1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Không gian văn hóa làng ninh xá, xã yên ninh, huyện ý yên, tỉnh nam định

95 36 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 95
Dung lượng 3,07 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Qua đề tài nghiên cứu “Không gian văn hóa làng Ninh Xá, huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định”, tác giả muốn làm rõ yếu tố tác động đến việc hình thành văn hóa làng, những đặc trưng của bốn thành t

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC VIỆT NHẬT

NINH THỊ PHƯỢNG

KHÔNG GIAN VĂN HÓA LÀNG NINH XÁ,

XÃ YÊN NINH, HUYỆN Ý YÊN, TỈNH NAM ĐỊNH

LUẬN VĂN THẠC SĨ

Hà Nội, 2018

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC VIỆT NHẬT

NINH THỊ PHƯỢNG

KHÔNG GIAN VĂN HÓA LÀNG NINH XÁ,

XÃ YÊN NINH, HUYỆN Ý YÊN, TỈNH NAM ĐỊNH

CHUYÊN NGÀNH: KHU VỰC HỌC

Người hướng dẫn khoa học: GS.TSKH Vũ Minh Giang

Hà Nội, 2018

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan nội dung được trình bày trong luận văn là kết quả nghiên

cứu của bản thân tôi dưới sự hướng dẫn trực tiếp của GS TSKH Vũ Minh Giang

Kết quả nghiên cứu này là hoàn toàn trung thực và không trùng lặp với bất kì công trình nào đã được công bố

Nếu sai, tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm

Hà Nội, ngày 21 tháng 6 năm 2018

Tác giả luận văn

Ninh Thị Phượng

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Tác giả xin gửi lời cảm ơn chân thành đến quý thầy cô trong khoa Khu vực học – Việt Nam học, trường đại học Việt Nhật, ĐHQGHN cùng cán bộ, người dân làng Ninh Xá, xã Yên Ninh, huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định đã nhiệt tình giúp đỡ, tạo điều kiện cho tác giả trong suốt quá trình nghiên cứu, thực hiện đề tài

Đặc biệt, tác giả xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến GS TSKH Vũ

Minh Giang đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tác giả thực hiện và hoàn chỉnh luận

văn

Mặc dù đã cố gắng để hoàn thiện, xong luận văn không thể tránh khỏi thiếu sót, rất mong nhận được góp ý quý báu của thầy cô

Hà Nội, ngày 21 tháng 6 năm 2018

Tác giả luận văn

Ninh Thị Phượng

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

DANH MỤC BẢNG v

DANH MỤC HÌNH vi

DANH MỤC BIỂU ĐỔ vii

MỞ ĐẦU 8

1 Lý do chọn đề tài 8

2 Lịch sử nghiên cứu 9

3 Phương pháp tiếp cận và tính mới 11

4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 12

5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 13

6 Phương pháp nghiên cứu 13

7 Đóng góp 13

8 Cấu trúc luậnvăn 13

CHƯƠNG I: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ LÀNG NINH XÁ 14

1.1 Giới thuyết khái niệm 14

1.1.1 Khái niệm văn hóa 14

1.1.2 Khái niệm không gian văn hóa 16

1.2 Những nhân tố ảnh hưởng đến sự hình thành đặc trưng văn hóa làng Ninh Xá 18

1.2.1 Đặc trưng văn hóa đồng bằng Bắc Bộ 19

1.2.2 Vị trí của Ý Yên trong vùng đồng bằng Bắc Bộ 21

1.2.3 Làng nghề truyền thống Ninh Xá, Ý Yên, Nam Định 23

1.3 Tiểu kết 28

CHƯƠNG 2: ĐẶC TRƯNG TRONG KHÔNG GIAN VĂN HÓA LÀNG NINH XÁ, HUYỆN Ý YÊN, TỈNH NAM ĐỊNH 30

2.2.1 Nghề nông trồng lúa nước 30

2.2.2 Nghề thủ công mỹ nghệ 31

2.3 Đặc trưng về văn hóa đảm bảo đời sống 38

2.3.1 Ăn 38

2.3.2 Mặc 40

2.3.3 Ở 41

2.3.4 Đi lại 42

2.3 Đặc trưng về văn hóa tâm linh, tín ngưỡng 42

2.3.1 Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên 42

Trang 6

2.3.2 Tín ngưỡng thờ Thành Hoàng làng và vị Tổ sư nghề 43

2.4 Văn hóa quy phạm 44

2.4.1 Hình thức tổ chức cộng đồng 44

2.4.2 Phong tục, lễ tiết trong một năm của làng 46

2.4.3 Lễ tiết chung làng xã 53

2.4 Tiểu kết 58

CHƯƠNG 3: NHỮNG BIẾN ĐỔI TRONG KHÔNG GIAN VĂN HÓA LÀNG: KIẾN NGHỊ VÀ GIẢI PHÁP 59

3.1 Những biến đổi trong không gian văn hóa làng Ninh Xá 59

3.1.1 Mặt tích cực 59

3.1.2 Mặt tiêu cực 65

3.2 Một số biện pháp khắc phục 69

3.2.1 Về phát triển kinh tế: Nông nghiệp – thủ công nghiệp 69

3.2.2 Về không gian văn hóa làng 70

3.3 Tiểu kết 71

KẾT LUẬN 72

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 74

PHỤ LỤC 78

Trang 7

DANH MỤC BẢNG

Bảng 2.1 Các loại hình kinh doanh tại xã yên Ninh 37 Bảng 3.1 Thống kê các sản phẩm đồ gỗ hiện nay của làng và một số thay đổi 62 Bảng 3.2 Thống kê thay đổi trong phong tục ở làng Ninh Xá 65

Trang 8

DANH MỤC HÌNH

Hình 1.1 Vùng địa lý tự nhiên Nam Định 22

Hình 1.2 Hệ thống sông chảy qua Ý Yên, Nam Định 23

Hình 1.3 Vị trí của hành cung Ứng Phong 26

Hình 2.1 Sản phẩm bàn thờ của làng Ninh Xá 38

Hình 2.2 Tục rước đuốc đêm giao thừa 53

Hình 2.3 Nghi thức thi kéo lửa 56

Hình 3.1 Người lao động làng Ninh Xá 66

Hình 3.2 Các hộ sản xuất, kinh doanh lấn chiếm lòng đường làm xưởng 68

Trang 9

DANH MỤC BIỂU ĐỔ

Biểu đồ 3.1 Đánh giá chất lượng môi trường ở làng Ninh Xá hiện nay 67 Biểu đồ 3.2 Đánh giá chất lượng an ninh ở làng Ninh Xá hiện nay 69

Trang 10

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Làng xã Việt Nam luôn là nguồn cảm hứng nghiên cứu của nhiều nhà khoa học Việt Nam bởi sự đa dạng phong phú của từng làng tạo nên những nét đặc trưng riêng, không trộn lẫn vào nhau Ngoài những đặc điểm chung của làng đồng bằng Bắc Bộ như hình ảnh cây đa, giếng nước sân đình, văn hóa làng còn được tạo nên từ

bề dày lịch sử, phong tục tập quán, lễ hội v.v Chính vì vậy, nghiên cứu những nét đăc trưng riêng tạo nên bức tranh tổng quan về làng xã Việt Nam đồng thời thông qua bức tranh đó, người đọc có cái nhìn sâu sắc hơn, hiểu được giá trị của làng xã

và có cách ứng xử phù hợp với vấn đề làng xã Việt Nam trong truyền thống cũng như hiện tại

Làng Ninh Xá, huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định vốn là một làng nông - thủ công nghiệp với nghề làm gỗ truyền thống có lịch sử lâu đời Bên cạnh sản xuất nông nghiệp, nghề gỗ được coi là hoạt động sản xuất chính tạo ra của cải vật chất của làng Những kĩ thuật cổ truyền được truyền từ đời này sang đời khác đã giúp cho Ninh Xá tạo ra những sản phẩm đặc trưng riêng của làng

Vị trí địa lý thuận lợi của làng Ninh Xá, nơi có đường quốc lộ, đường sắt Bắc Nam chạy qua tạo điều kiện cho việc giao thương buôn bán giữa các vùng lân cận Ngoài ra, Ninh Xá có hoàn cảnh lịch sử đặc biệt, từng nằm trong khu vực của hành cung Ứng Phong của nhà Trần giải thích lý do tại sao những sản phẩm trong làng mang yếu tố cung đình Vị trí tự nhiên cùng hoàn cảnh lịch sử đặc biệt đã hình thành nên những đặc trưng văn hóa làng được biểu hiện thông qua yếu tố văn hóa sản xuất, văn hóa tâm linh, tín ngưỡng

Với phương pháp tiếp cận khu vực học, coi làng Ninh Xá, huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định như một không gian văn hóa Từ đó tác giả tập trung nghiên cứu đặc trưng văn hóa của làng thông qua các thành tố văn hóa bao gồm văn hóa sinh hoạt, văn hóa quy phạm, văn hóa sản xuất và văn hóa tâm linh Những đặc điểm của thành tố văn hóa đã tạo nên nét đặc trưng của làng truyền thống của đồng bằng châu thổ sông Hồng không chỉ mang những nét chung của làng quê Bắc Bộ mà còn có

Trang 11

những đặc trưng riêng Tuy nhiên, cùng với sự thay đổi của thời gian, làng Ninh Xá đang có những biến đổi để phù hợp với bối cảnh hiện tại Từ một làng quê truyền thống với sản xuất nông nghiệp là chính và có làng nghề truyền thống được truyền lại từ bao đời nay đang chuyển mình với sự thay đổi của đất nước Quá trình nông thôn mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước đã tạo ra những thay đổi trong làng quê - một xu hướng tất yếu của sự phát triển Biểu hiện của quá trình thay đổi

đó như việc tỷ trọng nông nghiệp bị thu hẹp, xuất hiện các khu công nghiệp với, biến đổi trong kiến trúc nhà cửa hay cách thức sinh hoạt của người dân trong làng Qua đề tài nghiên cứu “Không gian văn hóa làng Ninh Xá, huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định”, tác giả muốn làm rõ yếu tố tác động đến việc hình thành văn hóa làng, những đặc trưng của bốn thành tố văn hóa đã được đề cập ở trên đồng thời quá trình biến đổi không gian văn hóa làng hiện nay tại làng

2 Lịch sử nghiên cứu

Có nhiều nhà nghiên cứu đã nghiên cứu về không gian văn hóa làng xã ở Việt Nam Đầu tiên có thể kể đến khung lý thuyết cho việc nghiên cứu không gian văn hóa của các tác giả như:

Ngô Đức Thịnh trong công trình nghiên cứu “Văn hóa vùng và phân vùng văn hóa Việt Nam”, gồm những bài nghiên cứu về: những nét lớn của khuynh hướng nghiên cứu không gian văn hóa; phác thảo về phân vùng văn hóa ở Việt Nam

và trình bày một số vùng văn hóa tiêu biểu ở nước ta; cuối cùng, một số hiện tượng văn hóa riêng lẻ coi đó như là sự bổ sung, cụ thể hóa tính vùng, tính địa phương trong văn hóa Việt Nam

Trần Quốc Vượng có công trình nghiên cứu về “Việt Nam cái nhìn địa văn hóa”, gồm những bài viết về văn hóa các vùng miền: Cao Bằng, Vĩnh Phú, Sơn Tây,

xứ Bắc - Kinh Bắc, Hà Nội, Hải Hưng, xứ Thanh trải dài đến đất Cà Mau

Ngoài những khung lý thuyết nghiên cứu làng xã, có nhiều đề tài nghiên cứu

về làng xã Việt Nam:

Trước hết có thể kể đến công trình nghiên cứu của Pierre Gourou “Người nông dân châu thổ Bắc Kỳ” (1963) Công trình nghiên cứu đã bao quát hết các vấn

Trang 12

đề về nông dân vùng châu thổ Bắc Kỳ từ nông dân học, về nông nghiệp gia đình và

về hệ thống nông nghiệp thông qua việc phân tích đất và người Bắc Bộ như địa hình, khí hậu châu thổ, lịch sử di dân và sự vận động của dân số, nông nghiệp, công nghiệp làng xã Những giá trị của nghiên cứu vẫn còn mang tính thời sự cho đến ngày nay như vấn đề về đất đai, dân số, di dân, công nghiệp v.v Quá trình vận động, biến đổi của làng xã từ sự biến thiên của địa hình, địa chất đến sự biến đổi của xã hội, cảnh quan, mạng lưới công nghiệp, thương mại diễn ra trong làng quê đồng bằng Bắc Bộ

Nghiên cứu về làng không thể không kể đến học giả Lương Văn Hy với những công trình nghiên cứu làng quê Việt bằng phương pháp thực địa Trong đó

có cuốn “Cuộc cách mạng ở làng: Truyền thống và biến đổi miền Bắc Việt Nam” (1992) hay nghiên cứu “Cải cách kinh tế và tăng cường lễ nghi tại hai làng ở miền Bắc Việt Nam” (1992) tập trung vào những biến đổi nghi lễ nông thôn miền Bắc sau cải cách

Ngoài ra còn các công trình nghiên cứu như Cơ cấu tổ chức của làng Việt cổ truyền Bắc Bộ (Nguyễn Từ Chi, 1984); làng Việt Nam - một số vấn đề kinh tế xã hội (Phan Đại Doãn, 1992); Về một số làng buôn ở đồng bằng Bắc Bộ thế kỉ XVIII

- XIX (Nguyễn Quang Ngọc, 1993); Một làng Việt cổ truyền ở đồng bằng Bắc Bộ (Nguyễn Hải Kế, 1996) hay chương trình nghiên cứu lớn của học giả Phan Huy Lê

và Vũ Minh Giang (1996): Các giá trị truyền thống và con người Việt Nam hiện nay v.v Các công trình nghiên cứu trên đều mang tính khái quát về nông thôn, nêu lên những đặc trưng chung của làng xã Việt Nam từ cơ cấu tổ chức, hoạt động kinh tế, cấu trúc gia đình và xã hội hay các giá trị truyền thống được khái quát lên từ những đặc trưng của làng xã Việt Nam

Từ những nghiên cứu về làng xã Việt Nam nói chung, cũng có các công trình nghiên cứu tập trung vào một làng xã cụ thể để nghiên cứu

Tiêu biểu có thể kể đến công trình nghiên cứu về làng Bách Cốc, xã Thành Lợi, huyện Vụ Bản với sự hợp tác của trung tâm nghiên cứu Việt Nam và giao lưu văn hóa, Đại học Quốc Gia và các học giả đến từ Nhật Bản (được chủ trì bởi GS Yumio Sakurai) dự án kéo dài 14 năm (1994 - 2008), thu hút nhiều học giả trong và

Trang 13

ngoài nước tham gia Nghiên cứu là bức tranh tổng thể về đời sống kinh tế, văn hóa, chính trị và xã hội của làng Bách Cốc, một ngôi làng nhỏ nằm ở châu thổ sông Hồng Từ đó khái quát lên được mô hình làng, một đơn vị hành chính nhỏ nhất nhưng có vai trò quan trọng trong đời sống xã hội của người Việt Dự án đã mang lại nhiều giá trị cho về mặt học thuật nói chung về ứng dụng thực tế trong việc sử dụng phương pháp liên ngành trong nghiên cứu làng xã

Học giả Nguyễn Quang Ngọc trong công trình nghiên cứu “Một số vấn đề làng xã Việt Nam” đã nghiên cứu các vấn đề về làng xã Việt Nam trong đó nghiên cứu cụ thể về làng Đan Loan dưới nhiều góc độ như lịch sử, văn hóa, kinh tế, xã hội

từ khi hình thành cho đến khi phát triển và biến đổi

Tác giả Lê Hồng Lý - Phạm Thị Thủy Chung với nghiên cứu “Những sinh hoạt văn hóa dân gian của một làng ven đô (làng Đăm) đưa ra cái nhìn tổng thể về làng Đăm như hội làng, di tích lịch sử văn hóa, sinh hoạt văn hóa dân gian, kinh tế, văn hóa của làng trong quá trình đô thị hóa

“Không gian văn hóa xã Vĩnh Hòa, huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định” – luận văn thạc sĩ Việt Nam học của Ngô Thanh Mai, nghiên cứu về điều kiện tự nhiên, xã hội , đưa ra những đặc trưng về văn hóa sản xuất, văn hóa tinh thần, kiến trúc của xã

Hoàng Thị Bích Quyên (2009), Tìm hiểu làng nghề chạm khắc gỗ mỹ nghệ La Xuyên tỉnh Nam Định, khóa luận tốt nghiệp, khoa địa lý, đại học sư phạm Hà Nội

3 Phương pháp tiếp cận và tính mới

3.1 Phương pháp tiếp cận

Trước đề tài luận văn này, phương pháp tiếp cận là khu vực học Trong mối tương tác với các thành tố khác, nghiên cứu không gian văn hóa làng đặt trong bối cảnh môt làng nông nghiệp – thủ công nghiệp với nghề gỗ truyền thống tạo nên đặc trưng trong không gian văn hóa làng Đặc biệt trong không gian văn hóa tại làng cụ thể là Ninh Xá, xã Yên Ninh, huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định, rộng hơn là không gian văn hóa vùng đồng bằng Bắc Bộ

Với tiếp cận khu vực học, phương pháp liên ngành giữa các lĩnh vực khác để tìm ra đặc trưng trong không gian văn hóa làng: văn hóa học, lịch sử, xã hội học v.v

Trang 14

Bên cạnh đó là phương pháp phỏng vấn sâu, quan sát và điều tra xã hội học

3.2 Tính mới của đề tài

Đóng góp mới của đề tài là cung cấp những thông tin sâu và phân tích từ tiếp cận khu vực học, chỉ ra những sắc thái đặc trưng của một làng nông nghiệp – thủ công nghiệp trên tương quan đối sánh với đặc trưng chung của đồng bằng Bắc Bộ Việt Nam

Dưới cách tiếp cận khu vực học, nghiên cứu về làng xã Việt Nam đặc biệt đối với làng nông nghiệp – thủ công nghiệp để tìm ra những đặc trưng cơ bản của loại hình làng nghề phổ biến này ở Việt Nam thì chưa có nhiều

Qua quá trình nghiên cứu về làng nghề Ninh Xá, tác giả hi vọng tìm ra những đặc trưng tiêu biểu của làng nghề và những biến đổi hiện nay ở làng nghề Ninh Xá nói riêng và làng nghề Việt Nam nói chung đồng thời đưa ra những kiến nghị, giải pháp bảo tồn và duy trì không gian văn hóa làng hiện nay

4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

4.2 Nhiệm vụ:

Để đạt được những mục đích trên, trong luận văn, tôi cần hoàn thành các nhiệm vụ sau:

- Tìm hiểu yếu tố tác động đến việc hình thành làng nghề truyền thống

- Tìm ra những đặc trưng trong không gian văn hóa làng Ninh Xá

- Chỉ ra những biến đổi hiện nay trong không gian văn hóa làng Ninh Xá bao gồm yếu tố tích tực và tiêu cực đồng thời đưa ra một số giải pháp, kiến nghị

Trang 15

5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng: những yếu tố địa lý, sinh thái nhân văn, lịch sử, con người tạo thành không gian văn hoá và những yếu tố tác động tới biến đổi không gian văn hóa

- Phạm vi: không gian văn hóa làng Ninh Xá - quá trình hình thành và biến đổi

6 Phương pháp nghiên cứu

Trong quá trình nghiên cứu luận văn, để thu thập được tài liệu, số liệu, phương pháp sử dụng là phương pháp điền dã, phỏng vấn, điều tra xã hội học

Để tiến hành nghiên cứu, phương pháp khu vực học được sử dụng trong đó chọn một không gian làng xã cụ thể đặt trong một không gian lớn hơn là đồng bằng Bắc Bộ để so sánh, đối chiếu, đòng thời trong không gian đó có thể quan sát được các lĩnh vực hoạt động của con người, sự tương tác giữa con người với điều kiện tự nhiên, hoàn cảnh xã hội làm đối tượng nghiên cứu

7 Đóng góp

- Bước đầu, luận văn có một bức tranh tương đối toàn diện về không gian văn hóa làng Ninh Xá thông qua việc phân tích điều kiện tự nhiên, môi trường sinh thái, hoàn cảnh lịch sử

- Chỉ ra những biến đổi trong làng nghề Ninh Xá hiện nay

- Dưới tác động của điều kiện tự nhiên, môi trường xã hội và hoàn cảnh lịch

sự sẽ tạo ra những đặc trưng cho làng xã Việt Nam nói chung và làng nghề truyền thống Ninh Xá nói riêng

8 Cấu trúc luậnvăn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, luận văn được chia thành 3 chương:

Chương 1: Khái quát chung về làng Ninh Xá

Chương 2: Đặc trưng trong không gian văn hóa của làng Ninh Xá, huyện Ý

Yên, tỉnh Nam Định

Chương 3: Những biến đổi trong không gian văn hóa làng nghề: Kiến nghị

và giải pháp

Trang 16

CHƯƠNG I: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ LÀNG NINH XÁ

1.1 Giới thuyết khái niệm

1.1.1 Khái niệm văn hóa

“Văn hóa” là một khái niệm trừu tượng, khó có thể đưa ra một định nghĩa rõ ràng bởi đó là một phạm trù khoa học xã hội, được đưa ra bởi nhiều học giả trên các phương diện, khía cạnh khác nhau Nếu nhìn theo phương diện này thì văn hóa được hiểu theo một nghĩa nhưng nếu theo phương diện khác thì văn hóa lại được định nghĩa khác Nhìn chung, khi định nghĩa về “văn hóa” cần có sự tổng hòa, cân bằng trên nhiều khía cạnh

Đầu tiên chúng ta chia văn hóa theo nghĩa rộng và nghĩa hẹp Theo nghĩa hẹp, văn hóa được giới hạn bởi chiều sâu, chiều rộng, không gian hay thời gian Như vậy chúng ta có thể định nghĩa như những giá trị tinh hoa chẳng hạn như nếp sống văn hóa, văn hóa nghệ thuật (chiều sâu), những giá trị trong từng lĩnh vực như văn hóa giao tiếp, văn hóa kinh doanh (chiều rộng), những giá trị đặc thù của từng vùng như văn hóa Tây Nguyên, văn hóa Nam Bộ (không gian) hay là những giá trị trong từng giai đoạn như văn hóa Hòa Bình, văn hóa Đông Sơn Có thể nói chia theo cách này, văn hóa bao gồm nhiều cách bộ phận, lĩnh vực nhỏ gộp lại Tuy nhiên hiểu một cách rộng hơn thì văn hóa là tất cả những gì con người sáng tạo ra

Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị (vật chất và tinh thần, tĩnh và động, vật thể và phi vật thể…) do con người sáng tạo ra và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác với môi trường tự nhiên và xã hội của mình [27, tr.10]

Còn theo định nghĩa của UNESCO, “Đối với một số người, văn hóa chỉ bao gồm những kiệt tác tuyệt vời trong các lĩnh vực tư duy và sáng tạo, đối với những người khác, văn hóa bao gồm tất cả những gì làm cho dân tộc này khác với dân tộc khác, tù những sản phẩm tinh vi hiện đại nhất cho đến tín ngưỡng, phong tục tập quán, lối sống và lao động” (UNESCO, 1989) Nếu phân theo hệ thống, giá trị thì

Trang 17

Trần Ngọc Thêm (2002) lại cho rằng “Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội của mình”

Theo đại từ điển Tiếng Việt - Trung tâm ngôn ngữ và văn hóa Việt Nam (1999), văn hóa là những giá trị vật chất, tinh thần do con người tạo ra trong lịch sử: nền văn hóa các dân tộc, kho tàng văn hóa dân tộc; Đời sống tinh thần của con người: phát triển kinh tế và văn hóa, chú ý đời sống của nhân dân; tri thức khoa học, trình độ học vấn, trình độ văn hóa, học các môn văn hóa; Lối sống, cách ứng xử có trình độ cao: người có văn hóa, gia đình có văn hóa mới; Nền văn hóa một thời kì lịch sử cổ xưa, xác định được nhờ tổng thể các di vật tìm được có những đặc điểm chung: văn hóa Đông Sơn, văn hóa rìu hai vai

Từ những định nghĩa trên, chúng ta có thể thấy được ba khuynh hướng liên quan đến văn hóa Thứ nhất có thể kể đến là văn hóa là kết quả của những giá trị truyền thống, nếp sống; thứ hai là những chuẩn mực, tư tưởng, thiết chế xã hội và cuối cùng là những biểu trưng, kí hiệu, thông tin mà cộng đồng đã sáng tạo, thừa kế

và tích lũy Tuy nhiên, dù theo khuynh hướng nào, thì văn hóa đều nhấn mạnh đến yếu tố con người, đều thừa nhận và khẳng định mối liên hệ mật thiết giữa văn hóa

và con người Đặc trưng cơ bản của văn hóa: tính nhân sinh, tính giá trị, tính hệ thống và tính lịch sử

Với đặc thù của luận văn, tác giả sử dụng định nghĩa “Văn hóa là tất cả những sáng tạo hữu thức của con người vì mục đích tồn tại và phát triển” theo hướng tiếp cận của khu vực học hiện đại [10, tr 24]

Ngoài ra, khi nhắc đến khái niệm văn hóa, chúng ta cũng cần chú ý đến khái niệm văn minh Điểm giống nhau cơ bản của hai khái niệm này là đều nói lên những thành tựu sáng tạo của con người trong xã hội Chúng ta thường hay đề cập

“văn minh lúa nước”, “văn minh cơ khí”, nếu hiểu theo nghĩa đó thì “văn minh được coi là nền văn hóa của một xã hội có tổ chức, đạt trình độ tương đối cao về kỹ thuật sản xuất, thiết chế chính trị và trạng thái trí tuệ, đạo đức” [15, tr 11] Như vậy có

3 tiêu chí để đánh giá một xã hội văn minh đó là sự xuất hiện của nhà nước, xuất hiện

Trang 18

chữ viết và sự ra đời của đô thị

Để tìm hiểu về mục đích và bản chất của văn hóa, nhiều học giả đưa ra các cách phân loại khác nhau Hai dạng thức phân loại văn hóa phổ biến là “văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần”; “văn hóa vật thể và phi vật thể” Cụ thể là, Vũ Minh Giang [10, tr 35] đã chia văn hóa thành 4 thành tố: văn hóa sản xuất, văn hóa đảm bảo đời sống, văn hóa quy phạm và văn hóa tâm linh, tín ngưỡng trong đó:

Văn hóa sản xuất là tất cả những hoạt động của con người để tạo ra của cải vật chất

Văn hóa sinh hoạt đảm bảo đời sống (ăn, mặc, ở, đi lại) là những hoạt động

cơ bản của con người để đảm bảo sự tồn tại và phát triển của cộng đồng

Văn hóa quy phạm: bao gồm các phong tục tập quán, thiết chế chính trị và hệ thống pháp luật của cộng đồng đó

Văn hóa tâm linh, tín ngưỡng là những giá trị tinh thần mà con người muốn gửi gắm lòng tin vào

Dựa trên cách chia như vậy, khi nghiên cứu về làng Ninh Xá, tôi muốn áp dụng

lý thuyết vào việc phân tích làm rõ các thành tố văn hóa tác động đến đời sống tinh thần cũng như vật chất của con người trong một không gian cụ thể

1.1.2 Khái niệm không gian văn hóa

Không gian văn hóa bao gồm một phạm vi cư trú của con người trong mối quan hệ với điều kiện tự nhiên – xã hội và nguồn gốc lịch sử, từ đó hình thành nên những đặc trưng văn hóa chung thể hiện cả ở lĩnh vực văn hóa sản xuất, văn hóa đảm bảo đời sống, văn hóa tâm linh cũng như văn hóa quy phạm Vì vậy, không gian văn hóa không đơn thuần là một lãnh thổ địa vực nhất định, nó là một môi trường thống nhất, rộng lớn do con người sống trong không gian ấy sáng tạo nên

Về khái niệm không gian văn hóa, theo Ngô Đức Thịnh thì có thể hiểu không gian văn hóa theo hai ý nghĩa, cụ thể và trừu tượng Theo ý nghĩa cụ thể, “coi văn hóa như là một không gian địa lý xác định, mà ở đó mỗi hiện tượng hay một tổ hợp hiện tượng văn hóa nảy sinh, tồn tại, biến đổi và chúng liên kết với nhau như một hệ thống” [31, tr 37] Có rất ít các hiện tượng văn hóa trong đời sống xã hội khi nảy

Trang 19

sinh lại tồn tại và biến đổi một cách độc lập mà thường có xu hướng liên kết lại với nhau tạo thành các tổ hợp Với ý nghĩa ấy, các loại văn hóa như văn hóa tín ngưỡng tôn giáo, văn hóa vùng, văn hóa làng, văn hóa nghề nghiệp, văn hóa đô thị đều là những dạng khác nhau của tổ hợp văn hóa Theo ý nghĩa trừu tượng, có thể hiểu không gian văn hóa như một “trường”, để chỉ “một hiện tượng hay một tổ hợp các hiện tượng (một nền văn hóa của tộc người, quốc gia hay khu vực) có khả năng tiếp nhận và lan tỏa (ảnh hưởng), tạo cho nền văn hóa đó một không gian (trường) văn hóa rộng hay hẹp khác nhau” [31, tr 39] Theo đó, khi phân chia các dạng thức không gian văn hóa, Ngô Đức Thịnh (2002) chia không gian văn hóa thành 4 dạng:Văn hóa cá nhân,văn hóa cộng đồng,văn hóa lãnh thổ và văn hóa sinh thái Trong đó văn hóa cá nhân được hiểu là mỗi cá nhân dựa trên năng lực thể chất và môi trường xã hội thì cá nhân đó có khả năng tiếp nhận và thể hiện được văn hóa của cộng đồng Văn hóa cộng đồng phụ thuộc nhiều và tính chất của cộng đồng khác nhau thì tạo ra những giá trị văn hóa khác nhau chẳng hạn như cộng đồng làng, dòng họ, gia tộc thì tạo ra văn hóa làng, dòng họ Văn hóa lãnh thổ có nghĩa là trong không gian địa lý xác định, cộng đồng đó chung sống với môi trường tự nhiên và điều kiện kinh tế nhất định Văn hóa sinh thái là dạng thức văn hoa ứng với một vùng sinh thái nhất định như văn hóa sinh thái biển, thung lũng, cao nguyên Các phương pháp được sử dụng khi nghiên cứu về không gian cụ thể là phương pháp so sánh đồng đại, phương pháp loại hình và so sánh loại hình văn hóa, phương pháp lập bản đồ và chồng xếp các bản đồ văn hóa

Để xác định không gian văn hóa của một làng, một địa phương, một vùng cụ thể, ta phải xét các yếu tố đặc trưng liên quan Đó là các yếu tố:

- Tính trội văn hóa: Dân gian Việt Nam luôn có cảm nhận về tính trội trong tính cách con người, trong các sản vật thiên nhiên, trong nếp sống văn hóa giữa làng này với làng kia, vùng kia tạo nên những đặc trưng văn hóa riêng của một địa phương đó [32, tr 46]

- Về tên gọi “xứ”: là một vùng đất có những tương đồng nhất định phương diện phong thổ, khí hậu, dân cư và sinh hoạt văn hóa [32, tr 49] Mỗi xứ có những nét văn hóa tiêu biểu

Trang 20

- Vùng văn hóa: là một vùng lãnh thổ có những tương đồng về mặt hoàn cảnh

tự nhiên, dân cư sinh sống ở đó từ lâu đã có những mối quan hệ nguồn gốc và lịch sử,

có những tương đồng về trình độ phát triển kinh tế - xã hội, giữa họ đã diễn ra những giao lưu, ảnh hưởng văn hóa qua lại, nên trong vùng đã hình thành những đặc trưng chung, thể hiện trong văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần của cư dân, có thể phân biệt với vùng văn hóa khác [32, tr 10]

Vũ Minh Giang [10, tr 38] cho rằng không gian văn hóa là khái niệm tương đối linh hoạt, không có giới hạn phạm vi cứng để chỉ một phạm vi có nhưng đặc tính chung ở nhiều cấp độ khác nhau Theo đó, có thể chia không gian văn hóa thành các bộ phận như khu vực, vùng, tiểu vùng và trường hợp Từ mỗi cấp độ có thể tìm ra được những điểm tương đồng, cấp độ càng nhỏ thì tính tương đồng văn hóa càng cao Như vậy, trong nghiên cứu, không gian văn hóa được sử dụng ở đây

ở cấp độ trường hợp (làng) từ đó tìm hiểu đặc trưng văn hóa trong không gian đó Với mức độ phạm vi hẹp như làng xã cụ thể thì dễ dàng cho việc tìm hiểu văn hóa đặc trưng của làng, nét đặc trưng đó được thông qua nhờ quá trình nghiên cứu sâu cũng như sự so sánh những nét tương đồng và khác biệt với không gian lớn hơn, bao quát hơn

Ở đây, khi nghiên cứu về không gian văn hóa làng nghề Ninh Xá, huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định để tìm ra được nét đặc trưng riêng thì có sự so sánh với không gian văn hóa đồng bằng Bắc Bộ

1.2 Những nhân tố ảnh hưởng đến sự hình thành đặc trưng văn hóa làng Ninh Xá

Con người là chủ thể của sáng tao ra văn hóa Con người nằm trong xã hội nên con người sẽ chịu sự ảnh hưởng của môi trường tự nhiên, môi trường xã hội và hoàn cảnh lịch sử

Khi đề cập đến các yếu tố tác động đến một không gian văn hóa, Vũ Minh Giang cho rằng đặc trưng văn hóa truyền thống được tạo thành bởi các yếu tố như điều kiện tự nhiên - môi trường sinh thái, hoàn cảnh lịch sử và môi trường xã hội có

sự tác động qua lại lẫn nhau tạo ra dạng thức văn hóa Một ví dụ như dạng thức văn

Trang 21

hóa gần hay trên sông nước quy định đặc trưng trong tính cách con người như sự can đảm, linh hoạt, mềm dẻo dễ thích nghi và giỏi ứng xử với các tình huống Đặc trưng văn hóa người Việt được tạo thành bởi các yếu tố Thứ nhất có thể kể đến là môi trường tự nhiên, điều kiện địa lý, như môi trường sông nước, một vùng đất mới được bồi đắp, một bên là núi cao một bên là biển, hệ thống sông ngòi thoát nước dày đặc, hình thành trong văn hóa vật chất lẫn văn hóa tinh thần của người Việt, chất đạm chủ yếu trong thức ăn truyền thống là thủy sản, nhà ở chủ yếu là nhà sàn, phương tiện đi lại là thuyền bè, trong văn hóa tinh thần có nhiều những tín ngưỡng, tập quán liên quan đến sông nước chẳng hạn như thờ thủy thần, lễ hội đua thuyền phát triển chủ yếu nông nghiệp lúa nước tạo nên một nền văn minh nông nghiệp lâu đời, từ đó hình thành nên xã hội nông thôn “Những căn tính nông dân, những đặc trưng của một xã hội nông nghiệp có ảnh hưởng rất lớn đến tất cả mọi truyền thống Việt Nam” (Vũ Minh Giang, 2014); phải kể đó là tình cố kết cộng đồng, sức mạnh tập thể trước hết là vượt qua thử thách của thiên nhiên

Đồng quan điểm với Vũ Minh Giang, Sakurai Yumio cũng cho rằng môi trường tự nhiên và môi trường nhân tạo có tác động qua lại với nhau tạo ra môi trường khu vực và ảnh hưởng đến tính đặc trưng của khu vực Văn hóa có tính đặc trưng do hai loại môi trường trên tác động lẫn nhau [42, tr 313 –324]

1.2.1 Đặc trưng văn hóa đồng bằng Bắc Bộ

Với những đặc điểm về vị trí địa lý, khí hậu, thủy triều, đã tạo nên đặc trưng trong văn hóa đồng bằng Bắc Bộ

Môi trường xã hội, với hệ thống sông ngòi dày đặc và khí hậu bốn mùa, nông nghiệp trong đó trồng lúa nước là nghề chính của người dân đồng bằng Bắc Bộ Nông dân gắn bó với cây lúa, thu hoạch vào hai vụ chính trong năm vụ chiêm và vụ mùa Ngoài cây lúa, có nhiều loại cây khác phù hợp với chất đất từng vùng và khí hậu

Một đặc trưng khác đó là lượng đất đai Bắc Bộ không nhiều nhưng mật độ

cư dân sinh sống cao Vì vậy, tận dụng khoảng thời gian nhàn rỗi giữa hai vụ mùa, người dân tranh thủ làm những nghề thủ công khác như nghề dệt, luyện kim, có lịch

Trang 22

sử phát triển lâu dài

Không gian cư trú của người dân đồng bằng Bắc Bộ là làng – đơn vị xã hội

cơ sở Sở hữu ruộng đất trên cơ sở đất công, người nông dân tập trung ruộng đất để cùng canh tác, sản xuất và thu hoạch sau đó được phân chia đều Sự gắn bó giữa con người với con người trong cộng đồng không chỉ trên quan hệ sở hữu ruộng đất

mà còn trong các không gian sinh hoạt chung của làng như cây đa, bến nước, sân đình Các làng xã hoạt động dựa trên hương ước của làng - được coi như văn bản pháp luật sơ khai Ngoài ra, cộng đồng làng xã còn mang tính tự trị cao, biểu hiện đầu tiên qua việc giới hạn không gian của làng như rặng tre, cổng làng để ngăn cách với các làng khác

Đặc trưng về văn hóa sản xuất

Thể hiện thông qua văn hóa cư trú (nhà ở), văn hóa ẩm thực (ăn), văn hóa trang phục

Văn hóa cư trú: với vị trí địa lý tương đối bằng phẳng, núi thấp, và các thung lũng đan xen, vì vậy nhà cửa được thiết kế phù hợp với địa hình, khí hậu nhiệt đới gió mùa, được xây dựng kiên cố với các vật liệu bền như sắt, thép, xi măng

Văn hóa ẩm thực: theo công thức chung của các vùng khác trên cả nước cơm+rau+cá, trong đó các loại rau thường đa dạng phù hợp với từng mùa, trong đó

cá thường là các lọai cá nhỏ nuôi trong ao, hồ, đầm lầy, nước ngọt, chỉ một số vùng ven biển thì chế biến bằng cá biển Để bổ sung thêm lượng thức ăn, người dân vùng Bắc Bộ tăng thêm thành phần thịt và mỡ, gia vị không cay, chua, đắng như các vùng khác

Văn hóa trang phục: trang phục màu nâu thường được sử dụng bởi người dân đồng bằng Bắc Bộ trong đó nam là chiếc quần lá tọa, áo cảnh màu nâu, nữ với chiếc váy thâm, chiếc áo nâu khi đi làm Vào những ngày hội hè, lễ tết, trang phục có sự thay đổi thiên về nhiều màu sắc hơn, đàn bà với áo dài mớ ba mớ bảy, đàn ông với chiếc quần trắng, áo the và chít khăn đen Tuy nhiên, ngày nay trang phục có nhiều sự thay đổi phù hợp với nhu cầu của mọi người

Trang 23

Đặc trưng văn hóa tinh thần

Văn hóa lúa nước đã sản sinh ra nhiều loại hình văn hóa, nghệ thuật tín ngưỡng ở đồng bằng Bắc Bộ Đầu tiên có thể kể đến là kho tàng văn học dân gian Bắc Bộ bao gồm như thần thoại, truyền thuyết, ca dao, tục ngữ hay truyện cười, truyện trạng v.v đã làm phong phú thêm đời sống tinh thần của người dân vốn gắn liền với cây lúa Ngoài ra, nghệ thuật dân gian cũng vô cùng phát triển ở nhiều vùng quê Bắc Bộ như làn điệu quan họ, hát xoan, hát trống quân, hát chầu văn, hát chèo, múa rối v.v Ở hầu hết các làng quê đều diễn ra sinh hoạt văn hóa tín ngưỡng như thờ Thành Hoàng, thờ mẫu, thờ các ông Tổ nghề Các lễ hội được tổ chức trong làng là một hình thức tưởng nhớ, biết ơn đến những người đã có công xây dựng, bảo vệ và truyền nghề cho làng

Song song với sự phát triển của văn học dân gian, văn hóa tri thức là đặc điểm nổi bật của vùng đồng bằng Bắc Bộ, mà theo Đinh Gia Khánh (2009) “nơi phát sinh nền văn hóa bác học” được biểu hiện qua sự phát triển giáo dục từ rất sớm Có thể kể đến trong thời kì tự chủ, Thăng Long được coi là một trung tâm giáo dục, năm 1078, Văn Miếu đã được xây dựng, được coi là trường học đầu tiên, có chế độ thi cử để kén chọn hiền tài

Với vị trí địa lý thuận lợi, vùng văn hóa châu thổ Bắc Bộ diễn ra quá trình tiếp biến văn hóa lâu dài với quá trình giao lưu, tiếp thu văn hóa Trung Hoa, Ấn Độ, văn hóa Pháp Có thể nói quá trình tiếp thu đó không phải diễn ra một chiều, thụ động mà có sự biến tấu, sáng tạo cho phù hợp với đối tượng, hoàn cảnh Một ví dụ

có thể kể đến là sự tiếp thu Phật giáo của Ấn Độ, chịu ảnh hưởng của văn hóa tín ngưỡng dân gian bản địa đã trở thành Phật giáo dân gian ở Bắc Bộ

1.2.2 Vị trí của Ý Yên trong vùng đồng bằng Bắc Bộ

Nằm phía tây nam của tỉnh Nam Định, cách thành phố Nam Định khoảng 20

km, phía bắc tiếp giáp tỉnh Hà Nam, phía tây giáp tỉnh Ninh Bình, được ngăn cách bởi con sông Đáy, phía đông giáp huyện Vụ Bản và phía nam giáp huyện Nghĩa Hưng

Trang 24

Hình 1.1 Vùng địa lý tự nhiên Nam Định (nguồn: namdinh.gov.vn/ubndnamdinh/4/467/37856) Xét về điều kiện tự nhiên, vùng đất Ý Yên thuộc vùng đồng bằng bãi bồi sông không chịu tác động của biển, nằm trong vùng đất trũng hơn các huyện còn lại, địa hình không đồng đều, chủ yếu là đồng bằng, tuy nhiên có những vùng đất cao,

có vùng lại rất thấp và bị chia cắt bởi hệ thống kênh mường dày đặc Về đất đai, huyện thuộc vùng đất phù sa cũ do hệ thống sông Hồng bù đắp từ lâu nên đất đai có thành phần cơ giới thịt trung bình, pha cát thích hợp cho việc trồng cây nông nghiệp

và cây lâu năm

Xét về chế độ thủy văn, Ý Yên là vùng có địa hình đồng bằng thấp trũng, có

hệ thống sông tương đối dày theo hướng Bắc Nam, có hai con sông lớn chảy qua là sông Đào (10km) và sông Đáy (30 km)

Trang 25

Hình 1.2 Hệ thống sông chảy qua Ý Yên, Nam Định (nguồn: namdinh.gov.vn/ubndnamdinh/4/467/37856) Với vị trí nằm trong khu vực đồng bằng Bắc Bộ nên khí hậu của Ý Yên mang đặc trưng chung của khí hậu vùng đồng bằng khí hậu nhiệt đới gió mùa ẩm với bốn mùa rõ rệt, có mùa đông lạnh khô do chịu tác động mạnh của gió mùa Đông Bắc và có một số đặc điểm khí hậu chung của tỉnh Nam Định, nhiệt dộ trung bình

cả năm 250 C, lượng mưa trung bình lớn nhất cả tỉnh với lượng mưa trung bình cả năm là khoản 1.750 mm, hướng gió chính là hướng Đông Nam và hướng Tây Bắc

1.2.3 Làng nghề truyền thống Ninh Xá, Ý Yên, Nam Định

1.2.3.1 Điều kiện tự nhiên và môi trường sinh thái

Làng Ninh Xá thuộc xã Yên Ninh, huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định Huyện Ý Yên nằm giáp thành phố Ninh Bình, ba mặt phía Bắc, Tây và Nam giáp sông Đáy, sông Đào hay còn gọi là Sông Nam Định, phía đông giáp huyện Vụ Bản Huyện Ý Yên có 1 thị trấn Lâm (huyện lỵ, thành lập ngày 1/4/1986 trên cơ sở 416.04 ha diện

Trang 26

tích tự nhiên của xã Yên Xá; 30.37 ha diện tích tự nhiên của xã Yên Ninh; 24.50 ha diện tích tự nhiên của xã Yên Tiến và 4.27 ha diện tích tự nhiên của xã Yên Hồng

và 31 xã: Yên Bằng, Yên Bình, Yên Chính, Yên Cường, Yên Dương, Yên Đồng, Yên Hồng, Yên Hưng, Yên Khang, Yên Khánh, Yên Lộc, Yên Lợi, Yên Lương, Yên Minh, Yên Mỹ, Yên Nghĩa, Yên Nhân, Yên Ninh, Yên Phong, Yên Phú, Yên Phúc, Yên Phương, Yên Quang, Yên Tân, Yên Thắng, Yên Thành, Yên Thọ, Yên Tiến, Yên Trị, Yên Trung, Yên Xá

“Thôn Ninh Xá với số hộ hơn 700 hộ Số nhân khẩu là khoảng 3200 nhân khẩu Tổng diện tích hành chính là 176, 09 ha Diện tích đất canh tác là 155, 85 ha Diện tích đất thổ cư là 20, 24 ha Diện tích đất trồng lúa là 148, 68 ha Nếu chỉ diện tích cấy lúa ít như vậy thì không đảm bảo nhu cầu phát triển kinh tế xã hội của địa phương và mỗi gia đình Nhưng Ninh Xá ngày nay nhờ có ông Tổ sư nghề mộc chạm khắc, truyền lại nghề qua các thế hệ mà nghề mộc càng ngày càng nổi tiếng Nhân dân vừa kết hợp chạm khắc cổ truyền với chăn nuôi sản xuất nên thu nhập kinh tế mỗi ngày một cao” (ông Ninh Viết Lý, bí thư thôn Ninh Xá xã Yên Ninh ngày 6 /3 /1997)

Ninh Xá được chia thành Ninh Xá Hạ và Ninh Xá Thượng, 2 thôn cách nhau một con đường Mỗi thôn chia ra thành các xóm, ngõ nhỏ, thôn Ninh Xá Hạ gồm 4 xóm: xóm Hàng, xóm Giữa, xóm Chùa, xóm Trại; thôn Ninh Xá Thượng gồm 5 ngõ: Ngòi, Đông, Giữa, Tây, Đập Việc đặt tên ngõ chủ yếu dựa trên vị trí của ngõ hoặc gắn với địa danh Chẳng hạn Xóm Hàng hay Phố Hàng là dãy phố buôn bán của làng Ninh Xá, xóm Chùa là nơi đặt chùa Phúc Lê v.v Tuy nhiên tên ngõ được dân làng quy định gọi, lâu dần thành tên ngõ Ngoài ra, do nhu cầu mở rộng không gian sống, dân các vùng khác đến xuất hiện các xóm, ngõ mới, do người dân tự đặt tên như xóm chợ Mới (hay cầu gừng), xóm Mả Già, Đình Hát

Trước đình Dâu có chợ hàng ngày gọi là chợ Hôm họp từ 4 giờ chiều đến 6 h tối, chợ đông vui bán các thực phẩm hàng ngày Đến năm 1949, 1950 kháng chiến chống Pháp là chợ tan

Đình Dâu ở đầu làng Ninh Xá Hạ thờ ông Khổng Tử và mạnh Tử, còn là trụ

sở của hội đồng dân biểu của làng Ninh Xá Hạ

Trang 27

Miếu thờ có 12 miếu: miếu trại, miếu cổng quán, đầu xóm trại, làng giữa, làng sau, làng chùa, bến, ngõ sông, xóm hàng, cầu đất - ngõ ngòi, cửa miếu, bóng cây, miếu được đặt tên theo lệ của làng hoặc họ ví dụ làng sau có miếu họ Ninh, miếu làng quán là của họ Cao, miếu làng chùa của họ Tạ

Theo tục lệ việc làng ở đình và giỗ hậu ở chùa phải có lễ ra miếu cúng, quan viên là ngày 7 tháng 3, quan viên giã bánh dày và tế

Theo Gia Long địa bạ, huyện Phong Doanh, tổng Cát Đằng 7 xã: Cát Đằng,

La Xuyên, Văn Cú, Lũ Phong, Đăng Chương, Tân Cầu, Ninh Xá Huyện Phong Doanh 21.010 mẫu, điền 19.393 mẫu, thổ 1.617 mẫu

Về giao thông, thôn Ninh Xá nằm ngay sát trục đường 10 và đường sắt Bắc - Nam thuộc địa phận Nam Định có 6 ga Từ tỉnh đi về phía tây bắc có ga Đặng Xá, Đồng Văn đến Bình Lục, đi về phía tây nam có ga Trịnh Xuyên, Cát Thượng đến sông Hát chỗ Cầu Cổ tiếp với hạt Ninh Bình, đường sắt và đường quan song song với nhau

1.2.3.2 Hoàn cảnh lịch sử và môi trường xã hội

Vào khoảng thế kỷ XI - XIV (giai đoạn Lý –Trần), Nam Định được coi là cửa ngõ quan trọng của vùng đồng bằng châu thổ nói riêng và nước Đại Việt nói chung Vùng đất được các vua Trần lựa chọn như kinh đô thứ hai và trị vì trong suốt

175 năm Có thể nói, Nam Định có vị trí chiến lược quan trọng trong quá trình xây dựng và cai trị của vi vua thời Lý, Trần

Vào thời nhà Lý, phủ Ứng Phong bao gồm các huyện Mĩ Lộc, Vụ Bản, Ý Yên, Nam Trực và một phần của hai huyện Trực Ninh, Nghĩa Hưng hiện nay có hai cửa biển là Ba Lạt và Đại An, trong đó Ba Lạt là nơi sông Hồng đổ ra biển, Đại An tên cửa sông Đáy nơi giao thoa của sông Đáy và sông Đào, có thể coi vùng đất này

là cửa ngõ đi vào châu thổ sông Hồng Khu vực chùa Cổ Lễ (Giao Thủy) hình thành một dải giao thoa văn hóa, là nơi diễn ra hoạt động trao đổi buôn bán với các thuyền buôn, nơi cư ngụ của những đoàn thuyền đánh cá, tất cả tạo nên sự nhộn nhịp, năng động trong hoạt động kinh tế và sự phong phú trong văn hóa vùng

Nằm ở vị trí địa lý đặc biệt, Nam Định dưới thời Lý được coi là một trung

Trang 28

tâm kinh tế quan trọng của cả nước, các vua Lý luôn dành sự quan tâm cho vùng đất này Vì vậy, nhà Lý đã cho xây dựng ít nhất hai hành cung trên đất Nam Định xưa Hành cung thứ nhất có thể ở khu vực gần chùa Keo, tuy nhiên do sông đổi dòng mà phần lớn kiến trúc cổ từ thời Lý đã bị nước sông cuốn trôi Hành cung thứ hai được xây dựng trên một “không gian thiêng” bao gồm những dãy núi cổ và là trung tâm sản xuất lúa gạo có tên là Ứng Phong Theo ghi chép của các chính sử, trong 56 năm trị vì, có 19 lần vua ngự giá tới hành cung thì 11 lần ông tới xem cày hoặc xem gặt Có thể nói, hành cung Ứng Phong đóng vai trò quan trọng đối với vương triều

Lý, đặc biệt trong thời gian trị vì của vua Lý Nhân Tông

Vị trí của hành cung Ứng Phong trong quan hệ của hành cung với hệ thống giao thông cổ thời Lý

Hình 1.3 Vị trí của hành cung Ứng Phong (nguồn: Vũ Minh Giang (2004), Lịch sử Việt Nam: truyền thống và hiện đại, Nxb

Đại học quốc gia Hà Nội, tr 282) Như vậy có thể nói hành cung Ứng Phong đóng vai trò quan trọng dưới triều đại nhà Lý - thời kì diễn ra các sự kiện trọng đại của nước Đại Việt Theo Đại Việt

sử kí toàn thư [14, tr 20], từ đời nhà Lý đã xuất hiện hành cung Ứng Phong, có thể nằm ở đất huyện Ý Yên

Trên không gian đó, Lý Nhân Tông cho xây dựng trên núi Chương Sơn tòa bảo tháp Vạn Phong Thành Thiện, là một công trình kiến trúc Phật giáo quy mô lớn,

Trang 29

được khởi dựng vào năm 1108 và khánh thành năm 1117 Điều này được ghi chép trong Đại việt sử kí toàn thư ghi chép “Tháng 3, ngày Bính Thìn, vua ngự ở núi Chương Sơn để khánh thành bảo tháp Vạn Phong Thành Thiện, có rồng vàng xuất hiện” Trong sử sách, theo thống kê thì có ít nhất 12 lần địa danh Chuông Sơn được ghi chép trong Việt sử lược và Đại Việt sử ký toàn thư, sách Việt sử thông giám cương mục ghi một loạt các sự kiện xảy ra quanh núi Chương Sơn như việc vua ngự chơi Chương Sơn năm 1106, ba lần rồng vàng hiện lên ở đây vào những năm 1107,

1114, 1117 Sau khi thưởng ngoại ở khu vực này, vua lại trên đường đi tới hành cung Ứng Phong để xem cày ruộng Vào thời Lý, Phật giáo phát triển mạnh mẽ vì vậy các kiến trúc của đền chùa hay tòa bảo tháp cũng mang âm hưởng Phật giáo, là nơi nhà vua thường lui tới Trong Việt sử lược và Đại Việt sử kí toàn thư, Lý Thánh Tông (1023 - 1072) xây dựng 3 tháp; Lý Nhân Tông (1066 - 1127) xây dựng 9 tháp trong đó có bảo tháp Vạn Phong Thành Thiện

Với vị trí cửa ngõ quan trọng của vùng châu thổ sông Hồng đồng thời là vị trí chiến lược trên phương diện quan sự được nhà Lý, nhà Trần quan tâm tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển kinh tế vùng, giao lưu kinh tế, văn hóa giữa các vùng Kết quả là việc hình thành các làng nghề phát triển sớm ở khu vực này một phần phục vụ nhu cầu trong vùng, một phần là hàng hóa trao đổi buôn bán Chẳng hạn như, từ thời Lý, đã có những trung tâm chế tác đồng nổi tiếng tiêu biểu là làng Tống Xá (nay thuộc xã Yên Xá, huyện Ý Yên) có truyền thống hơn 900 năm, làng nghề đồ gỗ mỹ nghệ, khảm trai ở làng Ninh Xá (nay thuộc xã Yên Ninh, huyện Ý Yên), làng sơn mài Cát Đằng (xã Yên Tiến, huyện Ý Yên) v.v Có thể nói việc hình thành nhiều làng nghề truyền thống là do vị trí địa lý thuận lợi đồng thời làng nghề

ra đời phục vụ nhu cầu của các vua thời Lí hay thời Trần

Trang 30

sau này Theo thần sắc từ thời Trần Thái Tông, khi Đinh Tiên Hoàng dẹp được loạn

12 sứ quân, thống nhất đất nước và lập ra nhà nước Đại Cồ Việt, đã cho tuyển nhiều nhân tài về giúp triều đình trong đó có Ninh Hữu Hưng.Ông được nhà vua giao cho việc xây dựng cung điện trong kinh đô và nhiều công trình khác nhau như Hoa Lư

tứ trấn và các đình chùa ở Trường Yên, Ninh Hữu Hưng được phong chức Công tượng lục phủ giám sát đại tướng quân (vị đại tướng trông coi nghề mộc của sáu phủ) Thời Tiền Lê, ông chịu trách nhiệm xây dựng các cung điện tại kinh đô như Bách Thảo Thiên Tuế, Long Lộc Trường Xuân Ngày mùng 4 tháng 6 năm Kỷ Mùi (1019), ông qua đời tại Ninh Xá Con cháu và người làng đưa thi hài ông về quê an táng tại chân núi Xương Bồ (Ninh Bình), đồng thời tôn làm vị tổ dạy nghề, thờ tự tại đền Ninh Xá (trước đó đền thờ 2 vị Lương Binh Vương và An Như Vương)

Đền Ninh Xá gọi là đền Voi Đá, Ngựa Đá, hiện còn lưu giữ 28 đạo sắc phong, trong đó 11 đạo thời Lê, sớm nhất là vào niên hiệu Vĩnh Thọ (1660) 2 đạo thời Tây Sơn, 13 đạo thời nhà Nguyễn Trong số 28 đạo sắc phong còn lưu giữ thì chỉ còn giữ được 1 đạo sắc phong cho Lão La Đại Thần được ban ngày 25 tháng 7 niên hiệu Khải Định thứ 9 (1924) “Sắc Nam Định tỉnh, Phong Doanh huyện, Ninh

Xá xã phụng sự Lão La Đại Thần tôn thần, hộ quốc tí dân nẫm trứ linh ứng Tứ kim chính trị trẫm tứ tuần đại khánh, tiết kinh ban bảo chiếu đàm ân lễ long đăng trật Trứ phong vi dực bảo trung hưng linh phù tôn thần chuẩn kỳ phụng sự Phùng kỳ tướng hự, bảo ngã lê dân Khâm tai! Khải Định cửu niên, thất nguyệt, nhị thập ngũ nhật” Dịch nghĩa là “Sắc cho xã Ninh Xá, huyện Phong Doanh, tinh Nam Định phụng thờ Lão La Đại thần tôn thần, giúp nước giúp dân, thiêng liêng rõ rệt Nhân nay trẫm tứ tuần đại khánh từng ban chiếu để rõ hơn trên, long trọng việc lễ đăng trật Vậy phong chức vị tôn thần thiêng liêng phò giúp cho nền trung hưng của quốc gia, cho phép phụng thờ Mong thần che chở cho dân ta Kinh vậy thay (ngày 25 tháng7, niên hiệu Khải Định năm thứ 9)

1.3 Tiểu kết

Trong không gian văn hóa chung đồng bằng Bắc Bộ, làng Ninh Xá mang những đặc trưng chung tương đồng với đồng bằng Bắc Bộ trên các phương diện

Trang 31

như điều kiện tự nhiên, môi trường sinh thái, một số các phong tục tập quán của cư dân nông nghiệp chẳng hạn như khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa, nguồn nước dồi dào, mật độ dân cư cao, môi trường văn hóa có bề dày lịch sử lâu đời với những sinh hoạt như lễ hội, tín ngưỡng dân gian, loại hình nghệ thuật độc đáo

Tuy nhiên, ngoài những đặc điểm chung đó, làng Ninh Xá, huyện Ý Yên cũng có nét khác biệt Làng Ninh Xá là một làng nông - thủ công nghiệp với làng nghề truyền thống làm đồ gỗ mỹ nghệ, bên cạnh sản xuất nông nghiệp, ngành nghề thủ công nghiệp đóng vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế vùng tạo nên những đặc trưng văn hóa làng nghề

Với hoàn cảnh lịch sử đặc biệt trong thời kì nhà Lý - Trần, với lịch sử làng nghề truyền thống mỹ nghệ với ông tổ nghề là ông Ninh Hữu Hưng tạo nên giá trị lịch sử cho làng nghề truyền thống Ngoài ra, huyện Ý Yên nói chung và làng Ninh

Xá nói riêng có vị trí địa lý thuận lợi, nằm trong khu vực hành cung Ứng Phong - hàng cung được vua Lý –Trần đặc biệt coi trọng, nằm trên khu vực đường thiên lý đã đem lại nhiều thuận lợi cho làng Ninh Xá phát triển giao thương, kinh tế Có thể nói

sự tồn tại và phát triển của làng nghề Ninh Xá được tạo nên bởi nhiều yếu tố Trước hết là vị trí địa lý, giao thông thuận lợi, có đường sắt Bắc - Nam chạy qua, đường quốc lộ 10, cách thành phố Nam Định khoảng 20 km và thành phố Ninh Bình khoảng

10 km, đặc biệt có đường cao tốc mới Cầu Giẽ - Ninh Bình rút ngắn thời gian di chuyển giữa các vùng lân cận đồng thời tạo điều kiện cho việc lưu thông hàng hóa Với vị trí này, làng Ninh Xá có thể sử dụng nhiều loại phương tiện vận chuyển khác nhau, nếu như trước kia việc vận chuyển nguyên liệu gỗ thông qua đường thủy, qua sông cầu Tào trên chiếc bè trở về làng, thì ngày nay đường bộ, đường sắt được sử dụng chủ yếu Ngoài ra, Làng Ninh Xá nằm gần các nơi tiêu thụ sản phẩm tiềm năng như Hải Dương, Hưng Yên, Thanh Hóa, Hải Phòng, Yên Bái v.v Những kỹ năng, tay nghề khéo léo của người thợ thủ công, đặc trưng trong phong tục tập quán của làng là nhân tố duy trì sự tồn tại và phát triển của làng, tạo nên không gian văn hóa đặc trưng của làng Ninh Xá

Trang 32

CHƯƠNG 2: ĐẶC TRƯNG TRONG KHÔNG GIAN VĂN HÓA LÀNG

NINH XÁ, HUYỆN Ý YÊN, TỈNH NAM ĐỊNH

2.1 Đặc trưng về văn hóa sản xuất

2.1.1 Nghề nông trồng lúa nước

Trồng lúa nước là một trong những nghề chính của người dân làng Ninh Xá Với điều kiện khí hậu thuận lợi, nguồn nước dồi dào, nông nghiệp coi là nguồn lương thực chính cho cả làng

Cả thửa ruộng được phân chia với diện tích nhỏ, phân đều cho các hộ gia đình trong làng Trước 1994, các thành viên trong gia đình được phân chia ruộng để phục vụ sản xuất Cho đến nay, vẫn còn việc dồn điền đổi thửa diễn ra hàng năm cho nông dân

Nạn đói năm 1945 đã mang lại nhiều tổn thất về người và của cho người nông dân trên khắp cả nước trong đó xã Yên Ninh cũng bị chịu ảnh hưởng nặng nề

Cụ thể làng Ninh Xá có 226 người chết đói trong những năm 1945, La Xuyên có

194 người, Lũ Phong có 245 người và Trịnh Xá có 39 người (Sưu tầm) Sau đó là diễn ra quá trình cải cách ruộng đất trên quy mô lớn với 2116 mẫu trong đó Ninh Xá

có 717 mẫu, La Xuyên 354 mẫu, Lũ Phong 598 mẫu, Trịnh Xá là 447 mẫu (sưu tầm),

Một năm có một vụ chiêm và một vụ mùa Vụ chiêm ruộng được cày từ tháng 6 khi nước trong ruộng dân cao, Sau khi máy cày san đều các thửa ruộng, người nông dân sẽ đo bờ đắp đất, phân chia các thủa ruộng của mình để thực hiện gieo mạ hay cấy Những thửa ruộng ở phần đất cao, nước không vào được, thì phải tát nước, tháo nước từ trên ruộng cao xuống, công việc này diễn ra trước khi thực hiện công cuộc cấy mạ

Mạ chiêm thường được gieo vào tháng 10 âm lịch, tuy nhiên lịch gieo mạ có thể thay đổi tùy vào thời tiết có thể diễn ra sớm hoặc muộn hơn Loại lúa thường được người dân lựa chọn là những lúa ngắn ngày, có khả năng chịu đựng thời tiết

Trang 33

cao, có năng suất lớn Hình thức gieo mạ, nông dân có thể gieo mạ tại những khoảnh ruộng riêng hoặc có thể gieo mạ ngay trên sân nhà bằng cách trở bùn từ ngoài ruộng đổ đầy và san phẳng sau đó gieo mạ Mạ được ngâm trong 12 tiếng với nước ấm khi mạ mọc mầm Ngâm mạ đòi hỏi kỹ thuật cao thường những người lớn tuổi trong gia đình đảm nhiệm việc ngâm mạ, đảm bảo cho lúa ra rễ đều, không bị ủng Khi mạ đủ tuổi, cây đẻ nhánh thì bắt đầu nhổ, buộc thành từng túm hoặc lấy những mảng mạ trên sân mang đi cấy Việc cấy lúa vụ chiêm thường bắt đầu trước tết

âm lịch tùy thuộc vào thời tiết để điều chỉnh lịch cấy cho phù hợp đảm bảo cho cây lúc sinh trưởng tốt, chống chịu được rét Tháng 5 là mùa thu hoạch lúa chiêm Khi thu hoạch lúa,nếu trước kia, người dân sau khi gặt sẽ mang về nhà sau đó máy sẽ đến tuốt lúa, tuy nhiên để giảm công sức lao động, người dân sẽ tuốt lúa ngay tại ruộng rồi mang lúa về nhà Rạ sau khi tuốt lúa xong, sẽ được người dân đem phơi tại ruộng cho đến khi khô sẽ được đốt để làm phân bón ruộng

Sau khi xong vụ chiêm, đất sẽ được nghỉ một thời gian bằng việc đan xen trồng cây đan xen như lạc đậu, khoai tạo dinh dưỡng cho đất sau đó người dân lại tiếp tục vụ mùa Vụ mùa nước thường dâng cao, người nông dân tập trung cấy trên các đồng cao và năng suất thấp so với vụ chiêm

Một năm hai vụ lúa, đủ cung cấp lương thực cho người dân trong làng Tuy nhiên, thời tiết thay đổi, mất mùa thường xuyên xảy ra, thu hoạch lúa không đủ ăn,

vì vậy nhiều người nông dân bỏ ruộng, khoán lại ruộng Người dân làng Ninh xá tìm đến làng nghề truyền thống của làng để tăng thêm thu nhập

2.1.2 Nghề thủ công mỹ nghệ

Sự ra đời của nghề thủ công mỹ nghệ

Theo ngọc phả của đền Ninh Xá:

Thời vua Lê Đại Hành đóng đô ở Hoa Lư, phải đối mặt với quân Tống từ phương Bắc xâm chiếm nước ta Vua Lê Đại Hành đích thân đem quân chống giặc Khi đi qua núi Dục Thúy thì gặp gió to, sóng lớn không thể di chuyển được, bỗng nhiên vua nhìn thấy 3 con rồng từ trên sông bay vào trong hang núi, lúc sao trời quang mây tạnh, mặt nước phẳng lặng Cuối mùa xuân năm Tân Tỵ (981), quân

Trang 34

Tống thất bại, vua quay trở về kinh đô Vua Lê Đại Hành từ Hoa Lư đi cày tịch điền

ở núi Đọi, lăng Sơn Đọi, tổ nghề Ninh Hữu Hưng được vua cho đi hộ giá, trên đường trở về cung, vua Lê Đại Hành ghé qua làng Thiết Lâm (rừng gỗ lim) trên dòng sông Sắt thờ Diêm La thiên tử và hai vị tướng thời Hùng Vương là Lương Bình Vương và An Nhu Vương Thấy xóm làng khi ấy còn thưa thớt, hiu quạnh, vua cho lưu tổ Ninh Hữu Hưng ở lại xây dựng xóm làng và tôn tạo miếu chùa Vùng đất 2 bên bờ sông ông chiêu dân tụ hội, khuyến khích canh nông và phát triển thủ công, hỗ trợ, giúp đỡ nhau chế tác các đồ dùng cần thiết Sau khi ông mất, để tưởng nhớ công ơn của người có công truyền nghề cho dân chúng, vì vậy đều lấy họ Ninh ở đầu, vì thế khu này có tên là Ninh Gia ấp, tức Yên Ninh ngày nay

“Tinh hoa non nước, tú khí biển rộng

Sinh quán ấp Chi Phong, tổ nghề làng Ninh Xá

Nối nghiệp nhà đã là thợ giỏi

Giúp Đinh Lê xây dựng điện đài

Đã có tài lại thêm chí dung

Cùng vua lê về đất thiết lâm

Biết tài năng vua sai ở lại

Sửa đền siêu, chiêu dân lập ấp

Cấp gạo tiền, dân nghèo hội tụ

Tứ xứ về phát triển nghề nông

Ăn đã đủ, tiền tiêu còn thiếu

Truyền nghề mộc làm kế sinh nhai

Công đức này sánh tày cha mẹ

Thay họ mình được lấy họ Ninh

Kể từ khi ấy đến nay

Tên làng, tên họ chữ Ninh đứng đầu”

(Trích văn tế tại làng Ninh Xá, Yên Ninh,Ý Yên, Nam Định)

Hơn 1000 năm nay, người dân trong làng đã trở thành làng nghề chạm khắc

gỗ nổ và có bề dài lịch sử lâu đời nhất Người dân trong khu vực Thiết Lâm, Cái Nành đi khắp nơi trong cả nước xây dựng cung điện, đền chùa, miếu phủ và tạo ra

Trang 35

những sản phẩm đồ gỗ mỹ nghệ có độ tinh xảo và đòi hỏi kỹ thuật cao Trong ngọc phả của làng có lưu lại trong Bộ Lễ của triều Lê do tiến sỹ Nguyễn Hoàn viết năm

1749 “Chi lê triều phục hung Nguyên Hòa Giáp nọ niên, Lê Đế Hạnh từ quan dân nghệ nghiệp, kiến kỳ hương dân phong tục thuần phác, mộc tượng tinh thông tiện đới ngũ nhân hồi kinh khai mộc phường chấn hưng thủ nghệ” dịch là Thời nhà Lê trung hưng, niên hiệu Nguyên Hòa năm Giáp Ngọ (1534), vua Lê (Trang Tông) có qua làng xem dân làm nghề Nhà vua thấy phong tục nơi đây thuần phác, nghề nghiệp tinh thông bèn đem 5 người về kinh đô mở rộng chấn hưng nghề mộc”

Ban đầu người dân làm những đồ dùng cần thiết, phục vụ đời sống hàng hàng ngày Qua quá trình học hỏi, đi làm thuê ở khắp các vùng trên cả nước, tay nghề của người dân ngày càng nâng cao, từ việc làm những sản phẩm đồ gỗ phục

vụ đời sống thường nhật, thì các sản phẩm có tinh xảo đòi hỏi kĩ thuật cao đã được hoàn thành bởi bàn tay khéo léo của người thợ như các công trình kiến trúc mang tính tôn giáo, kiến trúc để phục vụ đời sống tâm linh như đền, chùa, miếu v.v Ngày nay, một cuộc sống tấp nập, nhộn nhịp ở làng quê Ninh Xá, một lượng lớn xe buôn

từ các tỉnh thành lân cận tụ tập để bốc, xếp hàng để chở đi buôn khắp nơi Một cuộc sống náo nhiệt nơi làng nghề truyền thống, người ra người vào, tiếng cười tiếng nói, tiếng mặc cả của người buôn kẻ bán Hàng ngày trung bình trăm xe khách buôn ghé qua, hàng trăm sản phẩm như bàn ghế, sập, đồ thờ được vận chuyển đi Giá cả hợp

lý, mẫu mã phong phú chất lượng tốt là những yếu tố thu hút lượng khách lớn đồ về làng

Trang 36

Các bước hoàn thành sản phẩm

Về công cụ sản xuất

Để làm ra một sản phẩm hoàn thiện thì ở mỗi giai đoạn sử dụng những công

cụ phù hợp Chẳng hạn ở giai đoạn phác thảo ra hình thù sản phẩm thô, người thợ sẽ dùng cưa để tạo khối Nếu như trước kia công cụ thô sơ, người thợ dùng cưa đơn hoặc cưa đôi cắt khúc gỗ ra các hình khác nhau Ngày nay, sự tiến bộ của công nghệ, người thợ thực hiện thao tác đưa gỗ vào máy cưa được cài đặt sẵn Việc sử dụng máy giúp cho người thợ rút ngắn được thời gian kéo cưa bằng tay

Sau khi có khối gỗ như mình mong muốn, bước tiếp theo là dùng bút phác thảo ra hình hài, đường nét cần đục thông qua các mẫu vẽ đã chuẩn bị từ trước Ngày nay thì công đoạn này được xử lí bằng máy móc hiện đại Người thợ chỉ cần chọn mẫu tương ứng sau đó lập trình sẵn trên máy tính, Họa tiết trên gỗ thường là những điển tích cũ, hay hình long, ly, quy, phụng Như vậy sẽ đảm bảo được độ chính xác cao hơn, các đường phác thảo rõ nét

Chạm được coi là công đoạn khó nhất, đòi hỏi tay nghề cao, sự khéo léo, là bước tạo nên linh hồn của sản phẩm, vì vậy chỉ có những người thợ lành nghề mới đảm nhiệm công đoạn này Dựa trên những nét phác thảo, thợ mộc sẽ sử dụng những chiếc đục có hình thù khác nhau để chạm khắc gỗ

Trà lu và đánh giấy giáp là những bước cuối cùng trước khi sản phẩm hoàn thiện, tạo cho sản phẩm trở nên mượt, sáng bóng, tôn lên những hoạt tiết của gỗ

Trang 37

Giai đoạn này không đòi hỏi kĩ thuật cao thường là những lao động phổ thổng thức hiện Nếu trước kia, người dân thường trực tiếp dùng tay với giấy giáp để đánh bóng sản phẩm thì hiện nay có nhiều thiết bị hỗ trợ như mấy bào, máy đánh bóng

Tuy nhiên, để đưa sản phẩm đến các giai đình sử dụng được, thì người thợ sẽ thực hiện công đoạn cuối cùng là phun sơn, sơn son thiếp vàng để đảm bảo sản phẩm có thể giữ được lâu, không mối mọt

Các sản phẩm chính

Ban đầu, những người thợ làng Ninh Xá đi khắp nơi để tham gia xây dựng các công trình kiến trúc như đình, chùa miếu mạo Những công trình nổi tiếng cả nước hiện nay cũng một phần nhờ bàn tay khéo léo của thợ mộc làng Ninh Xá và có giá trị lịch sử, văn hóa cao Theo lời kẻ của các cụ lão niên trong làng thì ban đầu những người thợ Ninh Xá chỉ tham gia vào việc làm nhà, đóng thuyền, dựng chùa, tạc tượng, hay làm ra các sản phẩm phục vụ đời sống thường nhật Tận dụng nguồn nguyên liệu có sẵn, người thợ mộc sáng tạo ra những sản phẩm mới có giá trị kinh

tế, thẩm mỹ cao hơn khởi nguồn từ nghệ thuật trang trí trên đồ gỗ, Khi nhắc đến làng Ninh Xá, mọi người thường nhớ đến những thợ mộc tham gia xây dựng các công trình như Nhà thờ đá Kim Sơn, quần thể di tích phủ Dày v.v Tiếp theo đó là các ẩn phẩm như sập gụ, tủ chè, giường, phản được làm ra đáp ứng thị yếu của mọi người Tiếp đến thời kì Pháp thuộc ở Đông Dương, chính quyền khuyến khích hoạt động giao thương giữa các vùng, khôi phục ngành nghề thủ công mỹ nghệ Vì vậy, người thơ có cơ hội học hỏi, giao lưu, nân cao tay nghề tạo ra sản phẩm mới phong phú hơn Như vậy có thể nói, ngoài việc vẫn còn duy trì các công việc như tạc tượng, làm đình, chạm khắc phù điêu thì các đồ gia dụng như bàn ghế, kệ, khung gương được đẩy mạnh phát triển

Trang 38

Đầu tiên có thể kể đến đồ thờ được coi là sản phẩm chủ đạo của làng Ninh

Xá, được duy trì và gìn giữ nhiều năm Một phần do vùng đất Ninh Xá nằm trong khu vực chịu ảnh hưởng của yếu tố cung đình (thời Lí và thời Trần), vì vậy các sản phẩm làm ra mang hơi hướng cung đình, phục vụ nhu cầu tâm linh tín ngưỡng Có thẻ kể đến các sản phẩm như cuốn thư, câu đối, bàn thờ, ngai thờ, ống hương, đại tự v.v Các sản phẩm này yêu cầu sự tỉ mỉ, sự chính xác cao, có sự tính toán kỹ lượng

để sản phẩm làm ra đều có cái hồn, thần sắc trong đó Chẳng hạn như tượng Quan Thế Âm phải toát lên vẻ từ bi, phổ độ chúng sinh hay các tượng Trừng Ác toát lên

vẻ uy nghi, dũng mãnh, dữ tợn

Các sản phẩm đồ gia dụng như bàn ghế, sập gụ tủ chè được người dân làng Ninh Xá chạm khắc tinh tế, khéo léo theo phong các cổ điển bằng các loại gỗ như lim, táu, hương, trầm, gụ Các họa tiết trên sản phẩm chủ yếu là hoa lá, tùng, cúc trúc mai, cầm kì thi họa, vinh quy bái tổ Trong tư gia của các gia đình khá giả ngày xưa thường được đặt một bộ sập gụ - tủ chè ở ngay gian chính của ngôi nhà, bên trên là các bức tranh gỗ với các đề tài: cầm kì thi họa, tùng cúc trúc mai hay tranh hình rẻ quạt

Tổ chức sản xuất

Mặc dù nghề mộc truyền thống ra đời từ lâu, tuy nhiên trong thời gian đầu, chỉ có một số hộ gia đình nhỏ lẻ duy trì nghề làm mộc còn lại người dân trong làng vẫn tham gia sản xuất nông nghiệp hoặc đi đến khắp nơi làm thuê

Khi nghề mộc bắt đầu phát triển, được nhiều người biết đến, nông nghiệp không mang lại một cuộc sống no đủ, người dân làng Ninh Xá quay lại tập trung vào nghề mộc Ban đầu, hoạt động nghề mộc dưới sự quản lý của hợp tác xã Sau

đó, do nhu cầu mở rộng kinh doanh sản xuất thì xuất hiện hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty tư nhân quản lý theo kiểu gia đình tức thành viên trong gia đình tham gia vào các khâu sản xuất quan trọng, thuê nhân công là người dân trong làng hoặc các làng lân cận làm việc Hiện tại, trong làng có sự phân công khu vực

để kinh doanh sản xuất Chẳng hạn đối với khu vực bên trong làng, khó tiếp cận với

Trang 39

khách hàng thì tập trung vào sản xuất sản phẩm Sau khi sản phẩm hoàn thành sẽ tập kết đến khu thương mại nơi có vị trí thuận lợi cho việc kinh doanh như đường quốc lộ, xe buôn có thể dễ dàng di chuyển vào Đó là hình thức kinh doanh hộ gia đình Còn đối với công ty tư nhân hay công ty trách nhiệm hữu hạn, thường sản xuất tất cả các khâu từ việc bắt đầu chọn gỗ cho đến khi làm ra sản phẩm cuối cùng, theo mô hình khép kín và cuối cùng là tìm đầu ra cho sản phẩm

Bảng 2.1 Các loại hình kinh doanh tại xã yên Ninh

(nguồn: Số liệu thống kê năm 2007 của UBND xã Yên Ninh)

Tác động của nghề gỗ đối với đời sống dân làng Ninh Xá

Nếu trước kia, người dân làng Ninh Xá, phụ thuộc nhiều vào trồng lúa là thu nhập chính, thì với sự phát triển của làng nghề thủ công mỹ nghệ hiện nay đã mang lại thu nhập cao cho người dân Hầu hết các gia đình trong làng tập trung vào việc sản xuất, chạm khắc các sản phẩm thủ công mỹ nghệ

Với lợi thế giao thông thuận lợi cho việc buôn bán khi có đường quốc lộ 10, đường sắt bắc nam và đường cao tốc chạy qua cùng với danh hiệu làng nghề truyền thống, làng Ninh Xá đang ăn nên làm ra với nghề truyền thống được ông tổ Ninh Hữu Hưng truyền lại Các sản phẩm thủ công mỹ nghệ không đơn thuần là các sản phẩm tiêu dùng, phục vụ đời sống hàng ngày của người dân mà còn là các sản phẩm

có tính văn hóa mang ý nghĩa vùng miền độc đáo Cùng với làng nghề La Xuyên, ngành nghề thủ công mỹ nghệ này đã tạo công ăn việc làm cho hơn 2.500 - 3.000 lao động làm việc cho hơn 20 doanh nghiệp, cơ sở sản xuất và hàng trăm cơ sở nhỏ gia công sản xuất ở các vùng lân cận, doanh thu từ làm nghề mộc 60-70 tỷ đồng

Trang 40

chiếm hơn 60% cơ cấu kinh tế của toàn xã Yên Ninh

Hình 2.1 Sản phẩm bàn thờ của làng Ninh Xá

(nguồn: Ảnh tác giả chụp) Các mảng sản xuất gỗ chính: đục sản phẩm đồ thờ dùng cho Phật giáo Sản xuất các mặt hàng đồ gỗ gia dụng như giường tủ, bàn ghế, cửa các loại, hàng trang trí nội thất Không chỉ sản xuất các mặt hàng gia dụng, người dân cũng tập trung và những sản phẩm đồ gỗ cao cấp, cầu kỳ, sang trọng theo phong cách truyền thống như tủ chè, sập gụ, sập lim, chạm trổ hoa văn các loại theo nhu cầu của khách hàng Dưới bàn tay khéo léo của các nghệ nhân, những mảng gỗ thô sơ đã được thổi hồn, mang giá trị thẩm mỹ cao, và có giá trị kinh tế cao

2.2 Đặc trưng về văn hóa đảm bảo đời sống

Ngày đăng: 17/03/2021, 08:57

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w