1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thiết kế và sử dụng hệ thống câu hỏi trong dạy học nội dung tổ hợp xác suất chương trình đại số giải tích lớp 11 cơ bản

120 20 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 120
Dung lượng 1,63 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Từ những đòi hỏi trên đây của sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước ta,sự nghiệp giáo dục không ngừng đổi mới như đã định hướng, đã được pháp chế hóa trong Luật giáo dục 2005 điều 28

Trang 1

đại học quốc gia hà nội tr-ờng đại học Giáo dục

Trang 2

LêI C¶M ¥N

Để hoàn thành luận văn này, ngoài sự cố gắng của bản thân, tôi đã nhận được sự giúp đỡ của các thầy cô, bạn bè, các anh chị em đồng nghiệp, các em học sinh và những người thân trong gia đình Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến:

GS.TS Nguyễn Hữu Châu- Người đã tận tình hướng dẫn, động viên,

giúp đỡ, chỉnh sửa chi tiết cho từng trang của luận văn

Các thầy cô giáo của trường ĐHGD-ĐHQG Hà Nội đã trực tiếp giảng dạy và đóng góp nhiều ý kiến quý báu giúp tôi hoàn thành luận văn này

Sở giáo dục và đào tạo Hải Dương, Ban giám hiệu và toàn thể các thầy giáo, cô giáo, các em học sinh ở hai trường THPT Nguyễn Du và THPT Hoàng Văn Thụ- tp Hải Dương đã giúp đỡ và tạo điều kiện cho tôi trong thời gian học tập và hoàn thành luận văn

Những người thân trong gia đình và các bạn bè đã động viên, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập

Hà nội, ngày 28 tháng 10 năm 2013

Tác giả

Phạm Thị Dung

Trang 4

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 1.2.Kết quả điều tra thực trạng thăm dò ý kiến của GV1 108 Bảng 1.3.Kết quả điều tra thực trạng thăm dò ý kiến của HS1 112

Bảng 3.3.Phân phối tần số,tần suất và tần số tích lũy bài kiểm tra số 1 92 Bảng 3.4.Tổng hợp kết quả học tập bài kiểm tra số 1 93

Bảng 3.6.Phân phối tần số,tần suất và tần số tích lũy bài kiểm tra số 2 94 Bảng 3.7.Tổng hợp kết quả học tập bài kiểm tra số 2 95

Bảng 3.9.Phân phối tần số,tần suất và tần số tích lũy bài kiểm tra số 3 96 Bảng 3.10.Tổng hợp kết quả học tập bài kiểm tra số 3 97

Bảng 3.12.Phân phối tần số,tần suất và tần số tích lũy qua babài kiểm tra 98 Bảng 3.13.Tổng hợp kết quả học tập ba bài kiểm tra 98 Bảng 3.14.Tổng hợp các tham số đặc trưng của ba bài kiểm tra 99

Trang 5

DANH MỤC CÁC ĐỒ THỊ, HÌNH VẼ

Hình 2.1 Quy trình thiết kế bộ câu hỏi định hướng bài học 50 Hình 2.2.Quy trình sử dụng bộ câu hỏi định hướng bài học 69 Hình 3.1.Đồ thị đường tích lũy bài kiểm tra số 1 92 Hình 3.2.Biểu đồ phân loại HS theo kết quả bài kiểm tra số 1 93 Hình 3.3.Đồ thị đường tích lũy bài kiểm tra số 2 94 Hình 3.4.Biểu đồ phân loại HS theo kết quả bài kiểm tra số 2 95 Hình 3.5.Đồ thị đường tích lũy bài kiểm tra số 3 96 Hình 3.6.Biểu đồ phân loại HS theo kết quả bài kiểm tra số 3 97 Hình 3.7.Biểu đồ phân loại HS theo kết quả ba bài bài kiểm tra 99 Hình 3.8 Đồ thị đường tích lũy ba bài kiểm tra

Trang 6

MỞ ĐẦU 1.Lý do chọn đề tài

Sự phát triển kinh tế xã hội của Việt Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế, với những ảnh hưởng của xã hội tri thức và toàn cầu hóa, tạo ra những cơ hội nhưng đồng thời cũng tạo ra những yêu cầu mới đối với giáo dục trong việc đào tạo đội ngũ lao động Thị trường lao động luôn đòi hỏi ngày càng cao ở đội ngũ người lao động năng lực hành động , khả năng sáng tạo,linh hoạt,tính trách nhiệm,năng lực cộng tác làm việc và khả năng giải quyết các vấn đề phức hợp trong những tình huống thay đổi Trong xã hội tri thức, việc phát triển kinh tế- xã hội dựa vào tri thức

Vì vậy giáo dục đóng vai trò then chốt trong việc phát triển kinh tế xã hội thông qua việc đào tạo con người, chủ thể sáng tạo và sử dụng tri thức Việc chính thức gia nhập WTO của Việt Nam ( ngày 11.01.07) trước hết sẽ làm tăng nhu cầu của thị trường lao động đối với đội ngũ nhân lực có trình độ cao

Từ những đòi hỏi trên đây của sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước ta,sự nghiệp giáo dục không ngừng đổi mới như đã định hướng, đã được pháp chế hóa trong Luật giáo dục 2005 điều 28.2 đã ghi “ Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực , tự lực, chủ động , sáng tạo, của học sinh, phù hợp với đặc điểm của từng lớp học , môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học , khả năng làm việc theo nhóm; rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn; tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui hứng thú cho học sinh”

Để phát huy tính tích cực học tập của học sinh, GV dạy học bằng cách hỏi, không nên dạy học bằng cách nói Giáo viên cần phải biết đặt câu hỏi một cách logic,ngắn gọn mà vẫn rõ vấn đề cần hỏi, đặc biệt là câu hỏi mang tính liên môn và vận dụng vào thực tiễn cuộc sống để kích thích vào óc tò mò, ham hiểu biết của HS,

từ đó gây được hứng thú học tập cho HS, làm cho HS thật sự bị lôi cuốn vào việc tìm câu trả lời cho các câu hỏi Thông qua việc trả lời các câu hỏi của GV, HS lĩnh hội được kiến thức một cách chủ động và nhận thức được mối liên hệ giữa môn học với thực tiễn cuộc sống quanh mình, khi đó HS thấy được việc học tập có ý nghĩa quan trọng trong cuộc sống

Đặt ra các câu hỏi cho HS trong một giờ lên lớp là công việc rất quen thuộc đối với mỗi giáo viên, nhưng nó đòi hỏi sự chuẩn bị chu đáo thì mới đem lại hiệu quả Để câu hỏi phát huy được tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo, đem lại hứng thú học tập cho học sinh thì không phải điều đơn giản.Thực tiễn giảng dạy hiện nay còn có nhiều giáo viên đưa ra hệ thống câu hỏi một cách tùy tiện, cảm tính, thậm chí không có sự chuẩn bị trước, nhiều bài dạy không có câu hỏi định hướng

Trang 7

Thái độ ứng xử của GV trong quá trình hỏi đáp chưa phù hợp với tâm lí, lứa tuổi HS Chính vì vậy mà các hoạt động trong một giờ dạy không gắn kết với nhau làm cho việc hiểu bài của học sinh bị hạn chế

Hiện nay sách giáo khoa không có sự phân loại các đối tượng học sinh Vậy cuốn chuẩn kiến thức kỹ năng ra đời nhằm khẳng định phạm vi kiến thức, yêu cầu cần đạt tối thiểu của mỗi bài dạy cho mọi học sinh ở mỗi vùng miền, nhờ

có cuốn chuẩn kiến thức mà HS không bị nhồi nhét kiến thức, không bị quá tải.Nhờ có cuốn chuẩn kiến thức mà GV dạy học linh hoạt hơn, phù hợp với đối tượng học sinh của mình

Từ những lí do nêu trên tôi nhận thấy: Thiếu câu hỏi định hướng bài học sẽ dẫn đến HS bị động trong việc tiếp thu kiến thức, giờ học trở nên nhàm chán, nội dung bài học trình bày nông cạn, hời hợt Đổi mới phương pháp dạy học bằng cách

sử dụng hệ thống câu hỏi hiệu quả là một việc rất cần thiết , có tính khả thi, có tính hữu dụng đối với giáo viên và góp phần nâng cao chất lượng dạy học môn toán Vì vậy tôi chọn đề tài : “ Thiết kế và sử dụng hệ thống câu hỏi trong dạy học nội dung

Tổ hợp-xác suất , chương trình Đại số- giải tích lớp 11,ban cơ bản ” làm đề tài nghiên cứu của mình với mong muốn góp phần vào việc đổi mới phương pháp dạy học môn Toán ở trường phổ thông hiện nay

2 Mục đích và nhiệm vụ của đề tài

2.1.Mục đích

Nghiên cứu thiết kế và sử dụng bộ câu hỏi định hướng bài học trong dạy học phần Tổ hợp-xác suất lớp 11 cơ bản ,nhằm phát huy tính tích cực nhận thức học tập của học sinh góp phần đổi mới PPDH môn toán phổ thông

2.2 Nhiệm vụ

- Nghiên cứu cơ sở lý luận liên quan đến đề tài : Tính tích cực học tập , thiết

kế và sử dụng câu hỏi trong dạy học

- Nghiên cứu nội dung chương trình, chuẩn kiến thức và kỹ năng toán 11 , đi sâu vào phần Tổ hợp-xác suất

- Tìm hiểu thực trạng của việc sử dụng câu hỏi trong dạy học toán ở trường THPT Những khó khăn trong dạy và học chương Tổ hợp-Xác suất

- Đề xuất phương pháp thiết kế và sử dụng bộ câu hỏi định hướng bài học

Trong dạy học nhằm phát huy tính tích cực học tập của học sinh và nâng cao chất lượng dạy học toán lớp 11 ở trường THPT theo chuẩn kiến thức kỹ năng

- Vận dụng để thiết kế giáo án một số bài học chươngTổ hợp-xác suất lớp 11

cơ bản, ở trường THPT theo chuẩn kiến thức kỹ năng

Trang 8

- Thực nghiệm sư phạm nhằm kiểm chứng tính khả thi của các đề xuất và hiệu quả của bộ câu hỏi định hướng đã được thiết kế

3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu

3.1 Khách thể nghiên cứu

Quá trình dạy học môn toán ở trường THPT

3.2 Đối tượng nghiên cứu

Xây dựng và sử dụng bộ câu hỏi định hướng bài học trong dạy học chương

Tổ hợp- xác suất lớp 11 theo hướng dạy học tích cực

4 Giả thuyết khoa học

Nếu GV thiết kế được bộ câu hỏi định hướng bài học đa dạng , phong phú, rõ ràng và sử dụng chúng một cách hợp lý trong tổ chức các hoạt động học tập sẽ tạo được hứng thú học tập và phát huy tính tích cực học tập cho HS đồng thời nâng cao được chất lượng dạy học môn Toán phổ thông

5 Phương pháp nghiên cứu

5.1 Phương pháp nghiên cứu lý thuyết

Thu thập, phân tích, tổng quan , cơ sở lí luận về lí thuyết nhận thức học tập

và phương pháp dạy học bằng câu hỏi,câu hỏi định hướng bài học và chuẩn KTKN

5.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn

-Điều tra GV về việc sử dụng hệ thống câu hỏi định hướng trong dạy học môn toán ở trường phổ thông

-Quan sát quá trình dạy học môn Toán có sử dụng câu hỏi, dự giờ, đánh giá khả năng sử dụng câu hỏi trong giờ học

-Trò chuyện , trao đổi, phỏng vấn các chuyên gia, các thầy cô giáo nhiều kinh nghiệm, các học sinh về việc sử dụng bộ câu hỏi định hướng bài học trong các giờ học

- Điều tra bằng phiếu câu hỏi

-Thực nghiệm sư phạm.Kiểm định tính phù hợp của bộ câu hỏi xây dựng và tính hiệu quả của các phương pháp (PP) sử dụng chính trong dạy học môn Toán

5.3 Phương pháp xử lí thông tin

Sử dụng phương pháp thống kê toán học để xử lí kết quả thực nghiệm sư phạm

6 Điểm mới của đề tài

- Đề xuất nguyên tắc thiết kế và quy trình sử dụng bộ câu hỏi định hướng trong dạy học môn toán ở trường phổ thông

- Thiết kế bộ câu hỏi định hướng bài học trong phần Tổ hợp-xác suất lớp 11

cơ bản, theo chuẩn kiến thức kỹ năng

Trang 9

- Vận dụng bộ câu hỏi định hướng để thiết kế một số giáo án bài dạy chương

Tổ hợp-xác suất lớp 11 cơ bản, ở trường THPT

Trang 10

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI

1.1.Lịch sử của vấn đề nghiên cứu

Đổi mới phương pháp dạy học bằng cách đặt câu hỏi hiện nay là vấn đề đang được giáo viên (GV) , các nhà nghiên cứu giáo dục chú ý và quan tâm bởi tính đơn giản, hiệu quả

và khả thi của nó.Điều cơ bản là GV cần chuẩn bị cho mình bộ câu hỏi định hướng bài học hiệu quả để điều khiển hoạt động của học sinh (HS) trong các giờ học theo chuẩn kiến thức

và kỹ năng được Bộ giáo dục ban hành Vấn đề này đã được đề cập trong một số tài liệu lí luận cũng như một số luận văn như:

- TS Nguyễn Đình Chỉnh (1995), Vấn đề đặt câu hỏi của giáo viên đứng lớp, kiểm tra đánh giá việc học tập của học sinh, NXB Hà Nội

- TS Lê Phước Lộc (2005), Câu hỏi và việc sử dụng câu hỏi trong dạy học,

Tạp chí nghiên cứu khoa học, Trường Đại Học Cần Thơ

- Robert J- Marzano Debra J- Pickering-Jane E- Pollock (2011), Các phương pháp dạy học hiệu quả, NXB Giáo dục Việt Nam

- Geoffrey Petty, Dạy học ngày nay, NXB Stanley Thomes

- Phạm Ngọc Thanh Tâm (2009), Thiết kế bộ câu hỏi định hướng bài học lớp 10 trung học phổ thông chương trình nâng cao, Luận văn thạc sĩ, ĐHSP thành

phố Hồ Chí Minh

Nhìn chung , nghiên cứu sử dụng câu hỏi trong dạy học đã có nhiều tác giả đề cập, nhưng chủ yếu đề cập đến việc dùng câu hỏi cho kiểm tra đánh giá , còn câu hỏi mang tính định hướng bài học theo chuẩn kiến thức kỹ năng thì chưa nhiều

1.2.Thuyết nhận thức trong dạy học [10], [15], [18], [22], [32],[33]

1.2.1 Thuyết nhận thức

Thuyết nhận thức ra đời trong nửa đầu thế kỷ 20 và phát triển mạnh trong nửa sau của thế kỷ này Các đại diện lớn của thuyết này là nhà tâm lý học người Áo Piagie , nhà tâm lý học Xô viết Vưgotski, Leotev…

1.2.1.1 Những quan niệm cơ bản của thuyết nhận thức

-Thuyết nhận thức nghiên cứu quá trình nhận thức bên trong với tư cách là quá trình xử lý thông tin

- Quá trình nhận thức là quá trình có cấu trúc và có ảnh hưởng quyết định đến hành vi Con người tiếp thu các thông tin bên ngoài, xử lí và đánh giá chúng, từ

đó quyết định các hành vi ứng xử

Trang 11

- Trung tâm của quá trình nhận thức là các hoạt động trí tuệ như : xác định, phân tích và hệ thống hóa các sự kiện và hiện tượng, nhớ lại những kiến thức đã học, giải quyết các vấn đề phát triển, hình thành các ý tưởng mới

- Cấu trúc nhận thức của con người không phải bẩm sinh đã có mà hình thành qua kinh nghiệm

- Mỗi người có cấu trúc nhận thức riêng.Vì vậy, muốn có sự thay đổi đối với một người thì cần có tác động phù hợp nhằm thay đổi nhận thức của người đó

- Con người có thể điều chỉnh quá trình nhận thức: tự đặt mục đích, xây dựng

Nhiệm vụ của người dạy là tạo ra môi trường học tập thuận lợi, thường xuyên khuyến khích các quá trình tư duy, HS cần được tạo cơ hội hoạt động và tư duy tích cực Để kích thích hoạt động tư duy của HS, GV cần đặt câu hỏi nêu ra vấn

đề nghiên cứu và câu hỏi gợi mở để giải quyết vấn đề

Giải quyết vấn đề có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc phát triển tư duy của HS Việc trả lời câu hỏi cho một hệ thống câu hỏi gợi mở theo logic chặt chẽ giúp HS nắm được các phương pháp tư duy giải quyết các vấn đề học tập cũng như các vấn đề trong cuộc sống

Các phương pháp học tập có vai trò quan trọng trong quá trình học tập của học sinh Phương pháp tự học, tự đặt câu hỏi, tự tìm câu trả lời có ý nghĩa đặc biệt quan trọng để phát triển tư duy sáng tạo cho HS

Việc học tập thực hiện theo nhóm có vai trò quan trọng, giúp tăng cường những khả năng về mặt xã hội

Trong dạy học cần có sự kết hợp giữa nội dung do GV truyền đạt với những nhiệm vụ tự lực chiếm lĩnh và vận dụng tri thức của HS

Ngày nay, thuyết nhận thức được thừa nhận và ứng dụng rộng rãi trong dạy học Những kết quả nghiên cứu của nó được vận dụng trong việc tối ưu hóa quá trình dạy học, nhằm phát triển khả năng nhận thức của học sinh, đặc biệt là phát triển tư duy Các phương pháp, quan điểm dạy học được đặc biệt chú ý là : Dạy học giải quyết vấn đề, dạy học định hướng hành động, dạy học khám phá, dạy học theo nhóm….Tuy nhiên, việc vận dụng thuyết nhận thức cũng có hạn chế như: Đòi hỏi

Trang 12

nhiều thời gian, đòi hỏi cao về sự chuẩn bị cũng như năng lực của GV Cấu trúc quá trình tư duy không quan sát được trực tiếp nên những mô hình dạy học nhằm tối ưu hóa quá trình nhận thức cũng chỉ mang tính giả thuyết

+ Đặc điểm chung của các cá thể sống trong môi trường tương quan với các hoạt động.TTC là động lực của các quá trình hình thành, thực hiện và thay đổi các loại hình hoạt động TTC cũng là thuộc tính quan trọng của sự vận động bên trong của hoạt động TTC còn bị chi phối mạnh mẽ bởi những hành động xảy ra, tính đặc thù bên trong của chủ thể, mục đích của hành động trong hiện tại, và những khả năng vượt qua khả năng giới hạn của mục đích ban đầu

Từ điển giáo dục học định nghĩa TTC là nét tính cách rất quan trọng của nhân cách con người, thể hiện năng lực làm thay đổi thực tiễn theo nhu cầu,mục đích của chủ thể trong hoạt động sản xuất, học tập, sáng tạo, đấu tranh.TTC được định hướng đúng đắn, nhằm phục vụ những mục đích tốt đẹp, cao cả thì hoạt động của con người mới có giá trị đích thực, mới đem lại lợi ích cho bản thân và xã hội

Vì vậy , nét tính cách này cần được giáo dục từ bé, bằng cách tạo ra những tình huống để đứa trẻ tự tìm tòi thỏa mãn đòi hỏi Trong quá trình đó, người lớn có thể mách bảo, giúp đỡ để đứa trẻ đi đúng hướng , nhưng tránh việc làm thay vì sẽ tạo cho trẻ tính ỷ lại , thụ động Kết quả của việc làm này, sẽ động viên trẻ hăng hái tự lập giải quyết các nhu cầu của mình và dần tham gia vào công việc chung của gia đình, của tập thể

Theo tác giả Nguyễn Xuân Thức ,TTC bao hàm những dấu hiệu sau:

+ Nhu cầu tâm lý hoạt động của con người là động lực của tính tích cực Nhu cầu tồn tại như khát vọng, nguồn gốc bên trong của TTC hoạt động của con người Nó thể hiện qua sự tự nguyện hoạt động nhằm thỏa mãn nhu cầu đó

Trang 13

gắn liền với hoạt động, nó là động lực để hình thành và thực hiện hoạt động Nó liên quan đến trạng thái tâm lí bên trong của chủ thể, thích ứng một cách chủ động với hoàn cảnh và môi trường bên ngoài

Trên cơ sở đó, chúng tôi cho rằng : TTC là khái niệm phản ánh mối liên hệ của con người với hiện thực, quy định phương thức tồn tại của con người trong hiện thực đó Mức độ hoạt động của mỗi con người là khác nhau TTC và tính thụ động phân biệt với nhau nhưng không triệt tiêu nhau Khi TTC là tối đa thì tính thụ động

là tối thiểu và ngược lại TTC và hoạt động phải thống nhất với nhau, là hai khái niệm cùng để chỉ phương thức tồn tại của con người trong hiện thực Khi con người hoạt động tức là họ tích cực , con người tích cực là con người hoạt động

1.2.3 Tính tích cực học tập [24], [33], [36], [38]

Mỗi con người luôn có TTC gọi là TTC cá nhân TTC cá nhân này được thể hiện ở nhiều lĩnh vực khác nhau trong cuộc sống Vì vậy, tính tích cực học tập (TTCHT) là TTC cá nhân được huy động vào lĩnh vực học tập, để giải quyết các nhiệm vụ học tập TTCHT bao gồm hai nội dung cơ bản : Tính tích cực trí tuệ (TTCTT) và tính tích cực nhận thức (TTCNT)

-TTCTT bao gồm : Tri giác, ghi nhớ, nhớ lại, tưởng tượng, tư duy,phản ánh,suy luận, phân tích, tổng hợp, quy nạp, diễn dịch, khái quát hóa…

-TTCNT được hình thành và thể hiện trong quá trình nhận thức của chủ thể

Nó được huy động để giải quyết các nhiệm vụ nhận thức nhằm đạt được các mục tiêu nhận thức, bao gồm : Các hoạt động trí óc, tâm vấn, các chức năng cảm xúc ý chí, các phản xạ thần kinh cấp cao, các nhu cầu, hứng thú, tình cảm Được thể hiện

ra bên ngoài qua các hoạt động: Quan sát, khảo sát,ứng dụng, thực nghiệm, đánh giá, thay đổi, di chuyển đối tượng

Hoạt động học tập là hoạt động có giá trị và phức tạp hơn nhiều so với hoạt động nhận thức Vì vậy, ngoài hai nội dung cơ bản trên, nó còn cần có TTC giao tiếp, TTC thẩm mỹ, TTC chính trị, xã hội…Tóm lại, TTCHT là hoạt động học tập của con người được thể hiện qua các dấu hiệu sau:

+ Hứng thú học tập

+ Tự giác, chủ động trong các hoạt động học tập

+ Tự nguyện phát biểu xây dựng bài

+ Đọc thêm tài liệu tham khảo

+ Nhận xét lời phát biểu của bạn

+ Kết quả học tập

Trang 14

1.3 Câu hỏi và câu hỏi dạy học [2], [6], [7], [8], [11], [15], [18], [19], [21] [26], [29], [31], [33], [36],

Từ điển tiếng Việt, quan niệm hỏi tức là nói ra điều mình muốn người khác cho biết, yêu cầu được trả lời hoặc đòi hỏi hoặc mong muốn ở người khác, yêu cầu được đáp ứng

Còn theo S.I Ogiegov, câu hỏi là sự nhằm đòi hỏi phải đưa ra câu trả lời, sự đáp lại Hoặc trong tình trạng, bối cảnh nào đó mà đối tượng nghiên cứu, phán xét, một nhiệm vụ đòi hỏi giải quyết một vấn đề

Những định nghĩa trên đấy tuy có khác nhau về hình thức, song chúng đều thống nhất về những dấu hiệu của câu hỏi như:

- Hướng vào đối tượng nhận thức

- Sự đặt ra yêu cầu, nhiệm vụ bằng lời

- Đòi hỏi giải quyết, đáp lại, trả lời các yêu cầu, nhiệm vụ

Từ những phân tích trên, quan niệm về câu hỏi của tôi thống nhất với ý kiến

của tác giả Đặng Thành Hưng: “ Câu hỏi là câu kiểu nghi vấn, có mục đích tìm hiểu, làm rõ sự kiện hay sự vật nhất định, đòi hỏi sự cung cấp, giải thích, nhận xét đánh giá thông tin về sự vật, mô tả, phân tích, so sánh có liên quan đến sự vật, và về bản thân sự vật dưới hình thức trả lời”

1.3.1.2 Câu hỏi trong dạy học

Thông thường trong cuộc sống, người ta hỏi những điều người ta chưa biết hoặc biết một cách mơ hồ, chưa rõ ràng Những câu hỏi mà GV nêu ra trong quá trình dạy học (QTDH) không giống những câu hỏi thông thường trong cuộc sống Những câu hỏi đó là cái mà giáo viên đã biết, GV đặt câu hỏi cho HS cũng về những vấn đề mà các em đã biết hoặc có thể dựa vào những kiến thức liên quan đã học mà suy ra Vì vậy, câu hỏi đặt ra trong quá trình dạy học không phải để “đánh đố” hoặc “ bẫy” HS mà là câu hỏi mở Nghệ thuật đặt câu hỏi của giáo viên thường mang yếu tố mở, mang yếu tố nhận biết, khám phá hoặc khám phá dưới dạng thông tin bằng cách cho HS tìm ra mối quan hệ, mối liên hệ giữa các qui tắc, các con

Trang 15

đường để tự tìm ra câu trả lời hoặc một lời giải thích Vì thế GV khi đặt câu hỏi cho

HS luôn phải nhớ mình đã trang bị cho HS những kiến thức gì, đã bồi dưỡng phương pháp học tập bộ môn một cách chủ động cho học sinh đến đâu thì câu hỏi đặt ra mới hấp dẫn và sát đối tượng

Chức năng cơ bản nhất của câu hỏi trong QTDH là dùng câu hỏi để điều khiển, tổ chức quá trình lĩnh hội, quá trình tương tác giữa GV-HS và giữa HS với nhau Dựa vào khái niệm câu hỏi và những phân tích ở trên, ta có thể hiểu khái niệm câu hỏi trong dạy học như sau:

Câu hỏi dạy học là dạng câu hỏi được sử dụng trong quá trình dạy học, với định hướng, điều khiển hoạt động nhận thức của người học , hướng vào việc tìm hiểu, làm rõ sự kiện, sự vật nhất định có liên quan đến mục tiêu học tập, đòi hỏi sự cung cấp, giải thích, nhận xét, đánh giá thông tin về sự vật, sự mô tả, giải thích, so sánh có liên quan đến sự vật và về bản chất sự vật dưới hình thức câu trả lời đáp lại giữa người dạy và người học, hoặc giữa người học với nhau

1.3.2 Phân loại câu hỏi

Hiện nay có nhiều cách phân loại câu hỏi khác nhau Vì vậy cần có cách nhìn tổng quát về các dạng câu hỏi dựa vào việc nắm chắc cơ sở phân loại

1.3.2.1 Phân loại câu hỏi theo chức năng tổ chức quá trình lĩnh hội

` - Câu hỏi củng cố tri thức và kỹ năng, kỹ xảo

Các loại câu hỏi: - Câu hỏi giúp học sinh nắm vững logic và

các phương pháp tư duy sáng tạo

- Câu hỏi áp dụng tri thức trong thực tế

* Câu hỏi nhằm củng cố tri thức và các kỹ năng, kỹ xảo có nhiệm vụ:

- Tái hiện những điều đã học

- Hệ thống hóa các sự kiện, khái niệm

- Rèn luyện kỹ năng

Ví dụ : Hai chỉnh hợp được coi là khác nhau khi nào? Một hoán vị của một tập hợp gồm n phần tử có thể coi là một chỉnh hợp của tập đó không?

* Câu hỏi giúp HS nắm vững logic và các phương pháp tư duy sáng tạo

- Hệ thống phân tích, tổng hợp ( so sánh, khái quát, đánh giá, rút ra kết luận)

- Đào sâu, làm giàu hệ thống tri thức ( Xác định rõ, cụ thể hóa, phát triển…)

Ví dụ :

Trang 16

Một người ra một trò chơi như sau: Người nào vào chơi thì nộp vào 6 nghìn đồng và được gieo con súc sắc một lần Nếu con

súc sắc xuất hiện mặt 6 chấm thì người chơi được

trả lại 10 nghìn đồng, nếu không thì mất số tiền đã

nộp Hỏi người đưa

ra trò chơi có được lợi hay không?

Ví dụ 2: Cho hình thập giác lồi Hỏi có thể

lập được bao nhiêu tam giác có đỉnh là đỉnh của thập giác lồi,

nhưng cạnh của tam giác không là cạnh của thập giác lồi?

lại không có yêu cầu gì

Hỏi có bao nhiêu cách sắp xếp chỗ để

thỏa mãn các yêu cầu của khách?

1.3.2.2 Phân loại câu hỏi về mặt nội dung

- Câu hỏi về chức năng

Các loại câu hỏi : - Câu hỏi về nội dung

- Câu hỏi về sự kiện

* Câu hỏi về chức năng : Thể hiện ở 3 dạng

- Chức năng kiểm tra sự nắm vững kiến thức, kỹ năng, phương pháp của HS

Ví dụ: So sánh số véc tơ và số đoạn thẳng mà hai đầu mút của chúng là hai điểm trong số n điểm phân biệt cho trước?

B

B

Trang 17

- Chức năng kiểm tra tính trung thực của HS

Ví dụ : Số các số có 4 chữ số khác nhau không chia hết cho 10 là:

- Chức năng tâm lí : Giúp GV biết được những điều mà mình muốn tìm hiểu

Ví dụ: Khi học phần Tổ hợp-Xác suất, khái niệm nào khiến em thấy khó hiểu nhất? Loại câu hỏi này thường tạo ra sự gần gũi , hứng thú, xóa bỏ “ hàng rào tâm lý” giảm bớt căng thẳng giữa thầy và trò

* Câu hỏi về nội dung :

Là những câu hỏi nhằm vào các vấn đề chính mà GV cần biết, cần kiểm tra ( chủ yếu là những câu hỏi về những kiến thức đã học )

Ví dụ : Cho tam giác ABC, xét tập hợp 4 đường thẳng song song với AB, 5 đường thẳng song song với BC và 6 đường thẳng song song với CA Biết không có

3 đường nào trong chúng đồng quy

1 Hỏi các đường này tạo thành bao nhiêu tam giác?

2.Hỏi các đường này tạo thành bao nhiêu hình thang?

* Câu hỏi về sự kiện :

Là những câu hỏi đặt ra để hỏi về những vụ việc, những sự kiện liên quan đến học tập, đời sống, gia đình…có ảnh hưởng đến việc học tập nói chung và bộ môn hoặc từng bài dạy của GV nói riêng Mục đích của loại câu hỏi này là mang tính bổ sung kiến thức và dùng để kiểm tra chất lượng

Ví dụ: Trong dân gian, để xin sự phù hộ của các đấng linh thiêng, những người mê tín thường gieo 2 đồng xu, nếu ai may mắn gieo được một đồng sấp, một

Trang 18

đồng ngửa, hoặc cả 2 đồng đều ngửa Ai không may thì cả 2 đồng xu đều sấp Vì sao số người may mắn luôn nhiều hơn số người không may mắn?

Các loại câu hỏi này được bố trí xen kẽ nhau để giảm bớt sự căng thẳng cho HS

1.3.2.3 Phân loại câu hỏi theo hình thức câu hỏi

Câu hỏi - Câu hỏi đóng

- Câu hỏi mở

* Câu hỏi đóng : Là những câu hỏi có giới hạn, cho phép trả lời đúng hoặc

sai, loại câu hỏi này chỉ có một đáp án duy nhất

Ví dụ : Nếu A và B là hai biến cố xung khắc thì p A B(  )  p A( ) p B( )

a) Đúng b) Sai

* Câu hỏi mở: Câu hỏi mở kích thích đào sâu suy nghĩ và đưa ra nhiều quan

điểm Khi đưa ra câu hỏi mở cho nhóm học sinh sẽ thu được vô số các ý tưởng và câu trả lời khác nhau

Câu hỏi mở dùng để : Cung cấp thông tin, thảo luận thêm hoặc đặt thêm câu

hỏi, thúc ép đối thoại

Ví dụ : Có 5 bạn, trong đó có An và Bình ngồi vào một bàn dài, hãy nêu các

vị trí có thể có của 2 bạn An và Bình?

Những câu hỏi mở tốt thường có những đặc điểm:

- Trung tính: Câu hỏi trung tính cho phép thu thập được nhiều thông tin về

ý kiến , kiến thức, cảm xúc, giá trị nêu ra trong tình huống học tập như là : “ Em có

ý kiến gì về…” trong câu hỏi không có ý kiến gì về bản thân người hỏi, không là một gợi ý, sự hạn chế hay hướng dẫn trả lời Khi đặt câu hỏi này GV thể hiện thái

độ hoàn toàn trung tính và HS có thể diễn đạt câu trả lời theo cách em muốn

- Ngắn gọn : Câu cần ngắn gọn, đơn giản, tránh vòng vo, khó hiểu hoặc giải thích khá nhiều, không đi thẳng vào vấn đề

- Bắt đầu bằng những từ hỏi đúng:Khi biết

chính xác thông tin mình cần, GV nên bắt đầu câu hỏi

bằng từ hỏi thích hợp như : Khi nào? Ở đâu? Bằng cách

nào? Hoặc bao nhiêu?

- Diễn đạt rõ ý hỏi: GV cần biết rõ mục đích hỏi rồi chọn từ hỏi cho chính xác

- Phù hợp : Câu hỏi phải phù hợp với nội dung, chủ đề học tập, với hoàn cảnh, tâm lí, văn hóa, vốn từ, trình độ của người được hỏi

Trang 19

1.3.2.4 Phân loại câu hỏi theo hình thái câu trả lời:

* Câu hỏi hội tụ : Nghiêng về một câu trả lời đúng duy nhất, hoặc câu trả lời hoàn chỉnh chỉ có một, hoặc chỉ có duy nhất một phương án đúng Có một số ít câu hỏi hội tụ khó trả lời, đòi hỏi phải suy nghĩ, sáng tạo

Ví dụ : Hãy liệt kê các biến cố có thể có trong

phép thử rút 3 cây bài từ bộ tú lơ khơ 52 cây? Tính

xác suất của các biến cố vừa nêu?

1.3.2.5.Phân loại câu hỏi theo cấu trúc

* Câu hỏi đơn giản:

Câu hỏi đơn giản nhằm câu trả lời đơn giản,

tuy không hẳn là dễ và ở trình độ thấp, bởi có câu hỏi

có vẻ đơn giản nhưng lại khó trả lời Thường thì câu

hỏi đơn giản thì dễ

Ví dụ: Có bao nhiêu tập con của một tập hợp

có bao nhiêu cách chọn mà trong nhóm 3 em được chọn không có cặp sinh đôi nào?

1.3.2.6.Phân loại câu hỏi theo tình huống

* Câu hỏi chốt: Câu hỏi do GV đặt ra để củng cố và khắc sâu kiến thức trọng

Trang 20

1.3.2.7 Phân loại câu hỏi theo các mức độ nhận thức:

Bloom phân chia các câu hỏi theo cấp độ nhận thức: Biết, hiểu, áp dụng,

phân tích, đánh giá, sáng tạo

* Câu hỏi “Biết” : Ứng với mức độ nhận thưc 1 “ nhận biết”

- Câu hỏi này được dùng để kiểm tra trí nhớ của học sinh về các số liệu, dữ

liệu, các định nghĩa, tên tuổi, định luật, qui tắc, khái niệm…Khi trả lời các câu hỏi

này giúp HS ôn lại được những gì đã học, đã đọc hoặc đã trải qua Các từ để hỏi

thường là “ Hãy định nghĩa ”, “ Em biết những gì về…” , “ hãy mô tả…”

Ví dụ : Hãy phát biểu nội dung quy tắc cộng và quy tắc nhân?

* Câu hỏi “ Hiểu” : ứng với mưc độ nhận thức 2 “ thông hiểu”

- Câu hỏi này được dùng để kiểm tra đánh giá cách HS liên hệ, kết nối các dữ

liệu, số liệu, tên tuổi, địa điểm, các định nghĩa…khi tiếp nhận thông tin Khi trả lời các

câu hỏi này giúp HS có khả năng diễn tả bằng lời nói, nêu ra được các yếu tố cơ bản

hoặc so sánh các yếu tố cơ bản trong nội dung đang học Cụm từ thường để hỏi là :

“ Tại sao ”, “ Hãy phân tích…” , “ Hãy so sánh…”, “ Hãy liên hệ…”, “ Giải

thích…”,…

Ví dụ: Hãy phân tích các cụm từ “một trong hai hành động” và “ hai hành

động liên tiếp” để thấy điểm khác nhau cơ bản của quy tắc cộng và quy tắc nhân?

* Câu hỏi vận dụng hoặc câu hỏi áp dụng: Ứng với mức độ nhận thức 3

“ vận dụng”

- Dạng câu hỏi này được dùng để kiểm tra năng lực vận dụng các dữ liệu, các

khái niệm, các quy luật, các phương pháp, thông tin thu được…vào hoàn cảnh và

điều kiện mới Khi trả lời các câu hỏi vận dụng cho thấy HS có khả năng hiểu được

rõ các quy luật, các khái niệm…có thể lựa chọn tốt các phương án để giải quyết,

vận dụng các phương án vào thực tiễn hay không Trong dạy học khi GV đặt câu

hỏi, cần tạo ra các tình huống mới khác với điều kiện đã học trong bài học và sử

dụng các cụm từ như : “ Làm thế nào…”, “ Hãy tính sự chênh lệch giữa…”, “ Em

có thể giải quyết khó khăn về… như thế nào?”,…

Ví dụ: Giả sử sau khi đưa ra dạng toán xác định hệ số của một lũy thừa của x

ở dạng thông thường, GV có thể đặt vấn đề : Xác định hệ số của x5 trong khai triển

(1 2 ) (1 3 )

Trang 21

*Câu hỏi phân tích : ứng với mức độ nhận thức 4 “ phân tích”

- Dạng câu hỏi này được dùng để kiểm tra khả năng phân tích nội dung vấn đề,

từ đó đi đến kết luận, tìm ra mối quan hệ, hoặc chứng minh một luận điểm Khi trả lời câu hỏi này cho thấy, HS có khả năng tìm được mối quan hệ mới trong hiện tượng, sự kiện , tự diễn giải hoặc đưa ra kết luận riêng hay không Việc đặt câu hỏi phân tích đòi hỏi HS phải giải thích được các nguyên nhân từ thực tế : “ Tại sao…”, đi đến kết luận

“ Em có nhận xét gì…”, “ Hãy chứng minh…” Các câu hỏi phân tích thường có nhiều lời giải ( thể hiện sự sáng tạo) Do đó phát triển được tư duy logic

Ví dụ : Khi dạy về khai triển nhị thức New ton, sau khi đưa ra công thức của khai triển (a b )n, giáo viên có thể đặt tiếp các câu hỏi sau:

-Hãy cho biết dạng khai triển của nhị thức (a b )n? Có nhận xét gì về quy luật đổi dấu của các số hạng trong khai triển đó?

- Hãy cho biết dạng của khai triển (a b )n trong

Ví dụ 2 : Người ta sơn bề ngoài của một khối lập

phương thành màu xanh và cưa thành 8 khối lập phương nhỏ,

người ta lập lại khối lập phương cũ , nhưng các khối lập

phương nhỏ có thể thay đổi vị trí và quay đi Hỏi có bao

nhiêu cách sắp xếp các khối lập phương như thế để khối lập

phương lớn có bề ngoài vẫn được sơn màu xanh?

Trang 22

* Câu hỏi “ tổng hợp” hoặc câu hỏi sáng tạo : ứng với mức độ nhận thức 5

“ Tổng hợp’’

- Câu hỏi loại này được dùng để kiểm tra xem HS có thể đưa ra những dự đoán, giải quyết vấn đề, đưa ra câu trả lời hoặc đề xuất có tính sáng tạo Câu hỏi tổng hợp thúc đẩy sự sáng tạo của học sinh, các em phải tìm ra những nhân tố và có

ý tưởng mới để có thể bổ sung cho nội dung Việc tìm câu trả lời cho câu hỏi tổng hợp khiến HS phải :Dự đoán, giải quyết vấn đề và đưa ra câu trả lời sáng tạo Cần nói cho HS biết rõ rằng các em có thể tự do đưa ra các ý tưởng, giải pháp mang tính sáng tạo, tưởng tượng của riêng mình.GV cần lưu ý , loại câu hỏi này đòi hỏi một thời gian chuẩn bị khá dài,vì vậy hãy để HS có đủ thời gian tìm ra câu trả lời

Ví dụ 1: Hiện nay, có rất nhiều người nuôi hy vọng đổi đời bằng cách chơi lô,đề, bằng kiến thức về Xác suất, em hãy đưa ra con số thuyết phục nhất để họ từ

bỏ ảo vọng đó?

* Câu hỏi “đánh giá” : Ứng với mức độ nhận thức 6 “ đánh giá”

- Câu hỏi này được dùng để kiểm tra xem HS có khả năng đóng góp ý kiến và

sự phán đoán của HS trong việc đánh giá các ý tưởng, giải pháp, biện minh, phê bình

và rút ra kết luận dựa vào những tiêu chuẩn đã đề ra Loại câu

hỏi này nhằm thúc đẩy HS tìm tòi tri thức, xác định giá trị Để

sử dụng đúng mức độ này HS phải có khả năng giải thích tại sao

sử dụng những lập luận giá trị để bảo vệ quan điểm

Ví dụ: Một chủ cửa hàng có 10 lon nước giải khát

đôi một khác nhau, anh ta muốn xếp các lon đó thành hình

quả núi, số lon từ hàng dưới cùng lên hàng trên cùng lần

lượt là 4,3,2,1 Hàng ngày anh ta dự định sẽ đổi vị trí các

lon nước cho nhau sao cho không có ngày nào bày giống

nhau Nhưng nếu việc đó không thể duy trì đến hết một

năm thì anh ta sẽ từ bỏ ý định Theo em chủ nhà hàng đó có thực hiện được ý định của mình hay không?

Trang 23

1.3.2.8 Phân loại theo Socrat

Socrat là thầy giáo, nhà triết học Hy lạp cổ, người đề

xuất PPDH bằng câu hỏi Kỹ thuật đặt câu hỏi của Socrat

dựa trên việc thực hiện các cuộc đối thoại sâu sắc và có

nguyên tắc Khi thực hiện kỹ thuật này, GV tự nhận là

không biết gì về chủ đề được học để kích thích học sinh

tham gia vào cuộc hội thoại.Sự “giả vờ ngốc nghếch” này

giúp HS phát huy tới mức tối đa mức độ hiểu biết của họ về

chủ đề môn học trong quá trình đối thoại với GV

Đặt câu hỏi Socrat là một kỹ thuật hiệu quả để

khám phá sâu ý tưởng Nó có thể sử dụng ở mọi cấp học

và là một công cụ hữu ích đối với mọi giáo viên, ở mọi thời điểm khác nhau trong một bài học hoặc dự án sử dụng kỹ thuật này, tư duy độc lập ở học sinh được phát huy và học sinh nắm vững được những nội dung đã học Các kỹ năng tư duy bậc cao được thể hiện khi học sinh suy nghĩ, thảo luận, tranh cãi, đánh giá và phân tích nội dung bằng tư duy của chính mình và những người xung quanh

-Thiết lập các câu hỏi quan trọng để khai thác ý chính và định hướng cho cuộc hội thoại

-Sử dụng thời gian chờ: ít nhất 30 giây trước khi học sinh trả lời

-Theo sát các ý kiến trả lời của học sinh và đưa ra các câu hỏi thăm dò

-Tóm tắt thường xuyên bằng cách ghi lại những điểm mấu chốt vừa được thảo luận

-Thu hút càng nhiều học tham gia càng tốt

-Để học sinh tự khám phá kiến thức qua câu hỏi thăm dò mà giáo viên nêu ra Socrat phân loại câu hỏi thành các dạng và được trình bày trong bảng sau:

Câu hỏi “ làm rõ” - Em có ý gì khi ?

- Em có thể nói theo cách khác không ? Câu hỏi về một “ Câu hỏi hoặc

vấn đề” ban đầu - Tại sao câu hỏi này lại quan trọng thế?

- Theo em, câu hỏi này khó hay dễ trả lời? Tại sao em nghĩ vậy?

Câu hỏi “ Giả định” - Tại sao người ta đưa ra giả định này?

- Điều gì đang được giả định ở đây?

- Ta có thể đưa ra giả định nào thay thế?

Trang 24

Câu hỏi “ lí do và bằng chứng” - Điều gì có thể làm ví dụ?

- Điều gì đang được giả định ở đây?

- Chúng ta cần thông tin nào khác?

Câu hỏi về “ nguồn gốc” - Đây là ý kiến của em hay em lấy từ một

nguồn thông tin nào khác?

Câu hỏi “ Hàm ý và hệ quả” - Nó có thể gây ra tác động nào?

- Điều đó chắc chắn xảy ra hay có khả năng xảy ra?

- Có cách thay thế nào không?

Câu hỏi “ quan điểm” - Các nhóm khác sẽ phản hồi câu hỏi này

1.3.3 Vai trò của câu hỏi trong dạy học

Người đặt nền móng đầu tiên cho PPDH bằng câu hỏi ( vấn đáp) là nhà hiền triết Hy Lạp Socrat (469-399 TCN) Thông qua hệ thống câu hỏi, Socrat khéo léo dẫn dắt HS của mình tìm ra những tri thức mới Phương pháp vấn đáp mà Socrat sử dụng còn được gọi là phương pháp vấn đáp gợi mở, hay phương pháp “ đỡ đẻ” cho đến nay, phương pháp này vẫn được sử dụng trong dạy học ở nhiều mức độ khác nhau và vẫn đem lại hiệu quả đáng kể.Nét nổi bật của phương pháp này chính là hệ thống câu hỏi của GV Chúng đươc xây dựng sao cho hiệu quả nhất trong QTDH

Tuy nhiên, câu hỏi trong dạy học không chỉ được sử dụng trong các phương pháp vấn đáp, mà nó còn tham gia vào hầu hết các PPDH khác ( truyền thống và hiện đại), vào các hình thức tổ chức dạy học Câu hỏi và việc trả lời câu hỏi, thể hiện mối tương tác giữa thầy và trò, giữa các trò với nhau trong giờ học Vì vậy câu hỏi giữ một vai trò vô cùng quan trọng trong dạy học Cụ thể là:

- Câu hỏi được dùng làm công cụ để mã hóa nội dung trong SGK và các tài liệu tham khảo khác Thông thường các nội dung trong SGK đã tường minh về mặt thuật ngữ, về logic diễn đạt các sự kiện, tức là đã trả lời các câu hỏi: Nội dung ấy nói về cái gì? Nhưng những câu hỏi : Vì sao có cái đó? Cái đó diễn ra như thế nào? Thì không phải lúc nào cũng tường minh Vì vậy, GV phải có một công cụ khác để

mã hóa những nội dung trong SGK đã trình bày, bằng một thứ ngôn ngữ riêng, đó

Trang 25

chính là câu hỏi Nhưng sự mã hóa này không phải thực hiện một cách tùy tiện, mà phải có quy tắc Quy tắc đó là chiếc chìa khóa để giải, chìa khóa này là tỉ lệ thích hợp giữa cái mà HS biết và cái mà HS chưa biết Khi đó, SGK là nguồn cung cấp thông tin chủ yếu để HS tìm ra câu trả lời cho các câu hỏi của GV

Giáo sư Guxlappaplovic trong cuốn “ Cách mạng khoa học và giáo dục” đã viết: “Nhiệm vụ của HS dưới sự hướng dẫn của thầy phải “ phát minh” ra những mối liên hệ lẫn nhau và đó cũng là tìm ra nhiệm vụ của các nhà bác học Điều khác nhau ở chỗ , nhà bác học thì đi tìm cái mới nói chung chưa biết, còn HS thì tìm cái chưa biết với chúng mà thôi

- Câu hỏi có tác dụng kích thích, hướng HS tìm kiếm những tri thức mới, phát huy TTC, chủ động sáng tạo của HS

- Câu hỏi giúp HS lĩnh hội kiến thức một cách có hệ thống Thông thường trong các bài dạy của mình, bao giờ GV cũng có sự sắp xếp, bố trí hệ thống câu hỏi của mình sao cho thật hợp lý, logic Một hệ thống câu hỏi tốt nhất là một hệ thống câu hỏi có thể giúp học sinh có thể nắm vững kiến thức từ đơn giản đến phức tạp, từ những vấn đề cụ thể đi đến những vấn đề khái quát, sao cho thông qua hệ thống câu hỏi mà HS có thể tự rút ra những kiến thức cần thiết

- Câu hỏi có thể giúp cá thể hóa cách học một cách tối ưu, tạo điều kiện cho HS

tự học và rèn luyện phương pháp học, phương pháp tìm tòi, nghiên cứu cho mình

- Câu hỏi trong dạy và học còn giữ vai trò chỉ đạo , tổ chức, điều chỉnh, hỗ trợ, thăm dò, gợi mở và khuyến khích người học giúp các em đạt được mục tiêu học tập

Như vậy, câu hỏi dù chỉ giữ vai trò là một PPDH, hay một phương tiện dạy học, hoặc là một kỹ thuật dạy học thì đều vô cùng quan trọng với QTDH Vì vậy, vấn đề đặt câu hỏi và sử dụng câu hỏi là một vấn đề hết sức khó và phức tạp Nó vừa là kiến thức, nhưng cũng vừa là kinh nghiệm sống và cũng là nghệ thuật của người GV

Trang 26

1.3.4 Việc sử dụng câu hỏi trong dạy học

1.3.4.1 Tác dụng của việc sử dụng câu hỏi trong dạy học

Qua việc tổng hợp rất nhiều tài liệu và kinh nghiệm bản thân về sử dụng câu hỏi trong dạy học Chúng tôi xin nêu một số tác dụng sau:

* Tác dụng đối với HS

- Phương pháp dạy học bằng cách đặt câu hỏi là một hoạt động thú vị và sôi nổi với HS Các em được chủ động tham gia vào bài học chứ không thụ động ngồi nghe Cách dạy có đặt câu hỏi kích thích được sự tò mò, gây hứng thú nhận thức cho HS

- Giúp HS khám phá tri thức Đây là mục tiêu đòi hỏi HS trong quá trình chiếm lĩnh tri thức mới, phải trải qua giai đoạn tìm tòi, nghiên cứu, không đơn thuần chỉ là bị động tiếp thu kiến thức đó

- Câu hỏi dạy học tạo cơ hội cho GV rèn luyện cho HS những phẩm chất trong giao tiếp như biết lắng nghe, chấp nhận và phê phán ý kiến người khác

- Giúp HS phát triển tư duy Đây cũng là hoạt động mà HS phải tham gia trong suốt cuộc đời mình Chính vì thế, để đánh giá bộ câu hỏi có chất lượng hay không người ta quan tâm đến tiêu chuẩn này

- Cho phép HS thực hành và sử dụng những ý tưởng, từ ngữ mà GV vừa dạy cho

HS để bày tỏ ý kiến của bản thân Điều này giúp cho HS phát triển được kỹ năng lập luận, diễn đạt cũng như là thái độ giao tiếp với thầy cô, bạn bè

-Khi nghiên cứu về động cơ học tập,ta đã biết rằng HS cần biết được là các

em đã nắm được vấn đề Không có gì động viên các em bằng tâm trạng thỏa mãn

có được khi trả lời đúng một câu hỏi và nhận ngay lời khen nồng nhiệt của GV Đó

là một phần thưởng tức thì rất có giá trị khuyến khích người học Vì thế, việc dạy học sử dụng câu hỏi không chỉ là một hoạt động thú vị mà còn là hoạt động mang lại phần thưởng tức thì cho cố gắng của HS, nó chứng tỏ các em đã thành công trong việc học

* Tác dụng đối với giáo viên

Việc sử dụng câu hỏi trong dạy học là một trong những phương pháp chính làm cho lời giảng của GV sống động hơn

- Câu hỏi giúp GV khám phá được thái độ học tập của HS Từ đó có những phương pháp để khuyến khích, động viên cũng như nhắc nhở để HS chú ý hơn trong giờ học

- Câu hỏi trong dạy học là phương tiện hữu hiệu, độc đáo để GV truyền đạt tri thức GV có thể có nhiều cách khác nhau trong việc giúp HS tiếp thu kiến thức

Trang 27

mới nhưng chỉ bằng cách sử dụng câu hỏi HS mới có cơ hội vừa lĩnh hội tri thức mới vừa phát triển tư duy

- Câu hỏi dạy học là công cụ chủ yếu để kiểm tra tri thức giúp GV phát hiện những chỗ mà HS hiểu sai, những lỗ hổng kiến thức, đồng thời đánh giá các mức độ hiểu bài của HS một cách tức thì Nhờ đó, GV có thể tự điều chỉnh PPDH cho phù hợp

- Dạy học bằng cách đặt câu hỏi còn đảm bảo tốc độ bài học phù hợp với HS, nội dung bài học đi đúng trọng tâm

- Câu hỏi dạy học còn được dùng để khắc sâu, củng cố kiến thức trong quá trình tìm hiểu, thu nhận kiến thức mới

- Câu hỏi còn là một trong những phương tiện giúp GV khơi gợi độngc cơ học tập cho HS Và đó cũng chính là biện pháp nhằm thu hút sự chú ý tích cực tham gia của HS vòa các hoạt động học tập

- Câu hỏi dạy học tạo cơ hội cho GV rèn luyện cho HS những phẩm chất trong giao tiếp như : Biết lắng nghe, biết đặt câu hỏi, chấp nhận và phê phán ý kiến người khác…

1.3.4.2 Yêu cầu đối với câu hỏi dạy học

* Yêu cầu về nội dung

* Câu hỏi phải phát huy được năng lực tư duy, đặc biệt là năng lực tư duy

sáng tạo của HS

Hs biết mình cần cố gắng, vận động mạnh mẽ về trí tuệ trong việc phân tích câu hỏi, đấu tranh quyết liệt trong việc so sánh, đối chiếu với vấn đề, khái quát hóa, phát hiện vấn đề, quy luật…mới có thể tìm ra câu trả lời nhằm chiếm lĩnh kiến thức cho mình

Ví dụ : Chứng minh rằng : 10 (1  10)100  (1 10)100

Để giải đáp câu hỏi trên, HS phải vận dụng kiến thức về khai triển nhị thức New ton, tuy nhiên, hình thức bên ngoài của biểu thức cũng không hoàn toàn tương đồng với công thức khai triển nhị thức của Newton, do đó HS phải huy động khả năng tư duy, nói cách khác, câu hỏi đã tạo điều kiện cho HS có cơ hội phát triển tư duy

Mặt khác, HS có thể chứng minh bằng nhiều cách khác nhau, nên câu hỏi cũng đạt yêu cầu về phát triển năng lực sáng tạo

Câu hỏi cũng không quá sức đối với các em, vì ít nhất có một cách giải dùng khai triển nhị thức New ton là kiến thức các em đã được trang bị

 Câu hỏi phải có tính định hướng rõ ràng nhằm đúng bản chất của vấn đề

và trọng tâm bài giảng, phù hợp với đặc điểm của môn học

Trang 28

Khi xây dựng câu hỏi dạy học phải xác định rõ câu hỏi đặt ra thuộc loại câu hỏi nào? Phục vụ cho mục đích gì? Có nhằm đúng trọng tâm bài giảng hay không?

Ví dụ : Ví dụ khi giới thiệu về Nhị thức New ton có thể sử dụng câu hỏi sau:

Cách 1: Dựa vào khai triển của các hằng đẳng thức (a b ) ;(2 a b )3, hãy khai triển biểu thức(a b )4thành tổng của các đơn thức?

 Hệ thống câu hỏi trong một bài phải có sự liên hệ và kế thừa nhau nhằm phát triển năng lực nhận thức và tư duy logic cho HS

Ví dụ : Khi dạy về khái niệm phép thử ngẫu nhiên, có thể dùng các câu hỏi:

- Hãy lấy một ví dụ về phép thử?

- Có thể biết được tất cả các kết quả có thể có của phép thử đó hay không?

- Phép thử đó có được gọi là phép thử ngẫu nhiên không? Tại sao?

*Yêu cầu về mặt hình thức, diễn đạt

* Câu hỏi phải ngắn gọn, rõ ràng, dễ hiểu và từ ngữ trong sáng

Câu hỏi GV đặt ra không nên dùng từ quá bóng bẩy, khó hiểu, nhiều nghĩa

mà nên ngắn gọn, rõ ràng, không mập mờ có thể hiểu theo nhiều cách Không nên dùng từ ngữ trừu tượng, ít phổ thông Không nên gộp những vấn đề hoàn toàn không đồng nhất với nhau trong một câu hỏi

Ví dụ : Có bao nhiêu biển số xe máy đẹp trong số các biển số gồm 2 chữ cái

và 4 chữ số ?

- Ở câu hỏi trên, khái niệm “số đẹp” không cụ thể, mặt khác giả thiết cũng chưa rõ ràng khi nói về 2 chữ cái và 4 chữ số ( Có cần khác nhau không? Các chữ

và số có nhất thiết đứng liền nhau không? )

 Độ dài và độ phức tạp cũng như từ ngữ của các câu hỏi đặt ra phải phù hợp với lứa tuổi HS

Trang 29

Không nên dùng những ngôn ngữ khó hiểu và rườm rà vì nó đòi hỏi nhiều câu hỏi phụ, điều đó làm HS có nguy cơ khó nắm được ý chính và không biết trả lời cái gì

 Hệ thống câu hỏi sử dụng nên đa dạng về hình thức thể hiện

GV nên phối hợp nhiều loại câu hỏi như : Câu đúng-sai, câu ghép đôi, câu trả lời ngắn, câu hỏi dạng điền khuyết, câu hỏi tự luận…được thể hiện trên nhiều phương tiện khác nhau như sơ đồ, mô hình, biểu bảng, máy chiếu, thí nghiệm, hình

vẽ, vật thật…có liên quan nhằm phát triển tư duy tổng hợp và hoạt động tư duy khoa học của HS

Đặc biệt, trong hệ thống câu hỏi đặt ra nên tăng cường những câu hỏi mang tính hài hước , “ tính hài hước làm cho cơ chế của trí tuệ hoạt động” ( M.Tulen), những câu hỏi mang tính chất nghiên cứu vẽ sơ đồ, biểu bảng, hình vẽ, thí nghiệm,… cũng tạo hứng thú, giúp HS ghi nhớ lâu hơn

Sử dụng phối hợp nhiều loại câu hỏi có nhiều tác dụng, nó không chỉ tạo điều kiện để GV đánh giá HS một cách toàn diện mà là một trong các biện pháp tạo

sự sinh động trong lớp học, thu hút sự chú ý, tạo hứng thú cho HS

* Yêu cầu về mặt phương pháp

* Yêu cầu xác định rõ câu hỏi trọng tâm, phù hợp với đối tượng đặt câu hỏi, đảm bảo tính vừa sức và đặc điểm của môn học, mục tiêu bài học

Ví dụ : Khi dạy về tính chất của xác suất, GV có thể yêu cầu HS dựa vào tập

giá trị của số phần tử của biến cố A để đưa ra tập giá trị của xác suất Đây là nội dung không khó đối với học sinh khá giỏi, nhưng đối với HS trung bình, yếu thì vẫn

có thể không trả lời được, vì vậy, GV có thể dùng câu hỏi gợi mở để HS đi đến kết luận như hoàn thành phiếu học tập sau:

.1.Có nhận xét gì về xác suất của biến cố không thể ? của biến cố chắc chắn ?

.2.Hãy cho biết tập giá trị của n(A) ?

.3.Hãy chỉ ra tập giá trị của p(A)? giải thích?

.4.Chứng minh công thức cộng xác suất?

5.Có nhận xét gì về công thức cộng xác suất nếu A,B là hai biến cố đối

 Yêu cầu câu hỏi dạy học phải gây được hứng thú nhận thức, kích thích

HS suy nghĩ trả lời

Để kích thích sự tập trung chú ý của HS vào bài học GV thường mở đầu bài giảng bằng cách sử dụng những câu hỏi đặt học sinh vào tình huống có vấn đề, có

Trang 30

thể là sự nghịch lí bế tắc hoặc câu hỏi về ứng dụng của các kiến thức trong bài học, hoặc GV có thể kể một câu chuyện với kết thúc mở, đặt ra nhiều nghi vấn cho HS

Ví dụ 1 : Các hằng đẳng thức đã biết có thể giúp ta khai triển các nhị thức với lũy thừa bất kỳ không? Có công cụ nào khác giúp ta làm điều đó?

Ví dụ 2: Trong một phép thử, liệu khả năng xảy ra của các biến cố có giống nhau hay không? Làm thế nào để nhận biết biến cố nào dễ xảy ra hơn so với các biến cố còn lại?

 Yêu cầu câu hỏi dạy học phải đảm bảo thời lượng tiết học

Phân chia hợp lí các câu hỏi kể cả về số lượng lẫn chất lượng trong bài dạy

để tính thời gian cho từng vấn đề sao cho cho phù hợp với bản chất, độ rộng, độ sâu của câu hỏi Nghĩa là GV phải xác định thời gian cho HS suy nghĩ để trả lời cho từng câu hỏi sao cho hợp lý nhất Đây là yêu cầu nhằm đảm bảo tiến độ của tiết học

Để thực hiện được yêu cầu này GV cần ước lượng thật cụ thể thời gian mà GV dành cho HS suy nghĩ trả lời câu hỏi Nếu thời gian đó quá dài thì HS sẽ có thời gian để nói chuyện riêng sau khi đã tìm ra câu trả lời và dễ dẫn đến hiện tượng “cháy giáo án.” Nếu thời gian suy nghĩ quá ngắn thì HS sẽ không kịp tìm ra câu trả lời Như vậy giáo viên buộc phải sử dụng đến câu hỏi gợi mở Khi sử dụng quá nhiều câu hỏi gợi mở, sẽ không phát huy được TTC cũng như trí thông minh của HS

* Yêu cầu của câu hỏi sử dụng để kiểm tra bài cũ

- Nội dung câu hỏi tùy thuộc vào nội dung bài học ở tiết trước và bài tập về nhà

- GV sử dụng câu hỏi về những kiến thức, kỹ năng trọng tâm của bài học trước, những kiến thức hay sử dụng khi làm bài tập, những kiến thức có liên quan đến kiến thức mới để dẫn dắt HS đi vào bài học

- Câu hỏi ngắn gọn, chính xác, không đánh đố HS, ít tốn thời gian

Trang 31

- Thường sử dụng câu hỏi tái hiện, với HS khá có thể sử dụng câu hỏi ở mức

độ cao hơn, để HS phải vận dụng kiến thức, đòi hỏi HS suy nghĩ tích cực, tuy nhiên không nên hỏi quá khó

- Không nên sử dụng câu hỏi lớn, tổng quát để hỏi HS Câu hỏi nên được chia thành nhiều phần để HS có thể trả lời từng phần

* Sử dụng câu hỏi trong hoạt động bài mới

* Ý nghĩa

Với HS : Qua việc tìm câu trả lời cho các câu hỏi bài học giúp HS tìm tòi, thu nhận kiến thức mới, tìm ra mối liên hệ giữa kiến thức mới , biết vận dụng kiến thức cũ vào việc thu nhận kiến thức mới

Với GV : Dùng câu hỏi để tổ chức, điều khiển hoạt động học tập của HS Thông qua hoạt động của HS , mà GV nắm được mức độ nhận thức tư duy của HS trong quá trình vận dụng kiến thức đã có và thu nhận kiến thức mới

* Câu hỏi sử dụng khi điều khiển hoạt động thu nhận kiến thức mới

GV thường sử dụng cả câu hỏi tái hiện và câu hỏi phát huy TTC của HS Số lượng của hai loại câu hỏi này phụ thuộc vào nội dung bài học và trình độ nhận thức của HS GV có thể sử dụng câu hỏi nêu vấn đề không cần HS trả lời để kích thích hoạt động tư duy của HS và của GV, nêu ra các gợi ý để HS đề xuất các phương án giải quyết vấn đề Câu hỏi đặt ra phải thỏa mãn các nguyyen tắc khi đặt câu hỏi

Trang 32

* Sử dụng câu hỏi trong củng cố và hoàn thiện kiến thức

* Ý nghĩa

Củng cố, hệ thống, hoàn thiện kiến thức là phần không thể thiếu trong mỗi bào dạy Do đó GV phải lựa chọn những kiến thức trọng tâm, những kiến thức cần nhấn mạnh cho HS theo chuẩn kiến thức, kỹ năng để sử dụng dạng câu hỏi củng cố bài học từng phần và củng cố toàn bài

Đây là hình thức giúp HS khắc sâu, nhớ lâu các kiến thức trọng tâm, nhất thiết phải nắm vững và những kiến thức mở rộng của bài học

* Dạng câu hỏi được sử dụng khi củng cố bài học

GV thường sử dụng câu hỏi ở mức hiểu, vận dụng , đòi hỏi HS phải suy nghĩ,

có sự vận dụng, tổng hợp những kiến thức vừa mới học và những kiến thức cũ để trả lời Nội dung câu hỏi tập trung vào kiến thức trọng tâm, đòi hỏi HS phải suy luận Câu hỏi ngắn gọn, rõ ràng, chính xác , mang tính khái quát, nhằm hệ thống các kiến thức trọng tâm bài học

* Sử dụng câu hỏi trong kiểm tra viết

* Ý nghĩa

Sử dụng câu hỏi trong kiểm tra viết,

giúp GV đánh giá được mức độ kiến thức, kỹ

năng, khả năng vận dụng KTKN đã học của

HS trong lớp học Kết quả bài kiểm tra giúp

GV đánh giá được hiệu quả của PPDH đã sử

dụng để kịp thời chỉnh lý cho phù hợp Đồng

thời GV cũng phát hiện được những sai lầm

cần chỉnh lí, bổ sung cho HS trong các bài học sau và để khen thưởng hay khiển trách, nhắc nhở về ý thức học tập của HS

 Câu hỏi được sử dụng trong kiểm tra viết

GV cần sử dụng các câu hỏi kiểm tra được hầu hết các vấn đề cơ bản của phần đã học, đồng thời kiểm tra được phương pháp tư duy, phương pháp nhận thức

và trình bày vấn đề (câu hỏi tự luận của HS)- Kết hợp cả câu hỏi tự luận và câu hỏi trắc nghiệm khách quan

Trong một bài kiểm tra cần có nhiều loại câu hỏi khác nhau, câu hỏi phải phù hợp với chuẩn kiến thức kỹ năng đánh giá ở các mức độ khác nhau và đánh giá cả

kỹ năng thực hành thí nghiệm

1.3.4.4 Một số kinh nghiệm giúp cho việc sử dụng câu hỏi đạt hiệu quả cao

* Phân loại đối tƣợng HS

Trang 33

Để sử dụng câu hỏi trong dạy học sát đối tượng, giáo viên cần phân loại đối tượng HS theo các cơ sở sau:

 Phân loại đối tượng theo trí thông minh năng khiếu

Theo Howard Gardner, trí thông minh được phân ra làm 7 loại như sau:

- Trí thông minh ngôn ngữ : Đối tượng HS này có thể trả lời nhanh chóng

các câu hỏi của GV đưa ra nên rất thích hợp để sử dụng câu hỏi trong dạy học

- Trí thông minh toán học-

logic: Đối tượng HS này có khả năng suy

nghĩ rất cao nên sẽ trả lời tốt các dạng câu

hỏi đòi hỏi mức độ tư duy cao Đặc biệt là

HS sẽ nhìn vấn đề một cách khái quát,

khả năng tư duy logic cao

- Trí thông minh cảm giác:

những HS này thường xử lý thông tin

theo cảm giác, không nên đặt những câu

hỏi yêu cầu khả năng tư duy cao mà dùng

những câu hỏi ngắn gọn, sát với thực tế

cuộc sống

- Trí thông minh không gian : Đối tượng HS này GV nên sử dụng những

câu hỏi kết hợp với các hình vẽ, biểu bảng…

- Trí thông minh âm nhạc: Đối tượng HS này đòi hỏi GV phải chú ý đến

kỹ năng trình bày và sử dụng câu hỏi, sự trình bày có lập luận, logic

- Trí thông minh giao lưu: Đối tượng HS này rất thích GV tổ chức các trò

chơi, dạy học bằng cách thảo luận nhóm, bởi họ có kỹ năng giao lưu tốt nên việc giao tiếp và hợp tác với các thành viên trong nhóm trở nên nhanh chóng và dễ dàng

- Trí thông minh nội tâm: Đối tượng HS này có khả năng nghiên cứu , khả

năng tự học rất cao GV nên dùng hệ thống câu hỏi nêu và giải quyết vấn đề mang tính định hướng học tập Đồng thời cần hiểu được tâm lí rụt rè, nhút nhát của các

em GV nên thận trọng trong việc nhận xét, đánh giá câu trả lời của các em để tránh cho các em có cảm giác tự ti, mặc cảm

* Phân loại học sinh theo phong cách học tập:HS thường có các phong cách học

tập khác nhau như:

- Phong cách học tập hăng hái: Những HS này rất thích những cái mới, thích

làm thử mọi việc Khi được giao nhiệm vụ thì hăng hái làm ngay một cách toàn tâm, toàn ý, không quan tâm nhiều đến việc lập kế hoạch và hành động

Trang 34

- Phong cách học tập trầm ngâm: Những HS này thường dè dặt, kỹ tính, thích

quan sát, lắng nghe, thu thập thông tin và sàng lọc một cách cẩn thận, chậm có quyết định, nhưng khi đã ra quyết định rồi thì có cơ sở rất chắc chắn

- Phong cách học tập lí thuyết: Những HS này thường sống trong một thế

giới đầy ý tưởng, không bao giờ hài lòng khi chưa hiểu thấu cơ sở lý thuyết của vấn

đề và bao giờ cũng giải thích ý kiến của mình theo những nguyên lý cơ bản

- Phong cách học tập thực dụng: Những HS này cũng thích những ý tưởng

như những người có “phong cách lí thuyết”, như luôn muốn giải quyết vấn đề, muốn thử xem các ý tưởng ấy có khả thi không? Kết quả đến đâu? Thích thử nghiệm nhưng không thích dài dòng, tìm hiểu lí do một cách cặn kẽ

Tuy nhiên dù phân loại HS theo cách nào cũng chỉ mang tính tương đối Còn trên thực tế thì mỗi HS đều có ít hoặc nhiều các dạng tính cách trên, nhưng vẫn có một dạng tính cách nổi trội, tiêu biểu nhất

*Phân loại câu trả lời của HS

Sự phân loại câu trả lời của HS giúp cho GV có những hành vi ứng xử phù hợp để nâng cao hiệu quả sử dụng câu hỏi trong dạy học

Dựa vào những thực tế dạy học, có thể chia câu trả lời của HS thành 5 loại sau:

- Câu trả lời hoàn toàn đúng

GV nên khích lệ ngay HS bằng một lời khen đúng mức Sau đó tiếp tục đào sâu thêm vấn đề bằng một câu hỏi khác khó hơn một chút, nhưng dựa trên câu trả lời vừa có được ở HS và tạo nên logic hợp lý cho hệ thống câu trả hỏi của bài học

- Câu trả lời có phần đúng, có phần sai

GV cần xác định ngay phần đúng đồng thời nên dùng câu nói tích cực “ các

em còn có câu trả lời nào khác?” Hoặc “ Cho cô thêm vài ý kiến khác”, “ Em có đồng ý với câu trả lời của bạn không?”…Sau đó phân tích câu trả lời của HS và hoàn thiện câu trả lời đúng đắn nhất

- Câu trả lời hoàn toàn sai

GV cần nhạy bén nhận định ngay trong đầu những lí do khiến HS trả lời sai Kiên nhẫn đặt câu hỏi khác, một vài câu hỏi gợi mở để HS có cơ sở tìm ra câu trả lời đúng Tuyệt đối không nên dùng các cách nói tiêu cực để chế nhạo, quát nạt HS:

“ Sao lại trả lời ngớ ngẩn thế?” Hoặc “ Em trả lời hoàn toàn sai!”

- Câu trả lời lạc hướng:

GV nên bình tĩnh lắng nghe câu trả lời trọn vẹn của HS , sau đó vui vẻ chỉ ra cho HS định hướng tư duy đã đi quá xa vấn đề, lạc hướng, đốt cháy giai đoạn Lặp lại câu hỏi, gợi một vài ý để giúp HS xác định vấn đề cần suy nghĩ để trả lời cho

Trang 35

chính xác Có thể dí dỏm, khôi hài một chút để bầu không khí lớp học được thư giãn thoải mái, các em dễ dàng tái vận dụng đầu óc suy nghĩ

- Câu trả lời vượt ngoài dự đoán:

Trong QTDH đôi khi GV gặp một vài HS thông minh vượt trội trong lớp nên

có thể đưa ra câu trả lời sẽ rất bất ngờ, nằm ngoài dự đoán của GV, dẫn tới một khái niệm độc đáo, giúp cho tiến trình khám phá bài học đạt một bước thật xa và thật sâu Những câu trả lời như thế thường đặt ra một câu hỏi ngược lại cho GV và cho cả lớp GV nên vui vẻ đặt vấn đề với cả lớp : Chúng ta thấy câu trả lời của bạn thế nào? Rồi phân tích cách giải quyết độc đáo của câu trả lời này

* Nghệ thuật khen ngợi và phê bình khi nghe HS trả lời câu hỏi

Khi nghe HS trả lời câu hỏi, GV cần thể hiện thái độ của mình bằng lời khen hoặc lời phê bình nhắc nhở nhẹ nhàng Vậy GV cần khen và chê thế nào để kích thích được động cơ học tập của HS một cách tích cực? Với những câu trả lời chưa đúng hoặc sai thì GV cần phê bình và phân tích cho HS thấy được chỗ sai, chỗ chưa phù hợp về kiến thức,cách trình bày câu trả lời và phải sửa thế nào HS sẽ nhận lời phê bình của GV như một lời khuyên thí sẽ nhớ và tiếp nhận nó một cách thỏa đáng

Về từ ngữ dùng, GV nên sử dụng phù hợp sao cho lời phê bình của mình có TTC

và kết hợp với sự động viên nhẹ nhàng để HS cảm nhận được sự đòi hỏi về sự chú ý, thái độ học tập… của GV với mình

Với câu trả lời tốt, sâu sắc GV cần khen ngợi ngay và cần làm rõ khen chỗ nào và vì sao Thông qua sự phân tích câu trả lời kết hợp với những lời khen tinh tế

sẽ giúp cho HS được khen và HS trong lớp nhận được sự đúng đắn và hợp lí trong câu trả lời của câu hỏi Từ đó mà HS học được phương pháp nhận thức, cách trình bày, diễn đạt của vấn đề Lời khen của GV sẽ có tác dụng tích cực đến HS, giúp HS

tự tin và cảm nhận được sự trải nghiệm thành công của mình và nâng cao hứng thú học Cần tăng cường lời khen ngợi, động viên,giảm bớt lời chỉ trích, tạo môi trường học tập thân thiện để phát huy tính tích cực học tập của HS

1.3.4.5.Một số cách ứng xử khi sử dụng câu hỏi

Để sử dụng câu hỏi hiệu quả trong dạy học, GV cần quan tâm đến một số cách ứng xử sau:

-Dừng lại một chút sau khi đặt câu hỏi: Để tích cực hóa tư duy của tất cả HS

và dành cho HS có thời gian suy nghĩ,trả lời

- Tích cực hóa tất cả HS trong lớp: Để tăng cường sự tham gia của HS trong quá trình học tập và tạo sự công bằng trong lớp học GV cần tạo điều kiện cho cả

Trang 36

HS tích cực và HS thụ động tích cực phát biểu ý kiến, tránh chỉ tập trung vào một vài HS tích cực

- Phân phối câu hỏi cho cả lớp:Để đảm bảo tăng cường sự tham gia của HS, giảm thời gian nói của GV, thì GV cần chuẩn bị hệ thống câu hỏi tập trung vào trọng tâm bài học theo mức độ nhận thức khác nhau ( cấp độ của Bloom) Với câu hỏi khó cần có những câu hỏi gợi mở để hỏi được nhiều HS, chú ý nhiều đến những

HS thụ động và ngồi dưới lớp

- Tập trung vào trọng tâm bài học: Để giúp HS hiểu, ghi nhớ kiến thức trọng tâm của bài học, GV cần chuẩn bị trước và đưa ra cho HS những câu hỏi cụ thể , phù hợp với nội dung chính của bài học.Với câu hỏi khó, có thể đưa ra câu gợi ý cho câu trả lời Câu hỏi phức tạp, GV nên tổ chức cho HS thảo luận GV dựa vào câu trả lời của HS để đặt tiếp các câu hỏi theo logic của bài học

- Yêu cầu HS giải thích câu trả lời: GV có thể đặt ra các câu hỏi yêu cầu HS đưa thêm thông tin, giải thích làm rõ cách suy luận…Điều đó giúp HS đưa ra câu trả lời hoàn chỉnh hơn và hiểu được ý nghĩa câu trả lời, từ đó hiểu bài học sâu sắc hơn

- Yêu cầu liên hệ câu trả lời với các kiến thức khác: Để phát triển các mối liên

hệ trong hoạt động tư duy, GV yêu cầu HS liên hệ câu trả lời của mình với những kiến thức đã học và của môn học khác có liên quan.Từ đó giúp HS hiểu sâu bài học thông qua việc liên hệ kiến thức trong câu hỏi với những kiến thức khác và với thực tế

- Tránh nhắc lại câu hỏi của mình nhiều lần:GV cần chuẩn bị câu hỏi và nêu câu hỏi rõ ràng, nhấn mạnh những yêu cầu trả lời qua ngữ điệu Điều đó yêu cầu HS phải chú ý nghe GV nói, tham gia tích cực vào các hoạt động thảo luận

- Tránh tự trả lời câu hỏi của mình:Để tăng cường sự tham gia của HS và hạn chế sự can thiệp của GV, thúc đẩy sự tương tác HS_GV và HS_HS, GV không

tự trả lời câu hỏi của mình Nếu HS chưa rõ câu hỏi, GV cần chỉ định một HS nhắc lại câu hỏi

- Tránh nhắc lại câu trả lời của HS: Để tăng cường tính độc lập của HS và sự tương tác HS-HS, GV cần chỉ định HS khác nhận xét, bổ sung về câu trả lời của bạn, sau đó giáo viên đưa ra kết luận Như vậy sẽ phát triển khả năng tham gia vào các hoạt động thảo luận và nhận xét câu trả lời của nhau

- Bên cạnh việc đặt câu hỏi nhằm kích thích, gợi ý HS suy nghĩ ở những cấp

độ tư duy khác nhau GV cần hướng dẫn , khuyến khích và tạo điều kiện để HS tập đặt câu hỏi với GV, với bạn bè trong lớp về những nội dung chưa hiểu, chưa rõ, cần tranh luận, bày tỏ suy nghĩ của mình Khi HS biết đặt câu hỏi trong quá trình học tập thì hoạt động học tập của HS càng trở lên tích cực và có ý nghĩa

Trang 37

1.4 Hệ thống câu hỏi định hướng bài học, [11], [15], [18], [19], [31]

Câu hỏi có vai trò hết sức quan trọng trong quá trình dạy học Đặt được những câu hỏi mở, hấp dẫn sẽ kích thích tư duy và khuyến khích HS suy nghĩ sâu hơn, làm cho việc học hiệu quả hơn Khi HS thật sự bị lôi cuốn vào việc tìm kiếm câu trả lời cho các câu hỏi, đó là lúc các em cảm thấy thích thú với việc học Khi câu hỏi giúp HS nhận ra được mối liên hệ giữa môn học với đời sống thực tế, đó là lúc việc học trở nên có ý nghĩa Chúng ta có thể giúp HS trở thành những người học

có động cơ và tự định hướng thông qua việc đặt ra được những câu hỏi đúng

Bộ câu hỏi định hướng bài học sẽ cung cấp một cấu trúc trong việc đặt câu hỏi xuyên suốt quá trình dạy học, phát triển tư duy ở các cấp độ Bộ câu hỏi giúp người học tạo ra sự cân bằng giữa việc thấu hiểu nội dung và việc khám phá những ý tưởng, hấp dẫn khiến việc học trở nên phù hợp với HS Bộ câu hỏi định hướng bài học bao gồm các câu hỏi khái quát,câu hỏi bài học,câu hỏi nội dung, câu hỏi vận dụng và câu hỏi củng cố.Bộ câu hỏi định hướng bài học nhằm hướng dẫn việc tiếp thu bài học và vận dụng kiến thức thu nhận được

Trang 38

1.4.1.Tác dụng của hệ thống câu hỏi định hướng bài học

- Định hướng hoạt động cho GV và HS vào những nội dung quan trọng.Tránh được tình trạng trình bày nông cạn, hời hợt, ngoài chủ định

-Giúp GV và HS đạt được các mục tiêu dạy học

- Dẫn dắt HS đến kiến thức thông qua hệ thống câu hỏi.Giúp HS học tập tốt hơn, nhanh hơn,thông minh và sâu sắc hơn

- Rèn kỹ năng tổ chức và sử dụng kiến thức

- Rèn cho HS kỹ năng tư duy bậc cao

- Khơi dậy sự chú ý của HS, kích thích hứng thú học tập và giúp HS phát triển năng lực tự nghiên cứu ,tự học

1.4.2 Xây dựng hệ thống câu hỏi định hướng bài học

1.4.1.2.Câu hỏi khái quát

* Đặc điểm

- Có phạm vi rất rộng, là những câu hỏi mở, tập trung vào những vấn đề, mối quan tâm lớn ( đã giải quyết hay còn đang tranh cãi) có ý nghĩa xuyên suốt các lĩnh vực của môn học và có khi cả môn học khác

- Là cầu nối giữa các môn học, giữa môn học và bài học

- Không có một câu trả lời hiển nhiên “đúng” Không thể trả lời thỏa đáng bằng một câu đơn giản Vì vậy, HS được thử thách trong việc tìm ra nhiều kết quả khác nhau.Với một bài học, câu hỏi khái quát mang tính định hướng vào các vấn đề được giải quyết trong bài học và liên kết với các kiến thức trong chương

- Khuyến khích thảo luận và nghiên cứu chuyên sâu Gợi

mở sự nghiên cứu chứ không dẫn đến những kết luận sớm

- Đặt nền tảng cho các câu hỏi bài học và câu hỏi nội dung

Ví dụ : ( Đối với bài phép thử và biến cố)

Thế nào là một phép thử? Phép thử ngẫu nhiên là gì? Những

khái niệm đó có liên quan đến đại lượng nào trong toán học?

1.4.2.2.Câu hỏi bài học

* Câu hỏi bài học có đặc điểm :

- Cũng là câu hỏi mở nhưng bó hẹp trong một chủ đề hoặc một bài học cụ thể

Trang 39

- Thường gắn với nội dung bài học cụ thể, là cầu nối giữa môn học và bài học

- Không có một câu trả lời hiển nhiên “đúng” Không thể trả lời thỏa đáng bằng một câu đơn giản

* Câu hỏi bài học có tác dụng:

- Giúp giáo viên tập trung vào các khía cạnh quan trọng của bài học

- Những câu hỏi bài học thường hướng tới các trình độ khác nhau để hỗ trợ

và phát triển cho các câu hỏi khái quát Chúng được thiết kế để làm rõ và khai thác các khía cạnh của câu hỏi khái quát thông qua chủ đề của bài học

- Đặt nền tảng cho các câu hỏi nội dung

Ví dụ : Khi dạy về “Hoán vị” , GV cần đặt những câu hỏi hướng vào trọng tâm bài học như sau:

1.Hoán vị là gì?

2.Cách tính số hoán vị của n phần tử như thế nào?

3 Những tình huống nào sau đây phù hợp với bài toán hoán vị?

1.4.2.3 Câu hỏi nội dung

* Câu hỏi nội dung có đặc điểm :

- Là những câu hỏi cụ thể trong một bài học, một nội dung học tập

- Chú trọng vào sự kiện hơn là giải thích sự kiện

- Ít yêu cầu HS phải có kỹ năng tư duy bậc cao

- Thường có những câu trả lời “ đúng”, rõ ràng, chính xác

* Câu hỏi nội dung có tác dụng:

- Trực tiếp hỗ trợ những chuẩn kiến thức kỹ năng và mục tiêu học tập

- Nhiều câu hỏi nội dung hỗ trợ và phát triển một câu hỏi bài học hay câu hỏi khái quát

Ví dụ: Khi dạy về nhị thức New ton, để hỗ trợ cho mục tiêu giúp học sinh nắm vững các đặc điểm của Nhị thức New ton, GV có thể dùng các câu hỏi :

1.Có nhận xét gì về số hạng tử có trong khai triển trên?

2.Số mũ của a,b trong khai triển trên có đặc điểm gì?

3.Có nhận xét gì về hệ số của những hạng tử cách đều hai hạng tử đầu và cuối? giải thích đặc điểm đó?

4.Hãy áp dụng công thức trên với n=5?

1.4.2.4 Câu hỏi vận dụng kiến thức

Là câu hỏi đòi hỏi HS vận dụng kiến thức đã học vào một tình huống, một thực tiễn mới khác với đối tượng của bài học Thường yêu cầu HS phải có những

Trang 40

kỹ nămg tư duy bậc cao và chú trọng vào việc vận dụng kiến thức để giải thích sự kiện, hiện tượng thực tế

Câu hỏi vận dụng được sử dụng để kiểm tra khả năng áp dụng các kiến thức mới trong bài học vào hoàn cảnh và điều kiện mới, khả năng vận dụng các kiến thức

đã có vào giải quyết các vấn đề trong bài học Qua việc trả lời câu hỏi của HS, cho thấy HS có khả năng hiểu được bản chất, các khái niệm, kiến thức đã có và sử dụng

nó như thế nào để giải quyết các vấn đề, các tình huống mới

Ví dụ : Khi dạy về bài toán hoán vị, GV có thể đặt ra câu hỏi :

1 Tính số hoán vị vòng quanh của n phần tử khác nhau ( theo nghĩa sắp xếp

n phần tử theo vòng tròn)

2 Một hội nghị bàn tròn có phái đoàn của

các nước gồm : 3 người Anh, 5 người Nga, 2

người Mỹ, 3 người Pháp, 4 người Trung Quốc

Hỏi có bao nhiêu cách sắp xếp chỗ ngồi cho mọi

thành viên sao cho người cùng quốc tịch thì ngồi

cạnh nhau?

Để trả lời được hai câu hỏi thứ nhất, ngoài

việc nắm vững về định nghĩa hoán vị, học sinh

cần có kiến thức thực tế để nhận ra sự khác nhau giữa hoán vị vòng quanh và hoán

vị thẳng, thấy được vai trò như nhau giữa các vị trí trong hoán vị vòng quanh, lí giải được tại sao đáp số lại chỉ là (n 1)!

Ở câu hỏi 2, học sinh phải có khả năng chia nhỏ bài toán và áp dụng linh hoạt công thức hoán vị Ở bước thứ nhất, phải biết ghép các thành viên của 5 phái đoàn thành một phần tử và áp dụng công thức hoán vị vòng quanh, sau đó lại áp dụng công thức về hoán vị thẳng để tính số cách sắp xếp cho từng thành viên trong đoàn và cuối cùng là áp dụng quy tắc nhân để đưa ra đáp số

1.4.2.5 Câu hỏi củng cố

Là dạng câu hỏi mở mang tính chất củng cố các kiến thức cơ bản, kiến thức chốt của bài học Đồng thời câu hỏi củng cố còn chú trọng đến các nội dung nhằm trang bị về phương pháp nhận thức, phương pháp học tập bộ môn cho HS

Câu hỏi củng cố có tác dụng giúp HS hệ thống kiến thức cơ bản, kiến thức mới mà HS thu nhận được qua bài học Từ đó HS thấy được

các mối liên hệ giữa các kiến thức trong bài học

Ngày đăng: 17/03/2021, 00:06

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w