1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Triển khai hoạt động đánh giá học sinh tại trường tiểu học trần quốc toản thành phố bắc ninh theo thông tư số 22 của bộ giáo dục và đào tạo

120 17 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 120
Dung lượng 4,85 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Giả thuyết nghiên cứu Hiện trạng hoạt động đánh giá kết quả học tập của học sinh tại trường Tiểu học Trần Quốc Toản theo TT30/2014/TT-BGDĐT và TT22/2016/TT/BGDĐT còn tồn tại một số bất

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC

NGUYỄN KIỀU TRANG

TRIỂN KHAI HOẠT ĐỘNG ĐÁNH GIÁ HỌC SINH TẠI TRƯỜNG TIỂU HỌC TRẦN QUỐC TOẢN, THÀNH PHỐ BẮC NINH THEO THÔNG TƯ 22

CỦA BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ GIÁO DỤC

HÀ NỘI - 2018

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC

NGUYỄN KIỀU TRANG

TRIỂN KHAI HOẠT ĐỘNG ĐÁNH GIÁ HỌC SINH TẠI TRƯỜNG TIỂU HỌC TRẦN QUỐC TOẢN, THÀNH PHỐ BẮC NINH THEO THÔNG TƯ 22

CỦA BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ GIÁO DỤC

CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ GIÁO DỤC

Mã số: 8140114

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS NGUYỄN HUY HOÀNG

HÀ NỘI - 2018

Trang 3

i

LỜI CẢM ƠN

Với tình cảm chân thành và lòng biết ơn sâu sắc, tôi xin trân trọng cảm ơn: Lãnh đạo trường Đại học Giáo Dục - Đại học Quốc Gia Hà Nội, Khoa Quản lý Giáo dục - Trường Đại học Giáo dục - Đại học Quốc gia Hà Nội; các thầy giáo, cô giáo tham gia công tác quản lý, giảng dạy… đã quan tâm, giúp đỡ và tạo mọi điều kiện cho tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu

Đặc biệt, tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc đối với thầy

giáo PGS.TS Nguyễn Huy Hoàng - Người hướng dẫn khoa học đã tận tình giúp

đỡ, luôn quan tâm, động viên, khích lệ, định hướng và tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất hướng dẫn tôi hoàn thành luận văn của mình

Cũng qua đây, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới: Phòng Giáo dục thành phố Bắc Ninh, Ban giám hiệu, cán bộ giáo viên và cha mẹ học sinh khối lớp 4, 5 của trường Tiểu học Trần Quốc Toản… đã luôn quan tâm, động viên, tạo mọi điều kiện thuận lợi, tham gia đóng góp ý kiến giúp tôi hoàn thành luận văn

Mặc dù bản thân đã có nhiều cố gắng và nỗ lực, song chắc hẳn sẽ còn những thiếu sót, kính mong nhận được sự chỉ bảo và tham gia đóng góp ý kiến của các nhà khoa học để luận văn được hoàn thiện hơn

Xin trân trọng cảm ơn!

Hà Nội, ngày 15 tháng 5 năm 2018

Tác giả

Nguyễn Kiều Trang

Trang 5

iii

MỤC LỤC

Trang

Lời cảm ơn i

Danh mục các chữ viết tắt ii

Danh mục các bảng vi

Danh mục biểu đồ, hình vii

MỞ ĐẦU 1

Chương 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ TRIỂN KHAI HOẠT ĐỘNG ĐÁNH GIÁ HỌC SINH TIỂU HỌC VÀ THÔNG TƯ 22 CỦA BỘ GIÁO DỤC & ĐÀO TẠO 6

1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề 6

1.1.1 Trên thế giới 6

1.1.2 Tại Việt Nam 7

1.2 Những khái niệm cơ bản của đề tài 9

1.2.1 Đánh giá 9

1.2.2 Đánh giá trong giáo dục, hoạt động đánh giá học sinh 9

1.2.3 Triển khai hoạt động đánh giá học sinh 11

1.3 Một số vấn đề lí luận về đánh giá trong giáo dục, đánh giá học sinh 12

1.3.1 Vị trí, vai trò, chức năng của hoạt động đánh giá trong giáo dục 12

1.3.2 Nguyên tắc đánh giá trong giáo dục 13

1.3.3 Các hình thức, phương pháp của hoạt động đánh giá trong giáo dục 15

1.3.4 Quy trình của hoạt động đánh giá trong giáo dục 20

1.4 Một số nội dung đánh giá học sinh tiểu học theo TT30/2014/TT-BGDĐT và TT22/2016/TT/BGDĐT của Bộ giáo dục và đào tạo 21

1.4.1 Mục đích, yêu cầu, đối tượng đánh giá 21

1.4.2 Những điểm đổi mới về đánh giá học sinh theoTT22/2016/TT/BGDĐT 24

1.5 Triển khai hoạt động đánh giá HS tiểu học theo TT 22 của Bộ GD&ĐT 25

1.5.1 Lập kế hoạch hoạt động đánh giá học sinh 25

1.5.2 Tổ chức thực hiện hoạt động đánh giá học sinh 26

1.5.3 Chỉ đạo thực hiện hoạt động đánh giá học sinh 26

1.5.4 Kiểm tra, giám sát hoạt động đánh giá học sinh 27

1.6 Những yếu tố ảnh hưởng đến việc triển khai hoạt động đánh giá học sinh Tiểu học theo Thông tư 22 của Bộ Giáo dục và Đào tạo 27

1.6.1 Tâm lí lứa tuổi học sinh Tiểu học 27

1.6.2 Năng lực của CBQL và GV trường Tiểu học 28

Tiểu kết chương 1 30

Trang 6

iv

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG TRIỂN KHAI HOẠT ĐỘNG ĐÁNH GIÁ HỌC SINH TẠI TRƯỜNG TIỂU HỌC TRẦN QUỐC TOẢN - TP BẮC

NINH THEO THÔNG TƯ 22 CỦA BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO 31

2.1 Giới thiệu về trường Tiểu học Trần Quốc Toản - TP Bắc Ninh 31

2.1.1 Quá trình hình thành và quy mô phát triển 31

2.1.2 Chất lượng dạy học và giáo dục qua các năm 32

2.2 Khái quát về khảo sát thực trạng 34

2.2.1 Mục đích của khảo sát 34

2.2.2 Đối tượng khảo sát 35

2.2.3 Nội dung khảo sát 35

2.2.4 Phương pháp khảo sát 35

2.3 Thực trạng hoạt động đánh giá học sinh tại trường Tiểu học Trần Quốc Toản Thành phố Bắc Ninh theo Thông tư 22 36

2.3.1 Nhận thức của CBQL, GV, cha mẹ học sinh về cách đánh giá theo TT 22 37

2.3.2 Thực trạng phương pháp kiểm tra đánh giá 38

2.3.3 Thực trạng thực hiện nguyên tắc đánh giá học sinh 39

2.3.4 Thực trạng quy trình đánh giá học sinh theo Thông tư 22 42

2.4 Thực trạng triển khai hoạt động đánh giá học sinh tại trường Tiểu học Trần Quốc Toản - Thành phố Bắc Ninh 42

2.4.1 Thực trạng xây dựng kế hoạch hoạt động đánh giá 42

2.4.2 Thực trạng tổ chức thực hiện hoạt động đánh giá theo Thông tư 22 45

2.4.3 Thực trạng hướng dẫn, chỉ đạo hoạt động đánh giá học sinh theo TT 22 47

2.4.4 Thực trạng công tác kiểm tra, giám sát hoạt động đánh giá học sinh 48

2.5 Thực trạng các yếu tố ảnh hưởng đến triển khai hoạt động đánh giá HS theo TT 22 50

2.5.1 Thực trạng ảnh hưởng của tâm lý lứa tuổi HS tiểu học 50

2.5.2 Thực trạng ảnh hưởng của năng lực CBQL và GV đối với hoạt động đánh giá HS tiểu học theo TT22 51

2.6 Đánh giá chung về thực trạng triển khai hoạt động đánh giá học sinh tại trường Tiểu học Trần Quốc Toản - TP Bắc Ninh theo Thông tư 22 52

2.6.1 Những điểm mạnh 53

2.6.2 Những điểm yếu, hạn chế 53

2.6.3 Nguyên nhân của những điểm yếu, hạn chế 54

Tiểu kết chương 2 55

Trang 7

v

CHƯƠNG 3: BIỆN PHÁP TRIỂN KHAI HOẠT ĐỘNG ĐÁNH GIÁ HỌC SINH TẠI TRƯỜNG TIỂU HỌC TRẦN QUỐC TOẢN - TP BẮC

NINH THEO THÔNG TƯ 22 CỦA BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO 56

3.1 Những nguyên tắc đề xuất biện pháp 56

3.1.1 Nguyên tắc đảm bảo tính công bằng, khách quan 56

3.1.2 Nguyên tắc đảm bảo tính khoa học 57

3.1.3 Nguyên tắc đảm bảo tính giáo dục 57

3.2 Những biện pháp triển khai hoạt động đánh giá học sinh tại trường Tiểu học Trần Quốc Toản, thành phố Bắc Ninh theo Thông tư 22 của Bộ Giáo dục và Đào tạo 58

3.2.1 Tổ chức các hoạt động tuyên truyền nhằm nâng cao nhận thức về tầm quan trọng, vị trí, chức năng của hoạt động đánh giá học sinh theo TT22 cho CBQL, GV và cha mẹ học sinh” 58

3.2.2 Xây dựng và tổ chức thực hiện kế hoạch đánh giá theo học sinh theo TT 22 61

3.2.3 Tổ chức triển khai tập huấn quy trình kiểm tra đánh giá và cách xây dựng đề kiểm tra theo TT22 63

3.2.4 Xây dựng hệ thống các tiêu chí hỗ trợ giáo viên đánh giá sự hình thành năng lực, phẩm chất cho học sinh 71

3.2.5 Tăng cường kiểm tra, giám sát hoạt động đánh giá học sinh theo TT22 74

3.3 Mối quan hệ giữa các biện pháp 76

3.4 Khảo nghiệm tính cần thiết và tính khả thi của các biện pháp đã đề xuất 77

3.4.1 Kết quả khảo nghiệm tính cần thiết của các biện pháp 77

3.4.2 Khảo nghiệm tính khả thi của các biện pháp 78

3.4.3 Mối tương quan giữa tính cần thiết và khả thi của các biện pháp 79

Tiểu kết chương 3 82

KẾT LUẬN, KHUYẾN NGHỊ 83

TÀI LIỆU THAM KHẢO 85

CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI ĐƯỢC CÔNG BỐ 88

PHỤ LỤC 89

Trang 8

vi

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1 Quy mô phát triển trường 31

Bảng 2.2 Chỉ tiêu tuyển sinh các năm 32

Bảng 2.3 Chất lượng giáo dục cuối năm học 2016- 2017 32

Bảng 2.4 Chất lượng đánh giá thường xuyên các môn học năm học 2016- 2017 33

Bảng 2.5 Tổng hợp đánh giá sự hình thành các năng lực và phẩm chất cuối năm học 2016 - 2017 33

Bảng 2.6 Mức độ sử dụng các phương pháp, hình thức kiểm tra đánh giá học sinh trong trường TH Trần Quốc Toản 38

Bảng 2.7 Mức độ sử dụng các bước ra đề kiểm tra của giáo viên 40

Bảng 2.8 Mức độ thực hiện các nội dung của công tác lập kế hoạch hoạt động đánh giá theo TT22 trong nhà trường 44

Bảng 2.9 Mức độ thực hiện các nội dung đánh giá học sinh theo TT 22 46

Bảng 2.10 Thực trạng hướng dẫn, chỉ đạo hoạt động đánh giá HS theo TT22 47

Bảng 2.11 Thực trạng kiểm tra, giám sát hoạt động đánh giá HS theo TT22 49

Bảng 2.12 Ý kiến của HS về cách đánh giá của GV 51

Bảng 3.1 Kế hoạch đánh giá học sinh theo TT22 62

Bảng 3.2 Các bậc nhận thức tương ứng với bài kiểm tra 40 phút 68

Bảng 3.3 Câu hỏi ứng với mục tiêu và điểm cho mỗi câu hỏi (thang điểm 10) 68

Bảng 3.4 Một số biểu hiện năng lực và phẩm chất 72

Bảng 3.5 Kết quả khảo sát về tính cần thiết của các biện pháp triển khai hoạt động đánh giá học sinh tại trường tiểu học Trần Quốc Toản thành phố Bắc Ninh theo TT 22 77

Bảng 3.6 Kết quả khảo sát về tính khả thi của các biện pháp triển khai hoạt động đánh giá học sinh tại trường tiểu học Trần Quốc Toản thành phố Bắc Ninh theo TT 22 78

Bảng 3.7 Tổng hợp kết quả đánh giá về mức độ cần thiết và mức độ khả thi của các biện pháp đề xuất 80

Trang 9

vii

DANH MỤC BIỂU ĐỒ, HÌNH

Biểu đồ 2.1 Vai trò của đánh giá trong dạy học 37

Biểu đồ 2.2 Mức độ cần thiết của việc lập kế hoạch đánh giá học sinh 43

Biểu đồ 3.1 Mức độ cần thiết và khả thi của các biện pháp đề xuất 80

Hình 1.1 Sơ đồ hoạt động kiểm tra đánh giá trong dạy học 11

Hình 1.2 Các phương pháp đánh giá kết quả học tập của học sinh 18

Trang 10

1

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng đã nêu: “Giáo

dục đào tạo là quốc sách hàng đầu Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ, đồng bộ các yếu tố

cơ bản của giáo dục và đào tạo theo hướng coi trọng phát triển năng lực của người học Chuyển mạnh quá trình giáo dục từ chủ yếu trang bị kiến thức sang phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất người học”; “Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục đào tạo theo hướng mở, hội nhập, xây dựng xã hội học tập” [17] Các yếu tố cơ

bản của giáo dục là mục đích, mục tiêu - nội dung - phương pháp - phương tiện - giáo viên - học sinh - kiểm tra - đánh giá Một trong những giải pháp mang tính đột phá để đổi mới, nâng cao hiệu quả quá trình giáo dục - dạy học đó là đổi mới công tác thi, kiểm tra, đánh giá kết quả dạy học

Nghị quyết 29/NQ- TW chỉ ra: “Đổi mới căn bản hình thức và phương pháp

thi, kiểm tra và đánh giá kết quả giáo dục, đào tạo, bảo đảm trung thực, khách quan Việc thi, kiểm tra và đánh giá kết quả giáo dục, đào tạo cần từng bước theo các tiêu chí tiên tiến được xã hội và cộng đồng giáo dục thế giới tin cậy và công nhận Phối hợp sử dụng kết quả đánh giá trong quá trình học với đánh giá cuối kỳ, cuối năm học; đánh giá của người dạy với tự đánh giá của người học; đánh giá của nhà trường với đánh giá của gia đình và của xã hội [17]

Kiểm tra - đánh giá là một khâu quan trọng trong giáo dục - dạy học và trong công tác quản lý của nhà trường Mục đích cuối cùng của kiểm tra đánh giá là nhằm nâng cao chất lượng của hoạt động giáo dục, chương trình giáo dục, sản phẩm giáo dục Đánh giá cung cấp thông tin cho các cấp quản lý để chỉ đạo, tổ chức kịp thời các hoạt động giáo dục - dạy học, giúp điều chỉnh thường xuyên các hoạt động giáo dục - dạy học, góp phần tích cực nâng cao chất lượng giáo dục

Quá trình dạy học hiện nay đang chuyển mạnh từ truyền thụ kiến thức sang

“Phát triển khả năng sáng tạo, tự học, khuyến khích học tập suốt đời” [19] Để đạt

được mục tiêu giáo dục đó, đòi hỏi phải đổi mới phương pháp, cách thức đánh giá học sinh Tiểu học là bậc học nền tảng của giáo dục phổ thông, tâm sinh lý lứa tuổi của học sinh Tiểu học có nhiều đặc điểm đặc thù, do vậy việc đổi mới phương pháp, cách thức

Trang 11

2

đánh giá học sinh Tiểu học là yêu cầu cấp thiết để nâng cao chất lượng giáo dục Thông

tư số 22/2016/TT-BGDĐT ghi rõ yêu cầu đánh giá: “Đánh giá vì sự tiến bộ của học

sinh; coi trọng việc động viên, khuyến khích sự cố gắng trong học tập, rèn luyện của học sinh; giúp học sinh phát huy nhiều nhất khả năng; đảm bảo kịp thời, công bằng, khách quan.” và “kết hợp đánh giá của giáo viên, học sinh, cha mẹ học sinh, trong đó đánh giá của giáo viên là quan trọng nhất” [6]

TT30/2014/TT-BGDĐT và TT22/2016/TT/BGDĐT ra đời và đã được áp dụng tại các trường Tiểu học trên toàn quốc Song thực tiễn việc kiểm tra đánh giá trong dạy học ở trường Tiểu học cho thấy: quan niệm về kiểm tra đánh giá của giáo viên, học sinh và xã hội còn có nhiều bất cập Cách đánh đánh giá theo kinh nghiệm, chủ quan cảm tính đã trở thành thói quen ăn sâu vào nếp nghĩ, nếp làm của giáo viên, của cán bộ quản lý giáo dục Việc đánh giá còn nặng về bệnh thành tích, hình thức, lý thuyết, chưa chú trọng kiểm tra mức độ hiểu và vận dụng kiến thức

trong thực tế Thực trạng này đã được tổng kết, đánh giá: “Phương pháp giáo dục,

việc thi, kiểm tra và đánh giá kết quả còn lạc hậu, thiếu thực chất” [19] Phần lớn

giáo viên chưa quen với việc kiểm tra đánh giá thường xuyên bằng nhận xét mà vẫn

bị ảnh hưởng bởi cách cho điểm số Một số giáo viên nhận xét lấy lệ, cho đúng quy định chấm chữa bài mà chưa chỉ ra được các lỗi mà học sinh mắc phải và đưa ra các biện pháp hỗ trợ kịp thời để các em khắc phục những lỗi đó Hoạt động đánh giá còn thiếu sự kết hợp giữa đánh giá của HS trong lớp, của phụ huynh với giáo viên nên kết quả đánh giá chưa đảm bảo tính toàn diện, khách quan Chính vì vậy kiểm đánh giá chưa thực hiện được nhiệm vụ là động lực thúc đẩy học sinh học tập Còn các CBQL giáo dục thì cho rằng, đó là công việc của giáo viên chứ không phải của Hiệu trưởng

Xu hướng quốc tế hiện nay xem mục đích chính của việc đánh giá là nâng cao chất lượng học tập của học sinh Để nâng cao chất lượng giảng dạy và học tập, giáo viên phải xem đánh giá là một quá trình, phần không thể thiếu và hết sức quan trọng trong hoạt động giảng dạy của mình Mặt khác, kiểm tra đánh giá không còn

là hoạt động của riêng giáo viên mà phải là của các nhà quản lý trường học Do nhiều nguyên nhân chủ quan và khách quan, việc vận dụng xu hướng quốc tế trong

kiểm tra đánh giá ở các trường học hiện nay còn gặp nhiều khó khăn

Trường Tiểu học Trần Quốc Toản nằm ở trung tâm thành phố Bắc Ninh,

Trang 12

3

được xây dựng là trường điểm về chất lượng giảng dạy và giáo dục Nhà trường có đội ngũ giáo viên có chuyên môn, học sinh được tuyển từ tất cả các phường trong toàn thành phố Với những ưu thế đó, năm học 2016- 2017 trường đã đạt được một

số thành tích đáng khích lệ Tuy nhiên bản thân tôi thấy những thành tích đó chưa

thực sự xứng đáng với tiềm năng của trường

Trong quá trình giảng dạy khối 4, thực hiện chức trách, nhiệm vụ của tổ trưởng tổ 4, 5 của trường, khi trao đổi chuyên môn và kiểm tra việc chấm chữa bài của các giáo viên trong khối, trong tổ, trong trường, tôi nhận thấy còn nhiều bất cập, hạn chế, nặng về hình thức Giáo viên chưa hiểu rõ, đầy đủ về mục tiêu, ý nghĩa quan trọng của kiểm tra đánh giá theo quy định nhằm góp phần nâng cao chất lượng giáo dục nên còn làm theo kiểu đối phó mà không quan tâm đến chất lượng và hiệu

quả của việc kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh

Xuất phát từ thực trạng đó, với mong muốn khắc phục các hạn chế, bất cập trong công tác đánh giá học sinh tại trường Tiểu học Trần Quốc Toản tôi đã chọn đề

tài: “Triển khai hoạt động đánh giá học sinh tại trường Tiểu học Trần Quốc Toản, thành phố Bắc Ninh theo Thông tư 22 của Bộ giáo dục và Đào tạo”

3.2 Đối tượng nghiên cứu

Triển khai hoạt động đánh giá học sinh tại trường Tiểu học Trần Quốc Toản, thành phố Bắc Ninh theo Thông tư 22 của Bộ Giáo dục và Đào tạo

4 Câu hỏi nghiên cứu

- Vai trò của TT30/2014/TT-BGDĐT và TT22/2016/TT/BGDĐT đối với hoạt động đánh giá học sinh Tiểu học là gì?

- Cần có những biện pháp nào để nâng cao hiệu quả của hoạt động đánh giá học sinh tại Trường Tiểu học Trần Quốc Toản, TP Bắc Ninh theo Thông tư 22?

Trang 13

4

5 Giả thuyết nghiên cứu

Hiện trạng hoạt động đánh giá kết quả học tập của học sinh tại trường Tiểu học Trần Quốc Toản theo TT30/2014/TT-BGDĐT và TT22/2016/TT/BGDĐT còn tồn tại một số bất cập, hạn chế về cách tổ chức kiểm tra định kì, nhận xét, đánh giá học sinh thường xuyên, lấy thông tin phản hồi và vận dụng các thông tin thu thập được để điều chỉnh quá trình dạy học Nếu đề xuất được các biện pháp đồng bộ và khả thi nhằm khắc phục các bất cập, hạn chế trong kiểm tra, đánh giá để CBQL, GV trong trường vận dụng đồng bộ sẽ tạo động lực để học sinh luôn nỗ lực học tập, tiến

bộ Thông qua đó nâng cao hiệu quả hoạt động đánh giá học sinh và chất lượng giáo dục tại trường Tiểu học Trần Quốc Toản - Thành phố Bắc Ninh

6 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được mục đích nghiên cứu, tôi dự kiến một số nhiệm vụ sau:

- Nghiên cứu cơ sở lí luận về quản lý hoạt động đánh giá kết quả học tập của học sinh và TT30/2014/TT-BGDĐT và TT22/2016/TT/BGDĐT của Bộ giáo dục và Đào tạo

- Khảo sát và phân tích thực trạng việc triển khai hoạt động đánh giá học sinh tại trường Tiểu học Trần Quốc Toản, thành phố Bắc Ninh theo Thông tư 22

- Đề xuất một số biện pháp triển khai hoạt động đánh giá học sinh theo Thông tư 22 tại trường Tiểu học Trần Quốc Toản đạt được kết quả tốt nhất

7 Phạm vi nghiên cứu

Đề tài tập trung nghiên cứu các biện pháp triển khai hoạt động đánh giá học sinh tại trường Tiểu học Trần Quốc Toản - Thành phố Bắc Ninh theo Thông tư 22 của Bộ giáo dục và Đào tạo

8 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp nghiên cứu lý luận: sưu tầm, đọc, tra cứu, nghiên cứu tài liệu, sách báo có liên quan đến vấn đề nghiên cứu, phân tích tổng hợp hệ thống hoá theo mục đích nghiên cứu của đề tài

- Phương pháp nghiên cứu thực tiễn: Điều tra khảo sát, thu thập thông tin thực tiễn công tác kiểm tra đánh giá học sinh trường Tiểu học Trần Quốc Toản - Thành phố Bắc Ninh

- Phương pháp thống kê: được sử dụng để xử lý các số liệu thu thập được từ khảo sát thực tế

Trang 14

5

9 Cấu trúc luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, khuyến nghị, mục lục và tài liệu tham khảo, nội dung luận văn được trình bày trong 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lí luận về triển khai hoạt động đánh giá học sinh Tiểu học

và Thông tư 22 của Bộ GD & ĐT

Chương 2: Thực trạng triển khai hoạt động đánh giá học sinh tại trường tiểu

học Trần Quốc Toản -TP Bắc Ninh theo Thông tư 22 của Bộ GD & ĐT

Chương 3: Biện pháp triển khai hoạt động đánh giá học sinh tại trường tiểu

học Trần Quốc Toản - TP Bắc Ninh theo Thông tư 22 của Bộ GD & ĐT

Trang 15

6

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ TRIỂN KHAI HOẠT ĐỘNG ĐÁNH GIÁ

HỌC SINH TIỂU HỌC VÀ THÔNG TƯ 22 CỦA BỘ GIÁO DỤC & ĐÀO TẠO

1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề

1.1.1 Trên thế giới

Thời cổ đại, Khổng Tử (551- 479 TCN) - nhà sư phạm kiệt xuất của nền giáo dục phương Đông đã rất coi trọng vai trò của giáo dục Theo ông “Học dĩ chí dụng”- nghĩa là học để ứng dụng cho ích với đời chứ không phải học chỉ để ra làm quan Để thực hiện được quan điểm này, Khổng Tử đã đưa ra một phương pháp giáo dục đúng đắn mà đến nay chúng ta vẫn vận dụng đó là: Học thì phải ôn tập, ôn

cũ mà biết mới và đặc biệt phải thường xuyên kiểm tra kết quả học tập của người học Quan điểm trên đã chứng tỏ Khổng Tử đã ý thức được vai trò của kiểm tra, đánh giá đối với quá trình học tập của học sinh

Khoảng thế kỉ XV- XVIII, nhà giáo dục Tiệp Khắc J.A.Comesnky đã đặt nền móng cho lý luận dạy học ở nhà trường Trong tác phẩm “Lí luận dạy học vĩ đại”, ông đã nêu vai trò của kiểm tra đánh giá quá trình lĩnh hội tri thức của học sinh và ông lưu ý, việc kiểm tra đánh giá phải căn cứ vào mục tiêu học tập và từng bước tiến tới hướng dẫn học sinh tự kiểm tra đánh giá nhận thức của bản thân Những quan điểm của Comesnky đã được các nhà nghiên cứu lí luận dạy học tiếp thu và phát triển cho nền lí luận dạy học hiện đại

Năm 1971, B.S Bloom cùng George F Madaus và J.Thomas Hastings cho ra đời cuốn sách “Evaluation to improve Learning” (Đánh giá thúc đẩy học tập) Cuốn sách viết về các kĩ thuật đánh giá kết quả học tập của HS dành cho GV Nội dung chủ yếu của sách tập trung hướng dẫn GV sử dụng các hệ thống câu hỏi, các bài kiểm tra do GV tự làm để kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh Khi GV

có thể sử dụng tốt các hình thức kiểm tra, đánh giá này thì kiểm tra đánh giá sẽ trở thành động lực thúc đẩy quá trình học tập của học sinh

Theo AFT (Liên đoàn người dạy học Hoa Kì), NCME (Hội đồng quốc gia về

đo lường trong giáo dục), NEA (Hiệp hội giáo dục quốc gia) (1990) thì kiểm tra

Trang 16

7

đánh giá trong giáo dục được định nghĩa là “Quá trình thu thập thông tin để đưa ra

những quyết định giáo dục liên quan tới người học, để phản hồi cho người học về sự tiến bộ, những điểm mạnh và điểm tồn tại trong học tập của chúng, để đưa ra phán quyết về hiệu quả công tác giảng dạy và sự phù hợp của chương trình đào tạo, và cuối cùng là để cung cấp thông tin xây dựng chính sách” [25] Quan điểm trên đã cho thấy

rõ vai trò quan trọng của quá trình kiểm tra đánh giá không chỉ cho cá nhân người học

mà còn là cơ sở để xây dựng chương trình đào tạo, xây dựng chính sách

Vấn đề kiểm tra đánh giá trong giáo dục được các nhà khoa học nghiên cứu ở nhiều góc độ khác nhau nhưng chủ yếu vẫn khẳng định vai trò quan trọng của kiểm tra đánh giá trong quá trình học tập của học sinh, vì sự tiến bộ của học sinh Đây chính là những cơ sở lí luận cần thiết để xây dựng hệ thống lí thuyết về kiểm tra đánh giá sau này

1.1.2 Tại Việt Nam

Từ xa xưa, ông cha ta đã quan niệm “Hiền tài là nguyên khí của quốc gia” vì vậy, ngay từ thời phong kiến, việc tổ chức thi cử để chọn người tài diễn ra hết sức nghiêm ngặt Các sĩ tử cần trải qua ba kì thi để đạt học vị cao nhất: thi Hương, thi Hội, thi Đình Và Văn Miếu Quốc Tử Giám được vua Lý Thái Tông lập năm 1070 được coi là trường đại học đầu tiên của nước ta, nơi lưu giữ 82 tấm bia tiến sĩ, những người đỗ đầu trong các kì thi Đình

Do điều kiện lịch sử cụ thể của từng giai đoạn, công tác đánh giá giáo dục cũng được triển khai và áp dụng theo từng cung bậc khác nhau Cũng có những nghiên cứu cho công tác đánh giá giáo dục được thực hiện, tuy nhiên chưa thực sự mạnh mẽ và hiệu quả Có thể nói, chỉ từ những năm 1990, các nghiên cứu về đánh giá giáo dục nói chung và đánh giá học sinh trong trường tiểu học nói riêng mới bắt đầu nở rộ và phát triển Những cuốn tài liệu đề cập đến thuật ngữ, cách hiểu về đánh giá với các nguyên tắc đánh giá có thể kể đến cuốn tài liệu của Nguyễn Đức Chính

“Đo lường và đánh giá trong giáo dục và dạy học” (2008) Cuốn giáo trình sử dụng

để giảng dạy cho sinh viên Đại học Quốc gia Hà Nội mang tên “Đo lường và đánh giá kết quả học tập của học sinh” (2004) Của Nguyễn Đức Chính Tiếp đến có thể

kể tới cuốn tài liệu của Đặng Bá Lãm “Kiểm tra đánh giá trong dạy học đại học”

Tác giả Dương Thiệu Tống cũng cho xuất bản cuốn “Trắc nghiệm và đo lường

Trang 17

8

thành quả học tập” năm 1995, tái bản năm 2005 Cuốn sách là một đóng góp to lớn cho giáo dục Việt Nam về phần đánh giá định lượng kết quả học tập của học sinh Cuốn tài liệu “Tài liệu kiểm tra đánh giá trong giáo dục” (Dành cho cán bộ quản lí giáo dục) do Nguyễn Công Khanh và Nguyễn Vũ Bích Hiền biên soạn đã cung cấp những kiến thức cơ bản về đánh giá, mục tiêu đánh giá, quy trình đánh giá cho cán

bộ quản lý các cấp ở trung học phổ thông

Gần đây nhất cuốn “Kiểm tra đánh giá trong dạy học” của Sái Công Hồng,

Lê Thái Hưng, Lê Thị Hoàng Hà, Lê Đức Ngọc (2017) được giảng dạy trong trường Đại học Giáo Dục Giáo trình được biên soạn mang tính nhập môn về “Kiểm tra đánh giá trong dạy học” Cuốn sách này đã cung cấp cho người đọc những kiến thức cần thiết về cách lập kế hoạch kiểm tra đánh giá, các phương pháp, công cụ kiểm tra đánh giá trong dạy học Không những thế, cuốn sách hướng dẫn cách phân tích kết quả kiểm tra đánh giá và một số kĩ thuật đánh giá trong dạy học Những cuốn sách trên đều khẳng định vai trò to lớn của kiểm tra đánh giá đối với quá trình dạy học

Bên cạnh đó có rất nhiều nghiên cứu về quản lí hoạt động kiểm tra đánh giá học sinh tiểu học được các tác giả đề cập trong các luận văn, luận án như luận văn thạc sĩ của tác giả Nguyễn Thị Minh Khoa “Quản lí hoạt động kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học sinh tại trường tiểu học Lê Văn Tám - Hải Phòng” (2013), luận văn “Quản lí đánh giá học sinh theo định hướng phát triển năng lực ở trường tiểu học Thọ Sơn thành phố Việt Trì” của tác giả Trần Thị Ánh Nguyệt (2016)

Bộ Giáo dục và Đào tạo cũng có những quy định cụ thể đối với hoạt động kiểm tra đánh giá học sinh Cụ thể, với giáo dục tiểu học, Bộ đã ban hành một số quy định về đánh giá học sinh tiểu học như Thông tư 32 /2009/TT-BGDĐT ngày 27/10/2009, Thông

tư số 30/2014/TT-BGDĐT ngày 28/8/2014, Thông tư TT22/2016/TT/BGDĐT ngày 6/11/2016 được ban hành kèm với Thông tư 30/2014/TT-BGDĐT sửa đổi, bổ sung một

số điều về đánh giá học sinh tiểu học

Từ việc tìm hiểu, nghiên cứu, vấn đề trên đã giúp tôi có cái nhìn tổng quan, xuyên suốt về hoạt động đánh giá học sinh trong quá trình dạy học Tôi nhận thấy vấn

đề đánh giá học sinh, đặc biệt là học sinh tiểu học đang có nhiều sự thay đổi cho phù hợp với những yêu cầu giáo dục trong thời đại công nghệ 4.0 Vì vậy, giúp giáo viên nắm bắt được cách đánh giá học sinh Tiểu học theo đúng TT22/2016/TT/BGDĐT của

Trang 18

9

Bộ GD & ĐT là việc rất cần thiết Do đó, đề tài “Triển khai hoạt động đánh giá học

sinh tại trường Tiểu học Trần Quốc Toản, thành phố Bắc Ninh theo Thông tư 22 của Bộ giáo dục và Đào tạo” là đề tài rất cấp thiết nhằm nâng cao chất lượng giáo

dục tại trường Tiểu học Trần Quốc Toản

1.2 Những khái niệm cơ bản của đề tài

1.2.1 Đánh giá

Theo từ điển Tiếng Việt “ Đánh giá được hiểu là nhận định giá trị”[35] Theo tác giả Trần Thị Tuyết Oanh “Đánh giá là hoạt động của con người nhằm phán xét một hay nhiều đặc điểm của sự vật, hiện tượng, con người theo những quan điểm và chuẩn mực nhất định mà người đánh giá cần tuân theo” [29]

Theo hai tác giả Owen và Roger (1999): “Đánh giá là quá trình thu thập thông tin một cách hệ thống và đưa ra những nhận định dựa trên cơ sở các thông tin thu được” [31] Đánh giá được hiểu là điều tra, xem xét, xác định chất lượng của đối tượng được đánh giá trên cơ sở các thông tin thu thập nhằm hỗ trợ đưa ra các quyết định và rút ra các bài học kinh nghiệm

Từ các khái niệm trên, chúng ta thấy đánh giá là quá trình thu thập thông tin giúp người đánh giá nhận định được các giá trị theo một chuẩn nhất định Và kết quả đánh giá

có tác dụng đưa ra những quyết định tiếp theo hoặc rút ra các bài học kinh nghiệm

1.2.2 Đánh giá trong giáo dục, hoạt động đánh giá học sinh

Trong cuốn giáo trình “Kiểm tra đánh giá trong dạy học” các tác giả đã đưa

ra khái niệm về đánh giá “Đánh giá (Evaluation) là sự giải thích có tính tổng kết các

dữ liệu có được từ các bài kiểm tra hay các công cụ đánh giá khác Đánh giá là định

ra giá trị của của bản thân đối tượng được đánh giá trong mối tương quan giữa các đối tượng hay môi trường xung quanh” [25]

Thuật ngữ đánh giá nhiều khi được đồng nhất với thuật ngữ cho điểm (mark)

Như vậy là không đúng Khái niệm đánh giá rộng hơn khái niệm cho điểm “Đánh giá

là biểu thị một thái độ, đòi hỏi một sự phù hợp theo một chuẩn nhất định Nhờ đó mà người đánh giá (thầy giáo, cô giáo, nhà sư phạm ) cho một thông tin tổng hợp, đôi khi là một con số đối với người được đánh giá (học sinh)” (F.Viallet) [24]

Theo Marger (1993): đánh giá là việc mô tả tình hình của học sinh và giáo

viên để quyết định công việc cần phải tiếp tục và giúp học sinh tiến bộ

Trang 19

10

Theo R Tiler (1984): Quá trình đánh giá chủ yếu là quá trình xác định mức

độ thực hiện các mục tiêu của chương trình giáo dục [16]

Theo tác giả Woodhouse: Đánh giá chính là sự lượng giá mà kết quả là

điểm, có thể cho bằng số (phần trăm hoặc một thang điểm ngắn hơn từ 1 đến 4), bằng chữ (từ A đến F) hay là sự miêu tả (Xuất sắc, giỏi, khá, đạt, không đạt) Điểm cũng có thể là “qua” (Pass) hay “trượt” (Fail) Câu hỏi đánh giá “Kết quả của bạn như thế nào?” [16]

Theo Nguyễn Đức Chính, thuật ngữ đánh giá được định nghĩa: “Đánh giá là

quá trình thu thập và xử lý thông tin một cách có hệ thống nhằm xác định mục tiêu đã

và đang đạt được ở mức độ nào” Hoặc “Đánh giá là quá trình thu thập thông tin và

dữ liệu một cách hệ thống về năng lực và phẩm chất của người học và sử dụng các thông tin đó đưa ra quyết định về người dạy và người học trong tương lai” [12]

Còn theo tác giả Trần Bá Hoành: “Đánh giá là quá trình hình thành những nhận

định, phán đoán về kết quả công việc, dựa vào sự phân tích các thông tin thu được, đối chiếu với những mục tiêu, tiêu chuẩn đề ra, nhằm đề xuất những quyết định thích hợp để cải thiện thực trạng, điều chỉnh, nâng cao chất lượng và hiệu quả công việc [24]

Xét từ bình diện chức năng, mục đích cũng như đối tượng, “đánh giá trong giáo

dục là quá trình thu thập và lí giải kịp thời, có hệ thống các thông tin về hiện trạng, khả năng hay nguyên nhân về chất lượng và hiệu quả giáo dục căn cứ vào mục tiêu giáo dục, làm cơ sở cho việc điều chỉnh, bổ sung, hoàn thiện những chủ trương, biện pháp và hành động giáo dục tiếp theo” [16]

Hoạt động đánh giá học sinh: là quá trình thu thập, xử lí thông tin về trình độ, khả năng thực hiện mục tiêu đã xác định Đánh giá học sinh là đánh giá mức độ hoàn thành các mục tiêu đã đề ra cho HS sau một giai đoạn học tập, các mục tiêu này có thể thể hiện

ở từng môn học cụ thể Đánh giá HS là nhằm xác định mức độ nắm được kiến thức, kĩ năng, kĩ xảo của HS của chương trình đề ra

Theo nhóm tác giả Sái Công Hồng, Lê Thái Hưng, Lê Thị Hoàng Hà, Lê Đức

Ngọc: “ Kiểm tra đánh giá là quá thu thập, thảo luận về thông tin từ nhiều nguồn khác

nhau nhằm có được một sự hiểu biết sâu sắc về những điều mà người học biết, hiểu và

có thể làm việc với những kiến thức của mình; mục đích cuối cùng của quá trình kiểm tra đánh giá là kết quả kiểm tra đánh giá được dùng để nâng cao chất lượng học tập ” [25]

Trang 20

11

Việc đánh giá người học có ý nghĩa nhiều mặt: để chứng nhận năng lực, hướng dẫn, điều chỉnh (nhận định thực trạng, định hướng và điều chỉnh hoạt động dạy của thầy và hoạt động học của học sinh); để thúc đẩy, kích thích (là cơ sở để các cấp quản lí hoạch định chính sách, chỉ đạo, ra quyết định quản lí ); đảm bảo đúng mục đích, yêu cầu của chương trình, đảm bảo tính chính xác, khách quan của các nhận xét và điểm số Kết quả đánh giá cần được công bố công khai, nếu có khiếu nại cần được xem xét nghiêm túc và xử lý hợp với qui định của Bộ GD & ĐT

Hình 1.1 Sơ đồ hoạt động kiểm tra đánh giá trong dạy học [25]

1.2.3 Triển khai hoạt động đánh giá học sinh

Trong từ điển Tiếng Việt triển khai nghĩa là “mở rộng trên một phạm vi,

quy mô lớn” [35]

Theo nghĩa trên thì triển khai hoạt động đánh giá học sinh có thể hiểu là việc áp dụng những quy định về đánh giá học sinh trên tại các trường học trên cả nước Với mỗi cấp học lại có những quy định khác nhau về cách đánh giá HS Đối với cấp Tiểu học, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ban hành Thông tư 22 sửa đổi bổ sung một số điều của Thông tư

Đo lường

Thu thập thông tin về người học

Các bài kiểm tra

(Trắc nghiệm)

Quan sát

Thang định tính

Vận dụng các lý thuyết tâm lý giáo dục

Trang 21

12

30 quy định về cách đánh giá học sinh tiểu học Thông tư 22 được áp dụng triển khai trên

cả nước từ năm học 2016- 2017

1.3 Một số vấn đề lí luận về đánh giá trong giáo dục, đánh giá học sinh

1.3.1 Vị trí, vai trò, chức năng của hoạt động đánh giá trong giáo dục

* Vị trí của hoạt động đánh giá trong giáo dục

Đánh giá là khâu cuối cùng trong hoạt động dạy học và giáo dục Hoạt động này không chỉ là khâu cuối cùng mà còn tiếp diễn liên tục trong quá trình dạy học

và là khâu quan trọng nhất quyết định chất lượng của toàn bộ quá trình dạy học

Các nhà nghiên cứu lý luận dạy học đều cho rằng dạy học là một quá trình hoạt động có tính mục đích, nó thường phải bao gồm đầy đủ các thành tố cơ bản sau: xây dựng mục tiêu, thiết kế nội dung, tổ chức hoạt động dạy - học và kiểm tra đánh giá Do vậy kiểm tra đánh giá là một khâu rất quan trọng không thể tách rời của quá trình dạy học Kiểm tra đánh giá nhằm cung cấp thông tin để đánh giá chất lượng và hiệu quả của quá trình dạy và học Kiểm tra đánh là bộ phận không thể tách rời của quá trình dạy học bởi đối với người GV, khi tiến hành quá trình dạy học, họ phải xác định rõ mục tiêu của bài học, nội dung và phương pháp cũng như

kỹ thuật tổ chức quá trình dạy học sao cho phù hợp với đối tượng người học và đạt chất lượng hiệu quả theo mục tiêu đã đề ra Muốn biết quá trình dạy - học có chất lượng, hiệu quả hay không, người GV phải thu thập thông tin phản hồi từ HS để đánh giá và qua đó điều chỉnh phương pháp dạy, kỹ thuật dạy của mình và giúp HS điều chỉnh các phương pháp học Có thể nói kiểm tra đánh giá là động lực để thúc đẩy sự đổi mới quá trình dạy và học

* Vai trò của hoạt động đánh giá trong giáo dục

Tại cấp độ nhà trường và lớp học, đánh giá phục vụ 3 mục đích lớn: (i) Hỗ trợ hoạt động dạy và học, (ii) cho điểm cá nhân, xác định thành quả học tập của người học để phân loại, chuyển lớp, cấp bằng, (iii) Hỗ trợ nhà trường đáp ứng đòi hỏi giải trình với xã hội (Ernl) (2003) [25]

Ở cấp độ chương trình đào tạo, kiểm tra đánh giá mang lại bức tranh chung

về trình độ năng lực của người học, sự phù hợp của chương trình đào tạo, sự phù hợp của các phương thức tổ chức lớp học cũng như chính của hoạt động kiểm tra đánh giá Từ những thông tin do đánh giá mang lại, người ta sẽ có những điều

Trang 22

* Chức năng của hoạt động đánh giá trong giáo dục

Các hoạt động đánh giá trong giáo dục đều nhằm thực hiện 4 chức năng cơ bản:

- Chức năng tạo động lực

Quá trình đánh giá nhằm thu thập thông tin trong quá trình dạy học Các thông tin đó có tác động tạo kích thích tạo động lực cho người học không ngừng vươn lên Sau mỗi lần đánh giá, HS biết mức độ nắm bắt kiến thức, kĩ năng của bản thân Đối với những HS yếu, nó sẽ là động lực thúc đẩy các em học tập, vươn lên Đối với những HS nhận thức tốt sẽ kích thích các em tiếp tục học tập Như vậy, đánh giá đã tạo ra một môi trường cạnh tranh chính thức và phi chính thức

- Chức năng phân loại

Kết quả đánh giá có tác dụng phân loại các đối tượng HS theo các mức nhận thức khác nhau Kết quả phân loại chính là cơ sở để GV điều chỉnh phương pháp dạy học phù hợp với từng đối tượng HS nhằm đạt được mục tiêu giáo dục đề ra

- Chức năng cải tiến dự báo

Kết quả kiểm tra đánh giá trong giáo dục từ nhiều góc độ và trong nhiều giai đoạn khác nhau có thể dự báo về xu thế phát triển của giáo dục Nhờ có đánh giá sẽ phát hiện được những vấn đề tồn tại trong giáo dục, từ đó lựa chọn và triển khai các biện pháp thích hợp để bù đắp những thiếu hụt hoặc loại bỏ những sai sót không đáng có

1.3.2 Nguyên tắc đánh giá trong giáo dục

Đánh giá phải cung cấp các thông tin phản hồi hữu ích, chính xác giúp CBQL, GV, HS có định hướng và động lực cho những hoạt động tiếp theo Để đảm bảo được vai trò này, quá trình đánh giá cần tuân thủ một số nguyên tắc chung:

Trang 23

14

Nguyên tắc 1: Đảm bảo tính giá trị

Đánh giá là khâu cuối cùng của quá trình dạy học, tuy nhiên đó không phải là sự kết thúc mà nó là một phương tiện để cải biến giáo dục Nghĩa là quá trình đánh giá đã xác định những giá trị cho các đối tượng trong quá trình dạy học Đánh giá cung cấp các thông tin phản hồi để giúp mỗi cá nhân cải thiện khả năng nhận thức của mình nhằm đạt được mục tiêu giáo dục, giúp GV điều chỉnh phương pháp dạy học, CBQL điều chỉnh phương pháp quản lí sao cho phù hợp với từng đối tượng HS

Nguyên tắc 2: Đảm bảo tính toàn diện và linh hoạt

Việc đánh giá năng lực hiệu quả nhất khi phản ánh được sự hiểu biết đa chiều, tích hợp, về bản chất của các hành vi được bộc lộ theo thời gian Vấn đề phải được đánh giá đầy đủ các khía cạnh, thuộc tính đến tất cả các yếu tố cấu thành, điều kiện hoàn cảnh, những tác động trực tiếp, gián tiếp… Đánh giá phiến diện và đưa ra những kết luận về giá trị một cách vội vàng không đầy đủ cũng sẽ dẫn tới sự thiếu khách quan trong đánh giá Vì vậy cần sử dụng đa dạng các hình thức đánh giá nhằm mục đích thu thập được những thông tin đầy đủ và khách quan nhất đối với người được đánh giá

Nguyên tắc 3: Đảm bảo tính công bằng và tin cậy

Tính công bằng và tin cậy là sự phản ánh chính xác và chân thực kết quả của hoạt động giáo dục Có như vậy hoạt động đánh giá mới có tác dụng thúc đẩy sự phát triển giáo dục đồng thời tạo ra các yếu tố tâm lý tích cực cho đối tượng được đánh giá Để đảm bảo tính công bằng và tin cậy thì người đánh giá và người được đánh giá đều phải hiểu chuẩn, nắm được các tiêu chí, hành vi đánh giá như nhau Các công cụ đánh giá không có sự thiên vị cho giới, dân tộc, vùng miền, đối tượng cách phân tích, xử lí kết quả Để kết quả thu thập được cần khách quan không bị ảnh hưởng bởi các yếu tố cá nhân Kết quả đánh giá phải ổn định, chính xác, không bị phụ thuộc vào người đánh giá, các nhiệm vụ ở các lĩnh vực khác nhau

Nguyên tắc 4: Đánh giá cần quan tâm đến cả kết quả và những trải nghiệm

của người học để đạt được kết quả đó

Thông tin về kết quả của người học rất quan trọng sau hoạt động đánh giá Tuy nhiên, để cải thiện kết quả GV cần phải quan tâm đến những yếu tố mang tính

cá nhân, những trải nghiệm của của bản thân HS Từ việc nắm bắt các thông tin đó,

Trang 24

15

sẽ giúp giúp GV lí giải rõ hơn về thông tin thu nhận được và đưa ra những biện pháp để HS có thể phát triển tốt hơn, phát huy khả năng tự cải thiện của HS trong các hoạt động đó

Nguyên tắc 5: Đánh giá trong bối cảnh thực tiễn và vì sự phát triển của người

được đánh giá

Việc đánh giá tốt nhất khi hoạt động dạy học đang diễn ra, không đợi khi nó đã kết thúc Đánh giá muốn chính xác cần được tiến hành đều đặn, liên tục theo kế hoạch nhất định Đánh giá một cách có hệ thống đảm bảo sự phát triển liên tục của quá trình giáo dục, đảm bảo cho GV, CBQL có thông tin để điều chỉnh kịp thời các hoạt động giáo dục và định hướng phát triển cho từng giai đoạn của hoạt động giáo dục

Đánh giá phải tạo ra động lực để thúc đẩy đối tượng được đánh giá vươn lên, đưa ra biện pháp khuyến khích các mặt tốt và hạn chế những mặt tiêu cực ở đối tượng được đánh giá Đánh giá là để nhằm đảm bảo sự phát phát triển không ngừng của các hoạt động giáo dục

1.3.3 Các hình thức, phương pháp của hoạt động đánh giá trong giáo dục

1.3.3.1 Các hình thức đánh giá

Có nhiều cách phân loại các loại hình đánh giá trong giáo dục dựa vào các đặc điểm như quy mô, vị trí của người đánh giá, đặc tính của câu hỏi, tính chất thường xuyên hay thời điểm hoặc tính chất quy chiếu của mục tiêu đánh giá…

* Dựa vào thời điểm đánh giá: Đánh giá khởi sự, đánh giá chuẩn đoán, đánh

giá tiến trình và đánh giá tổng kết

Đánh giá khởi sự: Thường được sử dụng vào đầu năm học Trọng tâm của GV

trong những ngày đầu năm học là tìm hiểu từng HS và nhóm nói chung để tổ chức lớp học thành một tập thể lớp học có nề nếp Vì thế, một dạng thức kiểm tra đánh giá trong lớp học rất quan trọng và thường phải được xem xét kỹ mà mọi GV phải hoàn thành vào đầu năm học, đặt nền móng cho các hoạt động của lớp học và các giao tiếp trong suốt thời gian còn lại của năm học là kiểm tra chất lượng đầu năm học hay còn

gọi là đánh giá sơ khởi “Đánh giá sơ khởi tạo ra một tập hợp những hiểu biết và yêu

cầu ảnh hưởng đến cách thức mà giáo viên sẽ lên kế hoạch, giảng dạy và giao tiếp với học sinh trong suốt năm học” (Good & Brophy, 1997) [20] Cuối cùng, mục đích

của đánh giá sơ khởi là: giúp GV tìm hiểu học sinh để có thể tổ chức các em lại thành một lớp học nhằm tác động, thúc đẩy hoạt động học tập của các em

Trang 25

16

Đánh giá tiến trình: Black và Wiliam (2009) đã đưa ra một định nghĩa rất

cụ thể về đánh giá tiến trình: “Là loại hoạt động diễn ra trong lớp học mà thông

tin minh chứng về thành quả học tập của người học được thu thập, diễn giải và sử dụng bởi cả người dạy, người học và bạn bè của chúng để đưa ra những quyết định nhằm thực hiện những hoạt động dạy và học tiếp theo một cách có chất lượng hơn khi chúng ta thiếu những thông tin minh chứng đó” [25] Như vậy đánh

giá tiến trình diễn ra ngay trong quá trình dạy học nhằm cung cấp thông tin cho

GV và HS nhằm cải tiến, điều chỉnh hoạt động dạy và học sao cho mang lại chất

lượng và hiệu quả cao hơn

Đánh giá tổng kết: Đánh giá tổng kết hay còn gọi là đánh giá kết quả là đánh

giá có tính tổng hợp, bao quát nhằm cung cấp thông tin về kiến thức, kĩ năng của

HS sau khi kết thúc một chương, một kì hay cả năm học, cả chương trình giáo dục

Theo A Nitko “Đánh giá tổng kết kết quả học tập của học sinh có nghĩa là đánh

giá chất lượng và giá trị thành tích học tập của học sinh sau khi quá trình học tập

đã kết thúc Việc cung cấp xếp hạng chi tiết trên bản báo cáo là một ví dụ về việc báo cáo đánh giá tổng kết của giáo viên về thành tích của học sinh” Ngoài ra, tiêu chuẩn khách quan của đánh giá tổng kết là dự kiến mục tiêu dự định, nếu như mục tiêu không thật sự cầu thị (không thực sự muốn thực hiện) hoặc khó có thể kiểm tra

đo lường sẽ ảnh hưởng đến độ tin cậy của đánh giá tổng kết [10] Đánh giá tổng kết

thường được thực hiện vào cuối chương, cuối kì, cuối năm học Kết quả đánh giá

được sử dụng để phân loại, đo lường kết quả học tập của HS

Đánh giá chuẩn đoán: Đánh giá chuẩn đoán là một phần thiết yếu giúp quá

trình học tập đạt hiệu quả cao Đánh giá chuẩn đoán giúp GV phán đoán được những khó khăn, thiếu hụt, tồn tại, các chướng ngại cản trở việc học tập Từ các chuẩn đoán đó, GV đưa ra phương pháp, kế hoạch giảng dạy phù hợp cho từng đối

Trang 26

17

Đánh giá kết quả học tập: là đánh giá nhằm công bố và kết quả là những nhận định định tính hay định lượng (điểm số) về việc người học đạt được kết quả như thế nào Hoạt động này thường được diễn ra vào cuối hoặc gần cuối một giai đoạn học tập Giúp GV, CBQL đưa ra những nhận định, quyết định về việc tổ chức khen thưởng, chứng nhận kết quả đó theo mục tiêu dạy học Hoạt động đánh giá này thực hiện được chức năng phân loại, xếp hạng học tập và chỉ ra mức độ tiến bộ của mỗi người học Nhưng lại chưa trả lời được cho vấn đề quan trọng hơn là làm gì tiếp theo để cải tiến hoạt động dạy học? Hay nói cách khác là đưa ra những quyết định cải tiến cụ thể và phù hợp vì chưa cung cấp được những lí giải, nguyên nhân của kết quả thu được

Đánh giá vì học tập: Kiểm tra đánh giá là quá trình tìm kiếm và lí giải các thông tin để người học và người dạy sử dụng nhằm xác định người học đang ở đâu trên con đường học tập của mình và nhờ đó người dạy và người học cần phải điều chỉnh hoạt động dạy và hoạt động học như thế nào để người học đi đến một cái đích tốt nhất Cách đánh giá này giúp GV thu thập được những thông tin phản hồi về hoạt động dạy học giúp GV tạo sự bình ổn trong lớp học, lên kế hoạch và tiến trình giảng dạy, phản hồi, khích lệ, tạo động lực cho người học Hoạt động kiểm tra đánh giá này còn có ý nghĩa kích thích hành vi, tạo động lực cho các hoạt động tiếp theo của người học

Đánh giá như hoạt động học tập: Cùng với sự thay đổi của mục tiêu giáo dục để

phù hợp với thời đại mới, đánh giá như hoạt động học tập được quan tâm sử dụng nhiều nhất nhằm giúp cho người học phát triển những năng lực tư duy bậc cao, đặc biệt

là các kĩ năng tự chiếm lĩnh kiến thức, kĩ năng nhằm phục vụ cho hoạt động học tập suốt đời của người học Sử dụng cách đánh giá này, người học có thể cung cấp thông tin phản hồi về quá trình và kết quả học tập cho những người học khác (đánh giá đồng cấp); người học có thể tự theo dõi sự tiến bộ của mình trên lộ trình đạt được mục tiêu học tập (tự đánh giá) đồng thời điều chỉnh các xu thế, cách tiếp cận, phương pháp học tập của mình, tự nhận định về hoạt động học tập của mình

1.3.3.2 Phương pháp và công cụ đánh giá

Có nhiều cách để phân loại các phương pháp và công cụ đánh giá Theo các nhà khoa học, có 2 cách phân loại sau đây

Trang 27

18

* Cách phân loại thứ nhất: Dựa trên các hình thức đánh giá trực tiếp và gián tiếp

- Các hình thức đánh giá trực tiếp: HS vận dụng những kiến thức và kĩ năng

đã học vào các tình huống thực tế cuộc sống như tạo ra một sản phẩm hay áp dụng một quy trình nào đó

- Các hình thức đánh giá gián tiếp: HS trả lời các câu hỏi về kiến thức, kĩ năng hoặc cách thực hiện, vận dụng các kiến thức đó nhưng không trực tiếp áp dụng các kiến thức đó vào tạo ra một sản phẩm hay một quy trình

* Cách phân loại thứ hai: Đưa ra sơ đồ hình cây về các phương pháp thu

thập thông tin để đánh giá sau:

Hình 1.2 Các phương pháp đánh giá kết quả học tập của học sinh

PP kiểm tra viết

PP nghiên cứu SP hoạt

động

PP tự đánh giá

PP chuyên gia

Trắc nghiệm

khách quan

mở rộng

Đúng sai

Có không

Điền thế

Ghép

đôi

Nhiều

lựa chọn

Trả lời ngắn

PHƯƠNG PHÁP ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ HỌC TẬP CỦA HỌC SINH

Trang 28

19

sinh trong học tập Hình thức này được vận dụng trong các giờ học thông qua trao đổi của GV với HS hoặc HS với HS trong các hoạt động nhóm nhằm thu thập được thông tin phản hồi về mức độ nhận thức, nắm bắt kiến thức của HS về một nội dung cụ thể Phương pháp vấn đáp còn giúp HS phát triển khả năng diễn đạt, trình bày

+ Phương pháp quan sát

Quan sát trong giáo dục học được hiểu là phương pháp tri giác có mục đích một hiện tượng sư phạm nào đó để thu lượm những số liệu, tài liệu, sự kiện cụ thể, đặc trưng cho quá trình diễn biến của hiện tượng Đây là một phương pháp được sử dụng để thu thập các thông tin định tính về quá trình học tập của HS lớp và cả các hoạt động giáo dục ngoài trời

+ Phương pháp nghiên cứu các sản phẩm hoạt động

Các sản phẩm hoạt động của HS tạo ra trong quá trình học tập có thể là bài làm của học sinh, vở ghi bài soạn, các công cụ và sản phẩm lao động khác Thông qua việc nghiên cứu các sản phẩm này, GV sẽ thu thập được các thông tin về mức độ nắm bắt tri thức, tư tưởng, tình cảm, ý chí cũng như các năng lực phẩm chất của người học Từ đó

có những biện pháp để thúc đẩy quá trình học tập của người học tốt hơn

+ Phương pháp kiểm tra viết: (trắc nghiệm)

Phương pháp này được xem như một công cụ để thực hiện các phép đo lường, đánh giá trình độ, năng lực cũng như kết quả học tập của người học Mặc dù đây không phải là phương pháp đánh giá trực tiếp nhưng trắc nghiệm là phương pháp được sử dụng từ rất lâu đời và rộng rãi trong lịch sử giáo dục và dạy học Người ta chia loại hình trắc nghiệm thành hai nhóm, trắc nghiệm khách quan và trắc nghiệm chủ quan Trắc nghiệm khách quan có một số hình thức như: Câu trả lời Đúng/ Sai; câu nhiều lựa chọn; câu ghép đôi; câu điền khuyết Trắc nghiệm tự luận dạng trả lời câu hỏi ngắn

Trang 29

20

Ngoài ra, còn có những phương pháp khác GV có thể sử dụng đánh giá kết quả học tập của HS như phương pháp chuyên gia, phương pháp hỏi học sinh bằng phiếu hỏi, phương pháp xử lý số liệu kết quả bài làm của HS

1.3.4 Quy trình của hoạt động đánh giá trong giáo dục

Tuỳ thuộc vào đối tượng đánh giá, cấp độ và phạm vi đánh giá mà mỗi loại hình đánh giá sẽ được tiến hành theo những bước khác nhau Nhưng nhìn chung đánh giá thường bao gồm những bước sau:

Bước 1: Xác định mục đích đánh giá

Dựa vào mục tiêu dạy học, đối tượng HS để đề ra mục tiêu đánh giá phù hợp Các mục tiêu này vừa phải đáp ứng được các yêu cầu về chuẩn kiến thức kĩ năng vừa phải phù hợp với đối tượng HS trong lớp

Bước 2: Xác định những khái niệm công cụ của nội dung cần đánh giá Ở bước này cần trả lời câu hỏi: “Để đạt được mục đích đánh giá, chúng ta cần thu thập những thông tin gì?”

Bước 3: Xác định các phương pháp thu thập thông tin cả định tính và định lượng (VD sử dụng trắc nghiệm, hay điều tra viết, hay phỏng vấn, quan sát, hay nghiên cứu hồ sơ tài liệu …) Ở bước này cần trả lời câu hỏi: “Làm thế nào để thu thập những thông tin cần thiết)

Bước 4: Xây dựng công cụ đo lường (ví dụ: thiết kế trắc nghiệm, xây dựng thang đo, làm phiếu hỏi, đưa ra những câu hỏi phát vấn…) Tuỳ từng loại thông tin

mà chúng ta xây dựng những công cụ đo lường thích hợp Trong quá trình xây dựng công cụ đo lường cần xác định được các tiêu chuẩn đánh giá như là những thước đo

để xác định mức độ đạt được đối chiếu với những yêu cầu đề ra Công cụ đo lường cần đảm bảo độ tin cậy và độ giá trị

Bước 5: Thu thập và xử lý thông tin Thông tin sau khi thu thập được bằng các phương pháp và công cụ đo lường, cần được phân tích xử lý bằng các phương pháp toán học, cần được đối chiếu, so sánh, tổng hợp theo mục đích đánh giá

Bước 6: Đưa ra những nhận định về giá trị và đề xuất hướng phát triển hoặc biện pháp để cải thiện tình hình Đây là khâu quan trọng cuối cùng đòi hỏi người đánh giá phải có đầu óc phân tích tổng hợp và luôn đi theo mục đích đánh giá đã đề ra

Các bước này không phải là bất biến, tùy đối tượng, mục đích đánh giá để sử dụng các bước đánh giá cho phù hợp

Trang 30

21

1.4 Một số nội dung đánh giá học sinh tiểu học theo TT30/2014/TT-BGDĐT

và TT22/2016/TT/BGDĐT của Bộ giáo dục và đào tạo

1.4.1 Mục đích, yêu cầu, đối tượng đánh giá

Ngày 28 tháng 8 năm 2014, Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành Thông tư số 30/2014/TT-BGDĐT nhằm thay thế Thông tư số 32 /2009/TT-BGDĐT ngày 27 tháng 10 năm 2009 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định về đánh giá học sinh tiểu học

Thông tư TT22/2016/TT/BGDĐT ngày 22 tháng 9 năm 2016 của Bộ trưởng

Bộ Giáo dục và Đào tạo sửa đổi, bổ sung một số điều của Quy định đánh giá học sinh tiểu học ban hành kèm theo Thông tư số 30/2014/TT-BGDĐT và có hiệu lực từ

số năng lực, phẩm chất của học sinh tiểu học [5]

1.4.1.1 Đối tượng đánh giá

Văn bản này áp dụng đối với trường tiểu học; lớp tiểu học trong trường phổ thông có nhiều cấp học và trường chuyên biệt; cơ sở giáo dục khác thực hiện chương trình giáo dục phổ thông cấp tiểu học; tổ chức, cá nhân tham gia hoạt động giáo dục tiểu học

1.4.1.2 Mục đích đánh giá

- Giúp giáo viên điều chỉnh, đổi mới phương pháp, hình thức tổ chức hoạt động dạy học, hoạt động trải nghiệm ngay trong quá trình và kết thúc mỗi giai đoạn dạy học, giáo dục; kịp thời phát hiện những cố gắng, tiến bộ của học sinh

để động viên, khích lệ và phát hiện những khó khăn chưa thể tự vượt qua của học sinh để hướng dẫn, giúp đỡ; đưa ra nhận định đúng những ưu điểm nổi bật và những hạn chế của mỗi học sinh để có giải pháp kịp thời nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động học tập, rèn luyện của học sinh; góp phần thực hiện mục tiêu giáo dục tiểu học

Trang 31

- Giúp cán bộ quản lí giáo dục các cấp kịp thời chỉ đạo các hoạt động giáo dục, đổi mới phương pháp dạy học, phương pháp đánh giá nhằm đạt hiệu quả giáo dục

Như vậy, đánh giá học sinh tiểu học không chỉ nhằm mục đích xem xét, nhận định thực trạng, từ đó định hướng, điều chỉnh hoạt động của học sinh mà còn đồng thời tạo điều kiện xem xét, nhận định ra thực trạng và điều chỉnh hoạt động dạy của giáo viên

1.4.1.3 Yêu cầu đánh giá

- Đánh giá vì sự tiến bộ của học sinh; coi trọng việc động viên, khuyến khích

sự cố gắng trong học tập, rèn luyện của học sinh; giúp học sinh phát huy nhiều nhất khả năng; đảm bảo kịp thời, công bằng, khách quan

- Đánh giá toàn diện học sinh thông qua đánh giá mức độ đạt chuẩn kiến thức, kĩ năng và một số biểu hiện năng lực, phẩm chất của học sinh theo mục tiêu giáo dục tiểu học

- Đánh giá thường xuyên bằng nhận xét, đánh giá định kì bằng điểm số kết hợp với nhận xét; kết hợp đánh giá của giáo viên, học sinh, cha mẹ học sinh, trong

đó đánh giá của giáo viên là quan trọng nhất

- Đánh giá sự tiến bộ của học sinh, không so sánh học sinh này với học sinh khác, không tạo áp lực cho học sinh, giáo viên và cha mẹ học sinh

1.4.1.4 Nội dung đánh giá

- Đánh giá quá trình học tập, sự tiến bộ và kết quả học tập của học sinh theo chuẩn kiến thức, kĩ năng từng môn học và hoạt động giáo dục khác theo chương trình giáo dục phổ thông cấp tiểu học

- Đánh giá sự hình thành và phát triển năng lực, phẩm chất của học sinh: a) Năng lực: tự phục vụ, tự quản; hợp tác; tự học và giải quyết vấn đề;

b) Phẩm chất: chăm học, chăm làm; tự tin, trách nhiệm; trung thực, kỉ luật; đoàn kết, yêu thương

Trang 32

23

1.4.1.5 Hình thức đánh giá

* Đánh giá thường xuyên: Đánh giá thường xuyên là đánh giá trong quá

trình học tập, rèn luyện về kiến thức, kĩ năng, thái độ và một số biểu hiện năng lực, phẩm chất của học sinh, được thực hiện theo tiến trình nội dung của các môn học và các hoạt động giáo dục Đánh giá thường xuyên cung cấp thông tin phản hồi cho giáo viên và học sinh nhằm hỗ trợ, điều chỉnh kịp thời, thúc đẩy sự tiến bộ của học

sinh theo mục tiêu giáo dục tiểu học

* Đánh giá định kì: Đánh giá định kì là đánh giá kết quả giáo dục của học sinh

sau một giai đoạn học tập, rèn luyện, nhằm xác định mức độ hoàn thành nhiệm vụ học tập của học sinh so với chuẩn kiến thức, kĩ năng quy định trong chương trình giáo dục phổ thông cấp tiểu học và sự hình thành, phát triển năng lực, phẩm chất học sinh

Đánh giá định kì về học tập

a) Vào giữa học kì I, cuối học kì I, giữa học kì II và cuối năm học, giáo viên căn cứ vào quá trình đánh giá thường xuyên và chuẩn kiến thức, kĩ năng để đánh giá học sinh đối với từng môn học, hoạt động giáo dục theo các mức sau:

- Hoàn thành tốt: thực hiện tốt các yêu cầu học tập của môn học hoặc hoạt động giáo dục;

- Hoàn thành: thực hiện được các yêu cầu học tập của môn học hoặc hoạt động giáo dục;

- Chưa hoàn thành: chưa thực hiện được một số yêu cầu học tập của môn học hoặc hoạt động giáo dục;

b) Vào cuối học kì I và cuối năm học, đối với các môn học: Tiếng Việt, Toán, Khoa học, Lịch sử và Địa lí, Ngoại ngữ, Tin học, Tiếng dân tộc có bài kiểm tra định kì;

Đối với lớp 4, lớp 5, có thêm bài kiểm tra định kì môn Tiếng Việt, môn Toán vào giữa học kì I và giữa học kì II;

Đánh giá định kì về năng lực, phẩm chất

Vào giữa học kì I, cuối học kì I, giữa học kì II và cuối năm học, giáo viên chủ nhiệm căn cứ vào các biểu hiện liên quan đến nhận thức, kĩ năng, thái độ trong quá trình đánh giá thường xuyên về sự hình thành và phát triển từng năng lực, phẩm chất của mỗi học sinh, tổng hợp theo các mức sau:

Trang 33

24

a) Tốt: đáp ứng tốt yêu cầu giáo dục, biểu hiện rõ và thường xuyên;

b) Đạt: đáp ứng được yêu cầu giáo dục, biểu hiện nhưng chưa thường xuyên; c) Cần cố gắng: chưa đáp ứng được đầy đủ yêu cầu giáo dục, biểu hiện chưa rõ [6]

1.4.2 Những điểm đổi mới về đánh giá học sinh theoTT22/2016/TT/BGDĐT

Những quy định về đánh giá học sinh tiểu học tại TT 30/2014/TT-BGDĐT, sửa đổi bổ sung một số quy định tại TT22/2016/TT/BGDĐT đã có nhiều điểm đổi mới so với cách đánh giá HS tiểu học trước đây Cụ thể:

- Về mục đích đánh giá: Đánh giá khả năng vận dụng sáng tạo tri thức trong

các tình huống ứng dụng khác nhau, đặc biệt là các tình huống ứng dụng trong thực

tế, không lấy việc kiểm tra khả năng tái hiện kiến thức đã học làm trung tâm của đánh giá Đánh giá vì sự tiến bộ của bản thân HS, không nhằm mục đích so sánh học sinh này với HS khác Cách đánh giá này hướng tới giúp HS biết vận dụng các kiến thức, kĩ năng cũng như các năng lực, phẩm chất vào giải quyết các vấn đề của thực tiễn Biết tự đánh giá bản thân, phát hiện những tồn tại, thiếu sót những kiến thức kĩ năng cần bổ sung tạo điều kiện thúc đẩy sự tiến bộ của mỗi người Mục tiêu đánh giá này rất phù hợp với triết lí giáo dục của UNESCO: “Học để biết; Học để làm; Học để tồn tại; và học để chung sống”

- Nguyên tắc đánh giá: Đánh giá toàn diện HS thông qua mức độ đạt chuẩn

kiến thức, kĩ năng và một số biểu hiện sự hình thành của một số phẩm chất, năng lực Không đánh giá, xếp loại kết quả đạt được và khả năng phát triển từng mặt Nguyên tắc đánh giá mang tính nhân văn, giảm áp lực về điểm số, không đem so sánh học sinh này với học sinh khác, phối hợp cách đánh giá của GV, HS và cha mẹ học sinh nhằm giúp HS tiến bộ

- Nội dung đánh giá: Đánh giá về kiến thức, kĩ năng cũng như sự hình thành một

số phẩm chất năng lực của HS Đánh giá những kiến thức, kĩ năng, thái độ ở nhiều môn học, nhiều hoạt động giáo dục và những trải nghiệm của bản thân HS trong cuộc sống, tập trung vào khả năng thực hiện Các tiêu chí đánh giá được phân loại thành các mức độ

cụ thể, rõ ràng, tạo điều kiện cho GV đánh giá chính xác, đầy đủ hơn

- Về thời điểm đánh giá: GV đánh giá HS tại mọi thời điểm của quá trình dạy

học (đánh giá thường xuyên và đánh giá định kì) Quan tâm đến tiến độ hoàn thành từng nhiệm vụ của HS, có sự động viên, giúp đỡ kịp thời để HS vượt qua khó khăn; Chấp nhận sự khác biệt về thời gian, mức độ hoàn thành nhiệm vụ của mỗi HS

Trang 34

25

Tóm lại, cách đánh giá HS theo TT 32 /2009/TT-BGDĐT còn nặng về đánh giá kiến thức, kĩ năng và điểm số, còn TT30/2014/TT-BGDĐT và TT22/2016/TT/BGDĐT tập trung đánh giá năng lực của HS Xét về bản chất thì không có sự mâu thuẫn giữa hai cách đánh giá này mà đánh giá năng lực được coi là bước phát triển cao hơn so với đánh giá kiến thức, kĩ năng Đánh giá năng lực của HS không giới hạn trong các môn học mà được mở rộng trong các tình huống thực tiễn của cuộc sống, các kinh nghiệm giải quyết vấn đề và khả năng vận dụng của HS Cách đánh giá mới vừa mang tính nhân văn vừa mang tính phát triển

1.5 Triển khai hoạt động đánh giá HS tiểu học theo TT 22 của Bộ GD&ĐT

Hoạt động đánh giá HS là hoạt động rất quan trọng, có ý nghĩa tác động ngược lại điều chỉnh nội dung, phương pháp, cách thức dạy học sao cho phù hợp để đạt được mục tiêu giáo dục đề ra Bởi vậy, để hoạt động đánh giá HS đạt được kết quả tốt, CBQL cần triển khai tốt hoạt động này CBQL có thể triển khai hoạt động đánh giá theo các nội dung: Lập kế hoạch; tổ chức thực hiện; chỉ đạo thực hiện; kiểm tra, giám sát hoạt động đánh giá HS

1.5.1 Lập kế hoạch hoạt động đánh giá học sinh

Lập kế hoạch là bước đầu tiên có ý nghĩa quan trọng để triển khai hoạt động đánh giá đạt hiệu quả Để lập được kế hoạch hoạt động đánh giá, CBQL cần thu thập các thông tin cần thiết về mục tiêu giáo dục, biên chế năm học, các văn bản, chỉ thị, hướng dẫn về đánh giá, xếp loại học sinh theo TT22/2016/TT/BGDĐT và đặc điểm tình hình của địa phương, nhà trường để có kế hoạch đánh giá cho phù hợp Hiệu trưởng cần lập kế hoạch về các nội dung:

- Mục tiêu của hoạt động đánh giá HS theo TT22/2016/TT/BGDĐT

- Nâng cao nhận thức của đội ngũ CBQL, GV, tuyên truyền sâu rộng tới cha

mẹ học sinh, các lực lượng xã hội về vai trò của đánh giá trong quá trình dạy học

- Đổi mới công tác quản lí trong quá trình thực hiện nhiệm vụ năm học, đánh giá học sinh theo theo TT22/2016/TT/BGDĐT

- Xây dựng kế hoạch bồi dưỡng HS yếu kém hoặc có năng lực đặc biệt từ kết quả đánh giá HS

Trong công tác xây dựng kế hoạch hoạt động đánh giá HS, phải chú ý đảm bảo các yêu cầu cơ bản sau đây:

Trang 35

26

- Đảm bảo mục tiêu chung của giáo dục tiểu học

- Phù hợp với nhiệm vụ dạy học

- Phù hợp với kế hoạch dạy học của nhà trường

- Phù hợp với năng lực của đội ngũ GV và HS

- Phù hợp với điều kiện cơ sở vật chất, thiết bị của nhà trường

- Phù hợp với kinh phí cho hoạt động kiểm tra, đánh giá

1.5.2 Tổ chức thực hiện hoạt động đánh giá học sinh

Từ kế hoạch đã lập, CBQL sẽ chuyển hoá sắp xếp kế hoạch hợp lý trong thực

tế của trường mình Lựa chọn, phân công các nguồn nhân lực để thực hiện các nội dung trong kế hoạch đề ra Phân công GV cốt cán, có trình độ tập huấn về cách đánh giá HS, phân công cho các các tổ, khối trưởng, GV lên kế hoạch đánh giá HS theo kế hoạch của trường, xây dựng các đề kiểm tra theo yêu cầu Việc lựa chọn nhân lực thực hiện kế hoạch có vai trò rất quan trọng quyết định đến sự thành công của kế hoạch đã đề ra Vì vậy, yêu cầu CBQL phải giao “đúng người, đúng việc” mới có thể phát huy tối đa hiệu quả công việc Không những thế, cần có sự liên hệ, gắn kết giữa các bộ phận để việc đánh giá học sinh được toàn vẹn hơn

1.5.3 Chỉ đạo thực hiện hoạt động đánh giá học sinh

Sau khi đã lập kế hoạch, cơ cấu tổ chức bộ máy và nhân lực đã được lựa chọn, người CBQL trong trường tiểu học phải chỉ đạo, chỉ huy, dẫn dắt tổ chức thực hiện thành công kế hoạch đề ra Quá trình chỉ đạo thực hiện đòi hỏi người CBQL phải chỉ đạo, liên hệ với các thành viên trong tổ chức để động viên họ hoàn thành những nhiệm vụ được giao nhằm đạt được mục tiêu đổi mới đánh giá học sinh Cần

có sự hướng dẫn cụ thể đối với từng hoạt động để GV có thể nắm rõ được công việc mình cần làm và thực hiện có hiệu quả hơn Cần chỉ đạo, hướng dẫn:

- Tập huấn, giúp GV hiểu về: mục tiêu, nội dung, cách đánh giá HS theo TT22/2016/TT/BGDĐT

- Hướng dẫn cụ thể cách xây dựng kế hoạch đánh giá HS, cách xây dựng đề kiểm tra theo thang nhận thức của Bloom: Biết, hiểu, biết vận dụng và vận dụng linh hoạt

- Hướng dẫn sử dụng kết quả đánh giá để xếp loại HS

- Theo dõi, giám sát; điều chỉnh sửa chữa với tư cách là người hướng dẫn, trợ giúp kỹ thuật trong quá trình thực hiện kế hoạch kiểm tra

Trang 36

27

- Kiểm tra, đôn đốc, động viên, khích lệ các cán bộ, GV để nắm bắt được tiến độ thực hiện và có hình thức khen thưởng phù hợp khuyến khích GV thực hiện tốt hoạt động đánh giá HS

Chỉ đạo thực hiện kế hoạch kiểm tra, đánh giá trong nhà trường nói chung là một hoạt động cần được CBQL thực hiện thường xuyên, liên tục và diễn ra trong suốt năm học

1.5.4 Kiểm tra, giám sát hoạt động đánh giá học sinh

Kiểm tra, giám sát là khâu cuối cùng của việc triển khai hoạt động đánh giá thông qua đó, CBQL trong trường tiểu học theo dõi, giám sát các thành quả hoạt động và tiến hành những hoạt động sửa chữa, uốn nắn nếu cần thiết CBQL phải thường xuyên kiểm tra, giám sát hoạt động đánh giá HS trong trường để nắm bắt tiến độ thực hiện hoạt động đồng thời phát hiện những khó khăn, vướng mắc trong qua quá trình thực hiện để điều chỉnh sao cho đúng với các quy định đánh giá của

Bộ GD & ĐT, Phòng GD & ĐT, của nhà trường Công tác kiểm tra, giám sát bao gồm kiểm tra đột xuất, kiểm tra thường xuyên và kiểm tra định kì Việc kiểm tra, giám sát hoạt động đánh giá HS cần được thực hiện theo 4 bước:

Bước 1: Định chuẩn để đánh giá quá trình đánh giá HS của GV

Bước 2: Đánh giá theo chuẩn đã định

Bước 3: Khẳng định điều làm được hoặc chưa làm được theo kế hoạch dựa trên chuẩn đã định

Bước 4: Xử lý kết quả để quyết định chỉ đạo hoặc điều chỉnh việc hoàn thiện của GV sao cho hoạt động đánh giá HS được thực hiện tốt hơn

Nhà trường thông qua các buổi họp chuyên môn phải có đánh giá, nhận xét việc thực hiện quy trình kiểm tra đánh giá đối với từng môn, chỉ rõ những thuận lợi, khó khăn khi thực hiện Từ đó, sẽ đưa ra những vấn đề cần chỉnh sửa (kế hoạch,

chính sách, quy trình…) giúp cho các lần thực hiện tiếp theo sẽ có kết quả cao hơn

1.6 Những yếu tố ảnh hưởng đến việc triển khai hoạt động đánh giá học sinh Tiểu học theo Thông tư 22 của Bộ Giáo dục và Đào tạo

1.6.1 Tâm lí lứa tuổi học sinh Tiểu học

HS tiểu học là thường những trẻ có tuổi từ 6-11, 12 tuổi Đây là lứa tuổi lần đầu tiên đến trường - trở thành HS và có hoạt động học tập là hoạt động chủ đạo

Trang 37

28

Trong điều kiện sống và hoạt động mới của nhà trường, đời sống tâm lí của HS tiểu học có những biến đổi và phát triển Cụ thể đặc điểm nhận thức của trẻ có những đặc điểm sau:

Tri giác của trẻ còn mang tính không chủ định, tính cảm xúc, tính đại thể Trong qua trình tri giác, trẻ thường tập trung vào một vài chi tiết nào đó của đối tượng và cho là đấy là tất cả Trẻ nhận ra các đối tượng không phải là các dấu hiệu

cơ bản, bản chất mà là những gì trực tiếp gây cho trẻ những cảm xúc “Khi trẻ tri giác thường “thâu tóm” đối tượng về cái toàn thể, trong đó các bộ phận các chi tiết hỗn hợp với nhau; tình cảm, hứng thú của trẻ cũng hỗn hợp với ý nghĩa và tính chất khách quan của đối tượng” [26]

Đặc điểm tư duy của trẻ còn mang tính trực quan, cụ thể (nhất là các lớp đầu tiểu học: lớp 1, lớp 2, lớp 3) và có sự chuyển dần sang tư duy trừu tượng, khái quát

ở các lớp cuối tiểu học (lớp 4, lớp 5) Các em thường chỉ biết phán đoán một chiều, dựa vào dấu hiệu duy nhất nên phán đoán của các em thường mang tính khẳng định

Nhu cầu nhận thức là một trong những nhu cầu tinh thần có ý nghĩa quan trọng đặc biệt đối với sự phát triển tâm lí nói chung và trí tuệ nói riêng của HS tiểu học Khi các em có nhu cầu nhận thức các em sẽ tích cực học tập và khám phá tri thức Các nhà tâm lí học cho rằng nhu cầu nhận thức sẽ được phát triển thuận lợi nếu hoạt động học của HS không quá căng thẳng thần kinh, không bị những thất bại lặp đi lặp lại trong học tập GV tiểu học phải biết làm cho HS tin vào khả năng nhận thức của mình

Mục đích cuối cùng của đánh giá là động viên, khuyến khích, tạo động lực cho HS học tập Vì vậy việc thay đôi các nội dung, hình thức đánh giá có ảnh hưởng không nhỏ đến tâm lí của trẻ Với mỗi trẻ có những cách tiếp cận không giống nhau

về cách đánh giá mới

1.6.2 Năng lực của CBQL và GV trường Tiểu học

Năng lực và phẩm chất của CBQL có ảnh hưởng không nhỏ tới việc triển khai hoạt động đánh giá HS tiểu học Để triển khai hoạt động đánh giá đạt hiệu quả, CBQL phải hiểu rõ mục đích, am hiểu sâu sắc các nội dung, nắm chắc các phương pháp, yêu cầu, nguyên tắc của hoạt động đánh giá Đồng thời, CBQL còn phải là một nhà giáo có uy tín, có kinh nghiệm, có năng lực tổ chức các hoạt động kiểm tra

Trang 38

29

đánh giá trong nhà trường có hiệu quả Trong trường tiểu học, người Hiệu trưởng cần quan tâm đến tâm lí của HS tiểu học để có hướng dẫn, chỉ đạo giáo viên đánh giá HS phù hợp với từng đối tượng, từng môn học

Chất lượng GV có ý nghĩa quyết định trong hoạt động đánh giá học sinh hiện nay GV đóng vai trò là người chủ đạo trong việc hướng dẫn, xây dựng các nội dung, và trực tiếp tiến hành các hoạt động đánh giá học sinh, chất lượng của hoạt động kiểm tra, đánh giá được xác định một phần lớn do kỹ năng xây dựng nội dung các hoạt động kiểm tra và kỹ năng cho điểm, nhận xét, đánh giá học sinh của GV Trong việc triển khai hoạt động đánh giá học sinh, GV là cầu nối giữa HS với ban giám hiệu, giữa nhà trường với gia đình học sinh, giữa HS với nhau, nhằm đảm bảo thực hiện có hiệu quả các mục tiêu của quá trình dạy học

Trang 39

30

Tiểu kết chương 1

Đánh giá là khâu cuối cùng trong quá trình dạy học nhưng lại là khâu quan trọng nhất giúp CBQL, GV, HS, cha mẹ học sinh điều chỉnh phương pháp, phương tiện dạy học, tạo động lực học tập cho HS nhằm đạt được mục tiêu giáo dục đề ra Việc nắm được mục đích, yêu cầu, các phương tiện đánh giá và quy trình đánh giá

có ý nghĩa quan trọng giúp hoạt động đánh giá HS đạt hiệu quả tốt nhất

Chương I: tác giả đã tập trung nghiên cứu các vấn đề lí luận lí luận về:

- Đánh giá, hoạt động đánh giá học sinh, triển khai hoạt động đánh giá HS

- Vai trò, mục đích, chức năng, hình thức đánh giá, các phương pháp đánh giá học sinh ở Tiểu học

- Một số nội dung tiêu biểu của TT 22 và những điểm đổi mới trong cách đánh giá của TT22

- Các nội dung triển khai hoạt động đánh giá học sinh theo TT 22 của Bộ Giáo dục và Đào tạo

- Các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động đánh giá học sinh theo TT 22 của Bộ Giáo dục và Đào tạo

Hoạt động đánh giá học sinh theo TT22/2016/TT/BGDĐT có nhiều điểm đổi mới, phát huy được năng lực cho HS Nếu triển khai tốt hoạt động đánh giá HS tiểu học theo TT22/2016/TT/BGDĐT sẽ góp phần nâng cao chất lượng dạy học tiểu học nói riêng và chất lượng giáo dục phổ thông nói chung Tuy nhiên việc triển khai đánh giá HS theo thông tư này còn một số hạn chế Vì vậy việc nghiên cứu các cơ

sở lí luận trong chương I sẽ làm cơ sở để:

- Điều tra thực trạng triển khai hoạt động đánh giá học sinh theo tại trường tiểu học Trần Quốc Toản, Thành phố Bắc Ninh theo TT22/2016/TT/BGDĐT

- Đề xuất những biện pháp triển khai hoạt động đánh giá học sinh tại trường tiểu học Trần Quốc Toản, thành phố Bắc Ninh theo TT22/2016/TT/BGDĐT đạt hiệu quả cao

Trang 40

31

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG TRIỂN KHAI HOẠT ĐỘNG ĐÁNH GIÁ HỌC SINH TẠI TRƯỜNG TIỂU HỌC TRẦN QUỐC TOẢN - TP BẮC NINH THEO THÔNG TƯ 22 CỦA BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

2.1 Giới thiệu về trường Tiểu học Trần Quốc Toản - TP Bắc Ninh

2.1.1 Quá trình hình thành và quy mô phát triển

Trường Tiểu học Trần Quốc Toản nằm trên đường Đỗ Trọng Vỹ thuộc phường Ninh Xá, thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh Trường thành lập năm 2016, được xây dựng là trường trọng điểm chất lượng cao của thành phố, trực thuộc phòng GD&ĐT Trường được đặt trên khuôn viên của trường Chuyên Bắc Ninh (cũ) với diện tích là 12000m2

Với cơ chế tuyển sinh đặc thù, trường được tuyển học sinh từ 19 xã, phường trên địa bàn thành phố Nhìn chung, cha mẹ học sinh đều quan tâm đến việc học của con, HS có nhận thức khá, có ý thức trong học tập

Quy mô phát triển của trường được xây dựng đến năm 2022 như sau:

Bảng 2.1 Quy mô phát triển trường

Năm học

Số lớp

Số

HS

Số lớp

Số

HS

Số lớp

Số

HS

Số lớp

Số

HS

Số lớp

Số

HS

Số lớp

Số

HS

2016-2017 15 525 3 105 3 105 3 105 3 105 3 105 2017-2018 19 665 7 245 3 105 3 105 3 105 3 105 2018-2019 23 805 7 245 7 245 3 105 3 105 3 105 2019-2020 27 945 7 245 7 245 7 245 3 105 3 105 2020-2021 31 1085 7 245 7 245 7 245 7 245 3 105 2021-2022 35 1225 7 245 7 245 7 245 7 245 7 245

(Nguồn: Đề án xây dựng trường tiểu học chất lượng cao)

Được sự quan tâm của các cấp ủy đảng chính quyền, cùng với sự nỗ lực không ngừng của đội ngũ cán bộ giáo viên, nhân viên, học sinh, Hội cha

mẹ học sinh trường Tiểu học Trần Quốc Toản ngày càng đổi mới và đạt được nhiều thành tích

Ngày đăng: 17/03/2021, 07:39

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w