1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Sử dụng kiến thức liên môn học trong dạy học sinh học 10 trung học phổ thông

126 8 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 126
Dung lượng 1,89 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Với cách tiếp cận các môn khoa học vào dạy học sinh học theo hướng rộng, toàn diện và dựa trên năng lực để hình thành kiến thức mới, kỹ năng mới, đặc biệt trong chương trình sinh học lớp

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC

NGUYỄN THỊ THIM

SỬ DỤNG KIẾN THỨC LIÊN MÔN HỌC TRONG DẠY HỌC SINH HỌC 10 - TRUNG HỌC PHỔ THÔNG

LUẬN VĂN THẠC SỸ SƯ PHẠM SINH HỌC

CHUYÊN NGÀNH LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC

(BỘ MÔN SINH HỌC)

MÃ SỐ: 601410

Cán bộ hướng dẫn: PGS.TS NGUYỄN THẾ HƯNG

Trang 2

Tôi xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu và các thầy cô trong tổ Tự nhiên, trường THPT Đông Tiền Hải, THPT Tây Tiền Hải đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện luận văn

Cuối cùng, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn tới gia đình, bạn bè và đồng nghiệp đã luân khích lệ, động viên và tận tình giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận văn

Hà Nội, tháng 8 năm 2013

Tác giả

Nguyễn Thị Thim

Trang 3

Năng lƣợng Nguyên tắc bổ sung Nhiễm sắc thể

Nuclêôtit Quang hợp Sách giáo khoa Trung học phổ thông Trung học cơ sở Thực nghiệm

Vi khuẩn

Trang 4

DANH MỤC BẢNG

Bảng 1.1 Kết quả điều tra về thực trạng việc dạy học sử dụng kiến thức liên môn học của giáo viên THPT 21 Bảng 1.2 Kết quả điều tra về khả năng sử dụng kiến thức liên môn học trong dạy và học môn sinh học 23 Bảng 3.1: Bảng tổng kết điểm bài kiểm tra số 1 73 Bảng 3.2: Bảng so sánh các tham số đặc trƣng giữa các lớp ĐC và TN của bài kiểm tra số 1 73 Bảng 3.3: Bảng tần suất (fi%) số học sinh đạt điểm xi của bài kiểm tra số 1 73 Bảng 3.4: Bảng tần suất hội tụ tiến (số % học sinh đạt điểm xi trở lên điểm bài kiểm tra số 1) 74 Bảng 3.5: Bảng tổng kết điểm bài kiểm tra số 2 75 Bảng 3.6: Bảng so sánh các tham số đặc trƣng giữa các lớp ĐC và TN của bài kiểm tra số 2 76 Bảng 3.7: Bảng tần suất (fi%) số học sinh đạt điểm xi của bài kiểm tra số 2 76 Bảng 3.8: Bảng tần suất hội tụ tiến 77 (số % học sinh đạt điểm xi trở lên điểm bài kiểm tra số 2) 77 Bảng 3.9: Bảng tổng kết điểm bài kiểm tra số 3 78 Bảng 3.10: Bảng so sánh các tham số đặc trƣng giữa các lớp ĐC và TN của bài kiểm tra số 3 78 Bảng 3.11: Bảng tần suất (fi%) số học sinh đạt điểm xi của bài kiểm tra số 3 79 Bảng 3.12: Bảng tần suất hội tụ tiến (số % học sinh đạt điểm xi trở lên điểm bài kiểm tra số 2) 80 Bảng 3.13: Bảng tổng kết điểm bài kiểm tra số 4 81 Bảng 3.14: Bảng so sánh các tham số đặc trƣng giữa các lớp ĐC và TN của bài kiểm tra số 4 81 Bảng 3.15: Bảng tần suất (fi%) số học sinh đạt điểm xi của bài kiểm tra số 4 81 Bảng 3.16: Bảng tần suất hội tụ tiến (số % học sinh đạt điểm xi trở lên điểm bài kiểm tra số 4) 82 Bảng 3.7: Kiểm định giả thuyết thống kê số trung bình cộng điểm các bài kiểm tra bằng giả thuyết H0: 84

Trang 5

DANH MỤC HÌNH

Hình 1.1 : So sánh tỷ lệ diện tích/ thể tích của hai dạng cấu trúc 17

Hình 2.1: Cấu trúc phân tử nước 35

Hình 2.2: Cấu trúc hóa học của các phân tử đường 41

Hình 2.3: Mô hình cấu trúc phân tử lipit đơn giản 42

Hình 2.4: Mô hình cấu trúc các phân tử lipit 43

Hình 2.5 Cấu trúc màng sinh chất theo mô hình khảm động 44

Hình 2.6: Mô hình sắp xếp và hoạt động của phân tử phôtpholipid 45

Hình 2.7: Cấu trúc phân tử Sreroit 45

Hình 2.8: Thí nghiệm vận chuyển thụ động của CuSO4 và nước 49

Hình II.9: Vận chuyển tích cực 50

Hình 2.10: Sinh trưởng ở vi sinh vật 54

Hình 2.11: Sơ đồ quan hệ giữa 55

thời gian thế hệ và số lượng tế bào 55

Hình 2.12: Đường cong sinh trưởng của quần thể vi khuẩn trong nuôi cấy không liên tục 56

Hình 3.1: Biểu đồ biểu diễn tần suất điểm số bài kiểm tra số 1 74

Hình 3.2: Đồ thị biểu diễn tần suất hội tụ tiến bài kiểm tra số 1 75

Hình 3.3: Biểu đồ biểu diễn tần suất điểm số bài kiểm tra số 2 76

Hình 3.4: Đồ thị biểu diễn tần suất hội tụ tiến bài kiểm tra số 2 77

Hình 3.5: Biểu đồ biểu diễn tần suất điểm số bài kiểm tra số 3 79

Hình 3.6: Đồ thị biểu diễn tần suất hội tụ tiến bài kiểm tra số 3 80

Hình 3.7: Biểu đồ biểu diễn tần suất điểm số bài kiểm tra số 4 82

Hình 3.8: Đồ thị biểu diễn tần suất hội tụ tiến bài kiểm tra số 4 83

Trang 6

MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN i

DANH MỤC VIẾT TẮT ii

DANH MỤC BẢNG iii

DANH MỤC HÌNH iv

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Mục đích nghiên cứu 3

3 Nhiệm vụ nghiên cứu 3

4 Đối tượng và khách thể nghiên cứu 3

5 Vấn đề nghiên cứu 3

6 Giả thuyết khoa học 4

7 Giới hạn và phạm vi nghiên cứu 4

8 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 4

9 Phương pháp nghiên cứu 4

10 Những đóng góp mới của đề tài 5

11 Cấu trúc của luận văn 5

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 6

1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề dạy học liên môn ở Việt Nam 6

1.2 Cơ sở nghiên cứu 7

1.2.1 Ý nghĩa của khái niệm sư phạm sử dụng kiến thức liên môn học 7 1.2.2 Sử dụng kiến thức liên môn trong dạy học 9

1.2.3 Một số định hướng dạy học Sinh học theo quan điểm tích hợp 14

1.2.4 Nguyên tắc, phương pháp sử dụng kiến thức liên môn trong quá trình dạy học 19

1.3 Cơ sở thực tiễn 21

1.3.1 Kết quả điều tra sự hiểu biết của giáo viên về dạy học sử dụng kiến thức liên môn học 21

Trang 7

Trung học phổ thông 23

1.3.2 Thực trạng chương trình môn học 24

CHƯƠNG 2 SỬ DỤNG KIẾN THỨC LIÊN MÔN HỌC TRONG DẠY HỌC SINH HỌC 10 - TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 25

2.1 Phân tích chương trình Sinh học lớp 10 25

2.1.1 Mục tiêu của chương trình 25

2.1.2 Cấu trúc chương trình 27

2.2 Các quan điểm để dạy học Sinh học 10, Trung học phổ thông cần hình thành 28

2.2.1 Quan điểm xây dựng chương trình 28

2.2.2 Quan điểm xây dựng hệ thống kiến thức 29

2.3 Quy trình thiết kế một bài giảng Sinh học theo phương pháp dạy học sử dụng kiến thức liên môn học 30

2.3.1 Quy trình thiết kế một bài giảng Sinh học theo phương pháp dạy học sử dụng kiến thức liên môn 30

2.3.2 Bố cục một bài giảng thiết kế theo phương pháp sử dụng kiến thức liên môn trong dạy học 36

2.4 Vận dụng quan điểm dạy học sử dụng kiến thức liên môn học vào dạy học Sinh học 10, trung học phổ thông 39

CHƯƠNG 3 THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 59

3.1 Mục đích, nội dung, phương pháp thực nghiệm sư phạm 59

3.1.1 Mục đích thực nghiệm 59

3.1.2 Nội dung thực nghiệm 59

3.1.3 Phương pháp thực nghiệm 59

3.2 Xỷ lý số liệu 61

3.2.1 Phân tích kết quả định tính 61

3.2.2 Phân tích kết quả định lượng 62

3.3 Kết quả thực nghiệm 66

Trang 8

3.3.1 Phân tích kết quả định tính 66

3.3.2 Phân tích kết quả định lượng 72

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 85

TÀI LIỆU THAM KHẢO 87

PHỤ LỤC A 91

PHỤ LỤC B: 109

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

1.1 Xuất phát tử nhu cầu đổi mới giáo dục trong giai đoạn hiện nay

Ngày nay, với sự phát triển như vũ bão của khoa học, kĩ thuật và công nghệ, tri thức của nhân loại đang gia tăng nhanh chóng Sự bùng nổ của khoa học và công nghệ thông tin đã tạo ra các phương tiện, phương pháp giao lưu mới, mở rộng khả năng học tập ở nhiều dạng thức khác nhau, phù hợp với năng lực và điều kiện từng cá nhân Bên cạnh đó, xu thế hội nhập toàn cầu về kinh tế, giáo dục, khoa học và đời sống xã hội đòi hỏi phải có sự đổi mới, liên kết, hợp tác với nhau trong tất cả các mặt

Ở Việt Nam để đẩy mạnh quá trình công nghiệp hóa hiện đại hóa và hội nhập quốc tế hiện nay, cần phải xây dựng nguồn nhân lực toàn diện về kĩ thuật và tri thức Xuất phát từ nhu cầu đó ngành giáo dục Việt Nam thực hiện đổi mới chất lượng giáo dục, đề xuất của chiến lược phát triển giáo dục 2010 – 2020 là: “Tiếp tục đổi mới và hiên đại hóa phương pháp giáo dục”

1.2 Xuất phát từ điều kiện học tập và ý nghĩa của việc sử dụng kiến thức liên môn

Xu thế phát triển của khoa học ngày nay là tiếp tục phân hoá sâu, song song với tích hợp liên môn, liên ngành ngày càng rộng Việc giảng dạy các khoa học trong nhà trường phải phản ánh sự phát triển hiện đại của khoa học, bởi vậy không thể cứ tiếp tục giảng dạy các khoa học như là những lĩnh vực tri thức riêng rẽ Mặt khác, như đã nói ở trên, khối lượng tri thức khoa học đang gia tăng nhanh chóng

mà thời gian học tập trong nhà trường lại có hạn, do đó phải chuyển từ dạy các môn học riêng rẽ sang dạy các môn học tích hợp

1.3 Xuất phát từ đặc điểm của kiến thức Sinh học 10 trung học phổ thông

và thực trạng dạy học sinh học 10 ở các trường THPT

Sinh học 10 nghiên cứu các tổ chức sống ở cấp độ tế bào và sinh học vi sinh vật Khi nghiên cứu cấu tạo tế bào, quá trình sinh sản cần học sinh phải

Trang 10

có những kiến thức liên môn học như toán, lí, hóa,… để giải thích cơ chế và

sự phù hợp qua cấu trúc và chức năng của các cơ quan của tế bào và vi sinh vật, giữa tế bào, sinh vật và môi trường Như vậy kiến thức mang tính tổng hợp, vì thế cần tìm ra sự phù hợp trong quá trình truyền đạt và tiếp nhận kiến thức

Việc giảng dạy và học tập ở trường THPT nói chung và dạy học sinh học nói riêng hiện nay còn nhiều bất cập Theo nhận định của các cán bộ chỉ đạo môn Sinh của Vụ giáo dục và qua các đợt thanh tra chuyên môn và các kỳ thao giảng giáo viên giỏi cho thấy, phần lớn các giờ dạy Sinh học được thực hiện theo hướng giáo viên chủ yếu dựa vào sách giáo khoa, sử dụng phương pháp diễn giảng kết hợp với đàm thoại Mặc dù môn sinh là môn học mang tính thực tế cao, các tiết thực nghiệm là rất quan trọng nhưng đa phần các giáo viên bỏ qua Cách kiểm tra đánh giá chủ yếu sử dụng các câu hỏi tái hiện, ít mang tính tổng hợp, vận dụng, đòi hỏi sự hiểu biết và nắm vững kiến thức của học sinh Phần lớn các bài còn dạy theo lối truyền thống, chưa có sự kết nối, vận dụng các kiến thức từ các môn học liên quan, việc sử dụng công nghệ thông tin làm các mô phỏng còn hạn chế, kéo theo hệ lụy là học sinh tiếp thu kiến thức không có hệ thống, không giải thích được các cơ chế và quá trình sảy ra của sinh vật, hiện tượng

Thực tế nói trên buộc những nhà giáo dục phải xem lại chức năng truyền thống của người giáo viên là truyền đạt kiến thức, đặc biệt là những kiến thức của từng môn khoa học riêng rẽ trong đó có môn sinh học Với cách tiếp cận các môn khoa học vào dạy học sinh học theo hướng rộng, toàn diện

và dựa trên năng lực để hình thành kiến thức mới, kỹ năng mới, đặc biệt trong chương trình sinh học lớp 10, với lượng kiến thức dài và khó, cùng với sự phát triển mạnh của công nghệ sinh học, giáo viên phải biết dạy tích hợp các môn khoa học, dạy cho học sinh cách thu thập, chọn lọc, xử lí các thông tin, biết vận dụng các kiến thức học được vào học kiến thức sinh học 10 Xuất

Trang 11

phát từ vấn đề trên đã gợi cho người viết lựa chọn nghiên cứu đề tài: “Sử

dụng kiến thức liên môn học trong dạy học Sinh học 10 - trung học phổ thông”

2 Mục đích nghiên cứu

- Thông qua dạy học sử dụng kiến thức liên môn học chương trình Sinh học 10 giúp người học nhằm nâng cao hiệu quả học tập và rèn luyện kỹ năng tích hợp kiến thức các môn khoa học để nắm vững kiến thức và tạo tính tích cực, chủ động trong học tập cho học sinh

3 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Nghiên cứu cơ sở lý luận về dạy học tích hợp

- Điều tra, khảo sát việc phát triển dạy học tích hợp trong dạy học Sinh học ở một số trường Trung học phổ thông nói chung và trong dạy học Sinh học 10 nói riêng

- Nghiên cứu chương trình và nội dung kiến thức sinh học Trung học phổ thông, đặc biệt chương trình Sinh học 10, làm cơ sở cho việc lựa chọn nội dung, biện pháp tích hợp trong dạy học

- Thiết kế và tổ chức dạy học Sinh học 10 theo quan điểm dạy học tích hợp

- Thực nghiệm sư phạm để đánh giá tính hiệu quả, tính khả thi của các biện pháp đã đề xuất

4 Đối tượng và khách thể nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: Dạy học Sinh học 10, Trung học phổ thông

theo quan điểm tích hợp

- Khách thể nghiên cứu: Quá trình dạy học Sinh học 10, Trung học phổ thông

5 Vấn đề nghiên cứu

Đề tài tập trung vào nghiên cứu vấn đề cơ bản sau:

- Làm thế nào để nâng cao chất lượng dạy học Sinh học 10 – trung học phổ thông theo quan điểm dạy học tích hợp

Trang 12

6 Giả thuyết khoa học

Chất lượng dạy học Sinh học 10, Trung học phổ thông sẽ được nâng cao nếu người dạy thực hiện tốt nguyên tắc, phương pháp, quy trình và nội dung dạy học tích hợp

7 Giới hạn và phạm vi nghiên cứu

- Tổ chức thực hiện dạy học chương trình Sinh học 10, Trung học phổ thông theo quan điểm tích hợp

- Điều tra, khảo sát việc dạy học theo quan điểm tích hợp ở một số trường trung học phổ thông trên địa bàn tỉnh Thái Bình

- Phạm vi thực nghiệm sư phạm giới hạn ở một số trường phổ thông tại Thái Bình: trường THPT Tây Tiền Hải, trường THPT Đông Tiền Hải huyện Tiền Hải tỉnh Thái Bình năm học 2012 – 2013

8 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

Xong luận văn để nhằm bổ sung:

Về mặt lý luận

Góp phần làm phong phú lý luận phương pháp giảng dạy môn sinh học

ở trường phổ thông về vấn đề dạy học tích hợp

Về mặt thực tiễn

Góp phần nâng cao chất chất lượng dạy học Sinh học 10, trung học phổ thông

9 Phương pháp nghiên cứu

- Nhóm phương pháp nghiên cứu lý thuyết:

Sư tầm, đọc tài liệu, tổng hợp phân tích các quan điểm, lý luận liên quan đến sử dụng kiến thức liên môn học trong dạy học

- Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn:

Tìm hiểu về phương pháp dạy học Sinh học phổ biến của các giáo viên

ở trường THPT; thái độ, phương pháp và kết quả học tập môn Sinh học của

HS ở trường THPT bằng quan sát, điều tra - khảo sát bằng phiếu hỏi, tổng kết kinh nghiệm, tham vấn chuyên gia

Trang 13

Dự giờ và trao đổi trực tiếp với những giáo viên khác, tham khảo ý kiến, giáo án của GV giảng dạy bộ môn Sinh học

Nghiên cứu và phân tích nội dung, chương trình SGK sinh học 10

- Nhóm phương pháp thực nghiệm sư phạm:

Tiến hành thực nghiệm sư phạm thiết kế và tổ chức dạy học một số bài trong chương trình Sinh học 10 có sử dụng kiến thức liên môn học tại trường THPT Tây Tiền Hải, trường THPT Đông Tiền Hải để đánh giá hiệu quả sư phạm của đề tài nghiên cứu

- Phương pháp thống kê toán học:

Các số liệu thu được trong quá trình thực nghiệm sư phạm được xử lý bằng phương pháp thống kê toán học với sự hỗ trợ của phần mềm Microsoft Excel

Định lượng, định tính, thống kê và phân tích thống kê

10 Những đóng góp mới của đề tài

- Đề xuất được quy trình thiết kế một bài giảng theo phương pháp liên kết với kiến thức của các môn học khác nhằm nâng cao hiệu quả giảng dạy

- Hiện thực hóa lý luận và quy trình đề xuất trong việc xây dựng một số giáo án Sinh học 10 theo phương pháp sử dụng kiến thức liên môn học vào dạy học Sinh học

- Đánh giá hiệu quả của việc sử dụng các phương pháp dạy học sử dụng kiến thức liên môn học vào trong dạy học Sinh học, và đã xác định được tính khả thi của giả thuyết đề xuất

11 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn phân theo 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài

Chương 2: Sử dụng kiến thức liên môn học trong dạy học Sinh học 10, Trung học phổ thông

Chương 3 : Thực nghiệm sư phạm

Trang 14

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề dạy học liên môn ở Việt Nam

Ở nước ta, có một số nhà giáo dục đã và đang vận dụng quan điểm

sử dụng kiến thức các môn khoa học khác vào việc dạy học ở trường phổ thông với một số công trình tiêu biểu:

Nguyễn Thanh Hùng (2006), nghiên cứu vấn đề Tích hợp trong

dạy học Ngữ văn Theo đề tài này, tác giả coi việc tích hợp trong dạy học

Ngữ văn là quan điểm, là hình thức, phương pháp, phương tiện đã và đang được các nhà trường phổ thông áp dụng, cụ thể là tích hợp Tập làm văn, Văn học, Ngữ pháp vào trong môn Ngữ Văn Cuối cùng, tác giả đề xuất một số biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả dạy học theo chương trình tích hợp đối với môn Ngữ Văn.[13]

Lê Trọng Sơn (1999), với đề tài Vận dụng tích hợp giáo dục dân số

qua dạy học giải phẫu người ở lớp 9 phổ thông THCS Theo tác giả,

giáo dục dân số được lồng ghép vào môn Giải phẫu sinh lý người là thích hợp nhất cả ở độ tuổi của học sinh cũng như nội dung môn học Ông đã chỉ ra mối quan hệ giữa những tri thức giải phẫu con người và tri thức dân số từ đó vận dụng quan điểm tích hợp để lồng ghép các kiến thức dân số cần thiết vào các bài học có liên quan Đó chính là bản chất của giáo dục tích hợp [21, tr26]

Trong đề tài Dạy học tích hợp [12], tác giả Trần Bá Hoành (1993),

đưa ra một số khái niệm nền tảng về sư phạm tích hợp, các quan điểm và mục tiêu của sư phạm tích hợp, điều kiện và triển vọng để triển khai dạy học theo hướng tích hợp ở trường phổ thông tại Việt Nam

Nguyễn Phúc Chính và Trần Thị Mai Lan (2009), lại đề cập đến

Trang 15

10) Việc tích hợp giáo dục hướng nghiệp trong các môn học ở trường

phổ thông sẽ đạt được mục tiêu kép vừa nâng cao chất lượng dạy học môn học, vừa góp phần giúp HS định hướng nghề nghiệp sau này Các tác giả đã nghiên cứu nội dung của phần Vi Sinh Vật học lớp 10, từ đó đưa ra một số nguyên tắc và biện pháp tích hợp giáo dục hướng nghiệp trong dạy học vi sinh vật.[2, tr44]

Đối với các nhà trường sư phạm, việc vận dụng quan sử dụng kiến thức liên môn trong quá trình đào tạo giáo viên cũng đang là vấn đề nhận được sự quan tâm của rất nhiều những nhà nghiên cứu Có thể kể ra một

số công trình tiêu biểu: Đinh Quang Báo (2003), với công trình Cơ sở lý

luận của việc đào tạo tích hợp khoa học cơ bản và phương pháp dạy học

bộ môn ở các trường sư phạm [1]; Lê Đức Ngọc (2005), với đề tài Xây dựng chương trình đào tạo giáo viên dạy tích hợp các môn tự nhiên, các môn xã hội – nhân văn và các môn công nghệ [20]; Nguyễn Đăng Trung

(2003), Vận dụng quan điểm tích hợp trong quá trình dạy học môn giáo dục học trong nhà trường sư phạm [23]

Như vậy, việc sử dụng kiến thức liên môn học vào dạy học đã và đang thu hút sự quan tâm của không ít những nhà sư phạm ở Việt Nam Những tác phẩm đó đã góp phần khẳng định dạy học theo quan điểm sử dụng kiến thức liên môn là tất yếu và cần thiết trong nhà trường hiện nay

1.2 Cơ sở nghiên cứu

1.2.1 Ý nghĩa của khái niệm sư phạm sử dụng kiến thức liên môn học

Phương thức sử dụng kiến thức liên môn học vào quá trình dạy học cũng chính là phương pháp sư phạm tích hợp, mà theo Xavier Roegier (1996),

“ Khoa sư phạm tích hợp dựa trên những năng lực, tức là biết sử dụng các kỹ

Trang 16

năng trong một tình huống có vấn đề” Nó chỉ ra những yêu cầu cơ bản của dạy học sử dụng kiến thức liên môn Cụ thể:

- Nhà trường phải tiếp tục là một đảm bảo cho những giá trị quan trọng của xã hội Thật vậy, chỉ có thông qua những giá trị đó, thì toàn bộ các hoạt động học tập và hoạt động nghề nghiệp mới có ý nghĩa

- Nhà trường không chỉ có chức năng ưu tiên truyền đạt kiến thức và thông tin mà còn giúp học sinh có khả năng tìm thông tin, quản lý thông tin và

tổ chức các kiến thức

- Ngoài khía cạnh kiến thức đơn thuần, nhà trường trước hết phải tập trung cố gắng dạy học sinh cách sử dụng kiến thức của mình vào những tình huống có ý nghĩa với học sinh, [29,tr11]

Theo Xavier Roegiers, “ Sư phạm tích hợp là một quan niệm về quá trình học tập góp phần hình thành ở học sinh những năng lực rõ ràng, có dự tính trước những điều cần thiết cho học sinh, nhằm phục vụ cho các quá trình học tập tương lai hoặc nhằm hòa nhập học sinh vào cuộc sống lao động Như vậy, sư phạm tích hợp nhằm làm cho quá trình học có ý nghĩa,” [29]

Ngoài những hoạt động học tập riêng lẻ cần thiết cho các năng lực riêng

lẻ, sư phạm tích hợp còn dự tính những hoạt động tích hợp trong đó học sinh học cách sử dụng phối hợp những kiến thức, những kỹ năng, những thao tác

đã lĩnh hội một cách rời rạc để giải quyết tình huống có ý nghĩa trong thực tế

sư phạm tích hợp gọi những năng lực và mục tiêu đó là năng lực tích hợp và mục tiêu tích hợp

Như vậy, theo quan điểm của Xavier Roegier, năng lực là cơ sở của khoa sư phạm tích hợp, gắn học với hành

Từ thế kỷ XV đến thế kỷ XIX, các khoa học tự nhiên đã nghiên cứu giới tự nhiên theo tư duy phân tích, mỗi khoa học tự nhiên nghiên cứu một dạng vật chất, một hình thức vận động của vật chất trong tự nhiên

Trang 17

Tuy nhiên, bản thân giới tự nhiên là một thể thống nhất, vì vậy, sang thế

kỷ XX đã xuất hiện những khoa học liên ngành, gian ngành, hình thành những tri thức đa ngành, liên ngành Các khoa học tự nhiên đã chuyển từ tiếp cận “phân tích - cấu trúc” sang tiếp cận “tổng hợp - hệ thống” Sự thống nhất của tư duy phân tích và tổng hợp (cả hai thao tác này đều cần thiết cho sự phát triển nhận thức) đã tạo nên tiếp cận “cấu trúc - hệ thống” đem lại cách nhận thức biện chứng về quan hệ giữa bộ phận và toàn thể

Xu hướng phát triển của khoa học ngày nay là tiếp tục phân hóa sâu song song với tích hợp liên môn, liên ngành càng rộng

Chính vì thế mà việc giảng dạy các môn khoa học trong nhà trường phải phản ánh sự phát triển hiện đại của khoa học, không thể giảng dạy các khoa học như là các tri thức riêng rẽ Mặt khác, như đã nói ở trên, khối lượng tri thức khoa học đang gia tăng nhanh chóng mà thời gian học tập trong nhà trường có hạn, do đó phải chuyển từ dạy các môn riêng rẽ sang giảng dạy các môn tích hợp

Theo Phạm Văn Lập (2004), “tích hợp có nghĩa là những kiến thức, kỹ năng học được ở môn này, phần này của môn học được sử dụng như những công cụ để nghiên cứu học tập trong môn học khác, trong các phần khác của cùng môn học Thí dụ, toán học được sử dụng như một công cụ đắc lực trong nghiên cứu sinh học Tin học được sử dụng như một công cụ để mô hình hóa các quá trình sinh học…” [19]

1.2.2 Sử dụng kiến thức liên môn trong dạy học

1.2.2.1 Quan điểm dạy học liên môn

Trong dạy học tích hợp, điều cần thiết đầu tiên là phải :vượt lên trên cái nhìn bộ môn” – tức là vượt lên trên cái nhìn quen thuộc về vai trò của từng môn học riêng rẽ, quan niệm đúng hơn về quan hệ tương tác giữa các môn học Theo d’ Hainaut(1977) có 4 quan điểm khác nhau đối với các môn học

Trang 18

- Quan điểm “đơn môn”: Có thể xây dựng chương trình học tập theo hệ thống của mỗi môn học riêng biệt Các môn học được tiếp cận một cách riêng

rẽ

- Quan điểm “đa môn”: Thực chất là những tình huống, những đề tài được nghiên cứu theo những quan điểm khác nhau, nghĩa là theo những môn học khác nhau Ví dụ, người học có thể vấn đề nhà ở theo quan điểm kiến trúc, theo quan điểm mĩ học, theo quan điểm lịch sử, theo quan điểm nhân chủng học, theo quan điểm này, các môn học được tiếp cận riêng rẽ và chỉ gặp nhau ở một số thời điểm trong quá trình nghiên cứu các đề tài Như vậy, các môn học sẽ không thực sự được tích hợp

- Quan điểm “liên môn”: Trong dạy học những tình huống chỉ có thể được tiếp cận hợp lý qua sự soi sáng của nhiều môn học Ở đây chúng ta nhấn mạnh đến sự liên kết các môn học, làm cho chúng tích hợp với nhau để giải quyết một tình huống cho trước: các quá trình học tập sẽ không đề cập một cách rời rạc mà phải liên kết với nhau xung quanh vấn đề cần giải quyết

- Quan điểm “xuyên môn”: Có thể phát triển những kĩ năng mà học sinh có thể sử dụng trong tất cả các môn học, trong tất cả các tình huống, chẳng hạn, nêu một giả thuyết, đọc các thông tin, giải một bài toán,… Những

kĩ năng chúng ta sẽ gọi là kỹ năng xuyên môn Có thể lĩnh hội được những kĩ năng này trong từng môn học hoặc nhân dịp có những hoạt động chung cho nhiều môn học

Nhu cầu phát triển xã hội hiện đại đòi hỏi nhà trường hướng tới quan điểm liên môn và xuyên môn Trong đó, quan điểm liên môn phối hợp sự đóng góp của nhiều môn học để nghiên cứu và giải quyết mọi tình huống, còn quan điểm xuyên môn lại tìm các phát triển ở học sinh những kĩ năng xuyên môn, nghĩa là những kĩ năng có thể áp dụng mọi lúc mọi nơi

Theo Xavier Roegier (1996) quan điểm liên môn có thể đưa ra những ứng dụng chung cho nhiều môn học.Phối hợp các quá trình học tập của nhiều

Trang 19

môn học khác nhau Cách tích hợp này tiến xa hơn các cách tích hợp thứ nhất

vì nó dẫn đến hợp nhất nhiều môn học [27,tr49]

Những ứng dụng cho nhiều môn học được thực hiện ở cuối năm học hay cuối cấp học Ví dụ: các môn Vật lý, Hóa học, Sinh học vẫn được dạy riêng rẽ nhưng đến cuối năm hoặc cuối cấp có một phần, một chương về những vấn đề chung của khoa học tự nhiên và thành tựu ứng dụng thực tiễn, học sinh được đánh giá bằng một bài thi tổng hợp kiến thức

Những ứng dụng cho nhiều môn học được thực hiện ở những thời điểm

cụ thể đều đặn trong năm học Ví dụ: Các môn Lí, Hóa, Sinh vẫn được dạy riêng rẽ, hoặc vì bản chất và logic phát triển nội dung từng môn học, hoặc vì các môn học này do các giáo viên khác nhau đảm nhiệm Tuy nhiên, chương trình có bố trí xem một số chương trình tích hợp liên môn nhằm làm cho học sinh quen dần với việc sử dụng kiến thức những môn học gần gũi nhau

1.2.2.2 Vai trò của người giáo viên trong phương pháp dạy học liên môn

Mục đích sử dụng kiến thức liên môn học vào trong dạy học sinh học nhằm nâng cao hiệu quả giảng dạy, học sinh phát huy được tính tích cực chủ động sáng tạo Câu hỏi đặt ra là sử dụng kiến thức liên môn học vào dạy học

để đạt được mục đích nêu trên thì vai trò của người giáo viên có giảm nhẹ đi không? Có thể khẳng định rằng, vai trò của người giáo viên không những không giảm đi mà còn trở nên vô cùng quan trọng Trong quá trình dạy học, việc chuyển từ dạy và học thụ động sang dạy học tích cực, giáo viên không còn đóng vai trò là người truyên đat kiến thức, mà trở thành người thiết kế, tổ chức các hoạt động theo nhóm nhỏ để học sinh chủ động chiếm lĩnh kiến thức Trên lớp học sinh thương là chính, giáo viên là người gợi mở, xúc tác động viên, cố vấn, trọng tài trong các hoạt động tìm tòi hào hứng, tranh luận sôi nổi của học sinh Trước khi lên lớp, giáo viên phải đầu tư công sức thời gian soạn bài, giáo viên đã phải đầu tư công sức, thời gian rất nhiều so với bài soạn giảng trước đây Ví như: tìm hiểu các kiến thức của các môn học liên

Trang 20

quan đến kiến thức bài dạy, dự kiến tổ chức các hoạt động của học sinh, dự kiến phương pháp truyền giảng phù hợp, các tình huống có thể phát sinh… Trong khâu giảng bài giáo viên phải suy nghĩ các giải pháp điều chỉnh hoạt động của giáo viên và học sinh cho phù hợp với tiến trình bài dạy và đặc điểm lớp học Như vậy người giáo viên vừa phải có kiến thức sâu rộng, vừa có trình

độ sư phạm lành nghề, biết xử lý tinh tế, biết sử dụng các thiết bị dạy học hiện đại, có thể định hướng sự phát triển của học sinh nhưng cũng đảm bảo sự tự

do suy nghĩ lĩnh hội kiến thức của học sinh trong hoạt động học tập

1.2.2.3 Một số khó khăn khi áp dụng phương pháp dạy học liên môn học

Thực tế cho thấy việc sử dụng kiến thức liên môn không hoàn toàn chỉ

có mặt tích cực, bởi không phải mọi nội dung sử dụng kiến thức liên môn học sinh đều chiếm lĩnh được kiến thức truyền đạt, bởi không có sự tương dương trong sự phân bố kiến thức giữa các môn học, có những nội dung áp dụng kiến thức của các môn học khác vượt quá kiến thức lớp học hiện tại của học sinh làm học sinh càng thấy trừu tượng và khó lĩnh hội Có những kiến thức

để học sinh tự học, tự tìm tòi sẽ mất rất nhiều thời gian mà hiệu quả lại không cao, ảnh hưởng đến tiến độ chương trình Hơn nữa, trong một lớp học trình độ của học sinh khồng tương đồng nhau, không phải học sinh nào cũng tình nguyện hay tham gia tích cực vào các hoạt động học Mặc dù người giáo viên phải chủ động điều chỉnh, hướng dẫn các hoạt động học tập, nhưng áp lực đó phần nào giảm đi tính hiệu quả của phương pháp

Hiện nay, số lượng học sinh trong lớp quá đông cũng là một trở ngại không nhỏ đến chất lượng dạy học Số lượng học sinh lớn thì giáo viên không bao quát được hết lớp học, càng khó phân loại học sinh Cở sở vật chất phục

vụ đào tạo hiện nay chưa đáp ứng được cho quá trình dạy học liên môn học, tài liệu tham khảo của học sinh còn thiếu, thiết bị dạy – học thiếu hoặc không đồng bộ, nhiều thiết bị lạc hậu Phòng học chuyên đề chất lượng chưa cao, các thí nghiệm không thực hiện được…

Trang 21

1.2.2.4 Điều kiện áp dụng phương pháp dạy học liên môn học

Trước hết người giáo viên phải có kiến thức sâu rộng bao gồm các kiến thức môn chuyên ngành và kiến thức các môn học khác, vừa có trình độ sư phạm lành nghề, biết ứng xử tinh tế, có khả năng thích ứng với nhiệm vụ đa dạng, biết xử lí các thiết bị dạy học hiện đại

Quá trình dạy học là hoạt động phối hợp giữa hai chủ thể giáo viên và học sinh Do vậy, nếu chỉ có người giáo viên lỗ lực thì chưa đủ Học sinh phải nhận thức được mục đích học tập, tự nguyện, tự giác trong các hoạt động học tập, có ý thức trách nhiệm về kết quả chung của cả lớp, biết tự học và tranh thủ học ở mọi lúc mọi nơi

Bên cạnh đó, nội dung chương trình sách giáo khoa phải giảm bớt khối lượng kiến thức hàn lâm để tập chung vào những vấn đề cụ thể, khai thác sâu

để khắc sâu kiến thức Các môn học phải có sự liên kết chặt chẽ trong phân phối kiến thức, sự đồng bộ nội dung chương trình để mỗi môn học đều có thể

sử dụng kiến thức của môn học khác làm cơ sở truyền đạt kiến thức

Về cơ sở vật chất đòi hỏi có những phương tiện, thiết bị dạy học thuận lợi, hình ảnh mô phỏng trực quan, sống động thuận lợi cho việc tiếp nhận tri thức cho học sinh Các phương pháp học tập tùy nội dung bài học, thay đổi linh hoạt phù hợp với đối tượng

Một trong những vấn đề có tác động tích cực trong giảng dạy là phương thức kiểm tra đánh giá Việc kiểm tra đánh giá phải phù hợp với phương pháp dạy học, phát triển được trí thông minh, tư duy sáng tạo của học sinh, khuyến khích vận dụng các kiến thức đã lĩnh hội vào các hiện tượng thực tế

Yếu tố cuối cùng trên thực tế có vai trò là động lực, đó là lãnh đạo nhà trường Hiệu trưởng và ban giám hiệu nhà trường cần đặt vấn đề đổi mới phương pháp, dạy học tích cực đúng mức trong sự phối hợp các hoạt động toàn diện của nhà trường Ban lãnh đạo nhà trường cần có sự trân trọng, ủng

hộ khuyến khích mỗi sáng kiến, cải thiện dù nhỏ của giáo viên nhưng cũng

Trang 22

cần biết hướng dẫn, giúp đỡ vận dụng phương pháp tích cực thích hợp với môn học, làm cho phong trào học tập tích cực pháy triển sâu rông, hiệu quả trong toàn trường

1.2.3 Một số định hướng dạy học Sinh học theo quan điểm tích hợp

1.2.3.1 Dạy học Sinh học theo quan điểm tích hợp là tất yếu và cần thiết

Có thể nói đặc điểm của Sinh học hiện đại là lý do lớn nhất chi phối việc dạy học Sinh học theo quan điểm tích hợp Trong thời đại ngày nay, sinh học có những đặc trưng sau đây:

- Sinh học tập trung nghiên cứu sự sống ở cấp vi mô và vĩ mô: cho đến thế kỷ XVIII, sinh học mới chỉ nghiên cứu các hệ trong (cơ thể, cơ quan) Ngày nay, sinh học hướng vào nghiên cứu các hệ nhỏ (tế bào, phân tử) và các

hệ lớn (loài, quần xã, hệ sinh thái, sinh quyển)

- Có sự xâm nhập ngày càng mạnh mẽ của các nguyên lý, phương pháp của nhiều ngành khoa học khác vào Sinh học Các phương pháp thực nghiệm

lý hóa giúp hiểu sâu vào cấu trúc tế bào của các tổ chức sống, cơ chế của quá trình sống ở cấp tế bào và phân tử làm cho Sinh học ngày càng trở thành khoa học chính xác Các phương trình toán học, điều khiển học giúp cho việc mô hình hóa các tổ chức sống phức tạp và tìm hiểu quy luật vận động của chúng, đưa Sinh học từ trình độ thực nghiệm – phân tích lên tổng hợp - hệ thống Nếu trước kia sinh học phát triển dựa vào các phương pháp thuần túy sinh học thì ngày nay các phương pháp phi sinh học có vai trò to lớn, sinh học ngày càng thu hút sự đóng góp rộng rãi của các nhà khoa học thuộc các ngành khoa học khác

- Sinh học hiện đại trở thành một lực lượng sản xuất trực tiếp, phục vụ đắc lực không những cho sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp mà còn đối với công nghiệp, kỹ thuật đặc biệt là Y học Những thành tựu có ý nghĩa thực tiễn to lớn đều liên quan đến việc ứng dụng các tri thức Sinh học, chẳng hạn: chọn giống cây trồng vật nuôi đối với việc giải quyết các nhu cầu lương thực, thực

Trang 23

phẩm trước sức ép dân số; cân bằng sinh thái với bảo vệ khai thác nguồn tài nguyên sinh vật; điều chỉnh hiệu suất quang hợp với năng suất cây trồng; di truyền học với tư vấn hôn nhân, gia đình và bảo vệ tương lai di truyền loài người; phỏng sinh vật học với thiết kế các máy móc, thiết bị cực nhạy

- Sinh học hiện đại đang phát triển với tốc độ rất nhanh, vừa phân hóa thành ngành nhỏ, vừa hình thành những lĩnh vực liên ngành, gian ngành Nếu

ở thế kỷ XIX trên thế giới bình quân có vài ngàn thông báo phát minh sinh học thì đến giữa thế kỷ XX con số đó là 10 vạn đến năm 2000 con số đó là 1 triệu Chưa đầy 10 năm, khối lượng tri thức Sinh học đã tăng gấp đôi.[3]

Vì những đặc trưng như trên, việc dạy học Sinh học ở trường phổ thông không thể tách rời, cô lập với việc giảng dạy các môn khoa học khác hay đối với thực tiễn đời sống

Còn một lý do quan trọng nữa khiến cho việc dạy học Sinh học cần theo quan điểm tích hợp là: với sự bùng nổ của các phương pháp thực nghiệm, Sinh học đã được phân chia thành các lĩnh vực nhỏ như Di truyền học, Sinh lý học, Sinh thái, Tế bào học v.v…và vì thế chương trình đào tạo cũng bị phân thành các mảng kiến thức tương đối tách rời nhau Kết quả là học sinh phải học một khối lượng kiến thức rất lớn nhưng khá tách rời, cô lập Xu hướng hiện nay trong đào tạo sinh học nói riêng và trong các lĩnh vực khoa học nói chung, người ta cố gắng trình bày cho học sinh thấy mối liên hệ hữu cơ giữa các lĩnh vực không những của sinh học với nhau mà còn giữa các ngành khoa học khác nhau như Sinh học, Hóa học, Toán học, Vật lý …

1.2.3.2 Một số kiến thức liên môn học sử dụng trong quá trình dạy học Sinh học

Chương trình đào tạo Sinh học của chúng ta hiện nay được xây dựng theo kiểu tích hợp một cách hài hòa giữa các lĩnh vực có liên quan thông qua một sợi dây khâu nối nào đó Ví như sợi dây khâu nối các lĩnh vực của sinh học lại với nhau có thể là chủ đề tiến hóa Khi dạy kiến thức sinh học bất kể

từ lĩnh vực phân tử, tế bào, mô, cơ quan, cơ thể, quần xã và các hệ sinh thái chúng ta đều có thể xem xét dưới góc độ tiến hóa

Trang 24

Ví dụ khi dạy xong bài tế bào nhân chuẩn, sâu chuỗi sự tiến hóa từ dạng chưa có cấu trúc tế bào đến có cấu trúc tế bào hoàn chỉnh như tế bào nhân chuẩn Tế bào tiến hóa từ chưa có các bào quan, nhân chuyên biệt đến sự phân hóa rõ ràng đảm nhận những chức năng khác nhau

Trong kiến thức của môn sinh học có rất nhiều kiến thức cần dựa vào kiến thức của các môn khoa học khác để lí giải các quá trình, hiện tượng Ví như việc Sử dụng kiến thức toán học vào dạy học sinh học Toán học là môn khoa học cở bản làm nền tảng của các môn khoa học khác trong đó có môn sinh học Sử dụng kiến thức toán học vào dạy học sinh học là vận dụng các công thức toán học vào giải bài tập tính toán, giải thích các hiện tượng theo tư

duy toán học

Ví dụ đối với các bài về quy luật Mendel cũng như một số bài khác của chương trình lớp 12, cần tích hợp kiến thức toán xác suất cũng như thống kê

để dạy thì mới đạt yêu cầu

Kiến thức của các môn khoa học khác nhau sẽ được lồng ghép kết hợp cùng với nhau để dạy một kiến thức sinh học nào đó

Tùy theo trình độ của học sinh mà giáo viên có thể thay đổi cách dạy của mình với từng bài Ví dụ, nếu lớp học có nhiều học sinh khá giỏi, năng lực học tập tốt thì giáo viên có thể không cần dạy học theo một trình tự cố định như trong sách giáo khoa mà cần giành thời gian cho việc rèn luyện kỹ năng tư duy logic

Thí dụ, Bài: “Vận chuyển các chất qua màng sinh chất” Sinh vật từ

đơn bào đến đa bào đều phải trao đổi các chất bằng con đường trao đổi chất qua màng Vậy thì để củng cố và mở rộng kiến thức, GV có thể đặt ra nhiều vấn đề để học sinh suy nghĩ và thảo luận:

- Kích thước tế bào có liên quan gì đến tốc độ trao đổi chất hay không?

- Tại sao các tế bào vi khuẩn lại có kích thước rất nhỏ?

Trang 25

- Tại sao vi khuẩn lại có thể sinh sản rất nhanh (một chu kỳ tế bào chỉ trong khoảng 20 – 30 phút trong khi ở người chu kỳ tế bào của người là 24 giờ)?

Tất cả các câu hỏi mặc dầu như có vẻ rất đa dạng như vậy đều có thể trả lời bằng một nguyên lý hết sức đơn giản Đó là kích thước tế bào càng nhỏ thì

tỷ lệ giữa bề mặt màng tế bào trên thể tích của tế bào (S/V) càng lớn Tỷ lệ (S/V) càng lớn thì việc trao đổi các chất qua màng xảy ra càng nhanh, sự vận chuyển các chất qua màng tế bào bằng sự khuếch tán ở các tế bào nhỏ cũng sẽ xảy ra nhanh hơn so với tế bào có kích thước lớn

Để cho học sinh dễ hiểu có thể cho các em tính thể tích và diện tích toàn phần (diện tích tổng các mặt) của hai khối lập phương có cạnh 1cm và cạnh 2cm dựa vào công thức tính đã học trong môn hình học lớp 9:

Xét khối lập phương có cạnh 1cm: diện tích toàn phần bằng S = 6x1x1

= 6 cm2, thể tích bằng V= 1x1x1 = 1cm3 do đó S/V= 6/1= 6 Xét khối lập phương có cạnh 2cm: diện tích toàn phần bằng S = 6x2x2 = 24 cm2, thể tích bằng V= 2x2x2 = 8 cm3 do đó S/V= 24/8= 3 Suy ra tỉ lệ (S/V) của khối lập phườn có kích thước nhỏ lớn hơn khối lập phương có kích thước lớn

Hình 1.1 : So sánh tỷ lệ diện tích/ thể tích của hai dạng cấu trúc

A Cấu trúc nhỏ với mỗi cạnh là 1cm thì tỉ lệ diện tích/ thể tích = 6/1

B Cấu trúc lớn với một cạnh là 2cm thì tỉ lệ diện tích/ thể tích = 3/1

Về mặt toán học, thì diện tích bề mặt khối cầu được tính là: S = 4πr2còn thể tích V = 4/3πr3 Do đó sau khi giản ước ta có: S/V = 3/r Như vậy nểu

r (bán kính tế bào) càng lớn thì tỷ lệ này càng nhỏ, vì thế việc trao đổi chất

1 cm

2 cm

Trang 26

qua màng càng chậm Cũng vì vậy tế bào có kích thước nhỏ thì tốc độ trao đổi chất nhanh hơn, dẫn đến tế bào cũng phân chia nhanh hơn

Mở rộng ra đối với các sinh vật sống ở các vùng khí hậu khác nhau cũng vậy Ở phương Bắc do khí hậu lạnh cho nên con người và động vật đẳng nhiệt đều có kích thước cơ thể to lớn hơn những sinh vật cùng loại sống ở xứ nóng vì rằng khi kích thước cơ thể lớn thì tỷ lệ giữa diện tích bề mặt cơ thể (da) trên thể tích cơ thể sẽ nhỏ theo khiến cho sự mất nhiệt qua da ít, ngược lại tỷ lệ này lại cao ở nhũng người có kích thước nhỏ làm cho sự tỏa nhiệt ở vùng khí hậu nóng xảy ra tốt hơn Đây cũng chính là định luật Bergnan trong Sinh thái học Nếu tiếp tục mở rộng hơn nữa, người ta thấy các sinh vật đẳng nhiệt như thỏ có phần nhô ra như đuôi và tai thì ở xứ nóng các phần nhô ra lớn hơn và ngược lại với xứ lạnh đuôi và tai lại nhỏ hơn, nếu không việc duy trì nhiệt độ cơ thể một cách ổn định sẽ gặp khó khăn

Việc làm trên thực chất là tích hợp kiến thức lý hóa vào trong Sinh học

để giải thích câu hỏi tại sao phần lớn tế bào lại có kích thước nhỏ bé

Việc giảng dạy Sinh học theo chương trình tích hợp còn giúp chúng ta lồng ghép các nội dung khác như bảo vệ môi trường vào trong chương trình Sinh thái, chăm sóc và bảo vệ sức khỏe con người thông qua dạy học Sinh học

Tóm lại, việc dạy học Sinh học ở trường PTTH đã và đang được thực hiện ở hai quan điểm sau:

- Dạy học “Nội bộ môn học”: kiến thức của môn học luôn có mối liên

hệ với nhau, nếu học tốt kiến thức của phần này sẽ giúp học tập tốt hơn kiến thức của phần khác Và ngược lại, tất cả kiến thức của một môn học có mối quan hệ với nhau một cách khăng khít, bổ sung cho nhau để tạo thành một hệ thống kiến thức, một hệ thống lý luận cho môn học đó Bởi vậy, trong khi dạy học Sinh học ở trường PTTH, người GV phải hình thành một bản đồ khái niệm làm cho HS dễ nhớ, dễ học các kiến thức đó, đồng thời có được cái nhìn toàn diện, đầy đủ về kiến thức của bộ môn này

Trang 27

- Dạy học “Liên môn”: nghiên cứu Sinh học trong mối quan hệ với các

khoa học khác Điều đó cho phép làm sáng tỏ thêm các kiến thức Sinh học, tường minh thêm bài dạy và bồi dưỡng thế giới quan khoa học

1.2.4 Nguyên tắc, phương pháp sử dụng kiến thức liên môn trong quá trình dạy học

1.2.4.1 Nguyên tắc sử dụng kiến thức liên môn trong dạy học

Nội dung các kiến thức liên môn chứa đựng trong các bài học, các môn học khác nhau Do đó, GV phải xác định được nội dung cần sử dụng kiến thức liên môn trong kiến thức môn học; biết cách lựa chọn, phân loại các kiến thức tương ứng, phù hợp với các mức độ khác nhau để đưa vào bài giảng

Ngoài ra, do thời gian một giờ giảng trên lớp có hạn nên GV phải biết chọn

những vấn đề quan trọng, mấu chốt nhất để giảng dạy theo cách dạy học sử dụng kiến thức liên môn học, còn phần kiến thức nào dễ hiểu nên để học sinh

tự đọc sách giáo khoa hoặc các tài liệu tham khảo

Việc đưa các kiến thức liên môn vào bài giảng không thể tùy tiện mà cần dựa vào các nguyên tắc sư phạm sau:

1) Không làm thay đổi tính đặc trưng của môn học, không biến bài dạy Sinh học thành bài giảng toán học, vật lý, hóa học hay thành bài giáo dục các vấn đề khác (môi trường, dân số, sức khỏe sinh sản, phòng chống HIV/ AIDS

…)

Ví dụ khi dạy kiến thức phân bào chúng ta không chỉ chú trọng đến các bài tập tính toán như số tế bào tạo ra, số liên kết, hay thời gian phân bào, mà điều đầu tiên là các sự kiện của tế bào trong các kì, để đạt được mục tiêu bài học là phân biệt các kì của quá trình phân bào

Nghĩa là, các kiến thức được sử dụng vào phải được tiềm ẩn trong nội dung bài học, phải có mối quan hệ logic chặt chẽ trong bài học

2) Khai thác nội dung cần sử dụng kiến thức liên môn một cách có chọn lọc, có tính hệ thống, đặc trưng Nghĩa là phải biết lựa chọn phần nội dung

Trang 28

kiến thức để sử dụng kiến thức liên môn phù hợp, không dàn trải cả bài Theo nguyên tắc này, các kiến thức liên môn đưa vào bài học phải có hệ thống, được sắp xếp hợp lý làm cho kiến thức môn học thêm phong phú, sát với thực tiễn, tránh sự trùng lặp, không thích hợp với trình độ của học sinh không gây quá tải, ảnh hưởng đến việc tiếp thu nội dung chính

3) Đảm bảo tính vừa sức: Dạy học sử dụng kiến thức liên môn phải phát huy cao độ tính tích cực và vốn sống của học sinh Các kiến thức liên môn đưa vào bài học phải làm cho bài học rõ ràng và làm cho bài học tường minh hơn đồng thời tạo được hứng thú cho người học

1.2.4.2 Phương pháp sử dụng kiến thức liên môn trong quá trình dạy học

Sử dụng kiến thức liên môn trong quá trình dạy học là sự kết hợp có hệ thống các kiến thức có liên quan và kiến thức môn học thành một nội dung thống nhất, gắn bó chặt chẽ với nhau dựa trên những mối liên hệ về lý luận

và thực tiễn được đưa vào bài học Như vậy, cần phải căn cứ vào nội dung bài học để lựa chọn kiến thức tích hợp có liên quan

Ví dụ, khi dạy bài: “Quang hợp”, GV có thể nhấn mạnh quang hợp của

cây xanh đã góp phần giữ cân bằng hàm lượng O2 và CO2 trong không khí, qua đó giáo dục HS ý thức bảo vệ cây xanh, trồng cây gây rừng …

Việc dạy học Sinh học lớp 10 theo sử dụng kiến thức liên môn trong quá trình dạy học có thể theo 2 cách sau:

“ Phương pháp liên hệ”: Ở trường hợp này, kiến thức liên môn sử dụng

không được đưa vào nội dung SGK, nhưng dựa vào nội dung bài học GV có thể bổ sung thêm kiến thức có liên quan đến bài học qua giờ giảng trên lớp

“Phương pháp lồng ghép”: Trong trường hợp này, kiến thức tích hợp

đã có sẵn trong nội dung SGK và trở thành một bộ phận kiến thức của môn học Kiến thức tích hợp có thể được lồng ghép trong một chương, một bài, một mục hay một vài câu trong bài học

Trang 29

1.3 Cơ sở thực tiễn

Để có được cơ sở thực tiễn của đề tài, chúng tôi tiến hành điều tra thực trạng việc sử dụng kiến thức liên môn học trong dạy và học Sinh học 10

Phương thức điều tra : tiến hành điều tra bằng cách nghiên cứu giáo án

của các giáo viên, vở ghi chép của học sinh, dự các giờ dạy của giáo viên, trao đổi trực tiếp và điều tra bằng phiếu trắc nghiệm khách quan đối với học sinh khối 10 và giáo viên dạy Sinh học trường THPT Kết quả thu được như sau :

1.3.1 Kết quả điều tra sự hiểu biết của giáo viên về dạy học sử dụng kiến thức liên môn học

Điều tra phương pháp giảng dạy của 100 giáo viên thuộc các trường THPT Tây Tiền Hải, THPT Nam Tiền Hải và các trường THPT khác :

Bảng 1.1 Kết quả điều tra về thực trạng việc dạy học sử dụng kiến thức liên môn học của giáo viên THPT

Trang 30

Qua bảng 1.1 cho thấy:

Các phương pháp được sử dụng thường xuyên chủ yếu là thuyết trình, giải thích, hỏi đáp – gợi mở kiến thức, đọc tóm tắt kiến thức sẵn trong SGK Các phương pháp ít được sử dụng đó là dạy học nêu vấn đề, dạy học tình huống, dạy học theo dự án, … đặc biệt là việc sử dụng kiến thức liên môn học

- Phương pháp giảng dạy vẫn chủ yếu là thầy đọc, trò chép, thuyết trình giảng giải xen kẽ vấn đáp, tái hiện, biểu diễn trực quan minh họa

- Cơ sở vật chất phục vụ giảng dạy tại một số trường chưa đáp ứng được phương pháp giảng dạy hiện đại, hoặc có sẵn nhưng do giáo viên còn chưa chịu tìm tòi đổi mới, hoặc chỉ vận dụng trong những giờ thao giảng, các tiết thi giáo viên giỏi

- Trong mỗi tiết dạy, giáo viên chỉ tập trung vào truyền tải hết kiến thức sách giáo khoa mà không dạy học sinh hiểu rõ bản chất của kiến thức, dẫn đến tình trạng học sinh chỉ hiểu được bề nổi của kiến thức mà không hiểu sâu

xa được vấn đề cần hướng tới, không khơi dậy tiềm năng sáng tạo, phát huy tính tích cực chủ động của người học Giáo viên ít chú trọng đến việc sử dụng kiên thức liên môn học trong quá trình dạy học vì công việc này đòi hỏi nhiều thời gian và công sức khi phải liên hệ kiến thức của một bài với những bài khác, đồng thời sử dụng kiến thức của các môn học khác Số lượng giáo viên

sử dụng kiến thức liên môn trong dạy học Sinh học còn ít, vì đa số giáo viên cho rằng việc dạy học theo quan điểm này chỉ phù hợp với các học sinh có

Trang 31

mức độ nhận thức tốt như ở trường chuyên và lớp chọn, còn các học sinh khác năng lực nhận thức còn thấp, không đồng đều, nên khó áp dụng được

Ngoài ra, do việc kiểm tra đánh giá chất lượng giáo viên ở các trường còn nặng nề, cách đánh giá rập khuôn máy móc cũng là nguyên nhân khiến giáo viên không tích cực trong đổi mới, các kỳ kiểm tra chất lượng, kể cả kỳ thi tốt nghiệp THPT, tuyển sinh vào đại học còn nặng nề về tái hiện kiến thức nên cách dạy phổ biến hiện nay vẫn còn chú trọng đến cung cấp kiến thức cho

học sinh

1.3.2 Thực trạng sử dụng kiến thức liên môn học trong dạy học Sinh học

10, Trung học phổ thông

Bảng 1.2 Kết quả điều tra về khả năng sử dụng kiến thức liên môn học trong

dạy và học môn sinh học

- Gợi mở kiến thức khoa học liên quan để học sinh tự khám phá, phát hiện vấn đề

192/300 49/300 25/300

64% 16,3% 8,3%

Sử dụng kiến

thức liên môn

trong nhiều bài

- Vận dụng kiến thức khoa học khác trong từng bài phát hiện bản chất vấn đề

- Nâng cao năng lực tư duy tìm tòi, chủ động phát hiện ra vấn đề

97/300 19/300

32,3% 6,3%

Trang 32

Qua bảng 1.2 cho thấy :

Học sinh chưa coi môn Sinh học là môn phụ, học để lấy điểm và là nhiệm vụ, rất ít học sinh yêu thích môn học này Số học sinh nắm chắc kiến thức, có thể chủ động chiếm lĩnh kiến thức, giải thích được các vấn đề một các khoa học rất ít Đa số học sinh chỉ tìm được kiến thức cơ bản nhưng chưa hiểu được bản chất của các kiến thức, vì vậy khó khắc sâu được kiến thức Nguyên nhân của tình trạng học môn Sinh học của học sinh như trên là do: Đa số các em thích học những môn toán, lý, hóa mà ít có hứng thú với môn Sinh học, coi môn Sinh học là môn phụ nên không đầu tư thời gian và công sức vào việc học mà học chỉ mang tính chất đối phó với các bài kiểm tra của giáo viên Hầu hết học sinh chưa quen việc đổi mới cách học, chỉ quen học thuộc lòng nội dung cơ bản ghi chép được ở trên lớp và chưa chú ý đến việc phân tích , chứng minh và hiểu bản chất của nội dung đó

Học sinh chưa xác định được đúng động cơ, thái độ học tập, chưa ham thích học tập bộ môn nên thụ động trong việc tiếp thu kiến thức mới

Việc nghiên cứu phương pháp dạy học hiện đại chỉ mới dừng lại ở mức

độ lý thuyết chưa cụ thể hóa việc ứng dụng các kết quả nghiên cứu còn gặp nhiều khó khăn

Trong quá trình học, học sinh còn thụ động chưa tích cực chủ động sáng tạo lĩnh hội tri thức mới, thậm chí nhiều học sinh không có SGK, sách tham khảo

và học theo chương trình mới

Trang 33

CHƯƠNG 2

SỬ DỤNG KIẾN THỨC LIÊN MÔN HỌC TRONG DẠY HỌC SINH HỌC 10 - TRUNG HỌC PHỔ THÔNG

2.1 Phân tích chương trình Sinh học lớp 10

2.1.1 Mục tiêu của chương trình

Chương trình Sinh học 10 về sinh học tế bào là cấp độ tổ chức của hệ thống sống Với cấu trúc chương trình như vậy, đã thể hiện tính liên tục trong chương trình phổ thông Cụ thể là:

 Về kiến thức

- Học sinh có thể trình bày được những hiện tượng và quá trình Sinh học diễn ra

ở cấp độ tổ chức của thế giới sống, hệ thống năm giới, sự phát sinh của động vật và thực vật và đa dạng của thế giới sinh vật

- Học sinh có thể nêu và giải thích được những tri thức về:

Phần SINH HỌC TẾ BÀO

+ Bốn nguyên tố chủ yếu cấu tạo nên hợp chất hữu

+ các nguyên tố đại lượng và vi lượng

+ Cấu trúc, chức năng của nước, cacbonhiđrat, lipit, protein axit nucleic

+ Cấu trúc tế bào nhân sơ, nhân thực

+ Vận chuyển các chất qua màng sinh chất

+ Thực hành: quan sát tế bào dưới kính hiển vi, thí nghiệm co và phản co nguyên sinh

+ Chuyển hóa vật chất và năng lượng trong tế bào

+ Vai trò của enzim trong chuyển hóa vật chất

+ Hô hấp, quang tổng hợp

+ Thực hành một số thí nghiệm về enzim

+ Nguyên phân và giảm phân

+ Thực hành: quan sát các kì phân bào qua tiêu bản

Phần SINH HỌC VI SINH VẬT

+ Các kiểu chuyển hóa vật chất và năng lượng ở vi sinh vật

+ Các kiểu hô hấp

Trang 34

+ Thực hành: Ứng dụng lên men

+ Sinh trưởng của quần thể sinh vật

+ Các yếu tố ảnh hưởng đến sinh trưởng, phát triển của vi sinh vật

+ Thực hành: Quan sát một số loại vi sinh vật và bào tử nấm mốc

+ Cấu trúc chung của virus, quá trình nhân đôi của virus trong tế bào

+ Các bệnh truyền nhiễm, miễn dịch

- Học sinh có khả năng vận dụng các nguyên tắc, ứng dụng kiến thức Sinh học vào thực tiễn sản xuất và đời sống

 Về kỹ năng:

- Đối với các địa phương thuận lợi

+ Kĩ năng quan sát, mô tả các hiện tượng sinh học: HS thành thạo

+ Kĩ năng thực hành sinh học: HS thành thạo

+ Kĩ năng vận dụng thực tiễn: HS có thể vận dụng được

+ Kĩ năng học tập: HS thành thạo các kĩ năng học tập, đặc biệt là các kĩ năng tự học ( biết thu thập, xử lí thông tin, lập bảng biểu, vẽ đồ thị, làm việc cá nhân hay làm việc theo nhóm, báo cáo nhỏ…)

- Đối với các vùng khó khăn

+ Kĩ năng quan sát, mô tả: HS biết quan sát và mô tả được

+ Kĩ năng thực hành sinh học: Yêu cầu giảm nhẹ hơn ở các bài 15, 28 (sách cơ bản)

+ Kĩ năng vận dụng vào thực tiễn ở địa phương: Bước đầu HS có thể vận dụng được

+ Kĩ năng tự học: Bước đầu HS biết cách tự học

 Về thái độ

- Củng cố niềm tin vào khả năng của khoa học hiện đại trong việc nhận thức và

giải thích bản chất của các hiện tượng của thế giới sống

- Xây dựng ý thức vận dụng các tri thức kỹ năng học được vào thực tiễn cuộc sống học tập và lao động

- Xây dựng ý thức tự giác, thói quen bảo vệ thiên nhiên, bảo vệ môi trường sống,

có thái độ hành vi đúng đắn

Trang 35

- Bồi dưỡng thế giới quan duy vật biện chứng

2.1.2 Cấu trúc chương trình

Chương trình Sinh học 10 đề cập đến sinh học cơ thể đa bào (thực vật và động

vật), được tích hợp trong 3 phần:

 Phần một: “ Giới thiệu chung về thế giới sống ” Phần này giới thiệu chung về

thế giới sống, gồm 2 bài giới thiệu về các cấp độ tổ chức của thế giới sống, các giới sinh vật (phân chia thành 5 cấp độ từ cao đến thấp theo nguyên tắc thứ bậc, đặc điểm

chung của các cấp độ tổ chức sống)

 Phần hai: “Sinh học tế bào ” Phần này đề cập đến tế bào và các quá trình sinh

học diễn ra trong tế bào, trong đó có 4 chương gồm 19 bài cụ thể là:

Chương I: “Thành phần hóa học của tế bào”

Bài 3 Các nguyên tố hóa học và nước

Bài 4 Cácbohiđrat và lipit

Bài 5 Prôtêin

Bài 6 Axit nucleic

Chương II: “Cấu trúc của tế bào”

Bài 7 Tế bào nhân sơ

Bài 8 Tế bào nhân thực

Bài 9 Tế bào nhân thực (tiếp theo)

Bài 10 Tế bào nhân thực (tiếp theo)

Bài 11 Vận chuyển các chất qua màng sinh chất

Bài 12 Thực hành: Thí nghiệm co và phản co nguyên sinh

Chương III: “Chuyển hóa vật chất và năng lượng trong tế bào”

Bài 13 Khái quát về năng lượng và chuyển hóa vật chất

Bài 14 Enzim và vai trò của enzim trong quá trình chuyển hóa vật chất

Bài 15 Thực hành: Một số thí nghiệm về enzim

Bài 16 Hô hấp tế bào

Bài 17 Quang hợp

Chương IV: “Phân bào”

Bài 18 Chu kì tế bào và quá trình nguyên phân

Trang 36

Bài 19 Giảm phân

Bài 20 Thực hành: Quan sát các kì của nguyên phân trên tiêu bản rễ hành

Bài 21 Ôn tập phần sinh học tế bào

 Phần ba: “Sinh học vi sinh vật” Phần này đề cập đến các loại vi sinh vật về

khái niệm, kiểu dinh dưỡng sinh sản và ứng dụng của vi sinh vật trong đời sống thực tiễn Giới thiệu về virus và các bệnh truyền nhiễm Trong phần này gồm 3 chương cụ

thể là:

Chương I: Chuyển hóa vật chất và năng lượng ở vi sinh vật

Bài 22 Dinh dưỡng, chuyển hóa vật chất và năng lượng ở vi sinh vật

Bài 23 Quá trình tổng hợp và phân giải các chất ở vi sinh vật

Bài 24 Thực hành: Lên men êtilic và lactic

Chương II: Sinh trưởng và sinh sản của vi sinh vật

Bài 25 Sinh trưởng của vi sinh vật

Bài 26 Sinh sản của vi sinh vật

Bài 27 Các yếu tố ảnh hưởng đến sinh trưởng của vi sinh vật

Bài 28 Thực hành: Quan sát một số vi sinh vật

Chương III: Virus và các bệnh truyền nhiễm

Bài 29 Cấu trúc của các loại viru

Bài 30 Sự nhân lên của virut trong tế bào vật chủ

Bài 31 Virut gây bệnh Ứng dụng của virut trong thực tiễn

Bài 32 Bệnh truyền nhiễm và miễn dịch

Bài 33 Ôn tập phần sinh học vi sinh vật

Cuối mỗi chương, đều có bài tổng hợp nhằm minh họa củng cố hoặc phát triển nhận thức của học sinh về nội dung, hình thức trong mỗi phần, mỗi chương

2.2 Các quan điểm để dạy học Sinh học 10, Trung học phổ thông cần hình thành

2.2.1 Quan điểm xây dựng chương trình

Chương trình Giáo dục dạy học phổ thông được hiểu là văn bản thể hiện mục tiêu giáo dục phổ thông, phạm vi và cấu trúc nội dung giáo dục phổ thông, chuẩn chương trình, phương pháp và hình thức tổ chức hoạt động giáo dục, cách thức đánh giá kết quả giáo dục đối với các môn học ở mỗi lớp, mỗi cấp học của Giáo

Trang 37

dục phổ thông Phát triển chương trình là quá trình thực hiện thường xuyên do cơ quan phát triển chương trình của các quốc gia thực hiện nhằm đổi mới chương trình dạy học nói chung và chương trình môn học nói riêng đáp ứng với yêu cầu của xã hội và người học sau một giai đoạn nhất định

Từ thực trạng đó, chúng tôi đề xuất phương án thực hiện định hướng một số môn học mới xuyên suốt các cấp học, kết hợp với kiến thức trong nội bộ môn học và việc xây dựng một số chủ đề liên môn hoặc xuyên môn hướng tới phát triển một số năng lực chung của học sinh khi dạy học Sinh học 10

Những kiến thức Sinh học 10 ở cấp độ tế bào là tiếp tục chương trình của THCS được trình bày theo các cấp độ tổ chức của hệ thống sống, tập trung vào nghiên cứu ở cấp độ tế bào

Các kiến thức được đề cập trong chương trình là kiến thức sinh học đại cương chỉ

ra những nguyên tắc tổ chức, những quy luật vận động chung của tể bào

Khác với chương trình THCS đề cập đến tế bào một cách đại cương tổng, kiến thức sơ cấp chỉ mang tính giới thiệu thì thì ở chương trình Sinh học 10 đã dựa trên những kiến thức nền của cấp THCS để đưa ra đầy đủ các kiến thức liên quan một cách tổng hợp như là một cấp độ tổ chức của hệ thống sống của tế bào

2.2.2 Quan điểm xây dựng hệ thống kiến thức

Hệ thống kiến thưc sinh học THPT được phân theo cấp độ tổ chức sống từ thấp đến cao, với móc xích chặt chẽ Khi thực hiện đề tài ngoài mục đích chính là đưa ra phương pháp đem lại chất lượng dạy và học tôt nhất, chúng tôi còn đồng thời nghiên cứu hệ thống kiến thức liên quan giữa các môn học, sự đồng bộ về kiến thức các môn trong cùng bậc học Từ những nghiên cứu tìm được để đóng góp vào việc chỉnh sửa, phân bố kiến thức phù hợp hơn

Ví dụ: khi dạy bài “Sinh trưởng của vi sinh vật” phần các pha của sinh vật nuôi

cấy không liên tục cần liên hệ với kiến thức toán học, công thức tìm số lần phân chia sinh vật ở theo công thức logarit: n = log2(Nt/No) nhưng kiến thức về logarit các em

HS lớp 10 chưa được biết đến, mà phải lên lớp 12 mới được tìm hiểu Vì vậy khi dạy

GV phải đưa ra, HS thụ động tiếp nhận Để giải quyết được vấn đề này, GV cần có kiến thức toán học, đưa ra mối liên hệ với toán học bằng công thức đơn giản

Trang 38

2.3 Quy trình thiết kế một bài giảng Sinh học theo phương pháp dạy học sử dụng kiến thức liên môn học

2.3.1 Quy trình thiết kế một bài giảng Sinh học theo phương pháp dạy học sử dụng kiến thức liên môn

2.3.1.1 Xác định mục tiêu bài học

Sử dụng kiến thức liên môn học trong giảng dạy sinh học nhằm mục đích nâng cao hiệu quả giảng dạy, phát huy tính tích cực chủ động sáng tạo cho học sinh Vì vậy giáo viên phải trả lời được câu hỏi: khi học xong bài này học sinh có thể thu nhận được

gì, hình thành phát triển kĩ năng gì, có chuyển biến gì về thái độ tình cảm Từ khi cải cách chương trình giáo dục năm 1986, chúng ta đã quen với việc xác định mục tiêu bài học về kiến thức, kỹ năng, thái độ Điều đó có nghĩa, giáo viên không chỉ quan tâm tới yêu cầu học sinh thông hiểu, ghi nhớ diễn đạt kiến thức do giáo viên truyền đạt, lặp lại đúng và thành thạo các kỹ năng đã được tập dượt trong tiết học mà còn đặc biệt chú ý nhiệm vụ phát triển năng lực nhận thức, rèn luyện các kỹ năng và tư duy phù hợp với nội dung bài học (phân tích, tổng hợp, xác lập quan hệ giữa các sự kiện, nêu giả thuyết chứng minh )

Khi xác định mục tiêu bài học, giáo viên phải căn cứ vào những kiến thức đã có của học sinh và trình độ năng lực của từng nhóm học sinh khác nhau (giỏi, khá, trung bình, kém) Làm như vậy, mỗi học sinh đều được tham gia vào quá trình dạy học một cách phù hợp nhất với khả năng trí tuệ của mình

2.3.1.2 Phân tích chi tiết nội dung của bài dạy

Quy trình chung

Bước 1: Phân tích nội dung thành các yếu tố thành phần

Bước 2: Xác định mối quan hệ giữa nội dung kiến thức nghiên cứu với kiến thức môn học khác

Bước 3: Xác định hình thức truyền đạt phù hợp

Bước 4: Vận dụng kiến thức liên môn học vào tổ chức dạy học

Trang 39

Giải thích các bước

Bước 1: Phân tích nội dung thành các yếu tố thành phần nghĩa là xác định rõ các

nội dung trong một giới hạn kiến thức đang nghiên cứu Đó có thể là nội dung một mục

hay một phần trong bài hay cả một bài

Ví dụ phân tích nội dung bài giảm phân sinh học 10:

Giảm phân I Quá trình Diễn biến

Kết quả (sử dụng kiến thức liên môn)

II Ý nghĩa sinh học của giảm phân Bước 2: Xác định mối quan hệ giữa nội dung kiến thức nghiên cứu với kiến thức

môn học khác nghĩa là phân tích cơ sở của kiến thức dựa trên các kiến thức đã có của

người học với các môn khoa học khác

GV hướng dẫn học sinh đọc sách giáo khoa, quan sát tranh ảnh, phân tích tài liệu

tham khảo và các bảng biểu cho sẵn, làm thí nghiệm mô phỏng, đưa ra các câu hỏi định

hướng giúp học sinh phân tích, xác định được tiêu chí từ đó rút ra kiến thức trọng tâm,

cơ bản và khác sâu được kiến thức nghiên cứu

Giảm phân I Quá trình Diễn biến: sử dụng tranh, clip mô phỏng Kết quả Kiến thức tế bào, NST

Kiến thức toán học

II Ý nghĩa sinh học của giảm phân Đây là một bước khó khăn với học sinh vì sự bao quát của kiến thức của học sinh

chưa tốt, khả năng nhớ các kiến thức môn học liên quan còn ít Khi xác định mối quan

hệ giữa các kiến thức trong phần đã học và phần đang nghiên cứu trong nội bộ môn học

thì các em sử dụng tốt hơn so với kiến thức liên quan của các môn học khác

Bước 3: Xác định hình thức diễn đạt bằng phù hợp nghĩa là chọn dạng diễn đạt là

sơ đồ, câu hỏi tham vấn chứa mâu thuẫn, quan sát hiện tượng chứa vấn đề cần nghiên

cứu Dựa vào nội dung đã xác định ở bước 2, từ đó đưa ra cách diễn đạt hợp lý nhằm

kích thích khả năng tư duy của học sinh, giúp các em chủ động tìm tòi giải quyết vấn

đề

Ví dụ: Kiến thức quá trình phân bào giảm phân trong tế bào, nếu chỉ điễn đạt

bằng ngôn ngữ là lời nói kết hợp với sách giáo khoa, HS sẽ mơ hồ khó kiểu, phần kiến

Trang 40

thức dài khó để nhớ Thay vào đó GV chọn hình thức diễn đạt là hình ảnh mô tả và sơ

đồ, thì sẽ hiệu quả hơn:

Quá trình phân bào giảm phân của tế bào sinh dục trong giai đoạn chín:

Diễn biến chính quá trình phân bào giảm phân:

Các NST kép di chuyển về 2 cực tế bào trên thoi phân bào

NST nhân đôi 2n NST kép dính ở tâm động, trung thể nhân đôi, NST dài và mảnh

NST kép đã xoắn dạng sợi mảnh và dài

NST kép đã xoắn dạng sợi mảnh và dài bắt đầu co xoắn, màng nhân, nhân con mất

NST kép co xoắn cực đại, tập trung thành 1 hàng trên mặt phẳng xích đạo của tế bào và gắn với sợi dây vô sắc ở tâm động

Các NST kép tương đồng bắt cặp và tiếp hợp, dần co xoắn, màng nhân, nhân con mất

Các NST kép co xoắn cực đại tập trung thành 2 hàng trên mặt phẳng xích đạo của tế bào và gắn với sợi dây vô sắc Giảm phân I

NST kép tách nhau ra ở tâm động thành các NST đơn đi

về hai cực của tế bào

NST đơn tháo xoắn dạng sợi mảnh dài, màng nhân nhân, con xuất hiện, TBC phân chia

Giảm phân II

Ngày đăng: 16/03/2021, 23:56

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w