1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Sử dụng phần mềm excel theo hướng tích cực hóa hoạt động học tập của sinh viên khi dạy học phương pháp toán thống kê trong thể dục thể thao

101 27 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 101
Dung lượng 1,16 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC ĐẶNG THỊ THUÝ NGA SỬ DỤNG PHẦN MỀM EXCEL THEO HƯỚNG TÍCH CỰC HOÁ HOẠT ĐỘNG HỌC TẬP CỦA SINH VIÊN KHI DẠY HỌC PHƯƠNG PHÁP TOÁN THỐNG KÊ TR

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC

ĐẶNG THỊ THUÝ NGA

SỬ DỤNG PHẦN MỀM EXCEL THEO HƯỚNG TÍCH CỰC HOÁ HOẠT ĐỘNG HỌC TẬP CỦA SINH VIÊN KHI DẠY HỌC PHƯƠNG PHÁP TOÁN THỐNG KÊ TRONG THỂ DỤC THỂ THAO

LUẬN VĂN THẠC SĨ SƯ PHẠM TOÁN

Chuyên ngành: Lý luận và phương pháp dạy học

(Bộ môn Toán)

Mã số : 60 14 10

Người hướng dẫn khoa học: TS LÊ PHÊ ĐÔ

HÀ NỘI - 2012

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Trước hết, em xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới TS Lê Phê Đô, thầy đã hướng dẫn tận tình và giúp đỡ em từ những ngày đầu cho đến khi hoàn thành luận văn này

Em xin gửi lời cảm ơn tới toàn thể các thầy, cô giáo trong Trường Đại học Giáo dục thuộc Đại học quốc gia Hà nội, các thầy cô đã giúp đỡ em trong thời gian học tập và làm luận văn

Em cũng xin gửi lời cảm ơn tới các thầy, cô giáo Trường ĐHSP TDTT

Hà Nội, đặc biệt là Ban giám hiệu đã tạo mọi điều kiện và giúp đỡ em tìm hiểu thực tế, tổ chức thực nghiệm liên quan đến luận văn

Cuối cùng em xin chân thành cảm ơn tới gia đình và bạn bè đã giúp đỡ

và động viên suốt quá trình học tập và làm luận văn này

Hà Nội, tháng 5 năm 2012

Tác giả

Đặng Thị Thúy Nga

Trang 3

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN Viết tắt Viết đầy đủ

Trang 4

MỤC LỤC

Trang

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Mục đích nghiên cứu 3

3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu 3

4 Giả thuyết khoa học 3

5 Nhiệm vụ nghiên cứu 4

6 Phương pháp nghiên cứu 4

7 Đóng góp của luận văn 5

8 Cấu trúc của luận văn 6

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 7

1.1 Hoạt động học tập của sinh viên 7

1.1.1 Khái niệm hoạt động học 7

1.1.2 Đặc điểm chung của hoạt động học tập ở sinh viên 9

1.1.3 Động cơ của hoạt động học tập của sinh viên 9

1.2 Định hướng đổi mới phương pháp dạy học đối với sinh viên 12

1.2.1 Nghiên cứu lý luận về đổi mói phương pháp dạy học đối với sinh viên 12

1.2.2 Lựa chọn phương pháp dạy học 16

1.3 Tính tích cực học tập của sinh viên 19

1.3.1 Khái niệm về tính tích cực 19

1.3.2 Sự cần thiết phát huy tính tích cực của sinh viên trong quá trình dạy học 20

1.3.3 Một số biện pháp phát huy tính tích cực học tập của học sinh, sinh viên 22

1.3.4 Biểu hiện tính tích cực học tập của sinh viên 23

1.4 Thực trạng dạy học phương pháp toán thống kê trong TDTT ở các trường thể thao hiện nay 25

1.4.1 Sơ lược về toán thống kê 25

1.4.2 Nghiên cứu nội dung dạy học toán thống kê trong thể dục thể thao 26

1.4.3 Thực trạng dạy học toán thống kê trong TDTT hiện nay 27

Trang 5

1.5 Phần mềm Excel ứng dụng vào dạy học toán thống kê 29

1.6 Kết luận của chương 1 30

Chương 2: MỘT SỐ T NH HUỐNG SỬ DỤNG PHẦN MỀM EXCEL THEO HƯỚNG TÍCH CỰC H A HOẠT ĐỘNG HỌC TẬP CỦA SINH VIÊN TRONG DẠY HỌC MÔN PHƯƠNG PHÁP TOÁN THỐNG KÊ TRONG THỂ DỤC THỂ THAO 31

2.1 Một số nguyên tắc khi sử dụng phần mềm Excel trong dạy học phương pháp toán thống kê trong TDTT theo hướng tích cực hóa hoạt động học tập của SV 31

2.2 Một số biện pháp phát huy tính tích cực của SV khi học phương pháp toán thống kê trong TDTT có sử dụng phần mềm Excel 46

2.3 Kết luận chương 2 72

Chương 3 : THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 73

3.1 Mục đích, tổ chức, kế hoạch và nội dung thực nghiệm sư phạm 73

3.1.1 Địa điểm và thời gian tiến hành thực nghiệm 73

3.1.2 Mục đích thực nghiệm 73

3.1.3 Đối tượng thực nghiệm 73

3.1.4 Phương pháp đánh giá kết quả thực nghiệm 74

3.1.5 Tổ chức thực nghiệm sư phạm 74

3.1.6 Nội dung thực nghiệm sư phạm 75

3.2 Đánh giá kết quả thực nghiệm sư phạm 87

3.2.1 Bài kiểm tra đánh giá 87

3.2.2 Phân tích kết quả thực nghiệm 89

3.3 Kết luận chương 3 92

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 93

1 Kết luận 93

2 Khuyến nghị 93

TÀI LIỆU THAM KHẢO 94

Trang 6

Dạy học toán với sự hỗ trợ của CNTT hay cụ thể là các phần mềm dạy học góp phần tạo nên môi trường học tập mang tính tương tác cao, giúp sinh viên học tập hiệu quả hơn, tích cực hơn Dạy học có ứng dụng CNTT-TT có thể đạt hiệu quả học tập cao như mong muốn

Chiến lược phát triển giáo dục 2001- 2010 (Ban hành kèm theo quyết định số 201/ 2001/ QĐ – Ttg ngày 28/12/2001 của thủ tướng chính phủ) , ở mục 5.2 ghi rõ : “Đổi mới và hiện đại hoá phương pháp giáo dục Chuyển từ việc truyền thụ tri thức thụ động thầy giảng - trò ghi sang hướng dẫn người học chủ động tư duy trong quá trình tiếp cận tri thức; dạy cho người học phương pháp tự học, tự thu nhận thông tin một cách có hệ thống và có tư duy phân tích, tổng hợp; phát triển năng lực của mỗi cá nhân; tăng cường tính chủ động, tính tự chủ của học sinh, sinh viên trong quá trình học tập, ‟‟

Để đạt được mục tiêu giáo dục như đã nêu trong luật giáo dục và các nghị quyết của trung ương Đảng, Bộ giáo dục và đào tạo đã phát động phong trào đổi mới giáo dục, nhấn mạnh vào đổi mới dạy học trong toàn quốc Trong những năm gần đây, phong trào đổi mới phương pháp dạy học đã được đẩy mạnh ở tất cả các cấp học bậc học nói chung ở cao đẳng - đại học nói riêng và đã đạt được những thành tựu đáng kể

Trang 7

Tại các trường cao đẳng - đại học phong trào đổi mới phương pháp dạy học cũng đã diễn ra rất mạnh mẽ Rất nhiều khoa, trường chuyên nghiên cứu

về phương pháp dạy học đã được thành lập Ví dụ như Đại học Giáo dục thuộc ĐHQG Hà Nội có rất nhiều chuyên nghành về các phương pháp dạy học của các bộ môn cụ thể Giảng viên của trường đã đi sâu vào việc nghiên cứu và áp dụng các phương pháp dạy học tích cực vào dạy học toán Cho tới nay nhìn chung cách dạy môn toán ở các trường cao đẳng, đại học đã có nhiều chuyển biến tích cực, tuy nhiên vẫn còn nhiều nghiên cứu cần tiếp tục Đặc biệt là dạy toán tích hợp được các phần mềm dạy học để phát triển tư duy và vận dụng được phương pháp dạy học tích cực cho HS, SV

Ngày nay với sự phát triển mạnh mẽ của tin học các tác giả nghiên cứu lâu năm về môn phương pháp toán thống kê trong TDTT đã kịp thời bổ sung vào nội dung dạy học của mình toán thống kê gắn liền với tin học Có rất nhiều phần mềm dạy học toán thống kê như SPSS, SAS, Minitab, Excel đặc biệt là Excel Các GS, TS và các giáo viên đã nghiên cứu về lĩnh vực này và thấy được lợi ích và hiệu quả của phần mềm Excel trong toán thống kê Vì đây là phần mềm thông dụng đều được học trong hầu hết các trường chuyên nghiệp, chương trình này rất thiết thực trong việc thực hiện các đề tài khoa học của sinh viên, học viên cao học và nghiên cứu sinh về sử lý số liệu, nhờ thực hiện chương trình này chắc chắn sẽ rút ngắn thời gian tính toán rất nhiều lại đảm bảo độ chính xác cao, góp phần nâng cao chất lượng dạy học, nâng cao trình độ tin học của sinh viên, nâng cao chất lượng đề tài khoa học

Đặc biệt với môn phương pháp thống kê trong TDTT thì việc sử dụng CNTT như: Excel, Word, Powerpoint, có ý nghĩa rất lớn trong quá trình học Đối tượng là sinh viên trường thể dục thể thao những phần mềm sử dụng trong dạy học cần thông dụng, dễ thực hành Phần mềm Excel giúp cho các số liệu được tính toán một cách chính xác và nhanh gọn hơn Các hàm thống kê trên Excel rất đơn giản, kết quả thu được chính xác Nếu không sử dụng phần

Trang 8

mềm thì việc tra cứu các thông số thống kê chỉ hạn chế trong bảng của sách giáo trình Đó là những mặt rất tiện ích của CNTT, điều đó giúp cho sinh viên nắm vững hơn nội dung tin học, giúp cho tính tích cực học tập của sinh viên

có điều kiện tăng lên rất nhiều so với việc không sử dụng CNTT, đặc biệt là phần mềm Excel

Với những lý do trên, tên đề tài được chọn là:“Sử dụng phần mềm

Excel theo hướng tích cực hoá hoạt động học tập của sinh viên khi dạy học phương pháp toán thống kê trong thể dục thể thao”

2 Mục đích nghiên cứu

Đề xuất phương án sử dụng phần mềm Excel khi dạy học phương pháp toán thống kê trong thể dục thể thao nhằm phát huy tính tích cực học tập của sinh viên trong các trường thể thao để nâng cao hiệu quả của quá trình dạy học, luyện tập và nghiên cứu thể thao

3 Khách thể và đối tƣợng nghiên cứu

3.1 Khách thể nghiên cứu

Quá trình dạy học phương pháp toán thống kê trong TDTT với sự hỗ trợ của phần mềm Excel

3.2 Đối tượng nghiên cứu

Hoạt động học tập và nghiên cứu của giảng viên và sinh viên trong trường TDTT khi dạy học nội dung “Phương pháp toán thống kê trong TDTT ” với sự hỗ trợ của phần mềm Excel

4 Giả thuyết khoa học

Khi dạy học nội dung phương pháp toán thống kê trong TDTT ở các trường thể dục thể thao, nếu tổ chức được các hoạt động học tập và nghiên cứu với sự hỗ trợ của phần mềm Excel thì sinh viên có thể tích cực hoá hoạt động học tập của mình từ đó nâng cao chất lượng dạy học và luyện tập thể thao của sinh viên

Trang 9

5 Nhiệm vụ nghiên cứu

5.1 Nghiên cứu lý luận và những phương pháp dạy học tích cực, đi sâu vào phương pháp dạy học tích cực đối với đối tượng là sinh viên TDTT

5.2 Quán triệt được chương trình, nội dung, yêu cầu dạy học phương pháp toán thống kê trong trường thể dục thể thao

5.3 Thiết kế một số tình huống dạy học phương pháp toán thống kê trong thể dục thể thao có sử dụng phần mềm Excel theo hướng của đề tài

5.4 Điều tra thực trạng dạy học toán với sự hỗ trợ của phần mềm dạy học và

dạy học toán thống kê nói riêng với sự hỗ trợ của phần mềm Excel

5.5 Thực nghiệm sư phạm:

- Sử dụng một số tình huống đã soạn có sử dụng phần mềm Excel theo hướng tích cực hoá hoạt động học tập của sinh viên thực nghiệm tại trường ĐHSP TDTT Hà Nội So sánh với việc dạy bằng phương pháp dạy học thông thường không sử dụng phần mềm Excel để kiểm nghiệm tính khả thi và hiệu quả của đề tài

- Tìm hiểu những khó khăn của GV và SV trong dạy học phương pháp toán thống kê trong TDTT; kiểm chứng giả thuyết khoa học về sử dụng phần mềm Excel khi dạy học toán thống kê trong TDTT ở các trường thể thao

6 Phương pháp nghiên cứu

6.1 Nghiên cứu lý luận: Nghiên cứu các sách , báo, tạp chí thuộc 4 loại:

6.1.1 Các văn kiện của Đảng và nhà Nước, của Bộ GD- ĐT có liên quan đến

việc dạy và học toán ở trường thế dục thể thao

6.1.2 Các sách, bài báo, về khoa học toán học liên quan đến đề tài

6.1.3 Các sách, bài báo về giáo dục học môn toán, về tâm lý học, giáo dục

học liên quan đến đề tài

6.1.4 Các công trình nghiên cứu, các vấn đề có liên quan trực tiếp đến đề tài

của luận văn

Trang 10

6.2 Phương pháp quan sát - điều tra

6.2.1 Thăm lớp, dự giờ, quan sát việc dạy của GV và việc học của SV trong

quá trình dạy học nội dung phương pháp toán thống kê trong TDTT và không

có sự hỗ trợ của phần mềm Excel

6.3 Thực nghiệm sư phạm

6.3.1 Tổ chức thực nghiệm sư phạm có đối chứng thông qua các lớp học thực

nghiệm và các lớp học đối chứng trên cùng một lớp đối tượng nhằm kiểm chứng hai quá trình dạy học nội dung phương pháp toán thống kê trong TDTT

có sử dụng phần mềm Excel và không sử dụng phần mềm Excel

6.3.2 Phân tích xử lý kết quả điều tra của GV thực nghiệm sư phạm

6.4 Phương pháp toán thống kê

Sử dụng phương pháp toán thống kê trong xử lý kết quả thực nghiệm

sư phạm đối với SV trong dạy học “ Phương pháp toán thống kê trong TDTT ” với sự hỗ trợ của phần mềm Excel

7 Đóng góp của luận văn

+ Đưa ra những biểu hiện về tính tích cực học tập của sinh viên

+ Xác định được các biện pháp sử dụng CNTT trong dạy học phương pháp toán thống kê trong TDTT và ích lợi của nó

+ Đề xuất các biện pháp, các tình huống sử dụng phần mềm Excel trong dạy học nội dung “Phương pháp toán thống kê trong TDTT” đối với SV thể thao nhằm phát huy tính tích cực học tập của SV, góp phần nâng cao chất lượng học tập và luyện tập của SV thể thao

Trang 11

Về mặt thực tiễn

+ Tổ chức dạy học các tiết cụ thể theo định hướng đã nêu, biên soạn tài liệu hướng dẫn GV và SV sử dụng phần mềm Excel khi dạy học phương pháp toán thống kê trong TDTT

+ Luận văn góp phần đổi mới cách thức của phương pháp dạy học toán thống kê, chứng minh tính hiệu quả của việc ứng dụng CNTT-TT đặc biệt là phần mềm Excel khi dạy học toán nhằm phát huy tính tích cực của SV thể thao

8 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, khuyến nghị, tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn được trình bày trong ba chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn

Chương 2: Một số tình huống sử dụng phần mềm Excel theo hướng tích cực hóa hoạt động học tập của sinh viên trong dạy học môn “phương pháp toán thống kê trong TDTT”

Chương 3: Thực nghiệm sư phạm

Trang 12

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1.1 Hoạt động học tập của sinh viên

1.1.1 Khái niệm hoạt động học

Con người có rất nhiều hoạt động trong cuộc sống như: hoạt động lao động, hoạt động học tập, hoạt động vui chơi, hoạt động nghiên cứu khoa học… Ở mỗi lứa tuổi khác nhau sẽ có một hoạt động chủ đạo chi phối các hoạt động khác.Ở lứa tuổi học sinh, sinh viên hoạt động học tập giữ vai trò chủ đạo

Hoạt động học: Là hoạt động đặc thù của con người được điều khiển bởi mục đích tự giác là lĩnh hội những tri thức, kỹ năng, kỹ xảo mới, những giá trị, những hình thức hành vi và những dạng hoạt động nhất định

Theo tâm lý học thì hoạt động là sự tác động của con người vào thế giới khách quan tạo ra sự thay đổi cả con người và thế giới khách quan trong đó con người là chủ thể còn thế giới khách quan là khách thể hay nói cách khác

là đối tượng của hoạt động

Hoạt động học với sinh viên: Hoạt động học tập là hoạt động chuyên

huy động nội lực của bản thân (động cơ, ý chí, …) càng phát huy cao bao nhiêu thì việc tái tạo càng diễn ra tốt bấy nhiêu Do đó hoạt động học làm thay

Trang 13

đổi người học Ai học thì người đó phát triển, không ai học thay thế được, người học cần phải có trách nhiệm với chính bản thân mình

Có rất nhiều định nghĩa khác nhau về hoạt động học tập: theo N.V.Cudomina coi học tập là nhận thức cơ bản của sinh viên được thực hiện dưới sự hướng dẫn của cán bộ giảng dạy Trong quá trình đó, việc nắm vững nội dung cơ bản các thông tin mà thiếu nó thì không thể tiến hành được hoạt động nghề ngiệp tương lai Theo I B Intenxon xác định học tập là loại hoạt động đặc biệt của con người có mục đích nắm vững những tri thức, kĩ năng,

kĩ xảo và các hình thức nhất định của hành vi Nó bao g m cả ý nghĩa nhận thức và thực tiễn Trong các tài liệu tâm lí học gần đây nêu ra các vấn đề cơ bản nói lên bản chất của hoạt động học tập:

- Đối tượng của hoạt động học tập là các tri thức kĩ năng kĩ xảo

- Mục đích của hoạt động này hướng vào làm thay đổi chính chủ thể của hoạt động

- Hoạt động học tập là hoạt động lĩnh hội tri thức, kĩ năng, kĩ xảo Hoạt động học tập không phải là hoạt động chỉ tiếp thu những tri thức của bản thân hoạt động Hoạt động học tập của sinh viên cũng có bản chất như vậy và có thể định nghĩa: Hoạt động học tập ở đại học là một loại hoạt động tâm lí được tổ chức một cách độc đáo của sinh viên nhằm mục đích có ý thức là chuẩn bị trở thành người chuyên gia phát triển toàn diện sáng tạo và có trình độ nghiệp vụ cao

Theo A.N Lêônchep, một hoạt động luôn có chủ thể của hoạt động, động cơ của hoạt động, mục đích của hoạt động, điều kiện để thực hiện hoạt động, với mỗi thành tố trong cấu trúc của hoạt động có các hoạt động, hành động và thao tác tương ứng liên hệ mật thiết với nhau

Hoạt động học là một hoạt động đặc trưng trong quá trình dạy học nên

nó cũng có cấu trúc chung của một hoạt động Tuy nhiên trong mỗi thành tố lại có những đặc trưng riêng như :

- Động cơ học tập : Lĩnh hội tri thức, kỹ năng, kỹ xảo, hoàn thiện bản thân

- Mục đích: Sinh viên phải vượt qua những giới hạn kiến thức đã có của mình

để đạt tới những cái mà các em chưa có

Trang 14

- Sinh viên giải quyết các nhiệm vụ của mình nhờ các hành động học tập

- Các hành động học tập được thực hiện bởi các thao tác tư duy đặc trưng như: phân tích, tổng hợp, so sánh, tương tự hoá, khái quát hoá

- Hình thức: Hoạt động học tập điển hình được diễn ra trên lớp mà giáo viên giữ vai trò hướng dẫn, điều khiển, chỉ đạo

Hơn nữa hoạt động học luôn chịu sự tác động của môi trường, một môi trường chứa đựng thông tin mà chủ thể cần phải tự giác, tích cực chọn lập và

sử lý thông tin đó Hoạt động học tập luôn có động cơ học tập, mục đích học tập, hành động học tập và hình thức học tập tương ứng Hoạt động học gắn bó mật thiết với hoạt động dạy

1.1.2 Đ c điểm chung của hoạt động học tập sinh viên

Hoạt động học tập của sinh viên có tính chất độc đáo về mục đích và kết quả hoạt động Đó là, khác với lao động, học tập không làm thay đổi đối tượng mà thay đổi chính bản thân mình Sinh viên học tập để tiếp thu các tri thức khoa học, hình thành những kỹ năng, kỹ xảo nghề nghiệp, phát triển những phẩm chất nhân cách người chuyên gia tương lai

+ Hoạt động học tập được diễn ra trong điều kiện có kế hoạch vì nó phụ thuộc vào nội dung, chương trình, mục tiêu, phương thức và thời hạn đào tạo

+ Phương tiện hoạt động học tập là thư viện, sách vở, máy tính…

+ Tâm lý diễn ra trong hoạt động học tập của sinh viên với nhịp độ căng thẳng, mạnh mẽ về trí tuệ

+ Hoạt động học tập của sinh viên mang tính độc lập cao cái cốt lõi của hoạt động học tập của sinh viên là sự tự ý thức về động cơ mục đích, biện pháp học tập

1.1.3 Động cơ của hoạt động học tập của sinh viên

Động cơ là cái thúc đẩy con người hoạt động đạt mục đích nhất định Động cơ học tập là những hiện tượng, sự vật trở thành cái kích thích người sinh viên đạt kết quả nhận thức và hình thành, phát triển nhân cách

Trang 15

Có 3 ngu n gốc tác động đến động cơ học tập:

Ngu n gốc bên ngoài xác định bởi nhu cầu của con người Trong hoạt động học tập có thể là nhu cầu thông tin, nhu cầu nhận thức, nhu cầu xã hội + Ngu n gốc bên ngoài là những điều kiện xã hội của hoạt động sống, yêu cầu, hy vọng, khả năng có quan hệ tới con người

+ Ngu n gốc cá nhân xác định bởi hứng thú, mong muốn, tâm thế, niềm tin, thế giới quan, biểu tượng về bản thân…

Dựa vào mục đích học tập, các nhà tâm lí nghiên cứu lĩnh vực này chia làm 5 loại động cơ chủ yếu: động cơ xã hội, động cơ nhận thức khoa học, động cơ nghề nghiệp, động cơ khẳng định và động cơ vụ lợi Sự hình thành động cơ học tập: Động cơ học tập không có sẵn hay tự phát, mà được hình thành dần dần trong quá trình học tập của học sinh dưới sự tổ chức, hướng dẫn của giáo viên Nhu cầu giải quyết được mâu thuẫn giữa một bên là “phải hiểu biết” và bên kia là “chưa hiểu biết” (hoặc hiểu biết chưa đủ, chưa đúng)

là nguyên nhân chính yếu để hình thành động cơ học tập ở học sinh Ngoài ra, động cơ nói chung và động cơ học tập nói riêng thường liên hệ mật thiết tới hứng thú của mỗi người Nhờ có hứng thú mà động cơ ngày càng mạnh mẽ

Vì thế vai trò của hứng thú trong học tập là rất lớn Trong học tập chẳng những cần có động cơ đúng đắn mà còn phải có hứng thú bền vững thì học sinh mới có thể tiếp thu tri thức hiệu quả nhất Như đã phân tích ở trên, động

cơ học được chia thành hai loại là động cơ bên ngoài (động cơ xã hội) và động cơ bên trong (động cơ hoàn thiện tri thức) Hoạt động học tập được thúc đẩy bởi động cơ hoàn thiện tri thức thường không chứa đựng xung đột bên trong Có thể có những khó khăn trong quá trình học hỏi đòi hỏi phải có nỗ lực ý chí để khắc phục, nhưng là khắc phục các trở ngại bên ngoài chứ không hướng vào đấu tranh với chính bản thân Do đó, chủ thể của hoạt động học không có những căng thẳng tâm lý Hơn nữa, động lực nội tâm còn chứng tỏ được khả năng “tự quyết định”, làm phát sinh tinh thần độc lập, tự giải quyết

Trang 16

các trở ngại, đem lại cho người học nhiều sáng kiến Nên hoạt động học tập được thúc đẩy bởi động cơ này được cho là tối ưu trong lĩnh vực sư phạm Còn Hoạt động học tập được thúc đẩy bởi động cơ quan hệ xã hội ở mức độ nào đó mang tính cưỡng bức, có những lực chống đối nhau (như kết quả học tập không đáp ứng mong muốn của cha mẹ) Vì thế nó gắn liền với sự căng thẳng tâm lý, không đóng góp nhiều cho óc sáng tạo và khả năng giải quyết các trở ngại Hơn nữa nó đòi hỏi phải đấu tranh với chính bản thân nên dễ vi phạm nội quy, lơ là việc học… Tuy nhiên, xét về mặt lý luận, mỗi hoạt động được thúc đẩy bởi một động cơ nhất định Hoạt động học hướng đến là những tri thức khoa học, thì chính nó (tức là đối tượng của hoạt động học) trở thành động cơ của hoạt động ấy Động cơ hoàn thiện tri thức là động cơ chính của hoạt động học tập Nhưng trên thực tế còn có động cơ quan hệ xã hội Nó

“bám vào”, “hiện thân” trên động cơ hoàn thiện tri thức, trở thành một bộ phận của động cơ hoàn thiện tri thức Khi động cơ hoàn thiện tri thức được đáp ứng thì đ ng nghĩa với nó là động cơ quan hệ xã hội cũng được thoả mãn

Cả hai loại động cơ này đều xuất hiện trong quá trình học tập và trong từng hoàn cảnh cụ thể, điều kiện nào đó mà động cơ này hay động cơ kia chiếm vị trí quan trọng hơn, nổi lên và chiếm ưu thế trong thứ bậc động cơ Vậy dựa trên nền tảng đó, ta có thể đưa ra một số phương cách cụ thể để hình thành động cơ học tập cho học sinh trung học Khái niệm động cơ học tập: Ý tưởng nghiên cứu động cơ hoạt động của con người đã t n tại rất lâu trong lịch sử tâm lý học và có nhiều cách lý giải khác nhau về động cơ theo thuyết phân tâm học: Động lực thúc đẩy hoạt động của con người là vô thức Ngu n gốc

vô thức là những bản năng nguyên thủy mang tính sinh vật và nhấn mạnh vai trò của các xung năng tính dục Theo thuyết hành vi: với mô hình "kính thích

- phản ứng", coi kích thích là ngu n gốc tạo ra phản ứng hay gọi là động cơ Theo J Piaget: Động cơ là tất cả các yếu tố thúc đẩy cá thể hoạt động nhằm đáp ứng nhu cầu và định hướng cho hoạt động đó Theo thuyết tâm lý

Trang 17

hoạt động : những đối tượng nào được phản ánh vào óc ta mà có tác dụng thúc đẩy hoạt động, xác định phương hướng hoạt động để thỏa mãn nhu cầu nhất định thì được gọi là động cơ hoạt động Đề tài này chủ yếu đi theo hướng của tâm lý hoạt động nên việc đi tìm động cơ sẽ liên quan đến nhu cầu, hứng thú, …Vì vậy cần tìm hiểu thêm các khái niệm này Nhu cầu: là sự đòi hỏi tất yếu mà con người thấy cần phải thỏa mãn trong những điều kiện nhất định để

t n tại và phát triển Hứng thú: là thái độ đặc biệt của cá nhân đối với đối tượng nào đó, vừa có ý nghĩa trong cuộc sống, vừa đem lại cho cá nhân sự hấp dẫn về mặt tình cảm Vậy thì khi con người có nhu cầu học tập, xác định được đối tượng cần đạt thì xuất hiện động cơ học tập Động cơ học tập được thể hiện ở đối tượng của hoạt động học, tức là những tri thức, kỹ năng, kỹ xảo

… mà giáo dục đem lại Nhiều nhà tâm lý học đều khẳng định: hoạt động học tập của học sinh được thúc đẩy bởi nhiều động cơ Các động cơ này tạo thành cấu trúc xác định có thứ bậc của các kích thích, trong đó có một số động cơ là chủ đạo, cơ bản, một số động cơ khác là phụ, là thứ yếu

1.2 Định hướng đổi mới phương pháp dạy học đối với sinh viên

1.2.1 Nghiên cứu lý luận về đổi mói phương pháp dạy học đối với sinh viên

Trong chiến lược phát triển giáo dục của quốc gia, Đảng ta đã khẳng định những giá trị to lớn và có ý nghĩa quyết định của nhân tố con người đối với sự phát triển bền vững của mọi lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hoá, Hội nghị lần thứ IV (1993), ban chấp hành Trung ương (khoá VIII) đã xác định

“Hướng b i dưỡng và phát huy nhân tố con người Việt Nam là không ngừng gia tăng tính tự giác, năng động, tự chủ, phát huy sức mạnh bên trong của mỗi

cá nhân kết hợp với sức mạnh của cả cộng đ ng Con người phát triển cao về trí tuệ, cường tráng về thể chất, phong phú về tinh thần, trong sáng về đạo đức

là động lực của sự nghiệp xây dựng xã hội mới, đ ng thời là mục tiêu của Chủ nghĩa xã hội ”

Trang 18

Chất lượng dạy học phụ thuộc vào nhiều thành tố trong một hệ thống bao g m: Mục tiêu đào tạo, nội dung đào tạo, phương pháp dạy học, thầy và hoạt động của thầy, trò và hoạt động của trò, môi trường giáo dục… Trong đó phương pháp dạy học là thành tố trung tâm, giảng viên phải am hiểu sâu sắc nội dung dạy học, làm chủ kiến thức, biết chế biến nó theo ý đ sư phạm và biết cách truyền tải nó đến với sinh viên Mặt khác sinh viên là chủ thể trong học tập và luyện tập Chủ thể phải tự giác, tích cực, chủ động và sáng tạo

liệu khoa học và chuyển tải tài liệu đó đến với sinh viên trên cơ sở tổ chức, tác động điều khiển hoạt động nhận thức của sinh viên nhằm giúp họ lĩnh hội nội dung dạy học Giảng dạy và học tập có mối quan hệ chặt chẽ với nhau Kết quả học của người học quyết định việc lựa chọn phương pháp dạy của người dạy Sử dụng phương pháp nào là phụ thuộc vào đối tượng học, mục đích đào tạo, nội dung môn học, nội dung từng bài…

Đổi mới phương pháp dạy học là nhu cầu tất yếu của giảng viên, bởi vì đổi mới là sự cải tiến, nâng cao chất lượng phương pháp dạy học đang sử dụng để đóng góp nâng cao chất lượng hiệu quả của việc dạy học, là sự bổ sung, phối hợp nhiều phương pháp dạy học để khắc phục mặt hạn chế của phương pháp đã và đang sử dụng nhằm đạt mục tiêu dạy học, là thay đổi phương pháp đã và đang sử dụng bằng phương pháp ưu việt hơn, đem lại hiệu quả dạy học cao hơn Vì thế, đổi mới phương pháp dạy học được xác định trong các văn kiện của Đảng, Nhà nước mà Bộ Giáo dục và Đào tạo đang chỉ đạo triển khai nhằm đáp ứng yêu cầu của mục tiêu và nội dung giáo dục mới

Phương pháp dạy học hiện nay không thể tiếp tục truyền thụ từ việc

áp đặt một chiều từ người dạy mà phải sử dụng phương pháp dạy tích cực, phát huy tính tích cực của sinh viên Đó là đổi mới phương pháp dạy học còn được gọi là “Dạy học hướng vào người học” hay “Dạy lấy người học làm trung tâm”

Trang 19

“Dạy học hướng vào người học” là cụm từ được dùng để xác định sự đổi mới của phương pháp dạy học hiện nay trong nhà trường Đó là tư tưởng,

là sự định hướng cho dạy và học, phương pháp mới này khuyến khích sinh viên tự học hỏi, tự phát huy sáng kiến, giảng viên đóng vai trò hướng dẫn “Dạy học lấy người học làm trung tâm” bao g m

- Tập trung phương pháp giảng dạy của giảng viên dựa vào các thành quả của hoạt động nghiên cứu khoa học, quy trình đã được chứng minh

- Áp dụng các phương pháp dạy học theo từng hệ học (chính quy, hệ đào tạo đại học dành cho cán bộ đã tốt nghiệp bậc trung học, tại chức, )

- Phát triển liên tục toàn hệ thống trường để đạt được hệ thống giáo dục ngày càng tốt hơn

- Học cách trở thành sinh viên năng động thay vì là sinh viên thụ động

- Khuyến khích sinh viên năng động trong việc giáo dục bản thân

- Dạy sinh viên cách tư duy độc lập chứng tỏ được sự hữu hiệu của bài học

- Dạy sinh viên kỹ năng vận dụng thông tin (kiến thức) vào thực tế thay vì chỉ thu nhận kiến thức

- Chú trọng giáo dục kỷ luật và đạo đức cho sinh viên, vì nếu có tài mà không

có đức thì cũng chỉ là người vô dụng mà thôi

viên đó là:

phương pháp dạy học, với nhận thức đúng đắn, với tinh thần trách nhiệm và

sự quyết tâm cao, kỹ năng sử dụng thiết bị dạy học và tổ chức hướng dẫn sinh viên học tập tốt Đó là những phẩm chất cần thiết của người thầy Kiến thức của giảng viên đã trở thành những đặc điểm quan trọng trong công tác giáo dục đòi hỏi giảng viên phải hội đủ các điều kiện về kiến thức, khả năng giảng dạy, lòng nhiệt thành, đức tính cần cù Bên cạnh đó, giảng viên phải có kỹ năng tổ chức hướng dẫn sinh viên trong lớp học có kỹ năng sử dụng đ dùng

Trang 20

dạy học, có năng lực tự học, thu thập thông tin phong phú của thời đại để phục vụ yêu cầu dạy học

Giảng viên phải xác định được những vấn đề cần đổi mới, đó là phải xác định rõ mục tiêu giáo dục được đổi mới, nội dung giáo dục đổi mới, phương tiện dạy học, hình thức tổ chức và phương thức đánh giá phải đáp ứng được yêu cầu đổi mới

Do đó giảng viên cần phải lưu ý bốn lĩnh vực trong giảng dạy:

- Lập kế hoạch và chuẩn bị môi trường lớp học, giảng dạy và trách nhiệm chuyên môn

- Tạo ra bầu không khí đối thoại giữa giảng viên và sinh viên

- Thúc đẩy hiệu quả nhất việc sử dụng thời gian và làm cho cả lớp tham gia

- Cung cấp đầu vào để phổ biến tài liệu mới, kiểm tra hiểu biết và thay đổi tiến độ giảng dạy phù hợp, đ ng thời tạo ra cách sử dụng kiến thức mới độc lập trên cơ sở có sự hướng dẫn

Giảng viên phải nắm vững các kỹ năng truyền đạt kiến thức đến sinh viên để thiết kế, dẫn dắt sinh viên đi từ dễ đến khó, từ ít đến nhiều, từ nông đến sâu

Giảng viên phải có kế hoạch chi tiết, cụ thể phương pháp dạy cũng như vấn đề phân phối chương trình trở thành một diễn tiến liên tục, giảm lý thuyết, tăng thực hành là một yêu cầu cần thiết, tất yếu cho quá trình đổi mới phương pháp giáo dục

Giảng viên phải có kiến thức sâu, rộng nắm vững lý luận sư phạm về các lĩnh vực giảng dạy đ ng thời phải biết chuyển tải những kiến thức đó vào chương trình, vào phương pháp giảng dạy, vào các bài học cụ thể Có như vậy, giảng viên mới có thể giúp sinh viên tích cực chủ động, phát huy khả năng sáng tạo trong quá trình học tập Giảng viên có nhiều kiến thức, có nhiều cách tổ chức và trình bày ngắn gọn, sáng tỏ cùng với sự nhiệt tình trong giảng

Trang 21

dạy điều đó tạo điều kiện truyền đạt kiến thức cho sinh viên một cách hiệu quả và thành công

Đổi mới phương pháp dạy học là một quá trình, đòi hỏi giảng viên phải hoàn thiện về nhân cách, có đức, có tài để thực hiện tốt nhiệm vụ cao quý của mình Phải không ngừng phấn đấu vươn lên, học tập, rèn luyện để tự khẳng định mình Đặc trưng của nhà giáo là khiêm tốn, giàu lòng tự trọng, có trách nhiệm cao, lao động tự giác, chủ động sáng tạo, sống trung thực, giản dị, không phô trương hình thức

1.2.2 Lựa chọn phương pháp dạy học

1.2.2.1 Việc lựa chọn những PPDH có khả năng cao nhất đối với việc thực hiện mục tiêu dạy học

Phương pháp dạy học là những hình thức, cách thức hành động của giáo viên và học sinh nhằm thực hiện mục tiêu dạy học, phù hợp với nội dung và điều kiện dạy học cụ thể

Mỗi mô hình lí luận dạy học, PPDH đều có những điểm mạnh, điểm hạn chế nhất định Nhưng khi xem xét việc thực hiện một mục tiêu dạy học nhất định thì có một số PPDH có khả năng cao hơn các PPDH khác Tùy thuộc vào mục tiêu yêu cầu cần đạt được của quá trình dạy học mà lựa chọn phương pháp nào cho thích hợp

1.2.2.2 Thứ hai là lựa chọn các PPDH phải phù hợp với nội dung dạy học

Giữa nội dung và PPDH có mối quan hệ tác động lẫn nhau, trong nhiều trường hợp quy định lẫn nhau Ở bình diện kĩ thuật dạy học, PPDH cần tương thích với nội dung dạy học Mỗi nội dung dạy học phải lựa chọn những PPDH phù hợp với nội dung dạy học đó

1.2.2.3 Thứ ba là lựa chọn PPDH cần chú ý đến đối tượng sinh viên và kinh nghiệm sư phạm của giảng viên

Bản thân các phương pháp dạy học mới hiện nay có tác dụng phát huy tính chủ động, sáng tạo của học sinh Có điều để vận dụng được nó và phát

Trang 22

huy hiệu quả như các nước có nền giáo dục tiên tiến trên thế giới thì tình hình

cụ thể giáo dục nước ta còn phải cân nhắc tùy theo điều kiện cụ thể

Để có được nền giáo dục tiên tiến như ngày nay, các nước Anh, Pháp,

Mỹ, Hà Lan…đã có cả trăm năm đặt nền tảng Nội dung chương trình của họ

đã được tối ưu hóa; những thành tựu công nghệ thông tin được cập nhật; đặc biệt đối tượng học của các nước đó có tính tự lập rất cao cũng như năng lực giao tiếp đã được rèn luyện rất vũng chắc Còn học trò nước ta thì sao? Trừ những học sinh trường chuyên lớp chọn ra, số lớn học sinh còn lại đang là thách thức gay cấn

Có một sự thật chúng ta không được lãng quên là học sinh, kể cả sinh viên nước ta không có ý thức tự học và làm việc theo nhóm cao như học sinh, sinh viên các nước Anh, Pháp, Mỹ, Hà Lan…Do đó, chúng ta không nên đem phương pháp dạy học mới áp dụng tùy tiện bất chấp những điều kiện cụ thể, nhất là đối tượng học sinh và hi vọng nó đem lại kết quả như các nước đó đã

Về những ưu điểm của các phương pháp dạy học mới là phát huy tốt tính chủ động, sáng tạo của học sinh trong quá trình học và tự học Sự khác nhau chỉ ở chỗ cân nhắc nên áp dụng phương pháp mới phù hợp với đối tượng học sinh, không nên áp dụng đ ng loạt phương pháp mới một cách hình thức cho mọi đối tượng và bất chấp những điều kiện thực tế, nhất là nội dung chương trình chưa được tinh giản hợp lý cũng như cách kiểm tra, thi cử chưa đổi mới

đ ng bộ theo yêu cầu của đổi mới phương pháp

Trang 23

Lựa chọn PPDH cần chú ý đến đối tượng sinh viên và kinh nghiệm sư

phạm của giảng viên Ở đây, khi lựa chọn PPDH người giảng viên cần quan

tâm tìm hiểu nhu cầu, hứng thú, thói quen của sinh viên Đối với những trường hợp cần trình bày thông tin thì giảng viên nên ưu tiên lựa chọn các phương pháp sử dụng phương tiện nghe nhìn, sử dụng truyền thông đa phương tiện Đối với các hoạt động chế biến thông tin thì cần tổ chức các hoạt động để sinh viên tự phát hiện, phối hợp với làm việc theo nhóm, phát huy càng tối đa tính tích cực, sáng tạo của sinh viên càng tốt

Mặt khác, trong quá trình giảng dạy, giảng viên cần chú ý thay đổi phương pháp và hình thức tổ chức dạy học tránh nhàm chán, từ đó gây hứng thú cho người học Kinh nghiệm cho thấy, trong một tiết giảng (45 phút) người giảng viên cần thay đổi, sử dụng ít nhất là hai phương pháp, hình thức

dạy học là hiệu quả nhất

Bên cạnh đó, ngoài việc chú ý đến nhu cầu, hứng thú của sinh viên, người giảng viên cũng phải quan tâm ưu tiên lựa chọn các PPDH mà sinh viên và giảng viên đã thành thạo Thể hiện vấn đề này sẽ đảm bảo người giảng viên và sinh viên sẽ tích cực chủ động trong việc truyền đạt cũng như cảm thụ nội dung của bài học Tuy nhiên, không vì tiêu chí này mà chúng ta quay trở lại với phương pháp truyền thụ một chiều Hiện nay, rất cần thiết phải cho giảng viên và sinh viên trở nên quen thuộc với các kĩ thuật dạy học mới có hiệu quả cao trong việc thực hiện các mục tiêu giáo dục

1.2.2.4 Thứ tư là việc lựa chọn PPDH phù hợp với điều kiện dạy học hiện có

Ở đây muốn cho chúng ta thấy rằng, việc lựa chọn PPDH nào cần phải đặt nó trong mối quan hệ với các điều kiện vật chất, đặc biệt là thiết bị dạy học Nếu thiết bị dạy học đầy đủ, đặc biệt là được trang bị về máy chiếu, dụng

cụ học tập đầy đủ thì phương pháp dạy học sẽ có cơ hội thành công hơn Việc lựa chọn PPDH đòi hỏi phải phù hợp với điều kiện của nhà trường, của phòng học, của tình trạng đang có

Trang 24

Tóm lại, đổi mới PPDH nhằm nâng cao chất lượng đào tạo là yêu cầu thường xuyên của công tác giáo dục và đào tạo, nhằm đào tạo ra những con người đáp ứng những yêu cầu của xã hội Tuy nhiên, mỗi cách dạy đều có những ưu điểm và hạn chế riêng; không thể có một cách dạy tối ưu cho mọi trường hợp Thêm vào đó, việc thực hiện có hiệu quả mỗi cách dạy luôn đòi hỏi người dạy và người học phải có những phẩm chất, kỹ năng nhất định và những điều kiện cần thiết để đảm bảo thực hiện Vì vậy, vấn đề không phải là cách dạy nào tốt hơn, mà là cách dạy nào phù hợp hơn Điều quan trọng nhất

là cần xác định lựa chọn phương pháp và hình thức tổ chức dạy học có thể giúp sinh viên học tập với niềm say mê, hứng thú, khát khao tìm tòi khám phá; lĩnh hội tri thức trong các hoạt động học tập tích cực, chủ động, sáng tạo, theo phương pháp khoa học; học trong tương tác, trong việc hình thành các quan hệ hợp tác, thân thiện, cùng nhau giải quyết các nhiệm vụ học tập

1.3 Tính tích cực học tập của sinh viên

1.3.1 Khái niệm về tính tích cực

Tính tích cực là một sản phẩm vốn có của con người trong đời sống xã hội, trong giáo dục, hình thành và phát triển tính tích cực của sinh viên là một trong những nhiệm vụ chủ yếu của giáo dục nhằm đào tạo những con người năng động, thích ứng và góp phần phát triển cộng đ ng

Theo từ điển tiếng Việt (2003) của Viện ngôn ngữ học “tính tích cực là một trạng thái tinh thần tỏ ra chủ động, có những hoạt động nhằm tạo ra sự biến đổi theo hướng phát triển”

Theo một nghĩa khác tính tích cực là đem hết khả năng tâm trí của mình vào việc làm Tích cực là chủ động hăng hái, nhiệt tình với công việc được giao (Từ điển Tiếng Việt , năm 1994, Hoàng Phê chủ biên)

Tính tích cực là một phẩm chất vốn có của con người trong đời sống xã hội Để t n tại và phát triển con người luôn tìm tòi, khám phá cải biến môi trường để phục vụ cho con người Tuy vậy, tính tích cực có mặt tự giác và tự

Trang 25

phát Theo Thái Duy Tuyên [31] mặt tự phát của tính tích cực là những yếu tố tiềm ẩn bên trong, bẩm sinh thể hiện ở tính tò mò, hiếu kỳ, linh hoạt trong đời sống hàng ngày Mặt tự giác của tính tích cực là trạng thái tâm lý, tính tích cực có đối tượng và mục đích rõ ràng, do đó có hoạt động để chiếm lĩnh đối tượng đó Tính tích cực tự giác thể hiện ở óc quan sát, tính phê phán trong tư duy, tính tò mò trong khoa học… Nhờ tính tích cực tự giác có ý thức con người có thể đạt được nhiều tiến bộ trong đời sống và phát triển nhanh hơn so với tính tích cực tự phát

Vì vậy, hình thành và phát triển tính tích cực xã hội là một trong những nhiệm vụ chủ yếu của giáo dục, nhằm đào tạo ra những con người năng động, thích ứng nhằm phát triển cộng đ ng

Theo Nguyễn Ngọc Quang, tính tích cực học tập có nghĩa là hoàn thành một cách chủ động, tự giác, có nghị lực, có hướng rõ rệt, có sáng kiến và đầy hào hứng, những công tác trí óc và chân tay nhằm nắm vững tri thức, kỹ năng,

kỹ xảo, vận dụng chúng vào trong hoạt động học tập và thực tiễn vừa là mục đích hoạt động vừa là kết quả của hoạt động

1.3.2 Sự cần thiết phát huy tính tích cực của sinh viên trong quá trình dạy học

Theo quan điểm giáo dục hiện đại, giáo viên và sinh viên là hai nhân tố trọng tâm của quá trình dạy học Trong đó:

Giáo viên là chủ thể của hoạt động dạy, của quá trình thu thập, chế biến, truyền đạt thông tin, và việc lựa chọn các phương pháp giảng dạy, truyền đạt phù hợp với đối tượng cũng như với tính chất của môn học

Sinh viên là chủ thể của hoạt động học, của quá trình chiếm lĩnh tri thức nhân loại biến thành vốn tri thức, hiểu biết, vốn kinh nghiệm của cá nhân dưới

sự chỉ đạo, hướng dẫn và giúp đỡ của người dạy

Giữa hai nhân tố trọng tâm này có mối quan hệ cơ bản là: giáo viên sẽ là cầu nối giữa sinh viên với nền văn hóa của nhân loại, là người giới thiệu, gợi

mở, định hướng, giúp đỡ nhằm làm cho người học tự mình chiếm lĩnh tri

Trang 26

thức, văn minh nhân loại; ngược lại sinh viên là người nỗ lực hoạt động trí tuệ, tự mình khám phá, chiếm lĩnh dưới sự hướng dẫn của giáo viên và sự hỗ trợ của tài liệu (sách giáo khoa, chương trình, tài liệu tham khảo )

riêng (tiềm năng) trời cho Con người có cái vốn có sẵn người ta cần có cơ hội để phát huy nó ” Cùng với tinh thần đó Nguyễn Bá Kim [16] cho rằng

trong quá trình dạy học giáo viên cần phải dùng các biện pháp sư phạm nhằm khêu gợi, kích thích, động viên HS suy nghĩ tìm tòi và phát huy tới mức cao nhất tiềm năng vốn có để giải quyết vấn đề đặt ra Yêu cầu trên được cụ thể hóa thành các nhiệm vụ như thiết kế, ủy thác, điều khiển, thể thức hóa

Như vậy bản thân quá trình dạy học đòi hỏi cả thầy và trò đều phải hướng đến con đường tích cực hóa hoạt động học tập của người học Tất cả những phương thức, biện pháp tích cực hóa hoạt động học tập của sinh viên không chỉ tạo điều kiện phát triển khả năng tư duy, tưởng tượng, năng lực sáng tạo, thế giới quan và nhân cách mà còn là điều kiện cần thiết và quan trọng để họ nắm vững tri thức một cách nhanh chóng và hiệu quả Trong điều kiện ngày nay khi mà khối lượng kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo cần thiết cho mỗi người là rất lớn và ngày càng tăng, nếu sinh viên thiếu tích cực hoạt động tư duy sẽ dẫn đến sự quá tải trong việc học, dẫn đến nắm tri thức không chắc chắn và không đầy đủ; từ đó việc nắm vững tri thức, kỹ năng, kỹ xảo sẽ không bao giờ đạt được

Thực tiễn giáo dục ở nước ta trong những năm qua đã khẳng định quan điểm phát huy tính tích cực, độc lập, sáng tạo của người học trong dạy học là một định hướng không bao giờ cũ trong việc đổi mới, nâng cao chất lượng giáo dục đào tạo Với việc hội nhập toàn cầu hiện nay, càng phải phát huy cao

độ yếu tố này

Trang 27

1.3.3 Một số biện pháp phát huy tính tích cực học tập của học sinh, sinh viên

Học tập là hoạt động chủ đạo ở lứa tuổi đi học Thông qua quá trình học tập con người lĩnh hội được, nhận thức được những tri thức loài người tích luỹ được, đ ng thời có thể nghiên cứu và tìm ra tri thức mới cho khoa học

Tính tích cực trong hoạt động học tập về thực chất là tính tích cực của nhận thức Đặc trưng là khát vọng hiểu biết, cố gắng trí tuệ và nghị lực cao trong quá trình chiếm lĩnh tri thức Trong hoạt động học tập nó diễn ra ở nhiều phương diện khác nhau: Tri giác tài liệu, thông tin tài liệu, ghi nhớ, luyện tập, vận dụng, ghi nhớ và được thể hiện ở nhiều hình thức đa dạng, phong phú

Trên quan điểm của các nhà sư phạm lỗi lạc như: Aristot, I.F.Kharlamov, I.I.Samova, Okon, Skiner, Hà Thế Ngữ, Nguyễn Ngọc Quang, Đặng Vũ Hoạt, tài liệu [31] đã tổng kết nhằm nâng cao tính tích cực nhận thức của HS như sau:

- Nêu lên ý nghĩa cả về mặt lý thuyết cũng như thực tiễn, tầm quan trọng của vấn đề nghiên cứu

- Nội dung dạy học là mới đối với học sinh nhưng không quá xa lạ mà là

sự phát triển tự nhiên, liên hệ mật thiết kiến thức cũ và có khả năng sử dụng, phát triển trong tương lai Kiến thức phải có tính thực tiễn, gần gũi với sinh hoạt suy nghĩ hàng ngày cũng như thỏa mãn nhu cầu nhận thức của học sinh

- Dùng các phương pháp đa dạng: Nêu vấn đề, thí nghiệm, thực hành, so sánh, thảo luận, seminar và phối hợp chúng với nhau Kiến thức phải được trình bày trong dạng hoạt động, phát triển và mâu thuẫn với nhau, tập trung vào những vấn đề then chốt, có lúc diễn ra đột ngột, bất ngờ

- Sử dụng các phương tiện hiện đại

- Sử dụng các hình thức dạy học khác nhau như: cá nhân, nhóm, tập thể, tham quan

- Luyện tập vận dụng kiến thức vào thực tiễn trong các tình huống mới

- Thường xuyên kiểm tra, đánh giá và khen thưởng, kỷ luật kịp thời, đúng mức

Trang 28

- Kích thích thái độ tích cực của học sinh thông qua thái độ, cách ứng xử giữa giáo viên và học sinh

- Phát triển kinh nghiệm sống của học sinh trong học tập qua các phương tiện thông tin đại chúng và các hoạt động xã hội

- Tạo không khí đạo đức lành mạnh trong lớp, trong trường, tôn vinh sự học nói chung và biểu dương những học sinh có thành tích học tập tốt

- Có sự động viên, khen thưởng từ phía gia đình và xã hội

- Theo Nguyễn Lan Phương [23, tr 23] đề cập đến các phương pháp dạy học phát huy tính tích cực học tập của học sinh Tác giả cũng cho rằng một phương pháp dạy học phát huy được tính tích cực học tập của học sinh thì phải đảm bảo phối hợp nhuần nhuyễn hai cách dạy: tái hiện và tìm kiếm kiến thức trong đó tìm kiếm chiếm ưu thế

Như vậy, để phát huy tính tích cực của học sinh trong nhận thức chúng ta phải tác động vào các nhân tố như kích thích hứng thú, gợi động cơ, rèn luyện năng lực, kích thích ý chí, kích thích nhu cầu, tạo môi trường học tập thuận lợi bằng nhiều hướng như kết hợp nhuần nhuyễn các PPDH đặc biệt là phương pháp dạy học phát hiện và giả quyết vấn đề; kiến thức được trình bày dưới dạng động, sử dụng các hình thức dạy học khác nhau như dạy học theo nhóm, cá thể hóa trong dạy học; chú trọng việc xây dựng các hoạt động, các tình huống dạy học, các tình huống có vấn đề để HS học tập trong hoạt động

và bằng hoạt động; tăng cường sử dụng và phối hợp các phương tiện dạy học, đặc biệt là tăng cường ứng dụng CNTT- TT trong dạy và học

1.3.4 Biểu hiện tính tích cực học tập của sinh viên

Tính tích cực học tập có thể nhận biết được thông qua quan sát những biểu hiện của tính tích cực nhận thức trong sinh viên như: cử chỉ, hành vi, nét măt, biểu cảm, nhịp điệu, sự biến đổi sinh lý Đặc biệt thông qua các hoạt động và sản phẩm của hoạt động của SV chúng ta có thể đo đạc, đánh giá được tính tích cực học tập của SV

Trang 29

Theo Trần Bá Hoành [9], tính tích cực biểu hiện qua: Sự khát khao tự nguyện tham gia các HĐ học tập; HS thường thắc mắc mong đợi GV giải thích; HS chủ động vận dụng một cách linh hoạt, sáng tạo kiến thức, kĩ năng

đã biết để nhận thức các vấn đề mới; HS tập chung sự chú ý cao độ vào những vấn đề của bài học; có tinh thần quyết tâm, kiên trì, hoàn thành nhiệm vụ học tập; không nản chí trước tình huống khó khăn; có thái độ phản ứng về mặt cảm xúc như thờ ơ hay hào hứng

Theo Nguyễn Hữu Châu [2] cho rằng, tính tích cực biểu hiện qua nhiều hình thức đa dạng phong phú như cảm xúc học tập, chú ý, sự nỗ lực ý chí, hành vi, cử chỉ khẩn trương thực hiện hành động tư duy, kết quả lĩnh hội Biểu hiện của tính tích cực là

+ Xúc cảm học tập: Thể hiện ở niềm vui, sốt sắng thực hiện yêu cầu

của giáo viên, hăng hái trả lời câu hỏi của giáo viên; thích phát biểu ý kiến của mình trước vấn đề nêu ra Hay thắc mắc đòi hỏi giải thích cặn kẽ những vấn đề chưa đủ rõ

+ Chú ý: Thể hiện ở việc tập trung chú ý học tập, lắng nghe, theo dõi

mọi hành động của giáo viên

+ Sự nỗ lực của ý chí: Thể hiện sự kiên trì, nhẫn nại, vượt khó khăn khi

giải quyết nhiệm vụ nhận thức Kiên trì thực hành các bài tập, không nản lòng trước những tình huống khó khăn Có quyết tâm, ý chí vươn lên trong học tập

+ Hành vi: Hăng hái tham gia vào mọi hình thức của hoạt động học tập:

Hay giơ tay phát biểu ý kiến, bổ sung các câu trả lời của bạn; ghi chép cẩn thận đầy đủ, cử chỉ khẩn trương khi thực hiện các hành động tư duy

+ Kết quả lĩnh hội: nhanh, đúng, tái hiện được khi cần, chủ động

vận dụng được kiến thức, kỹ năng khi gặp tình huống mới để nhận thức vấn đề mới

Đặc biệt tính tích cực học tập có liên hệ nhân quả với các phẩm chất nhân cách của người học như:

Trang 30

+ Tính tự giác: Đó là sự tự nhận thức được nhu cầu học tập của mình và

có giá trị thúc đẩy hoạt động có kết quả

+ Tính độc lập tư duy: Đó là sự phân tích, tìm hiểu giải quyết các nhiệm

vụ nhận thức Đây là biểu hiện cao của tính tích cực

+ Tính chủ động: Thể hiện ở việc làm chủ các hành động trong toàn bộ hoặc từng giai đoạn của quá trình nhận thức như đặt ra nhiệm vụ, lập kế hoạch, thực hiện nhiệm vụ đó, tự đọc thêm, làm thêm các bài tập, tự kiểm tra…lúc này tính tích cực đóng vai trò như một tiền đề cần thiết để tiến hành các hoạt động học tập của người học

+ Tính sáng tạo: Thể hiện khi chủ thể nhận thức tìm ra cái mới, cách giải quyết mới không bị phụ thuộc vào cái đã có Đây là mức độ biểu hiện cao nhất của tính tích cực

Nói về tính tích cực người ta thường đánh giá nó ở cấp độ cá nhân người học trong quá trình thực hiện mục đích dạy học chung Một cách khái quát, I.F kharlamop viết “Tính tích cực trong hoạt động nhận thức là trạng thái hoạt động của học sinh”

Như vậy, qua các quan điểm của các nhà nghiên cứu chúng ta thấy để nhận biết được tính tích cực nhận thức của HS, SV có thể căn cứ vào một số yếu tố như cảm xúc của HS; hành vi và cử chỉ của HS; sự khát khao hay mong muốn được tìm hiểu; thái độ và tinh thần (sự quyết tâm, các hành động như thường xuyên hỏi, thắc mắc những điều chưa rõ) Có thể đo đạc, đánh giá được tính tích cực học tập của HS thông qua sản phẩm học tập của HS, SV

1.4 Thực trạng dạy học phương pháp toán thống kê trong TDTT ở các trường thể thao hiện nay

1.4.1 Sơ lược về toán thống kê

Khoa học thống kê là khoa học về thu thập, phân tích, diễn giải và trình bày các dữ liệu để từ đó tìm ra bản chất và tính quy luật của các hiện tượng kinh tế, xã hội - tự nhiên

Trang 31

Khoa học thống kê dựa vào lý thuyết thống kê, một môn toán học ứng dụng Trong lý thuyết thống kê, tính chất ngẫu nhiên và sự không chắc chắn

có thể làm mô hình dựa vào lý thuyết xác suất Vì mục đích của khoa thống

kê là để tạo ra thông tin "đúng nhất" theo dữ liệu có sẵn, có tác giả nhìn khoa thống kê như một loại lý thuyết quyết định

Thông tin thống kê bao g m số liệu thống kê và bản phân tích các số liệu

đó, là sản phẩm thu được của hoạt động thống kê do một tổ chức hoặc cá nhân nhất định tiến hành trong một không gian và thời gian cụ thể

Chỉ tiêu thống kê là tiêu chí mà biểu hiện bằng số của nó phản ánh quy

mô, tốc độ phát triển, cơ cấu, quan hệ tỷ lệ của hiện tượng kinh tế, xã hội - tự nhiên trong điều kiện không gian và thời gian cụ thể

Hoạt động thống kê là toàn bộ các hoạt động để thực hiện việc thống kê Vai trò của thống kê trong kinh tế, chính trị, xã hội học

Thống kê là một trong những công cụ quản lý vĩ mô quan trọng, cung cấp các thông tin thống kê trung thực, khách quan, chính xác, đầy đủ, kịp thời trong việc đánh giá, dự báo tình hình, hoạch định chiến lược, chính sách, xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và đáp ứng nhu cầu thông tin thống

kê của các tổ chức, cá nhân

1.4.2 Nghiên cứu nội dung dạy học toán thống kê trong thể dục thể thao

Thể dục thể thao, một lĩnh vực hoạt động vốn đã hết sức phức tạp lại mang tính khả biến Thành tích của một vận động viên không phải là một hằng số bất di bất dịch mà nó thay đổi thăng giáng theo điều kiện sinh hoạt, phương pháp huấn luyện, tâm lý thi đấu v.v …Thành tích của một đội bóng, điền kinh, bơi lội,… phụ thuộc vào nhiều yếu tố, tình huống khác nhau mà ta không thể đoán biết một cách hoàn toàn chắc chắn, bởi có biết bao sự kiện ngẫu nhiên tác động đến từng vận động viên, đến nhiệm vụ đội, đến huấn luyện viên…Liệu có thể tìm ra các quy luật từ sự ngẫu nhiên đó không? Toán học thống kê là công cụ sắc bén giúp chúng ta tìm ra các quy luật đó

Trang 32

“Phương pháp toán thống kê trong TDTT” là môn học bắt buộc với sinh viên các trường cao đẳng, đại học TDTT Nội dung toán thống kê đã được giới thiệu từ lớp 10 trung học phổ thông về những khái niệm, công thức cơ bản như tần số, tần suất, số trung vị, mốt trung bình cộng, phương sai, độ lệch chuẩn, vẽ biểu đ hình cột, hình chữ nhật, đường gấp khúc, hình quạt … Khi học nội dung toán thống kê ở bậc cao đẳng, đại học trong các trường TDTT sẽ được nâng cao hơn rất nhiều Những khái niệm, công thức các em đã biết ở lớp 10 sẽ được giới thiệu lại một cách đầy đủ và bài bản hơn đ ng thời các em

sẽ biết thêm về các mảng:

- Các phương pháp trình bày số liệu;

- Các tham số đặc trưng;

- Ước lượng trung bình cộng;

- Kiểm định giả thiết;

- Kiểm định tính chuẩn của một phân phối;

- Tương quan và h i quy;

Đặc điểm của toán thống kê trong thể dục thể thao là tất cả các số liệu đều liên quan đến thể thao Tất cả các khái niệm, công thức bằng những ví dụ thực tế trong TDTT và không đi vào chứng minh công thức: như thành tích chạy 100m, 800m, thành tích bơi, thành tích nhảy cao, nhảy xa,…Đối với sinh viên lúc này toán thống kê sẽ trở thành công cụ sắc bén giúp họ tìm ra quy luật từ những sự kiện ngẫu nhiên

1.4.3 Thực trạng dạy học toán thống kê trong TDTT hiện nay

Ngày nay toán học thống kê đã và đang được áp dụng rộng rãi và có hiệu quả trong nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội Đặc biệt trong lĩnh vực hoạt động thể dục thể thao (TDTT), toán học thống kê thường được các nhà khoa học, các huấn luyện viên và giáo viên TDTT sử dụng để sử lý số liệu và thông tin thu được, nhằm tìm ra các giải pháp có độ tin cậy cao làm cơ sở cho việc lựa chọn và quyết định các biện pháp, phương pháp tập luyện, huấn

Trang 33

luyện, đưa ra các phương án tối ưu trong công tác tuyển chọn, huấn luyện, giảng dạy cho vận động viên nói riêng và cho học sinh, sinh viên, người tập

thể thao nói chung

Dạy học toán thống kê trong TDTT không đơn thuần là giảng về toán thống kê mà các số liệu lấy ở toán phải là các số liệu về thể thao gắn liền với thực tế sinh viên đang học và các con số đó qua xử lý số liệu chúng là các con

số biết nói giúp cho người học TDTT và người giảng dạy, huấn luyện TDTT tìm ra cách thức luyện tập và huấn luyện đạt tiến bộ nhất, giúp cho người tập thể thao nói chung biết luyện tập, ăn uống điều độ, đúng cách

Trong các trường thể thao hiện nay chủ yếu toán thống kê được giới thiệu đến sinh viên về mảng “phương pháp toán thống kê trong thể dục thể thao” Hầu hết các trường thể thao dạy toán thống kê cho sinh viên rất ít khi hoặc hầu như không sử dụng các phần mềm xử lý số liệu vì vậy sinh viên vẫn chỉ biết đến việc xử lý số liệu trên giấy, máy tính bỏ túi Việc đó khiến cho sinh viên mất rất nhiều thời gian vào tính toán, kết quả tính toán còn sai sót rất nhiều làm cho lợi ích của việc ứng dụng toán thống kê vào luyện tập và nghiên cứu thể thao đạt kết quả chưa cao như mong muốn

Vai trò của toán thống kê trong TDTT như đã nói ở trên là rất có ý nghĩa, nhưng hiện nay khoa học công nghệ đã hiện đại, đặc biệt là công nghệ thông tin đã đi đến đời sống của từng sinh viên thì việc dạy và học toán thống

kê kết hợp được với CNTT sẽ làm cho môn toán thống kê không chỉ được biết đến với việc bấm máy tính bỏ túi, xử lý số liệu thô sơ trên giấy mà toàn bộ công đoạn xử lý số liệu sẽ thực hiện trên máy vi tính rất nhanh gọn và chính xác L ng ghép nội dung tin học của trường cùng với nội dung dạy học toán thống kê sẽ giúp cho sinh viên vừa nắm được nội dung tin học vừa nắm được nội dung toán thống kê sâu sắc hơn Đặc biệt kết hợp được toán thống kê với tin học góp phần tăng tính tích cực học tập của sinh viên, việc học có hứng thú hơn, say mê hơn

Trang 34

1.5 Phần mềm Excel ứng dụng vào dạy học toán thống kê

Theo Nguyễn Chí Thành [26], Với mỗi phương tiện, chủ thể xây dựng các danh sách riêng biệt tương ứng với kiểu nhiệm vụ được giao trong các tình huống dạy học Khi đó công cụ là do phương tiện biến đổi mà thành do

bởi một phần của các phương tiện kỹ thuật và bởi các dạng thức sử dụng là kết quả của sự xây dựng của chủ thể trong một hoạt động thực hiện một kiểu nhiệm vụ cho trước

Excel là một công cụ hay phần mềm chuyên dùng cho công tác kế toán, văn phòng trên môi trường windows, thực hiện được nhiều phép tính từ đơn giản đến phức tạp Excel tổ chức và lưu trữ thông tin dưới dạng bảng như bảng lương, bảng kế toán, bảng thanh toán, bảng thống kê, bảng dự toán, và khi có sự thay đổi dữ liệu bảng tính tự động tính toán lại theo số liệu mới Thao tác trên bảng tính có thể tạo ra các báo cáo tổng hợp hoặc phân tích có kèm theo các biểu đ , hình vẽ minh họa Vì vậy phần mềm Excel được ứng dụng vào dạy học toán thống kê và dưới sự điều khiển của GV, tìm tòi của SV thì phần mềm Excel đã tạo ra các tình huống dạy học đa dạng

Với sự phát triển mạnh mẽ của máy tính cùng với các phần mềm tiện ích, việc lưu trữ, xử lý và phân tích các số liệu thống kê đã trở nên nhanh chóng và đơn giản, do đó các phân tích thống kê đã phát huy hiệu quả mạnh

mẽ hơn Chính vì vậy dạy học xác suất thống kê và thống kê toán học trong thể dục thể thao cũng có thể dựa trên cơ sở một phần mềm thích hợp Do tính phổ biến và tiện ích của phần mềm Excel, tôi sẽ trình bày các tính toán bằng phần mềm Excel Các công cụ và các hàm Excel sẽ được từng bước đưa vào

và được coi như phần phụ trợ để sinh viên chưa làm quen với Excel chỉ cần một hướng dẫn đơn giản của giảng viên hoặc tự mình thao tác cũng có thể dễ dàng thực hiện được các tính toán thống kê trên Excel

Trang 35

Chính vì sự tiện dụng của nó mà Excel không chỉ được dùng cho văn phòng, kế toán mà còn được ứng dụng vào trong dạy học Đặc biệt với nội dung toán thống kê Nội dung toán thống kê g m việc xử lý rất nhiều các số liệu từ nhỏ đến lớn, chúng ta chỉ cần nhập số liệu và biết dùng một số hàm của Excel thì lập tức việc tính toán trở lên nhanh gọn và chính xác Hơn thế nữa việc tra cứu các hàm thống kê trong Excel rất tiện dụng mà không cần dùng đến bảng của các hàm thống kê trong giáo trình Việc này giúp cho giáo viên và sinh viên rút ngắn được nhiều thời gian trong quá trình tính toán

Phần mềm Excel là một nội dung tin học thông dụng và khá đơn giản như word, powerpoint nên tất cả sinh viên được hướng dẫn thì sẽ nhanh chóng sử dụng được vào việc học toán thống kê Hiện nay rất nhiều trường đại học đều dạy cho sinh viên phần mềm Excel vì sự thông dụng của nó Việc

áp dụng nó vào trong học toán thống kê đã trở lên đơn giản hơn so với nhiều năm trước khi sinh viên chưa được học phần mềm này Có thể nói khi học toán thống kê thì tất cả các sinh viên nên sử dụng phần mềm Excel để thao tác tính toán nhanh, chính xác và khoa học

1.6 Kết luận của chương 1

Từ việc hệ thống hoá một số vấn đề cơ bản về phát huy tính tích cực hoạt động học tập của SV, hoạt động dạy và học nói chung hoạt động dạy và học toán nói riêng, một số nét về sử dụng CNTT trong dạy học nói chung và dạy học toán nói riêng, về phương pháp dạy học phát huy tính tích cực của

SV và giới thiệu ứng dụng phần mền Excel vào trong dạy học toán thống kê chúng tôi rút ra những kết luận sau:

- Chủ thể của hoạt động học tập là SV Hoạt động học luôn chịu sự tác động của môi trường chứa đựng thông tin mà chủ thể cần phải tự giác, tích cực trong chọn nhập và xử lý thông tin đó

- Trong dạy học toán có thể tạo ra môi trường học tập tương tác nhờ sử dụng Phần mền dạy học Excel thông qua tổ chức các hoạt động dạy học hướng vào người học

Trang 36

CHƯƠNG 2 MỘT SỐ T NH HUỐNG SỬ DỤNG PHẦN MỀM EXCEL THEO HƯỚNG TÍCH CỰC H A HOẠT ĐỘNG HỌC TẬP CỦA SINH VIÊN TRONG DẠY HỌC MÔN PHƯƠNG PHÁP TOÁN THỐNG KÊ

TRONG THỂ DỤC THỂ THAO

2.1 Một số nguyên tắc khi sử dụng phần mềm Excel trong dạy học phương pháp toán thống kê trong TDTT theo hướng tích cực hóa hoạt động học tập của SV

Theo từ điển Tiếng Việt (2003) của viện ngôn ngữ học,“Nguyên tắc là điều cơ bản định ra nhất thiết phải tuân theo trong một loại việc làm”

Theo Thái Duy Tuyên [59, tr.162], “Nguyên tắc dạy học là những luận điểm cơ bản chỉ đạo hoạt động của thầy giáo và học sinh trong quá trình dạy học nhằm đạt mục đích đặt ra”

Để đảm bảo tính khoa học và tính hiệu quả của việc xây dựng và sử dụng phần mềm Excel trong dạy học Phương pháp toán thống kê trong TDTT, chúng tôi đã xem xét và nhận thấy rằng việc xây dựng và sử dụng phần mềm Excel theo hướng TCHHĐHT của HS cần phải dựa trên một số nguyên tắc sư phạm cơ bản sau:

Nguyên tắc 1: Sử dụng phần mềm Excel trong dạy học Phương pháp toán

thống kê trong TDTT phải đáp ứng mục đích và yêu cầu của dạy học toán thống kê trong trường sư phạm thể thao

Trong dạy học giải toán thống kê trong trường sư phạm thể thao cần đáp ứng mục đích, yêu cầu như toán học thống kê là khoa học, các con số thống

kê tính toán phải chính xác nhằm mục đích sau khi xử lý số liệu các huấn luyện viên và giáo viên TDTT sử dụng nhằm tìm ra các giải pháp có độ tin cậy cao làm cơ sở cho việc lựa chọn và quyết định các biện pháp, phương pháp tập luyện, huấn luyện, đưa ra các phương án tối ưu trong công tác tuyển

Trang 37

chọn, huấn luyện, giảng dạy cho vận động viên nói riêng và cho học sinh, sinh

viên, người tập thể thao nói chung

Ví dụ, để tính toán các tham số chỉ sự tập trung hay phân tán của số liệu thống

kê, SV mất rất nhiều thời gian vào tính toán, các kết quả tính toán được nhiều khi chưa chính xác Để khắc phục điều này thì phần mền tin học đại cương Excel sẽ giúp SV tính toán nhanh gọn hơn, chính xác hơn

Ví dụ 2.1 : Biết thành tích bật xa tại chỗ (x i, cm) của n = 27 cầu thủ bóng đá U17 tại trung tâm huấn luyện quốc gia I (thời điểm tháng 5 năm 1999) như sau:

2 Tính thành tích trung bình, phương sai, độ lệch chuẩn và hệ số biến sai Qua đó cho biết thành tích bật xa tại chỗ của các cầu thủ có đ ng đều hay không

Mục đích: SV biết tính các tham số đặc trưng chỉ sự tập chung và phân tán

của số liệu và từ kết quả đó đưa ra nhận định về thành tích bật xa tại chỗ của các cầu thủ bóng đá U17

HĐ1: Dự đoán bằng trả lời câu hỏi

SV mở phần mềm Excel Lấy tên tệp là: Bài 1, nhập dữ liệu ban đầu về thành

SV trả lời các câu hỏi sau:

(Trả lời: Dùng hàm Max(danh sách các trị))

( Trả lời: Dùng hàm Min(danh sách các trị))

Trang 38

(Trả lời: D = xmax xmin)

( Trả lời:

n

x x E

n

i i

(Trả lời: Dùng hàm Average(danh sách các giá trị))

Từ công thức tính độ lệch tuyệt đối trung bình, để tính được E ta phải tính giá trị trung bình của THTK

242,37 cm

A2 – 242,37 = 37,63

Tính độ lệch tuyệt đối trung bình

quả là 37,63

Trang 39

Dùng hàm sum(c2:c28) được kết quả là: 471,85

n

x x

=17,48 (Dùng phép tính 471.85/27 được kết quả là 17.48)

Như vậy thông qua phần mềm Excel SV nhớ lại các hàm và công thức

HĐ3: SV trả lời các câu hỏi sau ra giấy:

(Trả lời:

n

x x

n

i i x

) 30 (

x x

n

i i x

Hoặc dùng hàm STDEV (number1, number2, .) : Ước lượng độ lệch

chuẩn trên cơ sở mẫu

Trang 40

GV: Chúng ta có hai cách tính giá trị trung bình cộng

+ Tính bằng cách dùng hàm AVERAGE(danh sách các trị) như HĐ2 kết quả là 242,37 cm

+ Áp dụng công thức ở HĐ3 ta cần tính tổng các giá trị xi kết quả giá trị trung bình vẫn ra là 242,37 cm

Để tính được phương sai làm thế nào ?

452 1

27

2963 ,

11754 1

n

i

i x

Ngày đăng: 16/03/2021, 23:58

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm