1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Xây dựng website học trực tuyến để tổ chức học tập theo mô hình học tập đảo ngược chương ii cấu trúc của tế bào sinh học 10 trung học phổ thông

115 16 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 115
Dung lượng 5,17 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC VƯƠNG THỊ THU TRÀ XÂY DỰNG WEBSITE HỌC TRỰC TUYẾN ĐỂ TỔ CHỨC HỌC TẬP THEO MÔ HÌNH HỌC TẬP ĐẢO NGƯỢC CHƯƠNG II - CẤU TRÖC CỦA TẾ BÀO, SI

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC

VƯƠNG THỊ THU TRÀ

XÂY DỰNG WEBSITE HỌC TRỰC TUYẾN

ĐỂ TỔ CHỨC HỌC TẬP THEO MÔ HÌNH HỌC TẬP ĐẢO NGƯỢC

CHƯƠNG II - CẤU TRÖC CỦA TẾ BÀO, SINH HỌC 10

TRUNG HỌC PHỔ THÔNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ SƯ PHẠM SINH HỌC

HÀ NỘI – 2016

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC

VƯƠNG THỊ THU TRÀ

XÂY DỰNG WEBSITE HỌC TRỰC TUYẾN

ĐỂ TỔ CHỨC HỌC TẬP THEO MÔ HÌNH HỌC TẬP ĐẢO NGƯỢC

CHƯƠNG II - CẤU TRÖC CỦA TẾ BÀO, SINH HỌC 10

TRUNG HỌC PHỔ THÔNG

CHUYÊN NGÀNH: LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC

Trang 3

Bằng lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc, chúng tôi xin chân thành cảm ơn

PGS.TS Dương Tiến Sỹ - Giảng viên Cao cấp trường ĐHSP Hà Nội, đã dành

nhiều thời gian, công sức tận tình hướng dẫn, chỉ bảo và giúp đỡ chúng tôi trong mọi mặt để chúng tôi thực hiện tốt luận văn

Chúng tôi xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu, các Thầy, Cô giáo cùng các

em học sinh trường THPT Chuyên Chu Văn An, tỉnh Lạng Sơn đã tạo mọi điều kiện giúp đỡ chúng tôi thực hiện luận văn

Cuối cùng, chúng tôi xin gửi lời cảm ơn tới gia đình và bè bạn đã luôn động viên, khuyến khích và tạo điều kiện cho chúng tôi trong thời gian nghiên cứu và hoàn thành luận văn

Hà Nội, ngày 7 tháng 1 năm 2017

Tác giả

VƯƠNG THỊ THU TRÀ

Trang 4

DANH MỤC CÁC KÍ HIỆU, CÁC TỪ VIẾT TẮT

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN i

DANH MỤC CÁC KÍ HIỆU, CÁC TỪ VIẾT TẮT ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU v

DANH MỤC CÁC HÌNH vii

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 6

1.1 TỔNG QUAN LỊCH SỬ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 6

1.1.1 Trên thế giới 6

1.1.2 Ở Việt Nam 8

1.2 CƠ SỞ LÍ LUẬN 14

1.2.1 Khái niệm Học tập đảo ngược 14

1.2.2 Bản chất của Học tập đảo ngược 17

1.2.3 Các giai đoạn tổ chức học tập theo mô hình Học tập đảo ngược 18

1.2.4 Những ưu điểm, khó khăn và những lưu ý khi sử dụng Mô hình học tập đảo ngược trong DH 19

1.2.5 Vai trò của Website học trực tuyến nâng cao hiệu quả của mô hình học tập đảo ngược 21

1.3 CƠ SỞ THỰC TIỄN 23

1.3.1 Tình hình xây dựng và sử dụng website học trực tuyến môn Sinh học ở Việt Nam 23

1.3.2 Tình hình khai thác và sử dụng Internet, website học trực tuyến trong DH Sinh học ở trường THPT 28

1.3.3 Tình hình sử dụng mô hình học tập đảo ngược trong DH Sinh học THPT 32

CHƯƠNG 2: XÂY DỰNG WEBSITE HỌC TRỰC TUYẾN ĐỂ TỔ CHỨC HỌC TẬP THEO MÔ HÌNH HỌC TẬP ĐẢO NGƯỢC CHƯƠNG II – CẤU TRÖC CỦA TẾ BÀO, SINH HỌC 10 TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 34

2.1 NGUYÊN TẮC TỔ CHỨC HỌC TẬP THEO MÔ HÌNH HỌC TẬP ĐẢO NGƯỢC 34

2.1.1 Nguyên tắc quán triệt mục tiêu DH 34

2.1.2 Nguyên tắc đảm bảo tính chính xác khoa học của nội dung DH 36

Trang 6

2.1.3 Nguyên tắc đảm bảo tính trực quan và tính sư phạm 37

2.1.4 Nguyên tắc đảm bảo sự tương tác tối đa trong quá trình DH theo quan điểm lấy người học làm trung tâm 38

2.1.5 Nguyên tắc đảm bảo sự phát triển năng lực tự học của HS 41

2.1.6 Nguyên tắc đảm bảo tính linh hoạt, hiệu quả, hữu dụng đặc trưng của CNTT 41

2.2 QUY TRÌNH TỔ CHỨC HỌC TẬP THEO MÔ HÌNH HỌC TẬP ĐẢO NGƯỢC 43

2.2.1 Quy trình Xây dựng website để tổ chức học tập theo mô hình học tập đảo ngược 43

2.2.2 Quy trình sử dụng mô hình học tập đảo ngược để tổ chức học t Chương II - Cấu trúc của tế bào, Sinh học 10 THPT 61

2.3 VÍ DỤ MINH HỌA SỬ DỤNG MÔ HÌNH HỌC TẬP ĐẢO NGƯỢC ĐỂ TỔ CHỨC HỌC TẬP CHƯƠNG II - CẤU TRÚC CỦA TẾ BÀO, SINH HỌC 10 THPT 64

2.3.1 Ví dụ 1 64

2.3.2 Ví dụ 2 67

CHƯƠNG 3: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 72

3.1 MỤC ĐÍCH THỰC NGHIỆM 72

3.2 NỘI DUNG THỰC NGHIỆM 72

3.3 PHƯƠNG PHÁP THỰC NGHIỆM 72

3.3.1 Chọn trường thực nghiệm 72

3.3.2 Chọn GV và lớp tham gia thực nghiệm 72

3.3.3 Bố trí thực nghiệm 73

3.4 KẾT QUẢ THỰC NGHIỆM 73

3.4.1 Kết quả phân tích định lượng 73

3.4.2 Kiểm tra giả thuyết 77

3.4.3 Kết quả phân tích định tính 79

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 83

TÀI LIỆU THAM KHẢO 85

PHỤ LỤC 87

Trang 7

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU

Trang

Bảng 1 1 So sánh lớp học truyền thống và lớp học theo mô hình học tập đảo ngược

17

Bảng 1 2 Tần suất sử dụng mạng Internet của HS THPT trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn 28

Bảng 1 3 Tần suất truy cập mạng Internet để tìm kiếm thông tin cho bài học 29

Bảng 1 4 Những khó khăn gặp phải khi tìm kiếm thông tin trên mạng và tham gia các khóa học trực tuyến của HS 30

Bảng 1 5 Tần suất truy cập mạng Internet để phục vụ công tác giảng dạy môn Sinh học của GV THPT 30

Bảng 1 6 Những khó khăn gặp phải khi sử dụng Internet của GV 31

Bảng 1 7 Tần suất truy cập các website của GV 31

Bảng 2 1 Bảng tổng kết hệ thống PTDH kĩ thuật số đã xây dựng 46

Bảng 2 2 Thống kê tình hình sử dụng moodle trên thế giới [15] 48

Bảng 2 3 Tổng quan các chủ đề của một bài học lớp học đệm 54

Bảng 2 4 Quy trình sử dụng tổ hợp đa phương tiện để tổ chức hoạt động nhận thức cho HS 63

Trang 8

DANH MỤC CÁC HÌNH

Trang

Hình 1 1 Lớp học đảo ngược được triển khai trên website Moon.vn 9

Hình 1 2 Lớp học đảo ngược được giới thiệu trên website zuni.vn 9

Hình 1 3 Chuyên đề về lớp học đảo ngược trên website hoclaitudau.com 10

Hình 1 4 Dạy học Sinh học 12 theo lớp học đảo ngược 11

Hình 1 5.So sánh các mức độ tư duy trong lớp học truyền thống và lớp học tổ chức theo mô hình học tập đảo ngược 18

Hình 1 6 Dạy trực tuyến môn Sinh học ở Việt Nam trên youtube 23

Hình 1 7 Dạy học trực tuyến môn Sinh học trên website https://thpt.iss.edu.vn/ 24

Hình 1 8 Nội dung bài giảng môn Sinh học trên website https://thpt.iss.edu.vn/ 24

Hình 1 9 Cấu trúc bài giảng môn Sinh học trên website https://casada.vn/ 24

Hình 1 10 Cấu trúc một chuyên đề trong khóa học Luyện thi đảm bảo 25

Hình 1 11 Tư liệu một bài giảng môn Sinh học trên website https://thpt.iss.edu.vn/ 25

Hình 1 12 Bài tập củng cố trong một bài học trên website https://casada.vn/ 26

Hình 1 13 Lỗi trên website https://casada.vn/ 26

Hình 2 1 Ví dụ minh họa nguyên tắc đảm bảo tính chính xác khoa học của nội dung DH 36

Hình 2 2 Ví dụ minh họa nguyên tắc đảm bảo tính trực quan 38

Hình 2 3 Ví dụ minh họa nguyên tắc đảm bảo tính tương tác giữa người học với máy 40

Hình 2 4 Ví dụ minh họa nguyên tắc đảm bảo tính tương tác giữa GV-HS, HS-HS 40

Hình 2 5 Ví dụ minh họa nguyên tắc đảm bảo tính linh hoạt, hiệu quả, hữu dụng đặc trưng của CNTT 42

Hình 2 6 Ví dụ minh họa nguyên tắc đảm bảo tính linh hoạt, hiệu quả, hữu dụng đặc trưng của CNTT 42

Hình 2 7 Giao diện trang chủ của website - phần đăng nhập 49

Hình 2 8 Bật chế độ chỉnh sửa 50

Trang 9

Hình 2 9 Thiết lập phần Tóm tắt hệ thống 50

Hình 2 10 Kết quả của phần thiết lập tóm tắt hệ thống 51

Hình 2 11 Giao diện hoàn thiện của trang chủ 51

Hình 2 12 Thêm khóa học mới 52

Hình 2 13 Thiết lập Danh mục khóa học 52

Hình 2 14 Danh mục khóa học 52

Hình 2 15 Thiết lập chung cho khóa học 53

Hình 2 16 Thiết lập nội dung của khóa học 53

Hình 2 17 Hiển thị của Danh mục khóa học tại trang chủ 54

Hình 2 18 Các hoạt động, tài nguyên để tạo nội dung cho các chủ đề 56

Hình 2 19 Kết quả thiết lập nội dung của khóa học 56

Hình 2 20 Kết quả thiết lập nội dung của khóa học 57

Hình 2 21 Thiết lập chung cho đề thi trực tuyến 57

Hình 2 22 Các dạng câu hỏi tạo đề thi trực tuyến 58

Hình 2 23 Đề thi trực tuyến tạo trên Moodle 59

Hình 2 24 Câu hỏi tương tác dạng điền khuyết (nhập đáp án) 59

Hình 2 25 Câu hỏi tương tác dạng điền khuyết (chọn đáp án) 60

Hình 2 26 Câu hỏi tương tác dạng đúng - sai / có - không 60

Hình 2 27 Câu hỏi tương tác dạng kéo thả -ghép nối 60

Hình 2 28 Câu hỏi tương tác dạng bảng - điền khuyết 61

Hình 2 29 Qui trình sử dụng mô hình học tập đảo ngược 62

Hình 3 1 Đồ thị tần suất điểm các bài kiểm tra trong TN 75

Hình 3 2 Đồ thị tần suất hội tụ tiến trong TN 76

Trang 10

MỞ ĐẦU

1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI

1.1 Xuất phát từ quan điểm chỉ đạo và các văn bản có tính pháp lý về giáo dục

- đào tạo và yêu cầu đổi mới giáo dục - đào tạo của Đảng, Nhà nước

Giáo dục – đào tạo có vị trí quan trọng để phát triển nguồn nhân lực, quyết định thành công của công cuộc xây dựng đất nước Đại hội XI của Đảng đã xác

định “Giáo dục và đào tạo có sứ mệnh nâng cao dân trí, phát triển nguồn nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, góp phần quan trọng phát triển đất nước, xây dựng nền văn hóa và con người Việt Nam” [1]

Nghị quyết 29-NQ/TW của Ban chấp hành trung ương ngày 4/11/2013 về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội

nhập quốc tế đã tiếp tục khẳng định quan điểm chỉ đạo “Giáo dục đào tạo là quốc

sách hàng đầu, là sự nghiệp của Đảng” [2, Tr 2] và nhấn mạnh “Chuyển mạnh quá trình giáo dục từ chủ yếu trang bị kiến thức sang phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất người học” [2, Tr 2] Đồng thời nghị quyết cũng đề ra các nhiệm vụ giải

pháp để đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo Một trong các nhiệm vụ,

giải pháp trọng tâm là: “Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương pháp dạy và học theo

hướng hiện đại; phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và vận dụng kiến thức,

kỹ năng của người học; khắc phục lối truyền thụ một chiều, ghi nhớ máy móc Tập trung dạy cách học, cách nghĩ, khuyến khích tự học, tạo cơ hội để người học tự cập nhật để đổi mới tri thức, kỹ năng và phát triển năng lực Chuyển từ học chủ yếu trên lớp sang tổ chức hình thức học tập đa dạng, chú ý các họat động ngoại khóa, xã hội, nghiên cứu khoa học Đẩy mạnh ứng dụng CNTT và truyền thông trong dạy và học” [2, Tr 5]

Quan điểm xây dựng Chương trình giáo dục phổ thông sau 2015 theo tinh thần nghị quyết 29-NQ/TW cũng tiếp tục đề cập đến việc tiếp tục đổi mới PPDH, đa dạng hóa hình thức tổ chức học tập và đẩy mạnh ứng dụng CNTT&TT trong các họat động giáo dục Chương trình cũng đã cụ thể hóa các yêu cầu cần đạt năng lực chung của HS trong đó có năng lực tự học, năng lực CNTT&TT

Trang 11

1.2 Xuất phát từ thực tiễn yêu cầu đổi mới PPDH và hình thức tổ chức DH; từ những triển vọng và xu thế phát triển của mô hình học tập đảo ngược

Các quan điểm chỉ đạo của Đảng và nhà nước được thể hiện đầy đủ trong Chương trình Giáo dục phổ thông tổng thể sau 2015 Những đổi mới trong Chương trình giáo dục, đặc biệt với việc được lựa chọn các môn học (ngoài các môn học bắt buộc) đã góp phần đáp ứng nhu cầu học tập của người học, tạo điều kiện cho người học có thể học tập chuyên sâu các môn học theo nguyện vọng, sở thích hay định hướng nghề nghiệp của bản thân Do vậy đổi mới PPDH và hình thức tổ chức DH là yêu cầu tất yếu của QTDH

Hiện nay, sự phát triển mạnh mẽ của CNTT&TT đã mở ra triển vọng to lớn trong việc đổi mới PPDH và hình thức tổ chức DH góp phần nâng cao hiệu quả DH Đồng thời tạo điều kiện phát triển năng lực cho người học như năng lực tự học, năng lực CNTT&TT Cùng với sự phát triển của khoa học, công nghệ và mạng internet, học tập trực tuyến (E-learning) đã và đang thu hút được đông đảo người học Học tập trực tuyến được biết đến là phương thức đào tạo mới, có nhiều ưu điểm nổi bật với người học như: có thể học bất cứ lúc nào, tại bất cứ đâu; có thể tự quyết định việc học của bản thân; website có tính tương tác cao sẽ góp phần phát triển năng lực của người học…Tuy nhiên thực tế cũng đã chứng minh học tập trực tuyến cũng chưa thể thay thế hoàn toàn hình thức học tập trên lớp, máy tính cũng không thể thay thế hoàn toàn GV, bạn học

Mô hình học tập đảo ngược là một mô hình DH kết hợp trực tiếp và trực tuyến, được xây dựng dựa trên cơ sở lý thuyết Học tập đảo ngược với quan điểm

DH lấy người học làm trung tâm và đảm bảo các yếu tố của lý thuyết học tập đảo ngược Mô hình học tập đảo ngược tạo môi trường khuyến khích tính tự chủ trong học tập của người học, tạo điều kiện tăng hiệu quả sự tương tác giữa người học – máy tính, người học – GV, người học - người học, từ đó giúp người học phát triển nhận thức

Như vậy, mô hình học tập đảo ngược có nhiều triển vọng với việc kết hợp các ưu điểm của hình thức học tập trực tuyến và học tập trực tiếp trên lớp, tạo ra môi trường học tập tích cực, chủ động, tương tác cao nhưng không kém phần thú vị với HS

Trang 12

1.3 Xuất phát từ nội dung kiến thức Chương II - Cấu trúc của tế bào

Kiến thức về sinh học tế bào nói chung và cấu trúc của tế bào nói riêng có vai trò quan trọng, là kiến thức nền tảng giúp HS tiếp thu tốt các nội dung kiến thức khác trong chương trình Sinh học THPT Trên thực tế, đây cũng là nội dung kiến thức thu hút và hấp dẫn nhưng cũng khó nhớ, dễ nhầm lẫn với HS vì có nhiều thành phần cấu trúc phức tạp và đặc biệt, SGK rất ít các hình ảnh mô phỏng nên kiến thức trở nên trừu tượng Chủ yếu bao gồm kiến thức về cấu trúc, Chương II - Cấu trúc của tế bào có những đặc điểm phù hợp, thuận lợi cho việc thiết kế website học trực tuyến để tổ chức học tập theo mô hình học tập đảo ngược, đưa HS tiếp cận với một hình thức học tập mới mà HS hầu như chưa được tiếp cận trước đó

Vì vậy chúng tôi chọn đề tài “Xây dựng website học trực tuyến để tổ chức

học tập theo mô hình học tập đảo ngược Chương II - Cấu trúc của tế bào, Sinh học 10 trung học phổ thông”

2 MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU

Nghiên cứu xây dựng website học trực tuyến có tính tương tác cao và tổ chức học tập theo mô hình học tập đảo ngược nhằm góp phần nâng cao hiệu quả

DH chương II - Cấu trúc của tế bào, Sinh học 10 THPT

3 KHÁCH THỂ VÀ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Mô hình học tập đảo ngược trong DH Chương II - Cấu trúc của tế bào, Sinh học 10 THPT

3.2 Khách thể nghiên cứu

Quá trình DH chương II - Cấu trúc của tế bào, phần Sinh học tế bào, Sinh học 10 THPT

4 GIẢ THUYẾT KHOA HỌC

Nếu xây dựng được website học trực tuyến có tính tương tác cao và tổ chức học tập theo mô hình học tập đảo ngược sẽ góp phần nâng cao chất lượng dạy và học Chương II - Cấu trúc của tế bào, Sinh học 10 THPT

5 NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU

5.1 Nghiên cứu cơ sở lí luận liên quan đến đề tài: tổng quan lịch sử vấn đề nghiên

cứu, học tập đảo ngược (flipped learning)

Trang 13

5.2 Nghiên cứu cơ sở thực tiễn liên quan đến đề tài: tình hình xây dựng và sử dụng

các website học trực tuyến nói chung và môn Sinh học nói riêng ở Việt Nam; thực trạng khai thác và sử dụng Internet, website học trực tuyến ở trường THPT, tình

hình sử dụng mô hình học tập đảo ngược trong DH Sinh học

5.3 Xây dựng được website học trực tuyến chương II - Cấu trúc của tế bào, Sinh học 10 THPT bằng PM Moodle và kết hợp sử dụng một số PM khác để tạo lớp học

đệm trên website

5.4 Nghiên cứu xác định các nguyên tắc chỉ đạo việc xây dựng mô hình học tập đảo

ngược

5.5 Nghiên cứu xây dựng quy trình sử dụng mô hình học tập đảo ngược để tổ chức

DH Chương II - Cấu trúc tế bào, Sinh học 10

5.6 TNSP để khẳng định tính đúng đắn mà giả thuyết khoa học của đề tài đặt ra

6 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

6.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận

Sử dụng phối hợp các phương pháp phân tích, tổng hợp, phân loại, hệ thống hoá, khái quát hoá trong nghiên cứu các tài liệu lí luận và thực tiễn có liên quan đến đề tài để:

Nghiên cứu các văn bản và các chỉ thị của Đảng, Nhà nước về chủ trương chính sách với giáo dục và đào tạo

Nghiên cứu tài liệu hướng dẫn sử dụng PM để thiết kế website DH; các PM, công cụ để xây dựng bài giảng đa phương tiện

Nghiên cứu nội dung Phần Sinh học tế bào và nội dung chương II - Cấu trúc của tế bào, phần Sinh học tế bào

6.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn

Điều tra thực trạng khai thác và sử dụng internet; xây dựng website DH trực tuyến ở trường THPT hiện nay

Điều tra tình hình sử dụng mô hình DH đảo ngược trong DH Sinh học

6.3 Phương pháp chuyên gia

Trao đổi, xin ý kiến chuyên gia trong quá trình định hướng đề tài và triển

khai thực hiện đề tài

6.4 Phương pháp thực nghiệm sư phạm

Trang 14

Thực nghiệm sư phạm nhằm kiểm tra tính đúng đắn của giả thuyết khoa học 6.5 Phương pháp thống kê toán học

Xử lí kết quả thực nghiệm bằng phương pháp thống kê, từ đó rút ra kết luận của đề tài

7 NHỮNG KẾT QUẢ VÀ ĐÓNG GÓP CỦA ĐỀ TÀI

7.1.Về cơ sở lí luận: bước đầu hệ thống hóa, xây dựng được cơ sở lí luận về mô

hình học tập đảo ngược

7.2 Điều tra thực trạng vận dụng mô hình học tập đảo ngược ở Việt Nam từ đó có

định hướng xây dựng website có tính tương tác cao sử dụng để tổ chức hiệu quả mô hình học tập đảo ngược

7.3 Phối hợp sử dụng một số PM xây dựng được website học trực tuyến chương II -

Cấu trúc của tế bào, Sinh học 10 THPT tạo môi trường học tập linh hoạt thuận lợi cho việc tổ chức học tập theo mô hình học tập đảo ngược

7.4 Xây dựng được quy trình tổ chức học tập theo mô hình học tập đảo ngược

chương II - Cấu trúc tế bào, Sinh học 10 THPT

7.5 Thiết kế được một số giáo án minh họa sử dụng mô hình học tập đảo ngược và

đưa vào TNSP để kiểm tra tính đúng đắn của giả thuyết khoa học

8 CẤU TRÖC LUẬN VĂN

Ngoài phần mở đầu, kết luận, khuyến nghị, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn gồm ba chương:

Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn của đề tài

Chương 2: Xây dựng website học trực tuyến để tổ chức học tập theo mô hình học

tập đảo ngược Chương II - Cấu trúc tế bào, Sinh học 10 trung học phổ thông

Chương 3: Thực nghiệm sư phạm

Trang 15

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI

1.1 TỔNG QUAN LỊCH SỬ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1.1 Trên thế giới

Học tập đảo ngược (Flipped learning) là một phương thức thiết kế DH đã và đang được phát triển tại nhiều quốc gia trên thế giới Học tập đảo ngược được nghiên cứu và là cơ sở lý thuyết để tổ chức một mô hình học tập đã được áp dụng rộng rãi là lớp học đảo ngược (Flipped classroom)

Phương thức DH theo lý thuyết học tập đảo ngược bắt nguồn từ ý tưởng độc lập của một số tác giả về phương thức dạy học mới đem lại hiệu quả học tập và kích thích việc học tập chủ động Theo những cách khác nhau nhưng họ cùng đề xuất chia quá trình dạy học thành 2 giai đoạn: giai đoạn tự học trước khi tới lớp và giai đoạn học trên lớp

Hai tác giả Barbara Walvoord và Virginia Johnson Anderson trong quyển

sách có tên “Effective Reading: a tool for learning and assessment” xuất bản năm

1998 đã đề xuất cách đánh giá việc học sao cho đem lại hiệu quả học tập và kích thích việc học tập chủ động Trên cơ sở đó họ đã đề xuất sử dụng các hình thức như đọc và tóm tắt tài liệu về bài học mới, trả lời câu hỏi hoặc hoàn thành phiếu bài tập

để kiểm tra sự hiểu của người học

Vào thập niên 1990, tại Khoa công nghệ và Khoa học Ứng dụng của Đại học Harvard, ông Trưởng Khoa Eric Mazur và giáo sư Vật lý và Vật lý ứng dụng Balkanski (NewsRx Health, 2012) đã sử dụng mô hình với tên gọi là Peer Instruction (học lẫn nhau) sau khi giáo sư này thấy rằng mặc dù bài giảng của ông được đánh giá cao, nhiều sinh viên vẫn chưa thật sự hiểu các khái niệm Vật lý trong bài giảng của mình Theo cách dạy và học mới, người học nghe những bài giảng ngắn qua các đoạn băng video và sau đó tất cả phải trả lời câu hỏi kiểm tra khái niệm trên hệ thống quản lý học Kế đến người học tham gia vào các hoạt động thảo luận nhóm trên lớp học và GV sẽ phản hồi để điều chỉnh những câu trả lời sai [10]

Trên những cơ sở đó, các lớp học đảo ngược được hình thành với tư tuởng chung là tổ chức dạy học theo 2 giai đoạn: tổ chức cho học sinh tự học kiến thức cơ bản trước khi tới lớp với sự hỗ trợ của CNTT&TT và tổ chức học trên lớp để thảo

Trang 16

luận, luyện tập, vận dụng kiến thức

Tiếp sau đó, học tập đảo ngược hay cụ thể là mô hình lớp học đảo ngược được trình bày trong nhiều hội thảo, hội nghị khoa học như hội thảo dạy và học của Hiệp hội khoa học chính trị Mỹ (2007), hội nghị khoa học về lớp học đảo ngược

Bergmann et al (2012) [10]

Với cách học tích cực và kết hợp với sự hỗ trợ của công nghệ, mô hình lớp học đảo ngược nhanh chóng thu hút các nhà giáo dục ở Mỹ và một số quốc gia khác Khan Academy là một tổ chức phi lợi nhuận được thành lập với mục đích cải tiến cách học Trang web của tổ chức này cung cấp trên 3.250 bài giảng miễn phí bằng băng ghi hình về các môn học khác nhau như Toán, Khoa học, Chính trị, Đây được xem là một lớp học toàn cầu; HS, sinh viên và GV có thể sử dụng kho tư liệu này miễn phí Thông qua trang web này nhiều GV đã khai thác nguồn tài liệu phong phú để ứng dụng mô hình lớp học đảo ngược [10]

Mô hình lớp học đảo ngược được triển khai đầu tiên ở Mỹ trong nhiều trường đại học và THPT Hiện nay, mô hình lớp học đảo ngược đang ngày càng được sử dụng rộng rãi và đã đạt được những thành công nhất định ở nhiều nước trên thế giới

Ở Mỹ, theo một cuộc khảo sát do Sophia Learning và Flipped Learning Network tiến hành hồi tháng 5 năm 2014, số lượng GV áp dụng mô hình lớp học đảo ngược trong giảng dạy ở Mỹ tăng lên 78% trong năm 2014, so với chỉ 48% vào năm 2012 Trong đó, các GV tham gia khảo sát đều đồng ý rằng mô hình này giúp thái độ học tập trong lớp được cải thiện rất nhiều và điểm số của HS tăng lên 67%

so với cách học truyền thống [19] Ngoài ra, 3/4 trong tổng số 180.000 HS trung học tham gia cuộc khảo sát Speak Up năm 2013 cũng đồng ý rằng mô hình lớp học đảo ngược mang lại hiệu quả học tập cao hơn so với bình thường Với những ưu điểm trên, mô hình lớp học đảo ngược được nhiều cơ sở giáo dục ở Mỹ áp dụng trong giảng dạy, chủ yếu ở các bậc trung học và đại học

Ngoài ra, nhiều quốc gia khác như Anh, Úc, Singapo, Việt Nam… cũng đã triển khai mô hình lớp học đảo ngược

Nhưng cũng như các mô hình học tập khác, mô hình học tập được tổ chức dựa trên lý thuyết Học tập đảo ngược không phải là mô hình học tập tuyệt đối cho

Trang 17

mọi đối tượng người học, mọi bài học Học tập đảo ngược cũng yêu cầu được triển khai đúng cách Chính vì vậy, trong quá trình thực hiện cũng có những mô hình đã thất bại Bên cạnh đó “lớp học đảo ngược” là thuật ngữ sử dụng phổ biến chỉ các cách đã triển khai DH của các tổ chức và cá nhân khác nhau dựa trên tư tưởng của

lý thuyết học tập đảo ngược, chứ chưa có các nghiên cứu cụ thể để xây dựng mô hình DH đáp ứng các yếu tố của lý thuyết học tập đảo ngược Vì vậy, trong phạm vi luận văn, chúng tôi sử dụng khái niệm “lớp học đảo ngược” để đề cập đến các cách triển khai DH đã được các tổ chức, cá nhân đã tự áp dụng trên tư tưởng của lý thuyết học tập đảo ngược và khái niệm “mô hình học tập đảo ngược” để đề cập đến

mô hình học sẽ nghiên cứu và xây dựng trong đề tài trên cơ sở áp dụng lý thuyết học tập đảo ngược và đảm bảo các yếu tố của học tập đảo ngược theo Flipped Learning Network

1.1.2 Ở Việt Nam

1.1.2.1 Tình hình áp dụng DH theo lý thuyết học tập đảo ngược ở Việt Nam

Ở Việt Nam, học tập đảo ngược đang được chú ý và đã có những bước đi đầu tiên Lý thuyết học tập đảo ngược chủ yếu được các cơ sở giáo dục và các cá nhân triển khai dưới dạng lớp học đảo ngược

Hiện nay lớp học đảo ngược đã được sử dụng trong giảng dạy ở một số cơ sở giáo dục như Đại học FPT, Trung tâm Anh ngữ quốc tế Apollo, Trung tâm Anh ngữ Việt Mỹ VATC… và một số trang web học trực tuyến như Zuni.vn, Moon.vn, hoclaitudau.com… Bên cạnh đó cũng đã có một số thầy cô giáo đã tìm hiểu, mạnh dạn áp dụng và đạt những kết quả bước đầu như cô giáo Tô Thụy Diễm Quyên, giảng viên Chương trình ứng dụng CNTT vào DH của Bộ GD&ĐT, thầy Ngô Trần Định Công – GV môn Sinh học,…

Trường Đại học FPT đã triển khai lớp học đảo ngược trên 4 lớp với 100 sinh viên Kết quả cho thấy, tỉ lệ sinh viên đỗ thực hành tại đại học FPT đã tăng từ 30%

ở các lớp thông thường lên 53% ở các lớp áp dụng mô hình [9]

Website học trực tuyến Moon.vn, một website có uy tín với HS Việt Nam đã triển khai lớp học đảo ngược từ năm 2014

Trang 18

Hình 1 1 Lớp học đảo ngược được triển khai trên website Moon.vn

Website Zuni.vn cũng đã giới thiệu về lớp học đảo ngƣợc và khuyến khích, tạo điều kiện cho các GV áp dụng mô hình này trên website

Hình 1 2 Lớp học đảo ngược được giới thiệu trên website zuni.vn

Nhiều thầy cô giáo đã tập trung nghiên cứu và mạnh dạn áp dụng lớp học đảo ngƣợc

Website học trực tuyến hoclaitudau.com của thầy giáo Nguyễn Minh Tuấn chính thức mở các lớp ôn luyện thi môn Toán áp dụng lớp học đảo ngƣợc từ năm

2016 Để triển khai đƣợc mô hình học tập mới này, thầy giáo Nguyễn Minh Tuấn đã thực hiện một chuyên đề giới thiệu về lớp học đảo ngƣợc đến các phụ huynh và HS

Trang 19

Hình 1 3 Chuyên đề về lớp học đảo ngược trên website hoclaitudau.com

Cô giáo Tô Thụy Diễm Quyên, giảng viên Chương trình ứng dụng CNTT vào DH của Bộ Giáo dục và đào tạo, đã áp dụng thử nghiệm lớp học đảo ngược trong DH Hóa học 9 tại thành phố Hồ Chí Minh Qua thử nghiệm cho thấy HS tích cực, chủ động thực hiện nhiệm vụ học tập ở nhà và tích cực, hứng thú, tham gia có hiệu quả hoạt động thảo luận, luyện tập tại lớp

Trong bộ môn Sinh học, Thầy Ngô Trần Định Công đã áp dụng lớp học đảo ngược trong lớp luyện thi đại học và nhận thấy những biến đổi lớn: HS hiểu nhanh

và cặn kẽ những nội dung thầy giảng lại trên lớp và đặt câu hỏi rất sâu sắc, điều đó

có được là do HS đã được tiếp cận nội dung học từ ở nhà, nắm vững các nội dung

cơ bản và xác định được các nội dung còn gây khó khăn với bản thân, từ đó các hoạt động trên lớp đạt hiệu quả cao hơn

Trang 20

Hình 1 4 Dạy học Sinh học 12 theo lớp học đảo ngược

Ngoài ra còn các thầy cô giáo ở bậc đại học và THPT đã thử nghiệm lớp học đảo ngược và nhận được những phản hồi tích cực từ HS

Hạn chế của việc áp dụng DH theo lý thuyết học tập đảo ngược ở Việt Nam

Bản thân lý thuyết học tập đảo ngược có nhiều ưu điểm nổi bật Tuy nhiên việc áp dụng DH theo lý thuyết học tập đảo ngược ở Việt Nam còn tồn tại một số hạn chế

Chúng tôi nhận thấy các lớp học đảo ngược đã triển khai dựa trên tư tưởng chung của Học tập đảo ngược là tổ chức DH theo 2 giai đoạn: tự học kiến thức cơ bản trước khi tới lớp với sự hỗ trợ của CNTT&TT và thời gian trên lớp dành chủ yếu cho hoạt động luyện tập, vận dụng kiến thức Tuy nhiên hầu hết lớp học đảo ngược được triển khai mang tính chủ quan: không có các yếu tố nền tảng để xây dựng mô hình lớp học, quy trình sử dụng không thống nhất do đó chưa đáp ứng được đầy đủ các yếu tố của học tập đảo ngược, có thể kể đến các hạn chế như:

- Giai đoạn tự học ở nhà, chỉ tổ chức được khâu Học bài mới của QTDH

- Các bài giảng thu thành video hay là các powerpoint được đưa lên mạng để

HS xem trước khi tới lớp HS ít có cơ hội tương tác với bài học, GV và bạn học nên chưa đáp ứng văn hóa DH với quan điểm DH lấy người học làm trung tâm

- Chưa có công cụ quản lý lớp học hiệu quả GV khó quản lý lớp học, tình trạng học tập của HS và không tương tác được với HS trong giai đoạn học tập trước khi tới lớp Cũng đã có những giải phải pháp được đề xuất như cô giáo Tô Thụy Diễm Quyên đã thiết kế bài giảng Elearning gửi lên facebook cho HS học và kiểm tra kết quả học tập của HS tại trang https://www.surveymonkey.com Tuy nhiên giải pháp trên tương đối phức tạp với GV và khó tạo môi trường học tập linh hoạt với

HS Còn hầu hết các mô hình đã triển khai không thực hiện được các yêu cầu này

Trang 21

Nguyên nhân của thực trạng trên là ở Việt Nam, học tập đảo ngược mới được giới thiệu khái quát trên một số trang web và một số ít bài báo khoa học mà chưa có các công trình nghiên cứu chuyên sâu Do vậy GV còn thiếu về lí luận khi triển khai học tập đảo ngược trong thực tế

Thực tế triển khai ở thế giới và Việt Nam cho thấy lý thuyết học tập đảo ngược đã được áp dụng rộng rãi Tuy nhiên nhiều mô hình lớp học đảo ngược triển khai chưa hiệu quả, nhiều trường hợp thực tế GV mới chỉ “lật lớp học” của mình chứ chưa thực sự triển khai lớp học đảo ngược Để khắc phục các hạn chế, việc nghiên cứu lí luận về học tập đảo ngược, xây dựng mô hình học tập đảo ngược trên

cơ sở vận dụng đầy đủ lý thuyết học tập đảo ngược là yêu cầu cấp thiết Đồng thời

để tổ chức học tập theo mô hình học tập đảo ngược hiệu quả, cần xây dựng được công cụ tiện ích để tổ chức giai đoạn học tập trước khi tới lớp của HS Website học trực tuyến có tính tương tác cao, có tính năng quản lí hiệu quả là giải pháp

1.1.2.2 Đánh giá ưu, nhược điểm và nguyên nhân hạn chế của các website học trực tuyến hiện nay

a Ưu điểm

- Về tính đa dạng của nội dung và hình thức:

Hiện nay phần lớn các website học trực tuyến gồm tổng hợp nhiều môn học

và cấp học, một số website học trực tuyến các môn học riêng biệt Tuy nhiên các website đều hướng đến sự đa dạng, phong phú thành phần kiến thức và học liệu; sự sinh động, hấp dẫn về hình thức và thuận tiện cho việc nghiên cứu và trao đổi

- Về hiệu quả huy động nhân lực:

Có sự tham gia và cơ hội tham gia của những GV giỏi, những chuyên gia hàng đầu thuộc các môn học khác nhau cũng như các HS giỏi

- Về tiện ích và hiệu quả hỗ trợ của công nghệ:

Với sự phát triển mạnh mẽ của CNTT, các website học trực tuyến được xây dựng ngày càng chuyên nghiệp, có nhiều tính năng mới mang đến nhiều tiện ích và

hỗ trợ hiệu quả cho người sử dụng

- Về hiệu quả thực hiện nhiệm vụ DH:

Tăng tính tương tác, tính đa lựa chọn, tính linh hoạt và tính mở Tạo ra được những thay đổi tích cực về mặt nội dung và phương pháp so với học truyền thống

Trang 22

góp phần đem lại những hiệu quả và hứng thú học tập nhất định đối với nhiều môn học như ngoại ngữ, vật lý, toán học, hóa học, sinh học…

- Về hiệu quả quản lý hoạt động và chất lượng học tập:

Các website học trực tuyến hiện nay có các tính năng quản lí hoạt động học tập và chất lượng học tập của người học thường xuyên, liên tục dưới nhiều hình thức Từ đó, nhanh chóng phân loại, nắm bắt tình hình HS, thu nhận thông tin ngược để có những điều chỉnh sao cho phù hợp với năng lực, trình độ và điều kiện học của từng cá nhân HS

b Nhược điểm

Ngoài những ưu điểm như trên, Website học trực tuyến hiện nay còn tồn tại một số hạn chế

ThS Trương Tinh Hà, nguyên giám đốc điều hành mạng giaovien.net

(http:/www.giaovien.net/) đã chỉ ra năm nhược điểm ở Website giáo dục Việt Nam,

đó là: chưa nhận định rõ trình độ và chưa xác định đúng đối tượng; chưa chuẩn bị tốt các tài liệu phục vụ công tác giảng dạy; Website mắc nhiều lỗi thiết kế; thiếu tính tương tác; thiếu tính cập nhật [13]

Đánh giá một cách toàn diện, chúng tôi nhận thấy một số nhược điểm của Website DH qua mạng là:

- Về QTDH:

QTDH đòi hỏi phải được thực hiện theo một trình tự là: kiểm tra kiến thức đầu vào → học kiến thức mới → ôn tập củng cố → kiểm tra đánh giá Việc DH qua mạng hiện nay mới chỉ thực sự tập trung và tiến hành hiệu quả ở một số khâu riêng biệt của QTDH (thường gặp là học kiến thức mới và kiểm tra đánh giá)

- Về PPDH:

Vận dụng PPDH chưa được linh hoạt, ít sử dụng các PPDH tích cực Phần lớn Website đưa lên những đoạn video quay lại bài giảng trên lớp, HS mở ra và xem giống như ngồi học trên lớp Với phương pháp như vậy, HS vẫn phải học một cách thụ động và dễ gây ra sự nhàm chán, thiếu tập trung Chưa nhiều website tạo được

sự tương tác giữa HS với máy tính, HS với HS và HS với GV

- Về phương tiện DH kỹ thuật số:

Chất lượng phương tiện DH kỹ thuật số chưa cao, số lượng chưa đủ đáp ứng

Trang 23

nhu cầu sử dụng, tính cập nhật và phù hợp với nội dung học tập còn thấp Đây là một trở ngại không nhỏ khi tiến hành DH qua mạng

Một số Website thiên về biểu diễn, cung cấp tất cả những kiến thức cần thiết cho HS dẫn đến tình trạng ỷ lại, kiến thức trùng lặp nhiều với SGK, chưa tận dụng hết nguồn học liệu ngoài mạng, chưa rèn luyện được cho HS tư duy làm việc độc lập với máy tính và Internet

- Về cấu trúc các khóa học:

Cấu trúc các khóa học đôi khi còn chưa hợp lý để phù hợp với đặc thù môn học, từng bài học, khả năng và điều kiện học tập của các nhóm đối tượng khác nhau

c Nguyên nhân hạn chế

- Về điều kiện cơ sở vật chất và hệ thống các PM

Cơ sở vật chất còn thiếu, hệ thống PM hỗ trợ được Việt hóa còn ít Do vậy, gây khó khăn cho việc tiếp cận và sử dụng của người dạy và người học

- Về nguồn nhân lực tham gia lĩnh vực đào tạo trực tuyến

Thiếu đội ngũ chuyên gia trong lĩnh vực xây dựng các hệ thống đào tạo trực tuyến Mặc dù chủ trương xã hội hóa giáo dục đã đạt được nhiều kết quả tốt trong thời gian gần đây, tuy nhiên, DH qua mạng vẫn rất cần sự quan tâm tham gia xây dựng từ các cá nhân, tập thể hay công ty lớn đặc biệt là đội ngũ chuyên gia có kinh nghiệm trong lĩnh vực này

Bên cạnh đó hầu hết GV chưa đáp ứng về trình độ CNTT hay còn tâm lý

“ngại khó” trong lĩnh vực đào tạo trực tuyến hay kết hợp trực tuyến và trực tiếp

- Quan điểm hiện tại về dạy và học qua mạng chưa khuyến khích được sự phát triển của những hình thức đào tạo trực tuyến xuất phát từ những lo ngại điều kiện triển khai và chất lượng đào tạo

Trang 24

Nguyễn Văn Lợi định nghĩa dưới dạng mô hình lớp học: “Lớp học nghịch đảo - mô hình DH kết hợp trực tiếp và trực tuyến”[10] Định nghĩa mới phản ánh ở phương diện hình thức tổ chức DH của một mô hình được tổ chức trên cơ sở lý thuyết của học tập đảo ngược, chưa phản ánh được bản chất của học tập đảo ngược

Phân tích quan điểm Flipped learning Network, chúng tôi đồng ý và sử dụng định nghĩa: Học tập đảo ngược là một tiếp cận về phương pháp sư phạm, trong đó việc hướng dẫn trực tiếp chuyển từ không gian học tập theo nhóm sang không gian học tập cá nhân và do đó không gian học tập theo nhóm trở thành môi trường học tập động và tương tác mới mà nhà giáo dục hướng dẫn người học khi họ áp dụng khái niệm và tham gia một cách sáng tạo vào các vấn đề [21]

Định nghĩa trên phản ánh học tập đảo ngược ở phương diện bản chất Theo

đó, học tập đảo ngược đề xuất một mô hình học tập có những khác biệt trong các khâu trong quá trình DH so với lớp học truyền thống: việc nghe giảng, học nội dung kiến thức cơ bản được thực hiện trước khi tới lớp (hướng dẫn trực tiếp theo không gian học tập nhóm trong lớp học truyền thống sang không gian học tập cá nhân); việc luyện tập, thảo luận, vận dụng và mở rộng kiến thức được thực hiện trên lớp (không gian học tập theo nhóm trên lớp trở thành môi trường học tập và tương tác mới)

Flipped learning Network cũng đã đặt ra yêu cầu không đồng nhất khái niệm học tập đảo ngược với lớp học đảo ngược Học tập đảo ngược là lý thuyết để xây dựng lớp học đảo ngược Một nhà giáo dục có thể “lật lớp học” của mình nhưng không phải cứ “lật lớp học” là tạo ra lớp học đảo ngược nếu không trên quan điểm

“DH lấy người học làm trung tâm” và đáp ứng các yếu tố của học tập đảo ngược

Trong phạm vi luận văn chúng tôi định hướng xây dựng mô hình học tập đảo ngược với công cụ là website học trực tuyến Như vậy, mô hình học tập đảo ngược

là mô hình học tập kết hợp học trực tuyến trên website và học trực tiếp, được xây dựng trên cơ sở lý thuyết học tập đảo ngược với quan điểm “DH lấy người học làm trung tâm” và đáp ứng các yếu tố của học tập đảo ngược

1.2.1.2 Các yếu tố của học tập đảo ngược

Các yếu tố của học tập đảo ngược có thể khái quát gồm môi trường linh hoạt, văn hóa dạy và học, nội dung có chủ ý, nhà giáo dục chuyên nghiệp [23]

Trang 25

- Môi trường học tập linh hoạt:

Học tập đảo ngược cho phép các nhà giáo dục thực hiện các chế độ học tập khác nhau Họ tạo ra không gian học tập linh hoạt cho phép người học chủ động lựa chọn thời gian và địa điểm học, lựa chọn hình thức học phù hợp với trình độ của mình Trong không gian học tập linh hoạt đó, người học có thể tương tác với máy tính, tương tác với nhau, với GV khi cần thiết và GV có thể tạo mối liên kết tốt với người học, theo dõi tiến độ và kết quả học tập của HS để có các điều chỉnh phù hợp

- Văn hóa dạy và học:

Học tập đảo ngược tiếp cận theo quan điểm DH lấy người học làm trung tâm Quá trình học tập trước khi đến lớp tạo cơ hội phát triển khả năng tự học, tính tích cực chủ động học tập của người học Thời gian học tập trên lớp dành để luyện tập, thảo luận và tạo cơ hội học tập phong phú cho người học Như vậy nhận thức được điều này HS sẽ có thái độ và kỷ luật học tập tốt hơn Với vai trò là người hướng dẫn, GV có thể nhận biết rõ các vấn đề mà HS đang gặp phải, có nhiều thời gian giúp đỡ HS thảo luận, luyện tập và có thể điều chỉnh để nâng cao chất lượng bài giảng thông qua các đóng góp của HS

- Nội dung có chủ ý:

Giáo viên xác định nội dung DH, hoạt động học tập và PPDH để đạt hiệu quả tối ưu trong quá trình DH lấy người học làm trung tâm và chiến lược học tập tích cực

HS cũng có thể xác định được các nội dung dễ hoặc khó với bản thân để điều chỉnh thời gian học hợp lý cho từng nội dung, có cách học phù hợp với trình độ của bản thân và sẽ có định hướng về các vấn đề chưa thức sự nắm vững, cần thảo luận, giải đáp khi tới lớp

- Nhà giáo dục chuyên nghiệp:

Trong học tập đảo ngược, nhà giáo dục không thể hiện vai trò nổi bật như trong lớp học truyền thống nhưng là thành phần không thể thiếu trong sự thành công của mô hình Nhà giáo dục trong mô hình học tập đảo ngược yêu cầu phải có năng lực chuyên môn, năng lực sư phạm, năng lực CNTT Do đó thể hiện sự chuyên nghiệp trong thiết kế bài giảng cho HS trong quá trình học trước khi tới lớp, tổ chức các hoạt động học tập trên lớp một cách hiệu quả, thu nhận và phản hồi thông tin

Trang 26

đối với các đối tượng người học khác nhau trong toàn bộ quá trình học tập của họ

1.2.2 Bản chất của Học tập đảo ngược

Bảng 1 1 So sánh lớp học truyền thống và lớp học theo mô hình học tập đảo ngược

học tập đảo ngược

Trình tự các khâu trong

QTDH

Kiểm tra kiến thức đầu vào  học kiến thức mới 

ôn tập, củng cố  kiểm tra, đánh giá Không gian học kiến thức

cơ bản của bài mới

Không gian học tập tập thể, cố định trên lớp

Không gian học tập cá nhân, linh hoạt theo điều kiện và nhu cầu của HS Thời gian và thời lượng

học kiến thức cơ bản của

bài mới

- Thời gian: giờ học trên lớp

- Thời lượng: 80%-90%

thời gian giờ học

- Thời gian: linh hoạt theo điều kiện và nhu cầu người học

- Thời lượng: linh hoạt theo trình độ cá nhân Không gian luyện tập, vận

dụng, mở rộng kiến thức

Không gian học tập cá nhân sau giờ học trên lớp,

ít cơ hội được trao đổi và

hỗ trợ từ bạn học, GV

Không gian học tập tập thể, theo nhóm trên lớp, nhiều cơ hội được trao đổi và hỗ trợ từ bạn học,

GV Mức độ tư duy chủ yếu

trong các giai đoạn học

tập (theo thang tư duy của

Bloom - sửa đổi 2011)

- Trên lớp: nhận biết, thông hiểu

- Về nhà: vận dụng

- Trước khi tới lớp: nhận biết, thông hiểu

Trang 27

Hình 1 5.So sánh các mức độ tư duy trong lớp học truyền thống và lớp học tổ

chức theo mô hình học tập đảo ngược

Qua Bảng so sánh mô hình lớp học truyền thống và mô hình Học tập đảo ngược, hình so sánh các mức độ tư duy trong mô hình lớp học truyền thống và mô hình học tập đảo ngược có thể khẳng định: mô hình học tập đảo ngược không phủ định mô hình lớp học truyền thống mà có điểm tiến bộ hơn lớp học truyền thống Lớp học đảo ngược được xây dựng trên cơ sở lý thuyết học tập đảo ngược, bản chất cũng là điểm tiến bộ hơn lớp học truyền thống là mô hình tạo điều kiện thực hiện tốt hơn quan điểm “DH lấy người học làm trung tâm” với việc tạo môi trường học tập linh hoạt đồng thời đảm bảo tính tích cực, phát triển các năng lực cho người học (năng lực tự học, năng lực hợp tác, năng lực CNTT&TT…), với văn hóa DH tôn trọng người học, với việc tăng cơ hội cho HS được tương tác với GV và bạn học qua đó được trao đổi, hỗ trợ kịp thời trong quá trình học tập

1.2.3 Các giai đoạn tổ chức học tập theo mô hình học tập đảo ngược

Khi áp dụng lý thuyết học tập đảo ngược, GV có thể linh hoạt trong tổ chức

DH tuy nhiên trên cơ sở khái niệm Học tập đảo ngược thì mô hình học tập đảo ngược gồm 2 giai đoạn bắt buộc là tổ chức lớp học đệm và tổ chức giờ học trên lớp

1.2.3.1 Tổ chức lớp học đệm - học trực tuyến

Tổ chức lớp học đệm là giai đoạn tổ chức cho HS tự học trên website để tự lĩnh hội các nội dung kiến thức cơ bản của bài học trước khi tới lớp Các yếu tố chính của lớp học đệm là:

Trang 28

- Cung cấp kiến thức cơ bản cho HS trước khi đến lớp: HS được tiếp xúc đầu tiên và học nội dung kiến thức cơ bản qua các bài giảng của GV theo hình thức học trực tuyến

- Tạo động lực học tập, hứng thú học tập cho HS

- Giúp HS định hướng rõ các nội dung kiến thức khó cần được GV, bạn học

hỗ trợ giải đáp trong giai đoạn học trên lớp

- Cung cấp cơ chế đánh giá kết quả học tập bước đầu của HS

1.2.3.2 Tổ chức giờ học trên lớp

Giờ học trên lớp tập trung đến các hoạt động luyện tập, vận dụng để làm sâu sắc thêm kiến thức, mở rộng kiến thức và nâng cao kỹ năng của HS trong việc sử dụng kiến thức đã nắm vững

1.2.4 Những ưu điểm, khó khăn và những lưu ý khi sử dụng Mô hình học tập đảo ngược trong DH

1.2.4.1 Ưu điểm

- Môi trường học tập linh hoạt:

Người học có thể chủ động lựa chọn thời gian và địa điểm học tập kiến thức

cơ bản: với các thiết bị có thể kết nối internet như smart phone, máy tính, ipad… người học có thể học bất cứ lúc nào và ở bất cứ nơi đâu Ngoài ra, người học khi vắng mặt trên lớp cũng không lo bị mất bài

- Tạo điều kiện hướng vào DH cá thể đồng thời tăng cơ hội để HS được hỗ trợ từ GV và các HS khác:

Với không gian học tập cá nhân trước khi đến lớp, các đối tượng HS (giỏi, khá, trung bình, yếu) có thể tự điều chỉnh thời gian, tốc độ học tập phù hợp với khả năng của bản thân Trong thời gian học tập trên lớp, với việc tổ chức các hoạt động học tập phong phú, GV có cơ hội quan tâm, hướng dẫn cả đối tượng HS khá giỏi và

HS yếu Với các hoạt động trên diễn đàn trực tiếp (phòng chát) hay diễn đàn tin tức của lớp học đệm và hoạt động thảo luận trên lớp tạo điều kiện cho HS nhận được sự

hỗ trợ, hướng dẫn của GV và bạn học khi cần thiết

- Rèn luyện và phát triển các năng lực ở HS:

Gồm các năng lực chung như năng lực tự học, năng lực hợp tác, năng lực

Trang 29

giải quyết vấn đề và sáng tạo, năng lực giao tiếp, năng lực CNTT & TT cũng như các năng lực chuyên biệt của môn học

- Phát huy tính tích cực, chủ động và sáng tạo học tập của HS:

Trong phần lớn các khảo sát, khi được học tập theo mô hình học tập đảo ngược, đặc biệt với các môn học theo đúng nhu cầu, HS rất hứng thú và có tinh thần

tự chủ, trách nhiệm trong học tập

- Tăng tính chuyên nghiệp của GV trong quá trình DH:

Để tổ chức DH theo mô hình học tập đảo ngược, GV phải thực hiện hàng loạt các công việc một cách chuyên nghiệp: thiết kế bài giảng đa phương tiện đảm bảo chất lượng và tạo hứng thú học tập cho HS, xây dựng website học trực tuyến hoặc sử dụng các công cụ để tải bài giảng lên mạng, theo dõi và đánh giá kết quả học tập của HS trước khi đến lớp, tổ chức hiệu quả các hoạt động học tập trên lớp, tiếp tục hướng dẫn và quan tâm các đối tượng HS khác nhau, rút kinh nghiệm và có các điều chỉnh phù hợp

- Quản lý hiệu quả quá trình học của HS:

GV có thể thường xuyên theo dõi, hướng dẫn HS trong quá trình học và có những đánh giá để có các điều chỉnh phù hợp

- Các bài giảng của GV sử dụng trong mô hình học tập đảo ngược có thể chỉnh sửa linh hoạt để sử dụng lâu dài và các tài nguyên học tập trên website học trực tuyến có thể được sử dụng nhiều mục đích khác nhau

1.2.4.2 Khó khăn

- GV cần đầu tư nhiều thời gian và công sức khi tổ chức DH theo mô hình

học tập đảo ngược Đây là một khó khăn khi hiện nay ngoài công tác chuyên môn,

GV còn phải tham gia nhiều hoạt động và công tác khác trong nhà trường Để tổ chức DH theo mô hình học tập đảo ngược GV cần đầu tư thời gian nhiều hơn so với

mô hình lớp học truyền thống: thời gian soạn các bài giảng đa phương tiện, thời gian chuẩn bị các hoạt động học tập trên lớp, thời gian theo dõi hoạt động học tập của HS, tương tác với HS và đánh giá HS trước khi tới lớp Như vậy, ngoài năng lực chuyên môn và nghiệp vụ sư phạm, GV còn phải tự học để thành thạo kỹ năng CNTT&TT

- Khó áp dụng rộng rãi do yêu cầu về yếu tố công nghệ

Trang 30

- Khó áp dụng khi HS trong tình trạng quá tải Mô hình học tập đảo ngược áp

dụng tốt đối với các môn học chuyên ở trường THPT Chuyên hoặc các môn học tự chọn trong chương trình giáo dục phổ thông mới

1.2.4.3 Những lưu ý khi sử dụng mô hình học tập đảo ngược

- Phải có sự chọn lọc khi sử dụng mô hình học tập đảo ngược

Mô hình học tập đảo ngược không phải là mô hình DH tuyệt đối có thể phù hợp cho mọi nội dung và đối tượng DH Nghiên cứu đã chỉ ra rằng mô hình này phù hợp với việc giảng dạy các khái niệm cơ bản, các mô hình, cấu trúc, cơ chế hoạt động, kiến thức thuộc loại quy trình Đồng thời áp dụng chỉ cần thiết và đạt hiệu quả với đối tượng HS cuối bậc trung học cơ sở, HS THPT, sinh viên đại học và học viên sau đại học

- Phải đảm bảo đúng bản chất và đầy đủ các yếu tố của học tập đảo ngược Trong quá trình tổ chức học tập theo mô hình học tập đảo ngược, phải đặc biệt lưu ý bản chất và các yếu tố của học tập đảo ngược Nếu không, GV sẽ phạm phải sai lầm là chỉ lật lớp học của mình hay chỉ lạm dụng CNTT chứ không tạo ra lớp học đúng theo mô hình học tập đảo ngược

- Phải có kế hoạch đồng bộ cho việc áp dụng mô hình

GV phải có kế hoạch đồng bộ cho việc áp dụng mô hình trong DH GV phải thực hiện các bước chuẩn bị, hướng dẫn HS tiếp cận với mô hình vì phần lớn HS còn chưa quen với mô hình này nên sẽ gặp nhiều khó khăn, thậm chí lơ là trong việc tham gia lớp học đệm trước khi tới lớp

1.2.5 Vai trò của Website học trực tuyến nâng cao hiệu quả của mô hình học tập đảo ngược

- Cho phép tổ chức lớp học đệm với đầy đủ các khâu của quá QTDH:

+ Kiểm diện HS: với tính năng của website học trực tuyến, GV có thể theo dõi việc tham gia lớp học của từng HS

+ Kiểm tra bài cũ: bằng tính năng tạo các đề kiểm tra trực tuyến

+ Học bài mới: website học trực tuyến cho phép tải bài giảng dưới nhiều dạng khác nhau ở mức đơn giản là các video bài giảng hay đặc biệt hiệu quả là các bài giảng đa phương tiện cho phép HS tương tác trực tiếp với máy tính và với bài

Trang 31

học Thông qua việc hoàn thành các nhiệm vụ đặt ra trong quá trình học, HS sẽ chủ động lĩnh hội kiến thức và tạo thêm hứng thú, động lực học tập cho HS

+ Kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của HS: Kiểm tra và đánh giá là một khâu không thể thiếu được của QTDH Đó là yêu cầu khách quan đối với việc phát triển lý luận DH Website học trực tuyến tạo điều kiện thuận lợi cho việc kiểm tra kết quả học tập của HS với tính năng tạo các đề kiểm tra trực tuyến sau mỗi bài học gồm câu hỏi tự luận, câu hỏi trắc nghiệm khách quan với nhiều loại khác nhau và cho phép tạo câu hỏi sử dụng hình ảnh, video, flash…minh họa đồng thời xuất kết quả ngay sau khi HS hoàn thành bài kiểm tra Qua đó, HS tự đánh giá kết quả học tập để tự điều chỉnh hoạt động học tập trước khi tới lớp GV kiểm tra được kết quả học tập của mỗi HS để đánh giá và có định hướng hoạt động phù hợp trong giờ học trên lớp

- Cho phép tạo nguồn tài nguyên học tập phong phú và tiện ích:

Website học trực tuyến cho phép tạo tài nguyên dưới nhiều thể loại khác nhau: văn bản, hình ảnh, video, flash để phục vụ cho quá trình học của HS cũng như

để tham khảo trong quá trình DH của GV

Website cũng cho phép thiết lập ngân hàng câu hỏi để chiết xuất thành các đề thi sử dụng trong quá trình kiểm tra, đánh giá kết quả học tập hay quá trình ôn tập, củng cố kiến thức của HS

- Cho phép tạo công cụ quản lí quá trình học tập của HS có hiệu quả:

GV có thể quản lý lớp học đệm hiệu quả thông qua kiểm soát sự truy cập của

HS, quản lí kết quả học tập của HS sau mỗi bài học và đánh giá sự tiến bộ trong quá trình học tập của HS

- Cho phép tạo môi trường học tập có tính tương tác cao:

Ngoài tính năng cho phép tải các bài giảng đa phương tiện cho phép tương tác giữa HS với máy tính và với bài học, website học trực tuyến có tính năng tạo

“phòng chat” cho phép tương tác giữa GV với HS, HS với HS Qua đó HS có thể trao đổi, tranh luận với nhau về các vấn đề học tập hoặc nhận được sự hướng dẫn từ

GV, bạn học Đó là môi trường học tập mà HS có thể tăng cường tính tích cực, chủ động, nâng cao trách nhiệm học tập của bản thân đồng thời luôn nhận được sự hỗ trợ từ GV và bạn học khi cần thiết

Trang 32

1.3 CƠ SỞ THỰC TIỄN

1.3.1 Tình hình xây dựng và sử dụng website học trực tuyến môn Sinh học ở Việt Nam

DH Sinh học qua mạng ở Việt Nam đã được triển khai với một số địa chỉ:

http://www.sinhhocvietnam.com/, http://nhasinhhoctre.com, http://violet.vn/,

http://thuviensinhhoc.com, https://thpt.iss.edu.vn/, https://zuni.vn/https://hocmai.vn/, Đây là những trang thông tin tổng hợp, diễn đàn trao đổi kiến thức, bài tập sinh học được thể hiện dưới dạng trình chiếu các đoạn video quay bài giảng, các bài giảng đa phương tiện, các kỳ thi trực tuyến, giải đáp đề thi, giải đáp thắc mắc của

HS và cả GV, cung cấp kiến thức tham khảo hay cung cấp tư liệu được lập ra phục vụ nhu cầu của người học

Một đặc điểm chung dễ nhận thấy của các website DH trực tuyến môn Sinh học qua mạng là tính tương tác còn rất hạn chế Đa số các bài giảng được thể hiện dưới dạng các video trong đó GV đọc lại nội dung phần trình chiếu hoặc dưới dạng video quay lại bài giảng trực tiếp của GV Đây là phương pháp chủ yếu của các khóa luyện thi đại học và cả một số website DH trực tuyến chương trình THPT Theo chúng tôi, ưu điểm của các bài giảng này chỉ dừng lại ở việc truyền tải nội dung nhanh chóng và đến số lượng lớn người học nhờ ứng dụng CNTT và khái quát kiến thức cơ bản đáp ứng nhu cầu của số ít người học Nhưng nhược điểm lớn của các bài giảng này là HS tiếp thu một cách thụ động, không phát huy được các năng lực học tập và thường nhanh chán, dẫn đến mất tập trung

Hình 1 6 Dạy trực tuyến môn Sinh học ở Việt Nam trên youtube

Trang 33

Hình 1 7 Dạy học trực tuyến môn Sinh học trên website https://thpt.iss.edu.vn/

Về nội dung kiến thức, thường là sự tái hiện một cách khái quát các nội dung kiến thức cơ bản trong SGK

Hình 1 8 Nội dung bài giảng môn Sinh học trên website https://thpt.iss.edu.vn/

Về cấu trúc một bài giảng hoặc một chuyên đề thường chỉ gồm 2 phần chính

là tóm tắt các kiến thức cơ bản và luyện tập, củng cố

Hình 1 9 Cấu trúc bài giảng môn Sinh học trên website https://casada.vn/

Trang 34

Hình 1 10 Cấu trúc một chuyên đề trong khóa học Luyện thi đảm bảo

Chúng ta thấy một khóa học như trên được chia thành các chuyên đề, trong

đó gồm các bài học, mỗi bài học gồm có Bài giảng, tài liệu bài giảng, bài tập tự luyện và đáp án bài tập tự luyện Cấu trúc như vậy không chỉ sẽ rất hạn chế sự tương tác, giao tiếp giữa GV với HS và với máy tính, mà còn không phù hợp với một khóa học ôn thi đại học đòi hỏi phải hệ thống hóa kiến thức

Về Tài liệu bài giảng chỉ là các file pdf chứa nội dung DH tái hiện lại kiến

thức cơ bản trong SGK ở dạng kênh chữ mà hoàn toàn không có kênh hình, không

có phiếu học tập hay hoạt động học tập Do đó sẽ không hấp dẫn và không kích thích được các em tư duy [7]

Hình 1 11 Tư liệu một bài giảng môn Sinh học trên website

https://thpt.iss.edu.vn/

Về Bài tập tự luyện là các câu trắc nghiệm được đóng gói thành file pdf và

ngay phía sau là file Đáp án hoặc các câu hỏi được GV nêu ra và ngay sau đó cung

Trang 35

cấp đáp án Đây có thể nói là một nhược điểm rất lớn của các khóa học trên website này Kết quả là HS không có động lực để làm bài, động lực để tư duy, làm xong HS phải tự đếm và tính điểm Với nhiều website, phần củng cố luyện tập chỉ dừng lại ở các câu hỏi và bài tập trong SGK, ở mức độ tư duy nhận biết hay thông hiểu

Hình 1 12 Bài tập củng cố trong một bài học trên website https://casada.vn/

Trên các website cũng thường có các Đề kiểm tra, giúp HS tự kiểm tra được kiến thức của mình đồng thời được tập rượt trước khi bước vào đợt kiểm tra Tuy nhiên vẫn có một số được đóng gói thành file pdf Một số website đã sử dụng tính năng tổ chức các kỳ thi trực tuyến nhưng cũng chưa khai thác được tính năng phản hồi [7]

Đặc biệt một số website còn thiếu chuyên nghiệp khi còn mắc các lỗi về nội dung hay hình thức thể hiện

Hình 1 13 Lỗi trên website https://casada.vn/

Trang 36

Đồng thời đa số website vẫn chưa khai thác được một số chức năng hữu ích

như tạo Diễn đàn, Phòng chat để HS có điều kiện trao đổi với nhau và với GV,

được hỗ trợ kịp thời khi gặp khó khăn trong học tập

Sinh học là môn khoa học thực nghiệm với nhiều kiến thức khó có thể biểu diễn trong môi trường lớp học DH qua mạng với sự hỗ trợ của công nghệ hứa hẹn

sẽ khắc phục được điều này Tuy vậy, vấn đề này đa số các website DH Sinh học chưa thực hiện được

GV và HS hiện nay còn thiếu kỹ năng dạy và học qua mạng, không chỉ về mặt sử dụng và khai thác công nghệ mà cả về PPDH, đây là một trở ngại không nhỏ cho việc DH Sinh học nói riêng và DH nói chung, cả ở trong nhà trường và trong đào tạo qua mạng Một Website được xây dựng hết sức công phu, nội dung hữu ích nhưng không được khai thác hết để đem lại hiệu quả sẽ gây lãng phí Do vậy kiến thức được đưa lên phải khắc phục được tính khô cứng, tránh những kiến thức gây nhàm chán đối với HS, tăng lượng kiến thức mang tính ứng dụng cao, kiến thức liên quan theo chủ đề được quan tâm, kiến thức bổ sung cho SGK và kiến thức trên lớp,

có thể dựa theo nhu cầu của người học nhưng vẫn phải đảm bảo nội dung chương trình Đặc biệt cần đảm bảo tính tương tác để phát triển các năng lực học tập và tạo động lực, hứng thú học tập cho HS [7]

Như vậy, có thể thấy DH Sinh học trực tuyến còn nhiều hạn chế như chưa đưa ra được cấu trúc bài học hợp lí, còn mắc lỗi về nội dung cũng như lỗi thiết kế, chưa linh hoạt để phù hợp với nhiều đối tượng HS, thiếu tính cập nhật Đặc biệt là chưa khai thác được thế mạnh của CNTT&TT để tích hợp truyền thông đa phương tiện và tính tương tác trong bài học, tương tác GV với HS và HS với HS còn nhiều hạn chế

Do đó định hướng xây dựng website học trực tuyến hiện nay ngoài đảm bảo các yêu cầu về nội dung, cấu trúc cần tăng cường tính tương tác Mỗi nội dung hay vấn đề học tập trong bài học, cần thiết kế các “tổ hợp nghe nhìn” bao gồm các hình ảnh trực quan tĩnh và động kết hợp với câu hỏi tìm tòi dưới các dạng khác nhau để

HS tự khám phá, tự chiếm lĩnh kiến thức; tạo các diễn đàn tin tức, diễn đàn trực tiếp; tạo các đề kiểm tra trực tuyến tăng cường tính tương tác, giao tiếp giữa HS với máy tính, GV với HS và HS với HS

Trang 37

1.3.2 Tình hình khai thác và sử dụng Internet, website học trực tuyến trong DH Sinh học ở trường THPT

Chúng tôi đã tiến hành điều tra tình hình khai thác và sử dụng Internet, website học trực tuyến trong dạy và học Sinh học ở trường THPT trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn

- Điều tra mức độ sử dụng và khai thác mạng Internet trong học tập

- Điều tra việc sử dụng website học trực tuyến trong học tập

- Những khó khăn khi sử dụng mạng Internet và tham gia các website học

1.3.2.2 Phương pháp điều tra

Chúng chúng tôi đã thiết kế phiếu hỏi theo các nội dung điều tra với GV và

HS (Phụ lục 1, 2)

Tiến hành điều tra trên 26 GV giảng dạy môn Sinh học và 143 HS của một

số trường THPT trên địa bàn thành phố Lạng Sơn, huyện Cao Lộc, huyện Bình Gia (tỉnh Lạng Sơn)

1.3.2.3 Kết quả điều tra

a Đối với HS

- Về mức độ khai thác và sử dụng mạng Internet trong học tập của HS

Bảng 1 2 Tần suất sử dụng mạng Internet của HS THPT trên địa bàn tỉnh Lạng

Sơn

Trang 38

Tần suất Tỉ lệ

Trong mọi thời gian rảnh rỗi 16,08%

Do tiến hành khảo sát ở HS thuộc đối tượng khối lớp khác nhau trong bậc THPT nên có các khối lớp đã được học mạng Internet và cách khai thác mạng Internet trong trường học Số còn lại có ý thức tự học, tự tìm hiểu qua tài liệu hướng dẫn hoặc quan bạn bè

Về thiết bị có thể truy cập mạng Internet, có 98,6% HS có thiết bị có thể truy cập tốt, có 1,4% không có thiết bị, số HS này chủ yếu là ở trường THPT thuộc địa bàn huyện Có 79,72% HS khảo sát có từ 2 thiết bị trở lên, chủ yếu là máy vi tính và điện thoại

Khi được hỏi về hai hoạt động được HS dành nhiều thời gian nhất khi truy cập mạng Internet thì phần lớn HS chọn 2 hoạt động trong đó có 1 hoạt động truy cập Internet phục vụ cho học tập, còn một số ít HS lựa chọn 2 hoạt động là giải trí

và truy cập các trang mạng xã hội

Tần suất truy cập mạng Internet để tìm kiếm thông tin cho bài học là:

Bảng 1 3 Tần suất truy cập mạng Internet để tìm kiếm thông tin cho bài học

Tần suất truy cập mạng Internet để tìm

- Về việc sử dụng các website học trực tuyến

Hầu hết HS kể tên được các website thường sử dụng để hỗ trợ học tập, các webste được nhắc đến nhiều như: Moon.vn, Zuni.vn, violet.com…

Có 60,64% HS đã xem các bài giảng trực tuyến hay tham gia các khóa học trực tuyến ở các môn Toán, Vật lý, Hóa học, Sinh học, Ngoại ngữ, Văn Trong số những HS này, 85,06% muốn tiếp tục tham gia các lớp học hay khóa học trực

Trang 39

tuyến với lý do chủ yếu là nội dung và nguồn tƣ liệu tham khảo, tài nguyên đáp ứng đƣợc yêu cầu; 14,94% không muốn tiếp tục tham gia với các lý do chủ yếu là Nội dung không có ích và không phong phú (Giống SGK, PPDH không hấp dẫn, chi phí cao, chƣa thành thạo kỹ năng sử dụng CNTT)

- Về những khó khăn gặp phải khi sử dụng Internet trong học tập và tham gia các khóa học trực tuyến thể hiện ở bảng 1.4

Bảng 1 4 Những khó khăn gặp phải khi tìm kiếm thông tin trên mạng và tham gia

các khóa học trực tuyến của HS

Ít thông tin hay khóa học phù hợp 26,57%

Kỹ năng CNTT chƣa thành thạo 6,29%

Trong lựa chọn lý do khác, các lý do đƣợc HS nêu ra có thể kể đến là: nhiều nguồn thông tin khác nhau, nhiều nguồn thông tin không đáng tin cậy, khó khăn khi muốn hỏi bài, không phù hợp cách học

b Đối với GV

- Về mức độ khai thác và sử dụng mạng Internet trong DH

Bảng 1 5 Tần suất truy cập mạng Internet để phục vụ công tác giảng dạy môn Sinh

Bảng 1 6

Trang 40

Bảng 1 6 Những khó khăn gặp phải khi sử dụng Internet của GV

Trình độ CNTT thấp nên chưa khai thác có hiệu quả 15,38%

Tư liệu, thông tin có giá trị sử dụng thấp, thường phải gia công lại 38,46% Chi phí cao ( phí truy cập mạng, phí xem và tải tài liệu…) 23,08% Thông tin, tư liệu có bản quyền, không thể xem hoặc tải 23,08%

- Về mức độ khai thác và sử dụng các website học trực tuyến trong DH Sinh học, nhận định về các hạn chế của website học trực tuyến

Tần suất truy cập các website của GV được thể hiện trong bảng 1.7

Bảng 1 7 Tần suất truy cập các website của GV

Có 76,92% GV đã tham gia DH trực tuyến hoặc tải các bài giảng của mình trên các website DH Sinh học

c Nhận xét, đánh giá kết quả điều tra

Qua kết quả điều tra có thể nhận thấy hiện nay, cả GV và HS đã sử dụng thường xuyên Internet trong quá trình dạy và học Hầu hết GV và HS đã tiếp cận và

có thái độ tích cực với các website DH qua mạng Một yếu tố thuận lợi khác là phần lớn HS đã có đủ các điều kiện vật chất để tham gia học qua mạng Đó là những điều kiện thuận lợi để triển khai tổ chức học tập theo mô hình học tập đảo ngược Tuy nhiên website học trực tuyến hiện nay còn nhiều hạn chế đặc biệt là thiếu tính tương tác Do đó cần có những định hướng để xây dựng website học trực tuyến có thể được sử dụng hiệu quả trong quá trình dạy và học nói chung và sử dụng để tổ chức

Ngày đăng: 17/03/2021, 07:55

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w