1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn thiết kế hệ thống phân loại và đếm sản phẩm theo kích thước

39 1,9K 6
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thiết kế hệ thống phân loại và đếm sản phẩm theo kích thước
Tác giả Nguyễn Văn An, Lê Phước Bảo, Trần Hoàng Ben
Người hướng dẫn GVHD: Nguyễn Đắc Lực
Trường học Trường Đại Học Bách Khoa Huế
Chuyên ngành Cơ Khí Chế Tạo
Thể loại Đồ án
Năm xuất bản 2012
Thành phố Huế
Định dạng
Số trang 39
Dung lượng 1,69 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

công nghệ cơ khí, cơ khí chế tạo máy, cơ khí động lực, hệ thống phân loại, luận văn, Cơ Khí Chế Tạo, MÁY THIẾT KẾ

Trang 1

Luận văn Thiết kế hệ thống phân loại và đếm sản phẩm theo kích thước

Trang 2

LỜI NÓI ĐẦU

Ngày nay, với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học kỹ thuật con người ngày càng đòihỏi trình độ tự động hoá phải càng phát triển để đáp ứng được nhu cầu của mình Tự độnghoá ngày càng phát triển rộng rãi trong mọi lĩnh vực kinh tế, đời sống xã hội, nó là ngànhmũi nhọn trong công nghiệp Ngày nay, trình độ tự động hoá của một quốc gia đánh giá cảmột nền kinh tế của quốc gia đó Chính vì lẽ đó mà việc phát triển tự động hoá là một việchết sức cần thiết

Viêc tạo ra các sản phẩm tự động hoá không những trong công nghiệp mà ngay cảtrong đời sống con người ngày càng được phổ biến Hầu như trong mọi lĩnh vực đều thấy

có cần thiết của tự động hoá

Từ những thực tế trên là sinh viên của ngành Cơ Khí Chế Tạo, từ nhữnh kiến thức đã

học chúng em đã chọn và thực hiện đê tài “Thiết kế hệ thống phân loại và đếm sản phẩm theo kích thước ” Như đã nói ở trên việc tạo ra một hệ thống như vậy để thay thế con

người thiết nghĩ cũng là vấn đề hết sức cần thiết Với phạm vi đồ án chúng em sẽ tạo ramột mô hình mô phỏng hoạt động của hệ thống phân loại và đếm sản phẩm

Trong thời gian thực hiện đề tài chúng em đã nhận được sự giúp đỡ của các thầy cô

và các bạn , đặc biệt là sự hướng dẫn tận tình của thầy Nguyễn Đắc Lực để chúng em có

thể hoàn thành đề tài này Chúng em xin chân thành cảm ơn

Việc hoàn thành đề tài này sẽ không tránh được những sai lầm thiếu sót Chúng emrất mong được sự phê bình đánh giá của các thầy cô để chúng em có thể rút ra được kinhnghiệm và cũng nhằm bổ sung kiến thức cho mình

Trang 3

CHƯƠNG I TỔNG QUAN VỀ MÁY THIẾT KẾ

1.1.GIỚI THIỆU TÓM TẮT VỀ ĐỀ TÀI

Nguyên lý làm việc :

Máy phân loại sản phẩm này hoạt động trên nguyên lý dùng các cảm biến để xácđịnh chiểu cao của sản phẩm Sau đó dùng xilanh để loại bỏ sản phẩm có kích thướt khôngđạt yêu cầu Những sản phẩm có kích thước đạt yêu cầu sẽ được đếm bằng các cảm biếncho đến khi đạt đủ số lượng theo yêu cầu rồi tiếp tục được chuyển đến các thùng hàng đểđóng gói

Từ nguyên lý làm việc trên ta thấy muốn máy hoạt động được cần những chuyểnđộng cần thiết: chuyển động tịnh tiến để đưa sản phẩm vào để phân loại, ta dùng băngchuyền để tạo ra chuyển động này Để truyền động chuyển động quay cho trục của băngchuyền ta dùng động cơ điện một chiều thông qua bộ truyền bánh răng trụ răng thẳngtrung gian Ngoài chuyển đông đưa sản phẩm vào của băng chuyền máy còn chuyển độngcần thiết nữa đó là hai chuyển động tịnh tiến để đẩy sản phẩm không đạt kích thước củaxilanh Chuyển động của xilanh được điều khiển bởi hệ thống khí nén

Chu trình làm việc máy :

Khi ấn nút Start máy hoạt động, sản phẩm được vào băng chuyền Khi sản phẩm ởtrên băng chuyền nó sẻ được phân loại với kích thướt lớn nhỏ khác nhau Các phế phẩm sẻđược loại bỏ còn các sản phẩm sau khi được phân loại sẽ được đếm và chuyển đến thùnghàng để đóng gói Chu trình cứ thế tiếp tục cho đến khi phân loại xong sản phẩm

Loại sản phẩm được phân loại:

Hiện nay công việc phân loại và đếm sản phẩm là một công việc lặp đi lặp lại nênkhông thể tránh được sự nhàm chán trong công việc Công việc phân loại và đếm gạchmen,các loại trái cây như dừa, bưởi, các thùng hàng theo kích thước là một công việcmất khá nhiều thời gian và dễ gây sự nhầm lẫn Ngày nay để nâng cao năng suất lao động,nâng cao chất lượng và ổn định chất lượng sản phẩm, người ta đã đưa vào các thiết bị sản

Trang 4

xuất trong công nghiệp với hệ thống điều khiển tự động từng phần hoặc toàn bộ quá trìnhsản xuất.

Cùng với việc sử dụng ngày càng nhiều hệ thống sản xuất tự động, con người đã cảithiện đáng kể điều kiện lao động như giảm nhẹ sức lao động, tránh được sự nhàm chántrong công việc, tạo cho họ được tiếp cận với sự tiến bộ của các lĩnh vực khoa học kỹthuật và được làm việc trong môi trường ngày càng văn minh hơn

Trong nền kinh tế thị trường và hội nhập ngày càng sâu rộng vào nền kinh tế thế giới,vấn đề cạnh tranh ngày càng khốc liệt hơn trong nhiều lĩnh vực như chất lượng mẫu mã vàquá giá thành sản phẩm Có thể thấy rằng chỉ áp dụng tự động hóa vào quá trình sản xuấtmới có thể có cơ hội nâng cao năng suất, tạo tiền đề cho việc giảm giá thành sản phẩm,cũng như thay đổi mẫu mã một cách nhanh chóng

1.2 KHẢ NĂNG ỨNG DỤNG TRONG THỰC TẾ VÀ LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI

Tự động hoá là một quá trình cho phép giảm giá thành sản phẩm, giảm sức lao độngcủa con người, nâng cao năng xuất lao động Trong mọi thời đại, một sản phẩm làm ra vấn

đề giá thành sản phẩm là một trong những vấn đề rất được quan tâm bởi lẽ nếu cùng mộtloại sản phẩm của hai nhà sản xuất đưa ra nếu giá thành sản phẩm nào rẻ hơn nhưng vớichất lượng như nhau thì dĩ nhiên người ta sẽ lựa chọn sản phẩm rẻ hơn Chính vì lẽ đó

mà con người luôn tìm tòi mọi phương pháp để giảm giá thành sản phẩm và đó là cơ sởcho nghành tự động hoá ra đời Một trong những động lực cho sự phát triển của tự độnghoá đó là giảm sức lao động của con người, nâng cao chất lượng sản phẩm và năng xuấtlao động Người ta từ lâu đã nhận ra rằng lao động của con người không thể sánh bằngmáy móc kể cả về năng suất và chất lượng đặc biệt là các loại máy móc tự động Vì vậyviệc ra đời của ngành tự động hoá không những giảm bớt lao động của con người mà cònnâng cao được năng suất và chất lượng sản phẩm

Quá trình tự động hoá đã làm cho việc quản lí trở nên rất đơn giản, bởi vì nó khôngnhững thay đổi điều kiện làm việc của công nhân mà còn có thể giảm số lượng công nhânđến mức tối đa Ngoài ra tự động hoá còn cải thiện được điều kiện làm việc của công

Trang 5

nhân, tránh cho công nhân những công việc nhàm chán, lặp đi lặp lại, có thể thay cho conngười lao động ở những nơi có điều kiện làm việc nguy hiểm, độc hại…

Tự động hoá có thể áp dụng cho nhiều loại hình sản xuất hàng loạt và đơn chiếc vớimột trình độ chuyên môn hoá cao cũng chính vì thế mà năng suất cũng như chất lượng sảnphẩm rất cao Ngày nay để đánh giá mức độ của một nền sản xuất, người ta đánh giá vàomức độ tự động hoá của nền sản xuất đó

Ngày nay, với một trình độ chuyên môn hoá cao một sản phẩm được làm ra có thểđược lắp từ nhiều chi tiết của các nhà sản xuất khác nhau trên thế giới Chính vì lẽ đó màbuộc con người phải tiêu chuẩn hoá các chi tiết cũng như các sản phẩm chế tạo ra Tựđộng hoá rất thích hợp với ngành sản xuất theo tiêu chuẩn như thế

Với tầm quan trọng như thế, ngành tự động hoá rất được các quốc gia trên thế giớiquan tâm bởi đó không những là bộ mặt của nền sản xuất mà trong thời buổi kinh tế thịtrường việc cạnh tranh của sản phẩm trên thị trường là rất khó khăn, nó đòi hỏi khôngnhững về chất lượng sản phẩm mà còn cả về giá thành

Chúng em chọn đề tài phân loại sản phẩm bởi vi nó có khá nhiều ứng dụng trongthức tế như đã trình bày ở trên Việc vận dụng những kiến thức đã học vào thiết kế chế tạo

mô hình cũng tương đối đơn giản

Trang 6

CHƯƠNG II PHÂN TÍCH VÀ LỰA CHỌN PHƯƠNG ÁN THIẾT KẾ

2.1 PHÂN TÍCH CÁC HOẠT ĐỘNG CỦA HỆ THỐNG

2.1.1 Hoạt động phân loại thủ công

Khi sản phẩm được sản xuất ra, người công nhân dùng các thiết bị đo kiểm để xácđịnh sản phẩm thuộc loại nào Sau đó xếp sản phẩm vào trong hộp, đếm đủ số lượng rồidùng băng keo dán lên miệng hộp Việc này phụ thuộc rất nhiều vào trình độ công nhân.Hơn nữa, công nhân làm việc lâu không tránh khỏi những sai sót dẫn đến chất lượng sảnphẩm không đồng đều

2.1.2 Hoạt động phân loại tự động

Khi sản phẩm được sản xuất ra, được tự động sắp xếp đều trên băng chuyền Bêncạnh băng chuyền có đặt các công tắc hành trình, phụ thuộc vào kích thước của sản phẩm

mà chúng có tác động vào công tắc hành trình hay không, khi sản phẩm tác động vào côngtắc hành trình chúng sẽ được đẩy vào hộp nằm trên các băng chuyền khác.Các sản phẩmcòn lại sẻ được băng chuyền tiếp tục mang đi đến các thùng hàng ,thông qua hệ thống đếm

tự động cho đến khi đủ số lượng quy định thì hệ thống sẻ tư động dừng trong một khoàngthời gian để đóng gói sản phẩm Hệ thống hoạt động tuần tự cho đến khi có lệnh dừng.Người công nhân chỉ việc tới lấy hộp xếp lên xe đẩy đưa vào kho hàng

2.2 CÁC YÊU CẦU KHI THIẾT KẾ HỆ THỐNG

2.2.1 Các chuyển động chính

Chuyển động của băng chuyền chính để mang sản phẩm đi phân loại

Chuyển động tịnh tiến của piston nhằm đẩy sản phẩm vào hộp trên băng chuyền phânloại

2.2.2 Các yêu cầu khi thiết kế

Nhìn chung, khi xây dựng phương án bố trí cho các hệ thống tự động cần phải đảmbảo các điều kiện như sau:

- Hệ thống đơn giản, dễ điều khiển và đáng tin cậy

- Công nhân làm việc được thoải mái, không phải chịu áp lực lao động

Trang 7

- Ngoài ra phải đảm bảo được tính an toàn và tính kinh tế.

2.3 PHÂN TÍCH LỰA CHỌN PHƯƠNG ÁN THIẾT KẾ

2.3.1 Phương án 1.

Sử dụng băng tải để vận chuyển sản phẩm, một công tắc hành trình được đặt ở phía

trên băng tải để xác định các sản phẩm có chiều cao vượt quá cho phép Một xilanh để đẩyphế phẩm ra khỏi băng tải Một cảm biến để đếm sản phẩm Sử dụng van tiết lưu năm cửahai vị trí để điều khiển xilanh

Ưu điểm: Vận chuyển được sản phẩm nhanh hơn do đó năng suất cao hơn, sử dụng

ít pittong, ít băng tải nên gia thành chế tạo thấp, ít dùng cảm biến nên dễ dàng cho việcđiều khiển

Nhược điểm : Chỉ phân loại các sản phẩm có chiều cao khác nhau, chưa có tính linh

hoạt trong khâu phân loại và đóng gói

2.3.2.Phương án 2.

Sử dụng hai băng tải để vận chuyển sản phẩm, một dùng để vận chuyển sản phẩmđến để phân loại, một để vận chuyển các sản phẩm đã được phân loại đi đóng thùng Sửdụng 2 xilanh để đẩy các sản phẩm đạt chất lượng từ băng tải 1 sang băng tải 2, sử dụngcông tắc hành trình ở băng tải 1 để phân loại sản phẩm Bộ cảm biến để đếm sản phẩm, sửdụng van tiết lưu 5/2 để điều khiển xilanh

Ưu điểm : phân loại sản phẩm đa dạng hơn, có thể cùng một lúc phân loại nhiều

kích thước của sản phẩm

Nhược điểm : sử dụng nhiều xilanh và băng tải hơn nên tốn kém trong việc chế tạo,

sử dụng nhiều cảm biến nên khó khăng trong việc điều khiển Tôn nhiều thời gian hơn do

đó năng suất sẽ giảm

Dựa trên các phân tích trên nhóm chúng em lựa chọn phương án 1 để thiết kế và chếtạo mô hình

Trang 8

CHƯƠNG III THIẾT KẾ ĐỘNG HỌC VÀ KẾT CẤU MÁY

3.1 TÍNH TOÁN THÔNG SỐ ĐỘNG HỌC TOÀN MÁY

- Năng suất làm việc của máy Q [ T/h ]

- Tốc độ vận chuyển V = 36 [m/h ]

- Chiều dài băng chuyền L = 10 [m ]

- Độ cao vận chuyển của băng chuyền H = 0 [ m ]

- Góc nghiêng mặt đáy ß = 0 [ ]

- Lực đẩy của Xilanh F

L t

Năng suất là lượng vật liệu được vận chuyển trong một đơn vị thời gian [ Th ]

G là trọng lương của gạch cần phân loại, G =3 [ N ]

V là vận tốc băng chuyền, V = 0,1 [ m/s ]

t là bước của các viên gạch đưa vào phân loại kích cỡ, t = 0,1 [ m ]

thay số vào công thức trên ( 1 ) ta được công suất:

Trang 9

 là hiệu suất chung của toàn máy

1 là hiệu suất của bộ truyền bánh răng 1 = 0,97

2 là hiệu suất của một cặp ổ bi 2 = 0,995

3là hiệu suất của băng chuyền 3= 0,75

Trang 10

Thay vào công thức (4) ta được :

 = 0.97.0,9952 0,75 = 0,7

Thay số vào công thức (3) ta được :

N =1,08.(0 + 1,3.10)/(360.0,7) = 0,054 [Kw]

3.2.2 Tính toán động lực học toàn máy

3.2.2.1 Tính toán công suất trên các trục

Trang 11

dsb1= 110 3

6001

0 = 5,7 [mm], dchon1 = 6 [mm]

dsb2= 110 3

300097

0 = 7,54 [mm], dchon2 = 18 [mm]

dsb3= 110 3

300073

0 = 6,86 [mm], dchon3 = 18[mm]

CHƯƠNG 4 THIẾT KẾ HỆ THỐNG ĐIỀU KHIỂN

4.1 PHÂN TÍCH PHẦN TỬ DẨN ĐỘNG

4.1.1 Phân Tích Và Lựa Chọn Động Cơ Điện

4.1.1.1 Giới thiệu động cơ điện một chiều kích từ độc lập

Cấu tạo động cơ điện một chiều

Gồm có hai phần chính: Phần tĩnh (Stato) và phần quay (Roto)

Phần tĩnh:

Cực từ chính: Là bộ phận tạo ra từ trường gồm có lõi thép và dây quấn kích từ Lõithép được ghép từ những lá thép mỏng đối với máy lớn, hoặc đúc thành từng khối đối vớimáy nhỏ

Dây quấn kích từ quấn quanh thân cực từ, các cuộn dây được nối tiếp với nhau.Cực từ phụ: Được đặt giữa các cực từ chính dùng trong các máy có công suất lớn đểcải thiện đảo chiều, cực từ phụ không có mặt cực, lõi thép làm bằng thép khối trên thâncực từ phụ có một cuộn dây, cấu tạo giống như cực từ chính

Phần quay:

Gồm lõi thép được ghép từ những lá thép kĩ thuật điện dày 0.5mm, để giảm tổn hao

do dòng điện xoáy Bên ngoài có rãnh để đặt dây quấn phần ứng

Dây quấn phần ứng: Là các dây đồng đặt bên trong rênh phần ứng gồm nhiều phần

tử, mỗi phần tử có nhiều vòng dây và hai đầu của mỗi phần tử được nối với hai phiến góp,các phần tử được nối với nhau tạo thành mạch kín

Trang 12

Cổ góp: (vành góp hay vành đổi chiều) Biến đổi dòng điện xoay chiều trong máythành dòng một chiều ra ngoài, hoặc biến dòng một chiều từ bên ngoài thành dòng xoaychiều vào trong máy.

Cổ góp có nhiều phiến góp bằng đồng, ghép cách điện nhau bằng Mica 0.4-1.2mmtạo thành hình tròn Đuôi của phiến góp hơi nhô cao để hàn với các đầu dây của phần tử

Chổi than: Dùng để dẫn điện từ ngoài vào trong dây quấn phần ứng và ngược lại

Phương trình đặc tính cơ của động cơ điện một chiều kích từ độc lập

Phương trình đặc tính cơ tổng quát:

Trang 13

-Tính chọn công suất động cơ truyền động thiết bị vận tải liên tục thường theo côngsuất cản tĩnh Chế độ quá độ không tính vì số lần đóng cắt ít, không ảnh hưởng đến chế độtải của động cơ truyền động Phụ tải của thiết bị vận tải liên tục thường ít thay đổi trongquá trình làm việc nên không cần thiết phải kiểm tra theo điều kiện phát nóng quá tải.Trong điều kiện làm việc nặng nề của thiết bị, cần kiểm tra theo điều kiện mở máy.

Sau đây là phương pháp tính chọn công suất động cơ truyền động băng tải :

Hình 1.1 Sơ đồ tính toán lực của băng tải

Hình vẽ cho thấy: Một lực bất kỳ f theo phương thẳng đứng đặt trên mặt phẳngnghiêng, có thể phân tích thành 2 phần :

Trang 14

ft sông song với mặt phẳng nghiêng

Khi tính chọn công suất động cơ truyền động băng tải, thường tính theo các thànhphần sau:

+ Công suất P1 để dịch chuyển vật liệu

+ Công suất P2 để khắc phục tổn thất do ma sát trong các ổ đỡ, ma sát giữa băng tải

và các con lăn khi băng tải chạy không

+ Công suất P3 để nâng băng tải (nếu là băng tải nghiêng)

Lực cần thiết để dịch chuyển vật liệu là :

F1 = L  cos k1g = L’k1g

Vì thành phần pháp tuyến Fn = L..cos g tạo ra lực cản (ma sát) trong các ổ đỡ

và ma sát giữa băng tải và các con lăn

Trong đó:  - Góc nghiêng của băng tải

L – chiều dài băng tải

 - khối lượng vật liệu trên 1m băng tải

K1 – hệ số tính đến lực cản khi dịch chuyển vật liệu k1 = 0,05

Công suất càn thiết để dịch chuyển vật liệu là :

P1 = F1.v = δ.L’.k1.v.g

Lực cản do các loại ma sát sinh ra khi băng tải chuyển động không tải sẽ là :

F2 = 2.L.δb.cosβ.k2.g = 2L’.δb.k2.g

k2 - hệ số tính đến lực cản khi không tải

δb - khối lượng băng tải trên 1 mét chiều dài băng Công suất cầnthiết để khắc phục các lực cản ma sát :

Trang 15

Trong đó : k3 – Hệ số dự trữ về công suất (k3 = 1,2 ÷ 1,25)

 - Hiệu suất truyền động

Từ những tính toán như trên ta thấy công suất động cơ rất bé, ta có thể chọn động cơ

một chiều điện áp 24V, tốc độ 300 (vòng/phút), công suất 35W có sẵn trên thị trường 4.1.2 Phân tích và lựa chọn các thiết bị vận tải.

Các thiết bị vận tải liên tục thường dùng để vận chuyển thể hạt, cục kích thước nhỏ,chuyên chở các chi tiết ở dạng thành phẩm và bán thành phẩm, chở hành khách theo mộtcung đường nhất định không có trạm dừng ở giữa đường Thiết bị vận tải liên tục baogồm: băng chuyền, băng gầu, thang chuyền Các thiết bị vận tải liên tục có năng suất cao

so với các phương tiện khác, nhất là ở các vùng núi hay địa hình phức tạp

4.1.2.2 Cấu tạo các thiết bị vận tải

A) Băng chuyền

Băng chuyền là thiết bị vận tải dùng để chuyên chở các vật thành phẩm hay bánthành phẩm trong các phân xưởng, nhà máy sản xuất theo dây chuyền theo phương nằm

Trang 16

ngang hoặc theo mặt phẳng nghiêng (góc nghiêng không lớn lắm) Kết cấu của một băngchuyền cố định như hình vẽ:

B) Băng gầu

Băng gầu dùng để vận chuyển vật dạng hạt theo phương thẳng đứng hoặc theo mặtphẳng nghiêng lớn (góc nghiêng lớn hơn 600) Kết cấu của băng gầu biểu diễn ở hình vẽ:

Trục tangBăng chuyền

Trang 17

Nó bao gồm một xích kéo khép kín 2 và vắt qua hoa cúc của tay quay 1 Phần chuyểnđộng băng gầu được bao che kín bằng hộp đậy 3 và cơ cáu dẫn hướng 4 Các gàu xúc 5được gá cố định với cơ cấu kéo của băng gầu Tang chủ động (hoặc hoa cúc) 1 được nốivới động cơ truyền động 10 qua hộp giảm tốc 8 Tốc độ di chuyển của băng gầu có thểchọn từ 0,85  1,25m/s.

C) Thang chuyền

Thang chuyền là loại cầu thang di chuyển liên tục dùng để chuyên chở hành khách.Tốc độ di chuyển của thang chuyền v = (0,5  1)m/s Cấu tạo và kết cấu của thang chuyềnnhư hình:

Động cơ truyền động 6 được lắp ở đầu trên của thang chuyền, truyền lực cho trục chủđộng 5 Các bậc thang của thang chuyền 4 liên kết thành một mạch xích thép kín từ trụcchủ động 5 đến trục thụ động 2 Ở trục thụ động có cơ cấu tạo lực căng cho thangchuyền1 Để đảm bảo an toàn cho hành khách, hai bên thang có tay vịn 3 di chuyển đồngthời với các bậc thang

4.1.2.3 Lựa chọn và thiết kế thiết bị vận tải.

Với những phân tích ở trên ta chọn thiết bị vận chuyển sản phẩm là bộ băng chuyền

Trang 18

Tấm băng là bộ phận mang tải chủ yếu của băng tải, đắt tiền nhưng có nguy cơ chónghỏng nhất Yêu cầu tấm băng phải có độ bền kéo và độ bền uốn, độ đàn hồi và dãn dàinhỏ, có khả năng chống cháy và chống mòn tốt.

Đối với bộ truyền có công suất nhỏ ta chọn tấm băng làm vải dệt từ sợi bông, bề rộngcủa tấm băng bằng 40 mm nên chọn số lớp bằng 1

Trục tang làm bằng vật liệu thép cacbon C45

b = 600 N/mm; ch = 300 N/mm; HB = 200 (bảng 3.8 / 40 [TKCTM) Đường kính trục tang D = K.Z

4.1.3 Phân tích và lựa chọn cơ cấu đẩy sản phẩm.

4.1.3.1 Các loại piston xylanh

Gồm có piston xylanh thủy lực và khí nén, thực chất đây là một loại động cơ thủy lực(khí nén) dùng để biến đổi thế năng của dầu (khí nén) thành cơ năng, thực hiện chuyểnđộng thẳng hoặc chuyển động vòng không liên tục piston xylanh được dùng rất phổ biếntrên các thiết bị có cơ cấu chấp hành chuyển động thẳng đi về xylanh thủy lực có kết cấu

Trang 19

đơn giản, nhưng có khả năng thực hiện một công suất lớn, làm việc ổn định và giải quyếtvấn đề chắn khít tương đối đơn giản So với hệ thống thủy lực, hệ thống khí nén có côngsuất nhỏ hơn nhưng có nhiều ưu điểm hơn như:

Có khả năng truyền năng lượng đi xa, bởi vì độ nhớt động học của khí nén nhỏ vàtổn thất áp suất trên đường dẫn nhỏ

Do khả năng chịu nén (đàn hồi) lớn của không khí, nên có thể trích chứa khí nén rấtthuận lợi

Không khí dùng để nén, hầu như có số lượng không giới hạn và có thể thải ra ngượctrở lại bầu khí quyển

Hệ thống khí nén sạch sẽ, dù cho có sự rò rỉ không khí nén ở hệ thống ống dẫn, do đókhông tồn tại mối đe dọa bị nhiễm bẩn

Chi phí nhỏ để thiết lập một hệ thống truyền động bằng khí nén, bởi vì phần lớntrong các xí nghiệp, nhà máy đã có sẵn đường dẫn khí nén

Hệ thống phòng ngừa quá áp suất giới hạn được đảm bảo, nên tính nguy hiểm củaquá trình sử dụng hệ thống truyền động bằng khí nén thấp

Các van khí nén phù hợp một cách lý tưởng đối với các chức năng vận hành logic, và

do đó được sử dụng để điều khiển trình tự phức tạp và các máy móc phức hợp

b a

Ngày đăng: 08/11/2013, 21:49

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.1 .Sơ đồ tính toán lực của băng tải - Luận văn thiết kế hệ thống phân loại và đếm sản phẩm theo kích thước
Hình 1.1 Sơ đồ tính toán lực của băng tải (Trang 13)
Hình 4.4 Ký hiệu cửa xả khí 10 - Luận văn thiết kế hệ thống phân loại và đếm sản phẩm theo kích thước
Hình 4.4 Ký hiệu cửa xả khí 10 (Trang 29)
Hình 5.9 Van tiết lưu một chiều điều chỉnh băng tay - Luận văn thiết kế hệ thống phân loại và đếm sản phẩm theo kích thước
Hình 5.9 Van tiết lưu một chiều điều chỉnh băng tay (Trang 31)
4.3.3.2. Sơ đồ nguyên lý - Luận văn thiết kế hệ thống phân loại và đếm sản phẩm theo kích thước
4.3.3.2. Sơ đồ nguyên lý (Trang 32)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w