ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC TRUNG THỊ THÚY SỬ DỤNG MỐI QUAN HỆ NHÂN QUẢ TRONG DẠY HỌC CHƯƠNG II: TÍNH QUY LUẬT CỦA HIỆN TƯỢNG DI TRUYỀN – SINH HỌC 12, TRUNG HỌC PHỔ
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
TRUNG THỊ THÚY
SỬ DỤNG MỐI QUAN HỆ NHÂN QUẢ TRONG DẠY HỌC CHƯƠNG II: TÍNH QUY LUẬT CỦA HIỆN TƯỢNG DI TRUYỀN – SINH HỌC 12, TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ SƯ PHẠM SINH HỌC
HÀ NỘI – 2016
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
TRUNG THỊ THÚY
SỬ DỤNG MỐI QUAN HỆ NHÂN QUẢ TRONG DẠY HỌC CHƯƠNG II: TÍNH QUY LUẬT CỦA HIỆN TƯỢNG DI TRUYỀN – SINH HỌC 12, TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ SƯ PHẠM SINH HỌC CHUYÊN NGÀNH: LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC
(BỘ MÔN SINH HỌC)
Mã số: 60140111
Người hướng dẫn khoa học: PGS TS Nguyễn Đức Thành
HÀ NỘI – 2016
Trang 3PHẦN I: MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
1.1 Xuất phát từ yêu cầu đổi mới trong dạy học
Hòa chung với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ trên thế giới, nước ta cũng đã và đang tiến những bước đi dài trong giai đoạn công nghiệp hóa – hiện đại hóa với mục tiêu: đến năm 2020 Việt Nam từ một nước nông nghiệp về cơ bản trở thành một nước công nghiệp, hội nhập với cộng đồng quốc tế Trong đó, nhân tố quyết định của công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế
là con người có năng lực Chính lí do trên đã đặt cho ngành giáo dục một nhiệm vụ quan trọng là: Đào tạo nhân lực đảm bảo yêu câu của thời kì hội nhập, muốn vậy việc đào tạo phải bắt đầu từ bậc phổ thông Sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, sự thách thức trước nguy cơ tụt hậu trên đường tiến vào thế kỉ XXI bằng cạnh tranh trí tuệ đang đỏi hỏi đổi mới giáo dục, trong đó có sự đổi mới căn bản về phương pháp dạy và học Đây không phải của riêng nước ta mà đang được quan tâm
ở mọi quốc gia trong chiến lược phát triển nguồn nhân lực con người phục vụ các mục tiêu kinh tế - xã hội
Định hướng đổi mới phương pháp dạy học đã được Nghị quyết TW 4 khóa VII, Nghị quyết TW 2 khóa VIII, Nghị quyết TW 6 khóa IX nêu rõ và đã được thể chế hóa trong luật giáo dục Hội nghị lần thứ VI – BCH TW Đảng khóa IX đã có quyết nghị “Kết luận về công tác giáo dục – Đào tạo”, trong đó nhấn mạnh: “Đổi mới PPDH ở tất cả các cấp học, bậc học, kết hợp tốt học với hành, gắn nhà trường với xã hội, áp dụng những PPDH hiện đại để bồi dưỡng cho học sinh những năng lực tư duy sáng tạo, năng lực giải quyết vấn đề”
Trong điều 24 luật giáo dục 2005 đã nêu “Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động sáng tạo của HS, phù hớp với đặc điểm của từng lớp học, môn học, bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho HS” Như vậy, có thể nói cốt lõi của đổi mới dạy học là hướng tới hoạt động học tập chủ động, chống lại thói quen học tập thụ động Mặt khác, những kết quả nghiên cứu cho thấy, với sự tác động của cơ chế kinh tế nhiều thành phần đặc
Trang 4biệt là cơ chế thị trường, cùng với sự bùng nổ của công nghệ thông tin, HS được tiếp cận với tri thức nhân loại qua nhiều kênh thông tin nên HS sớm phát triển tâm sinh lí, HS trở nên năng động hơn hay tìm tòi khám phá
Vì vậy phương pháp dạy học truyền thống kiểu “thầy truyền đạt - trò tiếp thu” không còn phù hợp, cần được thay bằng dạy học phát triển năng lực, phát triển tư duy, phân tích tổng hợp, hiểu bản chất của kiến thức
1.2 Xuất phát từ vai trò của mối quan hệ nhân quả trong dạy học chương II: tính qui luật của hiện tượng di truyền – Sinh học 12, THPT
Ngày nay, Sinh học hiện đại không chỉ dừng lại ở mức mô tả các sự kiện, hiện tượng, mà đã bước vào giai đoạn xác định nguyên nhân bên trong và độ chính xác của sự vật, hiện tượng Đặc điểm của Sinh học hiện đại là mức độ khái quát cao của các lí thuyết về thế giới sống Điều này buộc phải có những thay đổi cơ bản nội dung Sinh học trong chương trình phổ thông cho phù hợp với nội dung và yêu cầu của thời đại Cụ thể chương trình Sinh học THPT mới do Bộ giáo dục và đào tạo ban hành tháng 11 năm 2002 đã được thiết kế theo quan điểm tiếp cận hệ thống từ Sinh học tế bào (lớp 10) lên Sinh học cơ thể (lớp 11) đến Sinh học cấp trên cơ thể (lớp 12)
Đặc biệt chương trình Sinh học lớp 12 được xây dựng với khối lượng kiến thức rất lớn thuộc ba lĩnh vực rất rộng nhưng cũng rất phức tạp: Di truyền, tiến hóa
và sinh thái Trong đó, kiến thức về tính quy luật của hiện tượng di truyền luôn là kiến thức khó, trừu tượng đối với HS
Kiến thức chương II: “Tính quy luật của hiện tượng di truyền” bắt đầu từ những thí nghiệm để tìm ra tính quy luật của hiện tượng di truyền theo con đường qui nạp, như vậy tốn nhiều thời gian Cần phân tích tìm ra nhân tố trực tiếp gây ra tính quy luật của hiện tượng di truyền Đặc biệt xác định được những nguyên nhân
cơ bản chi phối các hiện tượng di truyền để rút ra những kết luật chính xác, khái quát, làm cho học sinh tự phát hiện được kiến thức, từ đó học sinh sẽ hứng thú học tập và yêu thích môn Sinh học THPT
1.3 Xuất phát từ thực trạng sử dụng mối quan hệ nhân quả trong dạy học chương II: tính quy luật của hiện tượng di truyền – Sinh học 12, THPT
Trang 5Hiện nay, phương pháp dạy học trong các trường phổ thông hầu hết vẫn nặng
về dạy theo phương pháp lịch sử và qui nạp, vừa tốn thời gian vừa khó hệ thống hoá kiến thức Bên cạnh đó, nội dung kiến thức SGK Sinh học nói chung và kiến thức trong chương: tính qui luật của hiện tượng di truyền – Sinh học 12, THPT nói riêng còn rất trừu tượng, rất khó cho học sinh hiểu rõ bản chất của vấn đề
Sự thụ động trong học tập đã làm cho phần lớn học sinh ngại học, ngại đọc tài liệu, lười tư duy và thiếu tính sáng tạo trong học tập Học Sinh học theo cách thụ động theo bài giảng của giáo viên
Thực tế cho thấy hiện nay, đa số học sinh cho rằng môn Sinh học là môn học thuộc lòng, môn phụ nên chưa thật sự chủ động sáng tạo để lĩnh hội tri thức mới, kỹ năng học tìm hiểu nguyên nhân để dẫn đến kết quả hiện tượng, sự vật trong Sinh học của học sinh còn rất hạn chế, nên đã gây ra tâm lý chán nản, không hứng thú với việc học phần quy luật di truyền
Với những lý do trên, tôi chọn đề tài “sử dụng mối quan hệ nhân quả trong dạy học chương II: tính quy luật của hiện tượng di truyền – Sinh học 12, Trung học phổ thông”
2 Mục đích nghiên cứu
Xác định nguyên nhân gây ra các hiện tượng di truyền để tìm được con đường hướng dẫn học sinh tự khám phá kiến thức, phát triển tư duy
3 Câu hỏi nghiên cứu
Nguyên nhân nào quy định tính quy luật của hiện tượng di truyền?
4 Nhiệm vụ nghiên cứu
4.1 Xác định cơ sở lý luận của đề tài nghiên cứu
4.2 Xác định thực trạng của việc sử dụng quan hệ nhân quả trong dạy học chương II: tính quy luật của hiện tượng di truyền – Sinh học 12, THPT hiện nay
4.3 Xác định các mối quan hệ nhân quả trong chương II: tính quy luật của hiện tượng di truyền – Sinh học 12, THPT
Trang 64.4 Xác định biện pháp sử dụng mối quan hệ nhân quả trong dạy học Sinh học 12
4.5 Xây dựng giáo án có sử dụng mối quan hệ nhân quả trong chương II: tính quy luật của hiện tượng di truyền – Sinh học 12, THPT
4.6 Thực nghiệm sư phạm để đánh giá tính đúng đắn giả thuyết khoa học của đề tài
5 Đối tượng, khách thể nghiên cứu
6 Giả thuyết khoa học
Nếu xác định được nguyên nhân sản sinh ra hiện tượng truyền đạt đặc điểm từ thế hệ trước sang thế hệ sau, sẽ tìm được con đường hướng dẫn học sinh tự lực khám phá kiến thức và phát triển năng lực tư duy
7 Phạm vi nghiên cứu
Chỉ hạn chế trong khâu nghiên cứu tài liệu mới
8 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
9 Phương pháp nghiên cứu
9.1 Phương pháp nghiên cứu lý thuyết
- Nghiên cứu các tài liệu, công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài
- Nghiên cứu nội dung chương II: tính quy luật của hiện tượng di truyền – Sinh học 12, THPT
Trang 79.2 Phương pháp điều tra
Sử dụng phiếu điều tra để tìm hiểu thực trạng dạy học chương II: “Tính quy luật của hiện tượng di truyền” lớp 12 hiện nay
9.3 Phương pháp thực nghiệm sư phạm
Thực nghiệm sư phạm nhằm kiểm tra giả thuyết đề tài
10 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận gồm 3 chương
Chương 1 Cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài
Chương 2 Sử dụng quan hệ nhân quả trong dạy học chương II: tính quy luật của hiện tượng di truyền – Sinh học 12, THPT
Chương 3 Thực nghiệm sư phạm
Trang 8PHẦN II: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
1.1 Tổng quan nghiên cứu
Vấn đề “mối quan hệ” và “mối quan hệ nhân quả” là những nội dung mang nặng tính triết học Nội dung của vấn đề nghiên cứu trong luận văn thực chất là
“vận dụng quan điểm triết học duy vật biện chứng trong dạy học Sinh học nói chung, di truyền học nói riêng Do sự phát triển của khoa học mà từ khoa học triết học – khoa học của các ngành khoa học đã phát triển và tách ra thành nhiều ngành khoa học chuyên sâu, dần đến tách biệt nhau nên Sinh học ít quan tâm đến triết học
và ngược lại triết học ít quan tâm đến Sinh học Thực ra triết học là khoa học khái quát, còn các khoa học khác trong đó có Sinh học là khoa học cụ thể, đó là quan hệ như khái quát và cụ thể trong tư duy, nên dù vô tình hay hữu ý thì nghiên cứu giới hữu cơ nói chung, di truyền học nói riêng, nếu không quán triệt quan điểm triết học duy vật biện chứng thì nhận thức về thế giới sống sẽ không đúng với bản chất thực của nó Dù là nhà Sinh học thuần túy, khi nghiên cứu để đạt những vấn đề nào đó của thế giới sống cũng không thể không vận dụng quan điểm của triết học duy vật biện chứng Những công trình loại này hiện còn ít, nên kế thừa của luận văn này có những hạn chế
1.1.1 Trên thế giới
1.1.1.1 Về mối quan hệ
Các nhà khoa học duy vật biện chứng đều cho rằng thế giới là vật chất V.I Lênin khẳng định vật chất không có nghĩa gì khác hơn là “thực tại khách quan tồn tại độc lập với ý thức con người và được ý thức con người phản ánh” [8, trang 180] V.I Lênin định nghĩa vật chất như sau “vật chất là phạm trù triết học dùng để chỉ thực tại khách quan được đem lại cho con người trong cảm giác, được cảm giác của chúng ta chép lại, chụp lại, phản ánh và tồn tại không phụ thuộc vào cảm giác” [8, trang 181] Về vấn đề vật chất và vận động Ph Ăngghen cho rằng vận động “là thuộc tính cố hữu của vật chất” “là phương thuốc tồn tại của vật chất” [8, trang 185]
Trang 9Quan điểm duy vật biện chứng cho rằng: “mối liên hệ dùng để chỉ sự qui định,
sự tác động và chuyển hóa lẫn hau, giữa các sự vật, hiện tượng, hay giữa các mặt, các yếu tố của mỗi sự vật, hiện tượng trong thế giới” [2, trang 69] Các nhà triết học duy vật biện chứng coi: “thế giới như là một chỉnh thể thống nhất Các sự vật, hiện tượng và quá trình cấu thành thế giới đó vừa cách biệt nhau, vừa có sự liên hệ qua lại, thâm nhập và chuyển hóa lẫn nhau” [8, trang 218]
tự sản sinh ra chính mình với trình độ ngày càng hoàn thiện hơn, có khả năng hoàn thiện quá trình trao đổi vật chất giữa cơ thể và môi trường” [8, trang 229]
1.1.1.3 Quan điểm triết học duy vật biện chứng và sự phát triển của di truyền học
N.P Dutimin, nhà di truyền học (Liên Xô cũ) đã nêu: “xét về mặt triết học, có thể nói rằng các quan điểm duy vật đã được quán triệt trong tất cả các giai đoạn phát triển của di truyền học và chính nhờ đó mà di truyền học mới có những thành tựu”[7, trang 448]
Trong tác phẩm “Di truyền học đại cương” N.P Dutimin đã dành 62 trang trong chương XXVI với tiêu đề: Các vấn đề phương pháp luận ở giai đoạn hiện đại của Di Truyền học tổng hợp Trong chương này, tác giả tập trung vào việc khẳng định khoa học nói chung, Di truyền học nói riêng, khi bị vấp ngã là do chưa thể hiện được phương pháp luận khoa học, nghĩa là chưa vận dụng đúng quan điểm duy vật biện chứng trong nhận thức một vấn đề phức tạp như di truyền học Từ khi xác định được nguyên nhân của tính di truyền, xác định được tính cấu trúc, tính vận động, tính phát triển, làm cho khoa học di truyền được phát triển
1.1.2 Trong nước
Trang 10có sư vật nào là cô lập, đứng yên
Thế giới sống được tạo nên bởi các cấp độ tổ chức khác nhau, tạo nên những
hệ thống lớn nhỏ khác nhau, nên giữa các cấp độ tổ chức khác nhau hoặc giữa các
sự vật khác nhau của mỗi cấp độ luôn có tương tác với nhau Do đó về phương pháp luận, nhìn nhận sinh giới phải theo quan điểm hệ thống, toàn diện
Theo tiến sĩ Hà Thị Thành (2010) cho rằng trong sinh quyển, mọi loài sinh vật đều có mối quan hệ hữu cơ, gắn bó với nhau và với môi trường [7, trang 67]
1.1.2.2 Quan niệm biện chứng về sự phát triển trong Sinh học
Cho đến nay, trong mỗi nội dung Sinh học ở từng cấp, từng lớp đều được nghiên cứu về sự phát triển của thế giới sống Tùy từng lớp mà mức độ nghiên cứu
có khác nhau, đầu tiên là xác định được về tổ chức các cơ quan, từ ngành Tảo chưa
có rễ, thân, lá lên đến ngành Rêu tuy chưa có rễ thật nhưng thân, lá có mạch dẫn, đến ngành Quyết có rễ, thân, lá thật, đến ngành hạt trần tuy chưa có hoa nhưng đã
có cơ quan tạo và bảo vệ hạt, ngành hạt kín, có hoa, quả và hạt Tương tự như vậy trong Sinh học lớp 7, lớp 8 cũng đề cập đến sự tiến hóa của động vật Cùng với phát triển về tổ chức theo hướng ngày càng cao thì phát triển về chức ăng theo hướng ngày càng hoàn thiện Đến lớp 12 được học khá kĩ về sự phát triển của sinh giới, đi sâu đề cập đến:
Bằng chứng tiến hóa
Nguyên nhân tiến hóa
Nhân tố tiến hóa
Cơ chế tiến hóa…
Tóm lại, quan điểm phát triển được thể hiện khá rõ trong chương trình Sinh học ở các cấp
Trang 11Tiến sĩ Hà Thị Thành đã nêu: “… thông qua việc nghiên cứu cơ chế tiến hóa của sinh giới đã chứng tỏ, thế giới sinh vật là một dạng đặc biệt của vật chất và chúng luôn vận động và phát triển không ngừng” [13, trang 82]
1.1.2.3 Về quan hệ nhân quả trong Sinh học
Trong sách giáo khoa Sinh học ở các cấp, khi xác định kiến thức bản chất của các hiện tượng Sinh học, đặc biệt trong các nội dung giải thích nguyên nhân của sự biểu hiện các hiện tượng đã rất quan tâm đến mối quan hệ nhân quả, nghĩa là đã quán triệt quan điểm “nhân – quả”
Về vận dụng quan hệ nhân quả trong dạy học Sinh học, thường được các nhà Sinh học diễn đạt dưới dạng các yếu tố và cơ chế tác động của các yếu tố sản sinh ra một sự vật hay một hiện tượng nào đó Do đó, nhiều nội dung có nguyên nhân gây
ra, tạo thành kết quả, nhưng hiểu nó cũng còn có những mức độ khác nhau
Từ năm 2010, Tiến sĩ Hà Thị Thành, với học vị Tiến sĩ Sinh học giảng dạy tại khoa triết học, học viện báo chí và tuyên truyền, đã nghiên cứu và xuất bản tài liệu
“Một số vấn đề triết học trong Sinh học” Với những lí luận cơ bản về triết học duy vật biện chứng và những phân tích về cấu trúc của tổ chức sống, về hoạt động sống,
đã làm sáng tỏ các luận điểm về cấu trúc vật chất của thế giới sống, giữa các thành phần cấu trúc thế giới sống, giữa các mặt khác nhau trong mỗi cấu trúc có mối liên
hệ chặt chẽ Trong đó có mối quan hệ nhân quả, do có quan hệ, có tương tác nên thế giới sống luôn phát triển theo các qui luật cơ bản của triết học duy vật biện chứng Việc quán triệt quan điểm triết học duy vật biện chứng để nghiên cứu Sinh học
là điều vô cùng cần thiết, trong đó xác định được nguyên nhân sản sinh ra các hiện tượng Sinh học nói chung, sản sinh ra các hiện tượng di truyền nó, biến dị nói riêng, đặc biệt xác định được nguyên nhân sản sinh ra sự truyền đạt tính di truyền qua các thế hệ, chắc chắn sẽ nâng cao được chất lượng dạy học Sinh học nói chung, di truyền học nói riêng
1.2 Cơ sở lý luận
1.2.1 Mối quan hệ trong thực tại khách quan
1.2.1.1 Khái niệm về mối quan hệ
Trang 12Theo từ điển tiếng Việt của Hoàng Phê thì: quan hệ là sự gắn liền về mặt nào
đó giữa hai hay nhiều sự vật khác nhau, khiến sự vật này có biến đổi thì có thể tác động đến sự vật kia [12]
Theo quan điểm duy vật biện chứng, mọi sự vật, hiện tượng trong thực tại khách quan luôn có quan hệ với nhau, chúng không tồn tại biệt lập Trong thực tại, mối quan hệ mang tính khách quan, tính phổ biến
1.2.1.2 Các dạng quan hệ của các sự vật, hiện tượng
Theo giáo trình triết học Mác – LêNin thì quan hệ giữa các sự vật, hiện tượng bao gồm:
- Mối liên hệ bên trong và mối liên hệ bên ngoài
- Mối liên hệ chủ yếu và mối liên hệ thứ yếu
- Mối liên hệ chung và mối liên hệ riêng
- Mối liên hệ trực tiếp và mối liên hệ gián tiếp
- Mối liên hệ bản chất và mối liên hệ không bản chất
- Mối liên hệ tất yếu và môi liên hệ ngẫu nhiên
- Mối liên hệ giữa các sự vật khác nhau và mối liên hệ giữa các mặt khác nhau của cùng một sự vật
- Mối liên hệ giữa các giai đoạn vận động, phát triển khác nhau của sự vật[8] Mối liên hệ giữa các sự vật rất đa dạng như trên là do tính đa dạng trong tồn tại, vận động và phát triển của chính các sự vật trong thực tại khách quan qui định Mối quan hệ bên trong được hiểu là mối quan hệ giữa các mặt khác nhau hay mối liên hệ giữa các yếu tố cấu thành của một sự vật (đối tượng) mà ta đang xét Ta phân biệt các mối quan hệ như trên cũng chỉ tương đối, vì cùng dạng quan hệ nhưng trong điều kiện này là bản chất, trong trường hợp khác lại không là bản chất
Từ các mối quan hệ, giúp cho ta về phương pháp luận là nghiên cứu phải theo nguyên lí toàn diện, nghĩa là nhận thức được sự vật ta phải xem xét nó dưới nhiều quan hệ, đặc biệt quan hệ với con người, với cuộc sống
Tóm lại, từ nghiên cứu về mối quan hệ cho ta thấy: để nhận thức sự vật sẽ phải trải qua các giai đoạn từ ý niệm ban đầu về cái toàn thể đến nhận thức một mặt, một liên hệ nào đó rồi đến nhận thức nhiều mặt, nhiều mối quan hệ và cuối cùng rút ra tri thức bản chất của sự vật
Trang 131.2.2 Phạm trù nguyên nhân và kết quả
1.2.2.1 Khái niệm về nguyên nhân, kết quả
- Nguyên nhân:
Thông thường, nguyên nhân được hiểu là hiện tượng A mà tác động của nó gây nên làm biến đổi hay kéo theo sau nó hiện tượng khác – hiện tượng B Trong trường hợp này thì A được gọi là nguyên nhân, còn B được gọi là kết quả
Thực ra bản thân A không phải là nguyên nhân của B mà sự tác động của A hay sự tác động qua lại của A với các hiện tượng khác như C, D, E… mới là các làm xuất hiện hiện tượng B (kết quả) Ví dụ: nguồn sáng chiếu từ một phía tới ngọn cây, thì ngọn cây vươn dần theo hướng nguồn sáng chiếu tới Nguyên nhân gây ra ngọn cây không vươn thẳng mà chuyển theo hướng nguồn sáng chiếu tới, ở đây nguyên nhân không phải bản thân nguồn sáng mà là tương tác của nguồn sáng với ngọn cây, gây ra nồng độ Auxinở ngay phía nguồn sáng chiếu tới có nống đồ thấp, phía ngược lại có nồng độ auxin cao hơn, dẫn tới tế bào của mô phân sinh ngọn cây
ở phía có nồng độ auxin cao phân chia mạnh, nên uốn ngọn hướng về phía có nguồn sáng chiếu tới Như vậy, tương tác là nguyên nhân chứ không phải là nguồn sáng Vậy: nguyên nhân bao giờ cũng là sự tương tác giữa các mặt trong một sự vật hoặc giữa các sự vật với nhau gây ra những biến đổi nhất định
Quan hệ giữa nguyên nhân và kết quả được gọi là quan hệ nhân quả
- Một số tính chất của quan hệ nhân quả:
o Tính khách quan: mối quan hệ nhân quả của các sự vật, nó luôn luôn tồn tại không phụ thuộc vào nhận thức của con người
o Tính phổ biến: mọi hiện tượng trong thực tại khách quan đều có nguyên nhân nhất định gây ra
o Tính tất yếu: với một nguyên nhân nhất định, trong những hoàn cảnh (điều kiện) nhất định, chỉ gây kết quả nhất định, đó là tính tất yếu của quan hệ nhân quả