1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Quản lý hoạt động tự học của sinh viên khu nội trú trường cao đẳng kỹ thuật công nghiệp bắc giang

123 5 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 123
Dung lượng 1,66 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Như vậy có thể nói rằng trong hoạt động học tập của sinh viên thì khâu tự học là một vấn đề cốt lõi trong quá trình giảng dạy, giáo dục ở nhà trường, đại học, cao đẳng và dạy nghề.. Mụ

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC

NGUYỄN THỊ THANH HƯƠNG

QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG TỰ HỌC CỦA SINH VIÊN KHU NỘI TRÚ TRƯỜNG CAO ĐẲNG KỸ THUẬT CÔNG NGHIỆP BẮC GIANG

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ GIÁO DỤC

HÀ NỘI – 2013

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC

NGUYỄN THỊ THANH HƯƠNG

QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG TỰ HỌC CỦA SINH VIÊN KHU NỘI TRÚ TRƯỜNG CAO ĐẲNG KỸ THUẬT CÔNG NGHIỆP BẮC GIANG

Chuyên ngành: QUẢN LÝ GIÁO DỤC

Mã số: 60 14 05

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ GIÁO DỤC

Người hướng dẫn khoa học: TS DƯƠNG HOÀNG YẾN

HÀ NỘI - 2013

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Trong thời gian học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn này, tác giả được sự hướng dẫn tận tình của quý thầy giáo, cô giáo; được sự quan tâm tạo điều kiện của cơ quan; sự động viên, giúp đỡ nhiệt tình của đồng nghiệp, bạn bè và gia đình

Với lòng kính trọng và tình cảm chân thành, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến lãnh đạo; các phòng, khoa chuyên môn; quý thầy, cô giáo và Hội đồng khoa học Trường Đại học Giáo dục- Đại học QGHN

Đặc biệt, tôi xin cảm ơn TS Dương Hoàng Yến, người hướng dẫn đề tài khoa học, đã tận tình trợ giúp tôi hoàn thành luận văn này

Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy, cô giáo trong Ban Giám hiệu; các thầy, cô là trưởng, phó các phòng, khoa, tổ bộ môn; giáo viên và SV của Trường Cao Đẳng Kỹ thuật Công nghiệp Bắc giang giang đã tạo điều kiện thuận lợi, giúp đỡ tôi trong việc cung cấp số liệu, trong quá trình học tập, nghiên cứu và thực hiện đề tài

Xin bày tỏ tình cảm chân thành, lòng biết ơn đến gia đình, đồng nghiệp, bạn bè đã giúp đỡ, động viên, khích lệ tôi trong quá trình hoàn thành luận văn

Mặc dù, tác giả đã có nhiều cố gắng hoàn thành đề tài này nhưng không tránh khỏi những thiếu sót Với mong muốn đề tài được góp phần vào sự phát triển giáo dục đào tạo của Trường Cao Đẳng Kỹ thuật Công nghiệp Bắc giang,

vì vậy tôi rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của quý thầy cô và đồng nghiệp

Xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, tháng năm 2013

Tác giả

Nguyễn Thị Thanh Hương

Trang 4

NHỮNG CÂU TỪ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN

CNH- HĐH : Công nghiệp hoá- hiện đại hoá

CNKT : Công nhân kỹ thuâ ̣t

THPT : Trung học phổ thông

CSVC : Cơ sở vâ ̣t chất

TBDH : Thiết bị dạy học

SVNT : Sinh viên nội trú

HSSV : Học sinh sinh viên

CĐKTCN : Cao đẳng Kỹ thuâ ̣t Công nghiê ̣p

PHSV : Phụ huynh sinh viên

GD- ĐT : Giáo dục- Đào ta ̣o

THCS : Trung học cơ sở

TCCN : Trung cấp chuyên nghiệp

ĐNGV : Đội ngũ giáo viên

NCKH : Nghiên cứ u khoa ho ̣c

GVCN : Giáo viên chủ nhiệm

CSLL : Cơ sở lý luâ ̣n

Trang 5

MỤC LỤC

Trang

Lời cảm ơn i

Danh mục viết tắt ii

Mục lục iii

Danh mục các bảng vi

Danh mục các biểu đồ, sơ đồ vii

MỞ ĐẦU 1

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG HỌC TẬP CỦA SINH VIÊN TRƯỜNG CAO ĐẲNG 6

1.1 Tổng quan về vấn đề nghiên cứu 6

1.1.1 Ngoài nước 6

1.1.2 Trong nước 7

1.2 Một số vấn đề lý luận cơ bản về quản lý hoạt động tự học 9

1.2.1 Quản lý và chức năng quản lý 9

1.2.2 Quản lý giáo dục 13

1.2.3 Quản lý nhà trường 15

1.2.4 Quản lý công tác học sinh, sinh viên 16

1.2.5 Quản lý hoạt động tự học của sinh viên trường ĐH, CĐ 23

1.2.6 Những yêu cầu mới của hoạt động tự học và quản lý hoạt động tự học trong giai đoạn hiện nay 26

1.3 Hoạt động tự học của sinh viên nội trú 28

1.3.1 Khái niệm về sinh viên, sinh viên nội trú 28

1.3.2 Đặc điểm tâm sinh lý của sinh viên, sinh viên nội trú 29

1.3.3 Khái niệm về tự học 30

1.3.4 Các hình thức tự học của sinh viên cao đẳng 32

1.3.5 Các yếu tố ảnh hưởng tới hoạt động tự học của sinh viên 33

1.4 Nội dung quản lý hoạt động tự học của sinh viên nội trú trường Cao đẳng Kỹ thuật Công nghiệp 34

1.4.1 Xây dựng kế hoạch tự học của sinh viên 34

1.4.2 Tổ chức hoạt động tự học của sinh viên 35

1.4.3 Chỉ đạo hoạt động tự học của sinh viên 36

1.4.4 Kiểm tra, đánh giá hoạt động tự học của sinh viên 36

Kết luận chương 1 38

Trang 6

Chương 2: THỰC TRẠNG BIỆN PHÁP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG

TỰ HỌC CỦA SINH VIÊN NỘI TRÚ TRƯỜNG CAO ĐẲNG KỸ

THUẬT CÔNG NGHIỆP BẮC GIANG 39

2.1 Khái quát về Trường Cao đẳng Kỹ thuật Công nghiệp Bắc giang 39

2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển nhà trường 39

2.1.2 Chức năng, nhiệm vụ và tổ chức bộ máy của nhà trường 40

2.1.3 Ngành nghề, quy mô, cơ cấu đào tạo 43

2.2 Thực trạng hoạt động tự học của sinh viên nội trú Trường Cao đẳng Kỹ thuật Công nghiệp Bắc Giang 46

2.2.1 Nhận thức của sinh viên nội trú về vai trò và tầm quan trọng của hoạt động tự học 46

2.2.2 Thực trạng hoạt động tự học của sinh viên nội trú 48

2.2.3 Đánh giá về hoạt động tự học của sinh viên nội trú 50

2.3 Thực trạng quản lý hoạt động tự học tập của sinh viên nội trú Trường Cao đẳng Kỹ thuật Công nghiệp Bắc Giang 51

2.3.1 Nhận thức của cán bộ quản lý, giáo viên và sinh viên về tầm quan trọng của việc quản lý hoạt động tự học của sinh viên 52

2.3.2 Nhận thức về mục đích quản lý hoạt động tự tập của sinh viên nội trú 52

2.3.3 Thực trạng biện pháp quản lý hoạt động tự học của sinh viên nội trú 54

2.3.4 Đánh giá về biện pháp quản lý hoạt động tự học của sinh viên nội trú 70

Kết luận chương 2 72

Chương 3: BIỆN PHÁP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG TỰ HỌC CỦA SINH VIÊN KHU NỘI TRÚ TRƯỜNG CAO ĐẲNG KỸ THUẬT CÔNG NGHIỆP BẮC GIANG 73

3.1 Các nguyên tắc đề xuất biện pháp 73

3.1.1 Biện pháp phải được xây dựng trên cơ sở phân tích thực trạng hoạt động tự học tập và quản lý của Trường Cao đẳng Kỹ thuật Công nghiệp Bắc Giang 73

3.1.2 Đảm bảo tính thực tiễn của các biện pháp, nghĩa là các biện pháp phải có tính khả thi 73

3.2 Những biện pháp quản lý hoạt động tự học của sinh viên khu nội trú Trường Cao đẳng Kỹ thuật Công nghiệp Bắc Giang 74

3.2.1 Biện pháp 1: Nâng cao nhận thức về vai trò, ý nghĩa hoạt động tự học của sinh viên cho đội ngũ giáo viên, cán bộ quản lý, sinh viên nói chung và SVNT nói riêng 74

Trang 7

3.2.2 Biện pháp 2: Giáo dục động cơ, thái độ học tập đúng đắn cho sinh

viên nội trú 75

3.2.3 Biện pháp 3: Bồi dưỡng cho sinh viên nội trú cách thức xây dựng kế hoạch tự học của cá nhân (cả khâu lý thuyết và thực hành) và phương pháp tự học mới 78

3.2.4 Biện pháp 4: Tổ chức các lớp tập huấn cho giáo viên, ứng dụng các phương pháp dạy học tích cực vào quá trình giảng dạy nhằm kích thích hoạt động tự học của sinh viên, hỗ trợ sinh viên học tập tốt 81

3.2.5 Biện pháp 5: Rèn luyện các kỹ năng phục vụ cho hoạt động tự học của sinh viên nội trú 83

3.2.6 Biện pháp 6: Đầu tư cơ sở vật chất bảo đảm cho hoạt động học tập, tự học của sinh viên nhà trường nói chung và sinh viên nội trú nói riêng đạt hiệu quả cao 85

3.2.7 Biện pháp 7: Tổ chức phong trào thi đua, xây dựng điển hình tiên tiến và tổng kết khen thưởng theo định kỳ đối với SVNT 88

3.3 Mối liên hệ giữa các biện pháp 90

3.4 Khảo nghiệm tính cần thiết và tính khả thi của các biện pháp 92

Kết luận chương 3 96

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 97

1 Kết luận 97

2 Khyến nghị 99

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 101

PHỤ LỤC 104

Trang 8

DANH MỤC CÁC BẢNG

Trang

Bảng 2.1 Số lượng HSSV giai đoạn 2008 – 2012 46

Bảng 2.2: Nhận thức của SV về vai trò, tầm quan trọng của HĐHT 47

Bảng 2.3: Kết quả đánh giá việc xây dựng kế hoạch tự học tập của sinh viên 48

Bảng 2.4: Nhận thức về vai trò của việc tự học của sinh viên nội trú 50

Bảng 2.5: Tầm quan trọng của việc quản lý hoạt động tự học của sinh viên 52

Bảng 2.6: Nhận thức về mục đích quản lý hoạt động tự học của sinh viên 53

Bảng 2.7: Thực trạng công tác kế hoạch hóa việc quản lý HĐTH 54

Bảng 2.8: Các bộ phận trực tiếp theo dõi HĐTH của SVNT 56

Bảng 2.9: Thực trạng công tác giáo dục nhận thức về tầm quan trọng của tự và hình thành động cơ tự học cho SVNT 58

Bảng 2.10: Thực trạng chỉ đạo hướng dẫn phương pháp tự học cho SVNT 61

Bảng 2.11: Thực trạng quản lý hướng dẫn SVNT xây dựng nội dung tự học 63

Bảng 2.12 Thực trạng công tác quản lý nền nếp tự học của SVNT 65

Bảng 2.13: Đánh giá của CBQL, GV và SV về thực trạng quản lý các trang thiết bị phục vụ hoạt động tự học của sinh viên nội trú 67

Bảng 3.1: Kết quả khảo nghiệm tính cần thiết và tính khả thi của các biện pháp 93

Trang 9

DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ

Trang

Sơ đồ 1.1 Sơ đồ khái niệm quản lý 11

Sơ đồ 3.1: Các biện pháp Quản lý HĐTH của SVNT trường Cao đẳng

Kỹ thuật Công ngiệp Bắc Giang 91 Biểu đồ3.1 Biểu diễn mối tương quan giữa tính cần thiết và tính khả

thi của các biện pháp quản lý 94

Trang 10

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Hiện nay hoạt động học tập của sinh viên các trường đại học, cao đẳng

và dạy nghề là một vấn đề đang được ngành giáo dục đại học, cao đẳng và dạy nghề quan tâm, vì các em là nguồn nhân lực quan trọng để phát triển kinh tế-

xã hội của đất nước

Trong cương lĩnh xây dựng đất nước thời kỳ CNH, HĐH của Đảng ta, con người được coi vừa là mục tiêu vừa là động lực của sự phát triển kinh tế -

xã hội Để có được thế hệ con người Việt nam mới đáp ứng những yêu cầu của

sự nghiệp đổi mới trong bối cảnh toàn cầu hóa chúng ta cần có một chiến lược giáo dục vừa tiên tiến vừa kế thừa

Chất lượng giáo dục và đào tạo vừa phụ thuộc vào hoạt động dạy của thầy nhưng cũng vừa phụ thuộc rất quan trọng vào hoạt động học của trò,

trong đó hoạt động học của trò đóng vai trò rất quan trọng, vì chỉ khi các em

tích cực chủ động tiến hành các hoạt đông nhận thức dưới sự tổ chức, điều khiển của thầy thì hoạt động dạy học mới hoàn thành mục đích của mình

Điều 5 Luật Giáo dục 2005 quy định: phương pháp giáo dục phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, tư duy, sáng tạo của người học, bồi dưỡng cho người học năng lực tự học, khả năng thực hành, lòng say mê học tập và ý chí vươn lên

Như vậy có thể nói rằng trong hoạt động học tập của sinh viên thì khâu

tự học là một vấn đề cốt lõi trong quá trình giảng dạy, giáo dục ở nhà trường, đại học, cao đẳng và dạy nghề Vì thế tập thể sư phạm nhà trường cần phải chú ý đặc biệt tới việc tự học của sinh viên

Chúng ta đang bắt tay vào xây dựng một xã hội học tập; trong đó, mỗi người chúng ta cần phải học tập và học tập suốt đời Vì vậy, các em sinh viên càng cần phải biết tự học, để có thể tiếp thu ngày càng sâu những kiến thức học trong nhà trường và cả sau này khi ra trường các em còn phải thường xuyên tự học

Trang 11

Mặc khác, trường Đại học, Cao đẳng và Dạy nghề là môi trường hoàn toàn khác so với trường phổ thông, cho nên việc sinh viên tự học, tự nghiên cứu dựa trên những kiến thức đã được thầy cô dạy và định hướng trên lớp là chủ yếu Điều đó cũng có nghĩa là việc tự học, tự nghiên cứu của sinh viên

sẽ giúp cho chuyên môn của các em càng sâu rộng, vững chắc hơn Hiện nay, hầu hết các trường đại học, cao đẳng và dạy nghề trên toàn quốc đang xây

dựng mục tiêu chuyển hình thức đào tạo từ lấy nội dung làm trung tâm sang lấy người học làm trung tâm Do đó, việc tự học của sinh viên lại trở nên cần

thiết hơn cả, giúp cho người học chủ động hơn, làm chủ được quá trình học cũng như thời gian học của mình

Trường Cao đẳng Kỹ thuật Công nghiệp Bắc Giang là một trường mới được lên hệ cao đẳng từ tháng 10/2009 (tiền thân là Trường Trung cấp Kỹ thuật Công nghiệp, đào tạo chủ yếu là hệ trung cấp và CNKT) Mặc dù có bề dày hơn 45 năm phát triển, đã được nhà nước tặng thưởng huân chương lao động hạng nhất, nhì, ba, huân chương độc lập hạng ba Nhưng trong thực tế kinh nghiệm dạy cho sinh viên hệ cao đẳng là vấn đề rất mới Việc hướng dẫn

và quản lý hoạt động tự học, tự nghiên cứu cho sinh viên đã được nhà trường đặt ra, song sự chuyển biến trong cách học của sinh viên còn chậm, đặc biệt là các em sinh viên tại khu nội trú của trường vì các em phải sống tự lập, không

có sự quản lý của gia đình Mặc dù nhà trường có nhiều sách tham khảo, sách hướng dẫn ôn tập và tự học nhưng sinh viên vẫn chưa quan tâm đúng mức đến việc rèn luyện kỹ năng tự học, tự củng cố, trau dồi kiến thức, các em vẫn chưa tin vào khả năng tự học của bản thân, vẫn chưa tin vào kết quả tự học mà vẫn

ỷ lại vào hoạt động giảng dạy của thầy cô Nguyên nhân của tình trạng này một phần lớn là do công tác quản lý dạy - học ở nhà trường chưa được quan tâm đúng mức

Hiện nay lượng sinh viên vào học các ngành ngày càng đông, năm sau tăng hơn năm trước Nhà trường đã là một địa chỉ đáng tin cậy của Thành phố Bắc Giang và cả nước Để nhà trường không ngừng phát triển và phấn đấu trở

Trang 12

thành trường Đại học trong tương lai thì công tác quản lý hoạt động tự học của sinh viên nói chung và sinh viên khu nội trú nói riêng cần phải được đổi mới triệt để nhằm tạo cho sinh viên năng lực tự học tự nghiên cứu Đó là những đòi hỏi bức bách từ thực tế của nhà trường nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục, đào tạo hiện nay và trong tương lai

Xuất phát từ những vấn đề nêu trên, đề tài “Quản lý hoạt động tự học

của sinh viên khu nội trú Trường Cao đẳng Kỹ thuật Công nghiệp Bắc Giang” được lựa chọn nghiên cứu

2 Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và đánh giá thực trạng, đề xuất các biện pháp quản lý hoạt động tự học của sinh viên nội trú Trường Cao đẳng kỹ thuật công nghiệp Bắc Giang nhằm góp phần nâng cao chất lượng đào tạo của Nhà trường

3 Vấn đề nghiên cứu

Đề tài tập trung vào nghiên cứu hai vấn đề cơ bản sau:

- Nội dung quản lý hoạt động tự học của sinh viên nội trú

- Biện pháp quản lý hoạt động tự học của sinh viên nội trú trường Cao đẳng Kỹ thuật Công nghiệp Bắc Giang

4 Khách thể và đối tƣợng nghiên cứu

4.1 Khách thể nghiên cứu

Quản lý hoạt động tự học của sinh viên trường Đại học, Cao đẳng

4.2 Đối tượng nghiên cứu

Biện pháp quản lý hoạt động tự học của sinh viên nội trú Trường Cao đẳng Kỹ thuật Công nghiệp Bắc Giang

5 Giả thuyết khoa học

Hoạt động học tập của sinh viên là một mặt của quá trình dạy - học trong nhà trường, song trên thực tế nhiều sinh viên Trường Cao đẳng Kỹ thuật Công nghiệp Bắc Giang còn thụ động, ỷ lại trông chờ vào sự giúp đỡ của thầy,

cô và bạn bè, tính độc lập tính tích cực và khả năng tự học còn rất yếu, đặc biệt là các em sinh viên tại khu nội trú vì hầu hết các em phải sống tự lập,

Trang 13

không có sự quản lý của gia đình Nếu tìm những biện pháp quản lý hữu hiệu, đồng bộ thì sẽ đẩy mạnh được hoạt động học tập của sinh viên, từ đó góp phần nâng cao chất lượng đào tạo của Nhà trường

6 Nhiệm vụ nghiên cứu

6.1 Nghiên cứu cơ sở lý luận về hoạt động tự học của sinh viên trường Cao đẳng, Đại học

6.2 Phân tích, đánh giá thực trạng quản lý hoạt động tự học của sinh viên nội trú Trường Cao đẳng Kỹ thuật Công nghiệp Bắc Giang

6.3 Đề xuất những biện pháp quản lý hoạt động tự học của sinh viên nội trú Trường Cao đẳng Kỹ thuật Công nghiệp Bắc Giang

7 Giới hạn và phạm vi nghiên cứu

- Nội dung nghiên cứu: tập trung nghiên cứu các biện pháp quản lý hoạt động tự học của sinh viên

- Phạm vi khảo sát: Các em sinh viên ở khu nội trú Trường Cao đẳng

Kỹ thuật Công nghiệp Bắc Giang

8 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

8.1 Ý nghĩa lý luận: Đề tài làm sáng tỏ vai trò công tác quản lý hoạt động

tự học của sinh viên - một yếu tố quan trọng góp phần nâng cao chất lượng đào tạo

8.2 Ý nghĩa thực tiễn : Đề xuất một số biện pháp quản lý hoạt động học tập của sinh viên, đặc biệt chú trọng khâu tự học của sinh viên khu nội trú Trường Cao đẳng Kỹ thuật Công nghiệp Bắc Giang

9 Phương pháp nghiên cứu

9.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận

Phân tích, tổng hợp, hệ thống hóa các tài liệu các văn bản có liên quan đến vấn đề nghiên cứu như: sách tài liệu về giáo dục, về quản lý giáo dục, về các quá trình dạy và học, tự học, tự nghiên cứu, các văn bản về chủ trương, đường lối, nghị quyết, chính sách của Đảng, pháp luật của nhà nước, các văn

Trang 14

bản của ngành về dạy và học, quản lý học tập của sinh viên nhằm xây dựng cơ

sở lý luận đề tài

9.2 Các phương pháp nghiên cứu thực tiễn

9.2.1 Điều tra bằng phiếu hỏi

9.2.2 Phương pháp quan sát

9.2.3 Phương pháp chuyên gia

9.2.4 Phương pháp tổng kết kinh nghiệm

9.3 Phương pháp xử lý thông tin: sử dụng một số công thức toán học để xử

lý kết quả điều tra thu được

10 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, tài liệu tham khảo, phụ lục, nội dung chính của luận văn được trình bày trong 3 chương

Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động học tập của sinh viên trường Cao đẳng

Chương 2: Thực trạng biện pháp quản lý hoạt động tự học của sinh viên khu nội trú trường Cao đẳng kỹ thuật Công nghiệp Bắc Giang

Chương 3: Biện pháp Quản lý hoạt động tự học của sinh viên khu nội trú trường Cao đẳng kỹ thuật Công nghiệp Bắc Giang

Trang 15

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG HỌC TẬP

CỦA SINH VIÊN TRƯỜNG CAO ĐẲNG

1.1 Tổng quan về vấn đề nghiên cứu

1.1.1 Ngoài nước

Trong lịch sử phát triển của giáo dục, học tập là vấn đề đã được quan tâm nghiên cứu từ lâu cả về lý luận và thực tiễn nhằm phát huy vai trò tích cực học tập của người học Song ở từng giai đoạn phát triển của lịch sử vấn đề học tập được đề cập tới dưới nhiều hình thức khác nhau

Ngay từ thời cổ đại, nhiều nhà giáo dục lỗi lạc đã nhận thấy vai trò quan trọng của sự học Khổng Tử (551 - 479 Tr CN) – Nhà giáo dục kiệt xuất thời Trung Hoa cổ đại, trong cuộc đời dạy học của mình luôn quan tâm và coi

trọng mặt tích cực suy nghĩ của người học Ông từng dạy học trò: “Không

khao khát vì không muốn biết thì không gợi mở cho, không cảm thấy xấu hổ

vì không rõ thì không bày vẽ cho, vật có bốn góc bảo cho biết một góc mà không suy ra được ba góc kia thì không dạy nữa” Trong việc học, ông đòi hỏi học trò phải nghiên cứu, tìm tòi, phải biết kết hợp học với nghĩ, biết phát huy năng lực sáng tạo của bản thân trong quá trình học tập

Nhà sư phạm lỗi lạc Tiệp Khắc J.A Comenxky (1592 - 1670) - Ông tổ của

nền giáo dục cận đại, đã khẳng định: “Không có khát vọng học tập thì không

thể trở thành tài năng, cần phải làm thức tỉnh và duy trì khát vọng học tập trong học sinh13,9

Đến thế kỷ XVIII - XIX, các nhà giáo dục nổi tiếng của thế giới như: J.J Rutxô (1712 - 1778), J.H Petstalogi (1746 - 1872), A.L Dixtecvec (1790 - 1886), K.Đ Uxinsky (1824 - 1890) trong các tác phẩm nghiên cứu của mình

đã khẳng định: Tự học tập giành lấy tri thức bằng con đường khám phá, tự tìm tòi, tự suy nghĩ là con đường quan trọng để chiếm lĩnh tri thức [19]

Trang 16

Trong những năm gần đây, các nước phương Tây nổi lên cuộc cách

mạng tìm phương pháp giáo dục mới trên cơ sở tiếp cận “lấy người học làm

trung tâm” để làm sao phát huy hết năng lực nội sinh của người học Đại diện

cho tư tưởng này là J.Deway, ông cho rằng: “học sinh là mặt trời, xung quanh

nó quy tụ mọi phương tiện giáo dục” [36]

1.1.2 Trong nước

Ngay sau khi cách mạng tháng 8 năm 1945 thành công, Chủ tịch Hồ Chí Minh - vị lãnh tụ thiên tài và kính yêu của dân tộc Việt Nam đã rất quan

tâm đến việc học tập, rèn luyện và tự học Bác đã động viên toàn dân: “Phải tự

nguyện, tự giác xem công việc học tập là nhiệm vụ của người cách mạng, phải

cố gắng hoàn thành cho được do đó mà tích cực, tự động hoàn thành kế hoạch

học tập” [39] Người còn chỉ rõ: “Về việc học phải lấy tự học làm cốt”.[40]

Như vậy vấn đề học tập của học sinh đã được Bác Hồ quan tâm rất sớm và sau đó được nhiều nhà giáo dục nghiên cứu từ lâu trong lịch sử giáo dục và vẫn còn là vấn đề nóng bỏng cho các nhà nghiên cứu giáo dục hiện tại và tương lai

Quá trình học tập là quá trình thu thập và xử lý thông tin để tự biến đổi mình, làm phong phú tri thức cho bản thân Trong điều kiện ngày nay, thông tin là tài nguyên của sự học, trí tuệ con người trở thành tài nguyên quý giá nhất của một quốc gia dân tộc Mặt bằng dân trí cao, cùng với những đỉnh cao của trí tuệ là điều kiện tiên quyết để một quốc gia dân tộc thắng lợi trong cuộc cạnh tranh khốc liệt mang tính toàn cầu hiện nay Dù ở bất kỳ xã hội nào, học

tập cũng luôn là hoạt động cơ bản của con người như Lênin đã dạy “Học! Học

nữa! Học mãi!” Vì vậy, nâng cao chất lượng học tập của học sinh là mục đích

là nhiệm vụ chủ yếu của các nhà trường hiện nay Quản lý hoạt động dạy và học như thế nào để nâng cao chất lượng đào tạo là vấn đề đang được các nhà giáo dục và quản lý giáo dục quan tâm

Đã có nhiều đề tài nghiên cứu, nhiều hội thảo, nhiều ý kiến chuyên gia

đề cập đến vấn đề quản lý hoạt động học tập của người học ở nhiều khía cạnh khác nhau Sau đây là một vài ví dụ:

Trang 17

Đối với giáo dục phổ thông, với quan điểm lấy người học làm trung

tâm, tác giả Nguyễn Kỳ trong tài liệu của mình đã đưa ra: ”Mô hình dạy học tích cực”, ông cho rằng chỉ có bằng cách này mới có thể thúc đẩy học sinh tự giác học tập [34]

Đối với lĩnh vực giáo dục đại học, Nguyễn Cảnh Toàn đã đi sâu vào

nghiên cứu năng lực tự học của sinh viên trong nhiều năm, ông khẳng định chỉ có phát triển năng lực tự học của sinh viên thì mới giúp họ khám phá ra cái mới trong khoa học và trong sản xuất

Đối với lĩnh vực dạy nghề, Đặng Danh Ánh trong các công trình nghiên

cứu của mình cho rằng, hoạt động học tập của học sinh học nghề luôn luôn gắn kết với quá trình sản xuất kinh doanh, hoạt động này có tính chất học tập- sản xuất

Để hoạt động học tập- sản xuất đạt hiệu quả cao cần phải áp dụng phương pháp dạy học mới- dạy học nêu vấn đề vì qua thực nghiệm tác giả nhận thấy phương pháp học tập truyền thống tạo ra lớp học sinh thực hiện máy móc các động tác sản xuất nên năng xuất lao động thấp, còn dạy học nêu vấn đề sẽ tạo ra thế hệ học sinh có tư duy kỹ thuật sáng tạo, năng lực tự giải quyết tốt các tình huống khó khăn trong sản xuất, vì thế năng xuất lao động cao [1],[2]

Cũng trong lĩnh vực dạy nghề, nếu Nguyễn Viết Sự xây dựng các tình

huống có vấn đề cho môn hóa kỹ thuật thì Nguyễn Lộc xây dựng các bài toán nêu vấn đề và các bài giảng nêu vấn đề cho môn cơ kỹ thuật, còn tình huống có vấn đề trong môn điện kỹ thuật, rađiô kỹ thuật do Đặng Danh Ánh đảm nhận Công trình nghiên cứu của Nguyễn Cảnh Hồ lại bàn về công tác quản lý trường nghề- một vấn đề rộng hơn nhiều so với hoạt động học tập của học sinh [26] Tóm lại có nhiều yếu tố nâng cao hoạt động học tập của học sinh, sinh viên, nhưng việc đổi mới cách dạy và cách học có vai trò rất quan trọng

Từ nhiều góc độ, các tác giả đã đi sâu nghiên cứu và phân tích hoạt động học tập để từ đó đề xuất các biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả của hoạt động học tập

Trang 18

Như vậy vấn đề học tập trong quá trình dạy học đã được nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu ở nhiều khía cạnh khác nhau, các tác giả đã chỉ ra vai trò, tầm quan trọng của hoạt động học tập, các kỹ năng tự học và một số biện pháp

tổ chức hoạt động học tập cho học sinh Tuy nhiên về vấn đề học tập, đặc biệt

là vấn đề tự học của sinh viên nội trú của các Trường Cao đẳng, Đại học và Dạy nghề ít được các tác giả quan tâm Do vậy, việc đi sâu nghiên cứu cơ sở lý luận về học tập, biện pháp quản lý hoạt động tự học của học sinh, sinh viên khu nội trú là rất thiết thực Đặc biệt Trường Cao đẳng Kỹ thuật Công nghiệp Bắc giang với nhiệm vụ chủ yếu là đào tạo nguồn nhân lực cho các ngành Cơ khí, Động lực, Điện- Điện tử, Tài chính ngân hàng góp phần vào sự nghiệp CNH, HĐH đất nước thì chưa có công trình nghiên cứu nào Chính vì vậy, tôi

chọn đề tài:” Quản lý hoạt động tự học của sinh viên khu nội trú Trường

Cao đẳng Kỹ thuật Công nghiệp Bắc Giang” nhằm không ngừng nâng cao

chất lượng giáo dục và đào tạo của nhà trường

1.2 Một số vấn đề lý luận cơ bản về quản lý hoạt động tự học

1.2.1 Quản lý và chức năng quản lý

1.2.1.1 Quản lý

Khoa học quản lý đã có một quá trình ra đời và phát triển, đến nay khoa học quản lý đã trở thành một ngành khoa học độc lập, có vai trò tác dụng to lớn đối với sự phát triển của xã hội loài người

Thuật ngữ quản lý đã trở nên phổ biến nhưng chưa có một định nghĩa thống nhất Nó được định nghĩa theo nhiều cách khác nhau trên cơ sở những cách tiếp cận khác nhau

Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang: “Quản lý là tác động có mục đích, có

kế hoạch của chủ thể quản lý đến tập thể những người lao động nói chung là

khách thể quản lý nhằm thực hiện những mục tiêu dự kiến” [43, tr.24]

Theo tác giả Nguyễn Minh Đạo: “Quản lý là sự tác động liên tục có tổ

chức, có định hướng của chủ thể quản lý (người quản lý hay tổ chức quản lý)

lên khách thể (đối tượng) quản lý về các mặt chính trị, văn hoá, xã hội, kinh

Trang 19

tế…vv bằng một hệ thống các luật lệ, chính sách, các nguyên tắc, các phương pháp và biện pháp cụ thể nhằm tạo ra môi trường và điều kiện cho sự phát

triển của đối tượng” [18, tr.7]

Các tác giả Nguyễn Quốc Chí, Nguyễn Thị Mỹ Lộc cho rằng: “Hoạt

động quản lý là hoạt động có định hướng có chủ đích của chủ thể quản lý (người quản lý) đến khách thể quản lý (người bị quản lý) trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức” [12, tr.1]

- Theo Harold Koontz: “Quản lý là một hoạt động thiết yếu, nó đảm bảo

sự phối hợp những nỗ lực của cá nhân nhằm đạt được các mục đích của nhóm Mục tiêu của mọi nhà quản lý là nhằm hình thành một môi trường mà trong đó con người có thể đạt được các mục đích của nhóm với thời gian, tiền bạc, vật chất và sự bất mãn cá nhân ít nhất Với tư cách thực hành thì cách quản lý là một

nghệ thuật, còn kiến thức tổ chức về quản lý là một khoa học” [24, tr.33]

Theo F.F.Aunapu: “Quản lý là một khoa học và nghệ thuật tác động

vào một hệ thống nhằm mục tiêu biến đổi hệ thống đó” [3, tr.16]

Theo P.Baranger: “Quản lý là sự cai trị một tổ chức bằng cách đặt ra

những mục tiêu và hoàn chỉnh mục tiêu cần phải đạt, là lựa chọn sử dụng các phương tiện nhằm đạt được mục tiêu đã định” [23]

Theo quan điểm của lý thuyết hệ thống: “Quản lý là phương thức tác

động có chủ đích của chủ thể quản lý lên hệ thống bao gồm hệ các quy tắc ràng buộc về hành vi đối với mọi đối tượng ở các cấp trong hệ thống nhằm

duy trì tính trội hợp lý của cơ cấu và đưa cơ cấu sớm đạt mục tiêu ”[14, tr.21]

W Taylor (1856 - 1951) cho rằng: “Quản lý là nghệ thuật biết rõ ràng, chính xác cái gì cần làm và làm cái đó thế nào bằng phương pháp tốt nhất và

rẻ nhất”

A Fayol (1841 - 1925) quan niệm: “Quản lý là đưa xí nghiệp tới đích,

cố gắng sử dụng tốt khái niệm nêu trên, ta có thể thấy rõ bốn yếu tố của quản

lý: chủ thể quản lý, đối tượng bị quản lý (gọi tắt là đối tượng quản lý), khách

thể quản lý và mục tiêu quản lý Bốn yếu tố này tạo thành sơ đồ sau:

Trang 20

Sơ đồ 1.1 Sơ đồ khái niệm quản lý [32,38]

Từ những khái niệm quản lý nêu trên, có thể hiểu: Quản lý là quá trình

tác động có định hướng, có tổ chức của chủ thể quản lý tới khách thể quản

lý nhằm đưa tổ chức vận hành và đạt mục tiêu đề ra

- Dự đoán, dự báo nhu cầu phát triển

- Chẩn đoán, đánh giá thực trạng phát triển của tổ chức

Khách thể quản

Mục tiêu quản lý

Phương pháp QL

Phương pháp QL

Trang 21

- Xác định những mục tiêu, biện pháp và phương tiện cần thiết để thực hiện mục tiêu đề ra

* Chức năng tổ chức

Tổ chức thực hiện kế hoạch là quá trình sắp xếp và phân phối các nguồn lực để hiện thực hoá các mục tiêu đã đề ra, là sự sắp đặt một cách khoa học những con người, những công việc một cách hợp lý, là sự phối hợp các tác động bộ phận tạo nên một tác động tích hợp mà hiệu quả của nó lớn hơn nhiều

so với tổng số các hiệu quả của các tác động thành phần Công tác tổ chức gồm ba nhiệm vụ chính dưới đây:

- Xác định cấu trúc của bộ máy

- Tiếp nhận và phân phối các nguồn lực theo cấu trúc bộ máy

- Xác lập cơ chế phối hợp giữa các bộ phận, các thành viên trong tổ chức

* Chức năng chỉ đạo

Chỉ đạo là quá trình tác động, ảnh hưởng qua lại của chủ thể quản lý đến hành vi và thái độ của những thành viên trong tổ chức nhằm đạt được những mục tiêu đã đề ra Nội dung của chức năng chỉ đạo bao gồm:

- Chỉ huy, ra lệnh

- Động viên, khen thưởng

- Theo dõi, giám sát

- Uốn nắn và điều chỉnh

* Chức năng kiểm tra

Kiểm tra là một chức năng có liên quan đến mọi cấp quản lý nhằm đánh giá trạng thái của hệ, xem mục tiêu dự kiến ban đầu và toàn bộ kế hoạch đã đạt được ở mức độ nào, kịp thời phát hiện những sai sót, lệch lạc tìm ra nguyên nhân của những sai sót, những vấn đề mới nảy sinh trong thực tiễn, điều chỉnh và tạo thông tin cho quá trình quản lý tiếp theo

Bốn chức năng quản lý có mối quan hệ mật thiết với nhau tạo thành một chu trình quản lý Chu trình quản lý gồm 4 giai đoạn với sự tham gia của 2 yếu tố quan trọng: Thông tin và quyết định trong đó thông tin có vai trò là

Trang 22

huyết mạch của hoạt động quản lý Chức năng kiểm tra đánh giá là giai đoạn cuối cùng của hoạt động quản lý đồng thời là tiền đề của một quá trình quản lý tiếp theo

Các tác giả Nguyễn Sinh Huy - Hà Hữu Dũng: “Quản lý giáo dục là tác động một cách có mục đích và có kế hoạch vào toàn bộ lực lượng giáo dục, nhằm tổ chức và phối hợp hoạt động của chúng, sử dụng một cách đúng đắn các nguồn lực và phương tiện, thực hiện có kết quả những chỉ tiêu phát triển

về số lượng và chất lượng của sự nghiệp giáo dục theo phương hướng của mục tiêu giáo dục”

Theo Nguyễn Ngọc Quang: “Quản lý giáo dục thực chất là tác động một cách khoa học đến nhà trường, nhằm tổ chức tối ưu các quá trình dạy học, giáo dục thể chất theo đường lối và nguyên lý giáo dục của đảng, tiến tới mục tiêu dự kiến, tiến lên trạng thái chất lượng mới”

Như vậy, quản lý giáo dục bao gồm 3 lĩnh vực:

- Quản lý chính sách (hoạch định chính sách, lập kế hoạch, thực hiện chính sách và phân bổ nguồn lực)

- Quản lý hành chính (sử dụng nguồn lực tài chính, con người và vật chất)

- Quản lý sư phạm (sử dụng giáo viên, tổ chức quá trình dạy học, quá trình giáo dục, thành tích và quá trình học tập

Ngày nay, giáo dục không còn là một thứ phúc lợi xã hội đơn thuần vì nó được gắn với quá trình phát triển xã hội Việc đi học của mỗi người phải là:

“học thường xuyên, học suốt đời” Do vậy giáo dục không chỉ giới hạn ở thế

Trang 23

hệ trẻ mà là giáo dục cho mọi người, cho nên quản lí giáo dục cũng có thể hiểu là: sự điều hành hệ thống giáo dục quốc dân nhằm thực hiện mục tiêu: nâng cao dân trí , đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài

Như vậy Quản lý giáo dục được hiểu là sự tác động của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý trong lĩnh vực hoạt động hoặc công tác giáo dục Nói cách khác quản lý giáo dục là hệ thống những tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý trong hệ thống giáo dục, là sự điều hành hệ thống giáo dục quốc dân, các cơ sở giáo dục nhằm thực hiện mục tiêu nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài Quản lý giáo dục là hoạt động điều hành, phối hợp các lực lượng xã hội nhằm đẩy mạnh công tác giáo dục theo yêu cầu phát triển của xã hội

Quản lý giáo dục cũng chịu sự chi phối của các quy luật xã hội và tác động của quản lý xã hội Quản lý giáo dục có những đặc trưng chủ yếu sau:

- Sản phẩm giáo dục là nhân cách, là sản phẩm có tính đặc thù nên quản lý giáo dục phải ngăn ngừa sự dập khuôn, máy móc trong việc tạo ra sản phẩm cũng như không được phép tạo ra phế phẩm

- Quản lý giáo dục nói chung, quản lý nhà trường nói riêng phải chú ý đến sự khác biệt giữa đặc điểm lao động sư phạm so với lao động xã hội nói chung

- Trong quản lý giáo dục, các hoạt động quản lý hành chính nhà nước và quản lý sự nghiệp chuyên môn đan xen vào nhau, thâm nhập lẫn nhau không thể tách rời, tạo thành hoạt động quản lý giáo dục thống nhất

- Quản lý giáo dục đòi hỏi những yêu cầu cao về tính toàn diện, tính thống nhất, tính liên tục, tính kế thừa và phát triển

- Quản lý giáo dục phải quán triệt quan điểm quần chúng, diễn ra ở tầm

vĩ mô trong phạm vi toàn quốc hoặc trên địa bàn lãnh thổ địa phương

- Quản lý nhà trường: Quản lý nhà trường là cấp cơ sở của Quản lý giáo dục ở tầm vi mô, trong phạm vi một đơn vị, một cơ sở giáo dục Nhà trường là khách thể quản lý cơ bản của tất cả các cấp quản lý giáo dục trong hệ thống giáo dục quốc dân đồng thời nó lại là hệ thống độc lập tự quản của xã hội

Trang 24

Quản lý nhà trường là hệ thống những tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý nhằm làm cho nhà trường vận hành theo nguyên lý giáo dục để đạt tới mục tiêu giáo dục đặt ra trong từng thời kỳ phát triển của đất nước Quản lý nhà trường là quản lý giáo dục trên tất cả các mặt, các khía cạnh liên quan đến hoạt động giáo dục và đào tạo trong phạm vi một nhà trường

Có thể nói rằng lý do tồn tại của các cấp QLGD trước hết là vì chất lượng và hiệu quả hoạt động của nhà trường mà trọng tâm là hoạt động đào

tạo hay giáo dục

Nhà trường là tế bào chủ chốt của bất cứ hệ thống quản lý giáo dục nào

từ trung ương đến địa phương.Vì vậy, nhà trường (nói chung) là khách thể cơ bản của tất cả các cấp quản lý Bởi lẽ, quản lý trong hệ thống giáo dục ở tất cả các cấp đều nhằm tạo điều kiện thuận lợi tối đa, để đạt mục đích, mục tiêu, chất lượng, hiệu quả của nhà trường

Quản lý nhà trường được hiểu theo hai mặt:

- Thứ nhất là, hoạt động quản lý của những chủ thể quản lý cấp trên và bên ngoài nhà trường đối với nhà trường nhằm hướng dẫn và tạo điều kiện cho mọi hoạt động giảng dạy, học tập, giáo dục của nhà trường Bao gồm các chỉ dẫn, quyết định của các thực thể bên ngoài nhà trường nhằm định hướng sự phát triển của nhà trường, hỗ trợ và tạo điều kiện cho việc thực hiện phương hướng phát triển đó

- Thứ hai là, hoạt động quản lý của chủ thể quản lý ở ngay trong nhà trường đối với các hoạt động của nhà trường như: Quản lý giáo viên, quản lý học sinh, quản lý quá trình dạy học của giáo viên, quản lý hoạt động học tập của học sinh, sinh viên, quản lý cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học, quản lý tài chính, v.v

Trang 25

Theo Giáo sư- viện sĩ Phạm Minh Hạc: “Quản lý nhà trường là thực

hiện đường lối giáo dục của Đảng trong phạm vi trách nhiệm của mình, tức là đưa nhà trường vận hành theo nguyên lý giáo dục để tiến tới mục tiêu giáo dục, mục tiêu đào tạo đối với ngành giáo dục, với thế hệ trẻ và với từng học

sinh” [22, tr.61]

“Quản lý trường học có thể hiểu là một hệ thống tác động sư phạm hợp

lý và có hướng đích của chủ thể quản lý đến tập thể giảng viên, học sinh và các lực lượng xã hội trong và ngoài nhà trường, nhằm huy động và phối hợp sức lực trí tuệ của họ vào mọi hoạt động của nhà trường hướng vào việc hoàn

thành có chất lượng và hiệu quả mục tiêu dự kiến ” [44, tr.27]

Để hoạt động quản lý nhà trường đạt được mục tiêu và mang lại hiệu quả cao, nhân tố quan trọng hàng đầu chính là đội ngũ cán bộ quản lý nhà trường Quá trình quản lý nhà trường thực chất là quản lý quá trình lao động

sư phạm của thầy giáo, quản lý hoạt động học tập- tự học của học sinh và quản

lý CSVC - thiết bị phục vụ dạy và học Trong đó người cán bộ quản lý phải trực tiếp và ưu tiên dành nhiều thời gian để quản lý hoạt động của lực lượng trực tiếp đào tạo Mọi hoạt động quản lý khác đều nhằm mục đích nâng cao chất lượng dạy và học

1.2.4 Quản lý công tác học sinh, sinh viên

1.2.4.1 Công tác quản lý sinh viên

Theo Điều 2 của Quy chế sinh viên các trường Đại học, Cao đẳng và trung cấp chuyên nghiệp hệ chính quy (Ban hành kèm theo Quyết định số 42/2007/QĐ-BGDĐT ngày 13 tháng 8 năm 2007 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục

và Đào tạo) thì “Công tác học sinh, sinh viên là một trong những công tác trọng tâm của Hiệu trưởng nhà trường, nhằm đảm bảo thực hiện mục tiêu giáo dục là đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện, có đạo đức, tri thức, sức khỏe, thẩm mỹ và nghề nghiệp, trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc

và CNXH, hoàn thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực của công dân, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc” Như

Trang 26

vậy, công tác học sinh, sinh viên là công tác hướng vào việc thực hiện mục tiêu đào tạo chung của các trường mà cụ thể là người đứng đầu – Hiệu trường nhà trường Mục đích của công tác này là giáo dục đào tạo sinh viên thành người lao động tự chủ, sáng tạo và có kỷ luật, giàu lòng nhân ái, yêu nước, yêu CNXH, sống lành mạnh, có kiến thức, kỹ năng nghề nghiệp, có sức khỏe góp phần làm cho dân giàu nước mạnh đưa đất nước tiến lên kịp thời đại

Nói theo một cách khác, công tác HSSV là những công việc có liên quan đến sinh viên nhằm giúp sinh viên học tập tốt, rèn luyện tốt, hình thành phẩm chất vă năng lực công dân Công tác HSSV là quản lý việc thực hiện các nhiệm vụ học tập của sinh viên theo đúng chương trình, kế hoạch đã định và thực hiện đúng các quy chế, quy định hiện hành, tổ chức giáo dục chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống cho sinh viên, tổ chức quản lý đời sống vật chất và tinh thần của sinh viên

1.2.4.2 Nội dung công tác học sinh sinh viên

Tại điều 3 Quy chế sinh viên các trường Đại học, Cao đẳng và trung cấp chuyên nghiệp hệ chính quy cũng nêu rõ: “HSSV là nhân vật trung tâm trong nhà trường, được nhà trường đảm bảo điều kiện thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ trong quá trình học tập và rèn luyện tại trường, công tác HSSV phải thực hiện đúng đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước và các quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo; công tác HSSV phải bảo đảm khách quan, công bằng, công khai, minh bạch, dân chủ trong các khâu có liên quan đến HSSV” [2]

Công tác HSSV có những nội dung cụ thể được quy định tại các điều 7,

8, 9, 10, 11, 12 của Quy chế HSSV các trường Đại học, Cao đẳng và trung cấp chuyên nghiệp hệ chính quy như sau:

(1) Tổ chức tiếp nhận thí sinh trúng tuyển vào học theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo và nhà trường, sắp xếp bố trí vào các lớp HSSV; chỉ định ban cán sự lớp HSSV lâm thời (lớp trưởng, lớp phó) trong thời gian đầu khóa học, làm thẻ cho sinh viên

Trang 27

(2) Tổ chức tiếp nhận sinh viên vào ở nội trú

(3) Thống kê, tổng hợp dữ liệu, quản lý Hồ sơ của sinh viên

(4) Tổ chức phát bằng tốt nghiệp cho sinh viên

(5) Giải quyết các công việc hành chính có liên quan cho sinh viên (6) Theo dõi, đánh giá ý thức học tập, rèn luyện của sinh viên, phân loại, xếp loại HSSV cuối mỗi học kỳ hoặc năm học, khóa học; tổ chức thi đua, khen thưởng cho tập thể và cá nhân sinh viên đạt thành tích cao trong học tập

và rèn luyện, xử lý kỷ luật đối với sinh viên vi phạm quy chế, nội quy

(7) Tổ chức “Tuần sinh hoạt công dân – HSSV” vào đầu khóa, cuối năm và cuối khóa học

(8) Tổ chức cho HSSV tham gia các hoạt động nghiên cứu khoa học, thi sinh viên giỏi, Olympic các môn học, thi sáng tạo tài năng trẻ và các hoạt động khuyến khích học tập khác

(9) Tổ chức triển khai công tác giáo dục tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống cho HSSV; tổ chức cho HSSV tham gia các hoạt động văn hóa, văn nghệ

và các hoạt động ngoài giờ lên lớp khác, tổ chức đối thoại định kỳ giữa hiệu trưởng nhà trường với HSSV

(10) Theo dõi công tác phát triển Đảng trong sinh viên; tạo điều kiện thuận lợi cho sinh viên tham gia tổ chức Đảng, các đoàn thể trong trường, phối hợp với Đoàn TNCS Hồ Chí Minh, Hội sinh viên và các tổ chức chính trị - xã hội khác có liên quan trong các hoạt động phong trào của HSSV, tạo điều kiện cho HSSV có môi trường rèn luyện, phấn đấu

(11) Tổ chức tư vấn học tập, nghề nghiệp, việc làm cho HSSV

(12) Tổ chức thực hiện công tác y tế trường học; tổ chức khám sức khỏe cho những HSSV khi vào nhập học; chăm sóc, phòng chống dịch, bệnh và khám sức khỏe định kỳ cho HSSV trong thời gian theo quy định; xử lý những trường hợp không đủ tiêu chuẩn sức khỏe để học tập

(13) Tạo điều kiện cơ sở vật chất cho sinh viên luyện tập thể dục, thể thao; tổ chức cho HSSV tham gia các hoạt động thể dục, thể thao

Trang 28

(14) Tổ chức nhà ăn tập thể cho HSSV bảo đảm vệ sinh an toàn thực phẩm

(15) Tổ chức thực hiện các chế độ chính sách của Nhà nước quy định đối với HSSV về học bổng, học phí, trợ cấp xã hội, bảo hiểm, tính dụng đào tạo và các chế độ khác có liên quan đến sinh viên

(16) Tạo điều kiện giúp đỡ sinh viên tàn tật, khuyết tật, sinh viên diện chính sách HSSV có hoàn cảnh khó khăn

(17) Phối hợp với các ngành, các cấp chính quyền địa phương trên địa bàn nơi trường đóng, khu vực có HSSV ngoại trú xây dựng kế hoạch đảm bảo

an ninh trật tự chính trị, trật tự và an toàn cho sinh viên, giải quyết kịp thời các vụ việc có liên quan đến HSSV

(18) Tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về an toàn giao thông, phòng chống tội phạm, ma túy, mại dâm, HIV/AIDS và các hoạt động khác có liên quan đến HSSV; hướng dẫn HSSV chấp hành pháp luật và nội quy, quy chế

(19) Tư vấn pháp lý, tâm lý, xã hội cho HSSV

(20) Tổ chức triển khai thực hiện công tác quản lý HSSV nội trú, ngoại trú theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo

Như vậy, theo Quy chế của Bộ giáo dục và Đào tạo, công tác HSSV được thực hiện chủ yếu ở các lĩnh vực sau:

(1) Công tác tổ chức hành chính

(2) Công tác tổ chức, quản lý hoạt động học tập và rèn luyện của HSSV;

(3) Công tác y tế, thể thao;

(4) Thực hiện các chế độ, chính sách đối với HSSV;

(5) Thực hiện công tác an ninh chính trị, trật tự, an toàn, phòng chống tội phạm, và các tệ nạn xã hội;

(6) Thực hiện công tác quản lý HSSV nội trú, ngoại trú

1.2.4.3 Mục đích của công tác QLSV

Công tác HSSV là một trong những công tác trọng tâm của cơ sở dạy nghề, nhằm bảo đảm thực hiện mục tiêu đào tạo con người Việt Nam phát

Trang 29

triển toàn diện, có đạo đức, tri thức, sức khỏe, thẩm mỹ và nghề nghiệp; hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực của công dân, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc [4]

Công tác HSSV phải được thực hiện theo đúng đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và các quy định của Bộ lao động – Thương binh và Xã hội [4]

Công tác HSSV phải bảo đảm khách quan, công bằng, công khai, minh bạch, dân chủ trong các khâu có liên quan đến HSSV [4]

Sinh viên vừa là đối tượng vừa là chủ thể của quá trình đào tạo, do đó công tác QLSV được chú trọng và quan tâm sẽ góp phần nâng cao chất lượng đào tạo

1.2.4.4 Ví trí vai trò của công tác học sinh sinh viên

Con người là nguồn nhân lực vô cùng quan trọng để xây dựng và phát triển đất nước, chính vì vậy mà hiện nay, các quốc gia trên thế giới đều rất quan tâm đến vấn đề phát triển nguồn nhân lực – phát triển con người

Nghị quyết Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ VIII nhân mạnh Nguồn lực con người là quý báu nhất, có vai trò quyết định đặc biệt đối với nước ta khi nguồn lực tài chính và nguồn lực vật chất còn hạn hẹp Nguồn lực

đó là người lao động có trí tuệ cao; có tay nghề thành thạo, có phẩm chất đạo đức tốt đẹp được đào tạo bồi dưỡng và phát huy bởi một nền giáo dục tiên tiến gắn liền với một nền khoa học công nghệ hiện đại

Giáo dục phải làm tốt nhiệm vụ đào tạo nguồn nhân lực cho đất nước, đội ngũ lao động cho khoa học công nghê

Nguồn nhân lực là chỉ những người đang và sẽ bổ sung vào lực lượng lao động xã hội đa dạng và phong phú, bao gồm các thế hệ trẻ đang được nuôi dưỡng, học tập ở các cơ sở giáo dục phổ thông, giáo dục nghề nghiệp và cao đẳng, Đại học Trong số những người được giáo dục, đào tạo để có thể đủ sức làm chủ nền khoa học, công nghệ hiện đại của nước nhà sau này khi sinh viên

là người tiêu biểu, là những người đang được đầu tư đào tạo ở khâu cuối cùng

Trang 30

trong nhà trường một cách có hệ thống Đó là nguồn lực con người lãnh đạo

có chất lượng, trình độ cao, có chuyên môn sâu, là lực lượng ưu tú có học vấn cao trong thanh niên được Đảng, Nhà nước, nhân dân quan tâm và đặt nhiều niềm tin tưởng

Công tác QLSV góp phần hỗ trợ tích cực cho công tác giáo dục và đào tạo của nhà trường trong các trường Đại học, Cao đẳng Quy chế sinh viên các trường Đại học, Cao đẳng và trung cấp chuyên nghiệp (ban hành kèm theo Quyết định số 42/2007/QĐ-BGDĐT ngày 13/8/2007 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo) xác định rõ công tác sinh viên là một trong những công tác trọng tâm của Hiệu trưởng nhà trường, nhằm đảm bảo thực hiện mục tiêu giáo dục là đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện, có đạo đức, tri thức, sức khỏe, thẩm mỹ và nghề nghiệp, trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc

và CNXH; hình thành và bỗi dưỡng nhân cách, phầm chất và năng lực của công dân; đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc

Đối với một số cơ sở Giáo dục và Đào tạo nói chung và tại trường Cao đẳng Kỹ thuật Công nghiệp nói riêng, việc nâng cao chất lượng đào tạo là một trong những mục tiêu quan trọng quyết định đến sự tồn tại và phát triển của đơn vị Việc nâng cao được hiệu quả và chất lượng đào tạo của nhà trường phụ thuộc vào nhiều yếu tố, chẳng hạn như: nguồn nhân lực (bao gồm cả người dạy và người học); nguồn lực tài chính, cơ sở vật chất, chương trình giáo dục, chế độ chính sách…trong đó, theo quan điểm giáo dục hiện đại thì trong hoạt động này, người học giữ vai trò trung tâm Vì vậy, để thực hiện tốt mục tiêu này thì công tác HSSV càng phải được quan tâm hơn, thông qua việc thực hiện tốt công tác HSSV sẽ giúp cho sinh viên học tập tốt, rèn luyện tốt, hình thành phẩm chất và năng lực công dân góp phần nâng cao hiệu quả và chất lượng đào tạo về mọi mặt

Đối với quá trình học tập và rèn luyện của sinh viên, đánh giá kết quả rèn luyện của sinh viên là đánh giá phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống của từng sinh viên theo các mức điểm đạt được trên các mặt: Ý thức học tập, ý

Trang 31

thức và kết quả chấp hành nội quy, quy chế trong nhà trường; ý thức và kết quả tham gia các hoạt động chính trị - xã hội, văn hóa, văn nghệ, thể thao, phòng chống các tệ nạn xã hội, phẩm chất công dân và quan hệ với cộng đồng; ý thức, kết quả tham gia phụ trách lớp, các đoàn thể, tổ chức khác trong nhà trường hoặc các thành tích đặc biệt trong học tập, rèn luyện của sinh viên

Như vậy, việc kiểm tra đánh giá là một khâu quan trọng không thể thiếu trong quá trình đánh giá kết quả học tập và rèn luyện của sinh viên và công tác HSSV chính là việc thực hiện nội dung kiểm tra đánh giá này và nếu công tác tổ chức, quản lý tốt sẽ giúp sinh viên đạt kết quả tốt trong học tập và rèn luyện

1.2.4.5 Quản lý công tác học sinh, sinh viên

Điều 1 nghị định số 85/2003/NĐ-CP ngày 18/7/2003 của Chính phủ quy định về chức năng nhiệm vụ quyền hạn của Bộ Giáo dục và Đào tạo nêu

rõ “ Bộ giáo dục và Đào tạo là cơ quan của Chính phủ thực hiện chức năng

quản lý nhà nước về giáo dục bao gồm: giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông, giáo dục trung học chuyên nghiệp, giáo dục Đại học, sau Đại học ”

Tại khoản 12 Điều 2 Nghị định này cũng quy định nhiệm vụ quyền hạn của Bộ Giáo dục và Đào tạo là ban hành các quy định về tuyển sinh, QLSV, học viên, nghiên cứu sinh

Như vậy, quản lý công tác HSSV là một trong những nhiệm vụ quan trọng của công tác quản lý giáo dục Để thực hiện tốt nhiệm vụ này đòi hỏi các

cơ quan tham gia hoạt động giáo dục, cụ thể là cán bộ quản lý giáo dục phải không ngừng học tập, rèn luyện nâng cao phẩm chất đạo đức, trình độ chuyên môn, năng lực quản lý và trách nhiệm cá nhân Đồng thời nhà nước có kế hoạch xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục nhằm phát huy vai trò và trách nhiệm của cán bộ quản lý giáo dục, nhằm đảm bảo phát triển sự nghiệp giáo dục

Theo hướng dẫn của Bộ Giáo dục và Đào tạo, các ngành có trường đào tạovà các Sở Giáo dục và Đào tạo có trách nhiệm cụ thể hoá công tác HSSV cho phù hợp với đặc điểm đào tạo của ngành, của địa phương; tiến hành chỉ đạo, kiểm tra công tác HSSV tại các trường thuộc quyền quản lý

Trang 32

Theo điều 13 Quy chế sinh viên các trường Đại học, cao đẳng và trung cấp chuyên nghiệp hệ chính quy thì: hệ thống tổ chức quản lý công tác HSSV của trường gồm có Hiệu trưởng, đơn vị phụ trách công tác HSSV, GVCN và lớp sinh viên Căn cứ vào Điều lệ nhà trường của từng chương trình đào tạo, Hiệu trưởng quy định hệ thống tổ chức, quản lý công tác HSSV phù hợp, bảo đảm thực hiện các nội dung công tác HSSV Trong điều lệ của trường Cao đẳng Kỹ thuật Công nghiệp thì công tác HSSV chủ yếu do Hiệu trưởng và đơn

vị phụ trách sinh viên là phòng Công tác HSSV đảm nhiệm bên cạnh đó là trách nhiệm của GVCN lớp và ban cán sự lớp

Như vậy, có thể thống nhất quan niệm: Quản lý công tác HSSV là quá

trình lập kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo, kiểm tra các nội dung của công tác HSSV để góp phần thực hiện mục tiêu đào tạo chung của nhà trường

1.2.5 Quản lý hoạt động tự học của sinh viên trường ĐH, CĐ

1.2.5.1 Khái niệm tự học

Mọi người thường nghĩ tự học thì không cần phải quản lý nhưng thực tế cho thấy bất cứ hoạt động nào dù tự lực tốt nhưng khi có thêm cộng hưởng bên ngoài( tác động ngoại lực) thì kết quả sẽ tốt hơn nhiều Chủ Tịch Hồ Chí Minh đã từng dạy “Cách học tập lấy tự học làm cốt Có thảo luận và giúp đỡ vào” [17, tr.18]

Chỉ đạo ở đây chính là một trong những chức năng của hoạt động quản lý Vậy tự học ở đây cũng phải có quản lý Như đã đề cập ở trên, tự học là hoạt động chính của bản thân sinh viên, được tiến hành ngoài giờ lên lớp có hoặ không có

sự hướng dẫn của thầy nhằm nắm vững, mở rộng tri thức, nó mang tính độc lập cao và mang đậm sắc thái cá nhân Tuy kết quả tự học phụ thuộc vào yếu tố tự giác, tích cực và phương pháp của sinh viên nhưng nó cũng chịu ảnh hưởng rất nhiều bởi những yếu tố bên ngoài Vậy muốn cho hoạt động tự học của sinh viên đạt kết quả tốt thì không thể coi nhẹ vai trò của quản lý

Quản lý hoạt động tự học của sinh viên là một trong những nội dung cơ bản của quản lý nhà trường, quản lý quá trình dạy – học, quản lý quá trình

Trang 33

dạy- tự học ở các trường đại học Đó là công tác nhằm cho hoạt động tự học của sinh viên đạt kết quả tốt hơn

Quản lý hoạt động tự học của sinh viên là quản lý các hoạt động tích cực của người học và các điều kiện đảm bảo cho người học học tập tích cực, nhằm nâng cao hiệu quả học tập của người học và hiệu quả đào tạo của cơ sở giáo dục

1.2.5.2 Bản chất của quản lý hoạt động tự học

Trong quá trình học tập bao giờ cũng có tự học, thực chất của quá trình

này là học “cách học”, phát triển năng lực của người học Trong tự học bước

đầu thường có nhiều lúng túng nhưng chính những lúng túng đó lại là động lực thúc đẩy sinh viên tư duy để thoát khỏi lúng túng, nhờ đó mà thành thạo lên, khi đã thành thạo thì thường hay đặt những câu hỏi, phát hiện những vấn

đề và từ đó đi đến có đề tài nghiên cứu Do vậy việc quản lý hoạt động tự học của sinh viên thực chất là quản lý phương pháp học tập , trong đó chú trọng đến phương pháp tự học Người quản lý cũng như các thầy cô giáo phải bắt đầu từ khâu lập kế hoạch học tập theo phương pháp tự học cho sinh viên, tổ chức chỉ đạo cho sinh viên thực hiện kế hoach đã đề ra tùy theo mục đích, yêu cầu của từng môn học, có kiểm ta đánh giá từng phần các hoạt động học tập của sinh viên trong suốt quá trình thực hiện với một mục tiêu là nâng cao chất lượng và kết quả học tập của sinh viên Hơn nữa, sinh viên sau khi ra trường

đã có sẵn năng lực tự học để tư duy, sáng tạo và tiếp tục học tập suốt đời

1.2.5.3 Nội dung, biện pháp quản lý hoạt động tự học

Quản lý hoạt động tự học của sinh viên trường Cao đẳng, Đại học gồm

có những nội dung sau:

- Xây dựng động cơ tự học cho sinh viên

Bất cứ hoạt động nào của con người cũng đều có mục đích, có động cơ Động cơ là nhân tố thúc đẩy, định hướng và duy trì hoạt động tự học của sinh viên Theo thuyết ” nhu cầu” về động cơ của A Maslow các nhu cầu được sắp xếp từ thấp tới cao gồm: nhu cầu cơ bản – sinh học; nhu cầu về sự anh toàn,

Trang 34

nhu cầu về sự được thừa nhận, nhu cầu được tôn trọng và nhu cầu tự thể hiện Động cơ tự học của sinh viên cũng có nhiều thứ bậc khác nhau: bắt đầu từ nhu cầu phải hoàn thiện nhiệm vụ học tập, tự khẳng định mình, cơ hội có việc làm

và công danh sự nghiệp, nhu cầu học để biết, học để làm, học để chung sống, học để khẳng định mình

Động cơ là tiền đề, là điều kiện cho hoạt động tự học của sinh viên Việc xây dựng động cơ tích cực tự học cho sinh viên là nội dung cơ bản, rất quan trọng của công tác quản lý hoạt động tự học của sinh viên

Quản lý việc xây dựng và thực hiện kế hoạch tự học của sinh viên Quản lý kế hoạch tự học của sinh viên là việc lập các kế hoạch tự học

và thực hiện các kế hoạch đó Các kế hoạch tự học sẽ bao gồm việc phân chia thời gian cho các nội dung tự học; các phương pháp tự học, nó cũng giúp cho các cán bộ quản lý kiểm soát được quá trình tự học của sinh viên một cách thuận lợi và có kết quả tốt

Quản lý nội dung tự học của sinh viên

Quản lý nội dung tự học nhằm hướng nội dung tự học phù hợp với mục tiêu, yêu cầu của môn học và phù hợp với chương trình đào tạo của nhà trường Giảng viên cần phải hướng dẫn nội dung tự học cho sinh viên một cách chi tiết, đầy đủ, khoa học và có hệ thống

Quản lý việc bồi dưỡng phương pháp tự học cho sinh viên

Quản lý phương pháp tự học của sinh viên bắt đầu từ việc xác định mục đích, động cơ của việc học tập, của từng môn học cụ thể đến việc lựa chọn cách học, biện pháp học phù hợp

- Quản lý việc xây dựng các điều kiện phục vụ hoạt động tự học của sinh viên

Cơ sở vật chất, trang thiết bị là một yếu tố quan trọng phục vụ cho hoạt động giảng dạy và học tập của sinh viên Vì vậy, quản lý cơ sở vật chất và trang thiết bị là một nội dung quan trọng trong công tác quản lý giáo dục trong nhà trường nhằm mục đích phục vụ tốt nhất cho việc giảng dạy và học tập của học sinh, sinh viên

Trang 35

Quản lý tốt cơ sở vật chất nhà trường không chỉ đơn thuần là bảo quản tốt, mà phải phát huy tốt năng lực của chúng cho dạy học và giáo dục, đồng thời còn làm sao để có thể thường xuyên bổ sung thêm những thiết bị mới và

- Quản lý các điều kiện phục vụ, dịch vụ khác tuy không phải là nội dung trực tiếp của quản lý hoạt động tự học nhưng nó cũng có ảnh hưởng đến hoạt động

tự học của sinh viên, điều này đòi hỏi cán bộ quản lý phải quan tâm đến

- Quản lý việc duy trì và đẩy mạnh việc kiểm tra, đánh giá hoạt động tự học của sinh viên

Muốn cho sinh viên tự học có kết quả tốt, giảng viên phải thường xuyên kiểm tra, đánh giá, phải đưa nội dung tự học của sinh viên vào các bài kiểm tra, đánh giá Điều này sẽ giúp giảng viên nhận xét được quá trình tự học của sinh viên Kết quả kiểm tra đánh giá sẽ giúp sinh viên tự điều chỉnh hoạt động

tự học của mình Kiểm tra đánh giá sẽ giúp sinh viên hệ thống hóa kiến thức, xác định được trình độ của mình và sẽ nâng cao tinh thần trách nhiệm trong học tập

1.2.6 Những yêu cầu mới của hoạt động tự học và quản lý hoạt động tự học trong giai đoạn hiện nay

1.2.6.1 Những yêu cầu mới của hoạt động tự

Về cơ bản hoạt động tự học của sinh viên được đề cập đến trong trong đề tài là hoạt động diễn ra dưới sự điều khiển trực tiếp hoặc gián tiếp của người thầy, song ngày nay hoạt động tự học đòi hỏi những yêu cầu cao hơn đặc biệt khi đào tạo theo hệ thống tín chỉ: tự học phải phát huy được nội lực trọng yếu của con người, nó là cội nguồn của sự phát triển, của đổi mới , của sáng tạo

Trang 36

Học tốt là tự học hay Tự học hay mới có khả năng làm tốt, làm giỏi, làm sáng tạo, mới có thể sống tốt, sống văn hóa, sống đạo đức Do vậy tự học ngày nay phải phát huy được tính sáng tạo của bản thân, có khả năng thích ứng với hoàn cảnh và môi trường, phù hợp với các điều kiện và sự phát triển của xã hội và trên toàn thế giới

1.2.6.2 Những yêu cầu mới của quản lý hoạt động tự học

Về cơ bản, nội dung và biện pháp quản lý hoạt động tự học đều giống như các vấn đã đề cập ở trên Tuy nhiên trong thời đại ngày nay, trước sự phát triển lớn mạnh của nền giáo dục Việt Nam cũng như trên toàn thế giới, vai trò của những nhà quản lý giáo dục vô cùng quan trọng trong việc quản lý hoạt động tự học của sinh viên cũng như sự phát triển của nền giáo dục nước nhà Chính vì vậy người quản lý cần phải cung cấp cho người học những yêu cầu sau:

* Tạo nội lực tự học

Nội lực của người học, nhân tố quyết định sự phát triển bản thân người học vì: có tự học mới phát triển được tư duy độc lập, từ chỗ có tư duy độc lập mới có tư duy phê phán, có khả năng phát triển được tư duy độc lập mới có tư duy phê phán, có khả năng phát hiện vấn đề và nhờ đó mới có tư duy sáng tạo

* Tạo môi trường tự học và cung cấp các điều kiện để tự học

Để tạo điều kiện cho sinh viên có thể tự học đạt hiệu quả cao nhất thì việc cung cấp các điều kiện về cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ cho việc giảng dạy và học tập hết sức quan trọng Phòng học được trang bị hiện đại,

hệ thống chiếu sáng phù hợp, có cách âm làm giảm những tác động từ bên ngoài, đảm bảo nguồn tư liệu phong phú, cùng với những phương tiện thuận lợi cho việc khai thác tư liệu có ý nghĩa thiết thực cho việc đảm bảo chất lượng dạy và học, tự học, đồng thời nó còn tạo hứng thú cho sinh viên học tập Muốn tăng cường hiệu quả của dạy và học, tự học thì việc đầu tư hợp lý nhằm đảm bảo cơ sở vật chất, trang thiết bị, giáo trình, sách giáo khoa và tài liệu tham khảo phụ vụ công tác giảng dạy, học tập là vấn đề mang tính thời sự và thiết thực

Trang 37

* Hướng dẫn tự học, dạy cách tự học

Với mục đích hướng cho nội dung tự học của sinh viên phù hợp với mục tiêu, yêu cầu đào tạo, mục tiêu – yêu cầu môn học, bài học đảm bảo tính hiện thực và có hiệu quả cao, giáo viên phải hướng dẫn nội dung tự học cho sinh viên Nội dung tự học bao gồm:

Nội dung tự học mang tính bắt buộc do giáo viên yêu cầu để nắm vững tri thức Nội dung tự học do sinh viên tự chọn do nhu cầu muốn hiểu biết thêm, muốn mở rộng tri thức từ những vấn đề trong nội dung bài học, môn học trong chương trình học

Ngoài ra, người quản lý có thể tư vấn nội dung tự học cho sinh viên thông qua định hướng của giáo viên và phù hợp với yêu cầu, mục tiêu đào tạo

* Kiểm tra khen thưởng và các hình thức khác

Kiểm tra – đánh giá kết quả học tập của sinh viên là việc làm thường xuyên của người giáo viên Qúa trình dạy học chỉ có thể đạt tới chất lượng cao khi thực sự là quá trình điều chỉnh và điều khiển; Thông qua việc kiểm tra – đánh giá, cung cấp thông tin cho người dạy học, người học và người quản lý tương đối chính xác, làm căn cứ điều chỉnh các hoạt động dạy và học và từ đó đem lại hiệu quả giáo dục cao hơn Việc kiểm tra – đánh giá giúp giáo viên biết được khối lượng kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo mà học viên đã lĩnh hội được trong quá trình học tập, những lỗ hổng kiến thức học viên cần bổ xung, cùng với tự kiểm tra của sinh viên tạo điều kiện cho họ nhận thấy kết quả học tập của mình, từ đó tìm được các biện pháp phù hợp khắc phục những thiếu sót tồn tại trong học tập Hơn nữa, việc kiểm tra, đánh giá kết quả học tập giúp sinh viên hệ thống được lượng kiến thức đã tiếp thu được, phát triển tư duy và trí nhớ, nâng cao tinh thần trách nhiệm của mình trong học tập

1.3 Hoạt động tự học của sinh viên nội trú

1.3.1 Khái niệm về sinh viên, sinh viên nội trú

Sinh viên là người học ở các cơ sở giáo dục đại học Giáo dục đại học đào tạo hai trình độ: cao đẳng và đại học Như vậy sinh viên cao đẳng là người

Trang 38

học ở cở sở giáo dục đại học theo trình độ đào tạo cao đẳng, thi tốt nghiệp có bằng tốt nghiệp cao đẳng và được gọi là cử nhâncao đẳng Siinh viên là những người đến trường để học một cái gì đó và không bao giờ ngại bỏ công sức để theo đuổi tri thức Một sinh viên hiện đại là ngoài chuyên môn của mìnhphải học để biết cả các chuyên môn khác, bất kỳ một chuyên ngành nào mà mình thích học Một sinh viên phải biết định hướng trong học tập để đáp ứng yêu cầu của xã hội

Sinh viên nội trú là những sinh viên ở trong khu nội trú ( khu ký túc xá của nhà trường) dưới sự quản lý của Ban quản lý ký túc xá, thực hiện nghiêm túc các nội quy, quy định của của Ban quản lý Ký túc xá

1.3.2 Đặc điểm tâm sinh lý của sinh viên, sinh viên nội trú

Ở lứa tuổi này sinh viên có nhiều thay đổi về tâm lý, đặc biệt là sự phát triển về trí tuệ và khả năng tư duy Các nhà tâm lý đã cho rằnghoạt động tư duy của sinh viên rất tích cực và có tính độc lập tư duy lý luận phát triển mạnh, có khả năng và ưa thích khái quát các vấn đề Sự phát triển mạnh của tư duy lý luận liên quan chặt chẽ với khả năng sáng tạo, có thể tự mình phát hiện

ra cái mới Đối với sinh viên lứa tuổi này, điều quan trọng với họ là cách thức giải quyết vấn đề chứ không phải là loại vấn đề nào được giải quyết Họ có xu hướng đánh giá cao các bạn thông minhvà các thầy cô giáo có phương pháp giảng dạy tích cực

Các em cảm nhận được sự rung động của bản thân và hiểu rằng đó là trạng thái "cái tôi "của mình Họ còn cảm nhận được " tính chất người lớn của bản thân" cùng với quá trình phát triển sinh lý dần dần hình thành những nhu cầu động cơ, định hướng giá trị, các quan hệ và hành vi của mỗi người

Để chuẩn bị bước vào đời, thanh niên thường trăn trở với các câu hỏi về ý nghĩa và mục đích cuộc sống, về cách xây dựng một kế hoạch sống có hiệu quả, về việc lựa chọn nghề nghiệp cho phù hợp và có ý nghĩa Để giải đáp các câu hỏi này, khả năng nhận thức, đánh giá cũng như khả năng thực tiễn của mỗi cá nhân rất khác nhau, thể hiện đặc biệt rõ khoảng cách giữa sự phát

Trang 39

triển tự phát và sự phát triển có hướng dẫn của giaó dục với nghĩa rộng của khái niệm này Ở nước ta hiện nay khi mà các giá trị xã hội có nhiều biến động, không ít sinh viên chưa xác định được ý nghĩa của cuộc sống, không có định hướng nghề nghiệp rõ ràng do đó không thể lập được cho bản thân một

kế hoạch sống cụ thể Hiện tượng này tồn tại không phải đơn thuần do trình độ phát triển tâm lý ở lứa tuổi thanh niên chưa chín muồi mà quan trọng hơn là

do những khiếm khuyết trong giáo dục ở nhà trường, gia đình và trong xã hội

Sự hướng dẫn, giảng giải, giúp đỡ bằng các biện pháp cụ thể, phù hợp của các thế hệ đi trước sẽ giúp thanh niên đạt đến ” Miền phát triển gần” mà L.X Vuwgotki đã phát hiện ra

1.3.3 Khái niệm về tự học

Tự học là nội lực của người học, là nhân tố quyết định sự phát triển bản thân người học: Có tự học mới phát triển được tư duy độc lập, từ chỗ có tư duy độc lập mới có tư duy phê phán, có khả năng phát hiện vấn đề và nhờ đó mới có tư duy sáng tạo Nói cách khác, tự học là tự mình động não, suy nghĩ,

sử dụng các khả năng trí tuệ (quan sát, so sánh, phân tích, tổng hợp ) và có khi cả cơ bắp (khi sử dụng công cụ thực hành) cùng các phẩm chất cá nhân như động cơ, tình cảm, nhân sinh quan (trung thực khách quan, không ngại khó, kiên trì nhẫn nại, lòng say mê khoa học, ý chí muốn thành đạt, biến khó khăn thành thuận lợi, ) để chiếm lĩnh một lĩnh vực hiểu biết nào đó của nhân loại, biến lĩnh vực đó thành sở hữu của riêng mình

Trong quá trình học tập bao giờ cũng có tự học, nghĩa là tự mình lao động trí óc để chiếm lĩnh kiến thức, một hình thức không thể thiếu được của sinh viên đang học tập tại các trường cao đẳng đại học

Dựa vào mức độ tự học ta có thể phân chia thành 3 mức độ như sau:

Tự học ở mức độ cao: Là người học tự làm, tự rút kinh nghiệm, tự hoàn thiện về kiến thức cũng như nghề nghiệp

Tự học có hướng dẫn là người học có sự hướng dẫn của thầy nhưng chủ yếu

là hướng dẫn tư duy trong quá trình chiếm lĩnh kiến thức cũng như nghề nghiệp

Trang 40

Tự học giáp mặt là người học được thầy hướng dẫn trực tiếp, ở trên lớp tích cực chủ động tiếp thu và ngoài giờ lên lớp tự học để nắm chắc kiến thức, liên hệ với thực tế khách quan có hướng dẫn của người thầy

Tự học cũng chính là tự đào tạo, sự thống nhất là ở chỗ: Đó là quá trình

cá nhân hóa việc tiếp thu các tri thức và tuân theo luận điểm quan trọng về phương pháp dạy-tự học

Ý nghĩa của tự học là ”cốt” của việc học, hễ có học là có tự học, không

ai có thể học hộ người khác Khi nói đến học là hàm ý nói đến mối quan hệ giữa nội lực của người học và ngoại lực tức là của người dạy John Lubbock

đã nói: ’’Cái gì ta tự học được mới thực là của ta hơn những cái người ta dạy ta” Vai trò của tự học không chỉ có ý nghĩa đối với bản thân người học, mà nó còn có ý nghĩa to lớn đối với vấn đề nâng cao chất lượng của dạy học và đào tạo Chất lượng giáo dục và đào tạo cao nhất là sự cộng hưởng ngoại lực dạy với nội lực tự học, tự đào tạo Qúa trình tự học là quá trình cá nhân hóa việc học kết hợp, hợp tác với bạn, với thầy tức là quá trình xã hội hóa việc học tập tạo ra chất lượng và hiệu quả cao, đạt mục tiêu đào tạo

Tự học, tự đào tạo chính là cái gốc của sự phát triển bền vững của mỗi

cá nhân, tạo tiềm năng cho con người phát triển toàn diện, góp phần hoàn thiện nhân cách, sức lao động ”Nên tài, nên đức, nhờ tự học” – Lời tổng kết

từ ngàn xa cha ông ta truyền lại từ thế hệ này đến thế hệ khác như là một di sản quý báu của dân tộc

Như vậy tự học có nghĩa là tự giác, chủ động chiếm lĩnh tri thức với niềm say mê, hứng thú đặc biệt Đối với học sinh sinh viên tự học để rèn luyện

tư duy độc lập, nâng cao khả năng phát hiện tìm tòi, khả năng khám phá thế giới xung quanh Thực tế đã chứng mình rằng hầu hết những nhà khoa học lớn, những danh nhân văn hóa tầm cỡ thế giới đều trưởng thành từ con đường

tự học Bác Hồ của chúng ta cũng là một tấm gương sáng về tinh thần tự học suốt đời

Ngày đăng: 16/03/2021, 23:56

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm