây
ra đối với quyền con người Nhìn chung, những kết quả này chưa thật sự tương xứng với tính chất là giá trị chung của nhân loại về quyền con người
Trang 36Mặt khác, những hành động thể hiện trách nhiệm này chủ yếu diễn ra tại các quốc gia phát triển, có tiềm năng về tài chính và nhân lực Chính điều này đã kéo dãn khoảng cách đối với các quốc gia nghèo nàn, thiếu kém tài chính và nhân lực trong việc ứng dụng AI nhằm thụ hưởng hoặc hạn chế rủi ro đối với quyền con người Thêm vào đó, đối với các doanh nghiệp khu vực tư nhân, vì nhiều nguyên do khác nhau như cạnh tranh kinh tế, chạy đua công nghệ… mà không thực hiện hoặc thực hiện sai trách nhiệm đối với quyền con người trong tất cả các giai đoạn, hoạt động kinh doanh
Tựu chung lại, tăng cường trách nhiệm bảo vệ quyền con người trong việc ứng dụng AI là việc làm cần thiết hiện nay Khi trách nhiệm bảo vệ quyền con người của các chủ thể được tăng cường một mặt tạo điều kiện cho
AI có thể được xây dựng, triển khai trên tất cả các lĩnh vực của đời sống, mặt khác nhằm tôn trọng, bảo đảm, thúc đẩy và phát huy giá trị chung của nhân loại đúng bản chất, ý nghĩa của nó trong điều kiện ứng dụng AI
Trang 37Chương 2 ẢNH HƯỞNG CỦA VIỆC ỨNG DỤNG TRÍ TUỆ NHÂN TẠO ĐỐI
VỚI TRÁCH NHIỆM BẢO VỆ QUYỀN CON NGƯỜI
2.1 Những ảnh hưởng tích cực của trí tuệ nhân tạo đối với trách
nhiệm bảo vệ quyền con người
Trên các diễn đàn khoa học, các trang thông tin tuyền thông chúng ta vẫn
thường nghe đến những phát minh khoa học và công nghệ, trong đó có AI
làm biến đổi tích cực xã hội và quyền con người Cụ thể những ảnh hưởng
tích cực này được thể hiện ở một số lĩnh vực như sau:
AI được ứng dụng trong lĩnh vực quản lý hành chính nhà nước Từ trước
đến nay nội dung quản lý hành chính nhà nước luôn là vấn đề phức tạp, đan
xen nhiều tầng lớp thể hiện qua bộ máy đồ sộ, chồng chéo; thủ tục giải quyết
qua nhiều giai đoạn Điều này không chỉ diễn ra ở các quốc gia kém và đang
phát triển, mà còn tồn tại ở cả các quốc gia phát triển Xuất phát từ thực tế này
đòi hỏi các quốc gia phải nghiên cứu, ứng dụng AI để phát triển hệ thống
chính phủ điện tử, chính phủ kỹ thuật số hiện đại và chuyên nghiệp hơn Tại
Hồng Kông, AI được ứng dụng để giải quyết các thủ tục hành chính từ đơn
giản đến phức tạp Trường hợp đơn giản là trường hợp đầy đủ hồ sơ theo quy
định, sau đó được giải quyết ngay lập tức Trường hợp phức tạp thì cần thêm
thông tin và hồ sơ thì cần sự can thiệp của công chức hành chính [33] Ví dụ
trên đây cho thấy quá trình giải quyết công việc hành chính của cơ quan công
quyền được giảm tải cả về mặt thủ tục, thời gian, con người
AI có khả năng cải thiện hệ thống tư pháp hình sự Lĩnh vực tư pháp
hình sự tương đối rộng và được diễn ra qua nhiều giai đoạn từ điều tra, truy
tố, xét xử và thi hành án Để bảo đảm quá trình này được diễn ra thông suốt,
hạn chế tối đa oan sai có thể xảy ra thì chủ thể thực hiện mỗi giai đoạn cần
khách quan, công tâm dựa trên thông tin chính xác, toàn diện Trên thực tế có
Trang 38một số tòa án đã ứng dụng AI thay thế thẩm phán trực tiếp xét xử các vụ án có
tính chất ít nghiêm trọng như tòa án tại Estonia Hay “tại Mỹ AI đã được sử
dụng tại 60 tòa án, người ta sử dụng phần mềm COMPAS để tư vấn cho thẩm phán trong một số vụ việc” [15, tr.67]
Các lĩnh vực phúc lợi an sinh, xã hội như y tế, giáo dục cũng nhận được nhiều lợi ích từ việc ứng dụng AI Trong y tế, AI được ứng dụng để thu thập
dữ liệu về tiền sử của người bệnh, từ đó nó đưa ra những phân tích trên cơ sở
mã hóa kinh nghiệm của các chuyên gia y tế đã được lập trình, giúp cho việc chuẩn đoán nhanh hơn, chính xác hơn Còn trong lĩnh vực giáo dục, AI hỗ trợ
cả người dạy và người học từ việc truyền tải, phổ biến kiến thức thông qua hệ thống thư viện điện tử, hệ thống học tập online, hệ thống đánh giá trực tuyến Trong lĩnh vực giao thông vận tải AI cũng được nghiên cứu và đưa vào những ứng dụng khá tiện ích cho người dùng Một ví dụ đơn giản như ứng dụng Google Maps sẽ giúp người dùng tra cứu bản đồ, chỉ dẫn đường đi đến
vị trí cần tìm Tại các thành phố lớn, đông dân cư, vào giờ cao điểm thì ứng dụng này lại càng hữu ích khi nó có thể cho người dùng những nhận định sơ
bộ về mật độ giao thông tuyến đường, khoảng thời gian cần thiết để di chuyển
qua tuyến đường đó Hay như tại Trung Quốc, người dân “sử dụng ô tô do AI
vận hành, kết nối với internet và tự định vị cho phép tài xế rảnh tay và mắt để làm việc cá nhân” [29]
Một lĩnh vực quan trọng khác nhận được nhiều lợi ích từ việc ứng dụng
AI đó là môi trường Các nhà khoa học, nhà nghiên cứu trong ngành thiên văn học đã ứng dụng AI để dự báo tình hình thời tiết, thiên tai, góp phần giảm thiểu những hậu quả do thiên tai mang lại Bên cạnh đó AI còn được ứng dụng trong hệ thống thuyền buồm, tàu thủy tự hành để tuần tra các đại dương thu thập dữ liệu về những thay đổi tại đó, tăng cường khả năng dự báo thời tiết tiết, kiểm soát hoạt động đánh bắt bất hợp pháp [54]
Trong ngành tài chính, ngân hàng, bảo hiểm AI được các nhà quản lý, hoạch định chính sách tăng cường đầu tư đưa vào ứng dụng thực tế Trong
Trang 39ngân hàng AI được ứng dụng các dịch vụ chatbots cho khách hàng, phát hiện gian lận và chống rửa tiền, phân tích và đưa ra phương án đầu tư Đối với ngành bảo hiểm, AI được sử dụng để hỗ trợ tư vấn viên phân tích khả năng tài chính của khách hàng, sau đó đưa ra gợi ý về sản phẩm phù hợp nhất với nhu cầu của khách hàng, góp phần giảm thiểu chi phí và thời gian của tư vấn viên Như vậy, trên đây là một số ảnh hưởng tích cực của AI đối với xã hội và quyền con người Điều này đã chứng minh cho lời hứa hẹn ban đầu của AI đã đem lại những khả năng vô hạn cho con người ở hiện tại và có thể nhiều hơn nữa trong tương lai Song song với đó, AI cũng tiềm ẩn những rủi ro, thách thức khó lường đối với quyền con người
2.2 Những ảnh hưởng tiêu cực của trí tuệ nhân tạo đối với trách nhiệm bảo vệ quyền con người
Hệ thống các quyền con người được ghi nhận trong Bộ luật Nhân quyền quốc tế và các văn kiện pháp lý quốc tế khác Và do các quyền con người luôn có tính thống nhất, không thể chia cắt được và tính tương hỗ lẫn nhau nên AI sẽ có những ảnh hưởng tiêu cực đối với tất cả các quyền con người được cộng đồng quốc tế thừa nhận, từ các quyền dân sự, chính trị đến các quyền kinh tế, văn hóa và xã hội Trong giới hạn phạm vi đề tài luận văn này tác giả sẽ không đề cập đến tất cả các quyền mà chỉ phân tích ảnh hưởng tiêu cực bởi AI đối với một số quyền con người nhất định để chỉ ra trách nhiệm bảo vệ của các chủ thể có liên quan
Theo đó, tác giả phân tích những ảnh hưởng tiêu cực bởi AI đối với các quyền sau: Quyền bình đẳng, không bị phân biệt đối xử và được xét xử công bằng; Quyền sống và an toàn cá nhân; Quyền riêng tư; Quyền sở hữu; Quyền
tự do ngôn luận, biểu đạt Bên cạnh đó, tác giả sẽ lồng ghép phân tích những ảnh hưởng tiêu cực từ AI đối với nhóm người dễ bị tổn thương để có góc nhìn toàn diện hơn
Trang 402.2.1 Quyền bình đẳng, không bị phân biệt đối xử và được xét xử
kỳ tiêu chí nào để tạo ra sự bình đẳng; (ii) Có vị thế bình đẳng trước pháp luật
và được pháp luật thừa nhận tư cách con người cũng như được pháp luật bảo
vệ một cách bình đẳng
Đối với lĩnh vực tư pháp hình sự, mối quan tâm chính là dữ liệu, chứng
cứ để chứng minh cho bị can, bị cáo vô tội hoặc có tội Nếu AI được cung cấp
dữ liệu sai lệch hoặc không đầy đủ có thể đưa ra những kết luận không chính xác về vụ án Bên cạnh đó, AI luôn lưu giữ thông tin cá nhân về hành động trong quá khứ của bị can, bị cáo Nếu người đó trong quá khứ đã có hành vi vi phạm và bị xét xử bởi thẩm phán là robot thì điều này vô hình chung đã tạo ra tình tiết tăng nặng là yếu tố nhân thân không tốt Ví dụ như ở Hoa Kỳ, một phần mềm dự đoán tội phạm trong tương lai đưa ra kết quả mang tính phân biệt đối xử với người da đen, thiên vị người da trắng [56]
Trong một số trường hợp phức tạp như phòng vệ chính đáng, tình thế cấp thiết, sự kiện bất ngờ mà cá nhân có hành vi vi phạm pháp luật thì liệu rằng AI có được lập trình sẵn để đưa ra gợi ý về hướng giải quyết phù hợp nhất hay không? Nếu trường hợp là không thì rõ ràng khả năng AI gây ra rủi
ro, tạo định kiến trong tư pháp hình sự là rất lớn Điều này gây ra ảnh hưởng đến quyền bình đẳng trước pháp luật và quyền được xét xử công bằng
Không chỉ có thế, ứng dụng AI còn gia tăng khoảng cách giàu nghèo, tạo
ra sự bất bình đẳng rõ rệt, hạn chế khả năng thụ hưởng quyền Điều này có thể
dễ dàng nhận thấy trong quan hệ lao động Khi AI được đưa vào ứng dụng