Để nghiên cứu tác dụng dược lý, sử dụng dịch chiết nước và dịch chiết cồn của toàn cây tầm phỏng, cụ thể như sau: - Dịch chiết nước: nguyên liệu khô được tán nhỏ, sắc 3 lần bằng nước, gộ
Trang 1studies”, Anticancer Res 23(1A), 363-98.
3 Chaudhary G (2011), “Inhibition of dimethylebenz
(a) anthracene (DMBA)/croton oil induced skin
tumorigenesis in Swiss albino mice by Aloe vera
treatment”, International Journal of Biological & Medical
Research, 2(3), 671-678.
4 Huang M T., Newmark H L., Frenkel K J (1997),
“Inhibitory effects of curcumin on tumorigenesis in mice”,
Cell Biochem Suppl 27, 26-34.
5 Hunter J., Savin J., Dahl M (2002), Clinical
Dermatology, Blackwell Science Ltd Co., 253-282
6 Huynh NT, Morille M, Bejaud J, et al (2011)
“Treatment of 9L gliosarcoma in rats by
ferrociphenol-loaded lipid nanocapsules based on a passive targeting
strategy via the EPR effect”, Pharm Res., 28 (12), 3189-98.
7 Limtrakul P.(2001), Curcumin inhibits carcinogen
induced c-Ha-ras and c-fos proto-oncogenes expression,
and protein kinase c activity in mouse skin, BMC Cancer,
1:7.
8 Limtrakul P., Anuchapreeda S., Lipigorngoson S,
et al (2001), "Inhibition of carcinogen induced
c-Ha-ras and c-fos proto-oncogenes expression by dietary
curcumin", BMC Cancer, 1,1.
9 Manoharan S., Selvan M V (2012),
“Chemopreventive potential of geraniol in 7,12-dimethylbenz(a) anthracene (DMBA) induced skin
carcinogenesis in Swiss albino mice”, J of Environmental Biology, 32, 255-260.
10 Quintanilla M., Brown K., Ramsden M., et al
(1986), “Carcinogen specific mutation and amplification
of Ha-ras during mouse skin carcinogenesis”, Nature
322, p 78-80.
11 Sonavane K, Phillips J, Ekshyyan O, et al (2012),
“Topical curcumin – based cream is equivalent to dietary
curcumin in a skin cancer model”, J of Skin Cancer,
2012, Article ID 147863.
12 Wilken R., Veena M S., Wang M B., et al
(2011) “Curcumin: A review of anti-cancer properties and therapeutic activity in head and neck squamous cell
carcinoma”, Molecular Cancer, 10, 12.
13 Yuspa S H., Hennings H., Saffiotti U (1976)
“Cutaneous chemical carcinogenesis: past, present and
future”, The J of Investigative Dermatology, 67, 199-208 (Ngày nhận bài: 14/03/2016 - Ngày duyệt đăng: 25/04/2016)
Tác dụng kháng khuẩn, chống viêm
của cây tầm phỏng (Cardiospermum halicacabum L.)
1 Khoa Y Dược, Đại học Quốc gia Hà Nội
2 Trường Đại học Dược Hà Nội
* E- mail: lyhuong.smp@vnu.edu.vn
Summary
Antimicrobial activity of Cardiospermum halicacabum L against Escherichia coli and Samonella sp was evaluated by the diffusion method on agar plates No sterile circles were observed with either aqueous and alcohol extracts from the plant in experimental bacteria incubation Acute anti-inflammatory action was tested
on carrageenan-induced paw edema in rats and peritonitis exudation, subacute inflammatory property through weight gain of granuloma caused by subcutaneous implantation of amiante, and the thymus weights after using the test agents Both aqueous and alcohol extracts from Cardiospermum halicacabum L exhibited acute anti-inflammatory action Only the aqueous extracts decreased the weight of granuloma Neither aqueous nor alcohol extraction affected the weight of thymus after 3 days’ administeration.
Keywords: Cardiospermum halicacabum L., antibacterial, anti-inflammation.
Đặt vấn đề
Tầm phỏng (Cardiospermum halicacabum L.)
là một cây thân thảo, sống lâu năm, phân bố chủ
yếu ở vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới châu Mỹ,
châu Phi, và châu Á Cây được dùng khá phổ biến
để làm thuốc điều trị các bệnh như viêm đa khớp
dạng thấp, eczema, viêm da, viêm đường tiết niệu,
viêm thận, phù thũng…[1,6,9,10] Ngoài ra, cây còn
có tác dụng kháng histamin, kháng khuẩn, chống
ung thư dạ dày [5,7] Các nghiên cứu về thành phần hóa học cho thấy toàn cây tầm phỏng có chứa saponin, alcaloid, flavonoid, proanthocyanidin, apigenin và phytosterol [1,6,7] Phân đoạn steroid, cao cồn phần trên mặt đất của cây tầm phỏng có hoạt tính chống viêm trên thử nghiệm gây phù chân chuột cống bằng carragenan Cao cồn lá có tác dụng giảm đau, chống viêm trong thử nghiệm gây
u hạt thực nghiệm Cơ chế chống viêm của cây
Trang 2tầm phỏng được chứng minh là có liên quan đến
COX [7] Ngoài ra, dịch chiết tầm phỏng còn làm
giảm TNFa và NO [9] Bên cạnh tác dụng chống
viêm, tầm phỏng còn được biết đến với tác dụng
kháng khuẩn [4], điều trị eczema [10], hạ huyết áp, lợi
tiểu [1], giảm đường huyết [2], diệt ấu trùng sán[8]…
Ở Việt Nam, tầm phỏng được biết đến chủ yếu với
tác dụng chữa các bệnh ngoài da Các nghiên cứu
về thành phần hóa học, tác dụng sinh học, cũng
như các lợi ích khác của cây tầm phỏng đối với
sức khỏe con người còn chưa được biết rõ Mục
tiêu của đề tài là đánh giá tác dụng kháng khuẩn
và chống viêm của dịch chiết toàn phần cây tầm
phỏng ở Việt Nam
Nguyên liệu và phương pháp nghiên cứu
Nguyên liệu
Nguyên liệu là toàn bộ phần cây trên mặt đất
của cây tầm phỏng (cây bóp bép - tiếng Mường),
được thu hái vào tháng 7/2015 tại xã Long Sơn,
huyện Kim Bôi, tỉnh Hòa Bình Mẫu được sấy khô ở
nhiệt độ 50oC và bảo quản trong túi nilon Mẫu tiêu
bản được lưu tại phòng tiêu bản Trường Đại học
Dược Hà Nội (HNIP), số hiệu mẫu HNIP/15362/08
Để nghiên cứu tác dụng dược lý, sử dụng dịch
chiết nước và dịch chiết cồn của toàn cây tầm
phỏng, cụ thể như sau:
- Dịch chiết nước: nguyên liệu khô được tán
nhỏ, sắc 3 lần bằng nước, gộp nước sắc lại, lọc
qua bông, cô đến cao lỏng 1:1
- Dịch chiết cồn: nguyên liệu khô được tán nhỏ,
chiết bằng dung môi ethanol 70o Dịch chiết được
lọc qua bông, cất thu hồi dung môi và cô cách thủy
đến cao lỏng 1:1
Đối tượng nghiên cứu
- Các chủng vi khuẩn Escherichia coli ATCC
29522 và Samonella sp ATCC 14028 do phòng
vi sinh, Viện Kiểm nghiệm Trung ương cung cấp
- Chuột cống trắng, khỏe mạnh, cả 2 giống, cân
nặng trung bình 160 ± 20 gam, do Học viện Quân
Y cung cấp Riêng đối với mô hình chống viêm
thông qua tuyến ức, sử dụng chuột cống đực còn
non, trọng lượng trung bình 100 ± 20 gam
Phương pháp nghiên cứu
Tác dụng kháng khuẩn
+ Nguyên tắc: Hoạt chất có trong chế phẩm thử
khuếch tán vào môi trường dinh dưỡng có vi sinh
vật chỉ thị Sau thời gian (24 giờ) ủ chế phẩm thử
với môi trường dinh dưỡng có chứa vi sinh vật chỉ
thị, đo đường kính vòng vô khuẩn để đánh giá khả
năng ức chế vi sinh vật của mẫu nghiên cứu
+ Cách tiến hành: Chuẩn bị môi trường
dinh dưỡng thạch thường Hấp tiệt trùng ở 121oC trong 15 phút Khi nhiệt độ môi trường khoảng 45-50oC, trộn vi sinh vật chỉ thị vào môi trường
và lắc đều (vi sinh vật chỉ thị trước khi thử được làm thành các nhũ dịch có khoảng 106-107 tế bào trong 1 ml, và trộn vào môi trường theo tỷ lệ 1%)
Đổ môi trường dinh dưỡng có chứa vi sinh vật chỉ thị vào các hộp petri đã được hấp tiệt trùng ở
121oC trong 15 phút (25 ml/hộp) Sau đó cho các hộp petri vào trong buồng nuôi cấy Sau khi thạch đông, tiến hành đục lỗ (6 giếng/đĩa, đường kính 7 mm) Nhỏ 0,2 ml mẫu thử vào các giếng thạch Để yên 15 phút cho mẫu thử khuyếch tán Cho vào tủ
ấm nhiệt độ 28-30oC trong 24 giờ Sau 24 giờ, đo đường kính vùng ức chế để đánh giá khả năng ức chế vi sinh vật của mẫu nghiên cứu Nếu đường kính vòng vô khuẩn > 15 mm, hoạt chất có trong chế phẩm thử có tính kháng khuẩn
Tác dụng chống viêm
+ Mô hình gây phù chân chuột bằng carrageenan:
theo mô hình của Winter[3] Chuột được chia ngẫu nhiên thành 4 lô nghiên cứu (lô 1 uống NaCl 0,9%,
lô 2 uống Indomethacin 5 mg/kg, lô 3 uống dịch chiết tầm phỏng nước 10 g/kg và lô 4 uống dịch chiết tầm phỏng cồn 10 g/kg) Tất cả chuột được uống chất thử vào thời điểm 24 giờ và 60 phút trước khi gây viêm bằng carrageenin 0,5% (pha trong NaCl 0,9%) tiêm vào gan bàn chân chuột Trước khi gây viêm, chuột được đo thể tích bàn chân chuột bình thường (Vo), sau khi gây viêm 1 giờ, 3 giờ, 5 giờ, 24 giờ chuột được đo lại thể tích bàn chân chuột (được các giá trị V1, V3, V5, V24) Kết quả chống viêm được thể hiện bằng mức độ phù chân chuột (DV%) và tỷ lệ phần trăm ức chế phù (I%)
+ Mô hình gây tràn dịch màng bụng: Chuột
được chia thành các lô giống như trên, được uống thuốc liên tục trong 3 ngày Ngày thứ 3, một giờ sau khi uống thuốc thử, chuột được tiêm màng bụng dung dịch carrageenin 0,005 g + formaldehyd 1,4
ml + nước cất vừa đủ 100 ml với thể tích tiêm 2 ml/ chuột Sau khi tiêm 24 giờ, mở khoang màng bụng
để hút dịch và đếm số lượng tế bào máu trong dịch tiết Tác dụng chống xuất tiết được đánh giá qua thể tích dịch rỉ viêm và số lượng bạch cầu trong dịch rỉ viêm
+ Mô hình gây viêm mạn bằng amiant: Sử dụng
phương pháp gây u hạt thực nghiệm của Ducrot, Jolou và cộng sự [3] Chuột được chia lô như trên
và uống thuốc liên tục trong 5 ngày liền (vào 8.30 sáng) Trước khi cho uống thuốc, tất cả các chuột được cấy amiant với khối lượng 30 ± 0,1 mg (đã tiệt trùng ở 160oC trong 2 giờ) vào dưới da lưng chuột
Trang 3Chiều ngày thứ 5, sau liều uống thuốc cuối cùng,
giết chuột, bóc tách khối u, đặt vào tủ sấy ở nhiệt
độ 56oC, sấy trong 18 giờ, sau đó cân trọng lượng
khối u Tác dụng chống viêm được đánh giá bằng
tỷ lệ phần trăm giảm trọng lượng khối u giữa lô thử
với lô chứng
+ Tác dụng chống viêm thông qua tuyến
ức: Chuột được chia lô và uống thuốc tương
tự như trên, riêng lô 2 thay indomethacin bằng
prednisolon 6 mg/kg trong 3 ngày (vào 8.30 sáng)
Chiều ngày thứ 3, giết chuột, bóc tách tuyến ức đem cân ngay So sánh trọng lượng tuyến ức giữa
lô thử và lô chứng
Kết quả nghiên cứu
Tác dụng kháng khuẩn của dịch chiết tầm phỏng
Sử dụng 2 chủng vi khuẩn là E coli và
Samonella sp để đo hoạt tính kháng khuẩn của
dịch chiết cây tầm phỏng Kết quả thể hiện ở hình
1 và hình 2
Hình 1: Tác dụng kháng khuẩn của dịch chiết tầm
phỏng nước đối với: A) E coli; B) Salmonella sp Hình 2: Tác dụng kháng khuẩn của dịch chiết tầm phỏng cồn đối với: A) E coli; B) Salmonella sp Nhận xét: Kết quả cho thấy dịch chiết nước tầm
phỏng có tác dụng kìm khuẩn yếu, tuy nhiên không
quan sát thấy vòng vô khuẩn ở cả dịch chiết nước
và dịch chiết cồn tầm phỏng
Tác dụng chống viêm cấp trên mô hình gây phù chân chuột bằng carrageenan
Kết quả thể hiện qua hình 3 và bảng 1
Bảng 1: Tỷ lệ phần trăm ức chế phù (I%) của các lô chuột thực nghiệm
chân chuột rõ theo thời gian, cả dịch chiết nước và
dịch chiết cồn đều có tác dụng ức chế phù chân
chuột rõ ở các thời điểm sau khi gây viêm 3 giờ
và 5 giờ, ngoài ra dịch chiết nước tầm phỏng còn
làm giảm viêm ở ngay thời điểm 1 giờ sau khi
gây viêm Không có sự khác biệt về tác dụng chống viêm của indomethacin 5 mg/kg, dịch chiết nước và dịch chiết cồn cây tầm phỏng 10 g/kg ở các thời điểm sau gây viêm 3 giờ và 5 giờ
Tác dụng chống viêm cấp trên mô hình gây tràn dịch màng bụng
Hình 3: Mức độ phù chân chuột (DV%) theo thời
gian ( * : p < 0,05 so với chứng; ** :p < 0,01 so với chứng; *** : p < 0,001 so với chứng)
Trang 4Bảng 2: Thể tích dịch rỉ viêm và số lượng bạch cầu
trong dịch rỉ viêm
(n)
Thể tích dịch
rỉ viêm (ml) bạch cầu (G/L) Số lượng
1 NaCl 0,9% 10 3,53 ± 0,03 8,65 ± 0,36
2 Indomethacin 5 mg/kg 10 4,33 ± 0,09p
1-2 = 0,3 8,61 ± 0,92p1-2 = 0,6
3 Tầm phỏng nước 10 g/kg 10 4,08 ± 0,01p
1-3 = 0,4 4,46 ± 0,34p1-3 = 0,002
4 Tầm phỏng cồn 10 g/kg 10 4,30 ± 0,29p
1-4 = 0,4
3,88 ± 0,24
p1-4 = 0,0001
p3-4 = 0,52
Nhận xét: Indomethacin, dịch chiết nước và
dịch chiết cồn cây tầm phỏng không làm thay đổi
thể tích dịch rỉ viêm Số lượng bạch cầu giảm một
cách đáng kể ở lô uống tầm phỏng nước và tầm
phỏng cồn, tuy nhiên không thay đổi ở lô uống
indomethacin với liều 5 mg/kg Không có sự khác
biệt về số lượng bạch cầu giữa 2 lô uống tầm
phỏng nước và tầm phỏng cồn
Tác dụng chống viêm mạn bằng amiant
Bảng 3: Trọng lượng u hạt và tỷ lệ ức chế u hạt
trên các lô chuột thực nghiệm
(n)
Trọng lượng u hạt trung bình (mg)
Tỷ lệ ức chế u hạt
1 NaCl 0,9% 10 188,60 ± 0,02 0
2 Indomethacin 5 mg/kg 10 118,70 ± 0,01 37,08 p1-2 = 0,023
3 Tầm phỏng nước 10 g/kg 10 83,14 ± 0,01 55,99 p 1-3 = 0,001
p2-3 =0,013
4 Tầm phỏng cồn 10 g/kg 10 135,23 ± 0,01 28,28 p1-4 = 0,10
Nhận xét: Cả indomethacin và dịch chiết nước
tầm phỏng đều có tác dụng chống viêm mạn
thông qua giảm trọng lượng u hạt thực nghiệm
Tỷ lệ ức chế u hạt của dịch chiết nước tầm phỏng
còn mạnh hơn so với indomethacin liều 5 mg/kg
(p < 0,05) Dịch chiết cồn tầm phỏng chưa thể hiện
tác dụng chống viêm thông qua mô hình này
Tác dụng chống viêm thông qua giảm trọng
lượng tuyến ức
Bảng 4: Trọng lượng tuyến ức của các lô chuột
thực nghiệm
Lô Thuốc dùng chuột Số
(n)
Trọng lượng tuyến ức trung bình (mg)
Tỷ lệ giảm trọng lượng tuyến ức so với lô chứng (%)
p so với chứng
1 NaCl 0,9% 10 0,23 ± 0,01
2 Prednisolon 6 mg/kg 10 0,15 ± 0,01 34,56 0,013
3 Tầm phỏng nước 10g/kg 10 0,22 ± 0,01 4,54 0,79
4 Tầm phỏng cồn 10 g/kg 10 0,22 ± 0,01 4,93 0,74
Nhận xét: Chỉ có prednisolon 6 mg/kg làm giảm
trọng lượng tuyến ức so với lô uống nước muối sinh lý một cách có ý nghĩa thống kê Cả dịch chiết nước và dịch chiết cồn tầm phỏng đều chưa làm thay đổi trọng lượng tuyến ức so với lô chứng
Bàn luận
Về tác dụng kháng khuẩn: kết quả nghiên cứu
ở hình 1 và hình 2 cho thấy dịch chiết nước và cồn tầm phỏng không thể hiện hoạt tính kháng khuẩn
rõ trên các chủng E coli và Samonella sp Nghiên
cứu của Jigna Parekh cũng cho thấy dịch chiết nước và cồn cây tầm phỏng không có tác dụng
đối với E coli [4] Trong khi các nghiên cứu khác cho thấy alkaloid từ quả tầm phỏng có tác dụng ức
chế E coli, Klebsiella pneumonia, Shigella boydii,
và Salmonella typhimurium [7,8] Như vậy, rất có thể
với cách chiết khác nhau, ở các phân đoạn khác nhau, dịch chiết tầm phỏng sẽ cho những tác dụng khác nhau trên các chủng vi khuẩn
Về tác dụng chống viêm: Kết quả nghiên cứu
cho thấy cả dịch chiết nước và dịch chiết cồn tầm phỏng đều có tác dụng chống viêm cấp trên mô hình gây phù chân chuột bằng carrageenan và gây tràn dịch màng bụng Tác dụng này tương đương
và thậm chí còn tốt hơn so với indomethacin 5 mg/kg bởi ở mô hình gây tràn dịch màng bụng, các dịch chiết tầm phỏng còn làm giảm số lượng bạch cầu trong dịch rỉ viêm, trong khi indomethacin không làm thay đổi chỉ số này Theo một số nghiên cứu, để làm giảm viêm trong mô hình gây tràn dịch màng bụng, cần dùng indomethacin với liều
20 mg/kg [2,3] Tác dụng chống viêm của cây tầm phỏng được cho là do thành phần triterpenoid [7,8] Trên mô hình chống viêm mạn bằng amiant, chỉ có dịch chiết nước tầm phỏng là thể hiện tác dụng ức chế khối u, trong khi dịch chiết cồn không thể hiện tác dụng này Nghiên cứu của Sadique cho thấy cao toàn phần cây tầm phỏng thể hiện tác dụng chống viêm rõ với liều 500 mg/kg Trong thử nghiệm gây u hạt thực nghiệm, cao tầm phỏng
ức chế sự thoát dịch và tăng sinh tế bào viêm trong viêm mạn tính, giảm lipid peroxidase, giảm g-glutamyl transpeptidase và giảm hoạt động của phospholipase A2 trong dịch tiết u hạt [6]
Tác dụng chống viêm thông qua giảm trọng lượng tuyến ức được xem như là một mô hình mô phỏng tác dụng chống viêm theo kiểu corticoid Corticoid là một hormon của vỏ thượng thận có tác dụng ngăn cản hình thành các tế bào miễn dịch nên
có thể gây ly giải lympho bào và làm teo tuyến ức[3] Kết quả nghiên cứu ở bảng 4 cho thấy prednisolon với liều 6 mg/kg đã làm giảm trọng lượng tuyến ức
rõ sau 3 ngày điều trị Dịch chiết nước và dịch chiết cồn tầm phỏng đã không thể hiện rõ tác dụng này
Trang 5Các nghiên cứu về cơ chế chống viêm của tầm
phỏng trên thế giới cho thấy ức chế phospholipase
A2, ức chế COX2, giảm TNFa và giảm NO tại mô
viêm là những đích tác dụng quan trọng của dịch
chiết tầm phỏng Chưa có nghiên cứu nào chỉ rõ
thành phần hoạt chất trong cây tầm phỏng có tác
dụng chống viêm
Kết luận
- Dịch chiết nước và dịch chiết cồn cây tầm phỏng
(liều 10 g/kg) chưa thể hiện hoạt tính kháng khuẩn
trên các chủng vi khuẩn E coli và Samonella sp
- Cả dịch chiết nước và dịch chiết cồn cây tầm
phỏng (liều 10 g/kg) đều thể hiện tác dụng chống
viêm cấp qua mô hình gây phù chân chuột bằng
carrageenan và gây tràn dịch màng bụng bằng
hỗn hợp carrageenan + formaldehyd
- Chỉ có dịch chiết nước tầm phỏng 10 g/kg thể
hiện tác dụng chống viêm mạn thông qua làm giảm
trọng lượng khối u trên mô hình gây u hạt thực
nghiệm bằng cấy amiant dưới da
- Cả dịch chiết nước và dịch chiết cồn tầm
phỏng (liều 10 g/kg) đều không ảnh hưởng đến
trọng lượng tuyến ức sau khi cho chuột uống thuốc
liên tục trong 3 ngày
Tài liệu tham khảo
1 Đỗ Huy Bích, Đặng Quang Trung, Nguyễn
Thượng Dong (2006), Cây thuốc và động vật làm thuốc
ở Việt Nam, tập 2, Nhà xuất bản Khoa học kỹ thuật, trang
794-795.
2 Lê Thị Diễm Hồng, Nguyễn Xuân Thắng (2003),
“Góp phần tìm hiểu tác dụng chống viêm của hoa cây
kim ngân (Lonicera japonica Thunb.)”, Tạp chí Dược học
số 4/2003, trang 13-15.
3 H Gerhard Vogel (2002), “Drug discovery and evaluation, pharmacological assays”, Springer-Verlag Berlin Haidelberg, pp 725-771.
4 Jigna Parekh, Sumitra V Chanda (2006), “In vitro
antimicrobial activity and phytochemical analysis of some
Indian medicinal plant”,Turk J Biol., 31 (3), pp 53-58.
5 M S Sheeba and V V Asha (2006), “Effect of
Cardiospermum halicacabum L on ethanol-induced gastric ulcer in rats”, J of Ethnopharmacology, volume
106, issue 1, pp 105-110
6 Sadique, J Chandra, T Thenmozhi, V Elango
(2007), “Biochemical models of action of Cassia occidentalis and Cardiospermum halicacabum in inflammation”, International Bibliographic Information Dietary Supplements, 19(2), pp 201-212.
7 S M Jachak, C Selvam, A S Rivastava, V Ahuja (2007), “Evaluation of anti-inflammatory activity
and identification of bioactive compounds from Vitex negundo L., Cardiospermum halicacabum L and Tridax procumbens L.”, Theme Connect, 73
8 The European agency for the evaluation of medicinal products (1990), “Committee for veterinary
medicinal products, Cardiospermum halicacabum L report”, Veterinary Medicines Evaluation Unit, 664, 99
9 Venkatesh Babu K C and Krishnak U M
(2006), “Cardiospermum halicacabum L suppresses
the production of TNF-alpha and Nitric oxide by human
peripheral blood mononuclear calls”, African J of Biomedical Research, Vol.9, pp 95-99
10 Z Phytother (2005), “Treatment of eczema
with Cardiospermum halicacabum L., Cardiospermum
ointment and ointment based on a part-place comparison
controlled trial”, Salbbe and Sallbengrundlage in Halbseitenverglerich, 5, pp 263-266
(Ngày nhận bài: 20/03/2016 - Ngày duyệt đăng: 25/04/2016)
Nghiên cứu tác dụng giảm đau và chống viêm
của cây gối hạc
1 Viện Dược liệu
2 Trường Đại học Dược Hà Nội
* E-mail: phuong76.hpttc@gmail.com
Summary
The analgesic and anti-inflammatory activities of Leea rubra Blume (Leeaceae) extracts were investigated
in mice and rats Acute and chronic anti-inflammatory activity was estimated by the model of carrageenan-induced paw edema and cotton pellets in rats Analgesic effect was tested in mice by hot plate and writhing test
to distinguish the central and peripheral effects, respectively In writhing tests, effects of the ethanol extracts
of root and leaf were significant at doses of 100; 200 and 400 mg/kg By the model of carrageenan-induced paw edema, both root nad leaf extracts showed a trend to reduce the edema at doses of 100 and 200 mg/kg