Nhận thức được tầm quan trọng của ứng dụng CNTT trong đổi mới phương pháp dạy học, nhiều năm qua ngành Giáo dục và Đào tạo Điện Biên đã triển khai nhiều biện pháp quản lý, chỉ đạo nhằm đ
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
NGUYỄN TUẤN ANH
QUẢN LÝ ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN
TRONG DẠY HỌC Ở TRƯỜNG THPT CHÀ CANG HUYỆN NẬM PỒ,
TỈNH ĐIỆN BIÊN
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ GIÁO DỤC
HÀ NỘI – 2015
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
NGUYỄN TUẤN ANH
QUẢN LÝ ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN
TRONG DẠY HỌC Ở TRƯỜNG THPT CHÀ CANG HUYỆN NẬM PỒ,
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Luận văn thạc sĩ về đề tài “Quản lý ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học ở trường Trung học phổ thông Chà Cang huyện Nậm Pồ, tỉnh Điện Biên ” đã được thực hiện tại trường Đại học Giáo dục, Đại học Quốc gia Hà Nội
Với tình cảm chân thành, tác giả luận văn xin bày tỏ lòng biết ơn các thầy cô giáo trường Đại học Giáo dục, Đại học Quốc gia Hà Nội đã trang bị vốn kiến thức lý luận về khoa học quản lý, giúp cho em nghiên cứu và hoàn thiện đề tài
Đặc biệt, tác giả luận văn xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS.TS Ngô Quang Sơn, người thầy đã trực tiếp hướng dẫn, tận tình chỉ bảo, giúp đỡ cũng như tạo cho em sự tự tin để hoàn thành luận văn này
Tác giả luận văn cũng xin bày tỏ lòng cảm ơn chân thành tới các đồng chí cán bộ, giáo viên, nhân viên trường THPT Chà Cang huyện Nậm Pồ, tỉnh Điện Biên đã tạo điều kiện giúp tác giả nghiên cứu, khảo sát và cung cấp thông tin, tư liệu cho luận văn Xin được bày tỏ lòng biết ơn tới những người thân trong gia đình đã luôn động viên, chia sẻ để tôi có thể hoàn thành luận văn
Mặc dù đã có nhiều cố gắng trong quá trình nghiên cứu song luận văn cũng không tránh khỏi những sai sót, rất mong nhận được sự chỉ dẫn, góp ý quí báu của các thầy giáo, cô giáo, các bạn đồng nghiệp để luận văn được hoàn thiện hơn
Hà Nội, tháng 11 năm 2014
TÁC GIẢ
Nguyễn Tuấn Anh
Trang 4CÁC CHỮ VIẾT TẮT
CB, GV, NV Cán bộ, giáo viên và nhân viên
CNTT&TT Công nghệ thông tin và truyền thông
GADHTCĐT Giáo án dạy học tích cực điện tử
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN 1
CÁC CHỮ VIẾT TẮT 2
MỤC LỤC 3
DANH MỤC BẢNG 7
DANH MỤC BIỂU ĐỒ 8
DANH MỤC SƠ ĐỒ 8
MỞ ĐẦU 9
1 Lý do chọn đề tài 9
2 Mục đích nghiên cứu 11
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu 11
4 Nhiệm vụ nghiên cứu 11
5 Giả thuyết khoa học 11
6 Giới hạn và phạm vi nghiên cứu 12
7 Phương pháp nghiên cứu 12
8 Cấu trúc luận văn 13
CHƯƠNG 1 14
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG DẠY HỌC Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 14
1.1.Tổng quan nghiên cứu vấn đề 14
1.1.1 Nước ngoài 14
1.1.2 Trong nước 14
1.2 Một số khái niệm cơ bản 17
1.2.1 Quản lý 17
1.2.2 Quản lý giáo dục và quản lý nhà trường 20
1.2.3 Quản lý hoạt động dạy học 22
1.2.4 Phương pháp dạy học 23
1.2.6 Quản lý ứng dụng CNTT 25
Trang 61.3 Các nội dung ứng dụng Công nghệ thông tin trong dạy học ở các trường
THPT 25
1.3.1 Công nghệ thông tin và truyền thông 26
1.3.2 Môi trường học tập đa phương tiện 27
1.3.3 Phần mềm hỗ trợ dạy học 29
1.3.4 Khai thác mạng Internet hỗ trợ dạy học 30
1.3.5 Giáo án dạy học tích cực có ứng dụng CNTT và giáo án dạy học tích cực điện tử 30
1.4 Các nội dung quản lý ứng dụng Công nghệ Thông tin trong dạy học ở trường THPT 34
1.4.1 Quản lý việc xây dựng và sử dụng phòng học đa phương tiện 35
1.4.2 Quản lý việc sử dụng các phần mềm hỗ trợ dạy học 36
1.4.3 Quản lý việc thiết kế và sử dụng giáo án dạy học tích cực có ứng dụng CNTT 37
1.4.4 Quản lý ứng dụng CNTT trong công tác kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của HS 39
Tiểu kết chương 1 40
CHƯƠNG 2 41
THỰC TRẠNG QUẢN LÝ ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG DẠY HỌC Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG CHÀ CANG HUYỆN NẬM PỒ, TỈNH ĐIỆN BIÊN 41
2.1 Điều kiện tự nhiên và điều kiện kinh tế - xã hội và giáo dục của huyện Nậm Pồ, tỉnh Điện Biên 41
2.1.1 Điều kiện tự nhiên 41
2.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 41
2.1.3 Tình hình giáo dục của huyện Nậm Pồ, tỉnh Điện Biên 42
2.2 Một số nét chung về trường THPT Chà Cang huyện Nậm Pồ, tỉnh Điện Biên 43
2.2.1 Đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên 43
Trang 72.2.2 Học sinh 45
2.2.3 Cơ sở vật chất 47
2.3 Thực trạng ứng dụng CNTT trong dạy học 48
2.4 Thực trạng quản lý ứng dụng CNTT trong dạy học 56
2.4.1 Quản lý việc xây dựng và sử dụng phòng học đa phương tiện 56
2.4.2 Quản lý việc sử dụng phần mềm dạy học và truy cập Internet hiệu quả 56
2.4.3 Thực trạng quản lý việc thiết kế và sử dụng giáo án dạy học tích cực có ứng dụng CNTT 59
2.5 Phân tích mặt mạnh, mặt yếu Nguyên nhân tồn tại 61
2.5.1 Mặt mạnh 61
2.5.2 Mặt yếu 62
2.5.3 Phân tích nguyên nhân khách quan và chủ quan 63
Tiểu kết chương 2 64
CHƯƠNG 3 66
MỘT SỐ BIỆN PHÁP QUẢN LÝ ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG DẠY HỌC Ở TRƯỜNG THPT CHÀ CANG HUYỆN NẬM PỒ, TỈNH ĐIỆN BIÊN 66
3.1 Nguyên tắc đề xuất các biện pháp 66
3.1.1 Đảm bảo tính đồng bộ 66
3.1.2 Đảm bảo tính thực tiễn 66
3.1.3 Đảm bảo tính khả thi 67
3.2 Một số biện pháp quản lý ứng dụng công nghệ thông tin dạy học ở trường THPT Chà Cang huyện Nậm Pồ, tỉnh Điện Biên 67
3.2.1 Biện pháp 1: Nâng cao nhận thức cho cán bộ quản lý, giáo viên về tầm quan trọng của việc ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học 67
3.2.2 Biện pháp 2: Tăng cường đầu tư mua sắm thiết bị dạy học hiện đại, xây dựng phòng học đa phương tiện để ứng dụng hiệu quả công nghệ thông tin trong dạy học 70
Trang 83.2.3 Biện pháp 3: Tổ chức bồi dưỡng cho cán bộ quản lý, giáo viên về kiến thức, kỹ năng tin học cơ bản, xây dựng kế hoạch tạo nguồn nhân lực về công
nghệ thông tin cho nhà trường 77
3.2.4 Biện pháp 4: Nâng cao hiệu quả sử dụng một số phần mềm hỗ trợ dạy học Khai thác Internet hỗ trợ dạy và học 83
3.2.5 Biện pháp 5: Xây dựng quy trình thiết kế và xây dựng quy trình sử dụng giáo án dạy học tích cực có ứng dụng công nghệ thông tin 84
3.2.6 Biện pháp 6: Nâng cao vai trò của tổ chuyên môn đối với công tác ứng dụng CNTT trong dạy học 90
3.2.7 Biện pháp 7: Tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh 91
3.2.8 Biện pháp 8: Tăng cường kiểm tra đánh giá mức độ ứng dụng CNTT trong dạy học của các giáo viên 93
3.4 Khảo nghiệm tính cần thiết và tính khả thi của các biện pháp 98
Tiểu kết chương 3 104
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 106
1 Kết luận 106
2 Khuyến nghị 107
TÀI LIỆU THAM KHẢO 109
PHỤ LỤC 111
Trang 9DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1: Thống kê đội ngũ CB, GV, NV năm 2014 44
Bảng 2.2: Thông tin về học sinh năm học 2014-2015 46
Bảng 2.3: Số liệu về học sinh được hưởng chính sách năm học 2014-2015 46
Bảng 2.4: Kết quả giáo dục học sinh năm học 2012-2013 46
Bảng 2.5: Kết quả giáo dục học sinh năm học 2013-2014 47
Bảng 2.6: Số liệu về cơ sở vật chất 48
Bảng 2.7 Mức độ ứng dụng CNTT trong dạy học của đội ngũ giáo viên 50
Bảng 2.8: Điều kiện cá nhân 51
Bảng 2.9: Khảo sát giáo viên về khả năng tiếp cận thiết bị CNTT của nhà trường 52
Bảng 2.10 : Nhận thức của CBQL tổ chuyên môn và giáo viên về ứng dụng CNTT trong dạy học 53
Bảng 2.11 : Kỹ năng sử dụng máy tính của BGH và các tổ trưởng, tổ phó chuyên môn 55
Bảng 2.12: Sự hỗ trợ của BGH và đồng nghiệp khi soạn thảo GADHTC có ứng dụng CNTT 57
Bảng 3.1: Đánh giá mức độ cần thiết của các biện pháp quản lý 99
Bảng 3.2: Đánh giá mức độ khả thi của các biện pháp quản lý 101
Bảng 3.3: Tương quan giữa mức độ cần thiết và mức độ khả thi của các biện pháp 103
Trang 10DANH MỤC BIỂU ĐỒ Biểu đồ: 2.1: Kết quả giáo dục năm học 2013-2014 của học sinh huyện Nậm
Pồ, tỉnh Điện Biên 43
Biểu đồ 3.1: Mức độ cần thiết của các biện pháp đề xuất 100
Biểu đồ 3.2: Mức độ khả thi của các biện pháp đề xuất 102
Biểu đồ 3.3: Mối tương quan giữa tính cần thiết và tính khả thi 104
của các biện pháp 104
DANH MỤC SƠ ĐỒ Sơ đồ 1.1: Bản chất quá trình quản lý 18
Sơ đồ 1.2: Mô hình quản lý 19
Sơ đồ 1.3: Sự tương tác diễn ra trong quá trình dạy học bằng GADHTC có ứng dụng CNTT 33
Sơ đồ 3.1: Ứng dụng CNTT hiệu quả trong quá trình dạy học 86
Sơ đồ 3.2 Các giai đoạn thiết kế GADHTC 86
Sơ đồ 3.3: Quy trình kiểm tra đánh giá 94
Sơ đồ 3.4: Mối quan hệ giữa các biện pháp 98
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Chúng ta đang sống trong thời đại CNTT đã được ứng dụng rộng rãi vào hầu hết các lĩnh vực của cuộc sống Trong giáo dục, CNTT đã được ứng dụng vào công tác quản lý, giảng dạy và học tập
Vai trò, tầm quan trọng và hiệu quả của việc ứng dụng CNTT trong dạy học đã được chứng minh bằng thực tiễn ở những năm qua, cho thấy rằng việc ứng dụng CNTT trong dạy học là xu thế tất yếu của giáo dục Ứng dụng CNTT để góp phần đổi mới PPDH là một chủ đề lớn được UNESCO đưa ra thành chương trình của thế kỷ XXI và “dự đoán sẽ có sự thay đổi nền giáo dục một các căn bản vào đầu thế kỷ XXI do ảnh hưởng của CNTT” Trên thế giới, các chính sách về giáo dục được xây dựng dựa tên tiền đề và triển vọng của tích hợp CNTT một cách có hiệu quả vào dạy học Ở Việt Nam, việc ứng dụng CNTT trong giáo dục cũng được kỳ vọng cao, các nhà giáo dục được khuyến khích ứng dụng CNTT ở tất cả các cấp học và các môn học
Nghị quyết TW2, khóa VIII nhấn mạnh: "Đổi mới mạnh mẽ phương pháp giáo dục - đào tạo, khắc phục lối truyền thụ một chiều, rèn luyện thành nếp tư duy sáng tạo của người học Từng bước áp dụng các phương pháp tiên tiến và phương tiện vào quá trình dạy và học, đảm bảo điều kiện và thời gian
tự học, tự nghiên cứu của học sinh, nhất là sinh viên đại học." [26]
Chính phủ và Bộ Giáo dục và Đào tạo đã coi ứng dụng CNTT trong dạy học là khâu đột phá quan trọng trong nâng cao chất lượng giáo dục Quyết định 698/QĐ-TTg ngày 21 tháng 6 năm 2009 của Thủ Tướng Chính phủ phê duyệt kế hoạch tổng thể phát triển nguồn nhân lực CNTT đến năm 2015 và định hướng đến năm 2020 cũng nêu rõ: “Đẩy mạnh việc ứng dụng CNTT trong trường phổ thông nhằm đổi mới phương pháp dạy và học theo hướng giáo viên tự tích hợp CNTT vào từng môn học thay vì học trong môn tin học Giáo viên các bộ môn chủ động tự soạn và tự chọn tài liệu và phần mềm (mã nguồn mở) để giảng dạy ứng dụng CNTT ” Cũng từ năm học 2005 - 2006,
Trang 12Bộ Giáo dục và Đào tạo ra Chỉ thị đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học Năm học 2008 - 2009, Bộ Giáo dục và Đào tạo chọn là năm học với chủ đề: “Năm học ứng dụng công nghệ thông tin và đổi mới quản lý tài chính ”, những năm học tiếp theo Bộ Giáo dục và Đào tạo tiếp tục chỉ đạo : Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý giáo dục, thống nhất quản lý nhà nước về ứng dụng CNTT trong Giáo dục - Đào tạo
Nhận thức được tầm quan trọng của ứng dụng CNTT trong đổi mới phương pháp dạy học, nhiều năm qua ngành Giáo dục và Đào tạo Điện Biên
đã triển khai nhiều biện pháp quản lý, chỉ đạo nhằm đẩy mạnh ứng dụng CNTT trong các nhà trường, bước đầu đạt được một số kết quả Đến nay, tất
cả các trường THPT tỉnh Điện Biên đều đã được trang bị các phòng máy tính, đáp ứng tương đối đầy đủ máy chiếu phục vụ cho việc giảng dạy và học tập của GV, HS Nhiều phần mềm hỗ trợ công tác quản lý, hỗ trợ dạy học được
áp dụng rộng rãi Đã tổ chức nhiều buổi tập huấn nâng cao năng lực ứng dụng CNTT cho đội ngũ CBQL và GV Tuy nhiên trong những năm qua, bên cạnh những kết quả đáng khích lệ, thì vẫn còn một số trường THPT, nhất là các trường THPT vùng đặc biệt khó khăn, trong đó có trường THPT Chà Cang huyện Nậm Pồ tỉnh Điện Biên công tác ứng dụng CNTT trong dạy học vẫn chưa được quan tâm đầy đủ, hiệu quả của ứng dụng CNTT trong dạy học còn thấp
Có nhiều nguyên nhân dẫn đến thực trạng này trong đó có những nguyên nhân thuộc về công tác quản lý: Một số CBQL nhận thức còn chưa đầy đủ về công tác ứng dụng CNTT trong dạy học hoặc do trình độ tin học còn hạn chế nên chưa có khả năng định hướng cho GV nhận thức đúng về giáo án điện tử,
vì thế đã dẫn đến còn có GV lạm dụng CNTT trong dạy học Công tác đầu tư mua sắm TBDH hiện đại, xây dựng cơ sở hạ tầng cho việc ứng dụng CNTT trong dạy học còn chưa hiệu quả Chưa quan tâm đến việc sử dụng tối đa các chức năng của phòng máy, mạng máy tính, các phần mềm dạy học
Với mong muốn khắc phục cơ bản các hạn chế trên, tác giả đã chọn
Trang 13nghiên cứu đề tài: “Quản lý ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học ở trường THPT Chà Cang huyện Nậm Pồ, tỉnh Điện Biên”
2 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn để đề xuất một số biện pháp quản
lý ứng dụng CNTT trong dạy học ở trường THPT Chà Cang huyện Nậm Pồ, tỉnh Điện Biên
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1 Khách thể nghiên cứu
Hoạt động quản lý ứng dụng CNTT trong dạy học ở trường THPT Chà Cang huyện Nậm Pồ, tỉnh Điện Biên
3.2 Đối tượng nghiên cứu
Biện pháp quản lý ứng dụng CNTT trong dạy học ở trường THPT Chà Cang huyện Nậm Pồ, tỉnh Điện Biên
4 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích nghiên cứu, đề tài đặt ra một số nhiệm vụ nghiên cứu sau:
- Nghiên cứu cơ sở lý luận về CNTT, ứng dụng CNTT trong dạy học ở trường THPT
- Khảo sát thực trạng quản lý ứng dụng CNTT trong dạy học ở trường THPT Chà Cang huyện Nậm Pồ, tỉnh Điện Biên
- Đề xuất một số biện pháp quản lý ứng dụng CNTT trong dạy học ở trường THPT Chà Cang huyện Nậm Pồ, tỉnh Điện Biên
5 Giả thuyết khoa học
Hiện nay việc ứng dụng CNTT trong dạy học ở trường THPT Chà Cang huyện Nậm Pồ, tỉnh Điện Biên đã đạt được một số kết quả song còn nhiều bất cập
Nếu chọn lựa, đề xuất và áp dụng một số biện pháp quản lý ứng dụng CNTT trong dạy học phù hợp với thực tiễn thì sẽ góp phần nâng cao chất lượng dạy học ở trường THPT Chà Cang huyện Nậm Pồ, tỉnh Điện Biên
Trang 146 Giới hạn và phạm vi nghiên cứu
Do điều kiện về thời gian và khả năng có hạn, đề tài tập trung nghiên cứu đề xuất các biện pháp quản lý ứng dụng CNTT để góp phần nâng cao chất lượng dạy học ở trường THPT Chà Cang huyện Nậm Pồ, tỉnh Điện Biên Các số liệu được sử dụng trong luận văn lấy từ báo cáo Kết quả thực hiện nhiệm vụ năm học 2013-2014 và năm học 2014-2015 của trường THPT Chà Cang
Thời gian khảo nghiệm biện pháp: Học kỳ I năm học 2014-2015
7 Phương pháp nghiên cứu
7.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận
Khái quát những tài liệu lý luận có liên quan đến đề tài, phân tích tổng hợp nhằm xây dựng những khái niệm công cụ và làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận có liên quan
7.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
Phương pháp điều tra viết: Thông qua các phiếu trưng cầu ý kiến, tìm hiểu nhận thức, nguyện vọng của CBQL, GV và HS để thu thập thông tin về thực trạng quản lý ứng dụng CNTT trong dạy học
Phương pháp chuyên gia: Lấy ý kiến của các chuyên gia trong lĩnh vực quản lý ứng dụng CNTT trong dạy học
Phương pháp nghiên cứu sản phẩm hoạt động: Nghiên cứu hồ sơ, giáo án của GV, dự một số giờ dạy có ứng dụng CNTT; nghiên cứu kế hoạch năm học, kế hoạch chuyên môn, kế hoạch ứng dụng CNTT, phân công giảng dạy, kiểm tra, đánh giá, sổ theo dõi sử dụng đồ dùng dạy học… rút ra được những nhận xét về công tác quản lý ứng dụng CNTT trong dạy học
Phương pháp phỏng vấn, trao đổi: Trực tiếp phỏng vấn CBQL, GV và những người có liên quan đến hoạt động ở trường để thu thập thông tin phù hợp với nội dung nghiên cứu
7.3 Những phương pháp hỗ trợ khác
Sử dụng phương pháp thống kê toán học trong xử lý các số liệu khảo sát
Trang 158 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, danh mục tài liệu tham khảo và các phụ lục, luận văn dự kiến được trình bày trong 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học ở trường trung học phổ thông
Chương 2: Thực trạng quản lý ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học ở trường THPT Chà Cang huyện Nậm Pồ, tỉnh Điện Biên
Chương 3: Một số biện pháp quản lý ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học ở trường THPT Chà Cang huyện Nậm Pồ, tỉnh Điện Biên
Trang 16Trên thế giới, các nước có nền giáo dục phát triển đều chú trọng đến việc ứng dụng CNTT như: Nước Mỹ, Australia, Canada, Nhật Bản, Hàn Quốc, Singapore, Để ứng dụng CNTT được như ngày nay các nước này đã trải qua rất nhiều các chương trình quốc gia về tin học hoá cũng như ứng dụng CNTT vào các lĩnh vực khoa học kỹ thuật và trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, đặc biệt là ứng dụng vào khoa học công nghệ và giáo dục Họ coi đây là vấn
đề then chốt của cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật, là chìa khoá để xây dựng
và phát triển công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, tăng trưởng nền kinh tế
để xây dựng và phát triển nền kinh tế tri thức, hội nhập với các nước trong khu vực và trên toàn thế giới Vì vậy, họ đã thu được những thành tựu rất đáng kể trên các lĩnh vực như: Điện tử, Sinh học, Y tế, Giáo dục,
1.1.2 Trong nước
Ở Việt Nam đã có Chương trình quốc gia về CNTT (1996 - 2000) và Đề
án thực hiện về CNTT tại các cơ quan Đảng (2003-2005) ban hành kèm theo
Trang 17Quyết định 47 của Ban Bí thư Trung ương Đảng
Bộ Giáo dục và Đào tạo đã rất quan tâm đến ứng dụng CNTT trong các nhà trường thông qua Chỉ thị nhiệm vụ các năm học, đặc biệt từ năm học 2008-2009 được chọn là năm học với chủ đề: “Năm học ứng dụng công nghệ thông tin và đổi mới quản lý tài chính” Những năm học tiếp theo Bộ Giáo dục và Đào tạo vẫn tiếp tục chỉ đạo: “Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý giáo dục, thống nhất quản lý nhà nước về ứng dụng CNTT trong Giáo dục - Đào tạo ”
Trong những năm qua việc ứng dụng CNTT trong quản lý và tổ chức hoạt động dạy học đã được nhiều nhà khoa học quan tâm nghiên cứu Các hội nghị, hội thảo khoa học nghiên cứu về CNTT đã đề cập nhiều đến vấn đề quản lý ứng dụng CNTT trong giáo dục và khả năng áp dụng vào môi trường Giáo dục và Đào tạo ở Việt Nam như:
- Hội thảo khoa học “Nghiên cứu và triển khai E-Learning” do Viện Công nghệ Thông tin (ĐHQG Hà Nội) và Khoa Công nghệ Thông tin (Đại học Bách khoa Hà Nội) phối hợp tổ chức đầu tháng 3/2005 là hội thảo khoa học
về ứng dụng CNTT trong hệ thống giáo dục đầu tiên được tổ chức tại Việt Nam
- Hội thảo khoa học toàn quốc về CNTT: “Các giải pháp công nghệ và quản lý trong ứng dụng CNTT&TT vào đổi mới phương pháp dạy học” do trường ĐHSP Hà Nội phối hợp với dự án Giáo dục đại học tổ chức từ 9-10/12/2006 Nội dung hội thảo gồm các chủ đề chính sau:
+ Các giải pháp về công nghệ trong đổi mới phương pháp dạy (phổ thông, đại học và trên đại học) : công nghệ tri thức, công nghệ mã nguồn mở, các hệ nền và công cụ tạo nội dung trong E-Learning, các chuẩn trao đổi nội dung bài giảng, công nghệ trong kiểm tra đánh giá,
+ Các giải pháp, chiến lược phát triển ứng dụng CNTT vào đổi mới phương pháp dạy học: chiến lược phát triển, kinh nghiệm quản lý, mô hình tổ chức trường học điện tử, mô hình dạy học điện tử,
Trang 18+ Các kết quả và kinh nghiệm của việc ứng dụng CNTT trong dạy học: xây dựng và sử dụng phần mềm dạy học, kho học liệu điện tử
Trong các hội thảo, các nhà khoa học, các nhà quản lý đã mạnh dạn đưa
ra các vấn đề nghiên cứu tầm quan trọng của việc ứng dụng và phát triển CNTT trong dạy học
Trong thời gian gần đây, đã có một số luận văn thạc sĩ khoa học nghiên cứu về quản lý ứng dụng CNTT trong giảng dạy ở các trường phổ thông ở nước ta được bảo vệ thành công như:
- Tác giả Trần Thị Đản với đề tài: “Một số biện pháp tổ chức triển khai việc ứng dụng CNTT vào giảng dạy của hiệu trưởng trường THCS Văn Lang thành phố Việt Trì tỉnh Phú Thọ” đã hệ thống hoá những vấn đề lý luận cơ bản về CNTT, ứng dụng CNTT vào việc dạy và học trong nhà trường; khảo sát thực trạng việc tổ chức triển khai ứng dụng CNTT, nguyên nhân của thực trạng đó và đề xuất một số biện pháp tổ chức triển khai ứng dụng CNTT vào giảng dạy ở trường THCS Văn Lang - Việt Trì
- Tác giả Đào Thị Ninh nghiên cứu đề tài: “Một số biện pháp quản lý ứng dụng CNTT trong giảng dạy ở các trường THPT quận Cầu Giấy - Hà Nội” đã nghiên cứu những vấn đề lý luận về việc quản lý ứng dụng CNTT trong giáo dục Tìm hiểu thực trạng việc quản lý ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học, đề xuất một số biện pháp quản lý ứng dụng CNTT trong dạy học của hiệu trưởng các trường THPT quận Cầu Giấy - Hà Nội
- Tác giả Nguyễn Văn Tuấn nghiên cứu đề tài: “Một số biện pháp chỉ đạo việc đẩy mạnh ứng dụng CNTT trong công tác quản lý dạy học tại các trường THPT” đã hệ thống hóa những vấn đề cơ bản về quản lý và chỉ đạo việc quản lý ứng dụng CNTT trong giáo dục Khảo sát thực trạng và đề xuất một số biện pháp chỉ đạo việc đẩy mạnh ứng dụng CNTT trong công tác quản
lý dạy học tại các trường PTTH nói chung
Qua nghiên cứu các tác giả đều khẳng định ý nghĩa của việc ứng dụng CNTT vào dạy học, đổi mới phương pháp dạy học và vai trò quan trọng của
Trang 19các biện pháp quản lý Qua đó, các tác giả cũng đề xuất một số kiến nghị với các cấp lãnh đạo trong việc triển khai một số biện pháp quản lý ứng dụng CNTT vào dạy học tại các trường thuộc phạm vi quản lý
Từ các phân tích trên, tác giả nhận thấy quản lý ứng dụng CNTT trong dạy học ở trường THPT là một vấn đề cần thiết nhưng chỉ được nghiên cứu dưới góc độ hẹp Hiện nay, các luận văn thường tập trung nghiên cứu việc quản lý ứng dụng CNTT song chưa sâu, lại chủ yếu áp dụng cho các trường vùng thuận lợi, nơi có điều kiện kinh tế xã hội phát triển, trong khi đó chưa đề cập việc tháo gỡ những khó khăn khi áp dụng CNTT ở các trường vùng cao, vùng khó khăn Một số đề tài thuộc lĩnh vực quản lý CNTT trong dạy học nhưng bàn về công tác quản lý thì ít mà thiên về việc giới thiệu, hướng dẫn sử dụng các phần mềm ứng dụng thì nhiều Thực tế ở Việt Nam, việc đưa CNTT vào quản lý các hoạt động nhà trường nói chung và quản lý hoạt động dạy học nói riêng còn tồn tại nhiều vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu giải quyết Vì thế, tác giả đã đi sâu nghiên cứu vấn đề này trong phạm vi trường THPT Chà Cang huyện Nậm Pồ, tỉnh Điện Biên nhằm hy vọng đề xuất được một số biện pháp quản lý góp phần nâng cao hiệu quả dạy học trong các trường THPT vùng khó khăn thuộc tỉnh Điện Biên
1.2 Một số khái niệm cơ bản
1.2.1 Quản lý
1.2.1.1 Khái niệm
Khái niệm “quản lý” được định nghĩa theo nhiều cách khác nhau dựa trên cơ sở những cách tiếp cận khác nhau
Có thể tiếp cận khái niệm về “quản lý” theo các nhà nghiên cứu sau:
- Theo F.W.Tay lor (nhà quản lý người Mỹ 1856 - 1915) Ông cho rằng
“Quản lý là nghệ thuật biết rõ ràng, chính xác cái gì cần làm và làm cái đó bằng phương pháp tốt nhất và rẻ nhất”.[3]
- Theo H.Fayol (1841-1925), kỹ sư người Pháp - Ông quan niệm: “Quản
lý hành chính là kế hoạch hoá, tổ chức, chỉ huy, phối hợp và kiểm tra” [3] và
Trang 20được thể hiện trên 14 nguyên tắc quản lý của ông Trong học thuyết quản lý của mình H Fayol đưa ra 5 chức năng cần thiết của một nhà quản lý là:
Dự báo và lập kế hoạch - Tổ chức - Chỉ huy - Phối hợp - Kiểm tra và sau này được kết hợp thành 4 chức năng: Lập kế hoạch - Tổ chức - Chỉ đạo - Kiểm tra
- Theo Đặng Vũ Hoạt, Hà Thế Ngữ trong “Những vấn đề cốt yếu trong quản lý”: Quản lý là một quá trình định hướng, quá trình có mục tiêu quản lý một hệ thống nhằm đạt được những mục tiêu nhất định
- Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang : “Quản lý là sự tác động có mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý đến tập thể những người lao động (khách thể quản lý) nhằm thực hiện được những mục tiêu dự kiến.” [15,tr.14] Với những khái niệm trên ta thấy về bản chất quá trình quản lý có thể được biểu diễn dưới dạng sơ đồ sau:
Sơ đồ 1.1: Bản chất quá trình quản lý Như vậy, đối với mỗi hệ thống hoạt động, quản lý có thể chia ra 4 nội dung lớn: Lập kế hoạch - Tổ chức - Lãnh đạo việc thực hiện kế hoạch - Kiểm tra, đánh giá các hoạt động và việc thực hiện các mục tiêu đề ra
Vậy: Quản lý là sự tác động của chủ thể quản lý lên đối tượng bị quản lý
nhằm đạt được mục tiêu đặt ra trong điều kiện biến động của môi trường
Với khái niệm trên quản lý bao gồm các điều kiện sau:
- Phải có một chủ thể quản lý là tác nhân tạo ra các tác động, và một đối tượng bị quản lý phải tiếp nhận các tác động của chủ thể quản lý tạo ra Tác động có thể chỉ là một lần mà cũng có thể là liên tục nhiều lần
Trang 21- Phải có một mục tiêu đặt ra cho cả đối tượng và chủ thể, mục tiêu này
là căn cứ để chủ thể tạo ra các tác động
- Chủ thể có thể là một người, nhiều người, một thiết bị Còn đối tượng
có thể là con người (một hoặc nhiều người) hoặc giới vô sinh (máy móc, thiết
bị, đất đai, thông tin, hầm mỏ…) hoặc giới sinh vật (vật nuôi, cây trồng)
Sơ đồ 1.2: Mô hình quản lý
1.2.1.2 Cơ sở khoa học quản lý:
Bất cứ một tổ chức nào, cho dù cơ cấu và quy mô hoạt động ra sao đều phải có sự quản lý và có người quản lý thì mới đạt được mục đích tồn tại và phát triển của tổ chức đó Vậy hoạt động quản lý là gì?
Theo tác giả Nguyễn Quốc Chí - Nguyễn Thị Mỹ Lộc: Đó là tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý (người quản lý) đến khách thể quản lý (người bị quản lý) trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành
và đạt được mục đích của tổ chức.[3] Nói cách khác hoạt động quản lý là quá trình đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng cách vận dụng các hoạt động (chức năng) kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ đạo (lãnh đạo) và kiểm tra Người quản lý là nhân vật có trách nhiệm phân bố nhân lực và các nguồn lực khác, chỉ dẫn sự vận hành của một bộ phận hay toàn bộ tổ chức để tổ chức hoạt động có hiệu quả và đạt đến mục đích
Theo tác giả Nguyễn Quốc Chí - Nguyễn Thị Mỹ Lộc thì quản lý có bốn chức năng chủ yếu, cơ bản: Kế hoạch hóa, Tổ chức, Chỉ đạo - Lãnh đạo và
Đối tượng quản lý
Đối tượng bị quản lý
Mục tiêu
Trang 22Kiểm tra
* Kế hoạch hóa: Đó là xác định mục tiêu, mục đích cho những hoạt động trong tương lai của tổ chức và xác định các biện pháp, cách thức để đạt được mục đích đó
* Tổ chức: Tổ chức là quá trình hình thành nên cấu trúc các quan hệ giữa các thành viên, giữa các bộ phận trong một tổ chức nhằm làm cho họ thực hiện thành công các kế hoạch và đạt được mục tiêu tổng thể của tổ chức Người quản lý phải phối hợp, điều phối tốt các nguồn nhân lực của tổ chức
* Lãnh đạo (Chỉ đạo): Sau khi kế hoạch đã được lập, cơ cấu bộ máy đã hình thành, nhân sự đã được tuyển dụng thì phải có người đứng ra lãnh đạo, dẫn dắt tổ chức Đó là quá trình liên kết, liên hệ với người khác, hướng dẫn và động viên họ hoàn thành những nhiệm vụ nhất định để đạt được mục tiêu của
tổ chức Tất nhiên việc lãnh đạo không chỉ bắt đầu sau khi việc lập kế hoạch
và thiết kế bộ máy đã hoàn tất, mà nó xuyên suốt trong hoạt động quản lý
* Kiểm tra: Đây là hoạt động theo dõi, giám sát các thành quả hoạt động
và tiến hành những hoạt động sửa chữa, uốn nắn nếu cần thiết
1.2.2 Quản lý giáo dục và quản lý nhà trường
1.2.2.1 Quản lý giáo dục
Giáo dục là một chức năng của xã hội loài người và quản lý giáo dục là một loại hình của quản lý xã hội Có nhiều định nghĩa khác nhau về quản lý giáo dục
Theo Trần Kiểm, đối với cấp vĩ mô “QLGD là sự tác động liên tục, có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý lên hệ thống giáo dục nhằm tạo ra tính trồi của hệ thống, sử dụng một cách tối ưu các tiềm năng, các cơ hội của
hệ thống nhằm đưa hệ thống đến mục tiêu một cách tốt nhất trong điều kiện bảo đảm sự cân bằng với môi trường bên ngoài luôn biến động’’ [13, tr.37] Trong quan điểm giáo dục hiện đại của các tác giả Nguyễn Quốc Chí - Nguyễn Thị Mỹ Lộc, chỉ rõ: “QLGD là những tác động có hệ thống, có kế hoạch, có ý thức và hướng đích của chủ thể quản lý ở mọi cấp khác nhau đến
Trang 23tất cả các mắt xích của toàn bộ hệ thống nhằm mục đích đảm bảo sự hình thành nhân cách cho thế hệ trẻ trên cơ sở nhận thức và vận dụng những quy luật của xã hội cũng như các quy luật của quá trình giáo dục về sự phát triển thể lực, trí lực và tâm lý của con người Chất lượng của giáo dục chủ yếu do nhà trường tạo nên, bởi vậy khi nói đến quản lý giáo dục phải nói đến quản lý nhà trường cùng với hệ thống quản lý giáo dục” [4, tr.71]
Nghị quyết Hội nghị lần thứ 2 Ban chấp hành trung ương Đảng khoá VIII cũng đã viết: “quản lý giáo dục là sự tác động của chủ thể quản lý tới khách thể quản lý nhằm đưa hoạt động sư phạm của hệ thống giáo dục đạt tới kết quả mong muốn bằng cách hiệu quả nhất” [26]
Từ những định nghĩa trên cho thấy: QLGD là hệ thống những tác động
có mục đích, có kế hoạch, có ý thức của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý
mà chủ yếu nhất là quá trình dạy học và giáo dục ở các cơ sở giáo dục
1.2.2.2 Quản lý nhà trường
Trường học là hình thức thể hiện của hệ thống giáo dục trên qui mô toàn
xã hội, là nơi diễn ra hầu hết các hoạt động giáo dục của hệ thống giáo dục quốc dân
Theo tác giả Phạm Viết Vượng: “Quản lý trường học là hoạt động của các cơ quan quản lý, về bản chất là huy động các nguồn lực để tổ chức các hoạt động giáo dục trong nhà trường theo mục tiêu giáo dục.” [19, tr.369] Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang: “Quản lý nhà trường là tập hợp những tác động tối ưu của chủ thể quản lý đến tập thể GV, HS và cán bộ khác, nhằm tận dụng các nguồn dự trữ do nhà nước đầu tư, lực lượng xã hội đóng góp và do lao động xây dựng vốn tự có Hướng vào việc đẩy mạnh mọi hoạt động của nhà trường mà điểm hội tụ là quá trình đào tạo thế hệ trẻ Thực hiện có chất lượng mục tiêu và kế hoạch đào tạo, đưa nhà trường tiến lên trạng thái mới" [15, tr.43]
Vậy bản chất của hoạt động quản lý nhà trường là quản lý hoạt động dạy học để đưa hoạt động này phát triển đi lên theo xu thế tất yếu của thời đại và
Trang 24đạt tới mục tiêu giáo dục, mục tiêu đào tạo Có thể hiểu: Quản lý trường học
là hoạt động có ý thức, có kế hoạch, có định hướng của chủ thể quản lý tác động tới các hoạt động của nhà trường nhằm thực hiện các chức năng, nhiệm
vụ mà trung tâm là hoạt động dạy và học trong nhà trường
Ở góc độ cụ thể thì quản lý trường học là việc người CBQL tổ chức, chỉ đạo, điều hành mọi hoạt động của nhà trường, trong đó mọi hoạt động đều hướng tới hiệu quả của việc dạy và học đáp ứng mục tiêu giáo dục Quản lý nhà trường khác với việc quản lý các tổ chức hoạt động trong lĩnh vực sản xuất, kinh doanh và các tổ chức xã hội khác, bởi nhà trường là một tổ chức đặc biệt, là nơi tạo ra những “sản phẩm” cũng hết sức đặc biệt, đó là nhân cách của con người
1.2.3 Quản lý hoạt động dạy học
Theo tác giả Phan Thị Hồng Vinh: “Quản lý các hoạt động dạy học và giáo dục là những hoạt động có mục đích, có kế hoạch của Hiệu trưởng đến tập thể GV, HS và những lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường nhằm huy động họ tham gia, cộng tác, phối hợp trong các hoạt động của nhà trường giúp quá trình dạy học và giáo dục vận động tối ưu tới các mục tiêu dự kiến”.[27] Dưới sự lãnh đạo, tổ chức, điều khiển của GV, người học tự giác, tích cực tự tổ chức, tự điều khiển hoạt động học tập của mình nhằm thực hiện những nhiệm vụ dạy học Trong hoạt động dạy học, hoạt động dạy của GV có vai trò chủ đạo, hoạt động học của HS có vai trò tự giác, chủ động, tích cực Hoạt động dạy của GV và hoạt động học của HS có liên hệ, tác động lẫn nhau Nếu thiếu một trong hai hoạt động đó việc dạy học không diễn ra
Nội dung quản lý hoạt động dạy học:
- Lập kế hoạch: Xây dựng kế hoạch năm học, kế hoạch hoạt động của các tổ, nhóm chuyên môn, các đoàn thể, hội cha mẹ HS
- Tổ chức: Hoàn thiện cơ cấu các tổ chức, huy động các nguồn nhân lực, vật lực, tài lực để thực hiện kế hoạch
- Chỉ đạo: Việc thực hiện mục tiêu chương trình dạy học, hoạt động bồi
Trang 25dưỡng năng lực sư phạm cho GV, xây dựng nề nếp dạy học đổi mới phương pháp dạy học
- Kiểm tra đánh giá kết quả dạy học và việc thực hiện mục tiêu, kế hoạch dạy học
1.2.4 Phương pháp dạy học
Như chúng ta đã biết PPDH là một thành tố hết sức quan trọng của quá trình dạy học vì nó quyết định trực tiếp đến chất lượng cũng như hiệu quả của quá trình này Cùng một nội dung dạy học trong những hoàn cảnh, điều kiện tương tự nhau nhưng sự hứng thú học tập, tính tự giác, tích cực của HS có thể không giống nhau vì còn phụ thuộc vào PPDH
Theo tác giả Phạm Viết Vượng: “PPDH là tổng hợp các cách thức hoạt động phối hợp, tương tác giữa GV và HS, nhằm giúp HS chiếm lĩnh hệ thống kiến thức khoa học, hình thành hệ thống kỹ năng, kỹ xảo, thực hành sáng tạo
và thái độ chuẩn mực theo mục tiêu của quá trình dạy học” [19, tr.179]
Theo tác giả Thái Duy Tuyên các định nghĩa về PPDH có thể tóm tắt dưới ba dạng sau đây:
- Theo quan điểm điều khiển học, PPDH là cách thức tổ chức hoạt động nhận thức của HS và điều khiển hoạt động này
- Theo quan điểm lôgíc, PPDH là những thủ thuật lôgíc được sử dụng để giúp HS nắm kiến thức kỹ năng, kỹ xảo một cách tự giác
- Theo bản chất của nội dung, PPDH là sự vận động của nội dung dạy học [17, tr.107]
Từ những định nghĩa trên chúng ta có thể hiểu PPDH là tổ hợp các cách thức hoạt động của người dạy và người học trong những điều kiện nhất định nhằm đạt được mục đích dạy học
1.2.5 Ứng dụng CNTT
Theo Luật CNTT thì: “Ứng dụng CNTT là việc sử dụng CNTT vào các hoạt động thuộc lĩnh vực kinh tế - xã hội, đối ngoại, quốc phòng, an ninh và các hoạt động khác nhằm nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả của các
Trang 26- Khai thác, áp dụng các giải pháp, công nghệ mới trong dạy học, trong quản lý;
- Tận dụng tính ưu việt của các phương tiện kỹ thuật hiện đại nhằm thay đổi cách dạy, cách học và cách quản lý;
- Thu thập, xử lý, truyền đưa, lưu trữ, trao đổi thông tin trong quá trình dạy học và quản lý
Ứng dụng CNTT ở trường THPT bao gồm việc sử dụng CNTT vào các hoạt động quản lý và dạy học
Ứng dụng CNTT trong quản lý ở trường THPT: là việc sử dụng CNTT vào các hoạt động quản lý trường THPT, nhằm nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả của các hoạt động quản lý của CBQL trường THPT
Ứng dụng CNTT trong dạy học ở trường THPT: là việc sử dụng CNTT vào các hoạt động giảng dạy của thầy và học tập của trò, nhằm nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả của các hoạt động dạy và học ở trường THPT Ứng dụng CNTT trong dạy học là phương pháp làm tăng giá trị lượng tin, trao đổi tin nhanh hơn, nhiều hơn và hiệu quả hơn Nhờ CNTT để tăng thêm năng lực biểu đạt nội dung bài giảng, qua đó người dạy có thể hình thành phương pháp tư duy sáng tạo và tạo hứng thú cho người học
Như vậy, chúng ta có thể xem ứng dụng CNTT trong dạy học là hoạt động dạy học được diễn ra có sự hỗ trợ của CNTT Trong quá trình đó GV sử dụng CNTT để phát triển trí tưởng tượng của HS; tổ chức, điều khiển, hướng dẫn HS chiếm lĩnh tri thức mới, kỹ năng mới, thái độ mới và cuối cùng là dẫn
Trang 27dắt các em tới một phương pháp học hiệu quả hơn
1.2.6 Quản lý ứng dụng CNTT
Quản lý ứng dụng CNTT là hệ thống những tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý đến khách thể và đối tượng quản lý nhằm ứng dụng có hiệu quả CNTT
Quản lý ứng dụng CNTT ở trường THPT là hệ thống những tác động có
tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý đến khách thể và đối tượng quản
lý nhằm ứng dụng có hiệu quả CNTT ở trường THPT
Quản lý ứng dụng CNTT ở trường THPT thể hiện thông qua những hành động quản lý, trên cơ sở thực hiện các chức năng của chủ thể quản lý, được triển khai thông qua một hệ thống được tổ chức chặt chẽ, hướng tới mục tiêu chung là thay đổi cách quản lý nhà trường, nâng cao chất lượng và hiệu quả quản lý trường THPT
Chủ thể quản lý ứng dụng CNTT ở trường THPT hiểu ở cấp độ tác nghiệp là Hiệu trưởng trường THPT quản lý các phó hiệu trưởng, tổ trưởng chuyên môn, giáo viên, nhân viên và học sinh trong trường; quản lý hệ thống TBDH về CNTT
1.3 Các nội dung ứng dụng Công nghệ thông tin trong dạy học ở các trường THPT
Trong thời đại CNTT với sự chuyển mình nhanh chóng của nền kinh tế tri thức, KH&CN phát triển như vũ bão với sự bùng nổ thông tin thì các bài giảng có nội dung phong phú mới đáp ứng mục tiêu đặt ra Với PPDH truyền thống chủ yếu là giao tiếp giữa thầy và trò, HS sẽ mất dần khả năng làm việc theo nhóm, tính thích nghi kém, vì vậy tính tích cực chủ động tiếp nhận tri thức giảm sút, không đáp ứng được yêu cầu truyền tải nội dung kiến thức bài giảng có tính cập nhật và thời sự Trong bối cảnh đó, nền giáo dục của các nước phát triển trên thế giới đã ứng dụng CNTT trong quá trình dạy học một cách phổ biến và đã đạt được những kết quả mong muốn
Ở Việt Nam, từ những năm 90 của thế kỷ XX Đảng và Chính phủ đã rất
Trang 28quan tâm đến ứng dụng CNTT vào các lĩnh vực cuộc sống nhằm đẩy mạnh công nghiệp hóa và hiện đại hoá đất nước Trong 20 năm đổi mới các Nghị quyết của Đảng, Chính phủ và Chỉ thị Bộ GD&ĐT về ứng dụng CNTT vào quá trình dạy học đã định hướng quan trọng giúp các trường THPT xây dựng
kế hoạch, tăng kinh phí đầu tư CSVC, chỉ đạo, triển khai thực hiện việc ứng dụng và phát triển ứng dụng CNTT trong quá trình dạy học
Người QLGD phải thấy rằng ứng dụng CNTT vào quá trình dạy học để nâng cao chất lượng giáo dục vừa là nhu cầu vừa là động lực phát triển của giáo dục Nó đòi hỏi phải có sự định hướng chiến lược và sự chỉ đạo thống nhất của các nhà quản lý các cấp Mỗi thầy cô giáo phải nhận thức sâu sắc được vai trò và trách nhiệm tích cực tham gia vào quá trình đổi mới giáo dục Đây là nghĩa vụ, trách nhiệm của mỗi người trước những thử thách to lớn trong công cuộc đổi mới, hội nhập và phát triển của đất nước
Ứng dụng CNTT vào hoạt động dạy học như thế nào cho hợp lý và đạt hiệu quả đang là vấn đề được đặt ra
1.3.1 Công nghệ thông tin và truyền thông
* Công nghệ thông tin : là thuật ngữ bao gồm tất cả những dạng công nghệ được dùng để xây dựng, sắp xếp, biến đổi, và sử dụng thông tin trong các hình thức đa dạng của nó
Công nghệ thông tin là một tập hợp các phương pháp khoa học, các phương tiện và công cụ kỹ thuật hiện đại - chủ yếu là kỹ thuật máy tính và viễn thông nhằm tổ chức khai thác và sử dụng có hiệu quả nguồn tài nguyên thông tin rất phong phú và tiềm năng trong mọi lĩnh vực hoạt động của con người và xã hội
Toàn bộ các thiết bị điện tử và cơ khí của máy tính được gọi chung là phần cứng Các chương trình chạy trên máy tính được gọi là phần mềm
* Internet: là một hệ thống toàn cầu của các mạng máy tính được kết nối
Các máy tính và các mạng máy tính trao đổi thông tin sử dụng TCP/IP (Transmission ControlProtocol/Internet Protocol - Giao thức TCP/IP) để liên
Trang 29lạc với nhau Các máy tính được kết nối nhờ mạng viễn thông và Internet có thể được sử dụng để gửi nhận thư điện tử (Email), truyền các tập tin và truy cập thông tin trên mạng toàn cầu
1.3.2 Môi trường học tập đa phương tiện
Thuật ngữ ĐPT được dịch ra từ cụm từ Multimedia Theo từ điển Anh Việt: Multi có nghĩa là nhiều, đa chiều và Media có nghĩa là phương tiện truyền thông Vì thế ta có thể hiểu Multimedia có nghĩa là tổ hợp của nhiều phương tiện truyền thông gộp lại Và môi trường học tập ĐPT là môi trường học tập được trang bị, lắp đặt các phương tiện truyền thông và các điều kiện đảm bảo cho các phương tiện đó hoạt động tốt Môi trường dạy học ĐPT là môi trường ở đó diễn ra quá trình giảng dạy và học tập được sự hỗ trợ của CNTT, ở đó diễn ra tương tác đa chiều: Những tương tác hai chiều giữa GV –
-HS, giữa phương tiện – -HS, giữa GV - phương tiện Chiều thứ ba bao gồm: những tác động qua lại giữa GV và mối quan hệ HS - phương tiện, giữa HS
và mối quan hệ GV - phương tiện, giữa phương tiện với mối quan hệ GV -
Như vậy có thể hiểu: TBDH là hệ thống đối tượng vật chất và tất cả những phương tiện kĩ thuật được GV và HS sử dụng trong quá trình dạy học TBDH chịu sự chi phối của nội dung và PPDH
Trang 30Các loại hình thiết bị dạy học ở trường phổ thông chia thành 2 nhóm lớn: Thiết bị dạy học dùng chung và Thiết bị dạy học bộ môn
TBDH hiện đại đóng vai trò hết sức quan trọng trong việc tổ chức hoạt động dạy học ở các cơ sở giáo dục, nó là công cụ hỗ trợ cho GV đổi mới PPDH Khi các TBDH hiện đại được tích hợp vào trong các phòng học để tạo ra môi trường học tập ĐPT cho HS thì nhiệm vụ đổi mới PPDH của các nhà trường phổ thông sẽ trở nên đơn giản hơn rất nhiều
Theo các tác giả Phó Đức Hòa và Ngô Quang Sơn:
- Sử dụng ĐPT trong dạy học mang lại cho đối tượng người học nguồn thông tin phong phú và sinh động, mỗi giờ dạy sẽ trở nên trực quan hơn, giảm bớt tính trừu tượng của các nội dung kiến thức, thu hút sự tập trung, niềm say
mê, hứng thú của người học, làm cho người học hiểu bài hơn và nhớ lâu hơn
- ĐPT giúp người dạy có thể cung cấp nội dung kiến thức cho người học bằng nhiều con đường khác nhau Việc tiếp thu kiến thức sẽ trở nên có hiệu quả hơn khi người học nhận được lượng thông tin từ nhiều nguồn tri giác khác nhau
- Ứng dụng CNTT trong môi trường dạy học ĐPT đã trở thành một yếu
tố quan trọng, là một công cụ hữu hiệu để đổi mới PPDH nhằm nâng cao chất lượng dạy học Nó làm tăng tính tích cực, chủ động của người học trong quá
Trang 31trình tư duy lĩnh hội tri thức mới [10, tr.92]
1.3.3 Phần mềm hỗ trợ dạy học
Phần mềm hỗ trợ dạy học (PMDH) là PM được thiết kế nhằm hỗ trợ có hiệu quả việc dạy và học của GV, HS bám sát mục tiêu, nội dung chương trình SGK [11,tr.131]
PMDH có thể hỗ trợ cho GV soạn giáo án, thiết kế các đoạn phim, các bức ảnh tĩnh, động, tạo ra các hình ảnh 3 chiều, mô phỏng thí nghiệm Trong
số những PMDH có những phần mềm được ứng dụng vào trong dạy học cho hầu hết các môn học như phần mềm Office, phần mềm Macromedia Flash (dùng để soạn thảo văn bản và trình chiếu văn bản); phần mềm Total Video Converter dùng để thiết kế các đoạn Video; phần mềm Proshow Gold dùng để thiết kế và trình chiếu các bức ảnh, các đoạn Video Clips… Cũng có một số phần mềm ứng dụng được xây dựng để ứng dụng cho từng môn học riêng biệt, như phần mềm Cabri, Mapble, Geometer’s Sketchpad… được ứng dụng trong dạy học môn Toán, phần mềm Crocodile Physics được ứng dụng trong dạy học môn Vật lý, phần mềm Study English được ứng dụng trong dạy học môn Tiếng Anh; …
Một trong những mục tiêu của việc đổi mới PPDH đó là làm cho mỗi giờ dạy của GV trở nên sinh động, phát huy tính tích cực, chủ động và sáng tạo của của HS Để thực hiện được mục tiêu này, thì việc sử dụng những tính năng của các phần mềm dạy học là hết sức cần thiết Với đặc tính của mình, các PMDH có thể tạo ra những nguồn thông tin phong phú và đặc biệt là rất trực quan, sống động So với các bức ảnh tĩnh có trong sách giáo khoa thì những bức ảnh động, những đoạn Video Clips sẽ giúp HS tiếp nhận kiến thức của bài học một cách chân thực hơn, giúp HS hiểu bài sâu sắc hơn Thậm chí còn có một số PMDH cho phép HS tương tác với máy tính Để HS không chỉ được nghe thấy, được nhìn thấy mà còn có thể được trực tiếp thao tác trên máy vi tính, tự mình khám phá tìm ra nguồn tri thức mới cho bản thân
Vậy quản lý việc sử dụng các PMDH vào quá trình tổ chức hoạt động
Trang 32dạy học của GV là một trong những nhiệm vụ quan trọng của CBQL nhà trường trong việc quản lý ứng dụng CNTT trong dạy học
1.3.4 Khai thác mạng Internet hỗ trợ dạy học
Trong xã hội thông tin, Internet là một kho tài nguyên thông tin chuyên môn vô tận và vô cùng cần thiết trong hoạt động nghề nghiệp của GV Khai thác tài nguyên Internet để dạy học là một kỹ năng trọng yếu của GV trong việc ứng dụng CNTT trong dạy học Do đó, có thể nói kỹ năng khai thác, sử dụng Internet là một trong những kỹ năng quan trọng nhất của GV hiện nay
Nó sẽ giúp người GV trong việc tìm kiếm, xử lý thông tin, trong trao đổi với đồng nghiệp, HS Nhờ có Internet, GV có thể tham khảo các kiến thức trên mạng bất cứ lúc nào Internet mở ra một triển vọng to lớn trên con đường tự nâng cao kiến thức, tạo cho GV cơ hội trong việc tự học, tự phát triển năng lực nghề nghiệp
Qua Internet, GV còn có thể trao đổi thông tin bằng hộp thư điện tử (Email) GV cần biết thao tác cơ bản trong việc nhận, xem và gửi thư điện tử,
đồng thời cần có ý thức và cách thức làm việc thông qua hộp thư điện tử: ra bài tập về nhà, nhắc nhở công việc, giải đáp thắc mắc cá nhân
Thông qua Internet, GV còn giao tiếp và hợp tác trong chuyên môn với đồng nghiệp, với các đối tác quan trọng khác như phụ huynh HS, các nhà QLGD và các lực lượng giáo dục khác
1.3.5 Giáo án dạy học tích cực có ứng dụng CNTT và giáo án dạy học tích cực điện tử
1.3.5.1 Giáo án
Giáo án hay kế hoạch dạy học là dàn ý lên lớp của GV bao gồm đề bài của giờ lên lớp, mục đích giáo dục và giáo dưỡng, nội dung, phương pháp, thiết bị, những hoạt động cụ thể của thầy và trò, khâu kiểm tra đánh giá… tất
cả được ghi ngắn gọn theo trình tự thực tế sẽ diễn ra trong giờ lên lớp Giáo
án được thầy giáo biên soạn trong giai đoạn chuẩn bị lên lớp và quyết định phần lớn sự thành công của bài học” [22, tr.119]
Trang 331.3.5.2 Giáo án dạy học tích cực
Theo tác giả Ngô Quang Sơn: Giáo án DHTC là giáo án (kế hoạch bài học) được thiết kế theo hướng tích cực hóa quá trình dạy học; biến quá trình dạy học thành quá trình dạy học tích cực; tích cực hóa quá trình nhận thức, quá trình tư duy của HS
Cấu trúc của một giáo án DHTC bao gồm:
+ Xác định mục đích, yêu cầu theo kiến thức, kỹ năng, thái độ
+ Chuẩn bị TBDH: TBDH truyền thống và TBDH có ứng dụng CNTT + Xác định những phương pháp, biện pháp sẽ được sử dụng trong quá trình giảng dạy
+ Tiến trình bài học: giải quyết các nhiệm vụ nhận thức ( mục tiêu nhận thức) Chia thành các hoạt động để lĩnh hội các kiến thức cơ bản:
* Hoạt động nhận thức 1: Nội dung hoạt động để thực hiện mục tiêu kiến thức 1:
- Thao tác định hướng của GV
- Thao tác thi công của HS
- Thao tác định hướng của GV
- Thao tác thi công của HS
Cho đến khi hoàn thành nhiệm vụ nhận thức 1 này
Hoạt động nhận thức 2: Nội dung hoạt động để thực hiện mục tiêu kiến thức 2:
- Thao tác định hướng của GV
- Thao tác thi công của HS
- Thao tác định hướng của GV
- Thao tác thi công của HS
Cho đến khi hoàn thành nhiệm vụ nhận thức 2 này [11, tr.172]
Giáo án DHTC thiết kế được phải thể hiện những đặc trưng cơ bản của
Trang 34các PPDH tích cực, đó là:
+ Người học được đặt vào trong các tình huống có vấn đề, được trực tiếp quan sát, làm thí nghiệm, thảo luận để giải quyết vấn đề theo suy nghĩ của bản thân Từ đó, không những nắm được tri thức, kỹ năng, kỹ xảo mà còn nắm được cách thức và con đường đi tới tri thức, kỹ năng, kỹ xảo ấy
+ Tạo cho người học động cơ hứng thú học tập, rèn kỹ năng, thói quen ý chí tự học để khơi dậy nội lực vốn có ở họ
+ Nâng cao khả năng học tập hợp tác ở người học trong hoạt động học tập theo nhóm, bằng việc tạo ra các tình huống học tập có vấn đề mà để giải quyết các tình huống có vấn đề này phải có sự phối hợp giữa các thành viên trong nhóm
+ Phát triển ở người học kỹ năng tự đánh giá kết quả học tập của bản thân, hình thành được kỹ năng tự điều chỉnh hoạt động học tập của mình
1.3.5.3 Giáo án dạy học tích cực có ứng dụng CNTT
Trên thực tế, hiện có nhiều GV coi bản trình chiếu được thiết kế trên phần mềm trình diễn MS.PowerPoint chính là giáo án điện tử, ít chú ý đến việc tích hợp được các phương pháp, biện pháp sư phạm vào trong giáo án
Sử dụng gần hết cả tiết học để trình chiếu nội dung dạy học thông qua hệ thống dạy học đa phương tiện (Máy tính - Máy chiếu đa năng - Màn chiếu)
mà không có sự linh hoạt trong việc sử dụng các bảng viết phấn thông thường, bảng phụ Với hình thức dạy học như trên, không những không đem lại hiệu quả mà thậm chí còn làm giảm chất lượng của các giờ dạy Để khắc phục nhược điểm này, CBQL cần giúp GV hiểu rõ bản chất của giáo án DHTC có ứng dụng CNTT
Tác giả Ngô Quang Sơn đã quan niệm: “Giáo án dạy học tích cực có
ứng dụng CNTT&TT là kế hoạch bài học, là kịch bản sư phạm đã được giáo viên chuẩn bị chi tiết trước khi lên lớp, thể hiện được mối quan hệ sư phạm tương tác giữa GV và HS, HS và HS (Giáo án dạy học tích cực) và một số nội dung kiến thức, kỹ năng quan trọng cần hình thành cho HS trong quá trình
Trang 35dạy học lại quá trìu tượng đối với các em mà các loại hình TBDH truyền thống (tranh ảnh giáo khoa, bản đồ, biểu đồ, mô hình, mẫu vật, thí nghiệm thật ) không thể hiện nổi thì sẽ được số hoá (ứng dụng CNTT) và trở thành các thí nghiệm ảo, thí nghiệm mô phỏng, mô hình mô phỏng đơn giản hay các đoạn Video Clip để trình chiếu trong một thời gian rất ngắn cho HS xem, đảm bảo phù hợp với nhu cầu nhận thức của HS, giúp cho HS tự mình chiếm lĩnh các kiến thức và kỹ năng mới”
Như vậy, chúng ta có thể hiểu giáo án DHTC có ứng dụng CNTT trước hết phải là một giáo án thể hiện được đầy đủ những đặc trưng cơ bản của một giáo án DHTC và có ứng dụng CNTT, ngoài ra phải tích hợp thêm được các bức ảnh tĩnh, ảnh động, các đoạn Video Clip… khi có nhu cầu thực sự cần thiết
Để phát huy hiệu quả của giáo án DHTC có ứng dụng CNTT thì GV nên giảng dạy trong môi trường học tập ĐPT vì ở đó sự tương tác giữa GV và HS, giữa GV và các phương tiện truyền thông, giữa HS và các phương tiện truyền thông tạo nhiều thuận lợi để GV thực hiện bài giảng hấp dẫn [11, tr.172]
Sơ đồ 1.3: Sự tương tác diễn ra trong quá trình dạy học bằng
GADHTC có ứng dụng CNTT
1.3.5.4 Giáo án dạy học tích cực điện tử
Giáo án dạy học tích cực điện tử (GADHTCĐT) là kế hoạch bài học, là kịch bản sư phạm đã được GV chuẩn bị chi tiết trước khi lên lớp, thể hiện được mối quan hệ sư phạm tương tác giữa GV và HS, HS và HS (Giáo án dạy
Người dạy
Môi trường học tập ĐPT
Trang 36học tích cực) và một số nội dung kiến thức, kỹ năng quan trọng cần hình thành cho HS trong quá trình dạy học lại quá trìu tượng đối với các em mà các loại hình TBDH truyền thống (tranh ảnh giáo khoa, bản đồ, biểu đồ, mô hình, mẫu vật, thí nghiệm thật ) không thể hiện nổi thì sẽ được số hoá (ứng dụng CNTT) và trở thành các thí nghiệm ảo, thí nghiệm mô phỏng, mô hình
mô phỏng (tư liệu điện tử) và tạo được sự tương tác của HS với các tư liệu điện tử này HS có thể thay đổi các thông số đưa vào nội dung tư liệu điện tử
để thu được những kết quả nghiên cứu khác nhau Các tư liệu điện tử này tạo được sự tương tác của HS với máy tính đã giúp HS tự mình phát hiện kiến thức và hình thành kĩ năng mới [11, tr.174]
Có thể khái quát: GADHTCĐT là GADHTC được thiết kế có sự tích hợp những nội dung ứng dụng CNTT không chỉ cho HS nghe, nhìn, mà còn cho HS tương tác, tức là ứng dụng CNTT ở mức độ cao Xét về hình thức, giáo án DHTC điện tử cũng giống như giáo án DHTC có ứng dụng CNTT vì chúng đều là những giáo án DHTC có tích hợp thêm yếu tố công nghệ
Để phát huy hiệu quả của giáo án DHTCĐT thì GV cũng nên giảng dạy trong môi trường học tập ĐPT Sự tương tác diễn ra trong khi giảng dạy bằng giáo án DHTC điện tử ở môi trường học tập ĐPT cũng tương tự như khi giảng dạy bằng giáo án DHTC có ứng dụng CNTT
1.4 Các nội dung quản lý ứng dụng Công nghệ Thông tin trong dạy học
ở trường THPT
Quản lý ứng dụng CNTT trong quá trình dạy học với bản chất là nhằm nâng cao chất lượng dạy học Ứng dụng CNTT hiệu quả trong dạy học là sử dụng CSVC trường học có ứng dụng CNTT nói chung và TBDH có ứng dụng CNTT (TBDH) hiện đại nói riêng trong quá trình dạy học tích cực Hiện nay, việc làm này vẫn còn nhiều bất cập Khi nói đến ứng dụng CNTT trong dạy học, các CBQLGD ở các trường PT nói chung và các trường THPT nói riêng trong nhiều trường hợp vẫn còn lạm dụng CNTT (Ví dụ: sử dụng bản trình chiếu được quan niệm là sử dụng GAĐT, sử dụng máy tính kết nối với máy
Trang 37chiếu đa năng, chiếu các nội dung cho HS xem mặc dù những nội dung đó có thể tiến hành thí nghiệm thật, có thể viết trên bảng tĩnh… ) Như vậy, xét về mặt bản chất, ứng dụng CNTT trong dạy học và quản lý ứng dụng CNTT là nhằm đưa vào các nội dung có ứng dụng CNTT một cách hiệu quả mà những nội dung đó không thể hiện được trên bảng tĩnh, không tiến hành bằng thí nghiệm truyền thống Giáo án DHTC nhằm tích cực hóa quá trình nhận thức, quá trình tư duy của HS, HS sẽ tự mình phát hiện và chiếm lĩnh tri thức mới Hiệu trưởng các trường THPT quản lý ứng dụng CNTT trong dạy học sẽ tập trung vào các đối tượng, nội dung quản lý sau:
1.4.1 Quản lý việc xây dựng và sử dụng phòng học đa phương tiện
1.4.1.1 Quản lý việc xây dựng phòng học đa phương tiện
Để tiến hành quản lý việc xây dựng phòng học ĐPT, CBQL nhà trường cần phải lưu ý những điểm sau:
- Phòng học ĐPT, trước hết phải là một phòng học với đầy đủ các chức năng của một phòng học truyền thống đồng thời có tích hợp thêm các TBDH hiện đại như: máy chiếu bóng, máy chiếu qua đầu, máy chiếu đa năng, màn chiếu, bản trong, bảng kỹ thuật số, hệ thống loa, tai nghe, máy ghi âm, máy quay phim, bảng cảm ứng và đặc biệt là không thể thiếu các máy vi tính có kết nối mạng Internet, kết nối mạng Lan với nhau
- Phòng học ĐPT được xây dựng phải đảm bảo có sự kết hợp hài hòa giữa yếu tố sư phạm và yếu tố công nghệ một cách khoa học Đồng thời các phòng học ĐPT phải phù hợp với việc tổ chức hoạt động dạy học cho hầu hết các môn học hiện có trong các nhà trường phổ thông hiện nay
- Để xây dựng được một phòng học ĐPT rất tốn kém, với khả năng tài chính của các trường THPT thì khó có thể xây dựng được một phòng học ĐPT và càng khó khăn trong việc xây dựng cả hệ thống các phòng học ĐPT cho nhà trường Điều này đòi hỏi Ban giám hiệu nhà trường, đặc biệt là Hiệu trưởng phải hết sức năng động Một mặt tranh thủ sự giúp đỡ của cấp trên, mặt khác cũng phải làm tốt công tác xã hội hóa giáo dục để tranh thủ tối đa sự
Trang 38đồng tình ủng hộ cả về tinh thần lẫn CSVC cho nhà trường
Khi tiến hành xây dựng phòng học ĐPT cho nhà trường, CBQL cần phải nghiên cứu kỹ tình hình thực tế của nhà trường về CSVC hiện có, nhu cầu thực tế về TBDH hiện đại cho nhà trường có tính đến tiến trình phát triển của nhà trường và sự lạc hậu của các TBDH hiện đại sau này Trên cơ sở thực
tế của nhà trường, hiệu trưởng mới lập kế hoạch cho tiến hành xây dựng phòng học ĐPT sao cho tránh được những lãng phí không cần thiết và phục
vụ tốt cho nhu cầu dạy học của nhà trường
1.4.1.2 Quản lý việc sử dụng phòng học đa phương tiện
Ngay sau khi quản lý thành công việc xây dựng phòng học ĐPT thì Hiệu trưởng phải tiến hành quản lý đưa các phòng học này vào sử dụng sao cho đạt hiệu quả cao nhất Muốn các phòng học ĐPT hoạt động có hiệu quả, Hiệu trưởng nhà trường cần phải làm tốt những công việc sau:
- Lên kế hoạch cho toàn bộ cán bộ GV, NV của nhà trường tham gia lớp tập huấn về cách sử dụng hiệu quả các TBDH hiện đại được trang bị trong phòng học ĐPT
- Cử GV có trình độ tin học của nhà trường để hỗ trợ GV về mặt kỹ thuật trong quá trình GV sử dụng phòng học ĐPT tổ chức hoạt động dạy học
- Nghiên cứu đề ra nội quy của phòng học ĐPT một cách chặt chẽ để cho tất cả mọi người đều có ý thức bảo vệ các thiết bị có trong phòng học ĐPT Cần phải có kế hoạch bảo dưỡng định kỳ những phương tiện này
- Phải thường xuyên quan tâm đến chất lượng dạy học của GV và HS khi họ tham gia giảng dạy và học tập trong phòng học ĐPT Phải làm sao để
GV và HS thấy thực sự hứng thú và mong muốn được giảng dạy và học tập trong phòng học ĐPT, chứ không phải là thực hiện một cách miễn cưỡng
1.4.2 Quản lý việc sử dụng các phần mềm hỗ trợ dạy học
Để GV của nhà trường có thể khai thác tính năng của các phần mềm được diễn ra theo chiều hướng thuận lợi, mỗi nhà trường nên tạo lập một nhóm GV có kỹ năng về tin học chuyên nghiên cứu ứng dụng các PMDH
Trang 39Sau một thời gian nghiên cứu, tìm hiểu về các PMDH, những GV này phải có trách nhiệm về triển khai những điều mà họ tìm hiểu được cho các thành viên trong tổ chuyên môn, cùng những GV khác trong tổ chuyên môn tiếp tục nghiên cứu và đi đến thống nhất một số nội dung cơ bản của việc ứng dụng các phần mềm để thiết kế tư liệu điện tử tích hợp vào GADHTC có ứng dụng CNTT
1.4.3 Quản lý việc thiết kế và sử dụng giáo án dạy học tích cực có ứng dụng CNTT
1.4.3.1 Quản lý việc thiết kế giáo án dạy học tích cực có ứng dụng CNTT
a) Lập kế hoạch thiết kế GADHTC có ứng dụng CNTT
Trong kế hoạch thiết kế GADHTC có ứng dụng CNTT phải đảm bảo mục tiêu, kế hoạch năm học của nhà trường, trên cơ sở kế hoạch chung ấy, CBQL chỉ đạo cho các tổ chuyên môn lập kế hoạch thực hiện và đẩy mạnh việc thiết kế GADHTC có ứng dụng CNTT Khi lập kế hoạch thiết kế GADHTC có ứng dụng CNTT, CBQL cần dựa trên các nguyên tắc sau: Phù hợp với điều kiện và khả năng thực tế của đội ngũ CBGV nhà trường; Gắn với từng chủ đề, từng bài cụ thể; Sử dụng hiệu quả PTDH hiện đại; Phù hợp với trình độ nhận thức của đối tượng HS nhà trường
Mỗi tổ chuyên môn tiến hành các hoạt động có liên quan chặt chẽ tới việc thực hiện các mục tiêu thiết kế GADHTC có ứng dụng CNTT; đồng thời trên cơ sở đó giám sát và đánh giá việc thực hiện các mục tiêu đã đặt ra, trong những điều kiện cụ thể có thể điều chỉnh các hoạt động sao cho phù hợp b) Tổ chức, chỉ đạo thực hiện việc thiết kế GADHTC có ứng dụng CNTT Khi CBQL tiến hành chỉ đạo việc thiết kế GADHTC có ứng dụng CNTT phải định hướng cho GV tuân thủ các nguyên tắc của một GADHTC
và ứng dụng CNTT một cách phù hợp đối với từng nội dung kiến thức có trong bài dạy Để làm được điều này, CBQL cần hướng dẫn GV làm tốt những công việc sau:
+ Tìm hiểu nội dung chủ đề, xác định mục tiêu, soạn giáo án
Trang 40+ Xác định phần nội dung nào của bài cần sự hỗ trợ của CNTT
+ Thu thập và xử lý chi tiết các tư liệu liên quan đến bài dạy
+ Kết quả: Đảm bảo sự chính xác về kiến thức, hình thức trình bày bài giảng trực quan, khoa học có sự cân đối giữa yếu tố công nghệ và yếu tố sư phạm
Trong đó cần lưu ý: Đảm bảo nguyên tắc về mục tiêu bài dạy, thời gian
và các bước lên lớp Cân nhắc khi sử dụng các TBDH hiện đại cho các nội dung kiến thức có trong bài dạy, không nên sử dụng trong toàn bộ tiết học Các nội dung kiến thức, đoạn Video, nhạc, tiếng động đưa vào trình chiếu phải được chọn lọc chính xác, dễ hiểu, logic
- Tổ chức những hội thảo trao đổi kinh nghiệm ứng dụng CNTT trong dạy học nhằm tranh thủ các ý kiến đóng góp của các nhà giáo, nhà nghiên cứu
và của người học để GADHTC có ứng dụng CNTT của GV nhà trường thiết
kế sẽ ngày một chất lượng hơn
c) Kiểm tra, đánh giá việc thiết kế GADHTC có ứng dụng CNTT
Việc kiểm tra, đánh giá phải được thực hiện thường xuyên đảm bảo khách quan, chính xác Trong kiểm tra đánh giá cần có cơ chế khen thưởng phù hợp nhằm khuyến khích động viên CBGV tham gia quy trình thiết kế GADHTC có ứng dụng CNTT
1.4.3.2 Quản lý việc sử dụng GADHTC có ứng dụng CNTT
- Có kế hoạch thao giảng, giao lưu học hỏi nhằm nâng cao trình độ CBGV