LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan luận văn với tiêu đề “So sánh ảnh hưởng của các hình thức kiểm tra đánh giá kết quả học tập tới phong cách học môn tiếng Anh của sinh viên” là kết quả nghi
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
ĐO LƯỜNG VÀ ĐÁNH GIÁ TRONG GIÁO DỤC
HÀ NỘI – 2018
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
Mã số: 8140115
Người hướng dẫn khoa học: GS TS Nguyễn Quý Thanh
HÀ NỘI - 2018
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn với tiêu đề “So sánh ảnh hưởng của các hình
thức kiểm tra đánh giá kết quả học tập tới phong cách học môn tiếng Anh của sinh viên” là kết quả nghiên cứu của chính bản thân tôi thực hiện
Các số liệu và kết quả nghiên cứu trình bày trong luận văn chưa từng được
công bố ở các nghiên cứu khác
Tôi xin chịu trách nhiệm về nghiên cứu của mình
Hà Nội, ngày tháng năm 2018
Tác giả
Đinh Thị Thảo
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thiện luận văn này, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến GS.TS Nguyễn Quý Thanh, người đã tận tình, tận tâm hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn Quý Thầy (Cô) giảng dạy chương trình cao học
“Đo lường và Đánh giá trong giáo dục” đã truyền dạy những kiến thức quý báu, hữu ích về chuyên ngành Đo lường đánh giá trong giáo dục, cũng như cung cấp cách thức để tiến hành một nghiên cứu khoa học
Xin trân trọng cảm ơn đến Ban Giám Hiệu, các Thầy (Cô) trường Cao đẳng Sư Phạm Hòa Bình đã động viên và giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và hoàn thành luận văn này
Xin trân trọng cảm ơn!
Hà Nội, ngày tháng năm 2018
Tác giả
Đinh Thị Thảo
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích của nghiên cứu 2
3 Giới hạn nghiên cứu 2
4 Câu hỏi nghiên cứu 3
5 Giả thuyết nghiên cứu 3
6 Khách thể và đối tượng nghiên cứu 4
6.1 Khách thể nghiên cứu 4
6.2 Đối tượng nghiên cứu: 4
7 Phương pháp nghiên cứu 4
7.1 Phương pháp nghiên cứu định tính 4
7.2 Phương pháp nghiên cứu định lượng 5
8 Phạm vi, thời gian khảo sát 5
9 Kết cấu của luận văn 5
CHƯƠNG 1 7
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TỔNG QUAN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 7
1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề 7
1.1.1 Các nghiên cứu về vai trò, hình thái kiểm tra đánh giá ở nước ngoài 7
1.1.2 Các nghiên cứu về hình thức kiểm tra đánh giá trong nước 10
1.2 Các khái niệm cơ bản 13
1.2.1 Khái niệm về kiểm tra, đánh giá kết quả học tập 13
1.2.2 Khái niệm về hình thức kiểm tra đánh kết quả học tập 18
1.2.3 Trắc nghiệm, trắc nghiệm khách quan, trắc nghiệm tự luận (Viết luận) 18
1.2.4 Khái niệm về phong cách học tập 20
1.3 Những vấn đề cơ bản về kiểm tra đánh giá kết quả học tập bằng câu hỏi trắc nghiệm khách quan và Viết luận tiếng Anh 22
1.3.1 Đặc điểm và những ưu, nhược điểm của hình thức trắc nghiệm khách quan 23
1.3.2 Đặc điểm và những ưu, nhược điểm của hình thức Viết luận 26
1.3.3 Những yêu cầu về áp dụng câu hỏi trắc nghiệm khách quan và Viết luận (Viết luận) trong kiểm tra đánh giá kết quả học tập môn tiếng Anh 29
1.4 Một số phong cách học tập cơ bản và những ảnh hưởng của hình thức kiểm tra đánh giá kết quả học tập tới phong cách học tập của người học 31
Trang 61.4.1 Một số phong cách học tập cơ bản 31
1.4.2 Ảnh hưởng của các hình thức kiểm tra đánh giá kết quả học tập bằng trắc nghiệm khách quan và Viết luận tới phong cách học tập của người học 36
1.4.3 Một số cách tiếp cận với các hình thức thi trắc nghiệm khách quan và Viết luận tiếng Anh 41
CHƯƠNG 2 46
PHƯƠNG PHÁP VÀ TỔ CHỨC NGHIÊN CỨU 46
2.1 Phương pháp nghiên cứu 46
2.1.1 Phương pháp nghiên cứu định tính 46
2.1.2 Phương pháp nghiên cứu định lượng 46
2.1.3 Phương pháp thu thập số liệu 47
2.2 Mẫu nghiên cứu 47
2.3 Công cụ nghiên cứu 48
2.4 Quy trình nghiên cứu: 49
2.5 Khảo sát thử nghiệm và đánh giá công cụ 49
2.5.1 Khảo sát thử nghiệm 49
2.5.2 Đánh giá công cụ 50
CHƯƠNG 3 54
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 54
3.1 Quy trình thu thập số liệu 54
3.2 Độ tin cậy của bảng hỏi 55
3.2.1 Kiểm định Cronbach’s Alpha cho tiêu chí “Tiếp cận hình thức thi TNKQ và Viết luận” 55
3.2.2 Kiểm định Cronbach’s Alpha cho tiêu chí “Tìm kiếm tài liệu ôn thi cho phần thi TNKQ và Viết luận” 57
3.2.3 Kiểm định Cronbach’s Alpha cho tiêu chí “Chuẩn bị cho kỳ thi Tiếng Anh có dạng bài TNKQ và Viết luận” 58
3.3 Phân tích nhân tố khám phá EFA 60
3.3.1 Phân tích nhân tố khám phá EFA với phần thi TNKQ 60
3.3.2 Phân tích nhân tố khám phá EFA với phần thi Viết luận 63
3.4 Phân tích hồi quy 65
3.4.1 Phân tích hệ số tương quan Pearson giữa biến TNKQ, Viết luận và phong cách học 65
3.4.2 Phân tích hồi quy giữa biến TNKQ, Viết luận và phong cách học 68
3.5 Kiểm định các giả thuyết nghiên cứu 69
Trang 73.5.1 Kiểm định giả thuyết H1 69
3.5.2 Kiểm định giả thuyết H2 69
3.5.3 Kiểm định giả thuyết H3 69
3.5.4 Kiểm định giả thuyết H4 70
3.5.5 Kiểm định giả thuyết H5 71
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 77
1 Kết luận: 77
2 Khuyến nghị 77
TÀI LIỆU THAM KHẢO 79
I Tiếng Việt 79
II Tiếng Anh 80
III Các trang web có liên quan đến vấn đề nghiên cứu 82
Trang 8DANH MỤC KÝ HIỆU CHỮ VIẾT TẮT
Trang 9DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 1.1 Bảng so sánh ưu, nhược điểm của câu hỏi nhiều lựa chọn 23
Bảng 1.2 Bảng so sánh ưu, nhược điểm của câu hỏi đúng sai 24
Bảng 1.3 Bảng so sánh ưu, nhược điểm của câu hỏi điền khuyết 25
Bảng 1.4 Bảng so sánh ưu, nhược điểm của câu hỏi ghép hợp 26
Bảng 1.5 Bảng so sánh ưu, nhược điểm của câu hỏi Viết luận 28
Bảng 1.6 Bảng phân tích tiêu chí 43
Bảng 2.1 Mẫu nghiên cứu 47
Bảng 2.2 Độ tin cậy phiếu khảo sát chưa chỉnh sửa 50
Bảng 2.3 Hệ số tương quan biến tổng 51
Bảng 2.4 Độ tin cậy phiếu khảo sát đã chỉnh sửa 52
Bảng 2.5 Hệ số tương quan biến tổng 52
Bảng 3.1 Bảng mã hóa câu hỏi 55
Bảng 3.2 Độ tin cậy với tiêu chí Tiếp cận hình thức thi TNKQ 56
Bảng 3.3 Độ tin cậy với tiêu chí Tiếp cận hình thức thi Viết luận 56
Bảng 3.4 Độ tin cậy với tiêu chí Tìm kiếm tài liệu ôn thi cho phần thi TNKQ 57
Bảng 3.5 Độ tin cậy với tiêu chí Tìm kiếm tài liệu ôn thi cho phần thi Viết luận 58
Bảng 3.6 Độ tin cậy với tiêu chí Chuẩn bị cho kỳ thi Tiếng Anh có dạng bài TNKQ 58
Bảng 3.7 Độ tin cậy với tiêu chí Chuẩn bị cho kỳ thi Tiếng Anh có dạng bài Viết luận 59
Bảng 3.8 Kiểm định KMO và Bartlett’s Test của các biến độc lập 60
Bảng 3.9 Tổng phương sai trích phần TNKQ 60
Bảng 3.10 Ma trận nhân tố xoay phần TNKQ 62
Bảng 3.11 Kiểm định KMO và Bartlett’s Test của các biến độc lập 63
Bảng 3.12 Tổng phương sai trích phần Viết luận 63
Bảng 3.13 Ma trận nhân tố xoay phần Viết luận 65
Bảng 3.14 Bảng tên biến đối với phần TNKQ 66
Bảng 3.15 Bảng tên biến đối với phần Viết luận 66
Bảng 3.16 Bảng tên biến đối với phong cách học 66
Bảng 3.17 Kết quả phân tích tương quan Pearson (Phần TNKQ) 67
Trang 10Bảng 3.18 Kết quả phân tích tương quan Pearson ( Phần Viết luận) 67
Bảng 3.19 Bảng tóm tắt hồi quy (Biến Tiếp cận tài liệu) 68
Bảng 3.20 Bảng tóm tắt hồi quy (Biến Tìm kiếm tài liệu) 68
Bảng 3.21 Bảng tóm tắt hồi quy (Chuẩn bị kỳ thi) 68
Bảng 3.22 Kiểm định Independent Test theo giới tính 70
Bảng 3.23 Kiểm định Independent Test theo ngành học 71
Bảng 3.24 Tên biến đối với điểm thi TNKQ và Viết luận 71
Bảng 3.25 Kết quả phân tích tương quan Pearson (Phần Điểm thi TNKQ) 72
Bảng 3.26 Kết quả phân tích tương quan Pearson (Phần Điểm thi Viết luận) 72
Bảng 3.27 Kiểm định phương sai 73
Bảng 3.28 Kiểm định Anova 73
Bảng 3.29 Bảng tóm tắt hồi quy 73
Bảng 3.30 Kết quả phân tích hồi quy đa biến 74
Trang 11DANH MỤC SƠ ĐỒ
Sơ đồ 1.1 Mô hình hóa hình thức TNKQ và TNTL 22
Sơ đồ 1.2 Mô hình hóa tình huống học 42
Sơ đồ 1.3 Mô hình quá trình học 43
Sơ đồ 1.4 Mô hình lý thuyết 44
Sơ đồ 2.1 Quy trình nghiên cứu 49
Sơ đồ 3.1 Giới tính 54
Sơ đồ 3.2 Ngành học 54
Trang 12sự là quốc sách hàng đầu, là sự nghiệp của Đảng, Nhà nước và của toàn dân" Chất lượng nền giáo dục Việt Nam được nâng cao một cách toàn diên do có sự đổi mới theo chuẩn hóa, xã hội hóa, hiện đại hóa, dân chủ hóa Đây cũng là mục tiêu của giáo dục Việt Nam đến năm 2020
Theo quan điểm tiếp cận hệ thống, Hoạt động dạy-học được cấu thành bởi nhiều thành tố như mục tiêu dạy-học; nội dung dạy học; phương pháp dạy-học; phương tiện dạy-học; kiểm tra đánh giá kết quả; người dạy, người học, nhà trường
và xã hội Các yếu tố này có tác động qua lại lẫn nhau, tạo thành một thể thống nhất dựa trên những quy luật nhất định và không thể tách rời Chính vì vậy, trong quá trình dạy-học, kiểm tra, đánh giá kết quả học tập là một thành tố không thể tách rời
và giữ vai trò hết sức quan trọng Qua kiểm tra, đánh giá người dạy biết được khả năng tiếp thu kiến thức và vận dụng kiến thức của người học, từ đó định hướng cụ thể để điều chỉnh hoạt động giảng dạy của bản thân, đồng thời điều khiển hoạt động học của người học một cách phù hợp nhằm đạt được mục đích của hoạt động dạy-học đã đề ra
Để góp phần nâng cao chất lượng giáo dục, chúng ta cần phải phát huy tính chủ động, tích cực của cả giáo viên và học sinh, sinh viên trong việc đổi mới phương pháp dạy, phương pháp học, phương pháp, hình thức kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học sinh, sinh viên Có thể nói phương pháp, phong cách học tập của học sinh, sinh viên có mối quan hệ mật thiết hoạt động kiểm tra, đánh giá kết quả học tập Kiểm tra, đánh giá là sự đưa ra những nhận định, phán đoán về kết quả công việc dựa vào sự đối chiếu giữa thông tin được phân tích với mục tiêu, tiêu chuẩn đề ra Kiểm tra, đánh giá trong đó nội dung, phương pháp và đặc biệt là hình
Trang 132
thức kiểm tra đánh giá được xem là một khâu quan trọng để xây dựng, lập kế hoạch
và triển khai công việc tiếp theo của giáo viên và học sinh, sinh viên Trong khuôn khổ một đề tài luận văn thạc sỹ, nghiên cứu đề cập đến vấn đề so sánh ảnh hưởng của hình thức kiểm tra, đánh giá với phong cách học tập tiếng Anh của sinh viên Là môn học mà kết quả học tập được coi là điều kiện tiên quyết quyết định việc xét tốt nghiệp cho sinh viên các trường đại học, cao đẳng, vì vậy, môn tiếng Anh được rất nhiều trường đại học và cao đẳng quan tâm về mục tiêu, nội dung, phương pháp dạy học; đặc biệt là các hình thức kiểm tra, đánh giá kết quả học tập như hình thức thi trắc nghiệm khách quan, vấn đáp, bài tập lớn, Viết luận Vậy, hình thức kiểm tra, đánh giá kết quả học có ảnh hưởng như thế nào đến phong cách học tập môn tiếng Anh của sinh viên? mức độ ảnh hưởng đến đâu? phương pháp học tập chủ yếu của sinh viên hiện nay như thế nào? Kiểm tra, đánh giá kết quả học tập như thế nào để phù hợp và có thể góp phần giúp học sinh tích cực, chủ động trong học tập và đạt
kết quả tốt? Đây chính là lý do tôi lựa chọn đề tài " So sánh ảnh hưởng của các
hình thức kiểm tra đánh giá kết quả học tới phong cách học môn tiếng Anh của sinh viên " để nghiên cứu
2 Mục đích của nghiên cứu
Mục đích của nghiên cứu là khảo sát và so sánh những ảnh hưởng của hình thức thi trắc nghiệm khách quan và Viết luận đến phong cách học tập môn tiếng Anh của sinh viên Nghiên cứu sẽ làm rõ chiều hướng cũng như mức độ ảnh hưởng của kiểm tra đánh giá kết quả học tập bằng hình thức trắc nghiệm khách quan và Viết luận đến phong cách học của sinh viên, từ đó giúp giảng viên và sinh viên các nhà trường có những giải pháp điều chỉnh phương pháp học tập và hoạt động kiểm tra đánh giá phù hợp nhằm nâng cao chất lượng học tập bộ môn tiếng Anh
3 Giới hạn nghiên cứu
Nghiên cứu được thực hiện tại trường Đại học Sư Phạm 1, Đại học Công nghiệp Hà Nội, Đại học Tài Nguyên và Môi trường, Học viện Tài Chính bằng cách tiến hành khảo sát các sinh viên đã và đang học tiếng Anh tại trường trên bằng bảng hỏi Số lượng mẫu khảo sát cụ thể: 300 sinh viên trong đó 50 sinh viên Đại học
Trang 143
Công nghệ, 50 sinh viên Đại học Công nghiệp Hà Nội; 70 sinh viên Học viện Tài Chính;50 sinh viên Đại học Tài nguyên và Môi trường ;80 sinh viên Đại học Sư phạm Hà Nội
Trong khuôn khổ một đề tài luận văn thạc sỹ, nghiên cứu chỉ so sánh ảnh hưởng của kiểm tra, đánh giá bằng hình thức trắc nghiệm khách quan và Viết luận đến phong cách học tập bộ môn tiếng Anh của sinh viên trường Đại học Công nghệ, Đại học Công nghiệp Hà Nội, Đại học Tài Nguyên và Môi trường, Học viện Tài Chính và Đại học Sư phạm Hà Nội vì đây là môn học có phương pháp học tập, hình thức kiểm tra đa dạng, phong phú và phù hợp với xu thế giáo dục hiện nay
4 Câu hỏi nghiên cứu
Để thực hiện được mục đích nghiên cứu, tác giả tập trung trả lời các câu hỏi nghiên cứu sau:
1 Kiểm tra đánh giá kết quả học tập bằng hình thức trắc nghiệm khách quan
có ảnh hưởng như thế nào đến phong cách học tập môn Tiếng Anh của sinh viên?
2 Kiểm tra đánh giá kết quả học tập bằng hình thức Viết luận có ảnh hưởng như thế nào đến phong cách học tập môn tiếng Anh của sinh viên?
3 Có sự khác biệt nào trong mức độ ảnh hưởng của kiểm tra, đánh giá bằng hình thức trắc nghiệm khách quan và Viết luận đến phong cách học tập môn tiếng Anh của sinh viên các trường hay không?
4 Có sự khác biệt nào về phong cách học tập môn tiếng Anh theo đặc điểm khối ngành và đặc điểm cá nhân sinh viên hay không?
5 Phong cách học tập có ảnh hưởng tới điểm thi môn Tiếng Anh hay không?
5 Giả thuyết nghiên cứu
Từ các câu hỏi nghiên cứu trên đề tài đặt ra các giả thuyết khoa học sau:
* Giả thuyết 1 (H1): Kiểm tra đánh giá kết quả học tập bằng hình thức trắc nghiệm khách quan có ảnh hưởng lớn đến phong cách học môn Tiếng Anh của sinh viên
Trang 15* Giả thuyết 4 (H4): Có sự khác biệt về phong cách học tập theo khối ngành
và theo giới tính của sinh viên
* Giả thuyết 5 (H5): Phong cách học tập của sinh viên có ảnh hưởng tới điểm thi môn Tiếng Anh
6 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
6.1 Khách thể nghiên cứu
- Tổng thể nghiên cứu là sinh viên trường Đại học Công nghệ-ĐHQG Hà Nội, Đại học Công nghiệp Hà Nội, Đại học Tài Nguyên và Môi trường, Học viện Tài Chính; Đại học Sư phạm Hà Nội
- Khách thể nghiên cứu: Hình thức kiểm tra đánh giá kết quả học tập môn tiếng Anh tại các trường đại học
- Khách thể khảo sát: 300 sinh viên trong đó 50 sinh viên Đại học Công nghệ, 50 sinh viên Đại học Công nghiệp Hà Nội; 70 sinh viên Học viện Tài Chính;50 sinh viên Đại học Tài nguyên và Môi trường;80 sinh viên Đại học Sư phạm Hà Nội
6.2 Đối tượng nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu của đề tài: So sánh ảnh hưởng của hình thức kiểm tra đánh giá kết quả học tập bằng trắc nghiệm khách quan và Viết luận đến phong cách học tập môn tiếng Anh của sinh viên đại học
7 Phương pháp nghiên cứu
7.1 Phương pháp nghiên cứu định tính
* Phương pháp phân tích, tổng hợp tài liệu;
Trang 165
Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận nhằm nghiên cứu các văn bản quy định của nhà nước, của ngành giáo dục và khảo cứu các công trình khoa học của các chuyên gia có uy tín trong lĩnh vực đo lường và đánh giá giáo dục; lĩnh vực phương pháp giảng dạy nói chung và phương pháp giảng dạy, hình thức kiểm tra đánh giá
bộ môn tiếng Anh nói riêng
* Phương pháp khái quát hóa
Từ phân tích, tổng hợp tài liệu, tôi khái quát hóa để xây dựng khung lý thuyết nghiên cứu cho đề tài Từ khung lý thuyết của nghiên cứu, tôi xây dựng công
cụ đo lường để phục vụ cho điều tra, khảo sát
7.2 Phương pháp nghiên cứu định lượng
Nhóm phương pháp này nhằm thu thập các thông tin thực tiễn để xây dựng
cơ sở thực tiễn của đề tài Nhóm phương pháp nghiên cứu này gồm các phương pháp sau:
* Điều tra khảo sát bằng phiếu hỏi
Nghiên cứu được thực hiện bằng phương pháp định lượng thông qua khảo sát bằng bảng hỏi với kích thước mẫu là 300 sinh viên
Ngoài ra, để xử lý số liệu thu được từ khảo sát và kiểm định các giả thuyết nghiên cứu tác giả có sử dụng phần mềm SPSS và các thuật toán thống kê
8 Phạm vi, thời gian khảo sát
- Phạm vi: Đề tài nghiên cứu tại các trường Đại học Công nghệ, Đại học Công nghiệp Hà Nội, Đại học Tài Nguyên và Môi trường, Học viện Tài Chính; Đại học Sư phạm Hà Nội
- Thời gian triển khai nghiên cứu: từ tháng 12 năm 2017 đến tháng 11 năm
2018
9 Kết cấu của luận văn
Luận văn bao gồm các phần mở đầu, 3 chương, kết luận, khuyến nghị, phụ lục được trình bày như sau:
Mở đầu
Trang 187
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TỔNG QUAN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề
1.1.1 Các nghiên cứu về vai trò, hình thái kiểm tra đánh giá ở nước ngoài
Vấn đề kiểm tra đánh giá kết quả học tập của người học đã được các nước có
nền giáo dục nghiên cứu từ rất sớm Trong cuốn Đánh giá lớp học, những nguyên
tắc và thực tiễn để giảng dạy hiệu quả của tác giả James H McMillan (2001) đã chỉ
ra vai trò của đánh giá trong giảng dạy đó là kết hợp giữa giảng dạy và đánh giá trong bối cảnh lớp học để thu thập, giải thích và sử dụng thông tin giúp giáo viên ra các quyết định hành động phù hợp để đạt được mục đích giáo dục
Bàn về các hình thái đánh giá trong giáo dục có nghiên cứu của Dierick&Dochy (2001) Nghiên cứu đã chia lịch sử phát triển kiểm tra đánh giá thành ba hình thái chính đó là (1) Hình thái đánh giá truyền thống chủ yếu dựa trên
sự đo lường tâm lý Đây là hình thái phát triển sớm nhất, hình thái đánh giá cổ điển Trong hình thái này các bài kiểm tra được viết trên giấy, chuẩn hóa được sử dụng trên phạm vi rộng để tăng tính giải trình của việc đánh giá (2) Hình thái đánh giá gắn với bối cảnh giáo dục Đây là hình thái đánh giá xuất hiện muộn hơn, được cho
là để khắc phục những điểm bất cập của hình thái đo lường tâm lý qua những bài kiểm tra viết trên giấy được chuẩn hóa (3) Hình thái đánh giá cá nhân thì cho rằng học sinh cần phải là trung tâm của quá trình đánh giá và phải được tham gia vào quá trình đó Hình thái này khắc phục được những nhược điểm của hai hình thái trước là
do nó quan niệm rằng mỗi học sinh có tính duy nhất về trình độ hiểu biết, phong cách học khác nhau
Nghiên cứu về phương pháp dạy-học tích cực lấy học sinh làm trung tâm, theo R.R.Singh (1991) để có được kiến thức mới học sinh phải được hoạt động, phải được quan sát, được thao tác trên các đối tượng R.R.Singh đã dụng thuật ngữ quá trình hiểu biết học tập lấy học sinh làm trung tâm, học tập do người học điều khiển Theo Singh, trung tâm của hệ học tập do người học điều khiển là cá nhân
Trang 19Brookhart (1993), trong nghiên cứu Hoạt động xếp loại học sinh của giáo
viên: ý nghĩa và giá trị đã nghiên cứu về động cơ học tập có gợi ý rằng giáo viên
phải liên tục đánh giá học sinh và có thông tin phản hồi Bằng cách cung cấp những thông tin đặc biệt và hữu ích và khuyến khích người học điều chỉnh hoạt động học của mình, giáo viên sẽ khuyến khích người học nâng cao ý thức, sự tự tin, những yếu tố quyết định động cơ học tập
After&Spandel (1992); Hebert (1998) đã nghiên cứu về một hình thức kiểm tra, đánh giá có ảnh hưởng đến phương pháp học của học sinh đó là đánh giá hồ sơ học sinh Các tác giả khẳng định việc sử dụng hồ sơ học tập của học sinh trở thành một phần của quá trình đánh giá Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng, đánh giá theo hồ sơ phải có sự tham gia của của học sinh trong việc lựa chọn những gì được đưa vào hồ
sơ, những hướng dẫn cụ thể được xác định trong việc lựa chọn tài liệu và tiêu chí cho điểm, cũng như dấu hiệu chứng tỏ học sinh có những suy ngẫm về những gì bản thân đã đạt được Bằng cách đánh giá hồ sơ học tập học sinh tự suy ngẫm về kết quả học tập và thành tích của mình, tự phê phán và đánh giá sự tiến bộ của bản thân Việc này giúp học sinh xác lập các mục đích, phương pháp học tập tiếp theo Tuy nhiên các nghiên cứu cũng chỉ ra một số nhược điểm của việc sử dụng hồ sơ học sinh để đánh giá Hạn chế lớn nhất là việc chấm điểm mất nhiều thời gian và chưa đạt được độ tin cậy cao
Trang 209
So sánh về những ưu, nhược điểm của 2 hình thức kiểm tra trắc nghiệm khách quan và trắc nghiệm tự luận (hay còn gọi là Viết luận) James H McMillan (2001) đã chỉ ra rằng các bài Viết luận có thể đánh giá suy nghĩ phức tạp bằng cách yêu cầu học sinh thu thập, kết hợp và phân tích thông tin, đưa ra tranh luận, giải thích, đánh giá chất lượng của các ý kiến và tiến hành các lập luận khác Mặc dù có nhiều hình thức trắc nghiệm hồi nhớ khác nhau nhưng Viết luận vẫn là phương pháp hiệu quả để đánh giá sự hiểu sâu và nắm bắt thông tin phức tạp, kết hợp các sự kiện riêng lẻ thành một chỉnh thể có nghĩa Ngược lại khi thực hiện các bài kiểm tra trắc nghiệm khách quan, học sinh có xu hướng chia nhỏ thông tin và nhớ thuộc lòng từng câu Tác giả cũng chỉ ra những ưu điểm và hạn chế 2 hình thức kiểm tra này Chính bởi đặc điểm khác nhau của 2 hình thức kiểm tra này mà phong cách học của học sinh có sự khác biệt để đáp ứng yêu cầu của các bài kiểm tra
Nghiên cứu về một số phương pháp kiểm tra đánh giá hiệu quả nhằm phát triển năng lực ngoại ngữ cho sinh viên chuyên ngữ có nghiên cứu của Grabe & Kaplan (1998) Các tác giả cho rằng tập hồ sơ các bài viết (một hình thức kiểm tra Viết luận trong tiếng Anh) có thể được dùng như một công cụ đánh giá sinh viên rất hữu ích, thậm chí khả thi cho cả lớp học có nhiều sinh viên Đây là cách để giảng viên đánh giá lại toàn bộ quá trình học kỹ năng viết của sinh viên vì nó lưu giữ toàn
bộ bài viết Cách đánh giá dựa trên việc lưu toàn bộ các bài Viết luận của sinh viên như thế này thường rất hiệu quả và phản ánh được sự tiến bộ của sinh viên, giúp sinh viên nhìn lại toàn bộ quá trình, nhận ra được sự tiến bộ, tự điều chỉnh phương pháp học tập của bản thân cho phù hợp
Bàn về phong cách học tập, Kolb.D A (1984) cho rằng phong cách học tập của mỗi người là kết quả từ một tương tác giữa đặc điểm bên trong một cá nhân và môi trường hoàn cảnh bên ngoài của họ nhằm thu nhận và xử lý thông tin trong các tình huống học tập
Như vậy, tình hình nghiên cứu ở nước ngoài chưa có nhiều công trình đề cập đến so sánh ảnh hưởng của các hình thức kiểm tra đánh giá kết quả học tập (KQHT) đến phong cách học môn Tiếng Anh (TA) Các công trình nêu trên chỉ đề cập đến
Trang 2110
hình thức kiểm tra đánh giá ở góc độ lý thuyết, chưa có trường hợp nghiên cứu cụ thể nào được đề cập Chưa có công trình nghiên cứu toàn diện về ảnh hưởng của hình thức kiểm tra đánh giá KQHT đến phong cách học môn Tiếng Anh và so sánh ảnh hưởng của nó đến phong cách học TA Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu trên cũng được tác giả tham khảo nhằm làm rõ hơn về mặt lý luận của luận văn này
1.1.2 Các nghiên cứu về hình thức kiểm tra đánh giá trong nước
So với các nước có nền giáo dục phát triển thì vấn đề kiểm tra đánh giá kết quả học tập của người học ở nước ta còn khá muộn và mới mẻ.Có thể kể đến những chuyên gia đầu ngành trong nghiên cứu lĩnh vực đo lường, kiểm tra, đánh giá đó là Lâm Quang Thiệp; Nguyễn Công Khanh; Trần Thị Tuyết Oanh; Đào Thị Oanh; Lê Đức Ngọc; Sái Công Hồng, Đặng Bá Lãm, Trần Bá Hoành
Trong tài liệu Đo lường và đánh giá hoạt động học tập trong nhà trường
G.S TSKH Lâm Quang Thiệp (2017) đã chỉ ra một số quan niệm chung về đo lường và đánh giá trong giáo dục, cơ sở toán học của các lý thuyết đo lường trong giáo dục, những vấn đề về trắc nghiệm cổ điển, trắc nghiệm hiện đại, các nhóm phương pháp đánh giá trong giáo dục như trắc nghiệm khách quan, Viết luận, đánh giá thực hành, đánh giá qua giao tiếp, đánh giá tình cảm, thái độ
Tác giả Nguyễn Công Khanh, Đào Kim Oanh (2016) trong cuốn Kiểm tra
đánh giá trong giáo dục hệ thống hóa cơ sở lý luận về kiểm tra đánh giá trong giáo
dục; xây dựng các công cụ kiểm tra, đánh giá; xử lý, phản hồi kết quả kiểm tra đánh giá Công trình nghiên cứu đã làm rõ vai trò của kiểm tra đánh giá, mục đích, mục tiêu của kiểm tra đánh giá trong giáo dục, các loại hình đánh giá và quy trình thiết lập một kế hoạch đánh giá lớp học phù hợp Tác giả đã phân tích xu hướng đổi mới
và triết lý đánh giá vì sự tiến bộ của học tập; yêu cầu, nguyên tắc kiểm tra, đánh giá
hỗ trợ cải tiến chất lượng học tập
Cũng bàn về vấn đề kiểm tra đánh giá, giáo trình Kiểm tra đánh giá trong
dạy học của Sái Công Hồng, Lê Thái Hưng, Lê Thị Hoàng Hà, Lê Đức Ngọc (2017)
là tài liệu được biên soạn mang tính nhập môn về kiểm tra đánh giá trong dạy học Giáo trình đã cung cấp những kiến thức cơ bản nhất về đo lường và đánh giá, giúp
Trang 2211
người học có hình dung ban đầu về mục đích, vị trí, vai trò của hoạt động kiểm tra đánh giá trong dạy học Tài liệu cũng đề cập đến hoạt động lập kế hoạch kiểm tra, đánh giá từ khâu xác định mục tiêu dạy học, xây dựng tiêu chí đánh giá đến lập kế hoạch và xây dựng một bản đặc tả đề kiểm tra, đánh giá sử dụng cho mục đích đánh giá trong dạy học Các tác giả xây dựng được các phương pháp, công cụ và kỹ thuật đánh giá trong lớp học vì hoạt động học tập của người học
Tác giả Trần Thị Tuyết Oanh (2016) với cuốn Đánh giá kết quả học tập đã
cung cấp cho giảng viên các trường sư phạm, giáo viên các trường phổ thông những
lý luận cơ bản về đánh giá kết quả học tập của người học bao gồm các phương pháp đánh giá, các kỹ thuật xây dựng công cụ đánh giá, những nội dung thực hành về đánh giá và đo lường kết quả học tập của người học trong quá trình dạy học
Nghiên cứu về ảnh hưởng theo cả 2 chiều hướng tích cực và tiêu cực của kiểm tra đánh giá kết quả học tập đến phương pháp học của sinh viên có thể kể đến
công trình Kiểm tra, đánh giá trong dạy học đại học của TS Đặng Bá Lãm (2003)
tác giả cho rằng "kiểm tra đánh giá kết quả học tập là chất xúc tác để tạo sự thay đổi của chính bản thân người học với đầy đủ ý nghĩa của nó", tác giả Nguyễn Đức Chính cũng cho rằng khi thay đổi việc đánh giá kết quả học tập của sinh viên cũng
sẽ ảnh hưởng kéo theo sự thay đổi trong cách học của sinh viên Tác giả nhận định rằng khi thay đổi hình thức kiểm tra đánh giá từ truyền thống sang đánh giá thực kết quả học tập của sinh viên sẽ tạo động lực sinh viên trong quá trình tiếp thu tri thức, rèn luyện kĩ năng ngay khi còn đang tham gia học tại trường
Bàn về đặc trưng của phương pháp dạy học tích cực có đề cập đến vấn đề đánh giá và tự đánh giá, Trần Bá Hoành (2007) đã chỉ ra rằng, việc rèn luyện phương pháp tự học để chuẩn bị cho học sinh năng lực tự học liên tục, suốt đời như một mục tiêu giáo dục thì giáo viên phải hướng dẫn học sinh phát triển kỹ năng tự đánh giá để tự điểu khiển chính cách học Việc kiểm tra đánh giá bao gồm cả hoạt động tái hiện các kiến thức, lặp lại các kỹ năng đã được dạy và khuyến khích khả năng sáng tạo của người học Nếu không có sự thay đổi về nội dung, hình thức kiểm tra đánh giá thì rất khó có chuyển biến trong dạy và học
Trang 2312
Nghiên cứu về kiểm tra đánh giá trong dạy học ngoại ngữ có thể kể đến công
trình "Một số vấn đề về kiểm tra đánh giá trong dạy-học ngoại ngữ" của Nguyễn
Thúy Hà (2015) Bài viết đã nêu bật vai trò, các nguyên tắc, hình thức kiểm tra đánh giá trong quá trình dạy học ngoại ngữ Bài viết cũng chỉ ra những bất cập trong công tác kiểm tra đánh giá bộ môn ngoại ngữ hiện nay
Nguyễn Thị Tố Loan (2015) đã bàn về phương pháp "Sử dụng Portfolios
(tập bài viết) trong đánh giá kỹ năng viết tiếng Anh" Tác giả cho rằng trong dạy kỹ
năng viết tiếng Anh, tập bài viết (portfolios) là dạng đánh giá hữu hiệu và cần được ứng dụng rộng rãi bởi những thuận lợi và hiệu quả mà nó mang lại Bài viết cung cấp cho độc giả một cái nhìn tổng quan về tập bài viết (writing portfolios), những
ưu điểm và hạn chế của việc đánh giá thông qua bài tập viết so với đánh giá bằng hình thức thi hay kiểm tra (test) thông thường
Nghiên cứu về phong cách học tập các tác giả Nguyễn Văn Hạnh, Nguyễn Hương Lan (2014); Phạm Hoài Thảo Ngân (2015) đã bàn đến việc tiếp cận phong cách học tập của người học để thiết kế dạy học hiệu quả nhằm đáp ứng nhu cầu, sở thích, năng lực và kinh nghiệm của người học
Nguyễn Công Khanh (2009) trong bài viết "Mỗi người một kiểu học" đã xác
định phong cách học tập là một cấu trúc phức hợp đa mặt đa thành tố Đó là tổ hợp những phẩm chất, nét nhân cách, năng lực, kỹ năng thể hiện được cái riêng, có tính
ổn định về các chiến lược học, thái độ, động cơ, hứng thú học, phương pháp giảng dạy được ưa thích của người học nhằm đáp ứng các nhiệm vụ nhận thức, tương tác
và thỏa mãn yêu cầu của mộ trường học tập Tác giả đã chỉ ra thực trạng về các chiến lược học của sinh viên 2 trường ĐH KHTN và KHXH&NV cho thấy mỗi sinh viên lớn lên trong môi trường văn hóa xã hội khác nhau sẽ hình thành những thói quen, cách suy nghĩ, năng lực nhận thức khác nhau, hứng thú khác nhau tạo nên sự
đa dạng, phong phú về phong cách học tập trong từng lớp học [tr.56]
Trong bài viết "Đôi nét về dạy học theo phong cách học tập", tác giả Nguyễn
Thị Hồng Chuyên (2013) đã phân loại phong cách học tập Từ đó tác giả nhấn mạnh
Trang 2413
tầm quan trọng của việc dạy học theo phong cách học tập và cách thức để dạy học, đánh giá theo phong cách học tập của học sinh đạt hiệu quả [tr.29]
Tác giả Đặng Duy Thái (2015), trong công trình nghiên cứu "Vận dụng mô
hình phong cách học tập của Kolb vào định hướng phương pháp giảng dạy cho sinh viên, học viên các môn khoa học tự nhiên, kỹ thuật và quân sự" đã trình bày về mô
hình phong cách học tập của A.D.Kolb và một số định hướng về phương pháp giảng dạy, phương pháp đánh giá giúp cho học viên, sinh viên có khả năng thích nghi cao
độ với tất cả các hình thức, chế độ học tập, kiểm tra đánh giá [tr.40]
1.2 Các khái niệm cơ bản
1.2.1 Khái niệm về kiểm tra, đánh giá kết quả học tập
1.2.1.1 Kiểm tra (test)
Theo Griffin (1983), "kiểm tra là một sự mô tả bao gồm các hoạt động thu thập thông tin, minh chứng về thành quả học tập của người học và diễn giải ý nghĩa thông tin minh chứng đó, mô tả thành quả của người học dựa trên sự diễn giải." [dẫn theo 9]
Bùi Hiền (2001) trong Từ điển giáo dục đã định nghĩa kiểm tra là sự kết hợp giữa quá trình hoạt động dạy-học với kết quả học tập của học sinh Và các loại hình kiểm tra đánh giá thường là a) kiểm tra miệng theo phiếu hay vấn đáp trực tiếp; b) kiểm tra viết theo các đầu đề đã có; c) kiểm tra bằng trắc nghiệm; d) kiểm tra kỹ năng thực hành [tr.224]
Trong khi đó Nguyễn Công Khanh (2016) lại cho rằng kiểm tra là hoạt động
đo lường kết quả học tập, giáo dục dựa trên bộ công cụ đã được đặt ra trước với mục đích đưa ra các kết luận, khuyến nghị một khía cạnh nào đó trong quá trình dạy học để điều chỉnh nhằm thực hiện được mục tiêu giáo dục [tr.29]
Theo Trần Thị Tuyết Oanh (2016)"Trong giáo dục, khái niệm kiểm tra là thu thập những dữ liệu, những thông tin làm cơ sở cho đánh giá Quá trình kiểm tra sẽ thể hiện rõ các đặc trưng về số lượng và chất lượng thực trạng nền giáo dục.[tr.9]
Trang 2514
Như vậy có rất nhiều định nghĩa về kiểm tra nhưng tác giả đã khái quát lại Kiểm tra là sự xem xét, tổ chức thu thập thông tin và gắn hoạt động kiểm tra với hoạt động đo lường nhằm mục đích đưa ra các kết qảu đối sánh với các yêu cầu, mục tiêu, chuẩn mực đã đề ra Qua đó xác định xem cái gì đã đạt được, cái gì chưa đạt được
1.2.1.2 Đo lường (measurement)
Tác giả N.E Gronlud, trong cuốn Measurement and Evaluation in Teaching
(1971) đã khái niệm "Đo lường là tiến trình đạt được sự mô tả bằng số lượng về
mức độ mà một cá nhân làm được trong một lĩnh vực cụ thể" [dẫn theo 14]
"Đo lường là quá trình xác định số lượng hoặc gán một con số cho việc thể hiện kỹ năng", theo Peter W Airasian (1999) [ dẫn theo 10]
Nitko & Brookhart (2007) đã khái quát rằng đo lường trong giáo dục mà một thủ thuật gắn điểm số cho một thuộc tính, đặc điểm cụ thể nào đó, mà qua đó điểm số sẽ thể hiện được trình độ của cá nhân sở hữu đặc tính hoặc đặc điểm đó" [dẫn theo 10]
Theo Trần Thị Tuyết Oanh (2016) "Đo lường là khái niệm chung để chỉ sự
so sánh một vật hay một hiện tượng với một thước đo hoặc chuẩn mực và có khả năng trình bày kết quả về mặt định lượng Trong giáo dục, thực tế, một bộ thước đo các thể bao gồm các tiêu chí và chỉ số ứng với các lĩnh vực, các chỉ số có thể là chỉ
số định lượng tức là đo được bằng các con số, cũng có thể là định tính bằng các nhận xét của người đánh giá" [tr.13]
Trong khi đó Lâm Quang Thiệp (2012) lại quan niệm rằng đo lường luôn đi cùng với các con số và các cá thể sự vật theo một hệ thống nhất định nào đó để thể hiện đặc tính của sự vật đó [tr.18]
Sái Công Hồng (2017) trong nghiên cứu của mình đã chỉ rõ: "Đo lường là một khái niệm chuyên dùng để chỉ sự so sánh một vật hay hiện tượng với một thước
đo hay chuẩn mực, có khả năng trình bày kết quả dưới dạng thông tin định lượng hoặc định tính" [tr.10]
Trang 2615
Như vậy có thể hiểu: Đo lường là việc sử dụng các con số vào quá trình
lượng hóa các sự kiện, hiện tượng hay thuộc tính (định lượng) hoặc có thể là định tính, bằng các nhận xét của người đánh giá về các sự kiện, hiện tượng hay thuộc tính
1.2.1.3 Đánh giá (assessment), đánh giá kết quả học tập của học sinh
a) Đánh giá trong giáo dục
Xét về nhiều góc độ, hiện nay có rất nhiều khái niệm về “đánh giá” như đánh giá trong giáo dục,đánh giá trong dạy học và đánh giá kết quả học tập
Theo quan niệm của triết học "đánh giá là xác định giá trị của sự vật, hiện tượng xã hội, hoạt động hành vi của con người tương xứng với những mục tiêu, nguyên tắc, kết quả mong đợt hay chuẩn mực nhất định, từ đó bộc lộ một thái độ" [Nguyễn Công Khanh, Đào Thị Oanh, 2016,tr.30]
Trong từ điển song ngữ Anh-Việt, đánh giá được dịch là assessment Như vậy đánh giá cũng được hiểu là quá trình thu thập thông tin, đưa ra những kết luận, phán đoán về kết quả công việc theo mục tiêu, chuẩn mực đề ra, nhằm đề xuất những quyết định, điều chỉnh thích hợp, nâng cao chất lượng công việc [[Nguyễn Công Khanh, Đào Thị Oanh, 2016,tr.31]
Peter W Airasian (1999) cho rằng: "đánh giá là quá trình thu thập, tổng hợp
và diễn giải thông tin hỗ trợ cho việc ra quyết định Thuật ngữ assessment có thể bao
gồm cả đánh giá định tính như quan sát, kiểm tra, đo lường bằng nhận xét và đánh giá mang tính định lượng như đánh giá bằng điểm số." [dẫn theo 10]
Trong giáo dục, đánh giá được các nhà nghiên cứu định nghĩa như sau:
Marger (1993) định nghĩa, "Đánh giá là việc miêu tả tình hình của học sinh
và giáo viên để ra quyết định công việc cần phải tiếp tục và giúp học sinh tiến bộ" [dẫn theo 10,32]
Xét từ yếu tố như chức năng, mục đích, đối tượng thì đánh giá trong giáo dục
là hoạt động thu thập thông tin và xử lý các thong tin về hiện trạng một cách có hệ
Trang 27Từ những nhận định trên tác giả khái quát lại Đánh giá trong giáo dục là một quá trình thu thập, tổng hợp, diễn giải thông tin về đối tượng cần đánh giá một cách có hệ thống nhằm mục đích hiểu biết sâu và sử dụng các thông tin này để ra quyết định về học sinh, chương trình, về nhà trường hay đưa ra các chủ trương về giáo dục
Đánh giá lớp học là một quá trình thu thập, tổng hợp thông tin liên quan đến hoạt động học tập và trải nghiệm của học sinh nhằm phát triển những kiến thức sâu
mà học sinh hiểu, biết và làm được, như là kết quả của sự trải nghiệm giáo dục của chính các em, để đưa ra quyết định giáo dục liên quan đến học sinh
b) Đánh giá kết quả học tập
Trong lý luận dạy học hiện đại, học tập về bản chất là sự tiếp thu, xử lý thông tin chủ yếu bằng thao tác trí tuệ của người học từ đó chiếm lĩnh tri thức nhân loại, mở rộng đào sâu tri thức đó ở mức độ cao hơn, vận dụng vào thực tiễn để tìm tòi, sáng tạo tri thức mới
Theo Nguyễn Công Khanh và Đào Thị Oanh (2016) cho rằng chưa có sự thống nhất về cách gọi các thuật ngữ kết quả học tập (learning result), hay thành tích học tập, thành quả học tập (achievement) Nhưng tất cả các nghĩa đều được hiểu giống nhau Thông thường khái niệm này được hiểu theo hai nghĩa sau: (a) Đó
là mức độ thành tích mà một học sinh đạt được xem xét trong mối quan hệ với công sức, thời gian đã bỏ ra với mục tiêu giáo dục Theo quan niệm này, kết quả học tập
là mức thực hiện tiêu chí (criterion); (b) Đó là mức độ thành tích mà một học sinh
Trang 28Từ điền Giáo dục học của Bùi Hiền (2001) định nghĩa "Đánh giá kết quả học tập là xác định mức độ nắm được kiến thức, kỹ năng kỹ xảo của học sinh so với yêu cầu của chương trình đề ra” [tr.73]
Trần Thị Tuyết Oanh (2016) cho rằng “Đánh giá kết quả học tập của học sinh là xác định mức độ hoàn thành các mục tiêu đề ra cho học sinh sau một giai đoạn học tập Các môn học cụ thể sẽ có các mục tiêu tương ứng” [tr.12]
Cũng theo đó tác giả cho rằng đánh giá kết quả học tập là sự đối sánh các kiến thức, kỹ năng, thái độ đạt được của người học với chuẩn đầu ra môn học, từ đó
có những kết luận phù hợp
Nguyễn Thị Hạnh (2002) đã khái quát "Đánh giá kết quả học tập của học sinh là một quá trình thu thập, phân tích và xử lý các thông tin về kiến thức, kỹ năng, thái độ của học sinh theo mục tiêu môn học (hoặc hoạt động) nhằm đề xuất các giải pháp để thực hiện mục tiêu của môn học (hoặc hoạt động) đó" [dẫn theo 14]
Từ các quan niệm trên, luận văn xây dựng khái niệm đánh giá kết quả học
tập như sau: đánh giá kết quả học tập của học sinh là quá trình thu thập, phân tích
và xử lý các thông tin nhằm xác định mức độ đạt được về kiến thức, kỹ năng, thái độ của người học sau một giai đoạn học tập so với mục tiêu đã đề ra Từ đó đưa ra các
Trang 2918
kết luận phù hợp và đề xuất các giải pháp cải tiến hoạt động học nhằm đạt được mục tiêu môn học đã xác định
1.2.2 Khái niệm về hình thức kiểm tra đánh kết quả học tập
Từ điển Giáo dục học của Bùi Hiền (2001) định nghĩa "Hình thức là cách tiến hành, cách tổ chức một hoạt động theo chế độ và trật tự nhất định, tuân theo nguyên tắc đã được quy định" [tr.186]
Hình thức kiểm tra đánh giá là hình thái, cách tiến hành, cách tổ chức xem xét, thu thập thông tin và gắn với hoạt động đo lường để đưa ra các kết quả so sánh, đối chiếu với yêu cầu, mục tiêu hay chuẩn đã đề ra, mới mục đích xác định xem cái gì đã đặt được,cái gì chưa đạt được, những nguyên nhân, các yếu tố ảnh hưởng, chi phối từ đó làm cơ sở cho việc điều chỉnh, bổ sung, hoàn chỉnh một hoạt động nào đó
Từ những khái niệm về hình thức; kiểm tra đánh giá kết quả học tập, luận
văn xây dựng khái niệm như sau: Hình thức kiểm tra đánh giá kết quả học tập của
học sinh là hình thái, cách tiến hành, cách tổ chức để xem xét, thu thập thông tin và gắn với hoạt động đo lường nhằm xác định mức độ đạt được về kiến thức, kỹ năng, thái độ của người học sau một giai đoạn học tập so với mục tiêu đã đề ra Từ đó đưa ra các kết luận phù hợp và đề xuất các giải pháp cải tiến hoạt động học nhằm đạt được mục tiêu môn học đã xác định
1.2.3 Trắc nghiệm, trắc nghiệm khách quan, trắc nghiệm tự luận (Viết luận)
a) Trắc nghiệm (test)
Trắc nghiệm (test) theo ngôn từ Tiếng Anh có thể hiểu là “phép thử”, “bài
kiểm tra”, “sát hạch” còn theo tiếng Hán trắc có nghĩa là đo lường, nghiệm có nghĩa là suy xét, chứng thực [Trần Thị Tuyết Oanh, 2016, tr.59]
Các nhà tâm lý học và giáo dục học cũng đưa ra rất nhiều định nghĩa về trắc nghiệm Điển hình là Grondund (1971) Ông định nghĩa rằng trắc nghiệm là một công cụ hay tiến trình có hệ thống nhằm mục đích đo lường trình độ cá nhân đạt được trong một lĩnh vực cụ thể” [dẫn theo 14]
Trang 3019
Từ điển giáo dục học (2001): "Trắc nghiệm (test) là bộ bài tập chuẩn dưới dạng câu hỏi, hình đố cần thực hiện để đánh giá, đo lường năng lực trí tuệ, kỹ năng, kỹ xảo và những đặc điểm tâm sinh lý của nhân cách" [tr.360]
Lâm Quang Thiệp (2012) định nghĩa "Trắc nghiệm là một thao tác đo lường, bằng cách nào đó tạo phản ứng của sự vật rồi từ phản ứng đó thu kết quả đo lường
Đề trắc nghiệm (hoặc kiểm tra nói chung) là công cụ để đo lường, một thước đo" [tr.18]
Từ những khái niệm trên, có thể hiểu: trắc nghiệm là một phép thử để nhận
dạng, xác định, thu thập những thông tin phản hồi về những khả năng, thuộc tính, đặc tính, tính chất của một sự vật, hiện tượng nào đó Trắc nghiệm hoạt động dạy học cũng là một phép thử nhằm đánh giá khách quan trình độ, năng lực cũng như kết quả học tập của người học trước, trong và khi kết thúc một giai đoạn học tập nhất định Phương pháp trắc nghiệm có thể là khách quan (objective) hoặc chủ quan (subjective)
b) Trắc nghiệm khách quan (Objecstive test)
Theo Sái Công Hồng (2017): "Trắc nghiệm khách quan là hệ thống những câu hỏi mà việc chấm điểm hoàn toàn không phụ thuộc chủ quan của người đánh giá cho điểm Một số dạng câu điển hình của câu trắc nghiệm khách quan là câu trả lời đúng/sai; câu nhiều lựa chọn, câu ghép đôi, câu điền khuyết” [tr.76]
Nguyễn Công Khanh và Đào Thị Oanh (2016) quan niệm "Trắc nghiệm khách quan là hệ thống các câu hỏi đa lựa chọn, câu hỏi kiểm tra đúng/sai và câu hỏi kiểm tra ghép đôi được gọi là câu hỏi lựa chọn Đây là câu hỏi đóng, bởi vì như tên của nó đã ngụ ý, học sinh phải trả lời cho mỗi câu hỏi bằng cách chọn một câu trả lời từ các tùy chọn cho sẵn” [tr.85]
"Gọi trắc nghiệm khách quan (objecstive test) là có tính quy ước bởi vị hệ thống cho điểm của loại trắc nghiệm này có tính khách quan hơn bài kiểm tra dạng Viết luận (essay test) Bài thi trắc nghiệm khách quan gồm nhiều câu hỏi và tương
Trang 3120
ứng với mỗi câu hỏi, sẽ có một dấu hiệu đơn giản để người học trả lời, lựa chọn" [tr.59]
c) Trắc nghiệm Viết luận (Viết luận)
Theo John M Stalnaker (1951), "Trắc nghiệm Viết luận là hình thức kiểm tra
là câu hỏi yêu cầu thí sinh phải tự viết ra phần bài của mình với độ dài thông thường gồm một câu hoặc nhiều hơn một câu" [dẫn theo 9]
"Trắc nghiệm Viết luận là hình thức kiểm tra mà người học phải trả lời câu hỏi dạng mở Yêu cầu của trắc nghiệm Viết luận bắt buộc học sinh phải trả lời dài
và chi tiết" [Nguyễn Công Khanh, Đào Thị Oanh, 2016, tr 85]
Trong luận văn này tác giả có sử dụng khái niệm Trắc nghiệm khách quan và Viết luận của tác giả Sái Công Hồng
1.2.4 Khái niệm về phong cách học tập
1.2.4.1 Phong cách
Theo vn/dict/vn-vn thì phong cách là:
- Cung cách sinh hoạt, làm việc, hoạt động, xử sự tạo nên cái riêng của một người hay một lớp người nào đó (nói tổng quát)
- Những đặc điểm về tư tưởng và nghệ thuật có tính hệ thống, biểu hiện trong sáng tác của một nghệ sĩ hay trong các sáng tác thuộc cùng một thể loại nói chung
- Dạng của ngôn ngữ được sử dụng trong những yêu cầu chức năng điển hình nào đó, khác với những dạng khác về đặc điểm từ vựng, ngữ pháp, ngữ âm
Trong các cách hiểu trên, cách hiểu phong cách là cung cách sinh hoạt, làm việc hoạt động, xử sự tạo nên cái riêng của một người hoặc lớp người nào đó
Các cách hiểu này cũng trùng với các giải nghĩa của một số cuốn từ điển phổ thông trong đó khái niệm phong cách được định nghĩa như là nhận thức, thái độ, tình cảm, các hành vi ứng xử hàng ngày cũng như trong việc tiến hành các hoạt động chuyên môn nghề nghiệp
Trang 3221
1.2.4.2 Phong cách học tập
a) Khái niệm học tập
"Học tập là hoạt động lĩnh hội các tri thức, kỹ năng kỹ xảo mà mục tiêu của
nó là hướng vào việc thay đổi người học" [Nguyễn Cảnh Toàn, 2004, tr.150]
"Hoạt động học tập là một loại hoạt động tâm lý (hoạt động nhận thức) của
cá nhân chủ thể người học, được tổ chức một cách độc đáo dưới sự hướng dẫn của người dạy nhằm đạt được mục đích của dạy học" [Trần Thị Minh Hằng, Nguyễn Thị Hiền, 2015, tr.150]
Qua những cuộc thăm dò, tìm hiểu "Học là gì?" tiến hành từ những năm 1979-1993 ở các trường đại học Úc đã tập hợp được 6 định nghĩa học như sau:
(1) Học là thu nhận, tích lũy thông tin nhằm mục đích gia tăng số lượng kiến thức càng nhiều càng tốt Càng học càng nắm được nhiều thông tin
(2) Học là hoạt động ghi nhớ, thuộc lòng học, là quá trình tiếp nhận thông tin
mà ta có thể tái hiện như là những mẩu kiến thức tách biệt nhau
(3) Học là sự chiếm lĩnh, sử dụng kiến thức Học là nắm bắt sự kiện, lưu trữ
và sử dụng khi cần Học là hoạt động tích lũy thông tin vào bộ nhớ và sử dụng mỗi khi cần thiết
(5) Học là quá trình định hướng, định giá trị Học là phải biết liên hệ giữa kiến thức được học với thực tế cuộc sống Học là phải hiểu nguồn gốc của sự vật, sự việc, kết nối chúng với nhau và áp dụng kiểm nghiệm giá trị của sự vật trong thực tiễn [18, 69]
b) Khái niệm phong cách học tập
Phạm Hoài Bảo Ngân (2015) quan niệm "Phong cách học tập (learning styles) là những đặc điểm riêng có tính ưu thế, tương đối bền vững của cá nhân, quy định cách tiếp nhận, xử lý, lưu giữ và phản hồi thông tin trong môi trường học tập” [tr.13]
Trang 3322
"Phong cách học tập là một loại hoạt động tâm lý về nhận thức, thái độ, tình cảm, hành vi mang sắc thái riêng của từng người học hoặc nhóm người học để lĩnh hội tri thức, kỹ năng kỹ xảo mà đích của nó là hướng vào việc thay đổi chính chủ thể của hoạt động học tập” [Phạm Hoài Bảo Ngân, 2015, tr13]
Phong cách học tập là là sự tương tác giữa đặc điểm bên trong của mỗi cá nhân như đặc điểm về trình độ đào tạo, năng lực nhận thức, kinh nghiệm cá nhân và kinh nghiệm xã hội với môi trường hoàn cảnh bên ngoài nhằm thu thập và xử lý thông tin trong các tình huống học tập” [Phạm Hoài Bảo Ngân, 2015, tr13]
"F Romanelli quan niệm rằng, phong cách học tập là những đặc trưng về mặt nhận thức hiệu quả và các hành vi tâm lý học có liên quan, mang tính ổn định, chỉ dẫn cho người học cách tiếp nhận thông tin, tương tác với các thông tin và phản ứng lại trong môi trường học tập [Đặng Duy Thái, 2015, tr.40]
Người dạy cần có những hiểu biết về các phong cách học tập của người học
để chủ động về chuyên môn và lựa chọn được phương pháp dạy học phù hợp nhằm giúp người học tiếp cận với những thông tin kiến thức một cách dễ dàng hơn đáp ứng nhu cầu, sở thích và năng lực của họ
1.3 Những vấn đề cơ bản về kiểm tra đánh giá kết quả học tập bằng câu hỏi trắc nghiệm khách quan và Viết luận tiếng Anh
Có thể mô hình hóa hình thức trắc nghiệm khách quan (TNKQ) và Viết luận như sau:
Sơ đồ 1.1 : Mô hình hóa hình thức TNKQ và Viết luận
Câu ghép hợp
Câu điền khuyết
Câu trả lời ngắn
Câu hỏi
có dàn ý trả lời
Câu hỏi
mở
Trang 3423
1.3.1 Đặc điểm và những ưu, nhược điểm của hình thức trắc nghiệm khách quan
Trong nhóm trắc nghiệm khách quan có 4 dạng chính Cụ thể như sau:
a) Câu nhiều lựa chọn (multiple choice items)
Câu nhiều lựa chọn là loại câu hỏi có sẵn một một nhận định và một số
phương án trả lời Thí sinh phải lựa chọn đáp án đúng nhất
- Đây là hình thức đánh giá rất linh hoạt có thể được sử dụng để đánh giá các kiến thức, kỹ năng, khả năng và các cấp độ tư duy của học sinh
- Bài kiểm tra với các câu hỏi có nhiều phương án lựa chọn có thể được sử dụng với nhiều mục đích giáo dục khác nhau Thứ nhất là cung cấp thông tin phản hồi về sức học, thành tích học tập tới học sinh, thông tin phản hồi về giảng dạy tới giáo viên Thứ hai là chẩn đoán những nhận thức sai lệch của học sinh và một số vấn đề khác
Câu nhiều lựa chọn có những ưu điểm và nhược điểm sau:
Bảng 1.1 Bảng so sánh ưu, nhược điểm của câu hỏi nhiều lựa chọn
- Có thể đo được khả năng tư duy khác
nhau
- Đánh giá được nhiều nội dung, có thể
bao quát được toàn bộ chương trình học
- Độ tin cậy cao hơn, yếu tố đoán mò
may rủi giảm hơn so với loại câu hỏi
đúng sai
- Độ giá trị cao hơn nhờ tính chất có thể
dùng đo những mức nhận thức và tư duy
- Khó đo được khả năng phán đoán tinh
vi, khả năng giải quyết vấn đề một cách khéo léo và khả năng diễn giải một cách hiệu nghiệm bằng câu hỏi loại Viết luận
Trang 3524
- Việc chấm bài nhàn hơn, khách quan
hơn
- Khảo sát được số lượng học sinh lớn
b) Câu đúng/sai (true/false; yes/no items):
Câu đúng/sai đưa ra một nhận định Người trả lời phải lựa chọn một trong 2
phương án trả lời để khẳng định nhận định đó là đúng hay sai, hoặc có hay không
Câu trắc nghiệm lựa chọn Đúng/Sai thường có định dạng là một nhận định
mà người học phải dựa vào hiểu biết của mình để đưa ra quyết định điều đó là đúng hay sai
Loại câu hỏi Đúng/Sai thường được thiết kế với mục đích tái hiện, nhớ lại kiến thức với một khối lượng kiến thức đáng kể trong một khoảng thời gian nhanh chóng Yêu cầu của loại câu hỏi này phải có câu dẫn rõ ràng, dứt khoát Điều này tạo ra sự hạn chế khi áp dụng để kiểm tra trình độ hiểu biết cao hơn
Câu đúng/sai có những ưu nhược điểm sau:
Bảng 1.2 Bảng so sánh ưu, nhược điểm của câu hỏi đúng sai
* Ưu điểm * Nhược điểm
- Dễ soạn, dễ chấm đối với giáo viên
- Có thể kiểm tra được số lượng lớn học
sinh, được tiến hành trong khoảng thời
gian rất nhanh chóng
- Có thể kiểm tra một khối kiến thức
đáng kể trong một thời gian ngắn
- Khả năng phân biệt năng lực thí sinh không cao
- Câu hỏi đúng sai có hạn chế là xác xuất đoán mò rất cao (50%)
- Khó áp dụng loại câu này để kiểm tra trình độ hiểu biết cao hơn
c/ Loại câu hỏi điền khuyết (fill- in items):
Đây là loại câu hỏi có một mệnh đề khuyết Người trả lời phải điền vào chỗ trống câu trả lời chính xác nhất
Trang 3625
Loại câu hỏi này đòi hỏi học sinh cung cấp câu trả lời là một cụm từ cho một câu nhận định chưa đầy đủ hay một câu hỏi trực tiếp hay Ưu điểm của loại câu hỏi này là khó tạo điều kiện cho học sinh đoán mò vì phải nghĩ lại hoặc nhớ ra câu trả lời
Câu điền khuyết là một câu hỏi mở, nhưng được trả lời bằng một từ hoặc một cụm từ rất ngắn, chỉ thể hiện một ý nào đó chứ không có cấu trúc, bố cục như trắc nghiệm Viết luận Loại câu hỏi này được coi như có sự giao thoa giữa trắc nghiệm khách quan và Viết luận
Câu điền khuyết có những ưu điểm và nhược điểm sau:
Bảng 1.3 Bảng so sánh ưu, nhược điểm của câu hỏi điền khuyết
* Ưu điểm * Nhược điểm
- Khó tạo điều kiện cho học sinh đoán
mò vì phải nghĩ lại hoặc nhớ ra câu trả
- Nhiều câu hỏi có xu hướng chỉ kiểm tra việc ghi nhớ những chi tiết, vấn đề vụn vặt; giữa các câu hỏi cùng loại, các vấn
đề khảo sát không có sự liên kết với nhau từ đó giảm hiệu quả đánh giá người học ở những năng lực nhận thức và tư duy bậc cao phức tạp
- Người trả lời có thể đưa ra đáp án mà người thiết kế câu hỏi không dự kiến được trước, dẫn đến việc cho điểm không hoàn toàn khách quan
Trang 3726
d/ Câu ghép hợp (Matching items):
Đòi hỏi người trả lời phải ghép một dòng ở cột bên trái với một dòng ở cột bên phải sao cho phù hợp theo một yêu cầu nào đó
Câu ghép đôi thường có hai dãy thông tin gọi là các câu dẫn và câu đáp, chúng cần được ghép lại với nhau theo kiểu tương ứng một-một Loại câu này dễ viết và dễ sử dụng Tuy nhiên nếu soạn những câu đó mức độ kiến thức cao đòi hỏi phải mất nhiều công sức
Bảng 1.4 Bảng so sánh ưu, nhược điểm của câu hỏi ghép hợp
Câu ghép đôi dễ viết và dễ dùng, các
yếu tố đoán mò giảm
Mất nhiều thời gian, công sức Nếu có nhiều phần tử trong mỗi dãy câu hỏi, sẽ phải mất nhiều thời gian để đọc và lựa chọn ghép đôi
Tóm lại: Sử dụng trắc nghiệm khách quan trong đánh giá kết quả học tập có
khả năng đo được các mức độ của nhận thức theo thang Bloom từ nhận biết đến đánh giá Một trong những ưu điểm nổi bật nhất của hình thức thi trắc nghiệm khách quan là điểm số có độ tin cậy cao Bài thi trắc nghiệm bao quát được phạm vi kiến thức rộng nên đại diện được cho nội dung cần đánh giá Tuy nhiên, hình thức trắc nghiệm khách quan cũng có một số hạn chế: bài thi trắc nghiệm khách quan sẽ không thể hiện được khả năng diễn đạt, sắp xếp, trình bày và đưa ra ý tưởng mới của người học Quá trình chuẩn bị câu hỏi trắc nghiệm khách quan cũng gặp khó khăn và mất nhiều thời gian, đồng thời việc tiến hành xây dựng câu hỏi cần tuân theo những bước chặt chẽ hơn so với câu Viết luận
1.3.2 Đặc điểm và những ưu, nhược điểm của hình thức Viết luận
Hình thức Viết luận có 4 điểm đặc trưng như sau: (1) Yêu cầu học sinh phải viết câu trả lời, thay vì lựa chọn; (2) Phần trả lời của thí sinh phải bao gồm của hai câu trở lên; (3) Cho phép mỗi thí sinh có kiểu trả lời khác nhau; (3) Cần có người
Trang 38Một bài kiểm tra Viết luận thường có ý câu hỏi, mỗi câu hỏi phải viết nhiều câu để trả lời và phải cần nhiều thời gian cho mỗi câu để trả lời các vấn đề đặt ra Thông thường, các bài Viết luận yêu cầu học sinh phải tổng hợp rồi đi đến phân tích hoặc giải thích các thông tin phức tạp, sau đó đưa ra sự đánh giá, tiến hành lập luận, kết hợp các sự kiện riêng lẻ thành một chỉnh thể Bài kiểm tra Viết luận thể hiện ở 2 dạng
Dạng thứ nhất: Bài kiểm tra bao gồm các câu hỏi có sự trả lời mở rộng, loại
câu này có phạm vi rộng và khái quát, học sinh tự do biểu đạt tư tưởng và kiến thức Loại câu này có thể đo lường được khả năng sáng tạo và suy luận, tuy nhiên khó chấm điểm và độ tin cậy của điểm số không cao Câu trả lời mở rộng thường phù hợp trong việc sử dụng để đánh giá mức độ hiểu sâu của lập luận
Dạng bài thứ hai: Bao gồm các câu Viết luận có cấu trúc hay câu Viết luận
có giới hạn, bài kiểm tra loại này thường có nhiều câu hỏi hơn bài kiểm tra với loại câu trả lời mở rộng Các câu hỏi được diễn đạt rõ ràng, giới hạn câu hỏi được chỉ rõ
để người trả lời biết được độ dài cần thiết của câu trả lời Cáccâu hỏi ở dạng bài này này thường đề cập đến những vấn đề chi tiết, nội dung hẹp hơn, rõ ràng hơn đối với người trả lời và người chấm Do đó, việc chấm dễ hơn và thường có độ tin cậy cao hơn
Trang 3928
Bảng 1.5 Bảng so sánh ưu, nhược điểm của hình thức Viết luận
Ưu điểm Viết luận Hạn chế của Viết luận
- Có thể đo lường và đánh giá tốt ở mức
độ hiểu, tổng hợp, đánh giá
- Có khả năng đánh giá mức độ hiểu sâu,
nắm bắt thông tin phức tạp, yêu cầu phải
giải thích các quy trình hoặc kết hợp các
sự kiện riêng lẻ lại thành một chỉnh thể
có ý nghĩa
- Đánh giá được những năng lực nhận
thức và tư duy bậc cao như năng lực
thảo luận một về vấn đề, năng lực trình
bày quan điểm, năng lực miêu tả và trình
bày theo hệ thống, năng lực nhận diện
nguyên nhân và trình bày giải pháp
- Phù hợp để đánh giá quá trình tư duy
và lập luận của thí sinh
- Mang lại trải nghiệm thực tế cho học
sinh Những kỹ năng phù hợp với đánh
giá qua trắc nghiệm Viết luận như kỹ
năng giải quyết vấn đề, kỹ năng ra quyết
định, kỹ năng lập luận bảo vệ quan
điểm
- Có thể đánh giá được thái độ của người
học thông qua việc trả lời câu Viết luận
- Chỉ đánh giá được một phạm vi nội dung nhất định, khó đảm bảo tính đại diện cho nội dung cần đánh giá bởi vì câu trắc nghiệm Viết luận cần có thời gian để người học trả lời câu hỏi, nên một đề kiểm tra thường không có quá nhiều câu Viết luận, từ đó dẫn đến không thể bao phủ toàn bộ những nội dung cần đánh giá và khó đảm bảo độ giá trị của câu hỏi
- Việc chấm điểm tốn thời gian và đòi hỏi người chấm điểm phải thành thạo chuyên môn Việc chấm điểm cũng khó tránh khỏi chủ quan của người chấm, ảnh hưởng đến độ tin cậy của kết quả đánh giá Trình độ, năng lực hiểu biết về học sinh, thậm chí cả trạng thái tâm lý của người chấm đều ảnh hưởng đến điểm số
Trang 4029
Nhìn chung, câu trắc nghiệm Viết luận sử dụng phù hợp nhất để (1) đánh giá mức
độ nắm vững nội dung kiến thức thuộc môn học; (2) đánh giá khả năng lập luận của người học, sử dụng kiến thức môn học
1.3.3 Những yêu cầu về áp dụng câu hỏi trắc nghiệm khách quan và Viết luận trong kiểm tra đánh giá kết quả học tập môn tiếng Anh
Thông thường để kiểm tra đánh giá kết quả học tập môn tiếng Anh người ta thường đánh giá năng lực tiếp nhận thông tin (thông qua hoạt động nghe-đọc) và năng lực truyền phát thông tin (thông qua hoạt động nói-viết) Ở mỗi kỹ năng, tùy vào nội dung và trình độ khác nhau mà chia ra các loại hình kiểm tra trắc nghiệm khách quan và dạng bài kiểm tra mang tính chủ quan (Viết luận)
Dạng bài kiểm tra khách quan có thể kiểm tra toàn bộ các thành tố ngôn ngữ như ngữ âm (phonetic), từ vựng (vocabulary), ngữ pháp (grammar) Tuy nhiên dạng bài này khó phản ánh đầy đủ và chính xác năng lực sử dụng ngôn ngữ của học sinh
Đối với dạng bài Viết luận, việc thiết kế đề bài tương đối dễ, đề bài thông thường yêu cầu thí sinh biểu đạt ý kiến nên có thể dễ dàng kiểm tra năng lực sử dụng ngôn ngữ của học sinh Những điểm bất cập của dạng kiểm tra Viết luận rất
rõ, các hiện tượng ngôn ngữ cần kiểm tra mang tính cục bộ, chấm điểm phức tạp và tốn thời gian
Kiểm tra năng lực nghe (listening skill): nhằm đánh giá mức độ tiếp nhận, phân tích, đánh giá, tổng hợp thông tin của người nghe trong đó bao gồm nghe hiểu từng chi tiết, nghe hiểu nội dung chủ yếu Có thể sử dụng cả dạng bài trắc nghiệm khách quan và trắc nghiệm Viết luận để kiểm tra kỹ năng nghe của người học Dạng bài trắc nghiệm thường thấy là nghe và chọn đáp án đúng, dạng bài Viết luận thường thấy là trả lời câu hỏi hoặc tóm tắt nội dung đã nghe được
Kiểm tra năng lực đọc (reading skill): Kiểm tra năng lực đọc nhằm đánh giá mức độ tiếp nhận thông tin từ các văn bản của người học Dạng bài kiểm tra khả năng đọc hiểu có thể là bài trắc nghiệm nhiều lựa chọn, ghép đôi, đúng/sai, điền