1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Xây dựng và sử dụng bài tập vật lý có nội dung thực tiễn trong dạy học chương “mắt và các dụng cụ quang học” vật lý 11 nhằm bồi dưỡng tư duy sáng tạo cho học sinh

129 50 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 129
Dung lượng 1,83 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đề tài của tác giả Nguyễn Trươ ̀ ng Giang có mục đích là rèn luyện tư duy cho học sinh, nhưng nội dung của các bài tập không liên quan nhiều tới thực tiễn nên việc tạo hứng thú cho học

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC

-o0o -

CHU ĐÌNH TUYẾN

XÂY DỰNG VÀ SỬ DỤNG BÀI TẬP CÓ NỘI DUNG THỰC TIỄN TRONG DẠY HỌC CHƯƠNG

“MẮT VÀ CÁC DỤNG CỤ QUANG HỌC” VẬT LÍ 11 NÂNG CAO NHẰM BỒI DƯỠNG TƯ DUY SÁNG TẠO CHO HỌC SINH

LUẬN VĂN THẠC SĨ SƯ PHẠM VẬT LÍ

HÀ NỘI – 2013

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC

CHU ĐÌNH TUYẾN

XÂY DỰNG VÀ SỬ DỤNG BÀI TẬP CÓ NỘI DUNG THỰC TIỄN TRONG DẠY HỌC CHƯƠNG

“MẮT VÀ CÁC DỤNG CỤ QUANG HỌC” VẬT LÍ 11 NÂNG CAO NHẰM BỒI DƯỠNG TƯ DUY SÁNG TẠO CHO HỌC SINH

CHUYÊN NGÀNH: LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC

(BÔ ̣ MÔN VẬT LÍ)

MÃ SỐ: 60 14 10

LUẬN VĂN THẠC SĨ SƯ PHẠM VẬT LÍ

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Đinh Văn Dũng

HÀ NỘI – 2013

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Trước tiên tôi xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu trường ĐHGD, các thây giáo, cô giáo, các cán bộ quan lý nhà trường đã giảng dạy và tạo điều kiện thuận lợi cho chúng tôi trong thời gian theo học cao học tại trường

Tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến PGS.TS Đinh Văn Dũng, người đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo tôi trong quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu, các thầy cô giáo trong tổ vật lý, các em học sinh lớp 11A1, 11A3 trường THPT Nguyễn Siêu-Hà Nội đã giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này

Trong quá trình nghiên cứu, tác giả đã cố gắng rất nhiều song bản luận văn không tránh khỏi những thiếu sót Tác giả xin chân thành lắng nghe những ý kiến đóng góp của các nhà khoa học, các thầy cô giáo, các đồng nghiệp và những người quan tâm để luận văn được hoàn thiện hơn

Hà nội, ngày….tháng….năm 2013

Tác giả

Chu Đình Tuyến

Trang 4

CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN

1 BTST

2 BTVL

3 GV

4 HS

5 LV

6 NDTT

7 NLTDST

8 SBT

9 SGK

10 TDST

11 THPT

12 TNSP

13 STK

Bài tập sáng tạo

Bài tập vật lý

Giáo viên Học sinh Luận văn Nội dung thực tiễn Năng lực tƣ duy sáng tạo Sách bài tập

Sách giáo khoa

Tƣ duy sáng tạo Trung học phổ thông Thực nghiệm sƣ phạm Sách tham khảo

Trang 6

Hình 2.10 Mắt ngắm chừng ở vô cực qua kính thiên văn……….29

Trang 7

Hình 2.16 Sử dụng kính hiển vi………37

Hình 2.31 Sự tạo ảnh qua kính hiển vi - nước……… 73

Trang 8

Hình 3.1.Phân bố tần suất lũy tích……….98

Trang 9

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu 2

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 3

3.1 Mục đích nghiên cứu 3

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu 3

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3

4.1 Đối tượng nghiên cứu 3

4.2 Phạm vi nghiên cứu 4

5 Phương pháp nghiên cứu 4

5.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận 4

5.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn 4

5.3 Nhóm phương pháp thống kê 4

6 Giả thuyết khoa học 4

7 Cấu trúc của luận văn 5

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC BỒI DƯỠNG TƯ DUY SÁNG TẠO CHO HỌC SINH T RONG DA ̣Y HỌC BÀI TẬP VẬT LÝ CÓ NỘI DUNG THỰC TIỄN 6

1.1 Năng lực tư duy sáng ta ̣o và việc bồi dưỡng năng lực tư duy sáng tạo cho học sinh 6

1.1.1 Năng lực tư duy sáng tạo 6

1.1.2 Một số biê ̣n pháp bồi dưỡng năng lực tư duy sáng ta ̣o cho học sinh 11

1.2 Bài tập vật lý có nô ̣i dung thực tiễn 14

Trang 10

1.2.1 Khái niệm bài tập vật lý có nội dung thực tiễn 14

1.2.2 Vai trò của bài tâ ̣p vâ ̣t lý có nô ̣i dung thực tiễn 15

1.2.3 Phân loại bài tâ ̣p vâ ̣t lý có nô ̣i dung thực tiễn 16

1.2.4 Phương pháp giải bài tâ ̣p vâ ̣t lý có nô ̣i dung thực tiễn 19

1.3 Thực trạng sử du ̣ng bài tâ ̣p vâ ̣t lý có nô ̣i dung thực tiễn hiê ̣n nay 21

1.3.1 Mục đích điều tra 21

1.3.2 Đối tượng và phạm vi điều tra 21

1.3.3 Phương pháp điều tra 21

1.3.4 Kết quả điều tra 21

1.3.5 Nguyên nhân thực tra ̣ng 23

1.3.6 Đề xuất giải pháp 24

Kết luận chương 1 26

CHƯƠNG 2: XÂY DỰNG VÀ HƯỚNG DẪN SỬ DỤNG HỆ THỐNG BÀI TẬP CÓ NỘI DUNG THỰC TIỄN TRONG DẠY HỌC CHƯƠNG “ MẮT VÀ CÁC DỤNG CỤ QUANG HỌC ” VẬT LÝ LỚP 11 27

2.1 Nội dung kiến thứ c và yêu cầu cần đạt khi dạy học chương “Mắt và các dụng cụ quang ho ̣c” vâ ̣t lý lớp 11 27

2.1.1 Sơ đồ cấu trú c lôgic kiến thức chương “Mắt và Các du ̣ng cu ̣ quang ho ̣c” vâ ̣t lý lớp 11 27

2.1.2 Nội dung kiến thức cơ bản của chương “Mắt và Các du ̣ng cu ̣ quang ho ̣c” vâ ̣t lý lớp 11 27

2.2 Mục tiêu dạy học của chương “Mắt và Các du ̣ng cu ̣ quang ho ̣c” vâ ̣t lý lớp 11.32 2.3 Xây dựng hê ̣ thống bài tâ ̣p có nô ̣i dung thực tiễn chương “Mắt và Các du ̣ng cu ̣ quang ho ̣c” vâ ̣t lý lớp 11 34

2.3.1 Nguyên tắc khi xây dựng 34

2.3.2 Quy trình xây dựng 35

2.3.3 Hình thức thể hiện 36

2.3.4 Đề xuất hệ thống bài tâ ̣p 38

2.4 Hướng dẫn sử dụng bài tâ ̣p có nô ̣i dung thực tiễn chư ơng “Mắt và Các quang học” vật lý lớp 11 85

Trang 11

2.4.1 Sử du ̣ng trong tiết hình thành kiến thức mới 86

2.4.2 Sử du ̣ng trong tiết ôn tập, luyện tập giải bài tâ ̣p, tiết học tự chọn 87

2.4.3 Sử du ̣ng trong tiết kiểm tra 88

2.4.4 Sử du ̣ng trong tiết ngoa ̣i khóa 88

2.4.5 Sử dụng hệ thống bài tập đã xây dựng vào tiết dạy học bài tập vật lý 89

Kết luận chương 2 99

CHƯƠNG 3: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 100

3.1 Mục đích thực nghiệm 100

3.2 Đối tượng thực nghiệm 100

3.3 Nội dung thực nghiê ̣m 100

3.4 Tiến hành thực nghiê ̣m 101

3.5 Kết quả thực nghiê ̣m 101

3.5.1 Lựa cho ̣n tiêu chí đánh giá 101

3.5.2 Đánh giá kết quả 101

Kết luận chương 3 107

Kết luận i

TÀI LIỆU THAM KHẢO ii

PHỤ LỤC iv

Trang 12

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Trong những năm gần đây nền khoa khoa học công nghệ, nền kinh tế tri thức phát triển như vũ bão trên thế giới và xu hướng toàn cầu hóa mở ra nhiều triển vọng phát triển nhưng cũng đặt ra nhiều thách thức cho mọi quốc gia Hòa nhập theo xu thế đó thì bất cứ một đất nước nào nếu không bắt kịp nhịp

độ phát triển của thế giới sẽ bị tụt hậu Thách thức này đang là mô ̣t gánh nă ̣ng

đă ̣t nên đôi vai của ngành giáo du ̣c Đó là phải đào ta ̣o ra những con người khi vào đời phải có năng lực tư duy sáng ta ̣o, có năng lực độc lập giải quyết vấn đề,

có thái độ tích cực, có năng lực tự học để nâng cao trình độ nhận thức đáp ứng được yêu cầu ngày càng cao của xã hội Trong dạy học nói chung và dạy học vật lý nói riêng, giải BTVL giu ́ p HS hiểu sâu hơn các hiê ̣n tươ ̣ng vâ ̣t lý trong tự nhiên, đồng thơ ̀ i cũng hình thành và rèn luyê ̣n các kỹ năng tư duy như: so sánh, phân ti ́ch, tổng hơ ̣p, khả năng phán đoán nhờ đó mà bồi dưỡng năng lực

tư duy, năng lực giải quyết vấn đề cho HS Tuy nhiên hê ̣ thống bài tâ ̣p trong SGK, STK thươ ̀ ng có cấu trúc sẵn nên yêu cầu về tính sáng ta ̣o cũng như bồi dưỡng năng lực tư duy không cao Mă ̣t khác có rất ít các bài tâ ̣p có nô ̣i

dung liên quan tới thực ti ễn, nên tác du ̣ng của các bài tâ ̣p trong viê ̣c phát triển tư duy sáng ta ̣o cho HS và gắn lí thuyết với thực ti ễn là không cao Hơn thế nữa viê ̣c da ̣y ho ̣c hi ện nay bi ̣ ảnh hưởng bởi chuyê ̣n thi cử , nên cách dạy còn thiên v ề việc luyê ̣n trí nhớ để giải các d ạng bài tâ ̣p Điều đó chẳng giúp gì cho viê ̣c phát triển năng lực giải quyết vấn đề mà cò n làm cho HS sinh xa rời thực ti ễn, chán nản và mệt mỏi

Vâ ̣t lý là môn khoa ho ̣c thực nghiê ̣m, chứa đựng nhiều yếu tố lí thú, mô ̣t môn khoa ho ̣c phát triển TDST và hình thành thế giới quan cho ho ̣c sinh Nhưng thực tra ̣ng da ̣y học vật lý ở phổ thông những năm gần đây cho thấy ho ̣c sinh bi ̣ gò bó do nô ̣i dung của các BTVL còn khô khan, chưa liên hê ̣ nhiều với thực tiễn, nă ̣ng về lí thuyết, nhẹ về thực hành và do đó không tạo ra được hứng thú cho học sinh khi ho ̣c tâ ̣p Những ứng du ̣ng của vâ ̣t lý trong đời sống và sản xuất ho ̣c sinh không biết hoă ̣c biết mô ̣t cách không tường tâ ̣n, không bản chất

Trang 13

Để tăng cươ ̀ ng da ̣y ho ̣c liên hê ̣ với thực tiễn thì mô ̣t phần quan tro ̣ng là phải xây dựng đươ ̣c hê ̣ thống bài tâ ̣p có nô ̣i dung liên quan đến thực tiễn

Những vấn đề liên quan đến thực tiễn gần gũi với HS sẽ ta ̣o hứng thú cho HS khi giải Mặt khác nếu hê ̣ thống BTVL đươ ̣c xây dựng với các mức đô ̣ khác nhau, có tính sáng tạo sẽ giúp HS phát triển được năng lực tư duy, góp phần tạo tiền đề giúp HS bước vào cuộc sống được vững vàng hơn

Chương Mắt và Các du ̣ng cu ̣ quang ho ̣c là mô ̣t phần quan tro ̣ng trong

chương trình vâ ̣t lý 11 THPT, có nhiều ứng dụng thực tế rất hay và hữu ích Tuy nhiên lươ ̣ng bài tâ ̣p phần này tương đối nhiều và khó , học sinh rất e ngại khi phải làm, vì rất khó nhớ , không hứng thú khi giải Điều đó khiến ta phải xây dựng la ̣i hê ̣ thống bài tâ ̣p này với các mức đô ̣ khác nhau và gắn liền với thực ti ễn, góp phần phát triển tư duy và năng lực giải quyết vấn đề cho HS

Xuất phát từ những cơ sở lí luâ ̣n và thực tiễn yêu cầu cuô ̣c sống trên tôi lựa chọn đề tài : “Xây dựng và sử dụng bài tập có nội dung thực tiễn trong dạy học chương “Mắt và các dụng cụ quang học” vật lí 11 nâng cao nhằm bồi dưỡng tư duy sáng tạo cho học sinh” làm đề tài nghiên cứu của mình

2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu

Về vấn đề xây dựng và sử dụng hệ thống bài tập thì đã có một số đề tài đã làm như: “Xây dựng và sử du ̣ng bài tâ ̣p sáng ta ̣o nhằm phát triển tư duy cho học sinh khi da ̣y ho ̣c chương Động lực học chất điểm vật lý lớp 10”, luâ ̣n văn tha ̣c sỹ của tác giả Trần Văn Tài – 2009, “Xây dựng và sử du ̣ng bài tâ ̣p trong da ̣y ho ̣c chương Dao đô ̣ng và Sóng điê ̣n từ”, luâ ̣n văn tha ̣c sỹ của tác giả Đặng Hữu Cảnh - 2012 Trong các nghiên cứu này, các tác giả đã xây dựng được hệ thống bài tập theo mục đích đề tài đặt ra Tuy nhiên số lượng các bài tập chưa liên hệ nhiều với thực tiễn, điều đo ́ chưa tạo ra được hứng thú cho học sinh khi giải bài tập

Nghiên cứu về bài tâ ̣p chương “Mắt và các du ̣ng cu ̣ quang ho ̣c” có mô ̣t số đề tài như: “Rèn kỹ năng giải bài tâ ̣p chương Mắt và các du ̣ng cu ̣ quang vâ ̣t

lý lớp 11 thông qua các câu hỏi đi ̣nh hướng tư duy”, luâ ̣n văn tha ̣c sỹ của tác giả Nguyễn Trường Giang – 2012, “Soa ̣n thảo câu hỏi và sử du ̣ng bài tâ ̣p thí nghiê ̣m chương Mắt và các du ̣ng cu ̣ quang vâ ̣t lý lớp 11”, luâ ̣n văn tha ̣c sỹ của

Trang 14

tác giả Nguyễn Thị Anh Đào – 2011 Đề tài của tác giả Nguyễn Thi ̣ Anh Đào, sử dụng bài tập thí nghiệm, nội dung của loại bài tập này có liên quan tới thực tiễn nhưng đó chỉ là một loại của bài tập có nội dung thực tiễn Đề tài của tác giả Nguyễn Trươ ̀ ng Giang có mục đích là rèn luyện tư duy cho học sinh, nhưng nội dung của các bài tập không liên quan nhiều tới thực tiễn nên việc tạo hứng thú cho học sinh khi giải là chưa cao Mặt khác các bài tập này không được xây dựng nên tác dụng của việc bồi dưỡng tư duy cũng không cao

Các đề ta ̀i trên tuy có liên quan đến đề tài của chúng tôi, nhưng chưa có

mô ̣t đề tài nào làm về vần đề : “Xây dựng và sử dụng bài tập có nội dung thực tiễn trong dạy học chương “Mắt và các dụng cụ quang học” vật lí 11 nâng cao nhằm bồi dưỡng TDST cho học sinh”

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Xây dựng và sử dụng bài tập có nội dung thực tiễn trong dạy học

chương “Mắt và Các du ̣ng cu ̣ quang học” vật lý lớp 11 nhằm ta ̣o hứng thú ho ̣c

tâ ̣p vâ ̣t lý và bồi dưỡng năng lực tư duy sáng ta ̣o cho học sinh

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Tìm hiểu thực trạng của việc sử dụng bài tập vật lý c ó nội dung thực

tiễn chương “Mắt và Các du ̣ng cu ̣ quang ho ̣c” hiê ̣n nay tại trường THPT

Nguyễn Siêu, Hà Nội

- Nghiên cư ́ u cấu trúc, chương trình, chuẩn kiến thức kỹ năng chương

“Mắt và Các du ̣ng cu ̣ quang ho ̣c” vâ ̣t lý lớp 11

- Nghiên cư ́ u cơ sở lí luâ ̣n của BTVL

- Xây dư ̣ng và sử du ̣ng bài tâ ̣p vâ ̣t lý có nô ̣i dung thực tiễn chương “Mắt và Các dụng cụ quang học”

- Nghiên cư ́ u cơ sở lí luâ ̣n của tư duy sáng ta ̣o cho ho ̣c sinh

- Thư ̣c nhiê ̣m sư pha ̣m

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Trang 15

Hê ̣ thống bài tâ ̣p có nô ̣i dung thực tiễn chương “Mắt và Các du ̣ng cu ̣

quang ho ̣c” vâ ̣t lý lớp 11, hoạt động của HS trong quá trình giải BTVL, và hoạt

đô ̣ng của GV trong viê ̣c xây dựng và sử du ̣ng hê ̣ thống BTVL đó

4.2 Phạm vi nghiên cứu

- Nghiên cư ́ u đươ ̣c tiến hành đối với HS lớp 11, trươ ̀ ng THPT Nguyễn Siêu- Hà Nội

- Chương “Mắt va ̀ Các du ̣ng cu ̣ quang ho ̣c” vâ ̣t lý lớp 11

5 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn sử dụng một số phương pháp nghiên cứu sau:

5.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận

- Nghiên cư ́ u cơ sở của da ̣y ho ̣c bồi dưỡng năng lực tư duy sáng ta ̣o cho ho ̣c sinh

- Nghiên cư ́ u cơ sở lí luâ ̣n của BTVL

- Nghiên cư ́ u chương trình, SGK, SBT, STK để phân tích nô ̣i dung kiến

thức phần chương “Mắt và Các du ̣ng cu ̣ quang ho ̣c” vâ ̣t lý lớp 11

5.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn

- Điều tra thư ̣c tra ̣ng da ̣y ho ̣c BTVL có nô ̣i dung thực tiễn ở trường THPT

- Thư ̣c nghiê ̣m sư pha ̣m đ ể nghiên cứu hiệu quả thực tế của việc xây

dựng và sử du ̣ng hê ̣ thống bài tâ ̣p có nô ̣i dung thực ti ễn chương “ Mắt và

Các quang học ” vật lý l ớp 11

5.3 Nhóm phương pháp thống kê

Định lượng, định tính, thống kê và phân tích thống kê Phương pháp này để xử lý kết quả thực nghiệm sư phạm, rút ra kết luận

6 Giả thuyết khoa học

- Trong qua ́ trình da ̣y ho ̣c vâ ̣t lý chương “Mắt và Các du ̣ng cu ̣ quang ho ̣c” vâ ̣t

lý lớp 11, nếu xây dựng đươ ̣c hê ̣ thống các bài tâ ̣p vâ ̣t lý có nô ̣i dung thực tiễn đáp ứng được các yêu cầu của của viê ̣c bồi dưỡng TDST và sử du ̣ng chúng vào tiết dạy học bài tập một cách phù hợp sẽ tạo hứng và góp phần bồi dưỡng NLTDST cho ho ̣c sinh

Trang 16

7 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn được trình bày theo 3 chương:

Chương 1: Cơ sơ ̉ lí luâ ̣n và thực tiễn của việc bồi dưỡng tư duy sáng ta ̣o cho học sinh trong da ̣y học bài tâ ̣p vâ ̣t lý có nô ̣i dung thực tiễn

Chương 2: Xây dư ̣ng và hướng dẫn sử dụng hệ thống bài tâ ̣p có nô ̣i dung thực tiễn trong dạy học chương “Mắt và Các du ̣ng cu ̣ quang ho ̣c” vâ ̣t lý lớp 11 Chương 3: Thư ̣c nghiê ̣m sư pha ̣m

Trang 17

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC BỒI

DƯỠNG

TƯ DUY SÁNG TẠO CHO HỌC SINH TRONG DA ̣Y HỌC BÀI TẬP

VẬT LÝ CÓ NỘI DUNG THỰC TIỄN

1.1 Năng lư ̣c tư duy sáng ta ̣o và việc bồi dưỡng năng lực tư duy sáng tạo cho học sinh

1.1.1 Năng lực tư duy sáng tạo

* Năng lực

Trong từ điển tiếng việt: “Năng lực là phẩm chất tâm lí và sinh lí tạo cho con người khả năng hoàn thành một loại hoạt động nào đó với chất lượng cao” [18, tr.656]

Trong khoa học tâm lí người ta coi năng lực là những thuộc tính tâm lí của cá nhân, nhờ vào những thuộc tính này mà con người có thể hoàn thành tốt đẹp một hoạt động nào đó một cách nhanh chóng mà tốn ít công sức nhất

Năng lực liên quan đến hiệu quả của một hoạt động, mà hiệu quả của hoạt động thì lại liên quan đến tri thức, kỹ năng, kỹ xảo Do đó năng lực gắn liền với tri thức, kĩ năng, kĩ xảo trong lĩnh vực hoạt động tương ứng Song kỹ năng, kỹ xảo liên quan đến một loạt các hoạt động trong một phạm vi hẹp, chuyên biệt đến mức thành thạo, còn năng lực chứa đựng yếu tố mới mẻ, linh hoạt trong một phạm vi rộng hơn, có thể giải quyết nhiệm vụ thành công trong nhiều tình huống Ví dụ: Một người có kỹ năng, kỹ xảo trong việc thực hiện đo đạc các đại lượng vật lý thì có thể chỉ tiến hành đo đạc diễn ra nhanh chóng và chính xác Nhưng người có năng lực thì ngoài việc đo đạc, còn đề xuất được các giả thuyết, các phương án kiểm tra thí nghiệm, đánh giá kết quả thí nghiệm, rút ra được kết luận khái quát

Như vậy ta có thể hiểu năng lực là khả năng hoàn thành có kết quả tốt

mô ̣t công viê ̣c nào đó một cách nhanh chóng, giải quyết các nhiệm vụ, vấn đề trong những tình huống khác nhau thuộc các lĩnh vực nghề nghiệp, xã hội hay cá nhân trên cơ sở hiểu biết, kỹ năng, kỹ xảo và kinh nghiệm cũng như sự sẵn sàng hành động Về thư ̣c chất nó là sự kết hơ ̣p giữa yêu cầu công viê ̣c và những

Trang 18

phẩm chất tâm lí cá nhân Năng lực gắn liền với kỹ năng, kỹ xảo trong lĩnh vực tương ứng

* Tư duy

Tư duy là một quá trình nhận thức khái quát và gián tiếp những sự vật

và hiện tượng của hiện thực trong những dấu hiệu, những thuộc tính bản chất của chúng, những mối quan hệ khách quan, phổ biến giữa chúng Đồng thời cũng là sự vận dụng sáng tạo những kết luận khái quát đã thu được vào những dấu hiệu cụ thể, dự đoán được những thuộc tính, hiện tượng, quan hệ mới [8, tr.35]

Tư duy như một quá trình, quá trình này bao gồm các giai đoạn kế tiếp nhau: Xác định vấn đề biểu đạt nó thành nhiệm vụ tư duy; huy động các tri thức làm xuất hiện liên tưởng; sàng lọc giả thuyết hình thành cách giải quyết; giải quyết vấn đề đi đến kết quả và kiểm tra kết quả Tư duy bao giờ cũng là sự giải quyết vấn đề thông qua những tri thức đã có được từ trước

Hoạt động của tư duy đồng nghĩa với hoạt động trí tuệ, thông qua các thao tác của tư duy đo ́ là các quá trình: phân tích, so sánh, tổng hơ ̣p, khái quát hóa, trừu tươ ̣ng hóa Phân tích là hoạt động tách đối tượng nghiên cứu thành những phần tử nhỏ hơn nhằm tìm hiểu bản chất của nó Tổng hợp là quá trình kết hợp bằng tưởng tượng hay sự thật các yếu tố riêng lẻ thành một tổng thể thống nhất So sánh là quá trình phát hiện sự giống nhau và khác nhau giữa các đối tượng, sự biến đổi của chúng theo không gian và thời gian Vì vậy khi dạy học phải hướng dẫn học sinh thói quen thực hiện các thao tác tư duy để đi đến kết quả cụ thể tối ưu nhất

Ví dụ 1: Xác định chuyển động của một vật ném ngang

 Phân tích: Cần xét chuyển động của vật theo hai phương:

-Theo phương ngang vật không chịu tác dụng của lực nào nên theo định luật một Niutơn vật sẽ chuyển động thẳng đều

- Theo phương thẳng đứng vật chịu tác dụng của trọng lực nên vật rơi tự do

 Tổng hợp: Chuyển động của vật ném ngang là tổng hợp của chuyển

động thẳng đều theo phương ngang và chuyển động rơi tự do theo phương thẳng đứng Dựa vào các phương trình vận tốc, quãng đường của hai chuyển

Trang 19

động này mà ta tìm được phương trình quỹ đạo, vận tốc của chuyển động ném

ngang

Ví dụ 2: So sánh giữa dòng điện một chiều và dòng điện không đổi

 Giống nhau: Dòng điện một chiều và dòng điện không đổi đều có một chiều

xác định trong mạch điện

 Khác nhau:

- Đối với dòng điện một chiều thì có thể cường độ dòng điện thay đổi được

- Đối với dòng điện không đổi thì có thể cường độ dòng điện là không đổi

 Ý nghĩa của việc so sánh: Xác định cường độ dòng điện của hai dòng điện

này

Như vậy tư duy là quá trình nhận thức của con người, xuất phát từ hoàn cảnh có vấn đề Trong đó người ta phải sử dụng ngôn ngữ và các thao tác tư duy để tìm ra những mối liên hệ bản chất nhất, các quy luật vận động nội tại tiềm ẩn trong khách thể nhận thức, dự đoán được những thuộc tính và mối liên

hệ mới

Tư duy vật lý là sự quan sát các hiện tượng vật lý, phân tích một hiện tượng phức tạp thành những bộ phận đơn giản Xác lập giữa chúng những mối quan hệ và tìm ra mối liên hệ giữa mặt định tính và mặt định lượng của các hiện tượng và các đại lượng vật lý Dự đoán các hệ quả mới từ các lí thuyết và

áp dụng những kiến thức khái quát thu được vào thực tiễn

Tư duy khi giải BTVL là sự xác định các mối liên hệ cơ bản dựa trên sự vận dụng các kiến thức vật lý vào điều kiện cụ thể của bài tập Sau đó là luận giải, tính toán từ các mối liên hệ đã được xác lập để đi đến kết quả cuối cùng

* Sáng tạo

Sáng tạo tức là tạo ra cái mới, giải pháp mới Sự sáng ta ̣o thường xuất hiê ̣n trước tiên ở da ̣ng ý tưởng trong óc người, sau đó năng lực sáng ta ̣o cho phép thực hiện ý tưởng, biến ý tưởng thành hành đô ̣ng thông qua mô ̣t chuỗi các hoạt đô ̣ng, từ các thao tác tư duy đến hành đô ̣ng chân tay Sáng tạo là tiềm năng vốn có của con người khi gă ̣p di ̣p thì bô ̣c lô ̣, cần ta ̣o cho ho ̣c sinh những

cơ hô ̣i đó Sự sáng ta ̣o là hình thức cao nhất của tính tích cực, đô ̣c lâ ̣p của con người

Trang 20

Sáng tạo trong việc học ta có thể hiểu một cách đơn giản như sau: Việc học không còn là học vận dụng nữa, không phải học cách giải quyết những vấn

đề cụ thể nữa mà việc học ở đây là sự đi tìm cái mới, hướng giải quyết mới, nó vượt ra khỏi cái khuôn khổ của những suy nghĩ cũ, giải quyết được vấn đề trong hoàn cảnh mới Tuy nhiên để có học sáng tạo thì học sinh phải trải qua giai đoạn học vận dụng đã, hai giai đoạn học vận dụng và học sáng tạo hỗ trợ bổ sung cho nhau

Để có dạy học sáng tạo là phải tạo ra được cho học sinh cách học sáng tạo và giáo viên có cách dạy sáng tạo.Trong quá trình học tập vật lý của học sinh, sáng tạo chủ yếu là sáng tạo tự nhiên ở mức độ là tạo ra cái mới cho bản thân mình Sáng tạo để nắm vững các kiến thức vật lý như các khái niệm, định luật, vận dụng kiến thức vật lý để giải bài tập, lập các mô hình vật lý, các thiết

bị ứng dụng nguyên lý vật lý Để có sáng tạo trước hết phải có sự lao động bền

bỉ với cảm hứng nhất định Không có lao động nhận thức để tích luỹ dữ kiện thì không có sáng tạo Vì thế muốn sáng tạo học sinh phải được trang bị kiến thức khoa học đầy đủ và chính xác và phải biết làm việc độc lập, tự mình suy nghĩ giải quyết các vấn đề một cách thường xuyên và có định hướng

* Năng lư ̣c tư duy sáng tạo cho học sinh

Theo các nhà tâm lý học: Năng lực sáng tạo biểu hiện rõ nét ở khả năng

tư duy sáng tạo, là đỉnh cao của hoạt động trí tuệ của con người Tư duy sáng tạo là hạt nhân của sự sáng tạo cá nhân đồng thời đó cũng là mục tiêu cơ bản của giáo dục

Năng lực sáng ta ̣o là khả năng ta ̣o ra các giá tri ̣ mới về vâ ̣t chất và tinh thần, tìm ra được cái mới, giải pháp mới, công cu ̣ mới, vâ ̣n du ̣ng thành công những hiểu biết đã có vào hoàn cảnh mới

Năng lư ̣c sáng ta ̣o của HS trong ho ̣c tâ ̣p chính là kh ả năng biết giải quyết các vấn đề ho ̣c tâ ̣p theo một cách mới ở mô ̣t mức đô ̣ nhâ ̣n thức nh ất định, thể hiê ̣n đươ ̣c khuynh hướng , năng lực , kinh nghiê ̣m của HS Đó là năng lực tìm ra cái mới , cách giải quyết mới, năng lực phát hiê ̣n ra điều chưa biết và không bi ̣ phu ̣ thuô ̣c vào cái gì đó

Trang 21

Năng lực tư duy sáng ta ̣o của HS trong học tập là khả năng tư duy sáng tạo, khả năng giải quyết vấn đề trong quá trình ho ̣c tâ ̣p ở một mức độ nào nhất định, vâ ̣n du ̣ng thành công những hiểu biết, những kinh nghiệm đã có vào hoàn cảnh mới, tạo ra được cái mới trong giải bài tập hay sự suy luận về kiến thức một cách hệ thống

Đối với học sinh NLTDST trong vật lý thể hiện ở sự quan sát hiện tượng, phân tích hiê ̣n tượng phức ta ̣p thành những bô ̣ phâ ̣n đơn giản Xác lập các mối liên hê ̣, tìm ra các mối liên hệ giữa mặt định tính và định lượng của các hiện tươ ̣ng và các đa ̣i lươ ̣ng vâ ̣t lý, dự đoán các kết quả và áp du ̣ng kiến thức vào thực nghiê ̣m

Năng lực sáng tạo không phải chỉ là bẩm sinh mà nó được hình

thành và phát triển trong quá trình hoạt động của chủ thể Vì vậy muốn phát huy năng lực sáng tạo của học sinh trong học tập, giáo viên phải hình thành cho học sinh thói quen nhìn vấn đề theo nhiều góc độ khác nhau, biết đặt ra nhiều giả thuyết khi lý giải một tình huống

* Chu trình sáng tạo

Quá trình nhận thức sáng tạo vật lý theo Razumôpxki có chu trình như sau:

Tiền đề của quá trình nhận thức là các sự kiện thu được trong quá trình quan sát tìm hiểu thế giới Từ đó nhà nghiên cứu đưa ra một hoặc một số mô hình chung về bản chất của sự kiện Từ những giả thuyết (mô hình) này nhà nghiên cứu đưa ra tiên đoán về một số sự kiện khác nữa có thể xảy ra mà tại thời điểm đó nhà nghiên cứu chưa biết (hệ quả) Tính đúng đắn của hệ quả rút

ra cần được kiểm tra bằng thực nghiệm Nêu kết quả kiểm tra đúng thì giả thuyết được công nhận đúng và trở thành tri thức khoa học Nếu hệ quả sai thì

Trang 22

chứng tỏ giả thuyết sai và phải thay đổi giả thuyết và quá trình lại lặp lại như trên

Biểu hiện của NLTDST được thể hiện thông qua các khả năng sau:

- Khả năng tư ̣ chuyển tải tri thức và kỹ năng từ lĩnh vực đã biết sang tình huống mới, vâ ̣n du ̣ng kiến thức đã ho ̣c vào điều kiê ̣n và hoàn cảnh mới

-Khả năng nhâ ̣n thấy vấn đề mới trong điều kiê ̣n đã biết, nhìn thấy chức năng mới trong mối quan hê ̣ quen thuô ̣c

- Khả năng biết đề xuất ca ́ c giải pháp khác nhau khi xử lý mô ̣t tình huống

- Khả năng huy đô ̣ng các kiến thức cần thiết để đưa ra các giả thuyết Khả năng nhâ ̣n biết, đề xuất các phương án thí nghiệm để kiểm tra giả thuyết hay các hệ quả suy ra từ giả thuyết

- Khả năng nhi ̀n nhâ ̣n mô ̣t vấn đề dưới nhiều góc đô ̣ khác nhau, xem xét đối tươ ̣ng ở những khía ca ̣nh khác nhau Khả năng liên kết nhiều phương pháp giải bài tập để tìm ra phương pháp giải mới lạ

1.1.2 Mô ̣t số biê ̣n pháp bồi dưỡng năng lực tư duy sáng tạo cho học sinh

Theo tác giải Hồ Sỹ Linh [9] để hình thành và phát triển năng lực tư duy sáng tạo cho học sinh cần thực hiện các biện pháp sau:

- Tổ chức hoạt động sáng tạo gắn liền với quá trình xây dựng kiến thức mới

Tổ chức quá trình nhận thức vật lý theo chu trình sáng tạo sẽ giúp cho học sinh trên con đường hoạt động sáng tạo dễ nhận biết được chỗ nào có thể suy nghĩ dựa trên những hiểu biết đã có, chỗ nào phải đưa ra kiến thức mới, giải pháp mới Việc tập trung sức lực vào chỗ mới đó sẽ giúp cho hoạt động sáng tạo có hiệu quả, rèn luyện cho tư duy trực giác nhạy bén, linh hoạt Trong nhiều trường hợp, giáo viên có thể giới thiệu cho học sinh kinh nghiệm sáng tạo của các nhà bác học

Theo quan điểm hoạt động, kiến thức vật lý được xây dựng đi từ dễ đến khó, phù hợp với trình độ học sinh, tạo điều kiện cho học sinh có cơ hội đề xuất

ra được những ý kiến mới mẻ có ý nghĩa, làm cho học sinh cảm nhận được hoạt động sáng tạo là hoạt động thường xuyên có thể thực hiện được với sự cố gắng nhất định Sự tự tin trong hoạt động sáng tạo là một yếu tố tâm lí rất quan trọng làm cho chủ thể nhận thức thoát khỏi những sự ràng buộc, hạn chế

Trang 23

của những hiểu biết cũ hay bởi ý kiến của người khác Như vậy, kiểu dạy học thông báo minh họa về nguyên tắc không thể rèn luyện cho học sinh năng lực sáng tạo

- Luyện tập phỏng đoán, dự đoán, xây dựng giả thuyết

Dự đoán có vai trò rất quan trọng trên con đường sáng tạo khoa học Dự đoán dựa chủ yếu vào trực giác, kết hợp với kinh nghiệm phong phú và kiến thức sâu sắc về mỗi lĩnh vực Các nhà khoa học nói rằng việc xây dựng giả thuyết dựa trên sự khái quát hoá những sự kiện thực nghiệm, những kinh nghiệm cảm tính Tuy nhiên, sự khái quát hoá đó không phải là một phép qui nạp đơn giản, hình thức mà chứa đựng một yếu tố mới, không có sẵn trong các

sự kiện dùng làm cơ sở Dự đoán khoa học không phải là tuỳ tiện mà luôn luôn phải có một cơ sở nào đó, tuy chưa thật là chắc chắn Có thể có các cách dự đoán sau đây trong giai đoạn đầu của hoạt động nhận thức vật lí của học sinh như: dựa vào sự liên tưởng tới kinh nghiệm đã có; dựa trên sự tương tự; dựa trên sự xuất hiện thời giữa hai hiện tượng mà dự đoán giữa chúng có quan hệ nhân quả; dựa trên sự thuận nghịch thường thấy của nhiều quá trình; dựa trên sự mở rộng phạm vi ứng dụng của một kiến thức đã biết sang một lĩnh vực khác; dự đoán về mối quan hệ định lượng

- Luyện tập đề xuất phương án kiểm tra dự đoán

Trong nghiên cứu vật lí, một dự đoán, một giả thuyết thường là một sự khái quát các sự kiện thực nghiệm nên nó có tính chất trừu tượng, tính chất chung, không thể kiểm tra trực tiếp được Muốn kiểm tra xem dự đoán, giả thuyết có phù hợp với thực tế không, ta phải xem điều dự đoán đó biểu hiện trong thực tế như thế nào, có những dấu hiệu nào có thể quan sát được Điều

đó có nghĩa là từ một dự đoán, giả thuyết, ta phải suy ra được một hệ quả có thể quan sát được trong thực tế, sau đó tiến hành thí nghiệm để xem hệ quả rút

ra bằng su y luận đó có phù hợp với kết quả thí nghiệm không Hệ quả suy ra được phải khác với những sự kiện ban đầu dùng làm cơ sở cho dự đoán thì mới có ý nghĩa Số hệ quả phù hợp với thực tế càng nhiều thì dự đoán càng trở thành chắc chắn, sát với chân lí hơn Quá trình rút ra hệ quả thường áp dụng suy luận lôgic hay suy luận toán học Sự suy luận này phải đảm bảo là

Trang 24

đúng qui tắc, qui luật, không phạm sai lầm Những qui tắc, qui luật đó đều đã biết; cho nên, về nguyên tắc, sự suy luận đó không đòi hỏi một sự sáng tạo thực

sự, có thể kiểm soát được Vấn đề đòi hỏi sự sáng tạo ở đây là đề xuất được phương án kiểm tra hệ quả đãrút ra được

- Giải bài tập sáng tạo

Trong dạy học vật lý người ta còn xây dựng loại bài tập riêng vì mục đích rèn luyện năng lực sáng tạo cho học sinh gọi là BTST Khi giải ngoài việc phải vận dụng những kiến thức, học sinh còn phải có ý kiến độc lập mới mẻ, không thể suy ra một cách lôgic từ kiến thức đã học

Theo tác giả Nguyễn Văn Hạnh [6] để hình thành và phát triển năng lực

tư duy sáng tạo cho học sinh cần thực hiện các biện pháp sau:

- Tích cực sử dụng phương pháp dạy học nêu và giải quyết vấn đề ở các mức độ khác nhau lôi cuốn học sinh tham gia vào giải quyết các vấn đề học tập

Tư duy phát triển trong hoàn cảnh có vấn đề, vì vậy dạy học nêu và giải quyết vấn đề là phương pháp dạy học phát triển tư duy sáng tạo cho học sinh Vật lý là môn học thực nghiệm, do đó việc tạo ra các tình huống có vấn đề để tạo nhu cầu giải quyết ở học sinh và phù hợp với quy luật của nhận thức là “từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng” Từ đó tùy theo đối tượng mà GV chọn mức độ dạy học nêu và giải quyết vấn đề phù hợp để phát triển tư duy sáng tạo cho HS

- Tăng cường sự dụng các phương tiện dạy học môn lý

Các phương tiện dạy học bao gồm các thiết bị dạy học, phòng học bộ môn, phòng thí nghiệm Thí nghiệm ảo, bài giảng điện tử là những phương tiện dạy học hiện đại hỗ trợ rất hiểu quả trong quá trình dạy học Giúp học sinh dễ hiểu bài hơn, từ đó mà nhận thức bên ngoài tốt hơn, rèn luyện óc tư duy sáng tạo Ngoài ra nó còn giúp giáo viên chủ động hơn trong khi giảng dạy

- Rèn óc tưởng tượng, tư duy không gian, tư duy lôgic cho học sinh

Óc tưởng tượng, tư duy không gian, tư duy lôgic là ba năng lực rất cần thiết cho người lao động sáng tạo Với chương trình SGK Vật lý THPT, việc xây dựng kiến thức chủ yếu gắn với thí nghiệm Dạy học thí nghiệm giúp bồi

dưỡng óc tưởng tượng, tư duy không gian, tư duy lôgic học sinh Ngoài ra việc

Trang 25

sử dụng các hình vẽ trong dạy học phải đảm bảo tính trực quan sinh động cũng góp phần bồi dưỡng tư duy sáng tạo cho học sinh

- Cho học sinh luyện tập thao tác tư duy với bài tập sáng tạo về vật lý

Bài tập sáng tạo có vai trò quan trọng trong việc rèn luyện, bồi dưỡng tư duy sáng tạo cho học sinh Việc cho HS thao tác tư duy với những bài tập sáng tạo sẽ kích thích tính sáng tạo, không chịu bó tay trước khó khăn, luôn luôn tìm cách tối ưu nhất để giải quyết các bài tập Thông qua đó góp phần bồi dưỡng tư duy cho học sinh, tạo ra được những con người có năng lực sáng tạo trong tương lai, góp phần vào công cuộc xây dựng đất nước

- Nêu gương sáng các nhà khoa học

Kể các câu chuyện về sự sáng tạo không giới hạn của các nhà bác học vật lý, các nhà phát minh, các nhà sáng chế nổi tiếng sẽ có tác dụng kích thích niếm say mê khám phá ở học sinh Từ đó kích thích, gơi dậy lòng đam mê nghiên cứu, học tập vật lý, góp phần thúc đẩy sự sáng tạo ở học sinh

- Tổ chức ngoại khóa vật lý cho học sinh tham gia

Tổ chức cho học sinh tham quan các công trình thủy điện, các trạm biến thế, các trạm quan trắc, các nhà máy sản xuất nhằm gắn lí thuyết với thực tiễn, kích thích tính tò mò, khơi dậy nhu cầu tìm hiểu thực tiễn, giải thích tự nhiên bằng kiến thực đã học được

Tổ chức cho học sinh tham gia các cuộc thi sáng tạo như thiết kế các mô hình máy móc, các biện pháp xử lý môi trường, giải pháp hạn chế ùn tắc giao thông, Qua đó cũng góp phần phát huy tính sáng tạo cho học sinh

1.2 Bài tập vật lý co ́ nô ̣i dung thực tiễn

1.2.1 Khái niệm bài tập vật lý có nội dung thực tiễn

Bài tập Vật lý: Theo X.E.Camenetxki và V.P.Ôrêkhốp “Trong thực tế dạy học, bài tập vật lí được hiểu là một vấn đề được đặt ra mà trong trường hợp tổng quát đòi hỏi những suy luận logic, những phép toán và thí nghiệm dựa trên cơ sở các định luật và các phương pháp vật lí…” [14, tr.7]

Trong các tài liệu giáo khoa cũng như các tài liệu về phương pháp dạy học bộ môn người ta thường hiểu BTVL là những bài luyện tập được lựa chọn một cách phù hợp với mục đích chủ yếu là nghiên cứu các hiện tượng vật lý, hình thành các khái niệm, phát triển tư duy vật lí của học sinh và rèn kĩ năng

Trang 26

vận dụng kiến thức của học sinh vào thực tiễn BTVL là một phương pháp dạy học giữ vị trí đặc biệt quan trọng trong việc hoàn thành nhiệm vụ dạy học vật

lí ở nhà trường phổ thông

Bài tập Vật lý có nội dung thực tiễn là BTVL trong đó nô ̣i dung của bài

tâ ̣p liên hê ̣ với thực tiễn thông qua các ứng dụng kỹ thuật, các hiện tượng trong thực tế, các quá trình lao động sản xuất, Loại bài tập có NDTT quen thuộc nhất mà chúng ta thường hay đề cập đến đó là bài tâ ̣p đi ̣nh tính và câu hỏi thực tế Ví dụ: Trong giao thông, người ta chỉ dùng đèn đỏ để báo hiệu dừng xe lại mà không dùng các màu khác? Tuy nhiên trong bất cứ một dạng BTVL nào

ta đều có thể nồng ghép nội dung của bài tập liên quan đến thực tiễn

Các BTVL trong SGK thường rất khác xa so với những thực tế mà học sinh sẽ gặp trong cuộc sống Nếu không hiểu thấu đáo vật lý học và nhất là không quen với việc giải bài tập gắn với thực tiễn thì học sinh khó lòng giải quyết tốt những bài toán thực tiễn của cuộc sống Điều đó cho thấy rằng trong dạy học vật lý cần xây dựng một hệ thống bài tập có NDTT, sẽ góp phần vào việc dạy học liên hệ với thực tiễn và bồi dưỡng tư duy cho HS, một yêu cầu cần thiết trong dạy học hiện nay

1.2.2 Vai tro ̀ của bài tập vật lý có nội dung thực tiễn

Bài tập có NDTT với tư cách là một bộ phận của bài tập vật lý nên

chúng có đầy đủ vai trò của BTVL nói chung Tuy nhiên do đặc thù của BTVL

có NDTT là nó xuất phát từ những tình huống có thực trong thực tiễn nên nó còn có một số vai trò khác nữa Cụ thể:

a) Về kiến thức

Thông qua giải bài tập có NDTT, học sinh mở rộng sự hiểu biết một cách chính xác, sinh động, phong phú, sâu sắc và toàn diện hơn về các kiến thức vật lý, không bị cảm giác nặng nề, gò bó về mặt khối lượng kiến thức

Giúp học sinh liên hệ được giữa lý thuyết và thực tiễn cuộc sống như: các vấn đề về môi trường sống, các hoạt động sống lao động sản xuất của con người về các lĩnh vực, các ứng dụng vật lý cụ thể Có thể nói nội dung của bài tập thực tiễn liên quan tới mọi mặt của đời sống và sản xuất của nhiều lĩnh vực

b) Về kỹ năng

Trang 27

Hình thành và phát triển ở học sinh các kỹ năng học tập như: kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, kỹ năng xử lý và thu thập thông tin, kỹ năng lựa chọn kiến thức để giải thích các tình huống thực tế liên quan, kỹ năng đề xuất và dự đoán kết quả

c) Về tình cảm, thái độ

Do có sự liên hệ giữa kiến thức với thực tiễn sản xuất và đời sống, nên học sinh có mục đích và động cơ học tập rõ ràng hơn, kích thích trí tò mò, ham học hỏi của các em Từ đó tạo ra được hứng thú học tập và tạo cơ hội để các

em tự định hướng nghề nghiệp cho riêng mình

Vì các bài tập có NDTT liên quan đễn cuộc sống gia đình, cộng đồng, địa phương nơi các em sống nên nó trực tiếp hướng các em vào các việc có ích cho bản thân, gia đình và cộng đồng Từ đó các em thấy rõ được trách nhiệm của mình với bản thân với gia đình và xã hội

d) Bồi dưỡng tư duy sáng tạo

Hầu hết các bài tập có NDTT khi giải học sinh đề phải có sự linh hoạt, sáng tạo trong tư duy Bởi vì giữa kiến thức lý thuyết và tình huống thực tế cần

có các thao tác tư duy của con người làm cầu nối Hơn nữa việc xây dựng các bài tập sáng tạo có nội dung thực tiễn sẽ góp phần rèn luyện cũng như bồi dưỡng TDST cho học sinh được cao hơn

1.2.3 Phân loa ̣i bài tập vật lý có nội dung thực tiễn

a) Phân loại bài tập vật lý nói chung [14]

Bài tập vật lí rất đa dạng và phong phú , có nhiều cách phân loại bài tập , tùy thuô ̣c vào mu ̣c đích sử du ̣ng, tùy theo mức độ yêu cầu phát triển tư duy , tùy theo nội dung, theo phương thứ c cho điều kiê ̣n và phương thức giải mà có thể phâ ̣n loa ̣i bài

tâ ̣p theo nhiều các khác nhau

 Căn cứ theo yêu cầu mức độ phát triển tư duy

+ Bài tập luyện tập là những bài tập mà hiện tượng xảy ra chỉ tuân theo một

quy tắc , mô ̣t đi ̣nh luâ ̣t vâ ̣t lí đã biết , muốn giải chỉ cần thực hiê ̣n mô ̣t lâ ̣p luâ ̣n đơn giản hay áp du ̣ng công thức đã biết Loại bài tập này để củng cố kiến thức

lí thuyết cơ bản đã học hoặc sau khi học một kiến thức mới giúp học sinh hiểu

Trang 28

sâu hơn các kiến thức này , nắm vững cách giải đối với mỗi loa ̣i b ài tập nhất

đi ̣nh đã được chỉ dẫn cách thức giải

+ Bài tập sáng tạo là loại bài tập mà yêu cầu học sinh phải có đầu óc tư duy và sáng tạo , có khả năng phân tích đề bài , vận du ̣ng tổng hơ ̣p kiến thức để giải quyết vấ n đề đă ̣t ra Loại bài tập này đôi khi yêu cầu học sinh có đầu óc tưởng tươ ̣ng , biết cách suy diễn và lâ ̣p luâ ̣n chắc chắn để thiết lâ ̣p các mối liên hê ̣ mô ̣t cách chặt chẽ và lôgic

 Căn cứ vào nội dung bài tập

Căn cứ vào nội dung của bài tập người ta có thể chia thành các loa ̣i sau: + Bài tập có nội dung cụ thể là bài tập có dữ liệu là các con số cụ thể , thực tế và ho ̣c sinh có thể đưa ra lời giải dựa vào vốn kiến thức vâ ̣t lí cơ bản đã có

+ Bài tập có nội dung trừu tượng là những bài tập mà các dữ kiện cho dưới dạng chữ Trong bài tâ ̣p này , bản chất được nêu bật trong đề bài , những chi tiết không bản chất đã được lược bỏ bớt Học sinh có thể nhận ra đ ược cần sử dụng công thức ,

đi ̣nh luâ ̣t vâ ̣t lí nào để giải bài tâ ̣p đã cho

+ Bài tập có nội dung kĩ thuật tổng hợp là các bài tập có nội dung chứa đựng các kiến thức về kĩ thuâ ̣t , về sản xuất , công nông nghiê ̣p , về giao thông vâ ̣n tải Ví dụ: tại sao để cho ô tô dừng lại nhanh hơn , người lái xe có kinh nghiê ̣m thường hãm phanh mà không tắt máy và khi lên dốc , khi đi trên đường trơn thì cấm không được tắt đô ̣ng cơ?

+ Bài tập có nội dung lịch s ử là các bài tập chứa đựng các kiến thức có liên quan đến lịch sử như những dữ liệu về các thí nghiệm vật lí cổ điển , những phát minh , hay những câu chuyê ̣n có tính chất li ̣ch sử

+ Bài tập theo đề tài vật lý có thể phân theo các đề tài lớn như : cơ ho ̣c, nhiê ̣t ho ̣c, điê ̣n ho ̣c, quang ho ̣c

 Căn cứ vào phương thức cho điều kiê ̣n và phương thức giải

Cách phân loại này có thể bao gồm bài tập định tính , bài tập định lượng , bài

tâ ̣p đồ thi ̣, bài tâ ̣p thí nghiê ̣m

+ Bài tập định tính là loại bài tập được đưa ra với nhiều tên gọi khác nhau như : câu hỏi thực hành , câu hỏi đi ̣nh tính , câu hỏi lôgic Đặc trưng định tính thể hiện ở chỗ viê ̣c giải chủ yếu dựa vào các suy luâ ̣n lôgic mà không cần phải tính toán phức ta ̣p

Trang 29

+ Bài tập định lượng là loại bài tập có dữ liệu là các con số cụ thể , học sinh phải giải chúng bằng các phép tính toán sử dụng công thức để xác lập mối liên hệ phụthuô ̣c giữa các đa ̣i lượng phải tìm và nhâ ̣n được kết quả dưới da ̣ng mô ̣t công thức hoă ̣c mô ̣t giá tri ̣ bằng số

+ Bài tập thực nghiệm là loại bài tập khi giải phải sử dụng thí nghiệm để đi tới mục đích đă ̣t ra, có khi phải tiến hành thí nghiệm để đi tới kết quả phải tìm hoặc làm thí nghiê ̣m để lấy số liê ̣u giải bài tâ ̣p

+ Bài tập đồ thị là loại bài tập mà từ đồ thị đã cho học sinh phải tìm một số yếu tố nào đó hoặc từ các dữ liệu đã biết đi xây dựng đồ thi ̣

+ Bài tập trắc nghiệm khách quan

b) Phân loại bài tập có nội dung thực tiễn

Căn cứ vào nô ̣i dung thực tiễn của bài tâ ̣p và yêu cầu của phát triển tư duy cho HS thông qua giải bài tâ ̣p, chúng tôi chia bài tập vật lý có nội dung thực tiễn làm các hai loa ̣i đó là: Bài tập định tính có nội dung thực tiễn và bài

tâ ̣p đi ̣nh lươ ̣ng có nội dung thực tiễn Cách phân loại này chỉ mang tính tương đối, vì trong một loại bài tập vật lý này lại chứa đựng một vài yếu tố của loại bài tập vật lý kia

 Bài tập định tính có nội dung thực tiễn là bài tâ ̣p khi giải HS không phải thực hiê ̣n các phép tính toán phức ta ̣p , mà chỉ cần thực hiện các phép suy luận logic Do đo ́ HS phải hiểu rõ bản chất của các khái niệm, đi ̣nh luâ ̣t và nhâ ̣n biết đươ ̣c biểu hiê ̣n của chúng trong các trường hơ ̣p cu ̣ thể Loại bài tập này có thể chia nhỏ thành hai loa ̣i là bài tâ ̣p giải thích hiê ̣n tượng và bài tâ ̣p dự đoán hiê ̣n tươ ̣ng Hệ thống các bài tập định tính có nội dung thực tiễn được sắp xếp từ dễ đến khó, từ đơn giản đến phức tạp, đáp ứng được yêu cầu của việc bồi dưỡng

tư duy cho học sinh Chúng tôi đề xuất các bài tập định tính dưới dạng các câu hỏi

 Bài tập định lượ ng có nội dung thực tiễn là loa ̣i bài tâ ̣p mà khi giải

HS thực hiê ̣n mô ̣t loa ̣t các phép tính toán , biến đổi va ̀ kết quả thu đươ ̣c là

mô ̣t kết quả đi ̣nh lươ ̣ng , tìm được giá trị của một phép tính nào đó Loại bài tập này có t hể chia thành hai loa ̣i sau :

Trang 30

+ Bài tập cơ bản có nội dung thực tiễn là những bài tập co ́ khuôn mẫu khi giải, chỉ cần a ́ p du ̣ng các kiến thức xác đi ̣nh đã biết để giải, các tình huống quen thuô ̣c, có tính chất tái hiện, không yêu cầu khả năng đề xuất, đánh giá

+ Bài tập sáng tạo có nội dung thực tiễn la ̀ những bài tâ ̣p mà khi giải không có khuôn mẫu, có tình huống mới, có tính chất phát hiện, yêu cầu khả năng đề xuất đánh giá, phải vận dụng linh hoạt, sáng tạo từ những kiến thức cũ

Các dấu hiệu nhận biết một bài tập có tính sáng tạo: Bài tập có nhiều cách giải, bài tập có hình thức tương tự nhưng nội dung biến đổi, bài tập thí nghiê ̣m, bài tập nghịch lý, ngụy biê ̣n, bài tập cho thừa, thiếu dữ kiê ̣n

Để đáp ứng được mục đích là bồi dưỡng tư duy sáng tạo cho học sinh, trong đề tài của chúng tôi tính sáng tạo của bài tập được đua vào trong hệ thống bài tập được xây dựng Học sinh sẽ được rèn luyện giải từ các bài tập

cơ bản (bài tập cơ sở) đến các bài tập có tính sáng tạo Các bài BTST được xây dựng dựa trên các bài tập cơ bản Học sinh làm được các bài tập sáng tạo đó tức là đã bồi dưỡng tư duy sáng tạo cho học sinh

1.2.4 Phương pha ́ p giải bài tập vật lý có nội dung thực tiễn

Bài tập vật lý có NDTT với tư cách là một bộ phận của hệ thống BTVL nói chung, nên phương giải của loại bài tập này cũng như phương pháp giải một BTVL nói chung

Bài tập vật lí rất đa dạng, cho nên phương pháp giải cũng rất phong phú, vì vậy không thể chỉ ra được một phương pháp nào cụ thể mà có thể áp dụng để giải được cho tất cả các loại bài tập Tuy nhiên nhìn chung để giải một BTVL ta thường phải trải qua những bước sau:

Bước 1: Đọc đề bài Tóm tắt các dữ kiện

Giai đoạn này ta phải :

- Xác định ý nghĩa của các thuật ngữ , phân biệt đâu là ẩn số phải tìm , đâu là dữ kiê ̣n đã cho

- Dùng các kí hiệu vật lý để ghi tóm tắt đề bài

- Đổi đơn vị về hệ đơn vị hợp pháp

- Vẽ hình mô tả hiện tượng vâ ̣t lý trong bài tâ ̣p

Bước 2: Phân tích hiê ̣n tượng của bài toán để xác lập các mối liên hê ̣ cơ bản

Trang 31

Học sinh cần xác định xem hiện tượng đó thuộc loại nào , hình dung diễn biết của hiện tượng đó để nhận biết nhữ ng dữ kiê ̣n đầu bài liên quan đến khái niê ̣m nào , hiê ̣n tượng nào , quy tắc nào , đi ̣nh luâ ̣t nào trong vâ ̣t lí , liên hê ̣ hiê ̣n tượng đó với những hiê ̣n đã được ho ̣c trong lí thuyết

Giai đoa ̣n này ho ̣c sinh phải :

- Đối chiếu các dữ kiê ̣n đã cho với cái phải tìm , xét bản chất vật lý của hiện tượng

để nhận ra các định luật, các công thức lí thuyết liên quan

- Xác lập các mối liên hệ cụ thể của cái đã biết và cái phải tìm

 Đối với những bài tập định lượng tổng hợp phức tạp, có hai phương pháp xây dựng lập luận để giải:

+ Phương pháp phân tích: xuất phát từ ẩn số cần tìm, tìm ra mối liên hệ giữa ẩn số

đó với một đại lượng nào đó theo một định luật đã được chỉ ra, diễn đạt bằng một công thức có chứa ẩn số Sau đó tiếp tục phát triển lập luận hoặc biến đổi công thức này theo các dữ kiện đã cho Cuối cùng đi đến công thức sau cùng chứa ẩn số và các

dữ kiện đã cho

+ Phương pháp tổng hợp: xuất phát từ dữ kiện đã cho của đầu bài, xây dựng lập luận hoặc biến đổi công thức diễn đạt mối quan hệ giữa các dữ kiện đã cho với các đại lượng khác để tiến dần đến công thức cuối cùng có chứa ẩn số và các dữ kiện đã cho

 Đối với bài tập định tính: ta không cần tính toán nhiều mà chủ yếu sử dụng lập luận, suy luận logic dựa vào kiến thức vật lý để giải thích hoặc dự đoán hiện tượng xảy ra

+ Đối với bài tập giải thích hiện tượng: dạng bài tập này đã cho biết hiện tượng và yêu cầu giải thích nguyên nhân diễn ra hiện tượng ấy Nguyên nhân chính là những đặc tính, những định luật vật lý Do đó chúng ta cần tìm xem đề bài đã đề cập đến những dấu hiệu có liên quan đến tính chất, định luật vật lý nào từ đó sẽ giải thích được

+ Đối với bài tập dự đoán hiện tượng: dạng bài tập này yêu cầu phải dựa vào những điều kiện cụ thể đã cho ở đề, tìm những định luật chi phối hiện tượng và

dự đoán được hiện tượng sẽ diễn ra cũng như quá trình diễn ra hiện tượng đó, nguyên nhân của hiện tượng

Bước 3 : Luận giải, tính toán các kết quả bằng số

Bước 4 : Nhận xét kết quả

Trang 32

Bước này nhằm giúp học sinh có thể phát hiện ra những sai sót mắc phải khi giải Học sinh cần nhận xét kết quả về giá trị thực tế của kết quả , phương pháp giải, khả năng mở rộng bài tập, khả năng ứng dụng của bài tập

1.3 Thư ̣c trạng sử du ̣ng bài tâ ̣p vâ ̣t lý có nô ̣i dung thực tiễn hiê ̣n nay

1.3.1 Mục đích điều tra

Tìm hiểu thực tế việc dạy và học vật lý nói chung và việc dạy và học chương Mắt và các dụng cụ quang học nói riêng, để thu thập được các thông tin về:

- Việc sử dụng bài tập vật lý có nội dung thực tiễn trong dạy học vật lý của GV

ở trường THPT Nguyễn Siêu

- Việc tiếp cận của học sinh về bài tập vật lý có NDTT

Từ đó nhận định được các nguyên nhân, đề xuất giải pháp sử dụng bài tập vật lý có nội dung thực tiễn trong dạy học vật lý tại trường phổ thông hiện nay

1.3.2 Đối tượng và phạm vi điều tra

GV và HS trường THPT Nguyễn Siêu – Hà Nội

1.3.3 Phương pha ́ p điều tra

* Đối với GV: Sử dụng phiếu điều tra , tra đổi trực tiếp với GV, xem giáo án, dự giờ giảng

*Đối với HS: Sử dụng phiếu điều tra, tra đổi trực tiếp với HS

1.3.4 Kết qua ̉ điều tra

* Kết quả điều tra đối với GV:

Đa phần các GV (7/10) đều cho rằng kiến thức chương Mắt và các dụng cụ quang học (đặc biệt là bài tập chương này) khó dạy hơn so với các chương khác bởi vì kiến thức chương này liên quan nhiều đến các tính chất quang học về sự tạo ảnh của vật qua mắt, các dụng cụ quang học Điều này có thể nói là rất khó đối với học sinh

Bài tập có NDTT chưa được sử dụng nhiều trong dạy học vật lý Giáo viên thường ít quan tâm đến việc giải thích các hiện tượng thực tiễn liên quan đến bài học mà chỉ quan tâm đễn các bài tập vận dụng các công thức một cách thuần túy toán học

Trang 33

Đa phần các GV (8/10) cho rằng rất khó để tạo được húng thú học tập cho học sinh khi giải các bài tập chương Mắt và các dụng cụ quang học, đặc biệt là đối với đối tượng học sinh không phải khá, giỏi

Trong tất cả các giáo viên được điều tra thì không có một giáo viên nào cho rằng mình thường xuyên quan tâm tới việc lựa chọn hay tự xây dựng hệ thống các bài tập có nội dung thực tiễn theo hướng bồi dưỡng tư duy sáng tạo cho học sinh Điều các giáo viên quan tâm khi dạy học bài tập vật lý là sử dụng các bài tập trong SGK, SBT và STK đảm bảo cho việc thi cử đạt kết quả

Các thầy cô đều có nhận xét các bài tập có nội dung thực tiễn rất ít được đưa vào kiểm tra hay thi cử Điều đó cho thấy việc sử dụng các bài tập có

NDTT trong dạy học vật lý và vận dụng kiến thức vào thực tiễn cuộc sống còn nhiều hạn chế

Trong các thầy cô được điều tra thì 9/10 giáo viên cho rằng dạy học bài tập chỉ quan tâm đến việc củng cố kiến thức là chính và việc mở rộng kiến thức cho học sinh thì không được nhiều Điều đó có thể lý giải việc dạy bài tập của các thầy cô chủ yếu là việc rèn luyện cho HS các dạng bài tập phục vụ cho thi

cử là chình và thời gian cho các tiết dạy bài tập theo phân phối chương trình quy định còn ít

Hầu hết các GV (8/10) đều cho rằng khó khăn đối với HS là ở khả năng

tư duy, khả năng diễn đạt, khả năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn cuộc sống hay giải các bài tập có NDTT Khó hơn nữa là sử dụng các bài tập có NDTT để bồi dưỡng tư duy cho học sinh Tâm lý của các thầy cô còn ngại khi

sử dụng các bài tập có NDTT vì để sử dụng tốt được các bài tập đó phải đầu tư nhiều thời gian, công sức Đặc biệt là để xây dựng được các bài tập có NDTT góp phần bồi dưỡng TDST cho HS lại càng khó

Ngoài việc điều tra thông qua phiếu điều tra, chúng tôi cũng thường xuyên trao đổi, dự giờ các GV tại trường THPT Nguyễn Siêu, thì thấy những nhận định trên là hoàn toàn phù hợp

* Kết quả điều tra đối với HS:

Đa phần các HS (50/55) cho rằng sau khi giải các BTVL các em không thấy mối liên hệ giữa kiến thức vật lý và cuộc sống Rất ít HS (10/55) có nhận

Trang 34

xét các em thường tự giải các BTVL liên quan tới các hiện tượng thực tế mà

em quan tâm mà chỉ tự giải các bài tập khi giáo viên nhắc nhở hoặc phải kiểm tra, thi cử Đa phần các HS (48/55) rất muốn tham gia giải các bài tập có

NDTT 46/55 HS có nhận xét rằng giáo viên ít sử dụng các bài tập có NDTT trong dạy học Tất cả học sinh đều nhận xét giáo viên không sử dụng bộ câu hỏi định hướng tư duy mà chỉ đưa ra một số gợi ý bằng lời hay minh họa bằng hình trên bảng Rất nhiều học sinh (49/55) thừa nhận là ít khi hỏi

GV về các hiện tượng vật lý liên quan tới thực tiễn 50/55 HS đều cho rằng không thấy các bài tập có NDTT trong đề thi hay kiểm tra Đa phần các

HS (47/55) đều cho rằng muốn làm các bài tập liên quan tới giải thích các hiện tượng trong thực tiễn cuộc sống mặc dù biết rằng giải thích được các bài tập đó là rất khó

Ngoài việc điều tra thông qua phiếu điều tra chúng tôi còn trao đổi với

HS về các vấn đề học bài tập vật lý có NDTT, thì thấy những nhận định của các em phù hợp với kết quả của phiếu điều tra

1.3.5 Nguyên nhân thực trạng

Nội dung kiến thức cho mỗi tiết học vật lý còn nặng, mà thời gian cho mỗi tiết học chỉ có 45 phút Dó đó việc giáo viên dạy hết nội dung kiến thức của tiết học cũng đã là khó khăn nên việc vận dụng kiến thức vào thực tiễn còn nhiều hạn chế hoặc nếu có liên hệ thì chỉ là hình thức liệt kê các sự kiện chứ không đi sâu vào giải thích bản chất của hiện tượng Đa phần các giáo viên chỉ dạy học các bài tập liên quan đến vận dụng các công thức một cách thuần túy toán học

Các bài tập có nội dung thực tiễn trong SGK, STK, SBT còn ít Nếu có thì đa phần các bài tập đó cũng chỉ liên hệ với các tình huống chưa thật gần gũi với thực tiễn, vẫn thiên về việc vận dụng công thức để giải

Việc thi cử, kiểm tra hiện nay ảnh hưởng nhiều đến việc dạy và học của

GV và HS Trong các đề thi, kiểm tra có rất ít các bài tập có NDTT Điều đó dẫn đến việc dạy của giáo viên chủ yếu là luyện giải nhiều dạng bài tập thành thạo cho HS để học sinh đi thi đạt điểm cao Học sinh ít được tiếp xúc với các bài tập có NDTT nên khi gặp các bài tập này thường có tâm lý e ngại

Trang 35

Khả năng sử dụng máy tính của một số GV còn hạn chế, nhất là các GV lớn tuổi Điều đó cũng ảnh hưởng đến việc sử dụng các bài tập có NDTT, vì nhiều các bài tập loại này cần có hình ảnh minh họa trên máy tính thì mới đảm bảo được sự trực quan, sinh động và hứng thú học tập cho HS được Các bài tập loại này nếu được sử dụng thì cũng chỉ được giáo viên mô tả bằng lời là chủ yếu Nhiều giáo viên còn chưa có tư duy đổi mới trong dạy học vẫn quen với lối dạy học truyền thống nên không tạo ra được hứng thú học tập cho HS Mặt khác GV còn phải dạy thêm giờ, dạy thêm bên ngoài nhà trường nơi mình công tác nên không tập trung được nhiều vào việc xây dựng các bài tập có nội dung thực tiễn mà chỉ sử dụng các dạng bài tập sẵn có từ trước

Về phía HS cũng chịu áp lực học hành, áp lực từ phía gia đình, phải đi học thêm ở các lò luyện thi, để thi đỗ đại học nên khi lên lớp không tập trung vào học tập kiến thức và giải các bài tập có tình huống thực tiễn mà chỉ tập trung giải các dạng bài trong đề thi liên quan tới tính toán công thức thuần túy toán học

Trang 37

Kết luận chương 1

Chương 1 của luận văn chúng tôi đã trình bày về bồi dưỡng TDST cho học sinh trong dạy học vật lý Trong đó chúng tôi đã làm rõ khái niệm NLTDST cho học sinh, các biểu hiện của NLTDST và đưa ra các biện pháp

để bồi dưỡng TDST cho học sinh trong dạy học vật lý Trong các biện pháp bồi dưỡng TDST cho học sinh chúng tôi nhất mạnh vào biện pháp dạy học bài tập vật lý thông qua giải bài tập có tính sáng tạo

Chương 1 của luận văn chúng tôi cũng đã trình bày về BTVL nói chung và BTVL có NDTT về các mặt như: khái niệm, vai trò, phân loại và phương pháp giải BTVL Chúng tôi cũng đã đề xuất cách phân loại BTVL

có NDTT thành hai loại là: bài tập định tính có NDTT và bài tập định lượng có NDTT Ngoài ra chúng tôi cũng đã trình bày các hình thức thể hiện bài tập vật lý có NDTT dựa vào đặc thù của loại bài tập này

Chúng tôi cũng đã điều tra và đưa ra những nhận định về thực trang việc sử dụng BTVL có NDTT ở trường THPT Nguyễn Siêu Nhận định của chúng tôi là hệ thống các bài tập có NDTT hiện nay chưa có nhiều và việc

sử dụng chúng trong dạy học vật lý, kiểm tra hay thi cử còn hạn chế Học sinh còn chưa hứng thú khi học về bài tập vật lý

Dựa vào những cơ sở lí luận và thực tiễn về việc bồi dưỡng tư duy sáng tạo cho học sinh thông qua dạy học bài tập vật lý có NDTT Chúng tôi xây dựng hệ thống BTVL có NDTT nhằm đáp ứng yêu cầu của việc tạo hứng thú học tập và bồi dưỡng tư duy sáng tạo cho học sinh

Trang 38

CHƯƠNG 2: XÂY DỰNG VÀ HƯỚNG DẪN SỬ DỤNG HỆ THỐNG BÀI TẬP CÓ NỘI DUNG THỰC TIỄN TRONG DẠY HỌC CHƯƠNG

“ MẮT VÀ CÁC DỤNG CỤ QUANG HỌC ” VẬT LÝ LỚP 11

2.1 Nô ̣i dung kiến thức và yêu cầu cần đạt khi dạy học chương “Mắt và các dụng cụ quang ho ̣c” vâ ̣t lý lớp 11

2.1.1 Sơ đồ cấu tru ́ c lôgic kiến thức chương “Mắt và Các dụng cụ quang học” vật lý lớp 11

2.1.2 Nội dung kiến thức cơ bản của chương “Mắt va ̀ Các dụng cụ quang học” vật lý lớp 11

Trang 39

Nếu chiết suất tỉ đối của lăng kính và môi trường n>1, thì của các tia sáng qua lăng kính bị làm lệch về đáy của lăng kính

Nếu chiết suất tỉ đối của lăng kính và môi trường n<1, thì của các tia sáng qua lăng kính bị làm lệch về đỉnh của lăng kính

* Công thức lăng kính:

sini 1 =nsinr 1 ; sini 2 =nsinr 2

A=r 1 +r 2 ; D=i 1 +i 2 -A

b) Thấu kính mỏng

* Định nghĩa: Thấu kính là một khối chất trong suốt (nhựa hoặc thủy tinh) giới hạn bởi hai mặt cầu hoặc một mặt phẳng và một mặt cầu

* Phân loại thấu kính trong không khí

- Thấu kính hội tụ: còn gọi là thấu kính lồi hay thấu kính rìa mỏng

- Thấu kính phân kỳ: còn gọi là thấu kính lõm hay thấu kính rìa dày

Trang 40

- Độ tụ của thấu kính: D 1

f

Trong đó: (f) là tiêu cự của kính đơn vị là [m],

(D) là độ tụ của kính đơn vị là điốp [dp]

* Điểm cực cận, điểm cực viễn

- Điểm cực viễn C v là điểm xa nhất trên trục của mắt mà mắt nhìn rõ khi không điều tiết Mắt thường C v ở vô cực

- Điểm cực cận C c là điểm gần nhất trên trục của mắt mà mắt nhìn rõ khi điều tiết tối đa

* Năng suất phân ly của mắt: là góc trông nhỏ nhất ε min mà mắt còn phân biệt được hai điểm trên vật, ε min =1’(giá trị trung bình)

Ngày đăng: 17/03/2021, 07:53

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w