Phân tích nguyên nhân khách quan và chủ quan……… Tiểu kết chương 2……… Chương 3: MỘT SỐ BIỆN PHÁP QUẢN LÝ ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG DẠY HỌC Ở CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ CỦA HUYỆN
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
Chuyên ngành: QUẢN LÝ GIÁO DỤC
Mã số: 601405
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ GIÁO DỤC
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Ngô Quang Sơn
HÀ NỘI – 2013
Trang 2Lêi c¶m ¬n
Luận văn thạc sĩ về đề tài “Quản lý ứng dụng Công nghệ thông tin trong
dạy học ở các trường THCS huyện Tiên Lãng, Hải Phòng từ nay đến năm 2020” đã được thực hiện tại trường Đại học Giáo dục - Đại học Quốc gia Hà
Nội
Với tình cảm chân thành, tác giả luận văn xin bày tỏ lòng biết ơn Hội đồng khoa học, Hội đồng đào tạo thạc sĩ chuyên ngành Quản lý Giáo dục của trường Đại học Giáo dục cùng các thầy giáo, cô giáo đã trang bị vốn kiến thức
lý luận về khoa học quản lý, giúp cho em nghiên cứu và hoàn thiện đề tài
Đặc biệt, tác giả luận văn xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS.TS Ngô Quang Sơn, người Thầy đã trực tiếp hướng dẫn, tận tình chỉ bảo, giúp đỡ cũng như cho em sự tự tin để em hoàn thành luận văn này
Tác giả luận văn cũng xin bày tỏ lòng cảm ơn chân thành tới các đồng chí lãnh đạo, chuyên viên Phòng GD & ĐT huyện Tiên Lãng, Ban Giám hiệu và bạn
bè đồng nghiệp 23 trường Trung học cơ sở huyện Tiên Lãng, Hải Phòng đã tạo điều kiện giúp tôi nghiên cứu, khảo sát và cung cấp thông tin, tư liệu cho luận văn Xin được bày tỏ lòng biết ơn tới những người thân trong gia đình đã luôn động viên, chia sẻ để tôi có thể hoàn thành luận văn
Mặc dù có nhiều cố gắng trong quá trình thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu song luận văn cũng không tránh khỏi những sai sót, kính mong được sự chỉ dẫn, góp ý của các thầy giáo, cô giáo, các bạn đồng nghiệp để luận văn được hoàn
thiện hơn
Hải Phòng, tháng 12 năm 2013
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Phạm Xuân Hòa
Trang 3GADHTC Giáo án dạy học tích cực
GADHTCĐT Giáo án dạy học tích cực điện tử
BGTCĐT Bài giảng tích cực điện tử
Trang 4MỤC LỤC
Trang
Lời cảm ơn
Danh mục các chữ cái viết tắt
Mục lục
Danh mục các bảng
Danh mục các biểu đồ, sơ đồ, hình
MỞ ĐẦU
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG DẠY HỌC Ở CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ
1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề
1.1.1 Nước ngoài
1.1.2 Việt Nam
1.2 Một số khái niệm cơ bản
1.3 Ứng dụng Công nghệ thông tin trong dạy học ở các trường Trung học cơ sở 1.3.1 Công nghệ thông tin và truyền thông………
1.3.2 Ứng dụng Công nghệ thông tin trong nhà trường
1.3.3 Môi trường học tập đa phương tiện………
1.3.4 Phần mềm dạy học………
1.3.5 Giáo án dạy học tích cực có ứng dụng Công nghệ thông tin và giáo án dạy học tích cực điện tử………
1.4 Quản lý ứng dụng Công nghệ thông tin trong dạy học ở trường Trung học cơ sở………
1.4.1 Quản lý việc xây dựng và sử dụng phòng học đa phương tiện nhằm tích cực hóa quá trình nhận thức của học sinh………
1.4.2 Quản lý việc sử dụng phần mềm dạy học để học sinh khai thác, khám phá kiến thức mới………
1.4.3 Quản lý việc thiết kế và sử dụng giáo án dạy học tích cực có ứng dụng Công nghệ thông tin………
1.4.4 Quản lý ứng dụng Công nghệ thông tin trong công tác kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh ………
Tiểu kết chương 1………
i
ii iii
vi
v
1
5
5
5
7
9
21
22
23
24
28
29
33
33
34
34
37
37
Trang 5Chương 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ
THÔNG TIN TRONG DẠY HỌC Ở CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ
SỞ CỦA HUYỆN TIÊN LÃNG, HẢI PHÒNG………
2.1 Điều kiện tự nhiên và điều kiện kinh tế - xã hội của huyện Tiên Lãng, Hải Phòng………
2.2 Thực trạng phát triển giáo dục Trung học cơ sở của huyện Tiên Lãng, Hải Phòng………
2.3 Thực trạng ứng dụng Công nghệ thông tin trong dạy học ở các trường Trung học cơ sở của huyện Tiên Lãng, Hải Phòng………
2.4 Thực trạng quản lý ứng dụng Công nghệ thông tin trong dạy học ở các trường Trung học cơ sở của huyện Tiên Lãng, Hải Phòng………
2.4.1 Quản lý việc xây dựng và sử dụng phòng học đa phương tiện…………
2.4.2 Quản lý việc sử dụng phần mềm dạy học và truy cập Internet hiệu quả
2.4.3 Thực trạng quản lý việc thiết kế và sử dụng giáo án dạy học tích cực có ứng dụng công nghệ thông tin………
2.5 Đánh giá thực trạng ứng dụng Công nghệ thông tin và quản lý ứng dụng Công nghệ thông tin trong dạy học ở các trường Trung học cơ sở của huyện Tiên Lãng, Hải Phòng………
2.5.1 Mặt mạnh………
2.5.2 Mặt yếu………
2.5.3 Phân tích nguyên nhân khách quan và chủ quan………
Tiểu kết chương 2………
Chương 3: MỘT SỐ BIỆN PHÁP QUẢN LÝ ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG DẠY HỌC Ở CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ CỦA HUYỆN TIÊN LÃNG, HẢI PHÒNG TỪ NAY ĐẾN NĂM 2020………
3.1 Những nguyên tắc đề xuất các biện pháp………
3.2 Một số biện pháp quản lý ứng dụng Công nghệ thông tin trong dạy học… 3.2.1 Biện pháp 1: Nâng cao nhận thức về tầm quan trọng của việc ứng dụng Công nghệ thông tin trong dạy học và xây dựng nhận thức mới cho giáo viên về việc thiết kế và sử dụng giáo án dạy học tích cực có ứng dụng Công nghệ thông tin………
3.2.2 Biện pháp 2: Tổ chức bồi dưỡng cho giáo viên ở các trường Trung học cơ sở về kiến thức, kỹ năng tin học cơ bản………
39
39
41
53
60
60
60
62
65
65
66
67
69
70
70
71
71
73
Trang 63.2.3 Biện pháp 3: Nâng cao khả năng sử dụng phần mềm dạy học và truy cập Internet
hiệu quả cho giáo viên………
3.2.4 Biện pháp 4: Chỉ đạo việc xây dựng quy trình thiết kế và thực hiện quy trình thiết kế giáo án dạy học tích cực có ứng dụng Công nghệ thông tin cho giáo viên và tổ chuyên môn………
3.2.5 Biện pháp 5: Chỉ đạo việc xây dựng quy trình thiết kế và thực hiện quy trình thiết kế giáo án dạy học tích cực điện tử cho giáo viên và tổ chuyên môn…………
3.2.6 Biện pháp 6: Tăng cường đầu tư mua sắm phương tiện dạy học hiện đại, xây dựng phòng học đa phương tiện để ứng dụng hiệu quả Công nghệ thông tin trong dạy học………
3.2.7 Biện pháp 7: Tăng cường ứng dụng Công nghệ thông tin trong công tác kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học sinh Trung học cơ sở………
3.2.8 Biện pháp 8: Tăng cường kiểm tra đánh giá kết quả ứng dụng Công nghệ thông tin trong dạy học của giáo viên………
3.3 Mối quan hệ giữa các biện pháp………
3.4 Khảo nghiệm tính cần thiết và tính khả thi của các biện pháp đã đề xuất Tiểu kết chương 3………
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ………
1 Kết luận………
2 Khuyến nghị………
TÀI LIỆU THAM KHẢO……….………
PHỤ LỤC
76
78
83
88
92
93
96
98
104
105
105
106
108
110
Trang 7DANH MỤC BẢNG BIỂU
Trang Bảng 2.1: Cơ cấu tổ chức của 23 trường (Tại thời điểm tháng 9 năm 2013)
Bảng 2.2: Quy mô trường lớp, số CBGV, số học sinh các trường THCS huyện
Tiên Lãng năm học 2012 – 2013 (Tại thời điểm tháng 9 năm 2012)
Bảng 2.3: Trình độ chuyên môn của CBQL, GV và CNV của 23 trường (Tại
thời điểm 9/ 2013)
Bảng 2.4 : Thống kê cơ sở vật chất trường học của 23 trường THCS (Tại thời
điểm 9/ 2013)
Bảng 2.5: Thống kê mức độ ứng dụng CNTT trong dạy học của CBQL, GV các
trường (Tại thời điểm tháng 9 năm 2013)
Bảng 2.6: Xếp loại về hạnh kiểm của HS ở 23 trường trong hai năm học: 2011
Bảng 3.1: Đánh giá mức độ cần thiết của các biện pháp quản lý đã đề xuất…
Bảng 3.2: Đánh giá mức độ khả thi của các biện pháp quản lý đã đề xuất……
Bảng 3.3: Tương quan giữa mức độ cần thiết và mức độ khả thi của các biện
Trang 8DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ, SƠ ĐỒ, HÌNH
Trang
Sơ đồ 1.1 : Bản chất quá trình quản lý
Sơ đồ 1.2: Mô hình quản lý
Sơ đồ 1.3: Quan hệ tương tác sư phạm diễn ra trong quá trình dạy học bằng giáo án DHTC có ứng dụng CNTT
Sơ đồ 1.4: Quan hệ tương tác sư phạm diễn ra trong quá trình dạy học bằng giáo án DHTC điện tử
Sơ đồ 3.1: Quy trình kiểm tra đánh giá………
Sơ đồ 3.2: Mối quan hệ giữa các biện pháp………
Hình 3.1 : Ứng dụng CNTT hiệu quả trong quá trình dạy học………
Hình 3.2: Mô hình ứng dụng CNTT trong dạy học………
Biểu đồ 3.1: Mối tương quan giữa tính cần thiết và tính khả thi của các biện pháp………
10
11
31
32
94
98
78
84
103
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Thế kỷ XXI là kỷ nguyên của công nghệ thông tin, của nền kinh tế tri thức trong xu thế toàn cầu hoá Điều đó ảnh hưởng sâu sắc đến mọi hoạt động của đời sống xã hội ở tất cả các quốc gia, đòi hỏi con người phải có nhiều kỹ năng đặc thù
và thái độ tích cực để tiếp nhận và làm chủ tri thức một cách sáng tạo Để tiếp thu lượng tri thức khổng lồ và ngày càng tăng như vậy chỉ trong một thời gian ngắn học tập tại các nhà trường thì phương pháp dạy học (PPDH) truyền thống theo kiểu ghi
nhớ - tái hiện đã không còn phù hợp Do đó, vấn đề cấp thiết đặt ra cho các nhà
trường hiện nay là phải trang bị kiến thức nền tảng, kỹ năng cơ bản, đồng thời dạy cách học cho người học, tạo cho họ khả năng, thói quen và niềm say mê học tập suốt đời Vì vậy, đổi mới nội dung dạy học và dạy học theo hướng hiện đại hóa, công nghệ hóa là tất yếu Hiện nay, trên thế giới cũng như ở Việt Nam, dạy học
đang diễn ra hết sức mạnh mẽ theo ba xu hướng chính: tích cực hóa, cá biệt hóa và
công nghệ hóa nhằm góp phần nâng cao chất lượng dạy học Và để làm được điều
này, các nhà trường cần phải có những giải pháp cụ thể trong việc ứng dụng công nghệ thông tin (CNTT) trong dạy học
Chính phủ và ngành Giáo dục và Đào tạo đã coi ứng dụng CNTT trong dạy học là khâu đột phá quan trọng trong nâng cao chất lượng giáo dục Quyết định 698/QĐ-TTg ngày 21 tháng 6 năm 2009 của Thủ tướng chính phủ phê duyệt kế hoạch tổng thể phát triển nguồn nhân lực CNTT đến năm 2015 và định
hướng đến năm 2020 đã nêu rõ: “Đẩy mạnh việc ứng dụng CNTT trong trường
phổ thông nhằm đổi mới phương pháp dạy và học theo hướng giáo viên tự tích hợp CNTT vào từng môn học thay vì học trong môn tin học Giáo viên các bộ môn chủ động tự soạn và tự chọn tài liệu và phần mềm (mã nguồn mở) để giảng dạy ứng dụng CNTT”
Nhận thức rõ tầm quan trọng của việc ứng dụng CNTT trong dạy học, các trường THCS trên địa bàn huyện Tiên Lãng đã triển khai nhiều biện pháp nhằm đẩy mạnh ứng dụng CNTT trong dạy học và quản lý Việc ứng dụng CNTT trong dạy học
ở các trường THCS huyện Tiên Lãng bước đầu đạt được một số kết quả Tính đến năm học 2012 - 2013, tất cả các trường THCS của huyện Tiên Lãng đều đã được
Trang 10trang bị máy vi tính kết nối mạng, máy chiếu đa năng cho HS học tập và GV của nhà trường sử dụng Tuy nhiên, hiệu quả của việc ứng dụng CNTT trong dạy học còn nhiều hạn chế, chất lượng dạy học chưa được nâng lên nhiều so với trước đây
Có nhiều nguyên nhân dẫn đến thực trạng này trong đó có những nguyên nhân thuộc về công tác quản lý: Một số CBQL nhận thức còn chưa đầy đủ về công tác ứng dụng CNTT trong dạy học hoặc do trình độ tin học còn hạn chế nên chưa có khả năng định hướng cho GV nhận thức được hết vai trò và ý nghĩa của việc ứng dụng CNTT trong dạy học cũng như chưa nhận thức đúng về bản chất của giáo án dạy học tích cực có ứng dụng CNTT và giáo án dạy học tích cực điện tử Nhiều GV chưa nắm vững kiến thức, kỹ năng tin học cơ bản; có GV còn lạm dụng CNTT trong dạy học và coi bản trình chiếu điện tử đã là giáo án điện tử Bên cạnh đó công tác đầu tư mua sắm PTDH hiện đại, xây dựng cơ sở hạ tầng cho việc ứng dụng CNTT trong dạy học còn yếu Việc sử dụng phòng máy, mạng máy tính, các phần mềm dạy học để tạo môi trường dạy học ĐPT thì chưa được quan tâm đúng mức,…
Với những lý do kể trên, tác giả đã chọn nghiên cứu đề tài: “Quản lý ứng
dụng Công nghệ thông tin trong dạy học ở các trường Trung học cơ sở huyện
Tiên Lãng, Hải Phòng từ nay đến năm 2020”
2 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn quản lý ứng dụng CNTT trong dạy học, từ đó đề xuất một số biện pháp quản lý ứng dụng CNTT trong dạy học ở các trường THCS huyện Tiên Lãng, Hải Phòng từ nay đến năm 2020
3 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích nghiên cứu, đề tài đặt ra một số nhiệm vụ nghiên cứu sau:
- Nghiên cứu cơ sở lý luận về quản lý ứng dụng CNTT trong dạy học
- Khảo sát thực trạng quản lý ứng dụng CNTT trong dạy học ở các trường THCS huyện Tiên Lãng, Hải Phòng
- Đề xuất một số biện pháp quản lý ứng dụng CNTT trong dạy học ở các trường THCS huyện Tiên Lãng, Hải Phòng từ nay đến năm 2020
4 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
4.1 Khách thể nghiên cứu
Ứng dụng CNTT trong dạy học và quản lý ứng dụng CNTT trong dạy học ở
các trường THCS huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng
Trang 114.2 Đối tượng nghiên cứu
Một số biện pháp quản lý ứng dụng CNTT trong dạy học ở các trường THCS huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng
5 Giả thuyết khoa học
Hiện nay, việc quản lý ứng dụng CNTT trong dạy học đã đạt được một số kết quả nhất định song vẫn còn nhiều bất cập
Nếu chọn lựa, đề xuất nhằm áp dụng một số biện pháp quản lý ứng dụng CNTT trong dạy học phù hợp với thực tiễn thì sẽ góp phần nâng cao chất lượng dạy học ở các trường THCS của huyện Tiên Lãng, Hải Phòng
6 Giới hạn và phạm vi nghiên cứu
Do điều kiện về thời gian và khả năng có hạn, tác giả chỉ tập trung nghiên cứu về các biện pháp quản lý ứng dụng CNTT trong dạy học ở 23 trường THCS
huyện Tiên Lãng, Hải Phòng
7 Phương pháp nghiên cứu
7.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý thuyết
- Nghiên cứu Luật giáo dục, các văn kiện của Đảng và Nhà nước về định hướng phát triển giáo dục và đào tạo và định hướng phát triển việc ứng dụng CNTT trong dạy học
- Nghiên cứu các văn bản của Bộ Giáo dục và Đào tạo, Sở Giáo dục và Đào tạo Hải Phòng có liên quan đến phương tiện dạy học, ứng dụng CNTT trong dạy học
- Nghiên cứu các tài liệu khoa học có liên quan đến vấn đề nghiên cứu
7.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi: Thông qua các phiếu trưng cầu ý kiến, tìm hiểu nhận thức, nguyện vọng của CBQL, GV và HS để thu thập thông tin về thực trạng quản lý ứng dụng CNTT trong dạy học ở các trường THCS
- Phương pháp chuyên gia: Lấy ý kiến của các chuyên gia trong lĩnh vực quản lý ứng dụng CNTT trong dạy học
- Phương pháp bổ trợ: Trực tiếp đi dự một số giờ dạy có ứng dụng CNTT; tiến hành phỏng vấn HS, GV và CBQL; rút ra được những nhận xét về công tác quản lý ứng dụng CNTT trong dạy học ở các trường THCS
Trang 127.3 Những phương pháp hỗ trợ khác
Sử dụng phương pháp thống kê toán học trong việc xử lý các số liệu khảo sát
8 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, tài liệu tham khảo, phụ lục; nội
dung chính của luận văn được trình bày trong 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý ứng dụng Công nghệ thông tin trong dạy
học ở các trường Trung học cơ sở
Chương 2: Thực trạng quản lý ứng dụng Công nghệ thông tin trong dạy học
ở các trường Trung học cơ sở của huyện Tiên Lãng, Hải Phòng
Chương 3: Một số biện pháp quản lý ứng dụng Công nghệ thông tin trong
dạy học ở các trường Trung học cơ sở của huyện Tiên Lãng, Hải Phòng từ nay đến năm 2020
Trang 13CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN
TRONG DẠY HỌC Ở CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ
1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề
Các nước có nền giáo dục phát triển trên thế giới đều chú trọng đến việc ứng dụng CNTT như: Đức, Mỹ, Australia, Nhật Bản, Singapore, Để ứng dụng CNTT được như ngày nay các nước này đã trải qua rất nhiều các chương trình quốc gia về tin học hoá cũng như ứng dụng CNTT vào các lĩnh vực khoa học kỹ thuật và trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, đặc biệt là ứng dụng vào khoa học công nghệ và giáo dục Họ coi đây là vấn đề then chốt của cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật, là chìa khoá để xây dựng và phát triển công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, tăng tr-ưởng nền kinh tế để xây dựng và phát triển nền kinh tế tri thức, hội nhập với các nước trong khu vực và trên toàn thế giới Vì vậy, họ đã thu được những thành tựu rất đáng
kể trên các lĩnh vực như: Điện tử, Sinh học, Y tế, Giáo dục,
Đức: Đầu tư phát triển mạnh cho CNTT, mức đầu tư cho giai đoạn 2006 –
2009 là 1180 triệu Euro chỉ đứng sau các công nghệ vũ trụ (3650 triệu Euro) và các công nghệ năng lượng (2000 Euro) Với chiến lược “ Biến động lực thành bánh lái số 1” và mục tiêu hướng tới việc nâng cao và củng cố xếp hạng công nghệ hàng đầu của Đức trong lĩnh vực CNTT Chính phủ Đức coi hoạt động CNTT như một động lực tăng trưởng cho các lĩnh vực khác Sức cạnh tranh của Đức với vai trò là trung tâm của chế tạo và việc làm được đảm bảo và củng cố - đặc biệt là trong lĩnh vực kĩ thuật
Trang 14cơ khí và chế tạo máy, ngành công nghiệp sản xuất ô tô và lĩnh vực viễn thông – thông qua việc sử dụng CNTT Khu vực CNTT của Đức đang tuyển mộ khoảng 750.000 nhân lực Thị trường CNTT trị giá khoảng 134 tỉ Euro (230 tỉ USD) một năm chỉ tính riêng ở Đức và hơn hai tỉ Euro (3,5 tỉ USD) trên toàn thế giới
Mỹ: Trong Thông điệp Liên bang ngày 25/1/2011, Tổng thống Mỹ Obama
cũng nhấn mạnh CNTT là một trong ba ưu tiên hàng đầu sẽ giúp Mỹ năng động hóa nền kinh tế, khôi phục sự phát triển và duy trì vị trí hàng đầu thế giới toàn diện Ông nêu rõ trong 5 năm tới phải làm cho 98% người dân Mỹ được sử dụng công nghệ không dây thế hệ mới "Điều này không đơn thuần là nói về kết nối Internet tốc độ cao hơn hay ít cuộc gọi bị rớt hơn, mà là về việc kết nối mọi miền của nước Mỹ với
kỷ nguyên số Đó là về những người nông dân và doanh nghiệp nhỏ có thể bán hàng của mình trên toàn thế giới Đó là về những người lính cứu hỏa có thể tải xuống thiết
bị cầm tay bản thiết kế ngôi nhà đang cháy; là sinh viên có thể đi học với sách giáo khoa điện tử; hay người bệnh có thể nói chuyện qua video với bác sỹ của mình", Obama tuyên bố
Nhật Bản: Xây dựng chương trình Quốc gia có tên: “Kế hoạch một xã hội
thông tin - mục tiêu quốc gia đến năm 2000” đã được công bố từ những năm 1972
Singapore: Năm 1981 thông qua một đạo luật về Tin học hóa Quốc gia quy
định ba nhiệm vụ: Một là, thực hiện việc tin học hóa mọi công việc hành chính và hoạt động của Chính phủ Hai là, phối hợp GD&ĐT tin học Ba là, phát triển và thúc đẩy công nghiệp dịch vụ tin học ở Singapore Một Ủy ban máy tính Quốc gia (NCB) được thành lập để chỉ đạo công tác đó
Australia: vào tháng 3 năm 2000, Hội đồng Bộ trưởng đã ủng hộ hướng đi
được trình bày trong tài liệu “Cơ cấu chiến lược cho nền kinh tế thông tin”, tài liệu này bao gồm hai mục tiêu giáo dục trường học bao quát cho nền kinh tế thông tin:
Một là: Tất cả mọi học sinh sẽ rời trường học như những người sử dụng tin cậy, sáng tạo và hiệu quả những công nghệ mới, bao gồm CNTT, và những học sinh này cũng ý thức được tác động của những ngành công nghệ này lên xã hội
Hai là: Tất cả các trường đều hướng tới việc kết hợp CNTT vào trong hệ thống của họ, để cải thiện khả năng học tập của học sinh, để đem lại nhiều cơ hội học tập hơn cho người học và làm tăng hiệu quả của việc thực tập kinh doanh của họ”
Trang 151.1.2 Việt Nam
Ở Việt Nam, với quan điểm phát triển: Công nghệ thông tin và truyền thông
là công cụ quan trọng hàng đầu để thực hiện mục tiêu thiên niên kỷ, hình thành xã hội thông tin, rút ngắn quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước; Ứng dụng rộng rãi công nghệ thông tin và truyền thông là yếu tố có ý nghĩa chiến lược, góp phần tăng trưởng kinh tế, phát triển xã hội và tăng năng suất, hiệu suất lao động; Công nghiệp công nghệ thông tin và truyền thông là ngành kinh tế mũi nhọn; Phát triển nguồn nhân lực công nghệ thông tin và truyền thông là yếu tố then chốt có ý nghĩa quyết định đối với việc phát triển và ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông, ngày 06/10/2005 Thủ tướng chính phủ đã kí quyết định phê duyệt chiến lược phát triển CNTT và truyền thông Việt Nam đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020
Chỉ thị 58/CT-TW ngày 17/10/2000 của Bộ Chính trị về đẩy mạnh ứng dụng phát triển CNTT phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đã nêu rõ việc đẩy mạnh ứng dụng CNTT trong công tác GD&ĐT Tại cuộc họp "Tổng kết 10 năm thực hiện Chỉ thị 58-CT/TW của Bộ Chính trị và triển khai Đề án đưa Việt Nam sớm trở thành nước mạnh về công nghệ thông tin và truyền thông" vào tháng 12/2010, nguyên Phó Thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân khẳng định: "CNTT không chỉ là ngành công nghiệp dịch vụ phát triển với tốc độ cao, đóng góp lớn vào nguồn thu cho đất nước mà còn là động lực phát triển hạ tầng quan trọng cho sự phát triển kinh tế xã hội Ngày nay không một ngành nào, lĩnh vực nào phát triển mà không dựa vào sự hỗ trợ của CNTT-TT"
Bộ Giáo dục và Đào tạo đã rất quan tâm đến ứng dụng CNTT trong các nhà trường Ngày 30/7/2001 Bộ trưởng Bộ GD&ĐT đã ra Chỉ thị 29/2001/CT-BGDĐT nêu rõ: “ Tập trung phát triển mạng máy tính phục vụ GD&ĐT, kết nối internet đến tất cả các cấp quản lý và cơ sở giáo dục, hình thành một mạng giáo dục ( Edu Net) nhằm tăng cường giảng dạy, đào tạo và ứng dụng CNTT trong giai đoạn 2001 – 2005” Các năm học gần đây, Bộ GD&ĐT đều xác định vai trò và tầm quan trọng của việc ứng dụng CNTT trong giáo dục thông qua Chỉ thị nhiệm vụ năm học Năm học 2008-2009 được chọn là năm học với chủ đề: “Năm học ứng dụng công nghệ thông tin và đổi mới quản lý tài chính” Những năm học tiếp theo Bộ GD&ĐT vẫn tiếp tục chỉ đạo: “Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý giáo dục, thống nhất quản lý nhà nước về ứng dụng CNTT trong Giáo dục - Đào tạo ”
Trang 16Trong những năm qua việc ứng dụng CNTT trong quản lý và tổ chức hoạt động dạy học đã được nhiều nhà khoa học quan tâm nghiên cứu Các hội nghị, hội thảo khoa học nghiên cứu về CNTT đã đề cập nhiều đến vấn đề quản lý ứng dụng CNTT trong giáo dục và khả năng áp dụng vào môi trường Giáo dục và Đào tạo ở Việt Nam như:
- Hội thảo khoa học “Nghiên cứu và triển khai E-Learning” do Viện Công nghệ thông tin (ĐHQG Hà Nội) và Khoa Công nghệ thông tin (Đại học Bách khoa Hà Nội) phối hợp tổ chức đầu tháng 3/2005 là hội thảo khoa học về ứng dụng CNTT trong hệ thống giáo dục đầu tiên được tổ chức tại Việt Nam
- Hội thảo khoa học toàn quốc về CNTT: “Các giải pháp công nghệ và quản
lý trong ứng dụng CNTT vào đổi mới phương pháp dạy học” do trường ĐHSP Hà Nội phối hợp với dự án Giáo dục đại học tổ chức từ 9-10/12/2006
Trong các hội thảo, các nhà khoa học, các nhà quản lý đã mạnh dạn đưa ra các vấn đề nghiên cứu vị trí tầm quan trọng, ứng dụng và phát triển CNTT đặc biệt
là các giải pháp thúc đẩy ứng dụng CNTT trong giáo dục
Trong thời gian gần đây, đã có một số luận văn thạc sĩ khoa học nghiên cứu
về quản lý ứng dụng CNTT trong giảng dạy ở các trường phổ thông ở nước ta được bảo vệ thành công như:
- Tác giả Trần Thị Đản với đề tài: “Một số biện pháp tổ chức triển khai việc ứng dụng CNTT vào giảng dạy của hiệu trưởng trường THCS Văn Lang thành phố Việt Trì tỉnh Phú Thọ” đã hệ thống hoá những vấn đề lý luận cơ bản về CNTT, ứng dụng CNTT vào việc dạy và học trong nhà trường; khảo sát thực trạng việc tổ chức triển khai ứng dụng CNTT và nguyên nhân của thực trạng đó và đề xuất một số biện pháp tổ chức triển khai ứng dụng CNTT vào giảng dạy ở trường THCS Văn Lang - Việt Trì
- Tác giả Đào Thị Ninh nghiên cứu đề tài: “Một số biện pháp quản lý ứng dụng CNTT trong giảng dạy ở các trường THPT quận Cầu Giấy - Hà Nội” đã nghiên cứu những vấn đề lý luận về việc quản lý ứng dụng CNTT trong giáo dục Tìm hiểu thực trạng việc quản lý ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học, đề xuất một số biện pháp quản lý ứng dụng CNTT trong dạy học của hiệu trưởng các trường THPT quận Cầu Giấy - Hà Nội
Trang 17- Tác giả Đỗ Kinh Thành nghiên cứu đề tài: “ Các biện pháp quản lý quá trình đào tạo ngành tin học – Hệ TCCN tại trường trung cấp kỹ thuật nghiệp vụ Phú Lâm – TP Hồ Chí Minh”
Qua nghiên cứu các tác giả đều khẳng định ý nghĩa của việc ứng dụng CNTT vào dạy học và vai trò quan trọng của các biện pháp quản lý ứng dụng CNTT trong dạy học Các tác giả cũng đề xuất một số kiến nghị với các cấp quản lý như Phòng GD&ĐT, Sở GD&ĐT trong việc triển khai một số biện pháp quản lý ứng dụng CNTT vào dạy học tại các trường
Từ các phân tích trên, tác giả nhận thấy quản lý ứng dụng CNTT trong dạy học ở trường THCS là một vấn đề cần thiết nhưng chỉ được nghiên cứu dưới góc độ hẹp Hiện nay, các luận văn thường tập trung nghiên cứu ở cấp Trung học chuyên nghiệp, THPT và Tiểu học nhưng cấp THCS là rất ít và việc quản lý ứng dụng CNTT trong dạy học ở trường THCS chưa sâu Thực tế ở Việt Nam, việc đưa CNTT vào quản lý các hoạt động nhà trường nói chung và quản lý hoạt động dạy học nói riêng còn tồn tại nhiều vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu giải quyết Vì thế, tác giả đã đi sâu nghiên cứu vấn đề này trong phạm vi các trường THCS thuộc huyện Tiên Lãng, Hải Phòng nhằm hy vọng đề xuất được một số biện pháp quản lý góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động dạy học trong các trường THCS ở địa phương
Theo Tự điển Tiếng Việt thông dụng (NXB Giáo Dục, 1998) thì: “Quản lý là
tổ chức, điều khiển hoạt động của một đơn vị, cơ quan.”
Với các tiếp cận khái niệm về “quản lý” theo các nhà nghiên cứu như sau:
- Theo F.W.Tay lor (nhà quản lý người Mỹ 1856 - 1915) thì: “Quản lý là biết chính xác điều bạn muốn người khác làm và sau đó thấy rằng họ đã hoàn thành công việc một cách tốt nhất và rẻ nhất” [5]
Trang 18H Koontz (người Mỹ) thì khẳng định: “Quản lý là một hoạt động thiết yếu,
nó đảm bảo phối hợp những nỗ lực hoạt động cá nhân nhằm đạt được các mục đích của nhóm.” [14, tr.12]
- Theo H.Fayol (1841-1925), kỹ sư người Pháp - Ông quan niệm: “Quản lý hành chính là kế hoạch hoá, tổ chức, chỉ huy, phối hợp và kiểm tra” và được thể hiện
trên 14 nguyên tắc quản lý của ông Trong học thuyết quản lý của mình H Fayol đưa ra
5 chức năng cần thiết của một nhà quản lý là:
Dự báo và lập kế hoạch - Tổ chức - Chỉ huy - Phối hợp - Kiểm tra và sau này được kết hợp thành 4 chức năng: Lập kế hoạch - Tổ chức - Chỉ đạo - Kiểm tra
- Theo Đặng Vũ Hoạt, Hà Thế Ngữ trong “Những vấn đề cốt yếu trong quản
lý”: Quản lý là một quá trình định hướng, quá trình có mục tiêu quản lý một hệ
thống nhằm đạt được những mục tiêu nhất định
- Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang : “Quản lý là sự tác động có mục đích, có
kế hoạch của chủ thể quản lý đến tập thể những người lao động (khách thể quản lý) nhằm thực hiện được những mục tiêu dự kiến.”[23, tr.14]
Với những khái niệm trên ta thấy về bản chất quá trình quản lý có thể được biểu diễn dưới dạng sơ đồ sau:
Sơ đồ 1.1: Bản chất quá trình quản lý
Như vậy, đối với mỗi hệ thống hoạt động, quản lý có thể chia ra 4 nội dung lớn: Lập kế hoạch - Tổ chức - Lãnh đạo việc thực hiện kế hoạch - Kiểm tra, đánh giá các hoạt động và việc thực hiện các mục tiêu đề ra
Quản lý là sự tác động của chủ thể quản lý lên đối tượng bị quản lý nhằm đạt được mục tiêu đặt ra trong điều kiện biến động của môi trường
Với khái niệm trên quản lý bao gồm các điều kiện sau:
Trang 19- Phải có một chủ thể quản lý là tác nhân tạo ra các tác động, và một đối tượng
bị quản lý phải tiếp nhận các tác động của chủ thể quản lý tạo ra Tác động có thể chỉ
là một lần mà cũng có thể là liên tục nhiều lần
- Phải có một mục tiêu đặt ra cho cả đối tượng và chủ thể, mục tiêu này là căn cứ để chủ thể tạo ra các tác động
- Chủ thể có thể là một người, nhiều người, một phương tiện Còn đối tượng
có thể là con người (một hoặc nhiều người) hoặc giới vô sinh (máy móc, phương tiện, đất đai, thông tin, hầm mỏ…) hoặc giới sinh vật (vật nuôi, cây trồng)
Sơ đồ 1.2: Mô hình quản lý
1.2.1.2 Cơ sở khoa học quản lý:
Bất cứ một tổ chức nào, cho dù cơ cấu và quy mô hoạt động ra sao đều phải
có sự quản lý và có người quản lý thì mới đạt được mục đích tồn tại và phát triển của tổ chức đó Vậy hoạt động quản lý là gì?
Theo tác giả Nguyễn Quốc Chí - Nguyễn Thị Mỹ Lộc: Đó là tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý (người quản lý) đến khách thể quản lý (người bị quản lý) trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức [5]
Nói cách khác hoạt động quản lý là quá trình đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng cách vận dụng các hoạt động (chức năng) kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ đạo (lãnh đạo) và kiểm tra Người quản lý có trách nhiệm phân bố nhân lực và các nguồn lực khác, chỉ dẫn sự vận hành của một bộ phận hay toàn bộ tổ chức để tổ chức hoạt động có hiệu quả và đạt đến mục đích
Cũng theo tác giả Nguyễn Quốc Chí - Nguyễn Thị Mỹ Lộc thì quản lý có bốn chức năng chủ yếu, cơ bản: Kế hoạch hóa, Tổ chức, Chỉ đạo - Lãnh đạo và Kiểm tra
* Kế hoạch hóa: Đó là xác định mục tiêu, mục đích cho những hoạt động trong tương lai của tổ chức và xác định các biện pháp, cách thức để đạt được mục đích đó
Chủ thể quản lý
Đối tượng
bị quản lý
Mục tiêu
Trang 20* Tổ chức: Khi người quản lý đã lập xong kế hoạch, họ cần phải chuyển hóa những ý tưởng ấy thành những hoạt động hiện thực.Tổ chức là quá trình hình thành nên cấu trúc các quan hệ giữa các thành viên, giữa các bộ phận trong một tổ chức nhằm làm cho họ thực hiện thành công các kế hoạch và đạt được mục tiêu tổng thể của tổ chức Người quản lý phải phối hợp, điều phối tốt các nguồn nhân lực của tổ chức
* Lãnh đạo (Chỉ đạo): Sau khi kế hoạch đã được lập, cơ cấu bộ máy đã hình thành, nhân sự đã được tuyển dụng thì phải có người đứng ra lãnh đạo, dẫn dắt tổ chức
Đó là quá trình liên kết, liên hệ với người khác, hướng dẫn và động viên họ hoàn thành những nhiệm vụ nhất định để đạt được mục tiêu của tổ chức Tất nhiên việc lãnh đạo không chỉ bắt đầu sau khi việc lập kế hoạch và thiết kế bộ máy đã hoàn tất, mà nó xuyên suốt trong hoạt động quản lý
* Kiểm tra: Đây là hoạt động theo dõi, giám sát các thành quả hoạt động và tiến hành những hoạt động sửa chữa, uốn nắn nếu cần thiết
1.2.2 Quản lý giáo dục và quản lý nhà trường
1.2.2.1 Quản lý giáo dục
Giáo dục là một dạng hoạt động đặc biệt có nguồn gốc từ xã hội và quản lý giáo dục là một loại hình của quản lý xã hội Có nhiều định nghĩa khác nhau về quản lý giáo dục
Theo Trần Kiểm, đối với cấp vĩ mô “QLGD là sự tác động liên tục, có tổ chức,
có hướng đích của chủ thể quản lý lên hệ thống giáo dục nhằm tạo ra tính trồi của hệ thống, sử dụng một cách tối ưu các tiềm năng, các cơ hội của hệ thống nhằm đưa hệ thống đến mục tiêu một cách tốt nhất trong điều kiện bảo đảm sự cân bằng với môi trường bên ngoài luôn biến động’’ hoặc: “Quản lý giáo dục là hoạt động tự giác của chủ thể quản lý nhằm huy động, tổ chức, điều phối, điều chỉnh, giám sát ,…một cách
có hiệu quả các nguồn lực giáo dục (nhân lực, vật lực, tài lực) phục vụ cho mục tiêu phát triển giáo dục, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội” [18, tr.10]
Trong Việt ngữ, quản lý giáo dục được hiểu như việc thực hiện đầy đủ các chức năng kế hoạch hóa, tổ chức, lãnh đạo, kiểm tra trên toàn bộ các hoạt động giáo dục và tất nhiên cả những cấu phần tài chính và vật chất của các hoạt động đó nữa
Do đó, quản lý giáo dục là quá trình thực hiện có định hướng và hợp quy luật các chức năng kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra nhằm đạt tới mục tiêu giáo
Trang 21dục đã đề ra Hoặc, “ Quản lý giáo dục là quá trình đạt tới mục tiêu trên cơ sở thực hiện có ý thức và hợp quy luật các chức năng kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra” [19, tr.15]
Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang: “Quản lý giáo dục là hệ thống những tác động có chủ đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý nhằm làm cho hệ vận hành theo đường lối và nguyên lý giáo dục của Đảng, thực hiện được các tính chất của nhà trường xã hội chủ nghĩa Việt Nam, mà tiêu điểm hội tụ là quá trình dạy học – giáo dục thế hệ trẻ, đưa giáo dục tới mục tiêu dự kiến, tiến lên trạng thái mới
về chất” [23, tr.31]
Trong quan điểm giáo dục hiện đại của các tác giả Nguyễn Quốc Chí - Nguyễn Thị Mỹ Lộc, chỉ rõ: “QLGD là những tác động có hệ thống, có kế hoạch, có ý thức và hướng đích của chủ thể quản lý ở mọi cấp khác nhau đến tất cả các mắt xích của toàn
bộ hệ thống nhằm mục đích đảm bảo sự hình thành nhân cách cho thế hệ trẻ trên cơ sở nhận thức và vận dụng những quy luật của xã hội cũng như các quy luật của quá trình giáo dục về sự phát triển thể lực, trí lực và tâm lý của con người Chất lượng của giáo
dục chủ yếu do nhà trường tạo nên, bởi vậy khi nói đến quản lý giáo dục phải nói đến
quản lý nhà trường cùng với hệ thống quản lý giáo dục” [6, tr.71]
Nghị quyết Hội nghị lần thứ 2 Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá VIII cũng đã viết: “quản lý giáo dục là sự tác động của chủ thể quản lý tới khách thể quản lý nhằm đưa hoạt động sư phạm của hệ thống giáo dục đạt tới kết quả mong muốn bằng cách hiệu quả nhất”
Từ những định nghĩa trên cho thấy: QLGD là hệ thống những tác động có mục đích, có kế hoạch, có ý thức của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý mà chủ yếu nhất là quá trình dạy học và giáo dục ở các cơ sở giáo dục
1.2.2.2 Quản lý nhà trường
Trong phạm vi nhà trường, hoạt động quản lý bao gồm nhiều loại, như quản
lý các hoạt động giáo dục: hoạt động dạy học, hoạt động giáo dục (theo nghĩa hẹp), hoạt động xã hội, hoạt động văn thể, hoạt động lao động, hoạt động ngoại khóa, hoạt động giáo dục hướng nghiệp,…; quản lý các đối tượng khác nhau: quản lý giáo viên, học sinh, quản lý tài chính, quản lý cơ sở vật chất,…; quản lý (thực ra là tác động đến) nhiều khách thể khác nhau như: quản lý thực hiện xã hội hóa giáo dục,
Trang 22điều tiết và điều chỉnh ảnh hưởng từ bên ngoài nhà trường, tham mưu với Hội phụ huynh học sinh,…
Như vậy, xét trên bình diện vi mô có thể xem quản lý giáo dục trong phạm vi nhà trường đồng nghĩa với quản lý nhà trường Có một số cách định nghĩa dưới đây
về quản lý nhà trường
Theo tác giả Phạm Viết Vượng: “Quản lý trường học là hoạt động của các cơ quan quản lý nhằm tập hợp và tổ chức các hoạt động của GV, HS và các lực lượng giáo dục khác, cũng như huy động tối đa các nguồn lực giáo dục để nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo trong nhà trường” [29, tr.205]
Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang: “Quản lý nhà trường là tập hợp những tác động tối ưu của chủ thể quản lý đến tập thể GV, HS và cán bộ khác, nhằm tận dụng các nguồn dự trữ do nhà nước đầu tư, lực lượng xã hội đóng góp và do lao động xây dựng vốn tự có Hướng vào việc đẩy mạnh mọi hoạt động của nhà trường mà điểm hội tụ là quá trình đào tạo thế hệ trẻ Thực hiện có chất lượng mục tiêu và kế hoạch đào tạo, đưa nhà trường tiến lên trạng thái mới".[23, tr.43] Theo tác giả Phạm Minh Hạc: “Quản lý nhà trường hay nói rộng ra là quản lý giáo dục là quản lý hoạt động dạy và học nhằm đưa nhà trường từ trạng thái này sang trạng thái khác và dần đạt tới mục tiêu giáo dục đã xác định” [19, tr.16]
Vậy bản chất của hoạt động quản lý nhà trường là quản lý hoạt động dạy học
để đưa hoạt động này phát triển đi lên theo xu thế tất yếu của thời đại và đạt tới mục tiêu giáo dục, mục tiêu đào tạo Trong đó cần lưu ý, quản lý nhà trường là một hoạt động được thực hiện trên cơ sở những những lý luận chung của khoa học quản lý, đồng thời cũng có những nét đặc thù riêng của nó Quản lý nhà trường khác với việc quản lý các tổ chức hoạt động trong lĩnh vực sản xuất, kinh doanh và các tổ chức xã hội khác, bởi nhà trường là một tổ chức đặc biệt, là nơi tạo ra những “sản phẩm” cũng hết sức đặc biệt, đó là nhân cách của con người
Mặt khác, quản lý trường học về bản chất là quản lý con người Điều đó tạo cho các chủ thể (người dạy và người học) trong nhà trường một sự liên kết chặt chẽ không chỉ bởi cơ chế hoạt động theo những quy luật/tính quy luật khách quan của một tổ chức xã hội – nhà trường, mà còn bởi hoạt động chủ quan, hoạt động quản lý của chính bản thân giáo viên và học sinh Trong nhà trường học sinh vừa là đối
Trang 23tượng, vừa là chủ thể quản lý Với tư cách là đối tượng quản lý, các em chịu tác động của chủ thể quản lý (hiệu trưởng) Với tư cách là chủ thể quản lý, các em là người tham gia chủ động, tích cực và hoạt động quản lý chung và biến nhà trường thành hệ
tự quản lý Cho nên, quản lý nhà trường không chỉ là trách nhiệm riêng của người hiệu trưởng là là trách nhiệm chung của mọi thành viên trong nhà trường
1.2.3 Dạy học ở trường trung học cơ sở
* Mục tiêu và nội dung giáo dục THCS
- Mục tiêu giáo dục THCS: “Giáo dục trung học cơ sở nhằm giúp học sinh củng cố và phát triển những kết quả của giáo dục tiểu học; có học vấn phổ thông ở trình độ cơ sở và những hiểu biết ban đầu về kỹ thuật và hướng nghiệp để tiếp tục học trung học phổ thông, trung cấp, học nghề hoặc đi vào cuộc sống lao động.” [24]
- Nội dung giáo dục THCS: “Giáo dục THCS phải củng cố, phát triển những nội dung đã học ở Tiểu học, bảo đảm cho học sinh có những hiểu biết phổ thông cơ bản về Tiếng Việt, Toán, Lịch sử dân tộc; kiến thức khác về khoa học xã hội, khoa học tự nhiên, pháp luật, tin học, ngoại ngữ; có những hiểu biết cần thiết tối thiểu về kĩ thuật và hướng nghiệp” [24]
* Mục tiêu giáo dục phổ thông trong chiến lược phát triển giáo dục giai đoạn 2011 – 2020
- Chất lượng giáo dục toàn diện được nâng cao, đặc biệt chất lượng giáo dục văn hóa, đạo đức, kỹ năng sống, pháp luật, ngoại ngữ, tin học
- Đến năm 2020, tỷ lệ đi học đúng độ tuổi ở tiểu học là 99%, trung học cơ sở là 95% và 80% thanh niên trong độ tuổi đạt trình độ học vấn trung học phổ thông và tương đương; có 70% trẻ em khuyết tật được đi học [7]
* Yêu cầu về đổi mới giáo dục phổ thông
- Theo Nghị quyết số 40/NQ/QH10 ngày 09/12/2000 của Quốc Hội về “Đổi mới chương trình giáo dục phổ thông” thì:
+ Mục tiêu của việc đổi mới chương trình giáo dục phổ thông là xây dựng nội dung chương trình, phương pháp giáo dục, sách giáo khoa phổ thông mới nhằm nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện thế hệ trẻ, đáp ứng yêu cầu phát triển nguồn nhân lực phục vụ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, phù hợp với thực tiễn và truyền thống Việt Nam; tiếp cận trình độ giáo dục phổ thông ở các nước phát triển trong khu vực và thế giới
Trang 24+ Việc đổi mới chương trình giáo dục phổ thông phải quán triệt mục tiêu, yêu cầu về nội dung, phương pháp giáo dục của các bậc học, cấp học quy định trong Luật giáo dục; khắc phục những mặt còn hạn chế của chương trình, sách giáo khoa hiện hành; tăng cường tính thực tiễn, kỹ năng thực hành, năng lực tự học; coi trọng kiến thức khoa học xã hội và nhân văn; bổ sung những thành tựu khoa học và công nghệ hiện đại phù hợp với khả năng tiếp thu của học sinh
+ Bảo đảm sự thống nhất, kế thừa và phát triển của chương trình giáo dục; tăng cường tính liên thông giữa giáo dục phổ thông với giáo dục nghề nghiệp, giáo dục đại học; thực hiện phân luồng trong hệ thống giáo dục quốc dân để tạo sự cân đối
về cơ cấu nguồn nhân lực; bảo đảm sự thống nhất về chuẩn kiến thức và kỹ năng, có phương án vận dụng chương trình, sách giáo khoa phù hợp với hoàn cảnh và điều kiện của các địa bàn khác nhau
+ Đổi mới nội dung chương trình, sách giáo khoa, phương pháp dạy và học phải được thực hiện đồng bộ với việc nâng cấp và đổi mới phương tiện dạy học, tổ chức đánh giá, thi cử, chuẩn hoá trường sở, đào tạo, bồi dưỡng giáo viên và công tác quản lý giáo dục
Thực hiện đồng bộ việc đổi mới chương trình, sách giáo khoa, phương pháp dạy và học với việc đổi mới về cơ bản phương pháp đánh giá, thi cử, đổi mới đào tạo và bồi dưỡng đội ngũ giáo viên; đổi mới công tác quản lý giáo dục, nâng cấp cơ sở vật chất của nhà trường theo hướng chuẩn hoá, đảm bảo phương tiện và
đồ dùng dạy học
1.2.4 Quản lý hoạt động dạy học
Theo tác giả Phan Thị Hồng Vinh: “Quản lý các hoạt động dạy học và giáo dục
là những hoạt động có mục đích, có kế hoạch của Hiệu trưởng đến tập thể GV, HS và những lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường nhằm huy động họ tham gia, cộng tác, phối hợp trong các hoạt động của nhà trường giúp quá trình dạy học và giáo dục vận động tối ưu tới các mục tiêu dự kiến.” [28]
Dạy học bao gồm hai hoạt động thống nhất biện chứng: hoạt động dạy của
GV và hoạt động học của HS Trong đó dưới sự lãnh đạo, tổ chức, điều khiển của
GV, người học tự giác, tích cực tự tổ chức, tự điều khiển hoạt động học tập của mình nhằm thực hiện những nhiệm vụ dạy học Trong hoạt động dạy học, hoạt động
Trang 25dạy của GV có vai trò chủ đạo, hoạt động học của HS có vai trò tự giác, chủ động, tích cực Hoạt động dạy của GV và hoạt động học của HS có liên hệ, tác động lẫn nhau Nếu thiếu một trong hai hoạt động đó việc dạy học không diễn ra
Như vậy bản chất của quản lý hoạt động dạy học chính là:
- Quản lý hoạt động dạy của giáo viên; đồng thời quản lý hoạt động của tổ chuyên môn,
- Quản lý hoạt động học của học sinh,
- Quản lý hoạt động phục vụ dạy học của tổ hành chính quản trị
Các đối tượng quản lý trên phải thực hiện được mục tiêu, nội dung, chương trình sách giáo khoa; phương pháp giảng dạy, cơ sở vật chất, phương tiện dạy học; môi trường tự nhiên và xã hội; kiểm tra đánh giá,…
Nội dung quản lý hoạt động dạy học:
- Lập kế hoạch: Xây dựng kế hoạch năm học, kế hoạch hoạt động của các tổ, nhóm chuyên môn, các đoàn thể, hội cha mẹ học sinh
- Tổ chức: Hoàn thiện cơ cấu các tổ chức, huy động các nguồn nhân lực, vật lực, tài lực để thực hiện kế hoạch
- Chỉ đạo: Việc thực hiện mục tiêu chương trình dạy học, hoạt động bồi dưỡng năng lực sư phạm cho GV, xây dựng nề nếp dạy học đổi mới phương pháp dạy học
- Kiểm tra đánh giá kết quả dạy học và việc thực hiện mục tiêu, kế hoạch dạy học
1.2.4.1 Quản lý hoạt động giảng dạy của giáo viên và hoạt động của tổ chuyên môn
* Hoạt động giảng dạy của thầy là hoạt động chủ đạo trong quá trình dạy học Quản
lý hoạt động này bao gồm: quản lý việc soạn bài, giảng bài trên lớp và quản lý hoạt động kiểm tra, đánh giá của giáo viên đối với kết quả học tập của học sinh như: sinh hoạt chuyên môn, dự giờ thăm lớp, kế hoạch giảng dạy,…Quản lý hoạt động của tổ chuyên môn bao gồm: quản lý việc đảm bảo chất lượng giờ dạy, thực hiện giờ lên lớp của giáo viên; hồ sơ giáo án của giáo viên, hồ sơ tổ chuyên môn; sinh hoạt chuyên môn; bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ cho giáo viên; hoạt động kiểm tra, đánh giá kết quả giảng dạy của giáo viên Nội dung quản lý hoạt động giảng dạy của giáo viên và hoạt động của tổ chuyên môn gồm:
- Quản lý việc soạn bài và chuẩn bị giờ lên lớp của giáo viên
- Quản lý hoạt động giảng dạy trên lớp của giáo viên
Trang 26- Quản lý hoạt động tổ chức kiểm tra hoặc thi của giáo viên đối với học sinh ở cả
3 khâu: ra đề, coi thi, chấm thi
* Quản lý hoạt động của tổ chuyên môn
- Quản lý việc xây dựng tiêu chuẩn một giờ lên lớp
- Quản lý thực hiện giờ lên lớp thông qua thời khóa biểu, xây dựng chế độ kiểm tra, dự giờ, thăm lớp
- Quản lý hồ sơ chuyên môn của giáo viên Hồ sơ của giáo viên được quy định cụ thể trong “Điều lệ Trường trung học cơ sở, trường trung học phổ thông và trường phổ thông có nhiều cấp học”
- Quản lý việc tổ chức sinh hoạt chuyên môn cho giáo viên
- Quản lý việc bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ cho giáo viên để họ bắt kịp những thay đổi của nội dung, chương trình
- Quản lý hoạt động kiểm tra, đánh giá kết quả giảng dạy của giáo viên
1.2.4.2 Quản lý hoạt động học tập của học sinh
* Quản lý hoạt động học tập trên lớp, nề nếp của học sinh
Giáo viên phải giáo dục cho học sinh về tư tưởng tạo cho các em có động lực, động cơ học tập tốt, có tinh thần tự giác hoàn thành nhiệm vụ học tập; chăm chỉ, chịu khó học hỏi bạn bè, các thầy cô giáo Nền nếp học tập, kỉ luật học tập của học sinh quyết định nhiều đến hiệu quả học tập của học sinh Cần có sự phối hợp đồng bộ nhịp nhàng giữa các cá nhân, tổ chức: Giáo viên chủ nhiệm, giáo viên bộ môn, tổng phụ trách, đoàn thanh niên, đội thiếu niên, phụ huynh học sinh trong việc quản lý hoạt động học tập trên lớp của học sinh
* Quản lý việc học tập ở nhà của học sinh
Có thể nói việc quản lý việc học tập ở nhà của học sinh là một công việc vô cùng khó khăn của các trường vì đây là công việc diễn ra ngoài nhà trường thiếu sự giám sát của giáo viên chủ nhiệm, giáo viên bộ môn và ban cán sự lớp học Hoạt động học tập ở nhà chủ yếu đặt dưới sự giám sát của cha mẹ học sinh Chính vì vậy, công tác hướng dẫn làm bài tập ở nhà phải được giáo viên hướng dẫn một cách cụ thể, chi tiết, khoa học về phương pháp, nội dung và cách thức giải quyết
Mặt khác nhà trường cần giúp đỡ, hỗ trợ cụ thể cho cha mẹ học sinh trong công tác giáo dục, giúp họ nắm được nội dung và phương pháp giáo dục trong gia đình đồng
Trang 27thời giúp họ thấy rõ được trách nhiệm phải phối, kết hợp với nhà trường trong việc giáo dục con cái Từ đó, kết hợp với nhà trường xây dựng kế hoạch cụ thể, chi tiết việc học và làm bài ở nhà của học sinh Nhà trường cũng phải tăng cường quản lý thông qua thành lập các tổ kiểm tra việc học và làm bài ở nhà của học sinh
1.2.5 Phương pháp dạy học
Như chúng ta đã biết PPDH là một thành tố hết sức quan trọng của quá trình dạy học vì nó quyết định trực tiếp đến chất lượng cũng như hiệu quả của quá trình này Cùng một nội dung dạy học trong những hoàn cảnh, điều kiện tương tự nhau nhưng sự hứng thú học tập, tính tự giác, tích cực của HS có thể không giống nhau vì còn phụ thuộc vào PPDH
Theo tác giả Phạm Viết Vượng: “PPDH là tổng hợp các cách thức hoạt động phối hợp của GV và HS, trong đó phương pháp dạy chỉ đạo phương pháp học, nhằm giúp HS chiếm lĩnh hệ thống kiến thức khoa học và hình thành hệ thống kỹ năng, kỹ xảo thực hành sáng tạo” [29, tr.93]
Theo tác giả Thái Duy Tuyên các định nghĩa về PPDH có thể tóm tắt dưới ba dạng sau đây:
- Theo quan điểm điều khiển học, PPDH là cách thức tổ chức hoạt động nhận thức của HS và điều khiển hoạt động này
- Theo quan điểm lôgíc, PPDH là những thủ thuật lôgíc được sử dụng để giúp
HS nắm kiến thức kỹ năng, kỹ xảo một cách tự giác
- Theo bản chất của nội dung, PPDH là sự vận động của nội dung dạy học Như vậy, phương pháp dạy học thực chất là cách thức hoạt động của giáo viên được thực hiện trong quá trình dạy học để tác động đến người học, nhằm giúp học sinh chủ động đạt được mục tiêu dạy học đã đề ra
Đối với giáo dục phổ thông hiện nay, Luật Giáo dục 2005 quy định: “Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động và sáng tạo của học sinh; phù hợp với từng đặc điểm của lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, khả năng làm việc theo nhóm; rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn; tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh” [24]
Từ những định nghĩa trên chúng ta có thể hiểu PPDH là tổ hợp các cách thức hoạt động của người dạy và người học trong những điều kiện nhất định nhằm đạt
Trang 28được mục đích dạy học Việc đổi mới phương pháp dạy học, trong đó có ứng dụng CNTT không nhằm ngoài mục đích thực hiện tốt các nhiệm vụ dạy học nói riêng và giáo dục nói chung
1.2.6 Phương tiện, kĩ thuật dạy học
Để việc dạy học đạt hiệu quả cao, trong quá trình dạy học người giáo viên và học sinh phải sử dụng các phương tiện dạy học mà thông thường mọi người vẫn gọi
là thiết bị dạy học Việc đổi mới phương pháp dạy học cũng bao gồm việc đổi mới các phương tiện dạy học, đổi mới tư duy, cách nghĩ, cách dạy, cách quản lý việc sử dụng các phương tiện dạy học sao cho hoạt động này trở thành thói quen thường xuyên trong từng tiết lên lớp của giáo viên
Có rất nhiều quan niệm khác nhau về phương tiện dạy học Một số tài liệu định nghĩa phương tiện dạy học như sau:
Phương tiện dạy học là những đồ dùng dạy học mang những nguồn thông tin học tập khác nhau phục vụ cho giảng dạy và học tập mà cụ thể là lời nói của giáo viên, sách giáo khoa, các tài liệu học tập, thiết bị học tập, giảng dạy và làm thí nghiệm, các đồ dùng dạy học trực quan như mô hình, sơ đồ, tranh vẽ, các phương tiện kĩ thuật như phim ảnh, máy ghi âm, vô tuyến truyền hình,…
Phương tiện dạy học theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang, bao gồm mọi thiết bị
kỹ thuật từ đơn giản đến phức tạp được dùng trong quá trình dạy học để làm dễ dàng cho sự truyền đạt và tiếp thu kiến thức, kĩ năng, kĩ xảo
Còn theo các tác giả Phan Hồng Vinh – Từ Đức Văn: “Phương tiện dạy học
là tập hợp những đối tượng vật chất và tinh thần được giáo viên sử dụng để điều khiển hoạt động nhận thức của học sinh và đối với học sinh, nó là nguồn tri thức trực quan sinh động, là công cụ để rèn luyện kỹ năng, kỹ xảo”
1.2.7 Biện pháp quản lý
Theo từ điển Tiếng Việt: “Biện pháp là cách làm, cách thức tiến hành một
công việc cụ thể nào đó”
Biện pháp quản lý là tổ hợp nhiều cách thức tiến hành của chủ thể quản lý nhằm tác động đến đối tượng quản lý để giải quyết những vấn đề trong công tác quản lý, tức là người quản lý sử dụng các chức năng quản lý, công cụ quản lý một cách khéo léo đem lại hiệu quả cao nhất cho từng tình huống mà mình quản lý, làm
Trang 29cho quá trình quản lý vận hành đạt mục tiêu mà chủ thể quản lý đã đề ra Muốn làm được điều này đòi hỏi người quản lý phải có trình độ về lý luận khoa học quản lý,
có kinh nghiệm thực tiễn trong công tác quản lý để có thể xây dựng được những biện pháp quản lý đem lại hiệu quả như mong muốn
1.3 Ứng dụng Công nghệ thông tin trong dạy học ở các trường Trung học cơ sở
Ứng dụng CNTT trong dạy học là mô ̣t chủ đề lớn được UNESCO chính thức đưa ra thà nh chương trình trước ngưỡng cửa của thế kỉ XXI và UNESCO dự đoán
sẽ có sự thay đổi nền giáo du ̣c mô ̣t cách căn bản vào đầu thế kỉ XXI do ảnh hưởng của nền kinh tế kỹ thuâ ̣t số
Trong thời đại CNTT với sự chuyển mình nhanh chóng của nền kinh tế tri thức, KH&CN phát triển như vũ bão và sự bùng nổ thông tin thì các bài giảng có nội dung phong phú mới đáp ứng mục tiêu đặt ra Với PPDH truyền thống độc thoại với mối tương tác hai chiều, HS sẽ mất dần khả năng làm việc theo nhóm, tính thích nghi kém, vì vậy tính tích cực chủ động tiếp nhận tri thức giảm sút, không đáp ứng được yêu cầu truyền tải nội dung kiến thức bài giảng có tính cập nhật và thời sự, không đưa người học tiếp cận được tới KH&CN hiện đại Trong bối cảnh đó, nền giáo dục của các nước phát triển trên thế giới đã ứng dụng CNTT trong quá trình dạy học một cách phổ biến và đã đạt được những kết quả mong muốn
Ở Việt Nam, từ những năm 90 của thế kỷ XX Đảng và Chính phủ đã rất quan tâm đến ứng dụng CNTT vào các lĩnh vực cuộc sống nhằm đẩy mạnh công nghiệp hóa và hiện đại hoá đất nước Trong 20 năm đổi mới, các Nghị quyết của Đảng, Chính phủ và Chỉ thị Bộ GD&ĐT về ứng dụng CNTT vào dạy học đã định hướng quan trọng giúp các trường THCS xây dựng kế hoạch, tăng kinh phí đầu tư CSVC, chỉ đạo, triển khai thực hiện việc ứng dụng và phát triển ứng dụng CNTT trong dạy học
Với cương vị người QLGD phải thấy rằng ứng dụng CNTT trong dạy học để nâng cao chất lượng giáo dục vừa là nhu cầu vừa là động lực phát triển của giáo dục Nó đòi hỏi phải có sự định hướng chiến lược và sự chỉ đạo thống nhất của các nhà quản lý các cấp từ Trung ương đến các cơ sở giáo dục Mỗi thầy cô giáo phải nhận thức sâu sắc được vai trò và trách nhiệm tích cực tham gia vào quá trình đổi mới giáo dục nói chung và ở cấp THCS nói riêng Đây là nghĩa vụ, trách nhiệm và cũng chính là lương tâm của mỗi chúng ta trước những thử thách to lớn trong công
Trang 30cuộc đổi mới, hội nhập và phát triển của đất nước Ứng dụng CNTT vào hoạt động
dạy học như thế nào cho hợp lý và đạt hiệu quả đang là vấn đề được đặt ra
1.3.1 Công nghệ thông tin và truyền thông
* Công nghệ:
Theo quan điểm truyền thống : “Công nghệ là tập hợp các phương pháp, quy
trình, kĩ năng, công cụ, phương tiện dùng để biến đổi các nguồn lực thành sản phẩm”
Theo quan điểm hiện đại: Công nghệ là tổ hợp của bốn thành phần có tác
động qua lại với nhau, cùng thực hiện bất kỳ quá trình sản xuất và dịch vụ nào:
- Thành phần phương tiện, bao gồm: các thiết bị, máy móc, nhà xưởng,
- Thành phần kỹ năng và tay nghề: Liên quan đến kỹ năng nghề nghiệp của
từng người hoặc của từng nhóm người
- Thành phần thông tin: Liên quan đến các bí quyết, các quá trình, các
phương pháp, các dữ liệu, các bản thiết kế
- Thành phần tổ chức: Thể hiện trong việc bố trí, sắp xếp và tiếp thị
* Tin học
Tin ho ̣c là ngành khoa ho ̣c nghiên c ứu các phương pháp công nghê ̣ và các kĩ
thuâ ̣t xử lý thông tin mô ̣t cách tự động
* Công nghê ̣ thông tin
CNTT là thuật ngữ bao gồm tất cả những da ̣ng công nghê ̣ được dùng để xây
dựng, sắp xếp, biến đổi, và sử dụng thông tin trong các hình thức đa da ̣ng của nó
Theo Bách khoa toàn thư mở Wikipedia: Công nghệ thông tin (tiếng Anh:
Information Technology gọi tắt là IT) là một nhánh ngành kỹ thuật sử dụng máy
tính và phần mềm máy tính để chuyển đổi, lưu trữ, bảo vệ, xử lý, truyền tải và thu
thập thông tin
Ở Việt Nam, khái niệm CNTT được hiểu và định nghĩa trong Nghị quyết số
49/CP của Chính phủ ký ngày 04/08/1993 về “ Phát triển CNTT ở nước ta trong
những năm 90”:
Công nghê ̣ thông tin là tập hợp các phương pháp khoa học, các phương tiê ̣n
và công cụ kỹ thuật hiê ̣n đại - chủ yếu là kỹ thuật máy tính và viễn thông nhằm tổ
chức, khai tha ́ c và sử dụng có hiê ̣u quả nguồn tài nguyên thông tin rấ t phong phú
và tiềm năng trong mọi lĩnh vực hoạt động của con người và xã hội
Trang 31Còn trong Điều 4, Luật CNTT số 67/2006/QH11 ngày 29/6/2006 giải thích: CNTT là tập hợp các phương pháp khoa học, công nghệ và công cụ, kĩ thuật hiện đại để sản xuất, truyền đưa, thu thập, xử lý, lưu trữ và trao đổi thông tin số [25]
* Mạng Internet:
Internet là một hệ thống toàn cầu của các mạng máy tính được kết nối Các máy
tính và các mạng máy tính trao đổi thông tin sử dụng TCP/IP (Transmission ControlProtocol/Internet Protocol - Giao thức TCP/IP) để liên lạc với nhau Các máy tính được kết nối nhờ mạng viễn thông và Internet có thể được sử dụng để gửi nhận thư điện tử (Email), truyền các tập tin và truy cập thông tin trên mạng toàn cầu
1.3.2 Ứng dụng Công nghệ thông tin trong nhà trường
Theo Luật công nghệ thông tin số 67/2006/QH11, ngày 29/6/2006: “Ứng dụng CNTT là việc sử dụng CNTT vào các hoạt động thuộc lĩnh vực kinh tế - xã hội, an ninh, quốc phòng, đối ngoại và các hoạt động khác nhằm nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả của các hoạt động này”
Ứng dụng CNTT trong GD&ĐT là một yêu cầu đặt ra trong những chủ trương chung của Đảng và Nhà nước về đẩy mạnh ứng dụng CNTT trong tất cả các lĩnh vực của đời sống kinh tế - xã hội Ứng dụng CNTT trong giáo dục còn là một điều tất yếu của thời đại, như ông Peter Van Gils, chuyên gia dự án CNTT trong giáo dục và quản lý nhà trường (ICTEM) khẳng định: Chúng ta đang sống trong một xã hội mà ta gọi là một xã hội tri thức hay một xã hội thông tin Điều này có nghĩa rằng những sản phẩm đầu ra mang tính công nghiệp cho xã hội của chúng ta
đã mất đi cái tầm quan trọng của nó Thay vào đó là những “ dịch vụ” và “ những sản phẩm tri thức” Trong một xã hội như vậy, thông tin đã trở thành một loại hàng hóa cực kỳ quan trọng Máy vi tính và những vấn đề liên quan đã đóng một vai trò chủ yếu trong việc lưu trữ và truyền tải thông tin và tri thức Thực tế này yêu cầu các nhà trường phải đưa các kỹ năng công nghệ vào trong chương trình giảng dạy của mình Một trường học mà không có CNTT là một nhà trường không quan tâm
gì tới các sự kiện đang xảy ra trong xã hội
Việc ứng dụng CNTT trong giáo dục bao gồm hai lĩnh vực: ứng dụng CNTT trong quản lý và ứng dụng CNTT trong dạy học Trong đó, CNTT là công cụ hỗ trợ đắc lực ở tất cả các khâu, các nội dung công tác của người quản lý, từ việc lập kế
Trang 32hoạch, xếp thời khóa biểu, lịch công tác đến việc thanh tra, kiểm tra, thống kê, đánh giá, xếp loại, lưu trữ,…Còn ứng dụng CNTT trong dạy học nhằm đổi mới phương pháp dạy học và nâng cao chất lượng dạy học Thực tiễn việc ứng dụng CNTT trong dạy học hiện nay đã trở nên phổ biến Điều kiện CSVC, hạ tầng CNTT – viễn thông đang thay đổi một cách nhanh chóng là một cơ hội rất lớn cho một phương pháp giáo dục hiện đại, một nền giáo dục tiên tiến với vai trò nòng cốt của CNTT Nó đòi hỏi công tác quản lý giáo dục phải có những giải pháp thích hợp để phát huy hết những lợi thế mà CNTT mang lại cho việc dạy và học của chúng ta hiện nay
1.3.3 Môi trường học tập đa phương tiện
Thuật ngữ ĐPT được dịch ra từ cụm từ Multimedia Theo từ điển Anh -Việt: Multi có nghĩa là nhiều, đa chiều và Media có nghĩa là phương tiện truyền thông Vì thế ta có thể hiểu Multimedia có nghĩa là tổ hợp của nhiều phương tiện truyền thông gộp lại Và môi trường học tập ĐPT là môi trường học tập được trang bị, lắp đặt các phương tiện truyền thông (Multimedia) và các điều kiện đảm bảo cho các phương tiện đó hoạt động tốt Môi trường dạy học ĐPT là môi trường ở đó diễn ra quá trình giảng dạy và học tập được sự hỗ trợ của CNTT, ở đó diễn ra tương tác đa chiều:
+ Tương tác hai chiều giữa GV - HS
+ Tương tác hai chiều giữa phương tiện - HS
+ Tương tác hai chiều giữa GV - phương tiện
Chiều thứ ba bao gồm: những tác động qua lại giữa GV và mối quan hệ HS - phương tiện, giữa HS và mối quan hệ GV - phương tiện, giữa phương tiện với mối quan hệ GV - HS
PTDH bao gồm phương tiện kỹ thuật dạy học và PTDH bộ môn
PTDH = PTDH dùng chung + PTDH bộ môn
Trong đó:
Phương tiện dạy học dùng chung gồm:
1 Máy tính
2 Máy chiếu qua đầu
3 Máy chiếu đa năng
4 Bảng thông minh / Bảng kỹ thuật số
Trang 33
Phương tiện dạy học bộ môn gồm:
1 Tranh ảnh giáo khoa
2 Bản đồ, biểu đồ, biểu bảng giáo khoa, sơ đồ tư duy thiết kế bằng tay
3 Mô hình, mẫu vật, vật thật
4 Dụng cụ, hóa chất, đồ dùng dạy học bộ môn
5 Phim đèn chiếu
6 Bản trong dùng cho máy chiếu qua đầu
7 Băng, đĩa ghi âm
8 Băng, đĩa ghi hình
9 Phần mềm dạy học
10 Website dạy học
11 GADHTC có ứng dụng CNTT, GADHTC điện tử
12 Phòng thí nghiệm ảo
13 Mô hình dạy học điện tử
14 Thư viện điện tử / Thư viện ảo
15 Sơ đồ tư duy thiết kế bằng phần mềm tin học (Mindmap)
16 Bản đồ giáo khoa điện tử
Trong 16 loại hình PTDH đã nêu ở trên thì 4 loại hình PTDH đầu được gọi
là PTDH truyền thống với các đặc điểm sau:
+ PTDH truyền thống đã được GV và HS sử dụng từ rất lâu ngay từ khi nghề dạy học phát triển
+ Giá thành các PTDH truyền thống không đắt nên có thể trang bị đại trà cho các trường
+ GV và HS dễ sử dụng và dễ bảo quản
Các loại hình PTDH từ 5 đến 16 là các phương tiện mang thông tin (Khối mang thông tin) có đặc điểm chung và khác biệt là muốn khai thác lượng thông tin chứa đựng trong từng phương tiện đơn lẻ phải sử dụng cùng với các máy móc chuyên dùng tương ứng (Khối chuyển tải thông tin tương ứng)
Những phương tiện mang thông tin và những phương tiện chuyển tải thông tin tương ứng tạo thành hệ thống PTDH ĐPT (PTDH hiện đại)
Trang 34So với PTDH truyền thống thì PTDH hiện đại có một số điểm khác:
+ Mỗi PTDH hiện đại bao gồm 2 khối: Khối mang thông tin và khối chuyển
tải thông tin tương ứng
Khối mang thông tin Khối chuyển tải thông tin tương ứng
Phim Slide, phim chiếu bóng Máy chiếu Slide, máy chiếu phim
Băng, đĩa ghi âm Radio Cassette, Đầu đĩa CD
Băng, đĩa ghi hình Đầu Video, Đầu đĩa hình,
Phần mềm dạy học Máy tính, Máy chiếu đa năng, Màn
chiếu, Bảng kỹ thuật số, Bảng thông minh GADHTC có ứng dụng CNTT, Máy tính, Máy chiếu đa năng
GADHTC điện tử Màn chiếu, Bảng kỹ thuật số
Website dạy học Máy tính, Máy chiếu đa năng,
Mô hình dạy học điện tử Máy tính
Thư viện ảo/ Thư viện điện tử Máy tính
+ Để sử dụng được các phương tiện truyền thông phải có điện lưới
+ Đắt tiền hơn rất nhiều so với các PTDH truyền thống
+ Phải có trình độ sử dụng và bảo quản tốt
+ Phải có phòng ốc chuyên biệt để lắp đặt, sử dụng và bảo quản
Nếu xét về chức năng thì PTDH truyền thống hay PTDH hiện đại đều được
sử dụng nhằm tích cực hóa quá trình nhận thức của người học Tuy nhiên PTDH
hiện đại với nhiều chức năng quan trọng mà PTDH truyền thống không thể có được
chẳng hạn như: đem đến cho người học nhiều thông tin, kiến thức phong phú, vượt
qua giới hạn thời gian và không gian Nhờ phương tiện nghe nhìn trong khoảnh
khắc người học có thể quan sát từ đối tượng này sang đối tượng khác Người học có
thể quan sát được các thí nghiệm hoặc các hiện tượng tự nhiên mà họ không thể đến
gần được như các phản ứng của các chất độc hại, các vụ nổ hạt nhân, các thảm họa
thiên tai (sóng thần, núi lửa đang phun trào)… Từ đó cho thấy nếu người dạy sử
dụng các PTDH hiện đại một cách hợp lý trong quá trình tổ chức hoạt động dạy học
thì chắc chắn sẽ làm cho các giờ dạy của mình trở nên sinh động hơn, làm giảm bớt
Trang 35được tính trừu tượng của nội dung kiến thức cần truyền đạt đến với người học, trên
cơ sở đó phát huy được tính tích cực, chủ động và sáng tạo của người học, đáp ứng được một số yêu cầu cơ bản của việc đổi mới PPDH [16, tr.75-80]
Việc tiếp thu kiến thức sẽ trở nên có hiệu quả hơn khi HS nhận được lượng thông tin từ nhiều nguồn tri giác khác nhau và trong hoạt động riêng của mình, tổng hợp và chọn lọc những nguồn tin đó Tác dụng của mỗi giác quan ở HS cũng có sự khác nhau Theo cuốn sách “Phương tiện dạy học” của Tô Xuân Giáp, NXB Giáo dục 1997, đã đánh giá mức độ ảnh hưởng của các giác quan trong quá trình truyền thông như sau:
Sự tiếp thu tri thức khi học đạt đƣợc Tỉ lệ kiến thức nhớ đƣợc sau khi học đạt đƣợc
1 % qua nếm 20% qua nghe được
1,5 % qua sờ 30% qua nhìn được
3,5 % qua ngửi 50% qua nghe và nhìn được
11% qua nghe 80% qua nói được
83% qua nhìn 90% qua nói và làm được
Từ những nhận định trên cho thấy PTDH hiện đại đóng vai trò hết sức quan trọng trong việc tổ chức hoạt động dạy học ở các cơ sở giáo dục, nó là công cụ hỗ trợ cho GV dạy học Khi các PTDH hiện đại được tích hợp vào trong các phòng học để tạo
ra môi trường học tập ĐPT cho HS thì nhiệm vụ dạy học của các nhà trường phổ thông
sẽ trở nên đơn giản hơn rất nhiều
Theo các tác giả Phó Đức Hòa và Ngô Quang Sơn:
- Sử dụng ĐPT trong dạy học mang lại cho đối tượng người học nguồn thông tin phong phú và sinh động, mỗi giờ dạy sẽ trở nên trực quan hơn, giảm bớt tính trừu tượng của các nội dung kiến thức, thu hút sự tập trung, niềm say mê, hứng thú của người học, làm cho người học hiểu bài hơn và nhớ lâu hơn
- ĐPT giúp người dạy có thể cung cấp nội dung kiến thức cho người học bằng nhiều con đường khác nhau Việc tiếp thu kiến thức sẽ trở nên có hiệu quả hơn khi người học nhận được lượng thông tin từ nhiều nguồn tri giác khác nhau
- Ứng dụng CNTT trong môi trường dạy học ĐPT đã trở thành một yếu
tố quan trọng, là một công cụ hữu hiệu để nâng cao chất lượng dạy học Nó
Trang 36làm tăng tính tích cực, chủ động của người học trong quá trình tư duy lĩnh hội tri thức mới [16, tr.92]
1.3.4 Phần mềm dạy học
Phần mềm máy tính là toàn bộ các chương trình dùng để vận hành một máy
vi tính Muốn khai thác các tính năng của phần cứng máy tính thì buộc phải có phần mềm ứng dụng tương ứng Khi khoa học công nghệ về máy tính càng phát triển thì các phần mềm, đặc biệt là các phần mềm ứng dụng xuất hiện ngày càng nhiều, giúp cho máy vi tính trở nên vô cùng hữu dụng Hiện nay đã có rất nhiều phần mềm được xây dựng với mục đích là hỗ trợ quá trình dạy học Các phần mềm có thể hỗ trợ cho GV soạn giáo án, thiết kế các đoạn phim, các bức ảnh tĩnh, bức ảnh động, tạo ra các hình ảnh 3D, mô phỏng thí nghiệm, tạo ra phòng thí nghiệm ảo,… Các phần mềm có những chức năng kể trên được gọi chung là phần mềm dạy học
Một trong những mục tiêu của việc đổi mới PPDH đó là làm cho mỗi giờ dạy của GV trở nên sinh động, phát huy tính tích cực, chủ động và sáng tạo của của HS Để thực hiện được mục tiêu này, thì việc sử dụng những tính năng của các phần mềm dạy học là hết sức cần thiết Với đặc tính của mình, các phần mềm dạy học có thể tạo ra những nguồn thông tin phong phú và đặc biệt là rất trực quan, sống động So với các bức ảnh tĩnh có trong sách giáo khoa thì những bức ảnh động, những đoạn Video Clip
sẽ giúp học sinh tiếp nhận kiến thức của bài học một cách chân thực hơn, giúp HS hiểu bài sâu sắc hơn Thậm chí còn có một số phần mềm dạy học cho phép HS tương tác với máy tính Để HS không chỉ được nghe thấy, được nhìn thấy mà còn có thể được trực tiếp thao tác trên máy vi tính, tự mình khám phá tìm ra nguồn tri thức mới cho bản
thân Điều này là hết sức quan trọng Theo ngạn ngữ Việt Nam: „„Trăm nghe không
bằng một thấy, trăm thấy không bằng một làm‟‟, hoặc câu ngạn ngữ của Ấn Độ: „„Tôi nghe tôi quên, tôi nhìn tôi nhớ, tôi làm tôi hiểu‟‟ Hơn nữa khi sử dụng một cách hợp lý
những tính năng các phần mềm dạy học còn giúp GV tránh được tình trạng lạm dụng CNTT trong dạy học do chỉ quá chú trọng đến việc chạy chữ trên màn hình, nặng về trình chiếu, làm phân tán nội dung chính của bài học,…
Vậy quản lý việc sử dụng các phần mềm dạy học vào quá trình tổ chức hoạt động dạy học của GV là một trong những nhiệm vụ quan trọng của CBQL nhà trường trong việc quản lý ứng dụng CNTT trong dạy học
Trang 371.3.5 Giáo án dạy học tích cực có ứng dụng Công nghệ thông tin và giáo án dạy học tích cực điện tử
1.3.5.1 Giáo án
Giáo án - kế hoạch dạy học là dàn ý lên lớp của GV bao gồm đề bài của giờ lên lớp, mục đích giáo dục và giáo dưỡng, nội dung, phương pháp, phương tiện, những hoạt động cụ thể của thầy và trò, khâu kiểm tra đánh giá,… tất cả được ghi ngắn gọn theo trình tự thực tế sẽ diễn ra trong giờ lên lớp Giáo án được thầy giáo biên soạn trong giai đoạn chuẩn bị lên lớp và quyết định phần lớn sự thành công của bài học [27]
1.3.5.2 Giáo án dạy học tích cực
Theo tác giả Ngô Quang Sơn: “Giáo án DHTC là giáo án (kế hoạch bài học)
được thiết kế theo hướng tích cực hóa quá trình dạy học; biến quá trình dạy học thành quá trình dạy học tích cực; tích cực hóa quá trình nhận thức, quá trình tư duy của HS ”
Cấu trúc của một giáo án DHTC bao gồm:
Xác định mục đích, yêu cầu theo kiến thức, kỹ năng, thái độ Chuẩn bị PTDH: PTDH truyền thống và PTDH hiện đại (PTDH có ứng dụng CNTT) Xác định những PPDH, biện pháp dạy học sẽ được sử dụng trong bài dạy: những phương pháp, biện pháp dạy học tích cực và xác định tiến trình dạy học (Với mục đích giải quyết các nhiệm vụ nhận thức của HS)
Chia thành các nhiệm vụ nhận thức của HS để lĩnh hội kiến thức cơ bản Nhiệm vụ nhận thức 1 của HS:
- Thao tác định hướng của GV:
- Thao tác thi công của HS:
Cho đến khi hoàn thành nhiệm vụ nhận thức 1 này
Nhiệm vụ nhận thức 2 của HS:
- Thao tác định hướng của GV:
- Thao tác thi công của HS:
Cho đến khi hoàn thành nhiệm vụ nhận thức 2 này [26, tr159]
Trang 38Giáo án DHTC thiết kế được phải thể hiện những đặc trưng cơ bản của các PPDH tích cực, đó là:
Người học được đặt vào trong các tình huống có vấn đề, được trực tiếp quan sát, làm thí nghiệm, thảo luận để giải quyết vấn đề theo suy nghĩ của bản thân Từ
đó, không những nắm được tri thức, kỹ năng, kỹ xảo mà còn nắm được cách thức và con đường đi tới tri thức, kỹ năng, kỹ xảo ấy
Tạo cho người học động cơ hứng thú học tập, rèn kỹ năng, thói quen ý chí tự học để khơi dậy nội lực vốn có ở họ
Nâng cao khả năng học tập hợp tác ở người học trong hoạt động học tập theo nhóm, bằng việc tạo ra các tình huống học tập có vấn đề mà để giải quyết các tình huống có vấn đề này phải có sự phối hợp giữa các thành viên trong nhóm
Phát triển ở người học kỹ năng tự đánh giá kết quả học tập của bản thân, hình thành được kỹ năng tự điều chỉnh hoạt động học tập của mình
1.3.5.3 Giáo án dạy học tích cực có ứng dụng Công nghệ thông tin
Giáo án dạy học tích cực có ứng dụng CNTT là giáo án được thiết kế có sự tích hợp những nội dung ứng dụng CNTT, thể hiện trên bảng động cho học sinh xem
Tác giả Ngô Quang Sơn đã quan niệm: “Giáo án dạy học tích cực có ứng
dụng CNTT là kế hoạch bài học, là kịch bản sư phạm đã được giáo viên chuẩn bị chi tiết trước khi lên lớp, thể hiện được mối quan hệ tương tác sư phạm giữa GV và
HS, HS và HS (Giáo án dạy học tích cực) và một số nội dung kiến thức, kỹ năng quan trọng cần hình thành cho HS trong quá trình dạy học lại quá trìu tượng đối với các em mà các loại hình PTDH truyền thống (tranh ảnh giáo khoa, bản đồ, biểu
đồ, mô hình, mẫu vật, thí nghiệm thật ) không thể hiện nổi thì sẽ được số hoá (ứng dụng CNTT) và trở thành các thí nghiệm ảo, thí nghiệm mô phỏng, mô hình mô phỏng đơn giản hay các đoạn Video Clip để trình chiếu trong một thời gian rất ngắn cho HS, đảm bảo phù hợp với nhu cầu nhận thức của HS, giúp cho HS tự mình chiếm lĩnh các kiến thức và kỹ năng mới” [26, tr.18]
Như vậy, chúng ta có thể hiểu giáo án DHTC có ứng dụng CNTT trước hết phải là một giáo án thể hiện được đầy đủ những đặc trưng cơ bản của một giáo án DHTC và có ứng dụng CNTT, phải tích hợp thêm được các bức ảnh tĩnh, ảnh động, các đoạn Video Clip… khi có nhu cầu thực sự cần thiết
Trang 39Để phát huy hiệu quả của giáo án DHTC có ứng dụng CNTT thì GV nên giảng dạy trong môi trường học tập ĐPT Vì trong môi trường học tập ĐPT tạo ra được sự tương tác giữa GV và HS, giữa GV và các phương tiện truyền thông, giữa
HS và các phương tiện truyền thông tạo nhiều thuận lợi để GV thực hiện bài giảng
Sơ đồ 1.3: Quan hệ tương tác sư phạm diễn ra trong quá trình dạy học bằng
giáo án DHTC có ứng dụng CNTT
Từ đó ta có thể hiểu:
Giáo án DHTC có ứng dụng CNTT = Giáo án DHTC + ứng dụng CNTT ở mức cơ bản
1.3.5.4 Giáo án dạy học tích cực điện tử
Trong quá trình thiết kế và sử dụng giáo án DHTC nếu GV ứng dụng CNTT
ở mức nâng cao, tức là không chỉ dừng lại ở việc tích hợp được các ảnh tĩnh, ảnh động, các đoạn Video Clip, như một giáo án DHTC có ứng dụng CNTT mà còn tạo ra một giáo án DHTC có tính “mở”, cho phép người học trực tiếp tương tác với các nội dung kiến thức có trong giáo án, để có thể tự mình khám phá, tìm hiểu những nội dung kiến thức ấy Chẳng hạn khi GV dạy về ảnh hưởng của khí hậu và thổ nhưỡng đối với cây trồng bằng giáo án DHTC điện tử thì GV có thể sử dụng phần mềm Macromedia Flash để thiết kế được một thí nghiệm mô phỏng (tư liệu điện tử) mô tả về sự ảnh hưởng của khí hậu và thổ nhưỡng đối với mức độ sinh trưởng và phát triển của một loại cây trồng Ví dụ trong tư liệu điện tử về sự sinh trưởng và phát triển của cây đậu cho phép HS tương tác được với tư liệu điện tử này, tức là khi HS thay đổi những thông số về nhiệt độ, ánh sáng khác nhau thì
sẽ cho những kết quả sinh trưởng, ra hoa kết trái của cây đậu là khác nhau
Theo tác giả Ngô Quang Sơn: Giáo án dạy học tích cực điện tử (Giáo án
DHTC điện tử) là kế hoạch bài học, là kịch bản sư phạm đã được giáo viên chuẩn bị
Môi trường học tập ĐPT
PTDH truyền thống và PTDH hiện đại
Người dạy
Trang 40chi tiết trước khi lên lớp, thể hiện được mối quan hệ sư phạm tương tác giữa GV và
HS, HS và HS (Giáo án dạy học tích cực) và một số nội dung kiến thức, kỹ năng quan trọng cần hình thành cho HS trong quá trình dạy học lại quá trìu tượng đối với các
em mà các loại hình PTDH truyền thống (tranh ảnh giáo khoa, bản đồ, biểu đồ, mô hình, mẫu vật, thí nghiệm thật ) không thể hiện nổi thì sẽ được số hoá (ứng dụng CNTT) và trở thành các thí nghiệm ảo, thí nghiệm mô phỏng, mô hình mô phỏng (tư liệu điện tử) và tạo được sự tương tác của HS với các tư liệu điện tử này HS có thể thay đổi các thông số đưa vào nội dung tư liệu điện tử để thu được những kết quả nghiên cứu khác nhau Các tư liệu điện tử này tạo được sự tương tác của HS với máy
tính đã giúp HS tự mình phát hiện kiến thức và hình thành kĩ năng mới [26, tr18]
Có thể khái quát: Giáo án dạy học tích cực điện tử là giáo án dạy học tích cực được thiết kế có sự tích hợp những nội dung ứng dụng CNTT không chỉ cho học sinh nghe, nhìn, mà còn cho học sinh tương tác
Xét về hình thức, giáo án DHTC điện tử cũng giống như giáo án DHTC có ứng dụng CNTT vì chúng đều là những giáo án DHTC có tích hợp thêm yếu tố công nghệ
Để phát huy hiệu quả của giáo án DHTC điện tử thì GV cũng nên giảng dạy trong môi trường học tập ĐPT Sự tương tác diễn ra trong khi giảng dạy bằng giáo
án DHTC điện tử ở môi trường học tập ĐPT cũng tương tự như khi giảng dạy bằng giáo án DHTC có ứng dụng CNTT
PTDH truyền thống và PTDH hiện đại
Sơ đồ 1.4: Quan hệ tương tác sư phạm diễn ra trong quá trình dạy học bằng
PTDH truyền thống và PTDH hiện đại