1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tuyển chọn xây dựng và sử dụng hệ thống bài tập phần kim loại thuộc chương trình lớp 12 nâng cao

127 10 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 127
Dung lượng 4,4 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC LẠI THỊ QUỲNH DIỆP TUYỂN CHỌN, XÂY DỰNG VÀ SỬ DỤNG HỆ THỐNG BÀI TẬP PHẦN KIM LOẠI ĐỂ BỒI DƯỠNG HỌC SINH GIỎI HÓA TRUNG HỌC PHỔ THÔNG LỚ

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC

LẠI THỊ QUỲNH DIỆP

TUYỂN CHỌN, XÂY DỰNG VÀ SỬ DỤNG HỆ THỐNG BÀI TẬP PHẦN KIM LOẠI ĐỂ BỒI DƯỠNG HỌC SINH GIỎI HÓA

TRUNG HỌC PHỔ THÔNG LỚP 12 – NÂNG CAO

Chuyên ngành: LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC

(BỘ MÔN HÓA HỌC)

Mã số: 60 14 10

LUẬN VĂN THẠC SĨ SƯ PHẠM HÓA HỌC

Người hướng dẫn khoa học: GS.TS Lâm Ngọc Thiềm

HÀ NỘI – 2013

Trang 2

i

LỜI CẢM ƠN

Sau một thời gian nghiên cứu, đề tài “Tuyển chọn, xây dựng và sử dụng

hệ thống bài tập phần kim loại để bồi dưỡng học sinh giỏi hóa trung học phổ thông lớp 12 – Nâng cao ” đã hoàn thành Để hoàn thành được luận văn này có sự

hướng dẫn trực tiếp của Giáo sƣ - Tiến sĩ Lâm Ngọc Thiềm, sự giúp đỡ tận tình

của các thầy cô giáo Trường Đại học Giáo Dục – Đại học Quốc Gia Hà Nội Ngoài ra còn có sự ủng hộ giúp đỡ nhiệt tình các thầy cô giáo trong tổ chuyên môn Hóa - S i n h , các em học sinh các lớp 12 học thuộc trường THPT Lê Hồng Phong, trường THPT Hồng Bàng, trường THPT Hải An thành phố Hải Phòng

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc nhất đến Giáo sƣ - Tiến sĩ Lâm Ngọc Thiềm về sự hướng dẫn tận tình và quý báu trong suốt quá

trình xây dựng và hoàn thiện Luận văn Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn tới các thầy cô giáo Trường Đại học Giáo Dục – Đại học Quốc Gia Hà Nội, tới ban giám hiệu

và các thầy cô giáo, các em học sinh trường THPT Lê Hồng Phong, trường THPT Hồng Bàng, trường THPT Hải An thành phố Hải Phòng, các bạn đồng nghiệp gần

xa đã giúp đỡ và tạo mọi điều kiện thuận lợi để tôi hoàn thành tốt Luận văn Thạc sĩ này

Tôi xin trân trọng cảm ơn

Hải Phòng, ngày 20 tháng 11 năm 2011

Tác giả

Lại Thị Quỳnh Diệp

Trang 3

ĐKTC : Điều kiện tiêu chuẩn

GD&ĐT : Giáo dục và đào tạo

KLKT : Kim loại kiềm thổ

PGS.TS : Phó giáo sư Tiến sĩ

Trang 4

iii

MỤC LỤC

Lời cảm ơn i

Danh mục viết tắt ii

Mục lục vi

Danh mu ̣c bảng vi

Danh mục các biểu đồ - đồ thị vii MỞ ĐẦU 1

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 5

1.1 Cơ sở lý luận 5

1.1.1 Hoạt động nhận thức và tư duy sáng tạo của HS trong quá trình học tập 5

1.1.2 Lý luận về bài tập trong dạy học hóa học ở trường THPT [26] 9

1.1.3 Lý luận về sử dụng bài tập hóa học trong dạy học ở trường THPT [26] 10

1.1.4 Lý luận về bồi dưỡng HSG ở trường THPT 11

1.2 Cơ sở thực tiễn 14

1.2.1 Thực tế công tác bồi dưỡng HSG ở trường trung học phổ thông 14

1.2.2 Một số biện pháp bồi dưỡng HSG hóa học ở bậc THPT [22] 15

Tiểu kết chương 1 18

Chương 2: TUYỂN CHỌN, XÂY DỰNG VÀ SỬ DỤNG HỆ THỐNG BÀI TẬP PHẦN KIM LOẠI ĐỂ BỒI DƯỠNG HỌC SINH GIỎI HÓA TRUNG HỌC PHỔ THÔNG LỚP 12 – NÂNG CAO 19

2.1 Cơ sở tuyển chọn và xây dựng hệ thống bài tập 19

2.1.1 Theo cấu trúc chương trình sách giáo khoa 19

2.1.2 Theo năng lực nhận thức của học sinh 19

2.1.3 Theo dạng bài tập 19

2.2 Nguyên tắc tuyển chọn và xây dựng hệ thống bài tập hóa học 19

2.2.1 Hệ thống bài tập phải đảm bảo tính chính xác, khoa học 19

2.2.2 Hệ thống bài tập phải đảm bảo tính hệ thống, tính đa dạng 19

2.2.3 Hệ thống bài tập phải phù hợp với mức độ nhận thức 20

2.2.4 Hệ thống bài tập phải mở rộng kiến thức, vốn hiểu biết của HS 20

2.2.5 Hệ thống bài tập phải phát triển năng lực nhận thức, rèn luyện kỹ năng hóa học cho học sinh 20

2.3 Quy trình xây dựng hệ thống bài tập 20

Trang 5

iv

2.3.1 Xác định mục đích của hệ thống bài tập 20

2.3.3 Xác định loại bài tập, các kiểu bài tập 21

2.3.4 Thu thập thông tin để soạn hệ thống bài tập 21

2.3.5 Tiến hành xây dựng hệ thống bài tập 21

2.3.6 Xây dựng bài tập bồi dưỡng HSG hóa học 22

2.3.7 Thực nghiệm, chỉnh sửa và bổ sung 33

2.4 Một số biện pháp sử dụng hệ thống bài tập hoá học phần kim loại trong việc bồi dưỡng học sinh giỏi ở trường trung học phổ thông 33

2.4.1 Sử dụng bài tập rèn luyện năng lực phát hiện vấn đề và giải quyết vấn đề 33

2.4.2 Sử dụng bài tập phát triển năng lực nhận thức trí thông minh, sáng tạo 40

2.4.3 Sử dụng bài tập rèn luyện năng lực thực hành,vận dụng lý thuyết vào thực tế, giải thích các hiện tượng trong tự nhiên và cuộc sống 44

2.5 Phương pháp sử dụng hệ thống bài tập phần kim loại để bồi dưỡng HSG lớp 12 ở trường THPT 45

2.5.1 Biên soạn tài liệu giúp học sinh tự học ở nhà 45

2.5.2 Tổ chức hoạt động dạy học ở trên lớp 46

2.5.3 Kiểm tra, đánh giá 47

2.6 Tuyển chọn, xây dựng hệ thống bài tập phần kim loại lớp 12 để bồi dưỡng học sinh giỏi ở trường trung học phổ thông 47

2.6.1 Bài tập về cấu tạo nguyên tử và cấu trúc tinh thể kim loại, liên kết kim loại, tính chất vật lý 47

2.6.2 Bài tập về nội dung tính chất hóa học, điều chế kim loại và hợp chất 51

2.6.3 Bài tập về phần pin điện,∆G, Ka, Kp, Kc, ∆E, pH, độ tan, tích số tan 74

Tiểu kết chương 2 87

Chương 3: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 89

3.1.Mục đích và nhiệm vụ thực nghiệm 89

3.1.1 Thử nghiệm sử dụng hệ thống bài tập phần kim loại bồi dưỡng HSG 89

3.1.2 Đánh giá sự hợp lí, tính khả dụng và hiệu quả của hệ thống bài tập lớp 12 phần kim loại sử dụng bồi dưỡng HSG 89

3.2 Nội dung thực nghiệm sư phạm 89

3.3 Phương pháp thực nghiệm sư phạm 89

3.3.1 Phạm vi thực nghiệm sư phạm 89

Trang 6

v

3.3.2 Đối tượng và cách thức tiến hành thực nghiệm sư phạm 89

3.4 Kết quả thực nghiệm sư phạm 91

3.4.1 Xử lí kết quả thực nghiệm sư phạm 91

3.4.2 Phân tích, đánh giá kết quả thực nghiệm sư phạm 94

3.4.2.1 Các kết quả thu được từ việc phân tích số liệu thực nghiệm sư phạm 94

Tiểu kết chương 3 97

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 98

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 100

PHỤ LỤC 102

Trang 7

vi

DANH MỤC CÁC BẢNG

Trang

Bảng 3.1 Các chuyên đề bồi dưỡng HSG phần kim loại……… 90

Bảng 3.2 Bảng điểm kiểm tra tương ứngcủa các bài ……… 91 Bảng 3.3 Bảng điểm trung bình kiểm tra và độ lệch chuẩn tương ứng

Bảng 3.4 Phần trăm HS đạt điểm khá giỏi, trung bình, yếu kém……… 92 Bảng 3.5 Bảng điểm % số học sinh đạt điểm Xi và % số học sinh đạt

điểm Xi trở xuống ( kiểm tra lần 1) ……… 92 Bảng 3.6: Bảng điểm % số học sinh đạt điểm và % số học sinh đạt

điểm Xi trở xuống ( kiểm tra lần 2)……… 93

Trang 8

vii

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ - ĐỒ THỊ

Trang

Đồ thị 3.1: Đồ thị biểu diễn đường luỹ tích so sánh kết quả kiểm tra lần 1…….93

Đồ thị 3.2: Đồ thị biểu diễn đường luỹ tích so sánh kết quả kiểm tra lần 2…… 94

Trang 9

Trong cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (2011) đã nêu : “Giáo dục và đào tạo có sứ mệnh nâng cao dân trí, phát triển nguồn nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, góp phần quan trọng phát triển đất nước, xây dựng nền văn hoá và con người Việt Nam’’ Xác định rõ vai trò của mình, Bộ giáo dục và đào tạo đã chỉ đạo việc bồi dưỡng những tài năng trẻ ở trường phổ thông là bước khởi đầu quan trọng để góp phần đào tạo nhân tài trong các lĩnh vực khoa học, công nghệ và đời sống xã hội Hệ thống các trường THPT đã có những đóng góp quan trọng trong việc phát hiện và bồi dưỡng HSG Tuy nhiên, không phải trường nào cũng có được sự đầu tư một cách thỏa đáng Một trong những hạn chế, khó khăn của hệ thống các trường THPT trong toàn quốc đang gặp phải đó là chương trình, sách giáo khoa, tài liệu cho việc bồi dưỡng HSG còn thiếu, chưa cập nhật và chưa có sự liên kết giữa các trường, nên để dạy cho học sinh, giáo viên phải tự tìm tài liệu, chọn giáo trình phù hợp, phải tự xoay sở để biên soạn, cập nhật giáo trình

Xuất phát từ những nhu cầu thực tiễn đó, với mong mu ốn nâ ng cao chất lư ợng bồi dư ỡng HSG môn Hóa h ọc, tôi rất mong có được một nguồn tài liệu có giá trị và phù hợp trong việc giảng dạy bồi dưỡng học sinh giỏi, để cho học sinh có được tài liệu tham khảo học tập và có phương pháp giảng dạy phù

hợp, tôi đã chọn đề tài “Tuyển chọn, xây dựng và sử dụng hệ thống bài tập phần kim loại để bồi dưỡng học sinh giỏi hóa THPT lớp 12 – Nâng cao ”

2 Lịch sử nghiên cứu

Trong những năm gần đây, việc phát hiện và đào tạo HSG nhằm cung ứng nguồn nhân lực chất lượng cao cho đất nước là một trong những nhiệm vụ quan

Trang 10

2

trọng ở bậc THPT Xác định được nhiệm vụ quan trọng này, đã và đang có nhiều

đề tài nghiên cứu về vấn đề bồi dưỡng HSG ở tất cả các bộ môn trong nhà trường

Đối với môn hóa học, đã có một số luận án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ và khóa luận tốt nghi ệp nghiên cứu như:

2.1.Các luận án tiến sĩ

- “ Xây dựng hệ thống bài tập hóa học nhằm rèn luyện tư duy trong việc bồi dưỡng học sinh giỏi hóa học ở trường trung học phổ thông” (2006) của Vũ Anh Tuấn, ĐHSP Hà Nội

- “Xây dựng và sử d ụng hệ thống bài tập bồi dưỡng HSG phần kim loại lớp 12 THPT chuyên” - của Trần Thị Thùy Dung (2007) - ĐHSP Thành phố Hồ Chí Minh

2.3 Các khóa luận tốt nghiệp

- “ Bồi dưỡng học sinh giỏi quốc gia môn hóa học” (2006) của Trần Thị Đào, ĐHSP TP HCM

- “ Bồi dưỡng học sinh giỏi hóa học ở trường THPT” (2006) của Đào Thị Hoàng Hoa, ĐHSP TP HCM

Về hệ thống bài tập phần kim loại đã có một số tác giả quan tâm nghiên cứu, song việc “Tuyển chọn , xây dựng và sử dụng hệ thống bài tập phần kim loại

để bồi dưỡng học sinh giỏi hóa THPT lớp 12 – Nâng cao ” còn ít được quan tâm nghiên cứu Đặc biệt, trong bối cảnh sách giáo khoa hóa học đã được biên soạn lại và định hướng đổi mới PPDH theo hướng tích cực hóa người học thì chưa có công trình nào nghiên cứu vấn đề này một cách hệ thống

3 Mục đích nghiên cứu

Trang 11

3

Tuyển chọn , xây dựng và sử dụng hệ thống bài tập phần kim loại thuộc chương trình lớp 12 – Nâng cao để quá trình bồi dưỡng học sinh giỏi môn hóa học đạt kết quả cao

4 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Nghiên cứu cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn của đề tài

- Nghiên cứu nội dung kiến thức và bài tập p h ầ n k i m l o ạ i t r o n g chương trình hóa học phổ thông nâng cao và chuyên hóa học, các nội dung liên quan đến phần kim loại trong các đề thi học sinh giỏi cấp tỉnh, cấp quốc gia

- Tuyển chọn, xây dựng hệ thống bài tập tự luận theo các chuyên đề trên dùng trong bồi dưỡng HSG phần kim loại lớp 12 ở trường THPT

- Đề xuất phương pháp sử dụng hệ thống bài tập dùng cho việc bồi dưỡng HSG phần kim loại lớp 12 trường THPT

- Thực nghiệm sư phạm với hệ thống bài tập p h ầ n k i m l o ạ i để bồi dưỡng HSG phần kim loại lớp 12 ở trường THPT và đánh giá hiệu quả sử dụng của đề tài

5 Giả thuyết khoa học

Nếu giáo viên tuyển chọn, xây dựng đư ợ c hệ thống bài tập p h ầ n k i m

l o ạ i đa dạng phong phú đồng thời có phương pháp sử dụng chúng một cách hợp

lý thì sẽ nâng cao chất lượng bồi dưỡng HSG ở trường THPT

6 Đối tượng và khách thể nghiên cứu

6.1 Đối tượng nghiên cứu :

- Hệ thống bài tập phần kim loại ở chương trình hóa học lớp 12 – nâng cao để dạy học sinh giỏi trường THPT

6.2 Khách thể nghiên cứu :

- Quá trình dạy học hóa học và công tác bồi dưỡng HSG ở trường THPT

7 Phạm vi và giới hạn của đề tài

- Nội dung: Bài tập phần kim loại dùng trong việc bồi dưỡng HSG

- Đối tượng: HSG cấp trường, HSG cấp tỉnh, HS dự thi HSG quốc gia

- Địa bàn nghiên cứu và thực nghiệm: Trường THPT Lê Hồng Phong; trường THPT Hải An; trường THPT Hồng Bàng (Hải Phòng)

- Thời gian: từ tháng 2 năm 2013 đến tháng 11 năm 2013

8 Phương pháp nghiên cứu

Trang 12

4

8.1 Các phương pháp nghiên cứu lý luận

- Nghiên cứu cơ sở lý luận liên quan đến đề tài: Các tài liệu về tâm lí học, giáo dục học, phương pháp dạy học hóa học

- Nghiên cứu các tài liệu về bồi dưỡng học sinh giỏi, các đề thi học sinh giỏi

- Phân tích và tổng hợp các số liệu điều tra

- Thu thập tài liệu và truy cập thông tin trên internet có liên quan đến đề tài

- Đọc, nghiên cứu và xử lý các tài liệu

8.2 Các phương pháp nghiên cứu thực tiễn

- Nghiên cứu thực tiễn dạy học và bồi dưỡng HSG hóa học ở trường THPT(dự giờ, trao đổi kinh nghiệm với giáo viên và học sinh bồi dưỡng HSG)

- Tập hợp và nghiên cứu các tài liệu : SGK lớp 12 – Nâng cao, chương trình chuyên bộ môn hóa học, các đề thi HSG, đề thi đại học và cao đẳng, các tài liệu tham khảo liên quan đến ôn thi HSG để tuyển chọn và xây dựng hệ thống bài tập phần kim loại

- Thông qua thực nghiệm sư phạm đánh giá chất lượng hệ thống bài tập từ đó đề xuất hưỡng bồi dưỡng HSG ở trường THPT

10 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, khuyến nghị, tài liệu tham khảo, phụ lục, nội dung chính của luận văn được trình bày trong 3 chương :

Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về việc bồi dưỡng HSG

Chương 2: Tuyển chọn, xây dựng hệ thống bài tập phần kim loại lớp 12 – nâng cao để bồi dưỡng HSG ở trường THPT

Chương 3: Thực nghiệm sư phạm

Trang 13

5

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 1.1 Cơ sở lý luận

1.1.1 Hoạt động nhận thức và tư duy sáng tạo của HS trong quá trình học tập

1.1.1.1 Khái niệm nhận thức, tư duy [19]

Nhận thức là một trong ba mặt của đời sống tâm lý con người (nhận thức,

tình cảm, ý chí), là tiền đề của hai mặt kia đồng thời có quan hệ chặt chẽ với chúng

và với các hiện tượng tâm lý khác Hoạt động nhận thức bao gồm nhiều giai đoạn khác nhau, có thể chia hoạt động này gồm hai giai đoạn lớn: Nhận thức cảm tính (gồm cảm giác, tri giác) và nhận thức lý tính (gồm tư duy, tưởng tượng)

Nhận thức cảm tính là sự phản ánh những thuộc tính bên ngoài của sự vật và hiện tượng thông qua sự tri giác của các giác quan

Cảm giác là hình thức khởi đầu trong hoạt động nhận thức, nó chỉ phản ánh từng thuộc tính riêng lẻ của sự vật, hiện tượng

Tri giác được hình thành và phát triển trên cơ sở những cảm giác, nhưng tri giác không phải là những phép cộng đơn giản của cảm giác, tri giác phản ánh sự vật, hiện tượng một cách trọn vẹn và theo một cấu trúc nhất định

Sự nhận thức cảm tính được thực hiện thông qua hình thức tri giác cao, có tính chủ động tích cực, có mục đích là sự quan sát

Nhận thức lý tính

Tưởng tượng là một quá trình tâm lý phản ánh những điều chưa từng có trong kinh nghiệm của cá nhân bằng cách xây dựng những hình ảnh mới trên cơ sở những biểu tượng đã có

Tư duy là một quá trình tâm lý phản ánh những thuộc tính bản chất, những mối liên hệ bên trong có tính quy luật của sự vật hiện tượng trong hiện thực khách quan mà trước đó ta chưa biết Vậy, tư duy là một quá trình tìm kiếm và phát hiện cái mới về chất một cách độc lập Nét nổi bật của tư duy là tính "có vấn đề" tức là trong hoàn cảnh có vấn đề, tư duy được nảy sinh

Những phẩm chất cơ bản của tư duy gồm :

- Tính định hướng, nhanh chóng xác định đối tượng cần lĩnh hội, mục đích phải đạt

và những con đường tối ưu để đạt được mục đích ấy

Trang 14

6

- Bề rộng: Thể hiện khả năng vận dụng nghiên cứu các đối tượng khác

- Độ sâu: Thể hiện ở khả năng nắm vững ngày càng sâu sắc hơn bản chất của sự vật, hiện tượng

- Tính linh hoạt: Thể hiện ở sự nhạy bén trong việc vận dụng những tri thức và cách thức hoạt động vào các tình huống khác nhau một cách sáng tạo

- Tính mềm dẻo: Thể hiện ở hoạt động tư duy được tiến hành theo hướng xuôi và ngược chiều

- Tính độc lập: Thể hiện ở chỗ tự mình phát hiện được vấn đề, đề xuất được cách giải quyết và tự giải quyết vấn đề

- Tính khái quát: Thể hiện ở chỗ khi giải quyết mỗi loại nhiệm vụ sẽ đưa ra mô hình khái quát, từ đó vận dụng để giải quyết các nhiệm vụ cùng loại

Như vậy, quá trình tư duy là khâu cơ bản của quá trình nhận thức Nắm bắt được quá trình này, người giáo viên sẽ hướng dẫn tư duy khoa học cho học sinh trong suốt quá trình dạy và học môn hoá học ở trường phổ thông

1.1.1.2 Tư duy sáng tạo và những phẩm chất của tư duy sáng tạo

Tư duy sáng tạo là những hoạt động tư duy có sáng kiến, tư duy sáng tạo là mức độ cao của tư duy Tư duy sáng tạo có những phẩm chất sau :

- Tính đổi mới: Biểu hiện ở tính khác lạ, đổi mới trong tư duy, sự độc lập suy nghĩ, dám tìm ra cái mới

- Tính khuếch tán : Biểu hiện ở khả năng hiểu rộng những vấn đề nghiên cứu ở những cấu trúc khác nhau

- Tính độc đáo: Thường không dập khuôn theo những quy tắc hoặc tri thức thông thường, biết giải quyết vấn đề một cách linh hoạt, ứng biến

1.1.1.3 Những hình thức cơ bản của tư duy [10]

a Khái niệm : Khái niệm phản ánh những thuộc tính chung, bản chất của sự vật –

hiện tượng, quá trình hiện thực Là kết quả của sự tổng hợp, khái quát biện chứng các tài liệu kinh nghiệm, các khái niệm được hình thành từ trong quá trình lâu dài của con người nhận thức thế giới và cải tạo thế giới

b Phán đoán: Phán đoán phản ánh những mối liên hệ giữa các sự vật – hiện tượng và

quá trình hiện thực Trong phán đoán bao giờ cũng thể hiện một ý nghĩa nhằm khẳng

Trang 15

Nhìn chung, suy lý gồm hai bộ phận: các phán đoán có trước (gọi là tiền đề)

và các phán đoán có sau (gọi là kết luận) Suy lý được chia thành ba loại: suy lý diễn dịch, suy lý quy nạp và loại suy

Suy lý diễn dịch: là suy lý đi từ nguyên lý chung, phổ biến đến cái riêng lẻ, cá biệt Suy lý quy nạp: là suy lý ngược lại của suy lý diễn dịch (nhưng hai loại suy lý này gắn bó mật thiết với nhau)

Loại suy: là suy lý đi từ một số thuộc tính giống nhau của hai đối tượng để rút ra kết luận về những thuộc tính giống nhau khác của hai đối tượng đó Hình thức này thường được sử dụng khi học về các nguyên tố cùng một nhóm nào đó có tính chất tương tự nhau

1.1.1.4 Rèn luyện năng lực nhận thức của học sinh trong quá trình dạy và học hoá học

Năng lực quan sát : Do hóa học là môn khoa học thực nghiệm và có thí nghiệm nên học sinh phải có khả năng quan sát Khi quan sát, giáo viên cần hướng dẫn, yêu cầu

HS làm tốt các nội dung sau:

+ Xác định rõ mục đích, ý nghĩa, yêu cầu, nhiệm vụ quan sát

+ Chuẩn bị chu đáo (cả về tri thức và phương tiện) trước khi quan sát

+ Tiến hành quan sát có kế hoạch và có hệ thống

+ Khi quan sát cần tích cực sử dụng phương tiện hoá học

+ Khuyến khích và tạo điều kiện cho HS sử dụng nhiều giác quan khi quan sát nhưng phải đảm bảo an toàn

+ Cần ghi lại các kết quả quan sát, xử lý kết quả và rút ra kết luận cần thiết

Rèn luyện các thao tác tư duy có năng lực quan sát tốt, ghi nhận được chính xác sự biến đổi của sự vật, hiện tượng nhưng không biết xâu chuỗi các hiện tượng

đó lại với nhau và đưa ra những kết luận cần thiết cũng như thể hiện quan điểm cá nhân thì chưa đủ mà cần phải có tư duy Vì không có tư duy thì không có sự tiếp thu, không có sự vận dụng tri thức, HS không học tập được Do đó, phát triển tư

Trang 16

8

duy đồng nghĩa với việc rèn luyện các thao tác tư duy là điều vô cùng quan trọng và cần thiết Các thao tác đó gồm:

+ Phân tích: là quá trình dùng trí óc để phân tích đối tượng nhận thức thành

những “bộ phận”, những thuộc tính, những mối liên hệ và quan hệ giữa chúng để nhận thức đối tượng sâu sắc hơn, trọn vẹn hơn

+ Tổng hợp: là quá trình dùng trí óc để hợp nhất các “bộ phận”, những thuộc tính, những thành phần đã được tách ra nhờ phân tích thành một chỉnh thể

Từ lí luận trên có thể thấy rằng, phân tích và tổng hợp có mối quan hệ mật thiết với nhau, bổ sung cho nhau tạo thành một thể thống nhất không tách rời Phân tích là cơ

sở của tổng hợp, tổng hợp diễn ra trên cơ sở phân tích

+ So sánh là quá trình dùng trí óc để xác định sự giống nhau hay khác nhau, sự đồng nhất hay không đồng nhất, sự bằng nhau hay không bằng nhau giữa các đối tượng nhận thức Trong dạy học hoá học thường dùng hai loại so sánh là: so sánh tuần tự và so sánh đối chiếu

- So sánh tuần tự: là sự so sánh trong đó nghiên cứu xong từng đối tượng nhận thức rồi so sánh chúng với nhau

- So sánh đối chiếu: nghiên cứu hai đối tượng cùng một lúc hoặc khi nghiên cứu đối tượng thứ hai người ta phân tích thành từng bộ phận rồi đối chiếu với từng

bộ phận của đối tượng thứ nhất

Có thể thấy rằng, so sánh có quan hệ chặt chẽ với phân tích và tổng hợp

+ Trừu tượng hoá và khái quát hoá

- Trừu tượng hoá là quá trình dùng trí óc để gạt bỏ những mặt, những thuộc tính, những mối liên hệ, quan hệ thứ yếu, không cần thiết về phương diện nào đó và chỉ giữ lại những yếu tố cần thiết để tư duy

- Khái quát hoá là quá trình dùng trí óc để bao quát nhiều đối tượng khác nhau thành một nhóm, một loại theo những thuộc tính, những mối quan hệ nhất định Những thuộc tính này bao gồm hai loại: những thuộc tính giống nhau và những thuộc tính bản chất

Qua đó để thấy rằng, trừu tượng hoá và khái quát hoá có mối quan hệ mật thiết với nhau, chi phối và bổ sung cho nhau, giống như mối quan hệ giữa phân tích

và tổng hợp nhưng ở mức độ cao hơn

Trang 17

9

1.1.2 Lý luận về bài tập trong dạy học hóa học ở trường THPT [26]

1.1.2.1 Khái niệm

Theo từ điển Tiếng Việt “Bài tập là bài giao cho HS làm để vận dụng kiến thức

đã học, còn bài toán là vấn đề cần giải quyết bằng phương pháp khoa học”

Theo các nhà lý luận dạy học Liên Xô (cũ), bài tập bao gồm cả câu hỏi và bài toán, mà trong khi hoàn thành chúng, HS cần nắm được hay hoàn thiện một tri thức hoặc một kĩ năng nào đó bằng cách trả lời vấn đáp, trả lời viết hoặc có kèm theo thực nghiệm Hiện nay ở nước ta thuật ngữ “bài tập” được dùng theo quan điểm này

1.1.2.2 Phân loại

Có nhiều cách phân loại bài tập hóa học, nó phụ thuộc vào các cơ sở phân loại khác nhau như: dựa vào chủ đề lý thuyết, khối lượng kiến thức, tính chất của bài tập, đặc điểm của bài tập, nội dung, mục đích dạy học, phương pháp giải… Tuy nhiên, dựa vào nội dung và hình thức có thể phân loại bài tập hóa học thành 2 loại: bài tập trắc nghiệm tự luận và bài tập trắc nghiệm khách quan; trong mỗi loại đều có 2 dạng bài tập định tính và bài tập định lượng

- Bài tập định tính: Dạng bài tập quan sát, mô tả, giải thích các hiện tượng hóa học như giải thích, chứng minh, viết PTHH, nhận biết, tách chất, tinh chế, điều chế, vận dụng các kiến thức hóa học vào thực tiễn…

- Bài tập định lượng: Loại bài tập cần dùng các kĩ năng toán học kết hợp với kĩ năng hóa học để giải như xác định công thức phân tử ; tính theo công thức và PTHH; tính toán về số mol, khối lượng, nồng độ mol, nồng độ dung dịch, tỉ khối, áp suất, …

1.1.2.3 Vai trò, ý nghĩa của bài tập trong dạy học hóa học ở trường THPT [20]

- Là phương tiện để ôn tập, củng cố, hệ thống hoá kiến thức một cách tốt nhất

- Giúp HS khắc sâu hơn các khái niệm, định luật đã học và rèn luyện ngôn ngữ hoá học cho HS

- Rèn luyện cho HS khả năng vận dụng các kiến thức đã học qua các bài giảng thành kiến thức của bản thân

- Đào sâu và mở rộng các kiến thức đã học một cách sinh động, phong phú, hấp dẫn.- Tạo điều kiện phát triển tư duy HS

Trang 18

- Thông qua việc giải bài tập, rèn cho HS tính kiên nhẫn, sự linh hoạt, sáng tạo

- Với các bài tập thực hành còn giúp hình thành ở HS tính cẩn thận, tiết kiệm, tác phong làm việc khoa học, chính xác, gọn gàng

- Nâng cao hứng thú học tập, yêu thích môn hóa học và các môn học khác

1.1.3 Lý luận về sử dụng bài tập hóa học trong dạy học ở trường THPT [26]

1.1.3.1 Đặc trưng của việc dạy học thông qua bài tập hóa học

- BTHH thể hiện được những đặc trưng kiến thức của bộ môn

- Các hình thức dạy học đều có thể sử dụng bài tập hóa học làm phương tiện

- BTHH thể hiện được sự đa dạng về các hình thức học tập

- Dạy học thông qua BTHH giúp người dạy và người học diễn đạt được tất cả những phương pháp tư duy như phân tích, tổng hợp, so sánh, khái quát hóa…

- Bài tập vừa là mục đích vừa là nội dung lại vừa là phương pháp dạy học hiệu quả, bài tập cung cấp cho học sinh kiến thức, con đường giành kiến thức

- BTHH giúp học sinh hiểu sâu hơn các khái niệm, định luật đã học, rèn luyện ngôn ngữ hóa học cho học sinh, là phương tiện để củng cố, ôn tập, hệ thống hóa kiến thức tốt nhất, qua việc giải bài tập hóa học giúp học sinh rèn luyện những đức tính tốt của bản thân như tính kiên nhẫn, chính xác, khoa học, linh hoạt, sáng tạo…

1.1.3.2 Sử dụng bài tập hóa học để tích cực hóa người học

- Khi sử dụng BTHH, người học phải vận dụng tất cả các kĩ năng để giải quyết qua

đó góp phần nâng cao năng lực nhận thức, năng lực tư duy

- Với hình thức sử dụng khi học tập ở nhà giúp học sinh nâng cao tính chủ động, khả năng tự học…đó là cơ sở để tích cực hóa người học

Trang 19

11

- Bảo đảm nguyên tắc “Học đi đôi với hành” qua đó người học có thói quen vận dụng kiến thức vào đời sống từ đó có thái độ yêu thích môn học đó cũng là một nguyên nhân làm người học tích cực

- Thông thường BTHH được sử dụng dưới dạng giao nhiệm vụ học tập cho học sinh, qua đó rèn cho học sinh tính tự giác

- Sử dụng BTHH thường không bị lệ thuộc vào một khoảng thời gian học tập hoặc một không gian học tập nào đó nên giúp cho học sinh linh động hơn trong học tập

1.1.3.3 Sử dụng bài tập hóa học nhằm phát hiện và bồi dưỡng học sinh giỏi hóa học

- Hệ thống BTHH với sự đa dạng của các dạng bài tập sẽ giúp học sinh nắm vững kiến thức, kỹ năng một cách đầy đủ

- Dưới cùng một nội dung kiến thức, BTHH có thể diễn đạt theo nhiều cách khác nhau, lời giải của bài tập theo nhiều hướng, với những học sinh có năng lực tư duy thì BTHH là tài liệu quan trọng để đo được năng lực tư duy, với một bài tập nhưng có nhiều cách giải khác nhau sẽ đánh giá được năng lực tư duy của HS, từ đó phát hiện và bồi dưỡng được HS trở thành HSG

1.1.4 Lý luận về bồi dưỡng HSG ở trường THPT

1.1.4.1 Quan niệm về HSG [22]

Trong sự phát triển giáo dục của một đất nước, vấn đề đào tạo và bồi dưỡng HSG đều coi trọng

Theo luật bang Georgia (Mỹ) định nghĩa: “HSG đó là những HS chứng minh được

trí tuệ ở trình độ cao và có khả năng sáng tạo thể hiện ở động cơ học tập mãnh liệt và đạt kết quả xuất sắc trong lĩnh vực lý thuyết hoặc khoa học; là đối tượng cần

có một sự giáo dục đặc biệt để đạt được trình độ giáo dục tương ứng với năng lực của con người đó”

Cho dù quan niệm như thế nào thì xét cho cùng mục tiêu chính của chương trình dành cho HSG đối với các nước đều khá giống nhau ở một số đặc điểm, đó là:

- Phát triển phương pháp suy nghĩ ở trình độ cao phù hợp khả năng trí tuệ của trẻ

- Phát triển các kĩ năng, phương pháp và thái độ tự học suốt đời

- Bồi dưỡng sự lao động, làm việc sáng tạo

- Nâng cao ý thức và khát vọng của trẻ về sự tự chịu trách nhiệm

Trang 20

1.1.4.2 Tầm quan trọng của việc bồi dưỡng học sinh giỏi

Đảng ta quan niệm “ Hiền tài là nguyên khí của quốc gia” và rất coi trọng việc bồi dưỡng nhân tài cho đất nước Bộ Giáo dục và Đào tạo cũng có những chủ trương mới về công tác bồi dưỡng học sinh giỏi Luật GD 2005 đã khẳng định mục tiêu của giáo dục “Đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện, có đạo đức, tri thức, sức khỏe, thẩm mỹ và nghề nghiệp, trung thành với lí tưởng độc lập dân tộc

và chủ nghĩa xã hội; hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực” Nhiệm vụ quan trọng của ngành giáo dục là phát hiện những HS có tư chất thông minh, khá giỏi nhiều môn học, bồi dưỡng các em trở thành những HS có tình yêu đất nước, có ý thức tự lực, có nền tảng kiến thức vững vàng, có phương pháp tự học, tự nghiên cứu, có sức khỏe tốt để tiếp tục đào tạo thành nhân tài đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong thời kỳ hội nhập quốc tế

Hiện nay trong hệ thống giáo dục phổ thông vấn đề phát hiện, xây dựng và đào tạo những học sinh có khả năng ở các lĩnh vực khác nhau vẫn luôn được duy trì và phát triển, đó là hệ thống các trường chuyên, năng khiếu ở các cấp phổ thông, hầu hết những học sinh giỏi này đều có nền tảng kiến thức tốt để học tập lên cao, có rất nhiều người đã từng là học sinh năng khiếu hoặc HSG khi còn ngồi trên ghế nhà trường, đã trở thành những nhân tài của đất nước cũng như nhân loại Chính vì vậy,

có thể nói bồi dưỡng HSG giỏi nhằm góp phần phát hiện, xây dựng và đào tạo

nhân tài cho đất nước là một trong những nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của các trường THPT

1.1.4.3 Những phẩm chất và năng lực cần có của một học sinh giỏi hóa học [18]

Trang 21

13

Theo phó giáo sư Bùi Long Biên (Trường ĐH Bách Khoa): "HSG hóa học phải là người nắm vững bản chất hiện tượng hóa học, nắm vững các kiến thức cơ bản đã được học, vận dụng tối ưu các kiến thức cơ bản đã được học để giải quyết một hay nhiều vấn đề mới trong các kì thi đưa ra"

Theo PGS.TS Trần Thành Huế: Nếu dựa vào kết quả bài thi để đánh giá thì bài thi

đó phải hội tụ những yêu cầu sau đây:

a Có kiến thức hóa học cơ bản vững vàng, sâu sắc, hệ thống.HS có năng lực tiếp thu kiến thức vượt trội, tức là khả năng nhận thức vấn đề nhanh, rõ ràng; có ý thức

bổ sung và hoàn thiện kiến thức

b Có năng lực ghi nhớ, tư duy tốt và sáng tạo, khả năng suy luận logic Biết phân tích sự vật, hiện tượng qua các dấu hiệu đặc trưng của chúng, biết so sánh, tổng hợp, khái quát hóa các sự vật hiện tượng

c Có năng lực trình bày và diễn đạt chính xác, logic

e Có năng lực kiểm chứng Biết suy xét sự đúng sai từ một loạt sự kiện, biết khẳng định hoặc bác bỏ một đặc trưng nào đó trong sản phẩm do mình làm ra Biết chỉ ra một cách chắc chắn các dữ liệu cần phải kiểm nghiệm sau khi thực hiện một số lần kiểm nghiệm

d Có năng lực thực hành thí nghiệm tốt, khả năng quan sát, mô tả, nhận xét, giải thích các hiện tượng; vận dụng lý thuyết để điều khiển thực nghiệm và từ thực nghiệm kiểm tra các vấn đề lý thuyết

e Có năng lực tư duy độc lập, sáng tạo, có khả năng nghiên cứu khoa học

g Có khả năng vận dụng, kĩ năng để giải quyết các vấn đề trong học tập và thực tiễn

1.1.4.4 Những năng lực giáo viên cần có khi bồi dưỡng học sinh giỏi hóa học

Một giáo viên khi dạy bồi dưỡng HSG HH đòi hỏi phải có khá nhiều các kỹ năng

và năng lực quan trọng như:

- Năng lực trí tuệ, bởi muốn có trò giỏi thì người thầy trước tiên phải giỏi

- Năng lực trình độ chuyên môn, khi người thầy có chuyên môn sâu và vững có thể truyền đạt cho trò một cách chính xác và cặn kẽ các vấn đề cần quan tâm

- Lập kế hoạch bồi dưỡng HSG phù hợp với năng lực của HS

- Có kĩ năng giao tiếp, kĩ năng truyền đạt rõ ràng, dễ hiểu, chính xác

Trang 22

14

- Có kĩ năng lựa chọn và sử dụng PPDH phù hợp với nội dung dạy học và đối tượng học sinh

- Biết giám sát, theo dõi, tiếp nhận thông tin phản hồi từ HS và đồng nghiệp

- Có kĩ năng tiến hành thí nghiệm và sử dụng các thiết bị hỗ trợ dạy học như tranh vẽ, máy tính, máy chiếu, phần mềm hóa học…

- Có kĩ năng xây dựng bài tập và ra đề kiểm tra

- Có kĩ năng nghiên cứu khoa học

- Có phẩm chất đạo đức tốt, yêu thương, quý trọng học sinh, biết hi sinh cho mục tiêu giáo dục chung

mạnh mẽ thúc đẩy việc bồi dưỡng, đào tạo nhân tài cho đất nước”

- SGK hóa học đã được bổ sung, cập nhật khá nhiều kiến thức mới đặc biệt là các lý thuyết chủ đạo tạo điều kiện cho HS nghiên cứu hóa học sâu hơn, rộng hơn

và có tác dụng kích thích động cơ học tập, phát huy khả năng tự học của HS

- Ở hầu hết các trường THPT, ban giám hiệu nhà trường luôn chỉ đạo, quan tâm sâu sát và kịp thời , có những kế hoạch cụ thể, lâu dài trong công việc bồi dưỡng HSG Giáo viên có trình độ chuyên môn vững vàng, có nhiều kinh nghiệm và tâm huyết trong công tác bồi dưỡng HSG

1.2.1.2 Khó khăn

- Chế độ chính sách cho GV bồi dưỡng HSG và HSG còn thấp, do đó không có sức thu hút GV đầu tư nghiên cứu để bồi dưỡng HSG và HS không có động lực để tham gia Mặc dù có sự chỉ đạo của nhà trường nhưng công tác bồi dưỡng HSG còn mang tính tự phát, tùy lúc, tùy nơi, tùy trường (trừ các trường chuyên ), đặc biệt phụ thuộc vào kinh phí cơ sở vật chất và sự quan tâm của các trường

- Đa số giáo viên dạy bồi dưỡng vừa phải bảo đảm chất lượng đại trà, vừa phải hoàn thành chỉ tiêu chất lượng mũi nhọn và công tác kiêm nhiệm do đó cường độ làm việc quá tải và việc đầu tư cho công tác bồi dưỡng HSG cũng có phần bị hạn chế

Trang 23

15

- Học sinh học chương trình chính khóa phải học quá nhiều môn, lại phải học thêm những môn khác, cộng thêm chương trình bồi dưỡng HSG nên rất hạn chế về thời gian tự học nên các em đầu tư ít thời gian cho việc học bồi dưỡng HSG, do đó kết quả không cao là điều tất yếu

- Đa số phụ huynh và các em HS đều muốn con em mình đầu tư thời gian ôn thi đại học nên không khuyến khích hoặc không muốn cho con em mình tham gia đội tuyển HSG vì học tập vất vả, tốn nhiều thời gian mà có ít quyền lợi

- Tài liệu dạy chuyên hay tài liệu bồi dưỡng HSG ở các trường THPT rất ít Giáo viên dạy bồi dưỡng đều phải tự soạn chương trình dạy, theo kinh nghiệm của bản thân, theo chủ quan, tự nghiên cứu, tự sưu tầm tài liệu

- SGK và các tài liệu tham khảo vẫn còn có nhiều điểm không khớp nhau về kiến thức, gây khó khăn cho GV và HS nghiên cứu,

- Cách thức ra đề còn bất cập, kiến thức thực tiễn, thực hành còn hạn chế, chủ yếu kiến thức mang tính hàn lâm lí thuyết

1.2.2 Một số biện pháp bồi dưỡng HSG hóa học ở bậc THPT [22]

1.2.2.1 Nhà trường

a Chuẩn bị cở sở dạy học

- Xây dựng môi trường dạy học phù hợp

- Chuẩn bị tài liệu; phương tiện, thiết bị dạy học (máy tính, máy chiếu, tranh ảnh, hình vẽ, băng hình, mô hình, dụng cụ, hóa chất thí nghiệm…) đầy đủ

- Cơ sở vật chất đầy đủ: phòng học, phòng thí nghiệm, phòng bộ môn…

- Có những chế độ động viên, khuyến khích khen thưởng đối với giáo viên và học sinh tham gia bồi dưỡng học sinh giỏi

1.2.2.2 Xây dựng niềm tin trong mỗi HS và phụ huynh HS

Trang 24

16

- Cho HS và phụ huynh HS thấy được lợi ích việc học trong đội tuyển HSG, niềm vinh dự cho bản thân, gia đình và nhà trường

- Thường xuyên quan tâm, giúp đỡ và hiểu tâm lí của mỗi HS

- Giao các nhiệm vụ vừa sức cho HS và nâng dần độ khó của yêu cầu

- L u ô n khuyến khích và động viên kịp thời đối với từng HS (có chế độ khen thưởng rõ ràng)

- Cần kiểm tra, đánh giá năng lực của từng HS thường xuyên và từ đó uốn nắn, điều chỉnh, bổ sung, nâng cao kiến thức, kĩ năng kịp thời cho các em

- Giúp các em thấy được vai trò của hóa học đối với đời sống từ đó giúp các em định hướng nghề nghiệp

1.2.2.3 Soạn thảo nội dung dạy học và có PPDH phù hợp

a.Nội dung dạy học

Biên soạn chương trình, nội dung bồi dưỡng rõ ràng, cụ thể, chi tiết cho từng khối, lớp, về từng mảng kiến thức rèn luyện các kỹ năng theo quy trình từ thấp đến cao,

- Xác định rõ trọng tâm kiến thức giảng dạy

- GV sưu tầm các bộ đề thi các cấp trong tỉnh nhà và các tỉnh khác thông qua công nghệ thông tin nhằm giúp các em tiếp xúc làm quen với các dạng đề , luôn tìm đọc, tham khảo các tài liệu hay để hướng cho học sinh

- Giáo viên hướng dẫn học sinh tìm các tài liệu, sách vở, băng đĩa tham khảo phù hợp để học sinh có thể tự học, tự nghiên cứu, bổ sung kiến thức

b Phương pháp dạy học

- Người thầy sử dụng phương pháp dạy học hợp lý sao cho phát huy được tối đa tính tích cực, tính sáng tạo, khả năng tự học và nội lực tiềm ẩn trong mỗi HS

- Kết hợp linh hoạt giữa các phương pháp dạy học

- GV nên phát tài liệu trước để HS nghiên cứu ở nhà, khi đến lớp GV sẽ giải đáp những thắc mắc của HS và giảng giải những phần khó, phức tạp

Trang 25

17

- Chia H S thành n hóm, giao nhiệm vụ cho từng nhóm GV tổ chức cho từng nhóm báo cáo, các nhóm còn lại lắng nghe, chất vấn, nhận xét, cho điểm; cuối cùng GV tổng kết, đánh giá chung

- Tổ chức cho HS tham gia các chuyên đề nghiên cứu khoa học (dạy học dự án) phù hợp với năng lực của HS

- Tổ chức cho HS tham quan các nhà máy, xí nghiệp và HS phải viết báo cáo theo chủ đề sau mỗi lần tham quan

1.2.2.4.Kiểm tra, đánh giá

Để quá trình kiểm tra, đánh giá học sinh có hiệu quả tốt thì phải có tiêu chuẩn rõ ràng, việc đánh giá đúng sẽ giúp HS có động cơ học tập tích cực để đạt được kết quả cao nhất

- Đánh giá HSG cần dựa trên cơ sở: khả năng tinh thần, trí tuệ, sáng tạo và động cơ

học tập

- Để đánh giá chính xác khả năng của HS giỏi cần sử dụng nhiều loại hình đánh giá, nhiều phương pháp: trắc nghiệm tự luận, trắc nghiệm khách quan, quan sát, phỏng vấn, thuyết trình, thảo luận…

- Trong quá trình dạy học, cần kết hợp một cách hợp lý hình thức trắc nghiệm tự luận với hình thức trắc nghiệm khách quan Đề kiểm tra nên có 30% trắc nghiệm khách quan và 70% trắc nghiệm tự luận

- Nội dung đề thi cần kiểm tra được một cách toàn diện trình độ của HS Tăng cường các câu hỏi yêu cầu HS suy nghĩ, trả lời theo cách hiểu và vận dụng

Trang 26

Những lý luận về bài tập trong dạy học hóa học ở trường THPT: Khái niệm,

phân loại, vai trò, ý nghĩa của bài tập trong dạy học hóa học ở trường THPT

Những lý luận về sử dụng bài tập hóa học trong dạy học ở trường THPT:Đặc

trưng của việc dạy học thông qua bài tập Hóa học, sử dụng bài tập hóa học

để tích cực hóa người học nhằm phát hiện và bồi dưỡng học sinh giỏi hóa học

Những lý luận về bồi dưỡng HSG ở trường THPT: Quan niệm về HSG, tầm

quan trọng của việc bồi dưỡng học sinh giỏi,những phẩm chất và năng lực cần có của một HSG hóa học và giáo viên khi bồi dưỡng HSG hóa học

 Cơ sở thực tiễn về công tác bồi dưỡng HSG ở trường THPT:

 Thông qua điều tra tìm hiểu thực tế công tác bồi dưỡng HSG ở trường THPT: Những thuận lợi và khó khăn

Một số biện pháp bồi dưỡng HSG hóa học ở bậc THPT

Trang 27

19

CHƯƠNG 2 TUYỂN CHỌN, XÂY DỰNG VÀ SỬ DỤNG HỆ THỐNG BÀI TẬP PHẦN KIM LOẠI ĐỂ BỒI DƯỠNG HỌC SINH GIỎI HÓA TRUNG HỌC PHỔ

THÔNG LỚP 12 – NÂNG CAO 2.1 Cơ sở tuyển chọn và xây dựng hệ thống bài tập

2.1.1 Theo cấu trúc chương trình sách giáo khoa

Hệ thống bài tập được sắp xếp theo chương trình SGK đã được chuẩn hóa, cấu trúc này có sự hợp lí vì được sắp xếp cùng chiều với chương trình học của HS, nhờ đó

HS sẽ dễ dàng định hình được chương trình

2.1.2 Theo năng lực nhận thức của học sinh

Hệ thống bài tập được xây dựng phù hợp với sự tiếp thu kiến thức, mức độ nhận

thức của học sinh như từ biết, hiểu đến vận dụng và sáng tạo

2.1.3 Theo dạng bài tập

Hệ thống bài tập sắp xếp theo dạng kiến thức, dạng bài tập như: Bài tập về sơ đồ phản ứng, bài tập nhận biết, bài tập tách và tinh chế các chất, bài tập dùng đồ thị,

bài tập biện luận lượng chất trước và sau phản ứng…

2.2 Nguyên tắc tuyển chọn và xây dựng hệ thống bài tập hóa học

2.2.1 Hệ thống bài tập phải đảm bảo tính chính xác, khoa học

Khi tuyển chọn và xây dựng nội dung của bài tập phải có sự chính xác về kiến thức hóa học, bài tập cho đủ các dữ kiện Các bài tập không được thiếu chính xác về ngôn ngữ diễn đạt, nội dung thiếu logic chặt chẽ Giáo viên khi ra bài tập cần nói, viết một cách chính xác, đảm bảo logic và tính khoa học về mặt ngôn ngữ hóa học

2.2.2 Hệ thống bài tập phải đảm bảo tính hệ thống, tính đa dạng

Khi tuyển chọn và xây dựng bài tập cho học sinh cần vận dụng quan điểm hệ thống, cấu trúc Mỗi bài tập tương ứng với một kĩ năng nhất định vì bài tập không thể dàn trải cho mọi kĩ năng Toàn bộ hệ thống gồm nhiều bài tập sẽ hình thành hệ thống kĩ năng toàn diện cho HSG hóa học

Mặt khác, hệ thống bài tập còn phải được tuyển chọn và xây dựng một cách đa dạng, phong phú về mặt kiến thức

Trang 28

20

2.2.3 Hệ thống bài tập phải phù hợp với mức độ nhận thức

Bài tập phải được tu yển chọn và xây dựng từ dễ đến khó, từ đơn giản đến phức tạp Hệ thống bài tập phù hợp với mức độ phát triển tâm sinh lí, mức độ nhận thức của học sinh, những nội dung kiến thức của BTHH phải đảm bảo để học sinh có thể

sử dụng được, không mang tính đánh đố Các bài tập phải có đủ loại điển hình và tính mục đích rõ ràng, gây được hứng thú, kích thích trí sự tìm tòi quyết tâm đạt được kết quả chứ không mang tính chất ép buộc Với hệ thống bài tập được xây dựng theo nguyên tắc này sẽ là bước khởi đầu tạo dựng niềm tin và sự say mê hoá học cho HS, sẽ tạo cho HS niềm vui, một sự hưng phấn , kích thích tư duy và nỗ lực tìm hiểu

2.2.4 Hệ thống bài tập phải mở rộng kiến thức, vốn hiểu biết của HS

Hệ thống bài tập vừa cung cấp những kiến thức trong sách giáo khoa vừa mở rộng kiến thức giúp học sinh có cái nhìn toàn diện hơn về nội dung chương trình.Kiến thức mở rộng không chỉ là kiến thức lý thuyết nâng cao mà còn phải bổ sung các kiến thức thực tiễn để vận dụng vào đời sống

2.2.5 Hệ thống bài tập phải phát triển năng lực nhận thức, rèn luyện kỹ năng hóa học cho học sinh

Hệ thống bài tập g i ú p h ọ c s i n h phát triển năng lực nhận thức, rèn luyện kỹ

năng hóa học cho học sinh như : năng lực phát hiện vấn đề và giải quyết vấn đề, năng lực phân tích, suy luận, diễn đạt logic, chính xác…các kỹ năng thực hành, vận dụng kiến thức giải quyết các vấn đề thực tiễn

2.3 Quy trình xây dựng hệ thống bài tập

2.3.1 Xác định mục đích của hệ thống bài tập

Mục đích xây dựng hệ thống bài tập phần kim loại nhằm phát triển năng lực nhận thức, rèn luyện kĩ năng hóa học cho học sinh giỏi hóa học

2.3.2 Xác định nội dung hệ thống bài tập

Nội dung của hệ thống bài tập phải bao quát được kiến thức phần kim loại trong chương trình hoá 12, bao gồm:

- Hệ thống kiến thức đại cương về kim loại: Cấu tạo nguyên tử, cấu tạo tinh thể, tính chất vật lý, tính chất hóa học, điều chế, sự điện phân, ăn mòn kim loại

Trang 29

2.3.3 Xác định loại bài tập, các kiểu bài tập

Hiện nay có nhiều cách phân loại bài tập khác nhau Dựa vào đặc điểm nội dung bài tập, chúng tôi chia thành các loại bài tập sau:

- Bài tập định tính

- Bài tập định lượng

Đặc trưng của bài tập định tính là đề bài không yêu cầu phải tính toán trong quá trình giải và yêu cầu phải xác lập những mối liên hệ nhất định giữa các kiến thức và các kĩ năng

Đặc trưng của bài tập định lượng là trong đề bài phải trong quá trình giải, có tính toán các số liệu định lượng Tuỳ thuộc vào đặc điểm của từng bài tập cụ thể mà chúng được giải theo nhiều cách khác nhau, các phương pháp này đã được nhiều tài liệu tham khảo trình bày khá chi tiết

2.3.4 Thu thập thông tin để soạn hệ thống bài tập

Gồm các bước cụ thể sau:

Nghiên cứu các tài liệu hướng dẫn nội dung thi chọn HSG cấp tỉnh, thành phố, nội dung thi chọn HSG quốc gia của Bộ Giáo dục và đào tạo, các kì thi Olympic hóa học trông nước và quốc tế

- Sưu tầm, phân tích các đề thi chọn HSG môn hóa của các tỉnh, thành phố Hải Phòng, Vĩnh Phúc, Phú Thọ, Đà Nẵng, Long An, Nghệ An… từ năm 2000 đến 2012; đề thi chọn HSG quốc gia từ năm 2000 đến 2012; đề thi Olympic hóa học …

- Thu thập và tham khảo các tài liệu liên quan đến hệ thống bài tập cần xây dựng qua sách, báo, tạp chí, mạng internet

- Tìm hiểu, nghiên cứu thực tế những nội dung hóa học có liên quan đến thực tiễn của đời sống

2.3.5 Tiến hành xây dựng hệ thống bài tập

Gồm các bước sau:

Trang 30

22

2.3.5.1 Soạn từng loại bài tập: Chọn lọc bài tập từ các nguồn tài liệu và đề thi sưu

tầm phù hợp với nội dung hệ thống bài tập cần xây dựng

2.3.5.2 Chỉnh sửa các bài tập chưa phù hợp như quá khó hoặc quá nặng nề, chưa

chính xác…

2.3.5.3 Chọn lọc bài tập theo từng giai đoạn nhận thức: Từ đơn giản đến phức tạp,

từ mức độ nhận thức hiểu biết đến vận dụng và sáng tạo

2.3.5.4 Xây dựng bài tập bồi dưỡng HSG hóa học

Ngoài tuyển chọn, GV phải biết cách xây dựng bài tập phù hợp với trình độ nhận thức, rèn kỹ năng giải quyết vấn đề thông qua một số cách sau:

a Lược bớt hoặc chia nhỏ

Có thể lược bớt phần không cần thiết hoặc chia nhỏ nội dung của một bài tập phức tạp mà vẫn giữ nội dung trọng tâm

Ví dụ : Bài toán gốc: Sục khí CO2 dư vào dung dịch NaOH, đun nóng dung dịch sau phản ứng cho đến khi không có khí thoát ra thì thu được dung dịch A Cho A tác dụng lần lượt với dung dịch AlCl3, Fe(NO3)3 , MgCl2, BeCl2, Ba(NO3)2 Nêu hiện tượng, viết pthh giải thích

Biến đổi thành các bài toán: Nêu hiện tượng và viết pthh xảy ra (nếu có) khi cho

dung dịch Na2CO3 tác dụng với dung dịch AlCl3, Fe(NO3)3, MgCl2, BeCl2

Giải:

+ Cho dung dịch Na2CO3 tác dụng với dung dịch AlCl3 thấy có kết tủa keo trắng và

có khí không màu thoát ra:

3Na 2 CO 3 + 2AlCl 3 + 3H 2 O → 6NaCl + 2Al(OH) 3 + 3CO 2

+ Cho dung dịch Na2CO3 tác dụng với dung dịch Fe(NO3)3 thấy có kết tủa nâu đỏ

và có khí không màu thoát ra

3Na 2 CO 3 + 2FeCl 3 + 3H 2 O → 6NaCl + 2Fe(OH) 3 + 3CO 2

+ Cho dung dịch Na2CO3 tác dụng với dung dịch MgCl2 thấy có kết tủa trắng :

Na 2 CO 3 + MgCl 2 + H 2 O → NaCl + Mg(OH) 2 MgCO 3

+ Cho dung dịch Na2CO3 tác dụng với dung dịch BeCl2 thấy có kết tủa trắng :

Na 2 CO 3 + BeCl 2 + H 2 O → NaCl + xBe(OH) 2 yBeCO 3

b Thay đổi mức độ yêu cầu hoặc hình thức bài tập mà nội dung kiến thức không đổi

Trang 31

23

Có thể thay đổi dữ kiện của một bài toán để trở thành bài toán mới, hay thay đổi các

số liệu dẫn đến thay đổi cách giải quyết bài toán

Ví dụ 1: Bài toán gốc: Cho một kim loại A tác dụng với một dung dịch nước của

muối B Hãy tìm các kim loại và các dung dịch muối thỏa mãn A, B nếu xảy ra một trong các hiện tượng sau đây:

a Kim loại mới kết tủa bám lên kim loại A

b Dung dịch mất màu vàng

c Dung dịch đổi màu vàng sang màu xanh

d Không có hiện tượng gì

e Có một chất khí bay lên

f Có một chất khí bay lên có kết tủa màu trắng lẫn màu xanh

g Có 2 khí bay lên

h Có khí bay lên có kết tủa keo trắng rồi tan hết khi dư A

i Có khí bay lên và có chất lỏng tạo ra phân thành 2 lớp

Có thể chuyển thành bài tập sau: Nêu hiện tượng và viết pthh xảy ra khi cho :

a Na tác dụng với dung dịch NaCl, CuSO4, NH4NO3, C6H5NH3Cl

b Ba tác dụng với dung dịch CuSO4, AlCl3

c Cu, Fe tác dụng với dung dịch FeCl3, AgNO3

Giải: a 2Na + 2H2O  2NaOH + H2

+ Na tác dụng với dung dịch NaCl có khí bay lên

+ Na tác dụng với dung dịch CuSO4 có khí bay lên và trong dung dịch có kết tủa xanh lam: 2NaOH + CuSO4 Cu(OH)2 + Na2SO4

+ Na tác dụng với dung dịch NH4NO3 có khí bay lên khí có mùi khai

Ba tác dụng với dung dịch AlCl3 có khí bay lên có kết tủa keo trắng rồi tan hết khi

dư Ba(OH)2: 3Ba(OH)2 + 2AlCl3 2Al(OH)3 + 3BaCl2

Trang 32

24

Ba(OH)2 + 2Al(OH)3 Ba[Al(OH)4]2

c Cu tác dụng với dung dịch FeCl3 : Dung dịch màu vàng nhạt dần chuyển sang màu xanh: Cu + 2FeCl3 CuCl2 + 2FeCl2

+ Cu tác dụng với dung dịch AgNO3 : Kim loại mới bám vào lá Cu

Cu + 2AgNO3 Cu(NO3)2 + 2Ag + Fe tác dụng với dung dịch FeCl3 : Dung dịch màu vàng nhạt dần:

Fe + 2FeCl3  3FeCl2+ Fe tác dụng với dung dịch AgNO3 : Kim loại mới bám vào thanh kim loại ban đầu

Fe + 2AgNO3 Fe(NO3)2 + 2Ag

+ Nếu cho bột Fe tác dụng với dung dịch AgNO3 dư, dung dịch chuyển sang màu vàng: Fe +3AgNO3 Fe(NO3)3 + 3Ag

Ví dụ 2: Bài toán gốc: Có một dung dịch A chứa MgCl2( 10-3M) và FeCl3( 10-2M) Cho dung dịch NaOH tác dụng với dung dịch A Cho

Kết tủa nào được tạo ra trước? Vì sao?

Bài toán thay đổi mức độ yêu cầu:

Tìm trị số pH thích hợp để tách ion trong 2 ion Mg2+ và Fe3+ ra khỏi dung dịch A chứa MgCl2( 10-3M) và FeCl3( 10-2M) Cho

Giải: Bài toán gốc :

Điều kiện để tạo kết tủa Mg(OH)2 là OH 2 10 113

độ OH

để tạo kết tủa Mg(OH)2, nên Fe(OH)3 kết tủa trước

Bài toán thay đổi mức độ yêu cầu: Để tách được ion trong 2 ion Mg2+ và Fe3+ ra khỏi dung dịch A cần tìm điều kiện để Fe(OH)3 kết tủa hoàn toàn và Mg(OH)2chưa kết tủa

Giải: Điều kiện để tạo kết tủa Fe(OH)3 hoàn toàn là OH3>

39

6

1010

Trang 33

c Thay đổi hình thức phát triển bài tập theo nhiều hướng

Đa dạng hóa cách diễn đạt bài tập, từ dạng bài tập tự luận chuyển sang dạng bài tập trắc nghiệm và ngược lại, từ dạng dãy chuyển hóa chuyển sang điều chế, từ bài tập

về cách điều chế chuyển sang bài tập ứng dụng…

Ví dụ 1: Bài toán ban đầu: Hoàn thành pthh theo sơ đồ sau:

AlCl3  NaAl(OH)4  Al(OH)3  Al2O3  Al

Bài toán thay đổi: Viết các phương trình phản ứng điều chế các kim loại riêng biệt

từ hỗn hợp gồm CuO, Al2O3, AlCl3 và CuCl2

Ví dụ 2: Sục từ từ khí CO2 vào dung dịch nước vôi trong tới dư, nêu hiện tượng và viết pthh giải thích

Bài toán biến đổi:

Bài 1: Tiến hành thí nghiê ̣m như hình vẽ Ban đầu

trong cốc chứa vôi sữa Sục rất từ từ khí CO2 vào cốc

cho tới dư Hỏi độ sáng của bóng đèn thay đổi như

thế nào? Giải thích ?

Giải thích: Ca(OH)2 + CO2 CaCO3 + H2O (1)

CaCO3 + CO2 + H2O  Ca(HCO3)2 (2)

 Ban đầu không đổi: Ca(OH)2 hòa tan bị giảm do phản ứng (1) lại được bổ sung từ Ca(OH)2 dạng huyền phù

 Sau đó giảm dần: Do Ca(OH)2 huyền phù đã tan hết

 Có thể tắt khi Ca(OH)2 vừa hết, sau đó sáng dần, cuối cùng sáng hơn ban đầu Do CaCO3 tan ra ở phản ứng (2)

Bài 2: Tính thể tích khí CO2(đktc) sục từ từ vào 0,5 lít dung dịch chứa Ca(OH)20,2M để sau phản ứng :

a Thu được 2 muối

b Dung dịch thu được có một chất tan

Trang 34

26

c Thu được hai muối có số mol bằng nhau

d.Thu được hai muối có khối lượng bằng nhau

e Dung dịch phản ứng với NaHCO3 tạo kết tủa

g Dung dịch phản ứng với AlCl3 dư không tạo thành kết tủa

Giải: Số mol Ca(OH)2 = 0,2.0,5 = 0,1 mol

c Thu được hai muối có số mol bằng nhau: số mol CO2 = 0,15 mol Vco2= 3,36 lít

d.Thu được hai muối có khối lượng bằng nhau: Giả sử khối lượng của 2 muối = m

e Dung dịch phản ứng với NaHCO3 tạo kết tủa chứng tỏ dư Ca(OH)2

Vậy số mol CO2 < 0,1 hay Vco2< 2,24 lít

g Dung dịch phản ứng với AlCl3 dư không tạo thành kết tủa chứng tỏ không dư Ca(OH)2 vậy số mol CO2 > 0,1 hay

2

co

V > 2,24 lít

d Xây dựng các bài tập tương tự nhau

Ví dụ 1: Ở dạng bài toán muối nhôm tác dụng với dung dịch kiềm có thể có các bài

sau:

Bài 1: Cho 150ml dd KOH 1,2M tác dụng với 100ml dd AlCl3 nồng độ x mol/l, thu được dd Y và 4,68g kết tủa Loại bỏ kết tủa, thêm tiếp 175ml dd KOH 1,2M vào Y, thu được 2,34g kết tủa Tính x

Bài 2: Thêm m gam Kali vào 300ml dd chứa Ba(OH)2 0,1M và NaOH 0,1M thu được dd X Cho từ từ dd X vào 200ml dd Al2(SO4)3 0,1M thu được kết tủa Y Tìm

m để thu được lượng kết tủa Y lớn nhất

Ví dụ 2: Ở dạng bài toán dung dịch muối có tính bazơ ( bị thủy phân cho môi

trường bazơ ) có thể có các bài sau:

Trang 35

27

Bài 1: Cho dung dịch K2S lần lượt vào 4 dung dịch AlCl3, FeCl2, NaHSO4, FeCl3 được chứa trong 4 ống nghiệm riêng Nêu hiện tượng và viết các phương trình phản ứng xảy ra

Giải: Khi cho dung dịch K2S lần lượt vào ống nghiệm chứa các dung dịch trên thì:

- Ống nghiệm chứa AlCl3 xuất hiện kết tủa trắng keo và có hiện tượng sủi bọt khí:

2AlCl3 + 3 K2S + 3H2O  6KCl + 2Al(OH)3 + 3H2S

- Ống nghiệm chứa dung dịch NaHSO4 có hiện tượng sủi bọt khí:

2 NaHSO4 + K2S  2K2SO4 + H2S

- Ống nghiệm chứa FeCl2xuất hiện kết tủa đen: K2S + FeCl2  FeS + 2NaCl

- Ống nghiệm chứa FeCl3 xuất hiện kết tủa đen và vàng:

2FeCl3 + 3K2S  6KCl + S + 2FeS

Bài 2: Cho dung dịch K2CO3 lần lượt vào 4 dung dịch AlCl3, FeSO4, NaHSO4, FeCl3 được chứa trong 4 ống nghiệm riêng Nêu hiện tượng và viết các phương trình phản ứng xảy ra

Giải: Khi cho dung dịch K2CO3 lần lượt vào ống nghiệm chứa các dung dịch trên:

- Ống nghiệm chứa AlCl3 xuất hiện kết tủa trắng keo trắng và có hiện tượng sủi bọt khí: 2AlCl3 + 3 K2CO3 + 3H2O  6KCl + 2Al(OH)3 + 3CO2

- Ống nghiệm có hiện tượng sủi bọt khí, chứa dung dịch NaHSO4

2 NaHSO4 + K2CO3 K2SO4 + CO2+ H2O + Na2SO4

- Ống nghiệm chứa FeSO4 xuất hiện kết tủa trắng :

K2CO3 + 2FeSO4 + H2O  Fe(OH)2 + K2SO4 + CO2

- Ống nghiệm chứa FeCl3 xuất hiện kết tủa nâu đỏ và có khí bay lên:

2FeCl3 + 3K2CO3+ 3H2O  6KCl + 2Fe(OH)3 + 3CO2

Bài 3: Nhận biết 4 dung dịch AlCl3, FeSO4, NaHSO4, FeCl3 bị mất nhãn sau bằng một chất thử duy nhất

e Xây dựng những bài tập có sử dụng các phương pháp giải bài tập hóa học phổ thông thông dụng như phương pháp bảo toàn, phương pháp đường chéo, phương pháp chọn lượng chất, phương pháp tăng giảm, đồ thị… đặc biệt những bài tập có yếu tố biện luận

Ví dụ 1: Dung dịch X gồm AgNO3 và Cu(NO3)2 có cùng nồng độ Lấy một lượng hỗn hợp gồm 0,03 mol Al; 0,05 mol Fe cho vào 100 ml dung dịch X cho tới khí

Trang 36

28

phản ứng kết thúc thu được chất rắn Y và dung dịch Z.Cho Y vào dd HCl dư giải phóng 0,07 gam khí Cho dung dịch Z tác dụng với dung dịch NaOH dư thu được kết tủa.Tính nồng độ các muối trong dung dịch X

Giải: Gọi dung dịch X chứa CM(AgNO3) = CM(Cu(NO3)2) = a M

dd Z chứa Al(NO3)3 và Fe(NO3)2 + ddNaOH dư Fe(OH)2

Chất rắn Y chứa : Ag, Cu, Fe dư

Cho Y + ddHCl dư : Fe + 2HCl  FeCl2 + H2

Số mol Fe dư = số mol H2 = 0,035 mol

Khi cho X( AgNO3, Cu(NO3)2 ) +(Al, Fe) có các quá trình:

Al  Al3+ + 3e

Fe  Fe2+ + 2e

Ag+ +1e  Ag

Cu2+ + 2e  Cu Theo định luật bảo toàn electron: Số mol e cho = số mol e nhận:

0,03.3 + (0,05– 0,035).2 = 0,1.a + 0,1.a.2 a = 0,4

Vậy CM(AgNO3) = CM(Cu(NO3)2) = 0,4M

Ví dụ 2: Điện phân (điện cực trơ) d u n g d ị c h X chứa 0,2 mol CuSO4 và 0,12

mol NaCl bằng dòng điện có cường độ 2A Cho đến khi có khí bắt đầu thoát ra ở catot thì dừng lại.Tính thể tích khí (đktc) thoát ra ở anot và thời gian điện phân?

Giải: Các quá trình xảy ra ở các điện cực

số mol Cl.1 + số mol O2.4 = 0,4 mol

Số mol khí thoát ra ở anot : Số mol O2 = (0,4 – 0,12)/4 = 0,07

Số mol khí thoát ra ở anot = 0,06 + 0,07 = 0,13 mol

V khí thoát ra ở anot = 0,13.22,4 = 2,912 lít

Thời gian điện phân = 0,4 96500/2 =19300 giây

Ví dụ 3: Cho m gam hỗn hợp A gồm Cu, Mg, Fe, Al tác dụng với dung dịch HNO3

loãng, sau phản ứng thu được 8,96 lít hỗn khí X(đktc) gồm NO và N2O

có tỉ khối hơi so với H2 là 17,625 và dung dịch A Dung dịch A tác dụng với NaOH không có khí thoát ra Cô cạn dung dịch A thu được chất rắn đem nung đến khối lượng không đổi thu được a gam chất rắn Z Tính a theo m

Trang 37

29

Giải: Số mol X = 0,4 mol; M X = 17,625.2 = 35,25

Áp dụng sơ đồ đường chéo ta có: MNO = 30 8,75

35,25 M

Fe(NO3)3

CuO

a gam Al2O3 MgO

Fe2O3 Quá trình cho nhận e: N+5 + 2e  N+2

Ví dụ 4 Điện phân (điện cực trơ, màng ngăn xốp) dung dịch chứa m gam hỗn hợp

CuSO4 và NaCl cho tới khi H2O bắt đầu bị điện phân ở hai điện cực thì dừng lại Ở anot thu được 4,48 lít khí (đktc) Dung dịch sau khi điên phân có thể hòa tan tối đa 0,68 gam Al2O3

a Tính m

b Tính khối lượng catot tăng lên sau quá trình điện phân

c Tính khối lượng dung dịch giảm đi sau quá trình điện phân

Giải Các phương trình điện phân có thể sảy ra:

CuSO4 + 2NaCl dp Cu + Cl2 + Na2SO4 (1) Nếu sau (1) còn dư CuSO4: CuSO4 + H2O dp Cu + 1/2O2 + H2SO4 (2) Nếu sau (1) còn dư NaCl: 2NaCl + 2H2O dp 2NaOH + H2 + Cl2 (3)

Trang 38

30

Dung dịch sau điện phân tác dụng với Al2O3 nên chỉ có thể là H2SO4 hoặc NaOH

* Xét trường hợp 1: n NaCl 2n CuSO4

(a-b) 1/3(a-b) mol

Theo đầu bài: b + 1/2((a-b) = 0,02 mà ( ) 0, 68 0, 02

a b

a b

    Giải được: a = 0,03 ; b = 0,01 Vậy: m = 0,02.58,5 + 0,03.160 = 5,97 (gam)

Khối lượng catot tăng = mCu = 0,03.64 = 1,92 gam

Khối lượng dd giảm =

Đp: (mol) a 2a a a a

Sau đp 0 (2b-2a) a a a

2NaCl + 2H2O dp 2NaOH + H2 + Cl2 (3) 2(b-a) 2(b-a) (b-a) (b-a) mol

Trang 39

s = C Fe 2  = [Fe2+] + [FeOH+] = [Fe2+] + [Fe2+][H+]-1 = [Fe2+] (1 + [H+]-1) (1)

s = C S 2  = [S2–] + [HS–] + [H2S]

= [S2–] + Ka2-1 [S2–][H+] + ( Ka1Ka2)–1 [S2–][H+]2 = [S2–] [1 + Ka2–1[H+] + (Ka1Ka2)–1[H+]2] (2)

9.10 58

Trang 40

32

pH = 14 – pOH = 14 + lg(2.1,552.10-4) = 10,49

Ở 373K: T373 = 4

3 2

4.10 58

Ví dụ 3: Cho pin: (-)Pt H2 (1atm), H+, (C) Cl-, (C), AgCl(r) Ag(+)

+ Viết các phương trình phản ứng oxi hoá - khử ở các điện cực và phản ứng hoá học của pin

+ Biểu diễn sức điện động của pin ở 298 K theo V

Cho biết: 0

/ Ag Ag

E  = 0,779 V; 0

/H2H

E  = 0,00 V; TAgCl = 1,6.10-10 + Xác định G0Pin ở 298 K của phản ứng của pin

Giải: Pin: (-)Pt H2 (1atm), H+, (C) Cl-, (C), AgCl(r) Ag(+)

Phản ứng xảy ra ở điện cực: (+):AgCl + eAg + Cl- (-): 1/2 H2  H+ + e

E  = 0,201 - 0 = 0,201 V

∆G 0 pin = - 2.96500.0,779= - 150347 J

2.3.6 Tham khảo, trao đổi ý kiến với đồng nghiệp

Ngày đăng: 17/03/2021, 07:40

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w