Luật giáo dục, điều 28.2 đã chỉ rõ: Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh; phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học;
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
NGUYỄN THỊ THU HIỀN
THIẾT KẾ VÀ SỬ DỤNG BÀI GIẢNG ĐIỆN TỬ HỖ TRỢ DẠY HỌC VẬT LÝ CHƯƠNG “ĐIỆN TÍCH ĐIỆN TRƯỜNG” VẬT LÝ 11 CƠ
BẢN TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
Chuyên ngành: LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC
Mã số: 60 14 10
LUẬN VĂN THẠC SĨ SƯ PHẠM VẬT LÝ
HÀ NỘI – 2013
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
NGUYỄN THỊ THU HIỀN
THIẾT KẾ VÀ SỬ DỤNG BÀI GIẢNG ĐIỆN TỬ HỖ TRỢ DẠY HỌC VẬT LÝ CHƯƠNG “ĐIỆN TÍCH ĐIỆN TRƯỜNG” VẬT LÝ 11 CƠ
BẢN TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
Chuyên ngành: LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC
Mã số: 60 14 10
LUẬN VĂN THẠC SĨ SƯ PHẠM VẬT LÝ Người hướng dẫn khoa học: TS PHẠM KIM CHUNG
HÀ NỘI – 2013
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Luận văn này là kết quả của quá trình học tập và nghiên cứu của tôi tại trường Đại học Giáo dục – Đại học Quốc gia Hà Nội Với tình cảm chân thành, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới các Thầy, các Cô trong trường Đại học Giáo dục – Đại học Quốc gia Hà Nội đã quan tâm, giúp đỡ tôi trong quấ trình học tập và thực hiện đề tài này
Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới TS Phạm Kim Chung đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình hoàn thành luận văn này
Nhân dịp này, tôi xin gửi lời cảm ơn đến Sở Giáo dục và Đào tạo Bắc Ninh, cảm ơn Ban giám hiệu, giáo viên tổ Lý - Tin trường THPT Quế Võ số I, cảm ơn các bạn học viên lớp lý luận và phương pháp dạy học Vật lý khóa 7, cảm ơn các em học sinh, người thân trong gia đình đã tạo điều kiện thuận lợi, động viên tôi thực hiện đề tài này
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Trang 4DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Trang 5MỤC LỤC
Lời cảm ơn i
Danh mục các ký hiệu, các chữ viết tắt ii
Mục lục iii
Danh mục các bảng vi
Danh mục các hình vii
Danh mục các biểu đồ viii
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 6
1.1.Cơ sở lý luận về đổi mới phương pháp dạy học 6
1.1.1.Những định hướng cơ bản trong đổi mới phương pháp dạy học hiện nay 6
1.1.2.Dạy học theo hướng tăng cường tính tích cực của người học 7
1.2 Ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học Vật lý 10
1.2.1.Vai trò của CNTT trong dạy học 10
1.2.2.Một số hướng ứng dụng CNTT trong dạy học môn Vật lý 13
1.3.Bài giảng điện tử 16
1.3.1 Khái quát về BGĐT 16
1.3.2 Vị trí, vai trò của BGĐT dạy học ở THPT 18
1.3.3 Ưu và nhược điểm của BGĐT 21
1.4.Xây dựng BGĐT 22
1.4.1.Quy trình xây dựng BGĐT 22
1.4.2.Các phần mềm sử dụng thiết kế BGĐT 23
1.4.2.1.Yêu cầu về phương diện công cụ 23
1.4.2.2.Một số công cụ xây dựng BGĐT 23
Trang 61.5.Thực trạng dạy học chương “Điện tích Điện trường” Vật lý 11 Cơ bản ở
trường THPT 26
1.5.1.Mục đích điều tra 26
1.5.2.Nội dung điều tra 26
1.5.3.Phương pháp điều tra 26
1.5.4.Kết quả điều tra 27
1.6.Kết luận chương 1 30
Chương 2: THIẾT KẾ BÀI GIẢNG ĐIỆN TỬ HỖ DẠY HỌC CHƯƠNG “ĐIỆN TÍCH ĐIỆN TRƯỜNG” VẬT LÝ 11 CƠ BẢN TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
31 2.1.Phân tích nội dung kiến thức, mục tiêu dạy học chương “Điện tích Điện trường” Vật lý 11 cơ bản THPT 31
2.1.1 Vị trí chương “Điện tích Điện trường” 31
2.1.2.Cấu trúc nội dung chương “ Điện tích Điện trường” 31
2.1.3.Mục tiêu dạy học chương “ Điện tích Điện trường” 33
2.2.Thiết kế bài giảng điện tử một số nội dung kiến thức chương “ Điện tích Điện trường” Vật lý 11 Cơ bản THPT 34
2.2.1.Ý đồ sư phạm của việc thiết kế bài giảng điện tử một số nội dung kiến thức chương “ Điện tích Điện trường” Vật lý 11 Cơ bản THPT 34
2.2.2 Xây dựng cấu trúc bài giảng điện tử 36
2.2.3.BGĐT một số nội dung chương “ Điện tích Điện trường” 39 2.3.Kết luận chương 2 53
Chương 3 : THỰC NGHỆM SƯ PHẠM 55
3.1.Mục đích và nhiệm vụ của thực nghiệm sư phạm 55
3.1.1.Mục đích thực nghiệm sư phạm 55
3.1.2.Nhiệm vụ thực nghiệm sư phạm 55
Trang 73.2 Đối tượng và phương thức thực nghiệm sư phạm 55
3.2.1 Đối tượng thực nghiệm sư phạm 55
3.2.2.Phương thức thực nghiệm sư phạm 56
3.3.Phân tích và đánh giá kết quả thực nghiệm sư phạm 57
3.3.1.Phân tích định tích diễn biến các giờ học trong quá trình thực nghiệm sư phạm 57
3.3.2.Phân tích kết quả thực nghiệm 62
3.4.Kết luận chương 3 67
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 68
1.Kết luận 68
2.Khuyến nghị 69
TÀI LIỆU THAM KHẢO 70
PHỤ LỤC 72
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1 So sánh phương pháp dạy học tích cực và phương pháp dạy học
thụ động 9
Bảng 1.2 Số liệu điều tra tình hình dạy học chương “ Điện tích Điện trường” 28
Bảng 1.3 Số liệu điều tra tình hình ứng dụng CNTT trong dạy học Vật lý 28
Bảng 3.1.Bảng thống kê điểm số 63
Bảng 3.2.Bảng xử lý kết quả 64
Bảng 3.3.Các tham số đặc trưng 64
Bảng 3.4.Bảng tần suất và tần suất tích lũy 65
Trang 9
DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 1.1.Màn hình phần mềm LCDS 25
Hình 2.1.Màn hình phần ôn tập 36
Hình 2.2 Màn hình thí nghiệm mô phỏng 37
Hình 2.3 Màn hình phần nội dung nhiều lựa chọn 38
Hình 2.4.Màn hình kết quả kiểm tra 39
Hình 2.5 Thí nghiệm nhiễm điện cho vật do cọ xát 41
Hình 2.6 Thí nghiệm nhiễm điện cho vật do tiếp xúc 42
Hình 2.7 Mô phỏng nhiễm điện do hưởng ứng 42
Hình 2.8 Thí nghiệm mô phỏng điện tích chịu nhiều lực điện tác dụng 43
Hình 2.9 Mô phỏng cấu tạo nguyên tử 45
Hình 2.10 Mô phỏng hiện tượng nhiễm điện do hưởng ứng 45
Hình 2.11.Mô phỏng tương tác điện 48
Hình 2.12.Mô phỏng điện phổ 49
Hình 2.13.Véc tơ cường độ điện trường tại 1 điểm do 1 điện tích điểm gây ra 50
Hình 2.14 Mô phỏng nguyên lý chồng chất điện trường 50
Hình 2.15 Mô phỏng nguyên lý chồng chất điện trường và đường sức điện 51
Trang 10DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ
Sơ đồ 1.1 Mô hình elearning của Dr Akintunde 16
Sơ đồ 1.2.Mối quan hệ giữa BGĐT với các thành tố khác của quá trình dạy học 18
Sơ đồ 2.1.Cấu trúc nội dung chương “Điện tích Điện trường” 31
Sơ đồ 2.2 Cấu trúc bài “Điện tích Định luật Cu – long” 40
Sơ đồ 2.3 Cấu trúc bài “ Thuyết electron Định luật bảo toàn điện tích” 44
Sơ đồ 2.4 Cấu trúc bài “ Điện trường Đường sức điện” 47
Sơ đồ 2.5 Cấu trúc bài “Công của lực điện” 52
Đồ thị 3.1.Đường phân bố tần suất 65
Đồ thị 3.2 Đường phân bố tần suất lũy tích ( hội tụ lùi ωi(≤)%) 66
Trang 11
MỞ ĐẦU
1.Lý do chọn đề tài
Định hướng đổi mới phương pháp dạy học đã được xác định trong Nghị quyết Trung ương 4 khóa VII, Nghị quyết Trung ương 2 khóa VIII, và được thể chế hóa trong Luật giáo dục (2005) Luật giáo dục, điều 28.2 đã chỉ rõ: Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh; phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, khả năng làm việc nhóm, rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú và trách nhiệm học tập cho học sinh.[12][15]
Trong những năm gần đây, ở nước ta đã có nhiều công trình nghiên cứu ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông như phần mềm hỗ trợ giảng dạy, minh họa trên lớp với máy chiếu; phần mềm dạy học giúp học sinh học trên lớp và ở nhà; công nghệ kiểm tra và đánh giá bằng trắc nghiệm trên máy vi tính; sử dụng Internet, thiết bị đa phương tiện để dạy học…Tuy nhiên, việc ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy và học Vật lí, cụ thể là xây dựng bài giảng điện tử theo quy trình dạy học
có tác dụng tích cực tới việc giáo dục và phát triển tư duy của học sinh, đồng thời là thước đo thực chất đúng đắn sự nắm vững kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo của học sinh thì chưa có nhiều công trình nghiên cứu
Trong chương trình Vật lí lớp 11 Trung học phổ thông, phần “Điện tích Điện trường” Vật lí 11 là chương rất quan trọng, kiến thức trong chương là nền tảng của môn Vật lí nói chung và của phần Điện học nói riêng Kiến thức trong chương là nền tảng giúp học sinh tiếp thu được các chương sau như: Dòng không đổi, Dòng điện trong các môi trường, Dao động điện và Dao động điện từ… Kiến thức của chương có ứng dụng rất nhiều trong thực tế cuộc sống và kỹ thuật Nhưng thực tế, khi giảng dạy chương “Điện tích Điện trường” trong các trường phổ thông giáo viên đều dạy theo phương pháp truyền thống, đó là phương pháp thuyết trình Vì vậy, học sinh tiếp thu kiến thức rất hạn chế, đa phần học sinh chỉ nắm được kiến thức cơ bản về lý thuyết mà không biết cách vận dụng linh hoạt vào giải quyết các tình huống trong thực tế
Trang 12Với mục đích là thiết kế BGĐT hỗ trợ giảng dạy học phần “Điện tích Điện trường” chương trình Vật lí 11 nhằm phát huy tính tích cực, chủ động của học sinh, đặc biệt là khả năng tự học, tự nghiên cứu của học sinh, tôi lựa chọn đề tài “ Thiết
kế và sử dụng bài giảng điện tử hỗ trợ dạy học chương Điện tích Điện trường, Vật
lí 11 Cơ bản THPT”
2 Mục đích nghiên cứu
Vận dụng những quan điểm lý luận hiện đại về việc tổ chức hoạt động nhận thức của học sinh trong xây dựng BGĐT chương “Điện tích Điện trường” Vật lí 11 THPT theo hướng phát triển tính tích cực, chủ động tham gia giải quyết vấn đề trong học tập của học sinh, góp phần nâng cao chất lượng nắm vững kiến thức của học sinh
3 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu lý luận về việc tổ chức quá trình dạy học vật lí nói chung và quá trình dạy học chương “Điện tích Điện trường” Vật lí 11 THPT nói riêng theo hướng tăng cường tính tích cực, chủ động thông qua việc dạy và học với BGĐT
- Nghiên cứu nguyên tắc và kỹ thuật xây dựng BGĐT hỗ trợ dạy học bằng những phần mềm hiện đại, dễ sử dụng và đạt hiệu quả cao, phù hợp với khả năng Tin học chung của giáo viên và học sinh
- Điều tra, khảo sát thực trạng dạy và học chương “Điện tích - Điện trường” Vật lí 11 THPT và áp dụng CNTT trong dạy học Vật lí ở trường THPT Quế Võ I, Huyện Quế Võ, Tỉnh Bắc Ninh
- Soạn thảo tiến trình dạy học các bài học trong chương “Điện tích Điện trường” Vật lí 11 THPT theo hướng tăng cường tính tích cực, chủ động trong học tập của học sinh thông qua việc tổ chức hoạt động tự học của học sinh, thảo luận trong nhóm và trên lớp
- Xây dựng BGĐT chương “Điện tích Điện trường” Vật lí 11 THPT theo tiến trình dạy học đã soạn thảo
- Tiến hành thực nghiệm sư phạm nhằm đánh giá tính khả thi của đề tài Rút ra những nhận xét, bổ sung hoàn thiện tiến trình dạy học và sơ bộ đánh giá hiệu quả của nó đối với việc nâng cao chất lượng nắm vững kiến thức, phát huy tính tích cực, chủ động trong giải quyết vấn đề của học sinh trong quá trình học tập
Trang 13- Dự kiến các khả năng sử dụng BGĐT chương “Điện tích Điện trường” Vật
lí 11 THPT
4 Khách thể và đối tƣợng nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu : Hoạt động dạy học của giáo viên và học sinh trong quá trình dạy học với sự hỗ trợ của bài giảng điện tử nhằm tích cực hóa hoạt động học tập của người học
- Khách thể nghiên cứu : Quá trình dạy và học chương “Điện tích Điện trường” Vật lí 11 Cơ bản THPT của giáo viên và học sinh trường THPT Quế Võ số
I, Huyện Quế Võ, Tỉnh Bắc Ninh
5 Vấn đề nghiên cứu
Thiết kế và sử dụng BGĐT chương “Điện tích Điện trường” Vật lí 11 THPT như thế nào để hỗ trợ dạy học theo hướng phát huy tính tích cực, chủ động của người học?
6 Giả thuyết khoa học
Việc thiết kế và sử dụng bài giảng điện tử hỗ trợ việc giảng dạy, tổ chức hướng dẫn học sinh giải quyết nhiệm vụ nhận thức trong quá trình dạy học chương
“Điện tích Điện trường” Vật lí 11 THPT sẽ có tác dụng nâng cao chất lượng dạy học, giúp học sinh nắm vững kiến thức, phát huy tính tích cực, chủ động của học sinh trong quá trình học tập
7 Giới hạn và phạm vi nghiên cứu
- Điều tra, khảo sát thực trạng dạy và học chương “Điện tích Điện trường” Vật lí 11 và áp dụng công nghệ thông tin trong dạy học Vật lí ở trường THPT Quế
Võ số I, Huyện Quế Võ, Tỉnh Bắc Ninh
- Xây dựng bài giảng điện tử cho một số nội dung kiến thức thuộc chương
“Điện tích Điện trường” Vật lí 11 bằng phần mềm LCDS
8 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Trang 14THPT tại trường THPT nói chung và trường THPT Quế Võ số I, Huyện Quế Võ, Tỉnh Bắc Ninh nói riêng
+ Thiết kế được hệ thống BGĐT chương “Điện tích Điện trường” Vật lí 11 THPT theo hướng phát huy tính tích cực, chủ động của người học
+ Đề tài góp phần vào việc đổi mới phương pháp dạy của giáo viên và phương pháp học của học sinh Tạo điều kiện cho học sinh có cơ hội tiếp cận với công nghệ hiện đại Đề tài còn có thể cung cấp cho giáo viên và học sinh những hiểu biết về nguyên tắc xây dựng BGĐT và sử dụng những công cụ để xây dựng BGĐT phục vụ việc dạy và học
9 Phương pháp nghiên cứu
9.1 Nghiên cứu lý luận
- Nghiên cứu các tài liệu về tâm lý học, về lý luận dạy học nói chung và tài liệu về lý luận dạy học Vật lí nói riêng để làm sáng tỏ những quan điểm đề tài sẽ vận dụng để thiết kế bài giảng điện tử nhằm phát huy tính tích cực, chủ động của học sinh trong qua trình dạy học vật lí
- Nghiên cứu chương trình, nội dung sách giáo khoa, sách giáo viên và các tài liệu tham khảo xác định mức độ nội dung các kiến thức, những khái niệm Vật lí ở chương “Điện tích Điện trường” Vật lí 11 THPT mà học sinh cần nắm vững
- Nghiên cứu tài liệu nguyên tắc và kỹ thuật xây dựng BGĐT bằng các phần mềm hiện đại, dễ sử dụng
9.2 Phương pháp điều tra, khảo sát
- Điều tra, khảo sát thực trạng năng lực áp dụng CNTT của giáo viên và học sinh trường THPT Quế Võ số I, Huyện Quế Võ, Tỉnh Bắc Ninh trong việc dạy và học nói chung, trong việc dạy và học chương “Điện tích Điện trường” Vật lí 11 THPT nói riêng
- Tìm hiểu việc dạy và việc học nhằm sơ bộ đánh giá tình hình dạy học chương “Điện tích Điện trường” Vật lí 11 THPT
- Tìm hiểu việc sử dụng hệ thống mạng máy tính và máy tính phục vụ giảng dạy các môn học ở trường THPT
9.3 Thực nghiệm sư phạm
- Tiến hành giảng dạy song song lớp đối chứng và lớp thực nghiệm ở trường
Trang 15THPT Quế Võ số I, Huyện Quế Võ, Tỉnh Bắc Ninh theo phương án đã thiết lập
- Sau khi giảng dạy song song lớp đối chứng và lớp thực nghiệm, tiến hành kiểm tra khả năng tiếp thu kiến thức của học sinh bằng cùng một đề đối với cả 2 lớp đối chứng và lớp thực nghiệm
- Phân tích định tính và định lượng kết quả thu được trong quá trình thực nghiệm sư phạm, từ đó rút ra kết luận về mặt tích cực và hạn chế của đề tài
10 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung của luận văn được trình bày trong 3 chương:
Chương 1 : Cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài
Chương 2 : Thiết kế bài giảng điện tử hỗ trợ việc dạy và học chương “Điện tích - Điện trường” Vật lí 11 THPT
Chương 3 : Thực nghiệm sư phạm
Trang 16CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 1.1 Cơ sở lí luận về đổi mới phương pháp dạy học
1.1.1 Những định hướng cơ bản trong đổi mới phương pháp dạy học hiện nay
Hiện nay, khi đất nước ta đang trong quá trình hiện đại hóa, công nghiệp hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế Nhằm giáo dục con người Việt Nam phát triển toàn diện và phát huy tốt nhất tiềm năng của mỗi cá nhân; yêu gia đình, yêu Tổ quốc, hết lòng phục vụ nhân dân và đất nước; có hiểu biết và kỹ năng cơ bản, khả năng sáng tạo để làm chủ bản thân, sóng tốt và làm việc có hiệu quả Để đảm bảo mục tiêu đó, nghị quyết hội nghị BCH TW Đảng Cộng Sản Việt Nam khóa VIII đã chỉ rõ : “Đối với giáo dục phổ thông, tập trung phát triển trí tuệ, thể chất, hình thành phẩm chất, năng lực công dân, phát hiện
và bồi dưỡng năng khiếu, định hướng nghề nghiệp cho học sinh Nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, chú trọng giáo dục lý tưởng, truyền thống, đạo đức, lối sống, ngoại ngữ, tin học, năng lực và kỹ năng thực hành, vận dụng kiến thức vào thực tiễn Phát triển khả năng sáng tạo, tự học, khuyến khích học tập suốt đời”[15]
Nghị quyết TW2 khoá VIII đã khẳng định phải " Đổi mới phương pháp giáo dục đào tạo, khắc phục lối truyền thụ một chiều, rèn luyện thành nếp tư duy sáng tạo của người học Từng bước áp dụng các phương pháp tiên tiến và phương tiện hiện đại vào quá trình dạy học, bảo đảm điều kiện và thời gian tự học, tự nghiên cứu cho học sinh".[15]
Định hướng trên đây đã được thể chế hoá trong Luật giáo dục, điều 28.2 :
" Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh; phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh" [12]
Đối với vấn đề đổi mới phương pháp dạy và học, nghị quyết hội nghị BCH
TW Đảng Cộng Sản Việt Nam khóa VIII đã nhấn mạnh : “Tiếp tục đổi mới mạnh
mẽ phương pháp dạy và học theo hướng hiện đại; phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và vận dụng kiến thức, kỹ năng của người học; khắc phục lối truyền thụ áp đặt một chiều, ghi nhớ máy móc Tập trung dạy cách học, cách nghĩ, khuyến khích
Trang 17tự học, tạo cơ sở để người học tự cập nhật và đổi mới tri thức, kỹ năng, phát triển năng lực Chuyển từ học chủ yếu trên lớp sang tổ chức hình thức học tập đa dạng, chú ý các hoạt động xã hội, ngoại khóa, nghiên cứu khoa học Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông trong dạy và học”[15]
Bác Hồ đã dạy: “Về cách học, phải lấy tự học làm cốt” Trong các phương pháp học thì cốt lõi là phương pháp tự học Xã hội ngày càng phát triển với sự bùng
nổ của thông tin, khoa học, kĩ thuật và công nghệ, lượng kiến thức cần cập nhật ngày càng nhiều vì thế tự học đang trở thành chiếc chìa khóa vàng trong việc chiếm lĩnh kho tàng tri thức nhân loại và là con đường tạo ra tri thức bền vững cho mỗi người Nếu rèn cho người học có được phương pháp, kĩ năng, thói quen, ý chí tự học thì sẽ tạo cho họ lòng ham học, khơi dậy nội lực vốn có trong mỗi con người, kết quả học tập sẽ được nhân lên gấp bội Chỉ có tự học học sinh mới có lòng say
mê học tập phát huy hết năng lực sáng tạo của mình Chính vì tầm quan trọng của tự học mà việc phục vụ ngày càng tốt hơn cho hoạt động tự học và phương châm học suốt đời đang là một trong những xu hướng đổi mới phương pháp dạy học hiện nay Vật lí là một môn khoa học thực nghiệm, việc áp dụng các phương tiện trực quan vào quá trình dạy học là cần thiết, đặc biệt là việc sử dụng các thí nghiệm Tuy nhiên, trong quá trình dạy học không phải lúc nào giáo viên cũng có thể dùng các mô hình, tranh vẽ hay thí nghiệm cho HS sử dụng, nhất là các thí nghiệm phức tạp không thể thực hiện do các điều kiện về thời gian, CSVC Nhờ sự phát triển của CNTT ứng dụng vào quá trình dạy học sử dụng các video ghi lại các quá trình Vật lí (bằng các chức năng quay nhanh, chậm, làm dừng hình và có thể xem nhiều lần nhờ MTĐT), cho phép ta quan sát cẩn thận và có thể nghiên cứu (dưới dạng khảo sát) sâu và rộng hơn, xoá bỏ ngăn cách giữa nhà trường và tự nhiên, gây hứng thú học tập cho học sinh, tiết kiệm thời gian, giải phóng học sinh khỏi những thao tác không cần thiết
1.1.2 Dạy học theo hướng tăng cường tính tích cực của người học
Lý thuyết kiến tạo cho rằng con người kiến tạo những hiểu biết và tri thức về thế giới thông qua trải nghiệm và phản ánh Khi chúng ta đối mặt với một điều gì mới mẻ, chúng ta phải điều ứng nó với những ý tưởng và kinh nghiệm có từ trước Cũng có thể nó sẽ thay đổi điều mà ta đã tin tưởng hoặc loại bỏ chúng vì không thích đáng Trong bất cứ trường hợp nào, chúng ta thật sự là những nhà kiến tạo cho
Trang 18tri thức cho chính bản thân Để làm điều này, chúng ta phải đưa ra những nghi vấn, khám phá và đánh giá cái mà chúng ta biết [11][19]
Lý thuyết kiến tạo được gọi là lý thuyết của nhận thức hơn là lý thuyết của tri thức Theo Ernst Von Glasersfeld (nhà triết học và giáo sư nổi tiếng của khoa tâm lý
thức luôn là kết quả của hoạt động kiến tạo và nó không thể thâm nhập vào một người học thụ động Nó phải được xây dựng một cách tích cực bởi chính mỗi người học Bên cạnh đó, giáo viên có thể định hướng cho người học theo một cách tổng quát và sự hướng dẫn đó sẽ giúp người học không đi chệch hướng trong quá trình kiến tạo kiến thức Giáo viên phải nắm được nền tảng kiến thức mà học sinh đã có
từ trước, rồi giúp người học kiến tạo tri thức từ nền tảng kiến thức đó [8]
Trọng tâm của phương pháp dạy học tích cực dựa trên lý thuyết kiến tạo là
xu hướng thay đổi từ giáo viên làm trung tâm (teacher-centered) đến học sinh làm trung tâm (students-centered) [19]
Tâm lý học và lý luận dạy học hiện đại khẳng định : Con đường có hiệu quả nhất để làm cho học sinh nắm vững kiến thức và phát triển được năng lực sáng tạo
là phải đưa học sinh vào vị trí chủ thể hoạt động nhận thức, thực sự lĩnh hội chúng, cái đó học sinh phải tự mình làm lấy, bằng trí tuệ của chính bản thân Phương pháp dạy học tích cực, thực chất là cách dạy hướng tới việc học tập chủ động, chống lại thói quen học tập thụ động.[19]
Dạy và học tích cực là một trong những mục tiêu chung và cũng là một tiêu chuẩn về giáo dục hiệu quả, hướng dẫn cho việc đổi mới phương pháp dạy học trong các trường phổ thông
Thực hiện dạy và học tích cực sẽ mang lại hiệu quả cao trong giáo dục Nhiệm vụ chủ yếu của giáo viên là trở thành người thiết kế, tổ chức hoạt động tự lực chiếm lĩnh tri thức của học sinh trong bối cảnh cụ thể (nhu cầu giáo dục, điều kiện làm việc của giáo viên và học sinh) Nhiệm vụ truyền thống của người giáo viên trước đây là chuyển giao thông tin, nay được điều chỉnh và mở rộng thành một nhiệm vụ tạo ra các điều kiện học tập và hỗ trợ quá trình học tập của học sinh Học sinh có nhiệm vụ tham gia một cách tích cực trong việc xây dựng kiến thức Bản chất của dạy học tích cực là một quá trình tích cực và kiến tạo, thông qua đó người
Trang 19học xây dựng mối liên hệ giữa kiến thức mới từ vốn kiến thức, kĩ năng sẵn có Giáo viên không còn đóng vai trò đơn thuần là người truyền đạt kiến thức mà trở thành người thiết kế, tổ chức hướng dẫn các hoạt động học tập của học sinh
Bảng 1.1 So sánh phương pháp dạy học tích cực và phương pháp dạy học thụ động
Quan niệm
Học là qúa trình tiếp thu và lĩnh hội, qua đó hình thành kiến thức,
kĩ năng, tư tưởng, tình cảm
Học là qúa trình kiến tạo; học sinh tìm tòi, khám phá, phát hiện, luyện
tập, khai thác và xử lý thông tin,…
Bản chất Truyền thụ tri thức, truyền thụ và
chứng minh chân lí của giáo viên
Tổ chức hoạt động nhận thức cho học sinh
Từ nhiều nguồn khác nhau: SGK,
GV, các tài liệu khoa học phù hợp, thí nghiệm, thực tế… gắn với:
- Vốn hiểu biết, kinh nghiệm và nhu cầu của HS
- Tình huống thực tế, bối cảnh và môi trường địa phương
- Những vấn đề học sinh quan tâm
Phương pháp Các phương pháp diễn giảng,
truyền thụ kiến thức một chiều
Các phương pháp tìm tòi, điều tra, giải quyết vấn đề; dạy học tương tác
Trang 201.2.Ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học Vật lí
1.2.1 Vai trò của CNTT trong dạy học
Do sự phát triển mạnh mẽ của CNTT, góp phần tăng cường cơ hội, tính tích cực, chủ động trong dạy và học, mở rộng nguồn học liệu, sát sao, công bằng trong kiểm tra đánh giá, kiểm soát được mục tiêu dạy học, Đặc biệt, sẽ góp phần đổi mới cách dạy, cách học, tạo cơ hội để HS tăng cường khả năng tự học, tự nghiên cứu, góp phần vào việc nâng cao chất lượng giáo dục Vì vậy, việc nghiên cứu, ứng dụng CNTT vào quá trình dạy học của GV, HS là việc làm hết sức cần thiết
Những ứng dụng CNTT trong dạy học tập trung ở những điểm chính sau:
- Máy tính và các phương tiện kỹ thuật số trở thành những phương tiện phổ thông để tiến hành hoạt động dạy học ở các nhà trường nói chung và ở trường phổ thông nói riêng Do sự phát triển của khoa học công nghệ và kinh tế nên càng ngày
HS càng được tiếp xúc sớm hơn, nhiều hơn với những phương tiện này Do vậy, máy tính cùng các phương tiện kỹ thuật số đóng vai trò ngày càng lớn trong việc tổ chức tiến hành các hoạt động giảng dạy ở các trường học
- Trường học ngày càng biết cách khai thác triệt để các đặc điểm của phương tiện kỹ thuật số Khi mới xuất hiện, số người biết cách sử dụng các phương tiện kỹ thuật số rất hạn chế Nó chỉ dừng lại ở các chuyên gia, các kĩ thuật viên,… Nhưng tính đến thời điểm hiện tại, hầu như tất cả các quốc gia trên thế giới đều đã phổ cập phương tiện kỹ thuật số đến nhân dân Số người sử dụng tăng, các ngành nghề được áp dụng tăng khiến các phương tiện này ngày càng phải tăng về số lượng, chất lượng, tính năng và ứng dụng Các tính năng ưu việt của phương tiện kỹ thuật số không ngừng được con người khám phá, mở rộng trong rất nhiều ngành nghề của xã hội Và ngành Giáo dục cũng không phải là một ngoại lệ
- Với sự phát triển của mạng liên lạc viễn thông toàn cầu, ngày nay việc dạy học không chỉ thực hiện và tiến hành trong khuôn khổ trường học nữa HS có thể hoàn thành việc học của mình ở bất cứ nơi đâu thông qua phương pháp học qua mạng có định hướng Trong một thời đại con người luôn bận rộn và luôn không có
đủ thời gian để hoàn thành công việc và học tập như hiện nay thì đây quả thực là một giải pháp hiệu quả
- Tuy nhiên, ứng dụng CNTT phải kết hợp với việc sử dụng triệt để hệ thống
Trang 21TBDH hiện có trong các nhà trường Tuy những thiết bị ứng dụng CNTT có rất nhiều điểm ưu việt, nhưng nó vẫn không thể thay thế hoàn toàn các phương tiện kỹ thuật truyền thống Thêm vào đó, không phải bất cứ quốc gia nào, trường học nào cũng có đủ điều kiện cập nhật những ứng dụng CNTT mới nhất, hiệu quả nhất; do
đó sử dụng thiết bị ứng dụng CNTT và hệ thống thiết bị trong nhà truờng phải có sự thống nhất với nhau
Trong xu thế đa dạng hoá phương tiện dạy học, đổi mới PPDH Máy tính và
các phần mềm trên máy tính ngày càng thể hiện được ưu thế cạnh tranh của nó với những thiết bị khác Những ưu thế của máy tính và các phần mềm trên máy tính như sau:
- Ngày nay làm việc với máy tính là yêu cầu cơ bản của người lao động thế
hệ mới, nó tạo ra nhiều cơ hội cho con người tham gia thị trường lao động đa dạng
và luôn đòi hỏi khả năng thích nghi cao
- Máy tính tạo khả năng giao tiếp đa chiều con người - máy tính - con người, bên cạnh kiểu giao tiếp truyền thống con người - con người Điều này mở ra nhiều thuận lợi, nhiều ứng dụng của máy tính trong cuộc sống
- Cũng xuất phát từ những điểm ưu việt trên mà máy tính trở thành phương tiện hữu hiệu hỗ trợ tự học trong "xã hội học tập suốt đời" Máy tính và Internet có khả năng giúp con người tìm tòi nhanh chóng hiệu quả mọi loại thông tin, kiến thức
từ cổ chí kim mà họ muốn Mọi thứ con người muốn biết, mọi thứ con người muốn học, đa phần chỉ cách họ một cái máy vi tính và vài lần Click chuột
- Máy tính cũng tạo ra những khả năng mới: Truy cập - Giao tiếp - Trình diễn - Huấn luyện Những khả năng này khiến con người trở nên chủ động hơn,
hoàn thành công việc tốt hơn
- Máy tính gây hứng thú và làm cho HS có trách nhiệm với việc học tập Chúng
có thể tự xác định mục tiêu, kế hoạch cho hoạt động học tập của riêng chúng và chúng có thể tự đánh giá kết quả các bước trong quá trình học tập
- Máy tính giúp HS phát triển các năng lực tìm kiếm, tổ chức và phân tích thông tin; giúp HS rèn luyện năng lực tư duy và tác phong làm việc khoa học
- Môi trường học tập được mở rộng ngoài phạm vi phòng học, môn học cũng như kết hợp với nhiều lực lượng tham gia giáo dục khác nhau Máy tính đã góp một
Trang 22phần không nhỏ tạo ra những thay đổi đó
- Mô phỏng là ưu thế nổi bật của máy tính Và với ưu thế này, máy tính đã được sử dụng rộng rãi trong dạy học Khả năng mô phỏng máy tính có đựợc khi ta sử dụng phối hợp giữa các hình ảnh động với âm thanh và với các khả năng tương tác của
nó, nhằm mô tả đối tượng mang tính mô hình gần với hiện thực; đối tượng được mô phỏng đúng với hiện thực mà nó có thể Mô phỏng không phải là sự sao chép nguyên bản hiện thực khách quan mà đó là sự sao chép có tinh giản, để hiện thực trở nên dễ hiểu Mô phỏng luôn là hình thức đặc biệt của mọi chương trình tương tác, nó được
sử dụng như là một công cụ được sử dụng trước nhằm phân tích, khám phá, thực nghiệm Đặc điểm trung tâm của mô phỏng là tính toán trạng thái hiện tại của mô hình và những thông số này có thể tác động thông qua các biến số Những đối tượng
đã được máy tính mô phỏng lại sẽ là phương tiện hữu hiệu cho HS trong học tập
Đối với bộ môn Vật lí, việc đổi mới PPDH, phương tiện, thiết bị dạy học đang từng bước cải tiến Hầu hết các GV đã thấy được vai trò quan trọng của việc khai thác các phần mềm phục vụ cho quá trình dạy học để nâng cao chất lượng dạy học Tuy nhiên, do trình độ tin học, ngoại ngữ của GV còn nhiều hạn chế, kinh phí đầu tư vào các phương tiện, thiết bị dạy học còn hạn hẹp nên việc khai thác các phần mềm vi tính trong dạy học Vật lí bước đầu gặp rất nhiều khó khăn Tuy vậy, việc ứng dụng CNTT vào giảng dạy đã làm cho người học thấy hứng thú hơn, giờ học trở nên sôi động hơn, người học tiếp thu bài nhanh hơn và có cảm giác như tự mình đang tìm ra những điều mới lạ ở thế giới xung quanh
Ứng dụng của CNTT đã thực sự trao quyền chủ động học tập cho HS và cũng làm thay đổi vai trò của người thầy trong giáo dục Từ vai trò là nhân tố quan trọng, quyết định trong kiểu dạy học tập trung vào thầy cô, thì nay các thầy cô phải chuyển sang giữ vai trò nhà điều phối theo kiểu dạy học hướng tập trung vào HS (dạy học lấy học sinh làm trung tâm) Kiểu dạy học hướng tập trung vào HS và hoạt động hoá người học có thể thực hiện được một cách tốt hơn với sự trợ giúp của máy tính và mạng Internet Với các chương trình dạy học đa môi trường (mutilmedia) và được chuẩn bị chu đáo có thể truy cập được nhờ các phương tiện siêu môi trường (hypermedia) giúp cho việc tự học của HS trở nên thuận tiện và dễ dàng hơn bao giờ hết
Trang 23Việc ứng dụng CNTT trong giảng dạy sẽ tạo ra một bước chuyển cơ bản trong quá trình đổi mới nội dung, phương pháp dạy học Cụ thể hơn đó là:
- CNTT là một công cụ đắc lực hỗ trợ cho việc xây dựng các kiến thức mới
- CNTT tạo môi trường để khám phá kiến thức nhằm hỗ trợ cho quá trình học tập
- CNTT tạo môi trường để hỗ trợ học tập qua thực hành, qua cộng đồng và qua phản ánh
- CNTT giúp cho việc đánh giá định tính và định lượng hoá học chính xác, công bằng hơn
Để phục vụ cho việc đổi mới phương pháp dạy học, giáo viên có thể theo tuỳ từng bài giảng, từng mảng kiến thức hoặc tuỳ theo từng đối tượng học sinh mà vận dụng một cách linh hoạt, sáng tạo CNTT trong từng giờ, từng kiểu bài trên lớp Nhờ các công cụ đa phương tiện (multimedia) của máy tính như : văn bản (text), đồ hoạ (graphic), hình ảnh (image), âm thanh (sound), giáo viên sẽ xây dựng được bài học sinh động, thu hút sự tập trung của HS, dễ dàng vận dụng các phương pháp sư phạm : phương pháp dạy học tình huống, phương pháp dạy học nêu vấn đề Qua đó tăng tính tích cực chủ động của học sinh trong quá trình học tập
Như thế trong dạy học ngày nay, vai trò của người thầy dần thay đổi Nhờ sự trợ giúp của CNTT, người thầy không giữ vai trò trung tâm mà chuyển sang vai trò nhà điều khiển trong kiểu dạy học hướng tập trung vào học sinh Theo dự đoán trong vài năm tới CNTT và phương pháp dạy học điện tử sẽ ảnh hưởng sâu sắc, thay đổi các phương pháp dạy và học, vai trò và chức năng của thầy dạy cũng như người học
1.2.2 Một số hướng ứng dụng CNTT trong dạy học môn Vật lí
Cùng với sự phát triển của công nghệ thông tin, máy vi tính và các phần mềm đã và đang được sử dụng trong dạy học nói chung và trong dạy học Vật lí nói riêng đem đến nhiều sự thay đổi Ứng dụng CNTT nhằm:
- Tạo điều kiện cho học sinh hiểu sâu nội dung kiến thức và đa các nội dung mới gắn liền với đời sống hàng ngày vào bài giảng,
- Thay đổi phương pháp nghiên cứu nhiều hiện tượng và quá trình Vật lí (nhiều hiện tượng, quá trình Vật lí có thể chuyển sang nghiên cứu bằng thực nghiệm
Trang 24phù hợp với trình độ nhận thức của học sinh)
- Tạo nên hệ thống phương tiện mới hỗ trợ việc nghiên cứu Vật lí trong con đường thực nghiệm cũng như trong con đường lí thuyết
Việc sử dụng MVT và các phần mềm trong công tác dạy học chỉ có ý nghĩa khi: MVT và các phần mềm làm được các chức năng mà các phơng tiện dạy học truyền thống không thể làm đđược hoặc làm đưđược với chất lượng thấp (ví dụ như: cung cấp, liên kết, xử lí thông tin nhanh, chính xác, đẹp; giúp việc thay đổi nội dung
và phơng pháp nghiên cứu )
Phải kết hợp MVT và các phần mềm với các phương tiện dạy học truyền thống đang được sử dụng
Tuy nhiên việc sử dụng MVT và các phần mềm trong dạy học Vật lí hiện nay ở Việt nam còn gặp một số khó khăn cơ bản sau:
Khó khăn trong việc trang bị đồng loạt MVT cho tất cả các trường THPT, THCS, Tiểu học trên toàn quốc,
Các phần mềm dạy học bộ môn có nhiều nhưng hầu hết của nước ngoài, bằng tiếng nnước ngoài khó sử dụng cho trường phổ thông Trong khi đó công nghệ phần mềm dạy học (cho các bộ môn) của Việt Nam chưa được quan tâm, đầu tư và phát triển đúng mức
Các giáo viên hiện đang dạy phổ thông chưa được bồi dưỡng các kiến thức
về lí luận và thực hành sử dụng MVT và phần mềm trong dạy học bộ môn
Hiện nay, các phần mềm có các ứng dụng chính trong dạy học ở các lĩnh vực sau:
Trang 25- Trình bày, minh hoạ, mô phỏng cho các bài giảng một cách khoa học, sư phạm, thực tiễn, hấp dẫn (với Power Point, Authoring Softwares, HTML hoặc WEB, đặc biệt rất có hiệu quả khi sử dụng trong dạy học các môn có nhiều hình vẽ, tranh ảnh, âm thanh
- Hỗ trợ trong việc thu thập, xử lí và trình bày kết quả trong khi nghiên cứu (với các phần mềm ứng dụng chuyên biệt), ví dụ như trong dạy học Vật lí
- Điều khiển, điều chỉnh quá trình dạy học,
- Tự ôn tập, tự học theo chương trình cài đặt trong máy hay trên mạng Internet (Web based Learning, Web based Training)
- Kiểm tra, đánh giá (với phần mềm xây dựng ngân hàng đề thi, Test )
Sử dụng phần mềm trong giảng dạy là công cụ không thể thiếu được trong công nghệ giáo dục nhằm phát huy tính tích cực và khả năng sáng tạo của học sinh
Xu hướng học tập và giảng dạy đó đang được phổ biến ở các nước tiên tiến Tuy nhiên, phần mềm dạy học không thể thay thế được vai trò của người thầy, SGK, các giáo trình, các công cụ dạy học khác Các thí nghiệm mô phỏng và các thí nghiệm
ảo không thể thay thế được các thí nghiệm thật ở các phòng thí nghiệm dù là còn thô sơ Việc sử dụng phần mềm trong giảng dạy là một hướng nghiên cứu còn mới
mẻ cần được quan tâm nghiên cứu để tiếp tục phát triển
Phần mềm Vật lí có thể kể đến sau đây: Phần mềm Crocodile Physics, Flash
là phần mềm được dùng để thiết kế các thí nghiệm ảo môn Vật lí trong nhà trường phổ thông; PAKMA là một phần mềm chuyên dụng cho bộ môn Vật lí; phần mềm eXe để tập huấn giúp giáo viên thiết kế nội dung học tập môn Vật lí; Working Model để thiết kế thí nghiệm mô phỏng Vật lí…
Thiết kế BGĐT, đây là một hướng đi thuận lợi Mỗi giáo viên có thể lựa chọn và sử dụng một trong các phần mềm ứng dụng cho dạy học phù hợp với khả năng tin học của mình như : Powerpoint, Violet, Vnuce, hot potatoes, Adobe Presenter, ….để soạn BGĐT BGĐT phong phú về nội dung, hấp dẫn về hình thức
và dễ sử dụng là một hướng đi mới góp phần nâng cao tính tích cực, chủ động trong việc học của học sinh
Trang 261.3 Bài giảng điện tử
1.3.1.Khái quát về bài giảng điện tử
Bài giảng điện tử có thể được hiểu theo hai cách:
- Như một “sản phẩm” điện tử (giáo trình điện tử, giáo án điện tử, hồ sơ dạy
học, học liệu điện tử ) các học liệu được số hóa được thiết kế, tổ chức theo ý đồ, mục tiêu sư phạm nhất định
- Như một “quá trình” dạy học được điện tử hóa, số hóa Quá trình dạy học
được thiết kế và tổ chức với môi trường số hóa (thường là Internet), cho phép người học, người dạy và nội dung tri thức tương tác với nhau ở mọi nơi, mọi lúc
Sơ đồ 1.1 Mô hình eLearning của Dr Akintunde
Theo mô hình của Akimtunde, BGĐT là tổ hợp của ba thành tố : Kết quả đầu
ra ( mục tiêu), hoạt động và nhiệm vụ học tập, kiểm tra và đánh giá Như vậy, BGĐT phải là một tổ hợp sản phẩm và các dịch vụ, hoạt động của người dạy và người học (được thiết kế nhờ ứng dụng của CNTT) nhằm giải quyết những mục tiêu dạy học, đảm bảo tính toàn vẹn và thống nhất của quá trình dạy học
Bài giảng điện tử là một hình thức tổ chức bài lên lớp nhằm thực thi giáo án điện tử Khi đó toàn bộ kế hoạch hoạt động dạy học đều được chương trình hoá, do giáo viên điều khiển thông qua môi trường đa phương tiện với sự hỗ trợ của công nghệ thông tin Nếu như bài giảng truyền thống là sự tương tác giữa thầy và trò thông qua các phương pháp, phương tiện và hình thức dạy - học truyền thống thì bài giảng điện tử là sự tương tác giữa thầy và trò thông qua các phương pháp, phương tiện và hình thức dạy - học có sự hỗ trợ của công nghệ thông tin Do đó, có rất nhiều
Hoạt động và nhiệm vụ học tập Kiểm tra, Đánh giá
Mục tiêu
(Kết quả đầu ra)
Bài giảng điện tử
Trang 27mức độ tham gia của công nghệ thông tin trong một bài giảng điện tử Tuy nhiên, hiện nay vẫn chưa có một chuẩn mực nào để đánh giá “bài giảng điện tử” Tuỳ thuộc vào điều kiện cụ thể của từng địa phương, từng đơn vị mà mức độ “bài giảng điện tử” sẽ khác nhau
Bài giảng điện tử là toàn bộ kế hoạch hoạt động dạy học đều được chương
trình hoá do GV điều khiển thông qua multimedia do MVT tạo ra Cần lưu ý, bài giảng điện tử không chỉ đơn thuần là các kiến thức mà học sinh (HS) ghi vào vở mà
đó là toàn bộ hoạt động dạy và học - tất cả các tình huống trong quá trình truyền đạt
và tiếp thu kiến thức của HS Bài giảng điện tử càng không thay thế hoàn toàn
“bảng đen phấn trắng” mà đóng vai trò hỗ trợ trong các hoạt động trên lớp Ở mức
độ thấp, GV thực hiện giảng bài dưới sự hỗ trợ của bản trình diễn để tổ chức các hoạt động dạy học nhằm đáp ứng được mục tiêu bài học Ở mức độ cao nhất của bài giảng điện tử, toàn bộ kịch bản dạy học của người thầy được số hoá, tạo nên một phần mềm dạy học hoàn chỉnh có tương tác Đặc biệt, nó có thể thay thế vai trò của người thầy ở một số thời điểm nhất định Các nội dung của bài học được Multimedia hoá Trong môi trường multimedia, thông tin được truyền dưới các dạng: văn bản (text), đồ hoạ (graphics), hoạt ảnh (animation), ảnh chụp (image), âm thanh (audio) và phim video (video clip)
Bài giảng là một phần nội dung trong chương trình của một môn học được giáo viên trình bày trước học sinh Các yêu cầu cơ bản đối với bài giảng là: định hướng rõ ràng về chủ đề, trình bày có mạch lạc, có hệ thống và truyền cảm nội dung, phân tích rõ ràng, dễ hiểu các sự kiện, hiện tượng cụ thể có liên quan và tóm tắt có khái quát chúng, sử dụng phối hợp nhiều thủ pháp thích hợp như thuyết trình, chứng minh, giải thích, đàm luận, làm mẫu, chiếu phim, mở máy ghi âm, ghi hình v.v Bài giảng luôn được xem như một đơn vị nội dung của chương trình có độ dài tương ứng với một hoặc hai tiết học Khi ta thực thi một giáo án (kế hoạch dạy học) nào đó trên đối tượng học sinh cụ thể trong một không gian và thời điểm nhất định thì được coi là ta đang thực hiện một bài giảng Như vậy, giáo án là tĩnh, bài giảng lại động Một giáo án chỉ có thể trở thành bài giảng khi nó được thực thi Bài giảng
là tiến trình giáo viên triển khai giáo án của mình ở trên lớp
Trang 28hoạch hoạt động dạy học đều được chương trình hoá do giáo viên điều khiển thông qua môi trường multimedia do máy vi tính tạo ra Cũng có thể hiểu bài giảng điện
tử là những tệp tin có chức năng chuyển tải nội dung giáo dục đến học sinh
Hiện nay bài giảng điện tử được giảng viên tạo ra bằng cách sử dụng những phần mềm tạo bài giảng điện tử, ví dụ như Adobe Presenter, Captivate, Articulate, Camtasia, PowerPoint, LCDS… Mỗi bài giảng thường có âm thanh lời giảng, hình ảnh, video được sắp xếp theo logic sư phạm để cung cấp cho người học những kỹ năng, kiến thức nhất định Người học có thể ngồi bất cứ đâu và bất cứ thời gian nào cũng có thể học được, chỉ cần có mạng Internet, máy tính hay điện thoại
1.3.2 Vị trí, vai trò của bài giảng điện tử trong dạy học ở trường THPT
Bài giảng được thiết kế đảm bảo nguyên tắc sư phạm nhằm mục đích dạy học, được GV và HS sử dụng để tiến hành các hoạt động dạy học Trong trường học BGĐT có vị trí, vai trò và chức năng rất quan trọng
BGĐT có chức năng thông tin, chức năng phản ánh, chức năng giáo dục và chức năng phục vụ Đó là phương tiện phục vụ trực tiếp cho GV và HS hoạt động trong quá trình dạy học nói chung, cho từng bài học, từng đơn vị kiến thức trong một bài học nói riêng
BGĐT có mối quan hệ chặt chẽ và biện chứng với các thành tố khác của quá trình dạy học Mối quan hệ giữa TBDH với các thành tố khác của quá trình dạy học được mô tả trong sơ đồ dưới đây:
Mục tiêu Người dạy Người học
Nội dung Phương pháp
BGĐT
Sơ đồ 1.2 Mối quan hệ giữa BGĐT với các thành tố khác của quá trình dạy học
Ta có thể thấy rõ mối quan hệ khăng khít của BGĐT với các thành tố trong
Quản lý
Trang 29QTDH Căn cứ vào mục tiêu kinh tế xã hội đặt ra trong mỗi thời kỳ lịch sử mà mục tiêu dạy học trong các trường học cũng luôn phải thay đổi cho phù hợp Mục tiêu dạy học sẽ quyết định nội dung dạy học Nhưng muốn thực hiện được mục tiêu và nội dung dạy học cần phải có một hệ thống PPDH thích hợp Và muốn thực hiện tốt PPDH lại cần phải có BGĐT phù hợp Thông qua BGĐT, người dạy và người học tác động qua lại lẫn nhau, người học chiếm lĩnh nội dung dạy học theo mục tiêu dạy học dưới sự định hướng của GV
Như vậy, BGĐT là một trong những thành tố quan trọng của quá trình dạy học, nó vừa mang tính độc lập tương đối vừa phụ thuộc và tác động lẫn nhau với các thành tố khác của quá trình dạy học: TBDH không chỉ là sự minh hoạ, sự trực quan hoá các nội dung dạy học mà bản thân TBDH đã hàm chứa nội dung dạy học Đặc biệt BGĐT có mối quan hệ khăng khít với PPDH, chính thực tế BGĐT mà nhà trường có thể có đã chi phối phần nào việc xác định nội dung và PPDH
Bất cứ môn học nào ở trường phổ thông cũng đều cần đến sự trợ giúp của TBDH, đặc biệt là với các môn khoa học thực nghiệm như Vật lí, Hoá học, Sinh học và Công nghệ Các môn học này đã coi thực nghiệm là phương pháp cơ bản để tiếp thu kiến thức, rèn luyện kĩ năng, tìm kiếm những dữ liệu, khám phá những nguyên lí, những định luật, những quá trình,… Thông qua những TN, HS được rèn luyện kĩ năng trí tuệ và kĩ năng khác Như vậy, nếu không có TBDH, việc dạy học
sẽ trở thành dạy chay, học chay; việc tiếp nhận kiến thức sẽ trở thành một nhiệm vụ khiên cưỡng đối với người học, và đó cũng là trở ngại lớn cho người dạy trong quá trình truyền đạt kiến thức
BGĐT tự nó là minh chứng khách quan chứa đựng nội dung dạy học, nó là phương tiện cho hoạt động nhận thức, là điều kiện để các lực lượng giáo dục thực hiện chức năng và nhiệm vụ dạy học Đồng thời, với nội dung và cách thức dạy học như vậy, người học không chỉ tiếp nhận tri thức mà còn được tiếp xúc với mô hình những sự vật, hiện tượng trong thế giới khách quan Do đó tạo cầu nối giữa nhà trường với thế giới bên ngoài
Trong quá trình dạy học, nội dung và phương pháp không thể tách rời Vậy nên để đáp ứng yêu cầu của một nội dung dạy học đổi mới phải là một PPDH đổi mới Mà TBDH chính là phương tiện để đổi mới PPDH một cách hiệu quả Đổi mới
Trang 30PPDH hiện nay không phải là việc tìm ra một phương pháp hoàn toàn mới khác hẳn với các PPDH hiện hành Đổi mới PPDH là tìm cách tốt nhất phát huy hiệu quả của
hệ thống PPDH đang có trên cơ sở sử dụng các thành tựu khoa học - công nghệ mà đặc biệt là CNTT và truyền thông Các tiêu chí của đổi mới PPDH là: thay đổi cách thức dạy và cách thức học để có được hiệu quả tốt nhất; thay đổi cách thức tổ chức dạy và cách thức tổ chức học để có được hiệu quả tốt nhất; thay đổi các điều kiện để phát huy hiệu quả của các PPDH hiện hành; sử dụng công nghệ - kỹ thuật tiên tiến vào dạy học, đặc biệt là CNTT và truyền thông
Việc sử dụng BGĐT sẽ góp phần nâng cao tính trực quan của quá trình dạy học, thu hút sự chú ý của HS, định hướng cho hoạt động nhận thức của HS, việc sử dụng BGĐT để tiến hành các thí nghiệm (TN), thực hành sẽ giúp rèn luyện tính kiên trì, cẩn thận, khéo léo, cần cù và khả năng tự lực trong học tập cho HS Mỗi thành công trong mỗi TN sẽ làm tăng thêm tình yêu khoa học, lòng say mê nghiên cứu, mong muốn tìm kiếm kiến thức của HS
Từ những phân tích trên, ta có thể nhân thấy rõ rằng, BGĐT là một thành tố quan trọng trong quá trình dạy học Sử dụng BGĐT một cách hợp lí, đúng lúc, đúng chỗ sẽ đem lại hiệu quả cao trong dạy học Tuy nhiên, không phải ở bất cứ đâu, với bất cứ người nào việc sử dụng BGĐT cũng có hiệu quả Việc vận dụng nó còn phụ thuộc vào trình độ, sự sáng tạo mang tính nghệ thuật của mỗi GV và sự hỗ trợ hiệu quả của thiết bị trường học Hiện nay, để đáp ứng đổi mới chương trình và sách giáo khoa phổ thông, việc sử dụng các BGĐT thành thạo, có hiệu quả lại càng quan trọng, góp phần thúc đẩy việc đổi mới PPDH nhằm thực hiện có hiệu quả việc dạy
và học ở trường phổ thông
Tóm lại: BGĐT có vị trí quan trọng trong trường phổ thông, trong quá trình
dạy học, TBDH chịu sự chi phối của nội dung và PPDH Nội dung dạy học quy định những đặc điểm cơ bản của TBDH TBDH được lựa chọn để đáp ứng được nội dung chương trình, đồng thời cũng phải thoả mãn các yêu cầu về tính sư phạm, kinh
tế và yêu cầu về thẩm mĩ, sự an toàn cho GV và HS Mặt khác trong quá trình dạy học, nội dung và phương pháp không thể tách rời Do vậy, BGĐT bên cạnh việc làm thay đổi PPDH cũng ảnh hưởng, chi phối cả nội dung dạy học.Trong đổi mới PPDH theo hướng tích cực hoá hoạt động học tập của HS, bồi dưỡng năng lực thực
Trang 31hành, để HS có thể tự học, tự nghiên cứu, tìm tòi, khám phá kiến thức thì BGĐT giữ vai trò vô cùng quan trọng
1.3.3 Ưu và nhược điểm của BGĐT
* Ƣu điểm :
Với sự khác biệt giữa BGĐT và bài giảng truyền thống nhận thấy khi sử dụng BGĐT trong quá trình dạy học tạo ra được rất nhiều các ưu thế như :
- Tạo ra được môi trường học tập mới
Khi sử dụng BGĐT trong quá trình dạy học sẽ tạo được môi trường học tập mang tính mở và bình đẳng Ở đó, mọi học sinh đều được tạo điều kiện như nhau và phù hợp với khả năng nhận thức của từng học sinh BGĐT có thể sử dụng nhiều lần, sử dụng mọi nơi, mọi lúc, lặp lại từng phần cụ thể của từng người học Kích thước gọn nhẹ, dễ mang đi, dễ dàng sử dụng chỉ cần một máy tính với cấu hình vừa phải
- Phát huy được vai trò của người dạy và người học
Trong môi trường học tập mới đó, giáo viên đóng vai trò là người tổ chức, tư vấn,
hỗ trợ và khuyến khích quá trình học tập của học sinh Học sinh thực sự trở thành trung tâm của quá trình dạy học Ở đó, học sinh là chủ thể của quá trình dạy học Học sinh có thể học ở mọi lúc, mọi nơi, học tất cả những vấn đề mình quan tâm với tốc độ và thời gian phù hợp với khả năng của mình Phát huy được tính tích cực trong vấn đề tự học, tự nghiên cứu của học sinh
- Đổi mới được phương pháp dạy học và hình thức tổ chức dạy học
BGĐT giúp thay đổi phương pháp dạy học có hiệu quả, từ quan điểm người dạy là trung tâm sang lấy người học làm trung tâm của quá trình dạy học Người học tích cực, chủ động trong quá trình tìm hiểu, xây dựng kiến thức dưới sự tư vấn và hỗ trợ của giáo viên BGĐT cho phép triển khai tổ chức dạy học theo mô hình : “Một người dạy - nhiều người học” hoặc “ Nhiều người dạy – nhiều người học” Giúp cho học sinh có cơ hội lựa chọn cho mình một phương pháp học tập phù hợp nhất
Khi sử dụng BGĐT, giúp học sinh tiếp cận gần hơn với CNTT Học sinh có thể khai thác kiến thức thông qua rất nhiều kênh thông tin Các em có thể khai thác thông tin trên thư viên, trên BGĐT, trên Internet để có cái nhìn sâu sắc hơn về vấn
đề cần nghiên cứu từ trước Điều này cũng giúp cho giờ học thoải mái, gần gũi và thực tế hơn, đồng thời góp phần hạn chế, loại bỏ tính thụ động trong nhận thức của
Trang 32học sinh
* Nhƣợc điểm :
Tuy nhiên, không thể nói việc ứng dụng BGĐT trong dạy học Vật lí không
có những hạn chế Có thể nêu một số hạn chế thường gặp như sau:
- Chi phí đầu tư trang thiết bị, cơ sở vật chất lớn
- Đòi hỏi đội ngũ GV và HS phải có trình độ tin học, ngoại ngữ; nhất là tiếng Anh ở mức độ nhất định
- Thời gian để giáo viên soạn BGĐT rất nhiều
1.4 Xây dựng bài giảng điện tử
1.4.1 Qui trình xây dựng bài giảng điện tử
Có thể tóm tắt qui trình xây dựng BGĐT thành các bước sau :
- Xây dựng kịch bản sư phạm và kịch bản công nghệ
Tính hiệu quả của một BGĐT phụ thuộc vào cả hai yếu tố: ý tưởng sư phạm
và ý tưởng công nghệ Do vậy, để xây dựng được một BGĐT cần phải tích hợp một cách hài hòa giữa hai yếu tố trên
Kịch bản sư phạm được ví như linh hồn của BGĐT, mang lại một cái nhìn
xuyên suốt, nhất quán về tính logic của nội dung, cấu trúc các thông tin liên quan đến bài học, tính hợp lý, tương thích của các phương pháp, kỹ thuật triển khai quá trình dạy học, các hình thức giao tiếp, hoạt động của người dạy và người học xây dựng kịch bản sư phạm cần tính đến: mục tiêu của bài học (dạy học để sinh viên làm được gì, dạy học cái gì, như thế nào?, bằng phương tiện gì ?); nội dung của bài học (bao nhiêu là đủ, đâu là nội dung cốt lõi, cơ bản, bổ trợ ?); phương pháp triển khai (người dạy sẽ làm gì, người học sẽ phải làm gì, đặc điểm tương tác hoạt động giữa người dạy và người học trong từng giai đoạn triển khai là gì, những khó khăn
gì có thể người học sẽ mắc phải ?); hình thức triển khai (người học có thể học dưới những hình thức nào?); đặc điểm khái quát về đối tượng người học
Kịch bản công nghệ bao gồm toàn bộ các yếu tố kỹ thuật công nghệ thông
tin Xây dựng kịch bản công nghệ cần chọn lựa các công cụ đa phương tiện phù hợp (tránh lạm dụng các yếu tố công nghệ) giúp cho việc thể hiện nội dung được hiệu quả; lựa chọn giao diện thân thiện với người học; khả năng đáp ứng ý đồ sư phạm
về kỹ thuật và khả thi về kinh tế
Trang 33- Chọn lựa và chuẩn bị học liệu : lựa chọn, phân loại, sắp xếp toàn bộ học liệu
liên quan đến nội dung bài giảng theo tiêu chí phục vụ cho Nội dung cốt lõi-phải biết; Nội dung cơ bản-nên biết ; Nội dung nền-có thể biết, tham khảo ) Để có thể
tái sử dụng các tài nguyên nên tổ chức tài nguyên thành các Môđun và sắp xếp thành các thư mục riêng
- Số hóa các học liệu: sử dụng các công cụ, phần mềm để số hóa học liệu, cần lựa
chọn các định dạng phù hợp đảm bảo chạy trên mạng (chủ yếu trên Web)
- Chọn lựa, thiết kế đa phương tiện: lựa chọn và phối kết hợp các công cụ kỹ
thuật công nghệ phù hợp để thiết kế các học liệu của bài giảng đã được số hóa
- Đóng gói bài giảng theo chuẩn: chuẩn đóng gói bài giảng (đặc biệt là chuẩn
SCORM) cần thống nhất nhằm tạo thuận lợi cho việc quản lý và triển khai BGĐT
- Vận hành thử : Triển khai dạy học thí điểm bài giảng đã được số hóa, tích hợp
bài giảng điện tử trong dạy học truyền thống, phát hiện nhược điểm để chỉnh sửa cho phù hợp
1.4.2 Các phần mềm sử dụng thiết kế BGĐT
1.4.2.1 Yêu cầu về phương diện công cụ
Việc lựa chọn các công cụ thiết kế bài giảng điện tử sẽ rất quan trọng, các công cụ này phải đạt các tiêu chuẩn cơ bản như:
- Hiện đại: Phải là công cụ multimedia (kết hợp âm thanh, hình ảnh, hoạt
hình, video ), có vậy mới tạo ra những phần mềm có giá trị khoa học và tính sư phạm cao Có khả năng đóng gói theo chuẩn SCORM để có thể đưa vào các hệ quản lí bài giảng như Moodle, Blackboard, Ilias…
- Dễ thiết kế: Không đòi hỏi người viết phải là lập trình viên thành thạo với
các ngôn ngữ lập trình bậc cao, có vậy mới đáp ứng được khả năng Tin học chung của giáo viên và học sinh
1.4.2.2.Một số công cụ xây dựng bài giảng điện tử
Hiện nay, trên thị trường và trên Internet cung cấp rất nhiều phần mềm hỗ trợ xây dựng bài giảng điện tử, mỗi phần mềm đều có ưu và nhược điểm của nó, việc lựa chọn công cụ tốt không những dễ sử dụng, mà còn hỗ trợ nhiều tính năng mà không đòi hỏi phải lập trình bằng các ngôn ngữ bậc cao, không yêu cầu khả năng của người sử dụng phải được đào tạo một cách chính quy về Tin học Các phần
Trang 34mềm thông dụng hiện nay như là:
1) FrontPage Express: Phần mềm do hãng Microsoft (Mỹ) xây dựng, phần
mềm này rất phổ biến, dễ tìm kiếm
+ Ưu điểm: là phần mềm phổ biến, dễ sử dụng, hỗ trợ mạnh cho các tính năng đa
phương tiện, tương thích hoàn toàn với Windows và các ứng dụng trong bộ Microsoft office
+ Nhược điểm: Quản lý các Hyperlink kém, không có khả năng quản lý cấu trúc
Site; khả năng thể hiện đồng thời văn bản và các Applet kém
2) eXe: là phần mềm do CORE Education thuộc Trường Đại học Auckland
xây dựng
+ Ưu điểm: Rất phổ biến, dễ dùng, chuyển sang Web một cách dễ dàng (trong hộp
thoại Save as chọn HTML Document), quản lý được các Hyperlink; có khả năng các trình bày ký tự, hình ảnh đẹp mắt
+ Nhược điểm: Quản lý cấu trúc Website kém; hỗ trợ kém cho các Applet
3) Macromedia Dreamware: đây là phần mềm công cụ xây dựng Web
mang tính chuyên nghiệp cao
+ Ưu điểm: Dễ sử dụng, quản lý tốt các Hyperlink, cấu trúc Site, hỗ trợ mạnh cho
các tính năng đa phương tiện, ngoài ra hỗ trợ mạnh cho các ngôn ngữ lập trình các Applet Đặc biệt trong Macromedia Dreamware hỗ trợ cho bộ CourseBuilder, là một ứng dụng rất mạnh để tạo các trang kiểm tra trắc nghiệm với hình thức rất đa dạng và dễ sử dụng
+ Nhược điểm: Khả năng tạo các công thức toán học và các ký hiệu toán học, hóa
học kém
4) Microsoft Learning Content Development System
Nhưng trong luận văn này, chúng tôi lựa chọn phần mềm Microsoft Learning Content Development System (LCDS) Đây là một công cụ miễn phí cho phép cộng động giáo dục của Microsoft tạo ra các bài giảng trực tuyến tương tác chất lượng cao Phần mềm LCDS cho phép tất cả mọi người có thể xuất bản các bài giảng điện
tử bằng cách hoàn tất các mẫu thiết kế có sẵn đa dạng của LCDS, bao gồm nội dung, các hoạt động tương tác, các câu hỏi, trò chơi, biểu mẫu đánh giá, các hoạt hình, minh họa và nhiều hình thức đa phương tiện khác.Phần mềm LCDS cho phép
Trang 35xây dựng cấu trúc bài giảng của bạn, chọn mẫu thiết kế cho từng chủ đề, xác định tác quyền của bạn Bổ sung các hình ảnh, minh họa, phim hoặc âm thanh, chèn thêm các liên kết và các đối tượng khác.Sau khi xây dựng, bạn có thể xem thử bài học của mình dưới vai trò người học vào mọi lúc thuận tiện Sử dụng chế độ xem thử, bạn có thể kiểm tra và tương tác với toàn bài giảng như thật Nếu chưa ưng ý, bạn có thể chỉnh sửa theo ý bạn và lưu sản phẩm Sau khi hoàn thành bạn có thể xuất bài giảng và giới thiệu cho người học thông qua Web hoặc các hệ thông quản
lý giáo dục
LCDS cho phép xây dựng và chuyển giao nội dung bài giảng nhanh chóng, tiết kiệm thời gian và rất thích hợp Xây dựng nội dung Web tuân thủ theo chuẩn Sharable Content bject Reference Model ( SCORM) 1.2, có khả năng lưu trữ tại một
hệ thống quản lý đào tạo Có thể tải lên hoặc đính kèm các nội dung đã soạn sẵn Có thể lựa chọn rất nhiều mẫu soạn sẵn và mẫu bài tập tương tác dựa trên nền Silverlight Xây dựng cấu trúc và sửa chữa bài giảng dễ dàng mọi lúc, mọi nơi
Để có thể sử dụng được phần mềm LCDS khi thiết kế BGĐT, bạn cần cài đặt phần mềm vào máy tính của bạn Sau khi cài đặt, giao diện của chương trình khi khởi động
Hình 1.1 Màn hình phần mềm LCDS
Trên thanh công cụ có sẵn các nút lệnh tương ứng với các chức năng hỗ trợ bạn khi tạo hoặc sửa BGĐT rất thuận tiện
Trang 361.5 Thực trạng dạy học chương “Điện tích Điện trường, Vật lí 11 Cơ bản ở trường THPT
1.5.1 Mục đích điều tra
Để chuẩn bị cho việc thiết kế bài giảng điện tử hỗ trợ giảng dạy chương
“Điện tích Điện trường” Vật lí 11 cơ bản Trung học phổ thông, chúng tôi tiến hành tìm hiểu tình hình dạy và học của giáo viên và học sinh khi học chương “Điện tích – Điện trường” tại Trường Trung học phổ thông Quế Võ số I - Huyện Quế Võ - Tỉnh Bắc Ninh Mục đích của quá trình tìm hiểu là tìm ra những ưu nhược điểm của thực trạng dạy và học của giáo viên và học sinh khi học phần kiến thức này Ngoài ra, chúng tôi còn tìm hiểu về việc ứng dụng công nghệ thông tin của giáo viên và học sinh trong việc hỗ trợ dạy và học
1.5.2 Nội dung điều tra
Để đạt được mục đích đã đề ra, chúng tôi tiến hành tìm hiểu các vấn đề sau :
- Thực trạng thiết bị, cơ sở vật chất như phòng thí nghiệm, dụng cụ thí nghiệm phục vụ cho bộ môn Vật lí nói chung và cho phần kiến thức chương “Điện tích Điện trường” Vật lí 11 Cơ bản nói riêng
- Tìm hiểu về phương pháp giảng dạy của giáo viên và các phương tiện mà giáo viên sử dụng khi giảng dạy Vật lí nói chung và khi giảng dạy chương “Điện tích Điện trường” Vật lí 11 cơ bản nói riêng
-Tìm hiểu về tình hình học tập của học sinh khi học ở trên lớp và khi học ở nhà Tìm hiểu những khó khăn học sinh gặp phải khi học lý thuyết và khi làm bài tập, những sai lầm hay mắc phải của học sinh khi học chương “Điện tích Điện trường” Vật lí 11 cơ bản
- Tìm hiểu thiết bị công nghệ thông tin hỗ trợ cho việc dạy và học của học sinh; khả năng sử dụng máy tính, ứng dụng công nghệ vào dạy và học của giáo viên
và học sinh
1.5.3.Phương pháp điều tra
- Gặp gỡ ban giám hiệu trường và tổ trưởng tổ chuyên môn, tham quan phòng thí nghiệm Vật lí, phòng máy tính, phòng học có hỗ trợ công nghệ thông tin của Trường Trung học phổ thông Quế Võ số I - Huyện Quế Võ - Tỉnh Bắc Ninh
- Dự giờ, trao đổi với tổ chuyên môn và giáo viên bộ môn Vật lí của trường
Trang 37- Quan sát học sinh học trên lớp, gặp gỡ trao đổi trực tiếp với một số học sinh
- Tổng kết, phân tích số liệu thu thập từ sổ theo dõi sử dụng thiết bị thí nghiệm và CNTT hỗ trợ dạy học của giáo viên; Kết quả kiểm tra nhanh khả năng nắm bắt kiến thức của học sinh ngay sau giờ học
1.5.4.Kết quả điều tra
Sau khi tìm hiểu chúng tôi nhận thấy :
- Trường Trung học phổ thông Quế Võ số I - Huyện Quế Võ - Tỉnh Bắc Ninh là một trường công lập, được thành lập năm 1965, là một trong các trường lớn tại tỉnh Bắc Ninh Trường có cơ sở vật chất tương đối đầy đủ, có bề dày thành tích
về dạy và học Đội ngũ giáo viên giàu kinh nghiệm, có chuyên môn vững và tâm huyết với nghề Học sinh chăm chỉ, ham học hỏi Tỉ lệ học sinh đỗ tốt nghiệp, đại học và cao đẳng của học sinh trong trường hằng năm cao BGH rất quan tâm tới hoạt động dạy và học của giáo viên và học sinh, đặc biệt là vấn đề đổi mới phương pháp dạy và học của giáo viên và học sinh
- Trường có 01 phòng thí nghiệm phục vụ cho giảng dạy môn Vật lí, hằng năm được bổ sung thiết bị thí nghiệm đầy đủ Nhưng, các thiết bị thí nghiệm chưa được sắp xếp và được bảo quản hợp lý Không có nhân viên thí nghiệm chuyên trách nên thiết bị thí nghiệm không được bảo quản theo đúng quy trình, thiết bị thí nghiệm nhanh bị xuống cấp và thiếu độ chính xác khi sử dụng Vì vậy, các giáo viên còn ít sử dụng thí nghiệm khi giảng dạy
- Trường có 03 phòng máy vi tính được nối mạng, 03 phòng học được trang
bị thiết bị ứng dụng công nghệ trong dạy học như máy tính, máy chiếu…
Sau khi điều tra về ứng dụng CNTT trong dạy học Vật lí và tình hình dạy học chương “ Điện tích Điện trường” tại trường THPT Quế Võ số I bằng phiếu điều tra ( phiếu điều tra có trong phụ lục 1), kết quả thu được như sau :
- Số giáo viên được hỏi 10/10 ( 100%)
- Số giáo viên trả lời 10/10 (100%)
- Kết quả điều tra tình hình dạy học chương “ Điện tích Điện trường” :
Trang 38Bảng 1.2 Số liệu điều tra tình hình dạy học chương “ Điện tích Điện trường”
Nội dung 2 10/10 giáo viên không sử dụng
thí nghiệm Nội dung 3 9/10 giáo viên sử dụng phương
pháp thuyết trình
1/10 giáo viên sử dụng phương pháp nêu vấn đề
Nội dung 4 6/10 giáo viên gặp khó khăn khi
mô tả hiện tượng Vật lí
Nội dung 5 10/10 giáo viên không sử dụng
BGĐT
- Kết quả điều tra về tình hình ứng dụng CNTT trong dạy học Vật lí :
Bảng 1.3 Số liệu điều tra tình hình ứng dụng CNTT trong dạy học Vật lí
Qua số liệu điều tra cho thấy :
- Đối với giáo viên :
+ Khả năng sử dụng máy vi tính còn hạn chế (có đồng chí còn chưa biết sử dụng) Phần mềm mà giáo viên sử dụng chủ yếu là Word và PowerPoint
+ Giáo viên có sử dụng công cụ hỗ trợ giảng dạy như máy chiếu trong quá trình giảng dạy nhưng còn ít (chỉ sử dụng khi hội giảng) và chưa khai thác được hết các thế mạnh của công nghệ
+ Vật lí là môn khoa học thực nghiệm nên khi dạy và học cần có thiết bị thí nghiệm trực quan để rèn luyện cho học sinh phương pháp thực nghiệm Nhưng giáo
Trang 39viên còn ít sử dụng thí nghiệm, chủ yếu là mô tả hiện tượng Vật lí và các thí nghiệm Vật lí theo hình thức thuyết trình, kể chuyện
+ Chương “ Điện tích Điện trường” Vật lí 11 Cơ bản, về kiến thức rất trừu tượng, thí nghiệm hỗ trợ giảng dạy cho phần kiến thức này rất ít hoặc nếu có thì rất khó sử dụng nên giáo viên khi dạy chương này chủ yếu dùng phương pháp thuyết trình theo trình tự như sách giáo khoa
- Đối với học sinh :
+ Trong giờ học, học sinh chủ yếu nghe giảng, ghi chép và trả lời các câu hỏi mang tính tái tạo và vận dụng kiến thức Học sinh ít có cơ hội vận dụng các hiểu biết của mình đề xây dựng kiến thức mới và chiếm lĩnh kiến thức mới
+ Học sinh chưa biết cách trình bày các vấn đề bằng ngôn ngữ khoa học và chưa tự tin khi đưa ra quan điểm và ý kiến riêng của mình Học sinh cũng chưa biết
sử dụng kiến thức đã được trang bị để giải thích các hiện tượng xảy ra trong tự nhiên cũng như trong cuộc sống
+ Phần lớn học sinh chủ yếu học thuộc lòng các kiến thức sách giao khoa và thầy cô cung cấp, tiếp thu kiến thức một cách thụ động máy móc Nhận thức chủ yếu ở mức nhận biết, tái tạo và vận dụng
+ Khi học chương “Điện tích Điện trường” Vật lí 11 Cơ bản, học sinh rất khó khăn trong việc hình thành và tiếp thu khái niệm về điện trường, điện thế, hiệu điện thế Học sinh không hình dung ra được hình dạng đường sức điện và cách biểu diễn véc tơ cường độ điện trường tại một điểm trong điện trường…
Tóm lại, sau khi tìm hiểu về hoạt động dạy và học chương “ Điện tích Điện trường” Vật lí 11 Cơ bản tại Trường THPT Quế Võ số I tôi nhận thấy tồn tại một số vấn đề sau :
- Thiết bị thí nghiệm phục vụ cho dạy và học chương “ Điện tích Điện trường” còn rất ít và khó sử dụng
- Phương pháp được giáo viên sử dụng khi giảng dạy chương này chủ yếu là phương pháp thuyết trình
- Học sinh học thụ động, ít có cơ hội chủ động, tích cực tham gia xây dựng
và nắm bắt kiến thức
- Kỹ năng tin học của giáo viên và học sinh còn hạn chế nên chưa khai thác
Trang 40được các tính năng ưu việt của máy tính và các thiết bị công nghệ trong việc giảng dạy môn Vật lí và chưa phát huy tính tích cực, chủ động trong học tập của học sinh Giáo viên chủ yếu dùng máy tính để soạn thảo và trình chiếu bài giảng chủ yếu ở dạng văn bản
1.6 Kết luận chương 1
Nội dung của chương 1 đã trình bày khái quát những xu hướng đổi mới PPDH từ những nhận định có thể thấy rằng việc đổi mới PPDH cần phải đặt trong một hệ thống chứ không thể coi PPDH là một thành tố độc lập Định hướng cơ bản
về đổi mới PPDH Vật lí và các biện pháp thực hiện nhằm hoạt động hóa người học Đây là những yêu cầu cấp bách trong dạy học hiện nay để có thể đáp ứng được nhu cầu đào tạo con người trong thời kỳ mới
Giới thiệu những ứng dụng và vai trò của CNTT trong dạy học nói chung và dạy học Vật lí nói riêng trong kỷ nguyên của CNTT và truyền thông Giới thiệu một
số phần mềm hỗ trợ trong việc dạy học Vật lí tạo điều kiện cho GV dạy tốt và HS học tốt hơn
Việc ứng dụng CNTT trong dạy học giúp chúng ta đổi mới được nội dung và hình thức tổ chức dạy học, khắc phục những nhược điểm của PPDH mới
Đưa ra cơ sở lý thuyết để nghiên cứu xây dựng BGĐT chương “Điện tích Điện trường” Vật lí 11 Cơ bản Trung học phổ thông theo hướng tăng cường tính tích cực của học sinh
Những nghiên cứu trong chương I sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho việc thiết kế BGĐT chương “Điện tích Điện trường” nhằm hỗ trợ cho hoạt động tích cực, chủ động trong khi học Vật lí của học sinh phổ thông và cung cấp cho giáo viên một số tài liệu tham khảo phục vụ công tác dạy học, góp phần đẩy mạnh việc đổi mới phương pháp và hình thức tổ chức dạy học