Nhận thức của cán bộ quản lý ở các trường Trung học cơ sở về tính cần thiết của việc ứng dụng Công nghệ thông tin trong dạy học …... Nhận thức của đội ngũ giáo viên ở các trường Trung họ
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
NGUYỄN LIÊN BẰNG
QUẢN LÝ ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG DẠY HỌC Ở CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ
QUẬN ĐỒ SƠN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ GIÁO DỤC
HÀ NỘI - 2016
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
NGUYỄN LIÊN BẰNG
QUẢN LÝ ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG DẠY HỌC Ở CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ
QUẬN ĐỒ SƠN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ GIÁO DỤC Chuyên ngành: Quản lý Giáo dục
Mã số: 60 14 01 14
Người hướng dẫn khoa học: PGS TS Ngô Quang Sơn
HÀ NỘI - 2016
Trang 3i
LỜI CẢM ƠN
Luận văn thạc sĩ về đề tài “Quản lý ứng dụng Công nghệ thông tin
trong dạy học ở các trường Trung học cơ sở quận Đồ Sơn, thành phố Hải Phòng trong giai đoạn hiện nay” đã được thực hiện tại trường Đại học Giáo
dục, Đại học Quốc gia Hà Nội
Với tình cảm chân thành, tác giả luận văn xin bày tỏ lòng biết ơn Hội đồng khoa học, Hội đồng đào tạo thạc sĩ chuyên ngành Quản lý Giáo dục của trường Đại học Giáo dục, Đại học Quốc gia Hà Nội cùng các thầy giáo,
cô giáo đã trang bị vốn kiến thức lý luận về khoa học quản lý, giúp cho tác giả nghiên cứu và hoàn thiện đề tài
Đặc biệt, tác giả luận văn xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS.TS Ngô Quang Sơn, người Thầy đã trực tiếp hướng dẫn, tận tình chỉ bảo, tạo mọi điều kiện giúp đỡ cũng như cho tác giả sự tự tin để hoàn thành luận văn này
Tác giả luận văn cũng xin bày tỏ lòng cảm ơn chân thành tới các đồng chí lãnh đạo, chuyên viên của Phòng Giáo dục và Đào tạo quận Đồ Sơn, thành phố Hải Phòng; Ban Giám hiệu và giáo viên của các trường Trung học
cơ sở quận Đồ Sơn đã tạo điều kiện, tích cực hợp tác giúp tác giả nghiên cứu, khảo sát và cung cấp thông tin, tư liệu cho luận văn Xin được bày tỏ lòng biết ơn tới những người thân trong gia đình đã luôn động viên, chia sẻ để tác giả có thể hoàn thành luận văn
Mặc dù đã có nhiều cố gắng trong quá trình thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu song luận văn cũng không tránh khỏi những sai sót, kính mong được sự chỉ dẫn, góp ý của các thầy giáo, cô giáo, các bạn đồng nghiệp để luận văn
được hoàn thiện hơn
Hà Nội, ngày 04 tháng 11 năm 2016
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Nguyễn Liên Bằng
Trang 4CNTT Công nghệ thông tin
GADHTC Giáo án dạy học tích cực GD&ĐT Giáo dục và Đào tạo
Trang 5iii
MỤC LỤC
Trang
Lời cảm ơn
Danh mục các chữ cái viết tắt
Mục lục
Danh mục bảng
Danh mục các biểu đồ, sơ đồ
MỞ ĐẦU
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG DẠY HỌC Ở CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ ………
1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề
1.1.1 Nước ngoài
1.1.2 Việt Nam
1.2 Một số khái niệm cơ bản
1.2.1 Quản lý
1.2.2 Quản lý giáo dục và quản lý nhà trường
1.2.3 Dạy học, quản lý dạy học
1.2.4 Thiết bị dạy học
1.3 Ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học ở các trường Trung học cơ sở ……….……
1.3.1 Công nghệ thông tin ……… …
1.3.2 Ứng dụng Công nghệ thông tin trong dạy học ……… …
1.3.3 Môi trường học tập đa phương tiện ………
1.3.4 Phần mềm dạy học ………
1.3.5 Giáo án dạy học tích cực có ứng dụng Công nghệ thông tin ……
1.4 Quản lý ứng dụng Công nghệ thông tin trong dạy học ở trường Trung học cơ sở……….……… ….…
i ii iii viii ix 1 7 7 7 8 12 12 17 19 21 23 23
24 28
32
33
35
Trang 6iv
1.4.1 Quản lý việc xây dựng và sử dụng phòng học đa phương tiện nhằm
tích cực hóa quá trình nhận thức của học sinh ……….………
1.4.2 Quản lý việc sử dụng phần mềm dạy học để hỗ trợ học sinh tìm tòi,
khám phá kiến thức ……… ………
1.4.3 Quản lý việc thiết kế và sử dụng giáo án dạy học tích cực có ứng
dụng Công nghệ thông tin ………
Kết luận chương 1……….……
Chương 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ
THÔNG TIN TRONG DẠY HỌC Ở CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC
CƠ SỞ QUẬN ĐỒ SƠN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG ………
2.1 Khái quát về điều kiện tự nhiên, tình hình kinh tế và xã hội của quận
Đồ Sơn, thành phố Hải Phòng ……… …
2.2 Thực trạng phát triển giáo dục Trung học cơ sở của quận Đồ Sơn,
thành phố Hải Phòng ………
2.2.1 Quy mô giáo dục cấp Trung học cơ sở ………
2.2.2 Đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên ……….………
2.2.3 Thực trạng về cơ sở vật chất nói chung và thiết bị dạy học nói riêng
2.2.4 Thực trạng chất lượng giáo dục …….……….…
2.3 Thực trạng ứng dụng Công nghệ thông tin trong dạy học ở các trường
Trung học cơ sở của quận Đồ Sơn, thành phố Hải Phòng ………
2.3.1 Nhận thức của cán bộ quản lý, giáo viên về việc ứng dụng Công
nghệ thông tin trong dạy học ……….…
2.3.2 Thực trạng trình độ đào tạo về tin học của đội ngũ cán bộ quản lý,
Trang 7v
2.3.6 Thiết kế và sử dụng giáo án dạy học tích cực có ứng dụng Công
nghệ thông tin ……… ……
2.3.7 Khai thác, sử dụng máy tính và mạng Internet của học sinh các trường Trung học cơ sở ở quận Đồ Sơn ……….………… ……
2.4 Thực trạng quản lý ứng dụng Công nghệ thông tin trong dạy học ở các trường Trung học cơ sở của quận Đồ Sơn, thành phố Hải Phòng ….… 2.4.1 Thực trạng quản lý việc xây dựng và sử dụng phòng học đa phương tiện ……… …
2.4.2 Thực trạng quản lý việc sử dụng phần mềm dạy học và truy cập mạng Internet ………
2.4.3 Thực trạng quản lý việc thiết kế và sử dụng giáo án dạy học tích cực có ứng dụng Công nghệ thông tin ………
2.5 Đánh giá thực trạng ứng dụng Công nghệ thông tin và quản lý việc ứng dụng Công nghệ thông tin trong dạy học ở các trường Trung học cơ sở của quận Đồ Sơn, thành phố Hải Phòng ……… ………
2.5.1 Mặt mạnh ……… …
2.5.2 Mặt yếu ……… …………
2.5.3 Phân tích nguyên nhân
Kết luận chương 2……….………
Chương 3: MỘT SỐ BIỆN PHÁP QUẢN LÝ ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG DẠY HỌC Ở CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ CỦA QUẬN ĐỒ SƠN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY ……….………
3.1 Nguyên tắc đề xuất các biện pháp … ……… …
3.1.1 Nguyên tắc đảm bảo tính đồng bộ ………
3.1.2 Nguyên tắc đảm bảo tính khả thi ………
3.2 Một số biện pháp quản lý ứng dụng Công nghệ thông tin trong dạy
học ở các trường Trung học cơ sở của quận Đồ Sơn, thành phố Hải Phòng
60
61
63
63
63
66
68
68
69
70
73
74
74
74
75
Trang 8vi
trong giai đoạn hiện nay ……… ……
3.2.1 Biện pháp 1: Nâng cao nhận thức về tầm quan trọng của việc ứng dụng Công nghệ thông tin trong dạy học và hình thành nhận thức đúng cho đội ngũ giáo viên về việc thiết kế và sử dụng giáo án dạy học tích cực có ứng dụng Công nghệ thông tin …
3.2.2 Biện pháp 2: Tổ chức bồi dưỡng kiến thức tin học, kỹ năng sử dụng các thiết bị dạy học hiện đại cho đội ngũ giáo viên
3.2.3 Biện pháp 3: Nâng cao khả năng sử dụng phần mềm dạy học và mạng Internet cho đội ngũ giáo viên
3.2.4 Biện pháp 4: Xây dựng quy trình thiết kế và chỉ đạo các tổ chuyên môn, đội ngũ giáo viên thực hiện quy trình thiết kế giáo án dạy học tích cực có ứng dụng Công nghệ thông tin ……… ……… ………
3.2.5 Biện pháp 5: Tăng cường đầu tư, mua sắm thiết bị dạy học hiện đại và xây dựng phòng học đa phương tiện để ứng dụng Công nghệ thông tin trong dạy học có hiệu quả ……….………
3.2.6 Biện pháp 6: Tăng cường ứng dụng Công nghệ thông tin trong kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh ……… ………
3.2.7 Biện pháp 7: Tăng cường kiểm tra, đánh giá kết quả ứng dụng Công nghệ thông tin trong dạy học của đội ngũ giáo viên ………
3.3 Mối quan hệ giữa các biện pháp ……… ……
3.4 Khảo nghiệm tính cấp thiết và tính khả thi của các biện pháp …… …
3.4.1 Những vấn đề chung về khảo nghiệm ……….…… ……
3.4.2 Kết quả khảo nghiệm ……… ….………
Kết luận chương 3……….……
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ……….…………
1 Kết luận……….………
2 Khuyến nghị……… ………
2.1 Đối với Bộ Giáo dục và Đào tạo ………
75
76
78
81
84
89
92
94
96
98
98
98
105
107
107
109
109
Trang 9vii
2.2 Đối với Sở Giáo dục và Đào tạo thành phố Hải Phòng ………
2.3 Đối với Phòng Giáo dục và Đào tạo quận Đồ Sơn ………
TÀI LIỆU THAM KHẢO……… ……
PHỤ LỤC……….…
109
109
110
113
Trang 10viii
DANH MỤC BẢNG
Trang Bảng 2.1 Quy mô trường lớp, số cán bộ quản lý, giáo viên và số học sinh của
các trường Trung học cơ sở trong năm học 2016 - 2017……
Bảng 2.2 Cơ cấu cán bộ quản lý, giáo viên và nhân viên của các trường Trung học cơ sở trong năm học 2016 - 2017
Bảng 2.3 Trình độ đào tạo về chuyên môn của cán bộ quản lý, giáo viên và nhân viên của các trường Trung học cơ sở
Bảng 2.4 Thống kê cơ sở vật chất của các trường Trung học cơ sở
Bảng 2.5 Xếp loại về hạnh kiểm của học sinh ở các trường Trung học cơ sở trong hai năm học 2014 - 2015; 2015 - 2016
Bảng 2.6 Xếp loại về học lực của học sinh ở các trường Trung học cơ sở trong hai năm học 2014 - 2015; 2015 - 2016
Bảng 2.7 Thống kê kết quả điểm thi vào lớp 10 Trung học phổ thông năm học 2015 - 2016 và 2016 - 2017 của các trường Trung học cơ sở
Bảng 2.8 Nhận thức của đội ngũ cán bộ quản lý về tính cấp thiết của việc ứng dụng Công nghệ thông tin trong dạy học
Bảng 2.9 Nhận thức của đội ngũ giáo viên về tính cấp thiết của việc ứng dụng Công nghệ thông tin trong dạy học
Bảng 2.10 Trình độ đào tạo về tin học của đội ngũ cán bộ quản lý …
Bảng 2.11 Trình độ đào tạo về tin học của đội ngũ giáo viên ………
Bảng 2.12 Các hình thức ứng dụng Công nghệ thông tin trong dạy học của đội ngũ giáo viên ………
Bảng 2.13 Thực trạng khai thác và sử dụng máy tính, mạng Internet của học sinh
Bảng 3.1 Kết quả đánh giá tính cấp thiết của các biện pháp
Bảng 3.2 Kết quả đánh giá tính khả thi của các biện pháp
Bảng 3.3: Tương quan giữa tính cấp thiết và tính khả thi của các biện pháp
44 45
46
47 49
49
50
52
54
55
56
57
61
99
101
102
Trang 11ix
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ, SƠ ĐỒ
Trang Biểu đồ 2.1 Nhận thức của cán bộ quản lý ở các trường Trung học cơ sở
về tính cần thiết của việc ứng dụng Công nghệ thông tin trong dạy học …
Biểu đồ 2.2 Nhận thức của đội ngũ giáo viên ở các trường Trung học cơ
sở về tính cần thiết của việc ứng dụng Công nghệ thông tin trong dạy học
Biểu đồ 2.3 Trình độ đào tạo về tin học của đội ngũ cán bộ quản lý
Biểu đồ 2.4 Trình độ đào tạo về tin học của đội ngũ giáo viên …
Sơ đồ 3.1: Ứng dụng hiệu quả Công nghệ thông tin trong dạy học …… …
Sơ đồ 3.2: Quy trình thiết kế giáo án dạy học tích cực
Sơ đồ 3.3: Mối quan hệ giữa các biện pháp
Biểu đồ 3.1: Mối tương quan giữa tính cấp thiết và khả thi của các biện
Trang 12đưa ra chương trình hành động và dự đoán “ sẽ có sự thay đổi nền giáo dục
một cách căn bản vào đầu thế kỷ XXI do ảnh hưởng của Công nghệ thông tin”
Đối với nước ta, trước yêu cầu ngày càng cao về GD&ĐT, Đảng và Nhà nước đã coi việc ứng dụng CNTT trong dạy học là khâu đột phá quan trọng để nâng cao chất lượng giáo dục bằng việc ban hành các chủ trương, chính sách, như: Luật Công nghệ thông tin, năm 2006 tại khoản 1 điều 34
nêu rõ : “Nhà nước có chính sách khuyến khích ứng dụng công nghệ thông tin
trong việc dạy, học, tuyển sinh, đào tạo và các hoạt động khác trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo trên môi trường mạng’’ Quyết định số 698/QĐ-TTg
ngày 01/6/2009 của Thủ tướng Chính phủ nêu rõ: “Đẩy mạnh việc ứng dụng
công nghệ thông tin trong trường phổ thông nhằm đổi mới phương pháp dạy
và học theo hướng giáo viêntự tích hợp công nghệ thông tin vào từng môn học thay vì học trong môn tin học Giáo viên các bộ môn chủ động tự soạn và
tự chọn tài liệu và phần mềm (mã nguồn mở) để giảng dạy ứng dụng công nghệ thông tin” Nghị quyết số 29/NQ/TW, ngày 04/11/2013 Hội nghị lần thứ
8 Ban chấp hành Trung ương khóa XI, nêu rõ: “Đẩy mạnh ứng dụng công
nghệ thông tin và truyền thông trong dạy và học” Nghị quyết số 44/NQ-CP,
ngày 09/6/2014 của Chính phủ Ban hành Chương trình hành động của Chính
phủ thực hiện Nghị quyết số 29/NQ-TW, nêu: “Tăng cường cơ sở vật chất và
ứng dụng công nghệ thông tin trong giáo dục, đào tạo và dạy nghề”
Trang 132
Những năm gần đây, thực hiện việc đổi mới giáo dục, Bộ GD&ĐT luôn nhấn mạnh việc tăng cường ứng dụng CNTT trong các hoạt động của nhà trường Trong Công văn số 4983/BGDĐT-CNTT, ngày 28/9/2015 về Hướng dẫn thực hiện nhiệm vụ công nghệ thông tin năm học 2015-2016, Bộ GD&ĐT
xác định nhiệm vụ trọng tâm: “Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin và
truyền thông trong dạy và học Phát huy vai trò của công nghệ thông tin và các thành tựu khoa học và công nghệ hiện đại trong quản lý Nhà nước về giáo dục và đào tạo Từng bước hiện đại cơ sở vật chất kỹ thuật đặc biệt là hạ tầng công nghệ thông tin”
Trong bối cảnh đó, Sở GD&ĐT thành phố Hải Phòng trong triển khai nhiệm vụ năm học những năm học gần đây đều nhấn mạnh việc tăng cường
ứng dụng CNTT trong các hoạt động của nhà trường
Nhận thức rõ tầm quan trọng của việc ứng dụng CNTT trong dạy học, các trường trên địa bàn quận Đồ Sơn đã triển khai nhiều biện pháp nhằm đẩy mạnh việc ứng dụng CNTT trong dạy học và quản lý Trong những năm học gần đây, việc ứng dụng CNTT trong dạy học ở các trường THCS quận Đồ Sơn bước đầu đã đạt được một số kết quả đáng khích lệ Tính đến năm học
2015 - 2016, tất cả các trường THCS của quận Đồ Sơn đều có Website riêng; đều có phòng máy tính; đã được trang bị máy tính kết nối mạng Internet; máy chiếu đa phương tiện; ti vi màn hình rộng gắn cố định ở các lớp để phục vụ hoạt động dạy học của GV và HS Đội ngũ GV các trường THCS đã có nhiều
cố gắng trong việc ứng dụng CNTT trong dạy học Tuy nhiên, việc ứng dụng CNTT còn chậm, chủ yếu diễn ra ở những GV trẻ, nhưng chưa thực sự trở thành một nhu cầu thường xuyên và hiệu quả chưa cao
Với những lí do nêu trên, tác giả đã chọn nghiên cứu đề tài: “Quản lý
ứng dụng Công nghệ thông tin trong dạy học ở các trường Trung học cơ sở quận Đồ Sơn, thành phố Hải Phòng trong giai đoạn hiện nay”
Trang 143
2 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực trạng quản lý ứng dụng CNTT trong dạy học, luận văn đề xuất một số biện pháp quản lý ứng dụng CNTT trong dạy học ở các trường THCS quận Đồ Sơn, thành phố Hải Phòng trong giai đoạn hiện nay, góp phần nâng cao CLDH ở các trường THCS trên địa bàn nghiên cứu
3 Đối tượng và khách thể nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Quản lý ứng dụng CNTT trong dạy học ở các trường THCS quận Đồ Sơn, thành phố Hải Phòng
5 Câu hỏi nghiên cứu
Thế nào là ứng dụng hiệu quả CNTT trong dạy học?
Thế nào là quản lý ứng dụng CNTT trong dạy học một cách hiệu quả? Thực trạng quản lý ứng dụng CNTT trong dạy học ở các trường THCS của quận Đồ Sơn, thành phố Hải Phòng?
Các biện pháp quản lý ứng dụng CNTT trong dạy học ở các trường THCS của quận Đồ Sơn, thành phố Hải Phòng trong giai đoạn hiện nay?
6 Giả thuyết khoa học
Quản lý ứng dụng CNTT trong dạy học ở các trường THCS của quận
Đồ Sơn, thành phố Hải Phòng đã đạt được một số kết quả nhất định nhưng còn nhiều hạn chế và bất cập
Nếu lựa chọn, đề xuất và áp dụng một số biện pháp quản lý ứng dụng CNTT trong dạy học phù hợp với thực tiễn của các trường THCS thì sẽ góp
Trang 154
phần nâng cao CLDH và đổi mới PPDH ở các trường THCS của quận Đồ Sơn, thành phố Hải Phòng
7 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở lý luận về quản lý ứng dụng CNTT trong dạy học ở các truờng THCS
- Khảo sát thực trạng quản lý việc ứng dụng CNTT trong dạy học ở các trường THCS của quận Đồ Sơn, thành phố Hải Phòng
- Đề xuất một số biện pháp quản lý việc ứng dụng CNTT trong dạy học
ở các trường THCS có hiệu quả
8 Phương pháp nghiên cứu
8.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận
- Nghiên cứu các văn bản quy phạm pháp luật của các cấp quản lý từ Trung ương đến địa phương như: Luật giáo dục, Luật CNTT, các văn kiện của Đảng và Nhà nước về định hướng phát triển GD&ĐT và định hướng phát triển việc ứng dụng CNTT trong dạy học, các văn bản của Bộ GD&ĐT, Sở GD&ĐT thành phố Hải Phòng có liên quan đến việc ứng dụng CNTT trong dạy học
- Nghiên cứu các tài liệu có liên quan đến vấn đề nghiên cứu như: sách, báo, tạp chí, …
- Nghiên cứu báo cáo tổng kết về việc ứng dụng CNTT trong dạy học
và quản lý ứng dụng CNTT trong dạy học của các trường THCS, của Phòng GD&ĐT quận Đồ Sơn
8.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
8.2.1 Phương pháp quan sát
Quan sát (trực tiếp và gián tiếp) việc ứng dụng CNTT trong dạy học của GV, HS ở 5 trường THCS quận Đồ Sơn, thành phố Hải Phòng
Trang 165
8.2.2 Phương pháp điều tra
Sử dụng bảng hỏi, phiếu hỏi để lấy ý kiến, tìm hiểu nhận thức, nhu cầu của CBQL, GV, HS để thu thập thông tin về thực trạng quản lý ứng dụng CNTT trong dạy học ở các trường THCS
8.2.3 Phương pháp phỏng vấn
Phỏng vấn CBQL, GV, HS của các trường THCS để làm rõ các thông tin thu thập được từ các phương pháp khác, rút ra được những nhận xét chính xác về công tác quản lý ứng dụng CNTT trong dạy học ở các trường THCS
9.2 Về mặt thực tiễn
Làm sáng tỏ thực trạng quản lý ứng dụng CNTT trong dạy học ở các trường THCS của quận Đồ Sơn, thành phố Hải Phòng Từ đó, đề xuất các biện pháp quản lý ứng dụng CNTT trong dạy học ở các trường THCS của quận
Đồ Sơn, thành phố Hải Phòng trong giai đoạn hiện nay
Kết quả nghiên cứu của đề tài có thể áp dụng cho công tác quản lý ứng dụng CNTT ở các trường THCS trong cả nước
10 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, tài liệu tham khảo, phụ lục;
luận văn được trình bày trong 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý ứng dụng CNTT trong dạy học ở các trường THCS
Trang 187
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG DẠY HỌC Ở CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ 1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề
đã thực sự phát triển rộng khắp trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng
Trên thế giới, các nước có nền giáo dục phát triển đều chú trọng đến việc ứng dụng CNTT như: Nước Mỹ, Australia, Canada, Nhật Bản, Hàn Quốc, Singapore, Để việc ứng dụng CNTT được như ngày nay các nước này đã trải qua rất nhiều các chương trình quốc gia về tin học hoá cũng như ứng dụng CNTT vào các lĩnh vực khoa học, kĩ thuật và trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, đặc biệt là ứng dụng vào khoa học công nghệ và giáo dục Họ coi đây là vấn đề then chốt của cuộc cách mạng khoa học, kĩ thuật, là chìa khoá để xây dựng và phát triển CNH, HĐH đất nước, tăng trưởng nền kinh tế để xây dựng và phát triển nền kinh tế tri thức, hội nhập với các nước trong khu vực và trên thế giới Vì vậy, họ đã thu được những thành tựu rất đáng kể trên các lĩnh vực như: điện tử, y tế, giáo dục,
Ở Cộng hòa Pháp: Một chính sách quốc gia đầu tiên mang tên Plan de
Cancul đề xuất vào giữa những năm 60 dưới thời Tổng thống Đờ Gôn
Ở Nhật Bản: Xây dựng chương trình Quốc gia có tên: “Kế hoạch một
xã hội thông tin và mục tiêu quốc gia đến năm 2000” đã được công bố từ những năm 1972
Trang 198
Ở Singapore: Năm 1981 Singapore thông qua một đạo luật về Tin học
hóa Quốc gia quy định ba nhiệm vụ: Một là, thực hiện việc tin học hóa mọi công việc hành chính và hoạt động của Chính phủ Hai là, phối hợp GD&ĐT với tin học Ba là, phát triển và thúc đẩy công nghiệp dịch vụ tin học Một ủy ban máy tính Quốc gia được thành lập để chỉ đạo công tác đó
Ở Đài Loan: Năm 1980 chính sách tin học của Đài Loan đã được công
bố và “Kế hoạch 10 năm phát triển CNTT ở Đài Loan” đã đề cập đến cấu trúc
tổ chức phát triển CNTT trong nước và những nội dung mà chính phủ cần làm
để phát triển CNTT, tiếp tục khả năng cạnh tranh trên thị trường thế giới
Ở Hàn Quốc: Các hoạt động về chính phủ điện tử và ứng dụng CNTT
được phân biệt: Các dự án có liên quan đến nhiều Bộ, Ngành, địa phương được xem như là dự án chính phủ điện tử được sử dụng ngân sách tập trung Các dự án ứng dụng CNTT được tiến hành bởi từng Bộ, Ngành, địa phương
sử dụng ngân sách chi thường xuyên hoặc “Quỹ thúc đẩy” CNTT do Bộ Thông tin và Truyền thông quản lý Tương ứng, có hai cơ quan chỉ đạo và điều phối: Ban thúc đẩy tin học hóa và Ban đặc biệt về chính phủ điện tử thuộc Ban đổi mới chính phủ của Tổng thống Ban thúc đẩy tin học hóa có nhiệm vụ trông coi và khai thông các chính sách, kế hoạch và dự án để tạo điều kiện thúc đẩy Hàn Quốc thành một xã hội thông tin tiên tiến Ban thúc đẩy tin học hóa có trách nhiệm trông coi các chức năng về tin học hóa, khởi xướng và hiệu đính kế hoạch các chiến lược về tin học hóa và các kế hoạch triển khai liên quan, điều phối việc xây dựng các dự án và các chính sách, xây dựng và sử dụng siêu xa lộ thông tin quốc gia, đưa ra các biện pháp quản lý, vận hành các nguồn tài chính, đánh giá hiệu quả của các chính sách và hoạt động về CNTT
1.1.2 Việt Nam
Ở nước ta, một bộ phận quan trọng của chiến lược ứng dụng CNTT trong GD&ĐT là xác định đưa kiến thức tin học vào dạy trong nhà trường Vào đầu những năm 1980, ngành GD&ĐT nhận thức được sự cần thiết phải trang bị
Trang 209
cho thế hệ trẻ các kiến thức phổ thông về tin học Đến năm 1985, những kiến thức nhập môn tin học đã được triển khai dạy thí điểm ở một số địa phương Đến nay, tin học đã trở thành một môn học trong hầu hết các nhà trường, từ trường đại học đến các trường THCS trên cả nước
Về mặt tổng thể, ngành GD&ĐT đã triển khai ứng dụng hệ thống thông tin quản lý Chương trình quản lý CBQL, GV của Bộ GD&ĐT đã được các trường trong cả nước áp dụng nhằm thống nhất cách thức quản lý, các biểu mẫu, báo cáo về hồ sơ CBQL, GV trong toàn ngành GD&ĐT Dự án hỗ trợ đổi mới quản lý giáo dục (SREM) thực hiện từ tháng 4/2006, được ký kết giữa cộng đồng Châu Âu và Chính phủ Việt nam cũng đã xây dựng mới hệ thống thông tin quản lý trường học (VEMIS) Với hệ thống thông tin này, trường THCS sẽ được cung cấp các chương trình quản lý như quản lý CBQL,
GV (PMIS), quản lý hồ sơ trường (EMIS),… Hệ thống thông tin này sẽ hỗ trợ cho công tác quản lý ở các trường THCS được dễ dàng, nhanh chóng và đạt hiệu quả cao
Đây là sự khẳng định về mặt khoa học vai trò, tầm quan trọng của ứng dụng CNTT trong nhà trường nói chung và trong công tác quản lý nhà trường nói riêng nhằm nâng cao hiệu quả quản lý trước xu thế của thời đại mới
Với sự phát triển như vũ bão của CNTT, đặc biệt là sự ra đời của mạng Internet đã xuất hiện một hướng mới trong việc ứng dụng CNTT vào nhà trường Đó là máy tính cùng với các phần mềm và mạng Internet được sử dụng là phương tiện dạy học mới Đây có thể nói là bước phát triển nhảy vọt của ngành GD&ĐT để nhanh chóng tiếp cận với các nền giáo dục tiên tiến trong khu vực và trên thế giới Với tư cách là phương tiện, CNTT đã làm thay đổi cách dạy và cách học, hỗ trợ cho việc đổi mới PPDH, nâng cao CLDH Khai thác những ưu điểm nổi bật của CNTT, nhiều tài liệu, giáo trình, bài viết của nhiều tác giả đã nghiên cứu theo nhiều khía cạnh khác nhau
Một số tác giả như Nguyễn Hữu Chí, Đỗ Trung Tá,… đã đánh giá xu thế phát triển của giáo dục thế giới, cũng như của Việt Nam, đồng thời phân tích
Trang 21Các công trình nghiên cứu của các tác giả trên đã khẳng định vai trò, ưu thế của CNTT trong dạy học CNTT là phương tiện dạy học mới phục vụ cho việc đổi mới phương pháp để nâng cao CLDH Đồng thời, các tác giả cũng chỉ rõ việc ứng dụng CNTT trong dạy học muốn có hiệu quả thì đòi hỏi GV phải có những yêu cầu về năng lực ứng dụng CNTT nhất định
CNTT được ứng dụng để giải quyết hầu hết các hoạt động ở trường phổ thông như hoạt động quản lý, hoạt động dạy học,… Ứng dụng CNTT trong dạy học làm sao cho có hiệu quả đã được nhiều các nhà khoa học nghiên cứu Tuy nhiên, hiệu quả dạy học với sự hỗ trợ của CNTT vẫn chưa đạt được như những gì mong muốn Một trong những nguyên nhân dẫn đến hạn chế này là việc quản lý ứng dụng CNTT của HT các trường phổ thông chưa được nghiên cứu một cách hệ thống và toàn diện
Đội ngũ GV là lực lượng then chốt quyết định sự thành công việc ứng dụng CNTT trong dạy học, còn HT là người có vai trò quan trọng, chịu trách nhiệm chính trong việc nâng cao hiệu quả ứng dụng CNTT trong dạy học ở trường phổ thông Nhận thức được tầm quan trọng, ưu thế của CNTT trong dạy học, một số tác giả đã có những bài viết, công trình nghiên cứu liên quan đến vấn đề này
Các tác giả Phó Đức Hòa, Ngô Quang Sơn đã đưa ra một số biện pháp của các nhà quản lý giáo dục trong việc thiết kế và sử dụng hiệu quả GADHTC có ứng dụng CNTT trong môi trường dạy học ĐPT
Trong những năm qua việc ứng dụng CNTT trong quản lý và tổ chức hoạt động dạy học đã được nhiều nhà khoa học quan tâm nghiên cứu Các hội nghị, hội thảo khoa học nghiên cứu về CNTT đã đề cập nhiều đến vấn đề
Trang 22- Hội thảo khoa học toàn quốc về CNTT: “Các giải pháp công nghệ và quản lý trong ứng dụng CNTT vào đổi mới phương pháp dạy học” do trường ĐHSP Hà Nội phối hợp với dự án Giáo dục đại học tổ chức từ tháng 9/12/2006
Trong các hội thảo các nhà khoa học, các nhà quản lý đã mạnh dạn đưa
ra các vấn đề nghiên cứu vị trí tầm quan trọng, ứng dụng và phát triển CNTT đặc biệt là các giải pháp thúc đẩy ứng dụng CNTT trong giáo dục
Trong thời gian gần đây, đã có một số luận văn thạc sĩ nghiên cứu về quản lý ứng dụng CNTT trong giảng dạy ở các trường phổ thông ở nước ta đã được bảo vệ thành công như:
- Tác giả Lê Hồng Vân với đề tài: “Quản lý hoạt động ứng dụng CNTT vào dạy học ở các Trường Tiểu học huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội.” đã
hệ thống hoá những vấn đề lý luận cơ bản về CNTT, ứng dụng CNTT vào việc dạy và học trong nhà trường; khảo sát thực trạng, nguyên nhân của thực trạng đó và đề xuất một số biện pháp tổ chức triển khai ứng dụng CNTT trong dạy học ở các Trường Tiểu học huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội
- Tác giả Nguyễn Tuấn Anh với đề tài: “Quản lý ứng dụng CNTT trong dạy học ở trường THPT Chà Cang huyện Nậm Pồ, tỉnh Điện Biên” đã nghiên cứu những vấn đề lý luận về việc quản lý ứng dụng CNTT trong giáo dục Tìm hiểu thực trạng, đề xuất một số biện pháp quản lý ứng dụng CNTT trong dạy học trường THPT Chà Cang huyện Nậm Pồ, tỉnh Điện Biên
- Tác giả Nguyễn Hữu Dương nghiên cứu đề tài: “Biện pháp phát triển ứng dụng CNTT trong công tác quản lý ở các trường Phổ thông dân tộc nội
Trang 2312
trú của tỉnh Yên Bái” đã nghiên cứu những vấn đề lý luận về việc quản lý ứng dụng CNTT trong giáo dục; tìm hiểu thực trạng và đề xuất một số biện pháp quản lý ứng dụng CNTT trong công tác quản lý trường Phổ thông Dân tộc Nội trú của tỉnh Yên Bái
Qua nghiên cứu các tác giả đều khẳng định ý nghĩa của việc ứng dụng CNTT vào dạy học và vai trò quan trọng của các biện pháp quản lý ứng dụng CNTT trong dạy học Các tác giả cũng đề xuất một số kiến nghị với các cấp quản lý trong việc triển khai các biện pháp quản lý việc ứng dụng CNTT vào dạy học tại các trường
Từ các phân tích trên, tác giả nhận thấy quản lý ứng dụng CNTT trong dạy học ở trường THCS là một vấn đề cần thiết nhưng chỉ được nghiên cứu dưới góc độ hẹp Hiện nay, đa số luận văn chỉ tập trung nghiên cứu quản lý ứng dụng CNTT trong dạy học ở cấp THPT và cấp Tiểu học còn ở cấp THCS các đề tài nghiên cứu về quản lý ứng dụng CNTT trong dạy học chưa được quan tâm đúng mức Riêng ở quận Đồ Sơn, quản lý việc ứng dụng CNTT trong dạy học ở các trường THCS trong giai đoạn hiện nay chưa được nghiên cứu Vì thế, tác giả đã đi sâu nghiên cứu vấn đề này trong phạm vi các trường THCS của quận Đồ Sơn, thành phố Hải Phòng nhằm đề xuất một số biện pháp quản lý ứng dụng CNTT hiệu quả trong dạy học ở các trường THCS của quận Đồ Sơn trong giai đoạn hiện nay
1.2 Một số khái niệm cơ bản
1.2.1 Quản lý
1.2.1.1 Khái niệm
Quản lý là một phạm trù nói về những tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý (người quản lý) đến khách thể (đối tượng) quản lý (người bị quản lý) trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích tổ chức Ở đây, tổ chức được coi như một nhóm người có cấu trúc nhất định, có cùng hoạt động vì một mục đích chung nào đó
Trang 2413
Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang: "Quản lý là tác động có mục đích, có
kế hoạch của chủ thể quản lý đến tập thể những người lao động (nói chung là khách thể quản lý) nhằm thực hiện được những mục tiêu dự kiến" [23, tr.31]
Theo các tác giả Nguyễn Quốc Chí, Nguyễn Thị Mỹ Lộc: “Quản lý là
quá trình đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng cách vận dụng các hoạt động (chức năng) kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ đạo (lãnh đạo) và kiểm tra” [5, tr 9]
Sự cần thiết của quản lý được C.Mác viết: “Tất cả mọi lao động trực
tiếp hay lao động chung nào tiến hành trên quy mô tương đối lớn, thì ít nhiều cũng cần đến một sự chỉ đạo để điều hoà những hoạt động cá nhân và thực hiện những chức năng chung, phát sinh từ vận động của toàn bộ cơ thể sản xuất khác với sự vận động của những cơ quan độc lập của nó Một người độc tấu vĩ cầm riêng lẻ tự mình điều khiển lấy mình, còn một dàn nhạc thì cần phải có nhạc trưởng ”
C.Mác đã chỉ ra bản chất quản lý là một hoạt động lao động để điều khiển quá trình lao động, một hoạt động tất yếu quan trọng trong quá trình phát triển của xã hội loài người Quản lý trở thành một hoạt động phổ biến ở mọi nơi, mọi lúc, mọi lĩnh vực, mọi cấp độ và có liên quan đến mọi người, đó là một loại hoạt động xã hội bắt nguồn từ tính chất cộng đồng dựa trên sự phân công và hợp tác để làm một công việc nhằm đạt một mục tiêu chung
Ngày nay, khái niệm về quản lý được định nghĩa một cách cụ thể hơn như là một quá trình đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng cách vận dụng các hoạt động kế hoạch hoá, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra Trong quá trình này người quản lý là nhân vật có trách nhiệm phân bố nhân lực, các nguồn lực khác, chỉ dẫn sự vận hành của một bộ phận hay toàn bộ tổ chức để tổ chức này hoạt động có hiệu quả và đạt đến mục đích của tổ chức Mỗi tổ chức hoạt động trên một lĩnh vực nhất định, vì vậy chức năng và vai trò của người quản lý trên các lĩnh vực khác nhau cũng khác nhau
Quản lý là một loại hình lao động đặc biệt, lao động sáng tạo, hoạt động quản lý cũng phát triển không ngừng từ thấp đến cao; gắn liền với qúa
Trang 2514
trình phát triển, đó là sự phân công, chuyên môn hoá lao động quản lý Sự phân công chuyên môn hoá lao động quản lý là cơ sở hình thành các chức năng quản lý, là một thể thống nhất các hoạt động tất yếu của chủ thể quản lý nảy sinh từ sự phân công, chuyên môn hoá trong hoạt động quản lý nhằm thực hiện mục tiêu
Như vậy, có nhiều định nghĩa khác nhau về quản lý song tựu trung các định nghĩa trên đều thể hiện:
- Quản lý là một thuộc tính bất biến nội tại của mọi quá trình lao động
xã hội Lao động quản lý là điều kiện quan trọng để làm cho xã hội loài người tồn tại, vận hành và phát triển
- Yếu tố con người giữ vai trò trung tâm của hoạt động quản lý
- Quản lý là một hoạt động được tiến hành trong một tổ chức hay một nhóm xã hội
- Quản lý vừa là một khoa học, vừa là một nghệ thuật Chính vì vậy, trong hoạt động quản lý, người quản lý phải hết sức sáng tạo, linh hoạt, mềm dẻo trong chỉ đạo
- Quản lý là một hoạt động có chủ đích, là sự tác động liên tục của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý về nhiều mặt bằng một hệ thống các luật lệ, chính sách, nguyên tắc và các phương pháp cụ thể nhằm thực hiện các mục tiêu xác định
1.2.1.2 Các chức năng cơ bản của quản lý
Theo tác giả Nguyễn Quốc Chí, Nguyễn Thị Mỹ Lộc thì quản lý có bốn chức năng chủ yếu, cơ bản Đó là: Kế hoạch hóa; tổ chức; chỉ đạo (lãnh đạo); kiểm tra [5, tr.12]
Chức năng quản lý là một phạm trù chiếm vị trí then chốt trong các phạm trù cơ bản của khoa học quản lý, là những loại hoạt động bộ phận tạo thành hoạt động quản lý tổng thể, là những loại hoạt động quản lý đã được tách riêng, chuyên môn hoá Các chức năng quản lý là những hình thái biểu hiện sự tác động có mục đích đến tập thể Kết quả các công trình nghiên cứu
Trang 2615
về khoa học quản lý đưa đến một kết luận tương đối thống nhất về bốn chức năng cơ bản của quản lý Đó là: kế hoạch hoá; tổ chức; lãnh đạo (chỉ đạo); kiểm tra
*Chức năng kế hoạch hoá:
Một tổ chức sư phạm, một tập thể lao động, một nhà trường, trong đó mọi thành viên phải liên kết với nhau cùng hoạt động thực hiện nhiệm vụ của tập thể mình và của bản thân mình Nhiệm vụ cốt yếu của người quản lý là làm thế nào để mọi người biết nhiệm vụ của mình, biết phương pháp hoạt động nhằm thực hiện có hiệu quả mục tiêu của tổ chức Đấy là chức năng kế hoạch hoá của nhà quản lý
Kế hoạch hoá bao gồm việc xây dựng mục tiêu, chương trình hành động, xác định từng bước đi, những điều kiện, phương tiện cần thiết trong một thời gian nhất định của hệ thống quản lý và bị quản lý
*Chức năng tổ chức:
V.I.Lênin đã nói về vai trò của tổ chức như sau: “Tổ chức, tổ chức và
tổ chức Hãy cho tôi một tổ chức những người cách mạng, tôi sẽ làm đảo lộn
Chức năng tổ chức trong QLGD là thực hiện các nhiệm vụ xây dựng tổ chức sao cho phù hợp với đặc điểm yêu cầu nhiệm vụ chuyên môn:
- Xây dựng cấu trúc tổ chức của chủ thể quản lý Bao gồm hệ thống quản lý của nhà trường, lựa chọn, thiết kế các kiểu cấu trúc quản lý sao cho
Trang 27- Ra các quyết định quản lý và chỉ đạo các lực lượng trong tổ chức thực hiện các quyết định đó
- Đưa ra những biện pháp tác động quản lý để khuyến khích, tạo động
cơ, tích cực hoá hoạt động của khách thể quản lý
- Lựa chọn các phương tiện và các hình thức tác động đến hệ thống các nhân tố của hành vi con người, khuyến khích về vật chất cũng như tinh thần đối với mọi thành viên của nhà trường khiến họ thực hiện sáng tạo các nhiệm
vụ giáo dục, giảng dạy cũng như xây dựng và phát triển nhà trường
Chỉ đạo bao hàm việc liên kết với những người khác và động viên họ hoàn thành những nhiệm vụ nhất định để đạt được mục tiêu của tổ chức Chức năng chỉ đạo không chỉ bắt đầu khi lập kế hoạch và thiết kế bộ máy đã hoàn tất mà nó ngấm sâu, ảnh hưởng đến hai chức năng trên
*Chức năng kiểm tra:
Kiểm tra là chức năng xuyên suốt trong quá trình quản lý và là chức năng của mọi cấp quản lý, bao gồm từ việc xác định các tiêu chí thực hiện nhiệm vụ GD&ĐT, đo đạc việc thực hiện và điều chỉnh các sai lệch nhằm làm cho toàn bộ hệ thống quản lý đạt mục tiêu đã định Kiểm tra là hoạt động kiểm soát, phân tích, tổng kết Kiểm tra bao gồm các nhiệm vụ chủ yếu như sau:
Trang 2817
- Quan sát và xem xét lại tiến trình thực hiện của quá trình sư phạm cũng như của toàn bộ hoạt động của hệ thống (nhà trường) có phù hợp với các quyết định quản lý, phù hợp với kế hoạch chuẩn mực, quy tắc, chế độ, … đã được đề ra không
- Thu thập, hệ thống hoá, phân tích, đánh giá các kết quả thực tế của tác động quản lý đến các thành viên trong hệ thống đó
- Phát hiện những sai lệch của các hoạt động quản lý, của quá trình sư phạm và hoạt động của nhà trường so với các yêu cầu của quyết định quản lý, chỉ ra các nguyên nhân gây nên những sai sót đó, để làm cơ sở cho các quyết định các biện pháp quản lý nhằm khắc phục các sai lệch nói trên
Đặc điểm của chức năng kiểm tra trong QLGD là chỉ ra và khắc phục kịp thời những yếu kém trong hoạt động của tổ chức, đồng thời phát hiện sai sót và tư vấn, thúc đẩy
1.2.2 Quản lý giáo dục và quản lý nhà trường
1.2.2.1 Quản lý giáo dục
Nếu xem quản lý là một thuộc tính bất biến, nội tại của mọi hoạt động
xã hội, thì QLGD cũng là một thuộc tính tất yếu của mọi hoạt động giáo dục
có mục đích Có nhiều quan niệm khác nhau về QLGD song thường người
ta đưa ra quan niệm QLGD theo hai cấp độ chủ yếu: cấp vĩ mô và vi mô
*Quản lý cấp vĩ mô:
Quản lý vĩ mô tương ứng với khái niệm về quản lý một nền giáo dục
và quản lý vi mô tương ứng với khái niệm về quản lý nhà trường
Ở cấp độ vĩ mô, QLGD được hiểu là hệ thống tác động có mục đích, có
kế hoạch của chủ thể quản lý vào hệ thống giáo dục quốc dân nhằm huy động
và tổ chức thực hiện có hiệu quả các nguồn lực phục vụ cho mục tiêu phát triển giáo dục, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế, xã hội của quốc gia
Như vậy, theo nghĩa rộng QLGD là hoạt động điều hành, phối hợp các lực lượng xã hội nhằm làm cho toàn bộ hệ thống giáo dục vận hành theo
Trang 2918
đường lối nguyên lý giáo dục, thực hiện có chất lượng và hiệu quả mục tiêu phát triển GD&ĐT thế hệ trẻ mà xã hội đặt ra
Tính chất chỉ huy, chấp hành là đặc trưng nổi trội trong quan hệ quản
lý Tuy nhiên, chủ thể quản lý và đối tượng quản lý đều có mục đích chung QLGD có nhiệm vụ tạo ra và duy trì một môi trường thuận lợi để mỗi cá nhân
có thể đạt được hiệu quả cao trong quá trình đạt đến mục đích chung
*Ở cấp độ vi mô:
QLGD là hệ thống những tác động có mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý vào hệ thống tổ chức giáo dục của nhà trường nhằm điều khiển các thành tố trong hệ thống phối hợp hoạt động theo đúng chức năng, đúng kế hoạch, đảm bảo cho quá trình giáo dục đạt được mục đích, mục tiêu đã xác định một cách hiệu quả
Theo khái niệm trên, quá trình QLGD được hiểu như một quá trình vận động của các thành tố có mối quan hệ tương tác lẫn nhau trong hệ thống tổ chức của nhà trường Hệ thống đó bao gồm các thành tố cơ bản là: chủ thể quản lý, khách thể quản lý, mục tiêu, nội dung, phương pháp quản lý Các thành tố này luôn vận động trong mối liên hệ tương tác lẫn nhau, đồng thời diễn ra trong sự chi phối, tác động qua lại với môi trường chính trị, kinh tế, xã hội xung quanh
Như vậy, quản lý nhà trường có thể xem là đồng nghĩa với QLGD ở cấp độ vi mô Song cần nhận rõ tác động của chủ thể quản lý đến nhà trường
có hai loại tác động từ bên ngoài và tác động bên trong nhà trường:
- Tác động từ bên ngoài là tác động của các cơ quan QLGD cấp trên nhằm hướng dẫn và tạo điều kiện cho các hoạt động giáo dục của nhà trường
- Tác động từ bên trong là hoạt động của các chủ thể quản lý của chính nhà trường nhằm huy động, điều phối, giám sát các lực lượng giáo dục của nhà trường thực hiện có chiến lược, có hiệu quả các nhiệm vụ giáo dục đặt ra
1.2.2.2 Quản lý nhà trường
Trường học là tổ chức cơ sở giáo dục trực tiếp của ngành GD&ĐT, là
Trang 30Theo tác giả Phạm Minh Hạc: “Quản lý nhà trường là thể hiện đường
lối giáo dục của Đảng trong phạm vi trách nhiệm của mình, tức là đưa nhà trường vận hành theo nguyên lý giáo dục để tiến tới mục tiêu giáo dục, mục tiêu đào tạo đối với ngành giáo dục, với thế hệ trẻ và với từng học sinh” [12,
tr 16]
Tác giả Phạm Viết Vượng cho rằng: “Quản lý trường học là hoạt động
của các cơ quan quản lý nhằm tập hợp và tổ chức các hoạt động của giáo viên, học sinh và các lực lượng giáo dục khác, cũng như huy động tối đa các nguồn lực giáo dục để nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo trong nhà trường” [35, tr.205]
1.2.3 Dạy học, quản lý dạy học
1.2.3.1 Dạy học
Dạy học là một bộ phận của quá trình tổng thể giáo dục nhân cách toàn vẹn, là quá trình tác động qua lại giữa GV và HS, nhằm truyền thụ và lĩnh hội tri thức khoa học, những kỹ năng kỹ xảo, hoạt động thực tiễn và nhận thức, để trên cơ sở đó hình thành thế giới quan, phát triển năng lực sáng tạo và xây dựng các phẩm chất, nhân cách người học Như vậy dạy học là khái niệm chỉ hoạt động chung của người dạy và người học Dạy học bao gồm hoạt động dạy của GV và hoạt động học của HS
* Hoạt động dạy của GV:
Đó là hoạt động tổ chức, điều khiển hoạt động nhận thức, học tập của
HS, giúp HS tìm tòi khám phá tri thức, qua đó thực hiện có hiệu quả chức
Trang 31* Hoạt động học của HS:
Là hoạt động tự giác, tích cực, tự tổ chức, tự điều khiển hoạt động nhận thức, học tập của mình nhằm thu nhận, xử lý và biến đổi thông tin bên ngoài thành tri thức của bản thân, qua đó HS thể hiện, tự làm phong phú những giá trị của bản thân
Quá trình học của HS có thể diễn ra dưới sự tác động trực tiếp của GV như diễn ra trong tiết học hoặc dưới sự tác động gián tiếp của GV như việc tự học ở nhà của HS Hai hoạt động dạy và học có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, tồn tại song song và phát triển trong cùng một quá trình thống nhất, bổ sung cho nhau, kết quả hoạt động học của HS không thể tách rời kết quả hoạt động dạy của GV và ngược lại
Trang 3221
Theo tác giả Đặng Xuân Hải: “Quản lý quá trình dạy học là những tác
động có mục đích, có kế hoạch hợp quy luật của chủ thể quản lý, nhằm làm cho quá trình dạy học vận hành theo các quy luật của nó tập trung vào hoạt động dạy học và giáo dục đưa hệ vận động từ trạng thái ban đầu đến mục tiêu mà mục tiêu cuối cùng là để quá trình dạy học đảm bảo chất lượng” [13,
tr 55]
1.2.4 Thiết bị dạy học
1.2.4.1 Khái niệm về thiết bị dạy học
Theo nghĩa rộng, TBDH là toàn bộ các yếu tố nhằm xác lập các mối quan hệ trong dạy học, nhằm tăng cường nhận thức của HS trong quá trình dạy học, đó là yếu tố vật chất hóa về hình thức của phương pháp để tác động đến sự chuyển biến nội dung đạt được mục tiêu dạy học
Theo các nhà sư phạm đưa ra định nghĩa về TBDH như sau :
- TBDH là những đối tượng vật chất được GV sử dụng với tư cách là những phương tiện tổ chức, điều khiển hoạt động nhận thức của HS nhằm đạt mục tiêu dạy học
- TBDH là toàn bộ các phương tiện mang tin, phương tiện truyền tin và phương tiện tương tác trong sự hỗ trợ và điều khiển quá trình dạy học
1.2.4.2 Vai trò của thiết bị dạy học
Vai trò chủ yếu của TBDH là tạo điều kiện cho HS nắm vững chính xác, sâu sắc kiến thức, phát triển năng lực nhận thức và hình thành nhân cách của học sinh Trong quá trình dạy học TBDH đã có vai trò to lớn ở tất cả các khâu: tạo động cơ, hứng thú học tập của HS; cung cấp các thực nghiệm nhằm khái quát hoá hoặc kiểm chứng các kiến thức về các khái niệm, định luật, mô phỏng các hiện tượng, sử dụng trong việc đào sâu, mở rộng, hệ thống hoá kiến thức, kỹ năng của HS; hỗ trợ việc kiểm tra, đánh giá HS
Theo lý luận dạy học hiện đại, TBDH hỗ trợ hoạt động của GV và HS ở tất cả các khâu của tiến trình giải quyết nhiệm vụ nhận thức Ở khâu chuyển giao nhiệm vụ, bất ổn hóa tri thức, phát biểu vấn đề, TBDH trước hết là công
Trang 33HS tiến hành nhằm tạo ra cho HS nhu cầu tìm hiểu, giải thích, khám phá Sau khi HS đã ý thức được vấn đề, trong khâu hành động độc lập, tự chủ, TBDH đóng vai trò quyết định đến sự thành công của HS trong hoạt động tìm tòi giải quyết vấn đề đó Trong quá trình hoạt động, HS sử dụng các phương tiện truyền thống để lập phương án thí nghiệm, lựa chọn dụng cụ và
bố trí thí nghiệm, tiến hành đo đạc, thu thập, xử lý số liệu thực nghiệm nhằm xây dựng và kiểm tra giả thuyết Thông qua việc quan sát HS hoạt động tự chủ với các TBDH, GV có thể phát hiện được những khó khăn trở ngại mà
HS gặp phải để động viên kịp thời và đưa ra những định hướng cần thiết giúp
HS vượt qua Khi cần thiết, các TBDH có tác dụng hỗ trợ để GV đưa ra những định hướng có hiệu quả cao Đối với việc xây dựng những kiến thức không thể tiến hành thí nghiệm thực, mô hình vật chất có vai trò rất quan trọng trong hoạt động nhận thức của HS Trong dạy học, GV tổ chức cho HS xây dựng mô hình, thao tác với mô hình để xây dựng và kiểm tra giả thuyết nhằm hình thành kiến thức mới
Trong khâu tranh luận, TBDH là công cụ để HS trình bày, tranh luận
và bảo vệ kết quả hoạt động của mình hoặc của nhóm Đặc biệt là ở khâu vận dụng tri thức mới, TBDH đóng một vai trò quan trọng như trong các bài tập thí nghiệm, các bài thí nghiệm thực hành Cũng trong quá trình vận dụng tri
Trang 3423
thức mới vừa xây dựng được với việc sử dụng các phương tiện thực nghiệm
sẽ tiếp tục làm nảy sinh vấn đề mới và đi đến một nhiệm vụ nhận thức tiếp theo của tiến trình dạy học
1.3 Ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học ở các trường Trung học
cơ sở
1.3.1 Công nghệ thông tin
Theo Bách khoa toàn thư Wikipedia: “CNTT (Tiếng Anh: Infomation
Technology - IT) là ngành ứng dụng công nghệ quản lý và xử lý thông tin, là
ngành sử dụng máy tính và phần mềm máy tính để chuyển đổi, lưu trữ, bảo
vệ, xử lý, truyền và thu thập thông tin”
Trong những thập niên cuối của thế kỷ XX và những năm đầu của thế
kỷ XXI, cùng với sự bùng nổ thông tin thì một xã hội thông tin được hình thành Vai trò quyết định của thông tin, tri thức ngày càng thể hiện rõ trong xã hội Một vấn đề đặt ra là việc xử lý thông tin sao cho kịp thời và hiệu quả Sự phát triển của máy tính đã hỗ trợ rất tốt vấn đề này Vì thế, đã xuất hiện một ngành khoa học mới, đó là ngành CNTT Có thể nói, CNTT là ngành khoa học mới, ra đời cùng với sự bùng nổ của thông tin và sự phát triển của kỹ thuật máy tính
Theo quyển Từ điển tin học và CNTT của các tác giả Trương Văn Thiện,
Nguyễn Ngọc Tuấn: “CNTT là sự nghiên cứu hoặc sử dụng thiết bị điện tử,
đặc biệt là máy tính và truyền hình, hệ thống truyền thông và Video để xử lý, truyền phát và nhận thông tin” [27, tr 9]
Theo Luật CNTT: “CNTT là tập hợp các phương pháp khoa học, công
nghệ và công cụ kỹ thuật hiện đại để sản xuất, truyền đưa, thu thập, xử lý, lưu trữ và trao đổi thông tin số” [24, tr 2]
Tóm lại, CNTT là thuật ngữ dùng để chỉ các ngành khoa học và công
nghệ liên quan đến thông tin và quá trình xử lý thông tin Như vậy “CNTT là
một hệ thống các phương pháp khoa học, công nghệ, phương tiện, công cụ, bao gồm chủ yếu là các máy tính, mạng truyền thông và hệ thống các kho dữ
Trang 3524
liệu nhằm tổ chức, lưu trữ, truyền dẫn và khai thác, sử dụng có hiệu quả các thông tin trong mọi lĩnh vực hoạt động kinh tế, xã hội, văn hóa,… của con người”
1.3.2 Ứng dụng Công nghệ thông tin trong dạy học
CNTT đã thâm nhập vào hầu hết các lĩnh vực trong đời sống xã hội Nó được ứng dụng rộng rãi trong mọi lĩnh vực đã thúc đẩy mạnh mẽ sự phát triển của xã hội và làm thay đổi căn bản cách quản lý, học tập và làm việc của con người Thực tế cho thấy, việc ứng dụng CNTT trong các hoạt động sẽ giúp nâng cao hiệu quả của các hoạt động này Vì vậy, hiện nay hoạt động của bất
kỳ một đơn vị, cơ quan nào, ngành nào cũng đều có ứng dụng CNTT và nó dần dần trở thành phổ biến
Theo Luật CNTT: “Ứng dụng CNTT là việc sử dụng CNTT vào các hoạt
động thuộc lĩnh vực kinh tế, xã hội, đối ngoại, quốc phòng, an ninh và các hoạt động khác nhằm nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả của các hoạt động này” [24, tr 2]
Đối với lĩnh vực GD&ĐT, ứng dụng CNTT là việc sử dụng CNTT vào các hoạt động của từng cơ sở giáo dục nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả của các hoạt động quản lý, các hoạt động giáo dục
Như vậy, ứng dụng CNTT trong dạy học là việc sử dụng CNTT vào hoạt động dạy của GV và hoạt động học của HS nhằm tích cực hoá hoạt động nhận thức của HS, nâng cao chất lượng và hiệu quả của quá trình dạy học
*Ứng dụng hiệu quả CNTT trong dạy học:
Theo từ điển bách khoa mở tiếng Việt: Hiệu quả được định nghĩa là đạt được một kết quả giống nhau nhưng sử dụng ít thời gian, công sức và nguồn lực nhất
Ứng dụng hiệu quả CNTT trong dạy học được hiểu là GV sử dụng những hình ảnh, đoạn video, đoạn âm thanh, PMDH, làm cho giờ học trở nên sinh động, có khả năng cuốn hút, tạo hứng thú cho HS Chẳng hạn ở môn sinh học, khi biểu thị quá trình tuần hoàn máu trong cơ thể người, mô hình
Trang 3625
minh họa trên máy chiếu sẽ khiến HS dễ hình dung hơn; hoặc ở môn Địa lý,
GV giới thiệu về hiện tượng núi lửa, sóng thần qua những hình ảnh sinh động trên màn hình có thể giúp HS dễ hiểu bài hơn so với việc chỉ mô tả bằng lời nói Ứng dụng CNTT trong một tiết dạy khối lượng kiến thức có thể được truyền đạt tới HS nhiều hơn, thay cho thời gian đọc chép hay ghi bảng, GV có thể lấy thêm nhiều ví dụ minh họa, dẫn dắt HS tiếp cận với các kiến thức phong phú hơn
Tuy nhiên, nếu sử dụng không phù hợp thì lại trở thành lạm dụng CNTT trong dạy học Nghĩa là, GV trình chiếu cả 45 phút trong 1 tiết học cho HS quá nhiều thông tin, hình ảnh, số liệu khiến cho HS bị “quá tải” với những gì nghe và nhìn thấy, GV không có sự linh hoạt trong việc tổ chức các hoạt động nhận thức của HS Với hình thức dạy học như trên kết quả là chuyển từ hình thức “đọc chép” sang “nhìn chép”, “chiếu chép” nên không đem lại hiệu quả
mà còn làm giảm chất lượng của các giờ dạy
*Ứng dụng CNTT trong soạn giáo án:
Một trong những ứng dụng của CNTT trong dạy học là soạn giáo án Hiện nay có nhiều phần mềm soạn thảo giúp cho GV soạn giáo án, trong đó phần mềm thông dụng nhất hiện nay là MS.Word
Ngoài ra, tùy theo môn học GV có thể biết một số PMDH, các phần mềm hỗ trợ soạn giáo án môn Toán: Mathtype, Sketpad, Latex, …; phần mềm
hỗ trợ soạn giáo án môn Vật lý, Hóa học, Sinh học: Novoasoft Science Word,
Ngoài việc soạn giáo án, số GV sử dụng bài trình chiếu điện tử trong giảng dạy cũng tăng đáng kể Một trong các phần mềm thiết kế bài trình chiếu điện tử thông dụng và đơn giản nhất hiện nay mà GV thường dùng là MS PowerPoint; một số phần mềm hỗ trợ về ảnh, Video như: Adobe Photoshop; Gif Animation, Video Cut, Ultra Video Joiner,
*Ứng dụng CNTT trong thực hiện bài giảng:
Trang 3726
Một trong các yếu tố để đổi mới PPDH và nâng cao CLDH là sử dụng TBDH Đặc biệt, khi sử dụng bài giảng có ứng dụng CNTT, GV cần phải sử dụng các TBDH hiện đại
Một sự thay đổi đáng kể trong việc quản lý ứng dụng CNTT trong dạy học là nhà trường đưa tiêu chí ứng dụng CNTT vào việc đánh giá giờ dạy của
GV Tuy mức độ chưa cao, nhưng nó đã trở thành động lực để GV khai thác các TBDH hiện đại, nâng cao chất lượng bài dạy
*Ứng dụng CNTT trong khai thác dữ liệu trên mạng Internet:
Trong thời đại CNTT phát triển như hiện nay, thông tin trên mạng Internet đã trở thành một kho tài nguyên tri thức vô tận, về mọi lĩnh vực đối với mọi người nếu biết cách khai thác Để khai thác được các thông tin trên mạng Internet, ta phải sử dụng các công cụ tìm kiếm: Google, Cốc Cốc,… Một trong các công cụ được sử dụng phổ biến và hiệu quả là công cụ tìm kiếm Google Đối với GV, ngoài việc tìm kiếm các thông tin trên mạng Internet thông thường, cần biết khai thác từ các nguồn từ điển mở, thư viện bài giảng…
Trong xu thế người dùng khai thác thông tin trên mạng Internet ngày càng nhiều, đòi hỏi phải có những công cụ hỗ trợ, tra cứu các khái niệm, từ vựng một cách nhanh chóng, thuận tiện, điều này dẫn đến khái niệm từ điển
mở ra đời Một số từ điển mở được dùng khá phổ biến hiện nay như: Bách khoa toàn thư mở (www.wikipedia.org); Bách khoa toàn thư mở tiếng Việt (http://vi.wikipedia.org/)
Để tạo được một GADHTC có ứng dụng CNTT, GV cần rất nhiều kỹ năng như: Soạn thảo văn bản, đồ họa, quay phim, chụp ảnh, biên tập Video, lồng tiếng, … nhưng không phải GV nào cũng có thể thực hiện được Vì vậy,
GV cần biết khai thác các tài nguyên trên mạng Internet để phục vụ cho bài giảng của mình
Trang 3827
*Ứng dụng CNTT trong kiểm tra đánh giá:
Hiện nay, CNTT được ứng dụng nhiều trong kiểm tra đánh giá kết quả học tập của HS vì nhờ những lợi thế về lưu trữ, thống kê, tính toán, sắp xếp, lọc dữ liệu…của nó
Nhờ ứng dụng CNTT mà HS có thể tự đánh giá kiến thức của mình bằng các phần mềm trắc nghiệm để tự bổ sung, hoàn thiện kiến thức, giúp GV đánh giá kết quả học tập của HS một cách chính xác, khách quan hơn khi tổ chức thi, kiểm tra bằng máy tính Hiện nay, một số môn thi đại học đã chấm bằng máy chấm trắc nghiệm tự động mang lại độ chính xác gần như tuyệt đối
Ở nhiều trường đã sử các phần mềm thi trắc nghiệm để tổ chức thi học kỳ, thi thử cho HS Việc sử dụng các phần mềm thi trắc nghiệm trong đánh giá kết quả học tập của HS mang lại những lợi ích cơ bản sau:
- Thuận tiện trong việc tạo đề thi
- Cho kết quả chính xác, khách quan
- Có các số liệu thống kê, tổng hợp nhanh chóng, chính xác
- Xây dựng được ngân hàng đề thi để sử dụng nhiều lần
- Có khả năng kiểm tra lượng kiến thức, kỹ năng của toàn bộ chương trình trong một khoảng thời gian ngắn
Trong quản lý, các nhà quản lý sử dụng các kênh thông tin: diễn đàn,
hệ thống bình chọn, các phần mềm quản lý để làm cơ sở đánh giá GV, NV đảm bảo tính tiện lợi, khách quan, nhanh chóng
* Ứng dụng CNTT trong học tập của HS:
Giáo dục đang thay đổi một cách mạnh mẽ, nhiều phương pháp, quan điểm dạy học mới ra đời, hướng tới mục tiêu “dạy ít, học nhiều”, tăng tính chủ động, khả năng tự học của người học Với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học kỹ thuật, khối lượng tri thức được tạo ra nhanh chóng, đòi hỏi mỗi người phải học thường xuyên, học liên tục, học suốt đời, học mọi lúc, học mọi nơi CNTT đang trở thành phương tiện không thể thiếu được để thực hiện các
Trang 3928
mục tiêu trên Ngoài ra, CNTT cũng hỗ trợ rất tốt cho việc học tập của HS dưới nhiều hình thức:
- Tìm kiếm, tra cứu tài liệu học tập trên mạng Internet
- Tham gia các lớp học qua mạng Internet
- Tự đánh giá kiến thức của mình bằng các phần mềm trắc nghiệm
- Chia sẻ thông tin với GV, bạn bè qua các diễn đàn
- Tham gia các cuộc thi trực tuyến
1.3.3 Môi trường học tập đa phương tiện
Thuật ngữ ĐPT (Multimedia) Theo từ điển Anh - Việt: Multi có nghĩa
là nhiều, đa chiều và Media có nghĩa là phương tiện truyền thông Vì thế ta có thể hiểu Multimedia có nghĩa là tổ hợp của nhiều phương tiện truyền thông gộp lại ĐPT là một hệ thống kĩ thuật dùng để trình diễn các dữ liệu và thông tin, sử dụng đồng thời các hình thức chữ viết, âm thanh, hình ảnh tĩnh, hình ảnh động (qua hệ thống máy tính); trong đó tạo được khả năng tương tác giữa người sử dụng và hệ thống
Phòng học ĐPT là phòng học được trang bị các TBDH với ĐPT, ở đó diễn ra quá trình giảng dạy và học tập nhờ ứng dụng CNTT và ĐPT Những thiết bị công nghệ phổ biến nhất được lắp đặt trong phòng học ĐPT gồm: Các loại máy chiếu, các thiết bị âm thanh, Video, máy tính, bảng tương tác thông minh, máy in và một số TBDH hiện đại khác
Môi trường học tập ĐPT là môi trường học tập được trang bị, lắp đặt các phương tiện truyền thông và các điều kiện đảm bảo cho các phương tiện
đó hoạt động tốt Môi trường dạy học ĐPT là môi trường diễn ra quá trình giảng dạy và học tập được sự hỗ trợ của CNTT và truyền thông, ở đó diễn ra tương tác đa chiều:
- Tương tác giữa GV và HS
- Tương tác giữa TBDH và HS
- Tương tác giữa GV và TBDH
- Tương tác giữa HS và HS
Trang 4029
TBDH là thuật ngữ chỉ một vật thể hoặc một tập hợp đối tượng vật chất
mà người dạy sử dụng với tư cách là phương tiện điều khiển hoạt động nhận thức của người học Còn đối với người học thì TBDH là nguồn tri thức, là các phương tiện giúp họ lĩnh hội các khái niệm, định luật, lý thuyết khoa học hình thành ở họ các kỹ năng, kỹ xảo đảm bảo phục vụ mục đích dạy học
TBDH bao gồm TBDH dùng chung và TBDH bộ môn
TBDH = TBDH dùng chung + TBDH bộ môn Trong đó:
1 Máy tính
2 Máy chiếu qua đầu
3 Máy chiếu đa năng
4 Bảng thông minh/Bảng kỹ
thuật số
1 Tranh ảnh giáo khoa
2 Bản đồ, biểu đồ, biểu bảng giáo khoa, sơ đồ
tư duy thiết kế bằng tay
3 Mô hình, mẫu vật, vật thật
4 Dụng cụ, hóa chất, đồ dùng dạy học bộ môn
5 Phim đèn chiếu
6 Bản trong dùng cho máy chiếu qua đầu
7 Băng, đĩa ghi âm
8 Băng, đĩa ghi hình
9 Phần mềm dạy học
10 Website dạy học 11.GADHTC có ứng dụng CNTT, GADHTC điện tử
12 Phòng thí nghiệm ảo, thí nghiệm mô phỏng
13 Mô hình dạy học điện tử
14 Thư viện điện tử / Thư viện ảo
15 Sơ đồ tư duy thiết kế bằng phần mềm tin học
16 Bản đồ giáo khoa điện tử
Trong 16 loại hình TBDH đã nêu ở trên thì 4 loại hình TBDH đầu được gọi là TBDH truyền thống với các đặc điểm sau: