Thực tiễn hoạt động nghiên cứu khoa học và quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học của sinh viên ở trường Đại học Công nghệ - ĐHQGHN Trường Đại học Công nghệ - ĐHQGHN xác định mục tiêu tr
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
NGUYỄN THỊ HỒNG
QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CỦA SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ -
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ GIÁO DỤC
HÀ NỘI – 2017
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
NGUYỄN THỊ HỒNG
QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CỦA SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ -
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ GIÁO DỤC CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ GIÁO DỤC
Mã số: 60 14 01 14
Cán bộ hướng dẫn khoa học: PGS.TS Trịnh Văn Minh
HÀ NỘI - 2017
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thiện luận văn: “Quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học của
sinh viên trường Đại học Công nghệ - ĐHQGHN” trước hết tôi bày tỏ lòng biết
ơn sâu sắc đối với PGS.TS Trịnh Văn Minh người đã tận tình hướng dẫn tạo điều kiện cho tôi nghiên cứu hoàn thành luận văn
Tôi xin trân trọng cảm ơn thầy cô giáo T r ư ờ n g Đ ạ i h ọ c G iáo Dục, Đại học Quốc gia Hà Nội và đặc biệt là các thầy cô giáo trực tiếp giảng dạy các chuyên đề của toàn khóa học đã tạo điều kiện, đóng góp ý kiến cho tôi trong suốt quá trình hoàn thành luận văn
Tôi cũng xin trân trọng cảm ơn tới các đơn vị trong trường Đại học Giáo Dục - Đại học Quốc gia Hà Nội đã giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn
Em xin cảm ơn anh, c h ị đồng nghiệp Trường Đại học Công Nghệ - ĐHQGHN Hà Nội đã động viên, giúp đỡ tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu
và hòan thành luận văn
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Hồng
Trang 4BẢNG KÝ HIỆU VÀ CÁC CHỮ VIẾT TẮT
GD&ĐT Giáo dục & Đào tạo
Trang 5DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1 Thống kê giải thưởng sinh viên/ giảng viên NCKH 37 Bảng 2.2 Vai trò của hoạt động NCKH đối với sinh viên 41 Bảng 2.3 Mức độ thực hiện các loại hình NCKH của SV 43 Bảng 2.4 Các hình thức nghiên cứu khoa học của sinh viên có tác dụng như thế nào tới chất lượng đào tạo của nhà trường ( Điều tra đối với CBQL, GV) 44 Bảng 2.5 Tác dụng của hoạt động nghiên cứu khoa học 46 trong chương trình đào tạo của nhà trường 46 Bảng 2.6 Mức độ hứng thú của sinh viên khi tham gia hoạt động NCKH 48 Bảng 2.7 Kỹ năng của sinh viên khi tham gia hoạt động NCKH 50 Bảng 2.8 Thuận lợi của SV khi tham gia hoạt động NCKH 52 Bảng 2.9 Khó khăn của SV khi tham gia hoạt động NCKH 53 Bảng 2.10 Vai trò của quản lý đối với hoạt động nghiên cứu khoa học của sinh viên 54 Bảng 2.11 Thực trạng quản lý các hình thức nghiên cứu khoa học của sinh viên (CBQL,GV) 58 Bảng 2.12 Mức độ ảnh hưởng của công tác Quản lý các điều kiện hỗ trợ cho hoạt động NCKH của SV đến chất lượng đào tạo 62 Bảng 3.1 Mức độ cấp thiết của các biện pháp quản lý được đề xuất đối với 88 hoạt động nghiên cứu khoa học của sinh viên 88 Bảng 3.2 Mức độ khả thi của các biện pháp quản lý được đề xuất đối với 90 hoạt động nghiên cứu khoa học của sinh viên 90
Trang 6DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ VÀ SƠ ĐỒ
Sơ đồ 1.1 Khái niệm quản lí giáo dục 13
Biểu đồ 2.1 Mức độ quan trọng của hoạt động NCKH 42
Biểu đồ 2.2 Mức độ thực hiện các hình thức nghiên cứu khoa học 46
Biểu đồ 2.3 Mức độ hứng thú của sinh viên khi tham gia hoạt động NCKH 49
Biểu đồ 2.4 Mức độ quan trọng của quản lý đối với hoạt động nghiên cứu 55
khoa học của sinh viên 55
Biểu đồ 2.5 Thực trạng quản lý các hình thức nghiên cứu khoa học của sinh viên 60 Biểu đồ 2.6 Mức độ ảnh hưởng của công tác Quản lý các điều kiện hỗ trợ cho hoạt động NCKH của SV đến chất lượng đào tạo 63
Biều đồ 3.1 So sánh kết quả về tính khả thi và cấp thiết của từng biện pháp 91 quản lý hoạt động NCKH của SV 91
Trang 7MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN i
BẢNG KÝ HIỆU VÀ CÁC CHỮ VIẾT TẮT ii
DANH MỤC CÁC BẢNG iii
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ VÀ SƠ ĐỒ iv
MỞ ĐẦU 1
1.Lý do chọn đề tài 1
2.Mục đích nghiên cứu 3
3.Khách thể nghiên cứu, đối tượng nghiên cứu 4
4.Phạm vi nghiên cứu 4
5.Câu hỏi nghiên cứu 4
6.Giả thuyết nghiên cứu 4
7.Nhiệm vụ nghiên cứu 5
8.Phương pháp nghiên cứu 5
9.Những đóng góp của đề tài hay ý nghĩa khoa học 6
10.Cấu trúc đề tài 6
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CỦA SINH VIÊN ĐẠI HỌC 7
1.1.Tổng quan nghiên cứu vấn đề 7
1.2.Một số khái niệm cơ bản 10
1.2.1.Quản lý và Quản lý giáo dục 10
1.2.2.Sinh viên 14
1.2.3.Khoa học, nghiên cứu khoa học và quản lý hoạt động NCKH của SV 14
1.3.Lý luận về hoạt động Nghiên cứu khoa học của sinh viên 19
1.3.1.Mục tiêu hoạt động NCKH của SV 19
1.3.2.Nội dung của hoạt động NCKH của SV 20
1.3.3.Hình thức, phương pháp hoạt động NCKH của SV 23
1.4.Lý luận về quản lý hoạt động NCKH của SV 26
Trang 81.4.1.Quản lý mục tiêu hoạt động NCKH của SV 26
1.4.2.Quản lý nội dung hoạt động NCKH của SV 26
1.4.3.Quản lý hình thức, phương pháp NCKH 27
1.4.4.Quản lý kiểm tra, đánh giá hoạt động NCKH của SV 27
1.4.5.Quản lý các điều kiện hỗ trợ cho hoạt động NCKH của SV 28
1.5.Các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động NCKH của SV 28
1.5.1.Năng lực học tập - NCKH của SV 28
1.5.2.Năng lực NCKH của cán bộ GV 29
1.5.3.Yếu tố thuộc về môi trường quản lý 30
1.5.4.Yếu tố về các điều kiện hỗ trợ cho hoạt động nghiên cứu khoa học của sinh viên 32
Tiểu kết chương 1 33
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CỦA SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ - ĐHQGHN 34
2.1 Khái quát về Trường Đại học Công nghệ - ĐHQGHN 34
2.1.1 Mục tiêu đào tạo của Trường Đại học Công nghệ - ĐHQGHN 35
2.1.2 Khái quát về hoạt động KHCN và NCKH của Trường Đại học Công nghệ - ĐHQGHN 36
2.2 Tổ chức khảo sát thực trạng 38
2.2.1 Mục tiêu khảo sát 38
2.2.2 Nội dung khảo sát 39
2.2.3 Hình thức khảo sát 39
2.2.4 Công cụ phân tích, trình bày khảo sát 39
2.3 Thực trạng hoạt động NCKH của SV Trường đại học Công nghệ 39
2.3.1 Phương hướng công tác NCKH của SV Trường đại học Công nghệ - ĐHQGHN 39
2.3.2 Nhận thức về hoạt động NCKH của SV 41
2.3.3 Mục tiêu hoạt động NCKH của SV 42
2.3.4 Hình thức và quy trình hoạt động NCKH của SV 43
2.3.5 Nội dung hoạt động NCKH của SV 46
2.3.6 Mức độ hứng thú của SV về hoạt động NCKH 47
Trang 92.3.7 Kỹ năng NCKH của SV 49
2.3.8 Thuận lợi và khó khăn của SV khi tham gia hoạt động NCKH 52
2.4 Thực trạng về quản lý hoạt động NCKH của SV 54
2.4.1 Nhận thức về việc quản lý hoạt động NCKH của SV 54
2.4.2 Thực trạng quản lý mục tiêu NCKH 55
2.4.3 Thực trạng quản lý nội dung NCKH 57
2.4.4 Thực trạng quản lý hình thức, phương pháp NCKH 58
2.4.5 Thực trạng việc kiểm tra đánh giá hoạt động NCKH của SV 60
2.4.6 Thực trạng việc Quản lý các điều kiện hỗ trợ cho hoạt động NCKH của SV 61 2.5 Đánh giá chung về quản lý hoạt động NCKH của SV 63
2.5.2 Mặt mạnh 64
2.5.2 Mặt yếu 64
2.5.3 Thuận lợi 64
2.5.4 Khó khăn 65
Tiểu kết chương 2 66
CHƯƠNG 3: BIỆN PHÁP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CỦA SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI 67
3.1 Căn cứ đề xuất biện pháp 67
3.1.1 Căn cứ vào mục tiêu đào tạo bậc đại học 67
3.1.2 Căn cứ chiến lược phát triển của nhà trường, điều kiện, phương tiện phục vụ cho hoạt động giảng dạy và nghiên cứu khoa học 68
3.1.3 Căn cứ đặc điểm nhận thức của SV trường Đại học Công nghệ - ĐHQGHN.69 3.2 Một số biện pháp quản lý hoạt động NCKH của SV trường Đại học Công nghệ - ĐHQGHN 70
3.2.1 Nâng cao nhận thức cho giảng viên, sinh viên về tầm quan trọng của hoạt dộng NCKH 70
3.2.2 Bồi dưỡng kiến thức và kỹ năng cho đội ngũ giảng viên, sinh viên về hoạt động NCKH 73
Trang 103.2.3 Hoàn thiện và nâng cao công tác quản lý hoạt động NCKH của SV theo định
hường của Nhà trường 79
3.2.4 Hoàn thiện cơ chế quản lý các điều kiện hỗ trợ cho hoạt động NCKH của SV… 85
3.3 Mối quan hệ giữa các biện pháp 87
3.4 Khảo nghiệm tính khả thi và tính cấp thiết các biện pháp quản lý 88
3.4.1 Mục đích 88
3.4.2 Kết quả khảo sát 88
Tiểu kết chương 3 93
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 94
1.Kết luận 94
2.Khuyến nghị 96
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 98
PHỤ LỤC 101
Trang 11Văn kiện Đại hội XI của Đảng cộng sản Việt Nam đã chỉ rõ nhiệm vụ của
ngành giáo dục: “ Phát triển nhanh nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao, tập trung vào việc đổi mới căn bản toàn diện nền giáo dục quốc dân; gắn kết chặt chẽ phát triển nguồn nhân lực với phát triển và ứng dụng khoa học, công nghệ”
Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa XI đã họp hội nghị lần thứ VI để xem
xét thảo luận về đề án “ Đổi mới căn bản toàn diện giáo dục và đào tạo đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế” Ban chấp hành trung ương nhận định: “Chất lượng giáo dục và đào tạo nhìn chung còn thấp, nhất là đào tạo đại học và dạy nghề chưa đáp ứng được yêu cầu sự nghiệp công nghiệp hóa hiện đại hóa Đào tạo chưa thực sự gắn với nhu cầu sử dụng nhân lực Công tác quản lý còn nhiều bất cập Hoạt động khoa học và công nghệ chưa thực sự trở thành động lực then chốt cho phát triển kinh tế - xã hội Việc đào tạo, trọng dụng , đãi ngộ cán bộ khoa học và công nghệ còn nhiều thiếu sót, bất cập Đầu tư xã hội cho khoa học và công nghệ phát triển chậm, chưa gắn kết chặt chẽ với kết quả nghiên cứu, ứng dụng
và đào tạo với nhu cầu sản xuất kinh doanh và quản lý”
Trang 12Mục tiêu của giáo dục Đại học trong thời kỳ mới là hướng tới việc đào tạo
con người “Có phẩm chất chính trị, đạo đức, có ý thức phục vụ nhân dân, có kiến thức và năng lực thực hành nghề nghiệp tương xứng với trình độ đào tạo, có sức khoẻ, đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”
Trong giáo dục Đại học, nghiên cứu khoa học được xem là một trong những yếu tố quan trọng trong việc nâng cao chất lượng đào tạo, tạo ra nguồn nhân lực đáp ứng ngày càng cao của xã hội, tạo ra những tri thức mới, những sản phẩm mới phục vụ cho sự phát triển của xã hội Khẳng định được vai trò quan trọng của nghiên cứu khoa học, Nghị quyết Hội nghị lần thứ 2 của Ban chấp hành Trung
ương Đảng Khóa VIII đã chỉ đạo: “Các trường đại học phải là trung tâm nghiên cứu khoa học, công nghệ, chuyển giao và ứng dụng công nghệ vào sản xuất và đời sống”
Để đào tạo có chất lượng những cán bộ khoa học kỹ thuật, cán bộ quản lý, những nhà nghiên cứu khoa học thì trường Đại học phải thực sự là một trung tâm đào tạo nghiên cứu khoa học, chuyển giao công nghệ có chất lượng Hoạt động đào tạo - nghiên cứu khoa học và hướng dẫn sinh viên NCKH phải hướng vào việc phát huy tính tích cực sáng tạo của người học, tìm kiếm những con đường, giải pháp để cải tiến đổi mới quy trình đào tạo Đặc biệt phải quan tâm tới việc rèn luyện phương pháp NCKH cho sinh viên một cách thường xuyên, xây dựng cho họ ý thức, thái độ tham gia tích cực vào hoạt động sáng tạo bằng nhiều hình thức và con đường khác nhau
Vì lẽ đó, vấn đề tổ chức NCKH cho sinh viên các trường Đại học nhằm trang
bị cho họ kỹ năng và phương pháp NCKH, có khả năng làm việc độc lập, sáng tạo để tiếp tục đi sâu vào chuyên môn của mình, nâng cao tầm hiểu biết để tiến kịp với sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật của thời đại là vấn đề cấp thiết hiện nay
1.2 Thực tiễn hoạt động nghiên cứu khoa học và quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học của sinh viên ở trường Đại học Công nghệ - ĐHQGHN
Trường Đại học Công nghệ - ĐHQGHN xác định mục tiêu trở thành đại học nghiên cứu lĩnh vực khoa học và ứng dụng công nghệ hàng đầu của Việt Nam, đạt các tiêu chí của đại học nghiên cứu tiên tiến của châu Á, trong đó có một số lĩnh
Trang 13vực, chuyên ngành đạt chuẩn mực trình độ quốc tế, đóng góp thiết thực vào sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa Đặc biệt từ khi có QĐ số 08/2000/QĐ - BGD - ĐT ngày 30/03/2000 về việc ban hành quy chế về nghiên cứu khoa học của sinh viên trong các trường Đại học và Cao đẳng thì việc đẩy mạnh hoạt động NCKH được coi là nhiện vụ quan trọng hàng đầu nhằm góp phần nâng cao chất lượng đào tạo Hoạt động NCKH của SV những năm gần đây của trường Đại học Công nghệ -ĐHQGHN luôn được coi trọng dưới nhiều hình thức phong phú, đa dạng như: tiều luận môn học, bài tập lớn, nghiên cứu khoa học, khóa luận tốt nghiệp, luận văn tốt nghiệp, bài báo khoa học đăng trên tạp chí, tham gia hội nghị hội thảo khoa học… Trong những năm gần đây, hoạt động NCKH của SV ngày càng sôi nổi với số lượng đề tài ngày càng nhiều và đạt được thành tích trong nghiên cứu khoa học Tuy nhiên, hoạt động NCKH của SV trên thực tế còn nhiều bất cập và khó khăn do đó kết quả đạt được không được như mong đợi, một trong những nguyên nhân gây ra tình trạng đó là do công tác quản lý hoạt động NCKH của SV còn chưa được đồng bộ giữa các khoa với các phòng chức năng, quy trình quản lý chưa phù hợp; còn một bộ phận SV tham gia một cách thụ động, chưa chủ động tìm tòi đưa ra vấn đề nghiên cứu…Mối quan hệ giữa SV và GV hướng dẫn trong nhiều trường hợp chưa được chặt chẽ; nhiều SV không thường xuyên tham khảo và tiếp thu định hướng của GV
Thực tế tại trường Đại học Công nghệ - ĐHQGHN đã có các công trình nghiên cứu về quản lý hoạt động đào tạo, quản lý cơ sở vật chất phục vụ đào tạo, tổ chức các hoạt động nghiên cứu khoa học trong học sinh sinh viên như: nghiên cứu đề tài khoa học cấp khoa, cấp trường dưới sự hướng dẫn của giảng viên… nhưng chưa
có nghiên cứu nào về quản lý hoạt động NCKH của sinh viên nhằm nâng cao chất
lượng đào tạo Từ lý do trên, tôi đặt vấn đề nghiên cứu đề tài: “Quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học của sinh viên trường Đại học Công nghệ - ĐHQGHN”
2 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và tiến hành khảo sát đánh giá thực trạng quản
lý hoạt động NCKH của sinh viên Trường Đại học Công nghệ - ĐHQGHN, đề xuất
Trang 14biện pháp quản lý hoạt động NCKH của sinh viên để góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động NCKH của SV và thực hiện tốt mục tiêu đào tạo ở Trường Đại học Công nghệ - ĐHQGHN
3 Khách thể nghiên cứu, đối tƣợng nghiên cứu
3.1 Khách thể nghiên cứu
Hoạt động NCKH của SV
3.2 Đối tượng nghiên cứu
Quản lí hoạt đô ̣ng NCKH của SV Trường Đại học Công nghệ - ĐHQGHN
4 Phạm vi nghiên cứu
Do điều kiện có hạn, nên luận văn nghiên cứu những nội dung sau:
- Hoạt động NCKH của sinh viên Đại học có rất nhiều hình thức, nhưng luận văn chỉ nghiên cứu quản lý hoạt động NCKH của sinh viên liên quan đến đào tạo dưới hình thức: làm bài tập môn học, bài tập lớn, đồ án tốt nghiệp, tham gia đề tài NCKH cấp trường của sinh viên dưới sự hướng dẫn của giảng viên và thực tập tốt nghiệp tại doanh nghiệp
- Công tác QL hoa ̣t đô ̣ng NCKH đươ ̣c nghiên cứu trên nhóm khách thể liên quan trực tiếp đến công tác này của Trường Cụ thể là Phó Hiệu trưởng, phụ trách NCKH; Phòng KHCN & HTQT với tư cách được nhà trường ủy quyền QL hoa ̣t đô ̣ng NCKH của SV; Phòng KH-TC cùng với các Trưởng, Phó khoa và GV hướng dẫn SV
5 Câu hỏi nghiên cứu
Hoạt động NCKH của SV có vai trò quan trọng như thế nào? Công tác quản
lí hoạt động NCKH của SV hiện nay của nhà trường đã đạt hiệu quả như thể nào? Cần đề xuất biện pháp quản lí nào để nâng cao hiệu quả của hoạt động nêu trên tại Trường Đại học Công nghệ - ĐHQGHN?
6 Giả thuyết nghiên cứu
Hoạt động NCKH của SV có vai trò rất quan trọng trong công tác đào tạo cũng như đảm bảo chức năng NCKH của Trường Đại học Công nghệ - ĐHQGHN, tuy nhiên hiệu quả của hoạt động này ở một số ngành trong trường chưa cao Một trong những nguyên nhân của thực trạng này là công tác quản lý hoạt động NCKH của SV còn nhiều bất cập
Trang 15Nếu đề xuất được biện pháp quản lý phù hợp sẽ thúc đẩy hoạt động NCKH, nâng cao kết quả NCKH của sinh viên và chất lượng đào tạo của nhà trường, đáp ứng yêu cầu sự nghiệp giáo dục trong giai đoạn CNH - HĐH đất nước
7 Nhiệm vụ nghiên cứu
Trong đề tài này, chúng tôi sẽ tập chung vào các nhiệm vụ sau:
7.1 Nghiên cứu cơ sở lý luận về quản lý hoạt động NCKH của SV đại học
7.2 Khảo sát thực trạng Quản lý hoạt động NCKH của SV trường đại học Công nghệ - ĐHQGHN
7.3 Đề xuất một số biện pháp Quản lý hoạt động NCKH của trường đại học Công nghệ - ĐHQGHN
8 Phương pháp nghiên cứu
8.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận:
Đọc, phân tích, hệ thống hoá, khái quát hoá tạp chí và tài liệu có liên quan đến vấn đề nghiên cứu, nhằm xác lập cơ sở lý luận về quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học của sinh viên Trường Đại học Công nghệ - ĐHQGHN
8.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
Phương pháp tổng kết kinh nghiệm: là phương pháp quan trọng của đề tài,
tổng kết kinh nghiệm giảng dạy và tổ chức hướng dẫn sinh viên NCKH trên các tài liệu thông tin khoa học, trong các sách báo tạp chí trong và ngoài nước về vấn đề
quản lý hoạt động NCKH cho sinh viên
Phương pháp quan sát: phương pháp này được sử dụng để hỗ trợ cho các
phương pháp khác, để thấy rõ hơn hoạt động quản lý NCKH của sinh viên trong quá trình thực hiện hoạt động NCKH
Phương pháp trò chuyện: là phương pháp tôi sử dụng để làm việc với cán
bộ giảng dạy và sinh viên nhằm tìm hiểu sâu hơn, khẳng định chắc chắn hơn những
vấn đề chưa sáng tỏ trong quá trình nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu sản phẩm: tập hợp kết quả NCKH của sinh viên
dưới hình thức: làm bài tập môn học, bài tập lớn, đánh giá nghiệm thu sản phẩm của
các đề tài NCKH do sinh viên thực hiện Từ đó đưa ra nhận xét về thực trạng này
Trang 16Phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi: Xây dựng các mẫu phiếu điều tra thu
thập thông tin về thực trạng hoạt động NCKH và quản lý hoạt động NCKH của sinh viên ở Trường Đại học Công nghệ - ĐHQGHN
9 Những đóng góp của đề tài hay ý nghĩa khoa học
- Ý nghĩa lý luận
Hệ thống hóa và tổng kết lý luận về công tác quản lý hoạt động NCKH của SV Tổng kết thực tiễn công tác quản lý hoạt động nghiên cứu hoạt động nghiên cứu khoa học của sinh viên, chỉ ra những thành công và mặt hạn chế, cung cấp cơ sở khoa học để xây dựng quy trình quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học của sinh viên
Trang 17CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CỦA SINH VIÊN ĐẠI HỌC
1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề
Giáo dục đại học luôn là mối quan tâm hàng đầu, đặc biệt vào những thập niên cuối thế kỷ XX, khi khoa học và công nghệ phát triển với tốc độ mạnh mẽ Để đáp ứng yêu cầu đào tạo nguồn nhân lực có trình độ cao thì quá trình đào tạo ở các trường đại học phải gắn với NCKH và thực tiễn cuộc sống Công tác nghiên cứu khoa học là một bộ phận không thể tách rời của quá trình đào tạo sinh viên các trường Đại học Theo kinh nghiệm của các trường đại học lớn trên thế giới, việc đẩy mạnh NCKH gắn với đào tạo là vấn đề sống còn đối với trường đại học Kết quả NCKH là tiêu chí quan trọng trong việc xếp hạng các trường đại học trên thế giới
Các công trình nghiên cứu về hoạt động NCKH có nhiều và chủ yếu đi theo hai hướng:
- Hướng thứ nhất: Các công trình nghiên cứu về lý luận NCKH bàn về bản chất, quy trình, nội dung NCKH và quản lý quy trình NCKH
- Hướng thứ hai: Các công trình nghiên cứu trên bình diện thực tiễn phát hiện thực trạng hoạt động NCKH tại các cơ sở giáo dục
Có thể kể ra một số công trình sau:
Ở nước ngoài
Năm 1971, M.T.Lubixưna và A.A Gơroxepxki trong chuyên khảo Tổ chức công việc tự học của sinh viêncho rằng NCKH của sinh viên đại học là một trong những hình thức hoàn thiện nhất về mặt đào tạo khoa học, có hiệu quả thiết thực đối với việc nâng cao trình độ của sinh viên
Năm 1972, P.T.Prikhodko trong tác phẩm Tổ chức và phương pháp công tác NCKH đã giới thiệu những nét đặc trưng cơ bản của hoạt động NCKH của sinh viên Tác giả đánh giá tầm quan trọng của việc tổ chức cho sinh viên làm niên luận, khóa luận tốt nghiệp, coi đây là những hình thức NCKH ban đầu nhờ đó mà sinh viên có năng tự học và học suốt đời
Trang 18Hoa Kỳ trong Chiến lược 1998 - 2000 của Bộ Giáo dục đã ghi nhận NCKH giáo dục góp phần cải thiện nền giáo dục quốc gia, Hoa kỳ đã xác định
những vấn đề ưu tiên tổ chức cho sinh viên NCKH Trong tác phẩm “Research and Report Writing” [14], tác giả Francesco Cordasco và Elliots S.M.Galner đã
chỉ ra những hoạt động quản lý cụ thể để hình thành kỹ năng NCKH cho sinh viên
Ở Mỹ, nghiên cứu được quan niệm là một quá trình học tập tích cực hình thành nên tư duy phê phán và kĩ năng giải quyết vấn đề, tác giả Gary Anderson
(New York) (1990), trong tác phẩm Fundamentals of educational research [15],
tác giả chú trọng đến việc nhà quản lí cũng như GV phải tìm tòi các nguyên tắc, phương pháp cũng như công cụ, kĩ thuật NCKH để huấn luyện cho SV làm NCKH Năm 1983 tại Singapore, hai tác giả Keith Howard và John A.Sharp đã biên
soạn tài liệu The management of a student research project nhằm giúp SV biết cách
QL kế hoạch nghiên cứu Các tác giả đã trình bày những vấn đề về chọn lựa đề tài, xây dựng kế hoạch nghiên cứu, tập hợp, phân tích, xử lí và đánh giá kết quả NCKH
Như vậy, ở nước ngoài qua các công trình khoa học cho thấy các tác giả quan tâm không chỉ về phương diện phương pháp luận, mà còn đặc biệt quan tâm đến các vấn đề về tổ chức và các kỹ năng cụ thể cần được huấn luyện, trang bị cho sinh viên, NCKH là một hoạt động quan trọng và quản lý hoạt động NCKH là hoạt động tất yếu không thể thiếu
trường đa ̣i ho ̣c , học viện là “ triển khai hoạt động đào tạo, khoa học và công nghệ, hợp tác quốc tế, bảo đảm chất lượng giáo dục đại học.” Bên cạnh đó, Khoản 2 điều
55 của Luật này cũng quy định “Nghiên cứu, phát triển ứng dụng khoa h ọc và chuyển giao công nghệ,bảo đảm chất lượng đào tạo” [23] là một nhiệm vụ quan
Trang 19trọng của Giảng viên trường đại học Tuy nhiên, đối tượng của hoạt động Khoa học công nghệ trong nhà trường đại học không chỉ bao gồm giảng viên và các nhà khoa học khác, mà còn có cả SV thuộc các loại hình đào tạo đang theo học tại trường
Điều này thể hiện qua mục tiêu “hình thành và phát triển năng lực nghiên cứu khoa học cho người học” mà hoạt động Khoa học Công nghệ của nhà trường hướng tới
(Điều 39, Khoản 2, Luật Giáo dục Đại học) [23]
Nhận thức được vai trò quan trọng của hoạt động NCKH trong giáo dục Đại học nói riêng và giáo dục Việt Nam nói chung, đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về đề tài này, tiêu biểu như: Luận án Tiến sĩ QLGD Quản lí nghiên cứu khoa học ở các trường Đại học Sư phạm của tác giả Hoàng Thị Nhị Hà (2009), Viện
Khoa học Giáo dục Việt Nam; Luận văn Tha ̣c sĩ QLGD Các biện pháp quản lí nhằm tăng cường hoạt động nghiên cứu khoa học của sinh viên Trường Đại học Sư phạm - Đại học Thái Nguyên của tác giả Nguyễn Vân Anh (2008); Luận văn Tha ̣c
sĩ QLGD Công tác quản lí hoạt động học tập và nghiên cứu khoa học của sinh viên Đại học Quốc gia TPHCM của tác giả Đinh Ái Linh (2006); “Biện pháp tăng cường quản lý hoạt động NCKH của giảng viên trường Cao đẳng sư phạm Lạng Sơn” (2008) của Vũ Thị Lan Anh; “Nghiên cứu đánh giá hoạt động NCKH của giảng viên học viện hành chính” (2009) của Hoàng Thị Mai Hoa; “Biện pháp quản
lý hoạt động NCKH của sinh viên trường cao đẳng Sơn La” (2009) của Cấn Thị Tửu; “ Một số biện pháp quản lý hoạt động NCKH cho giáo viên trường cao đẳng Sơn La” (2009) Nguyễn Văn Nho; “Biện pháp quản lý hoạt động NCKH của sinh viên trường đại học sư phạm Hà Nội” (2010) của Đặng Ngọc Phúc…
Các luận văn về quản lý hoạt động NCKH nêu trên chủ yếu được thực hiện bởi các cán bộ, giảng viên công tác tại các trường cao đẳng và ngành sư phạm Công tác quản lý hoạt động NCKH ở các trường đại học, cao đẳng đã được đề cập, trong đó các tác giả luận văn đã xây dựng cơ sở lý luận của vấn đề quản lý hoạt động NCKH ở các trường sư phạm, chỉ ra được thực trạng các biện pháp quản lý hoạt động NCKH và đưa ra các nhóm giải pháp nhằm tăng cường công tác quản lý hoạt động NCKH trong trường sư phạm với những đặc thù riêng Tuy nhiên, đối
Trang 20với các ngành đào tạo về kỹ thuật, công nghệ, những nghiên cứu về vấn đề này hiện chưa nhiều, đặc biệt tại ĐHQG Hà Nội, luận văn này sẽ là một trong những nghiên cứu ít ỏi được thực hiện
Tóm lại, điểm qua các công trình nghiên cứu của các tác giả trong và ngoài nước về vấn đề nghiên cứu khoa học cho sinh viên, chúng tôi nhận thấy: các tác giả
đã tập trung phản ánh tính cấp thiết, vai trò quan trọng của việc tổ chức cho sinh viên nghiên cứu khoa học Một số tác giả đề xuất phương pháp, biện pháp, cách thức hướng dẫn đánh giá nhằm nâng cao chất lượng nghiên cứu khoa học của sinh viên trên cơ sở khảo sát thực trạng hoạt động nghiên cứu khoa học của sinh viên các trường đại học Nhưng các biện pháp quản lý cho hoạt động này để nâng cao chất lượng đào tạo ở các trường đại học chưa thực sự đạt hiệu quả
1.2 Một số khái niệm cơ bản
1.2.1 Quản lý và Quản lý giáo dục
1.2.1.1 Quản lý
Nghiên cứu về QL có rất nhiều quan niệm khác nhau Các quan niệm này phản ánh những mặt, những chức năng cơ bản của quá trình QL, song về cơ bản các quan niệm đều khẳng định đến chủ thể, đối tượng QL, nội dung phương thức và mục đích của quá trình QL Theo C Mác: “QL là lao động điều khiển lao động” (C Mác – Ăngghen: Toàn tập, tập 25, phần II, tr.350 C Mác đã coi việc xuất hiện QL như là kết quả tất nhiên của sự chuyển nhiều quá trình lao động cá biệt, tản mạn, độc lập với nhau thành một quá trình xã hội được phối hợp lại
Có nhiều quan niệm khác nhau về khái niệm quản lý nhưng đều được gắn với ngành, lĩnh vực và theo những góc độ và cách tiếp cận khác nhau Các nhà nghiên cứu về quản lý cũng đưa ra các khái niệm quản lý như:
Frederick Winslow Taylor (1856-1915) người Mỹ, tác giả của thuyết quản lý
khoa học cho rằng: “Quản lý là biết chính xác điều mình muốn người khác làm và sau đó thấy được rằng họ đã hoàn thành công việc một cách tốt nhất và rẻ nhất”
Henry Fayol (1841-1925) người Pháp đại diện tiêu biểu cho “Thuyết quản lý
hành chính” định nghĩa: “Quản lý là sự dự đoán và lập kế hoạch, tổ chức, điều
Trang 21Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang: “Quản lý là tác động có mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý đến tập thể những người lao động nói chung là khách thể quản lý nhằm thực hiện được mục tiêu như dự kiến”[26,Tr 25]
Theo tập thể tác giả Bùi Minh Hiền, Vũ Ngọc Hải, Đặng Quốc Bảo:
“Quản lý là sự tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý tới đối tượng quản lý nhằm đạt mục tiêu đề ra”
Mỗi nhà khoa học, có cách tiếp cận riêng để hiểu quản lý, nhưng trên cơ sở
những quan điểm chung, đề tài đưa ra khái niệm quản lý: Quản lý là sự tác động có
tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý tới đối tượng quản lý trong việc huy động, phát huy, kết hợp, sử dụng, điều chỉnh, điều phối các nguồn lực một cách tối ưu nhằm đạt mục tiêu đề ra
Bản chất của quản lý là sự tác động có mục đích của chủ thể quản lý tới khách thể quản lý nhằm đạt được mục tiêu quản lý
Trang 22Một số tác giả khác lại cho rằng: QLGD là tác động có ý thức, mục đích của chủ thể quản lý ở cấp độ khác nhau đến tất cả các khâu của hệ thống nhằm mục đích bảo đảm giáo dục xã hội chủ nghĩa cho thế hệ trẻ, đảm bảo sự phát triển hài hòa và toàn diện cho họ, trên cơ sở nhận thức đúng và sử dụng các quy luật chung vốn có của
xã hội chủ nghĩa cũng như các quy luật khách quan của quá trình dạy học – giáo dục của sự phát triển thể chất và tâm lý trẻ em thiếu nhi cũng như thanh niên
Theo cố giáo sư Nguyễn Ngọc Quang, vấn đề cốt lõi của quản lý nhà trường, QLGD là tổ chức hoạt động dạy học, có tổ chức được các hoạt động dạy học, thực hiện được các tính chất của nhà trường phổ thông Việt Nam xã hội chủ nghĩa, mới quản lý được giáo dục; tức là cụ thể hóa đường lối giáo dục của Đảng và biến đường lối đó thành hiện thực, đáp ứng yêu cầu của nhân dân, của đất nước
Từ những khái niệm trên của QLGD, có thể phân tích và xác định các góc
độ khác nhau về bản chất của QLGD Theo tiếp cận hướng vào con người, QLGD thực chất là quản lý con người Đó là quản lý quá trình giáo dục và đào tạo con người theo mục tiêu phát triển đất nước, phát triển xã hội
Có thể đưa ra khái niệm QLGD theo hai cấp độ: Cấp độ hệ thống( cấp độ vĩ mô) và cấp độ trường học (cấp độ vi mô)
Ở cấp độ hệ thống có thể hiểu: QLGD là những tác động có hệ thống, có ý thức, hợp quy luật của chủ thể quản lý ở cấp độ khác nhau đến tất cả các mắt xích của hệ thống giáo dục nhằm đảm bảo cho hệ thống giáo dục vận hành bình thường
và liên tục phát triển, mở rộng cả về số lượng cũng như chất lượng
Nói cách khác, QLGD là sự tác động liên tục, có tổ chức, có định hướng của chủ thể quản lý lên hệ thống giáo dục nhằm huy động, tổ chức, điều chỉnh, giám sát một các hiệu quả các nguồn lực cho giáo dục và các hoạt động phục vụ cho mục tiêu phát triển giáo dục đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội
Quản lý trường học là hệ thống tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý nhà trường làm cho nhà trường vận hành theo đường lối, quan điểm giáo dục của Đảng, thực hiện được các tính chất của nhà trường, mà điểm hội tụ là quá trình dạy học – giáo dục, đưa nhà trường tới mục tiêu dự kiến,
Trang 23tiến lên trạng thái mới về chất, góp phần thực hiện mục tiêu chung của giáo dục: nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Từ những khái niệm nêu trên, dù ở cấp vĩ mô hay vi mô, ta có thể thấy rõ bốn yếu tố của QLGD, đó là: chủ thể QL, đối tượng bị QL, khách thể QL và mục tiêu
QL Bốn yếu tố này tạo thành sơ đồ sau:
Sơ đồ 1.1 Khái niệm quản lí giáo dục
Trong thực tiễn, các yếu tố trên không tách rời nhau mà ngược lại chúng có quan hệ tương tác gắn bó với nhau Chủ thể QL tạo ra những tác động lên đối tượng
QL, và cùng với chủ thể QL hoạt động theo một quỹ đạo nhằm cùng thực hiện mục tiêu của tổ chức Khách thể QL nằm ngoài hệ thống hệ QLGD; nó là hệ thống khác hoặc các ràng buộc của môi trường, v.v… Nó có thể chịu tác động hoặc tác động trở lại đến hệ thống giáo dục và hệ thống QLGD Vấn đề đặt ra đối với chủ thể QL là như thế nào để có những tác động từ phía khách thể QLGD là tích cực, cùng nhằm thực hiện mục tiêu chung
Chức năng quản lý là hình thái biểu hiện sự tác động có mục đích của chủ thể quản lý đến đối tượng quản lý Trong quản lý, chức năng quản lý là phạm trù quan trọng mang tính khách quan và có tính độc lập tương đối Chức năng quản lý
là kết quả của quá trình phân công lao động
Quản lý bao gồm bốn chức năng chủ yếu, đó là các chức năng kế hoạch hóa (lập kế hoạch), tổ chức thực hiện, chỉ đạo thực hiện và kiểm tra-đánh giá hoạt động
Chủ thể
quản lí
Mục tiêu Đối tƣợng
quản lí
Khách thể quản lí
Trang 24Tóm lại, chức năng quản lý là một trong những vấn đề cơ bản của lý luận quản lý, giữ vai trò trọng yếu trong thực tiễn quản lý Thực hiện đầy đủ các chức năng quản lý và giai đoạn của chu trình quản lý là cơ sở đảm bảo cho hệ thống được quản lý một cách hiệu quả, đạt được mục tiêu của tổ chức
Sinh viên có những đặc điểm sau:
- Là những người tốt nghiệp phổ thông trung học… đã qua kì thi tuyển sinh cấp quốc gia hoặc xét tuyển vào đại học, cao đẳng;
- Đa số SV thuộc độ tuổi từ 18 đến 25 từ trước đến nay chủ yếu đi học, chưa có nghề nghiệp, chưa có việc làm ổn định còn phụ thuộc vào gia đình;
- Xuất thân từ nhiều thành phần khác nhau trong xã hội;
- Đang học tập ở nhiều trường đại học, cao đẳng khác nhau, học nhiều ngành khác nhau, nhiều hệ đào tạo khác nhau;
- Là một lực lượng đông đảo có tổ chức chặt chẽ;
- Là đội ngũ có trình độ, tri thức khá cao trong xã hội
Đây là lực lượng ưu tú nhất trong thanh niên Việt Nam, nguồn nhân lực quan trọng trong công cuộc xây dựng và phát triển kinh tế, chính trị, văn hóa-xã hội, khoa học kĩ thuật, công nghệ… là lực lượng nòng cốt trong thời kì công nghiệp hóa, hiện đại hóa của đất nước ta trong giai đoạn hiện nay và mai sau
1.2.3 Khoa học, nghiên cứu khoa học và quản lý hoạt động NCKH của SV
1.2.3.1 Khoa học
Khoa học bao gồm một hệ thống tri thức về quy luật của vật chất và sự vận động của vật chất, những quy luật của tự nhiên, xã hội, và tư duy Hệ thống tri thức này hình thành trong lịch sử và không ngừng phát triển trên cơ sở thực tiễn xã hội
Trang 25Phân biệt ra 2 hệ thống tri thức: tri thức kinh nghiệm và tri thức khoa học
Tri thức kinh nghiệm: là những hiểu biết được tích lũy qua hoạt động sống
hàng ngày trong mối quan hệ giữa con người với con người và giữa con người với thiên nhiên Quá trình này giúp con người hiểu biết về sự vật, về cách QL thiên nhiên và hình thành mối quan hệ giữa những con người trong xã hội Tri thức kinh nghiệm được con người không ngừng sử dụng và phát triển trong hoạt động thực tế Tuy nhiên, tri thức kinh nghiệm chưa thật sự đi sâu vào bản chất, chưa thấy được hết các thuộc tính của sự vật và mối quan hệ bên trong giữa sự vật và con người Vì vậy, tri thức kinh nghiệm chỉ phát triển đến một hiểu biết giới hạn nhất định, nhưng tri thức kinh nghiệm là cơ sở cho sự hình thành tri thức khoa học
Tri thức khoa học: là những hiểu biết được tích lũy một cách có hệ thống
nhờ hoạt động NCKH, các hoạt động này có mục tiêu xác định và sử dụng phương pháp khoa học Không giống như tri thức kinh nghiệm, tri thức khoa học dựa trên kết quả quan sát, thu thập được qua những thí nghiệm và qua các sự kiện xảy ra ngẫu nhiên trong hoạt động xã hội, trong tự nhiên Tri thức khoa học được tổ chức trong khuôn khổ các ngành và bộ môn khoa học như: triết học, sử học, kinh tế học, toán học, sinh học…
1.2.3.2 Nghiên cứu khoa học
Theo nghĩa thông thường nghiên cứu khoa học thường được hiểu là nghiên cứu những vấn đề của khoa học như: khoa học tự nhiên, khoa học xã hội, khoa học
kỹ thuật Nhưng nghiên cứu khoa học còn được hiểu là nghiên cứu một vấn đề nào
đó một cách khách quan khoa học, không tuỳ tiện suy diễn chủ quan, phiến diện
Nói chung, nghiên cứu khoa học là hoạt động tìm kiếm, xem xét, điều tra có khi cần cả đến thí nghiệm, thực nghiệm để từ những dữ kiện đã có (kiến thức, tài liệu, phát minh) đạt đến một kết quả mới hơn, cao hơn, giá trị hơn
Bản chất của NCKH là hoạt động sáng tạo của các nhà khoa học nhằm nhận thức thế giới tạo ra hệ thống tri thức có giá trị để sử dụng vào cải tạo thế giới
Mục đích của nghiên cứu khoa học là nâng cao năng lực nhận thức của loài người, tạo ra hệ thống tri thức mới góp phần cải tạo thực tiễn cuộc sống và sản xuất
Trang 26Chủ thể của NCKH là các nhà khoa học với những phẩm chất trí tuệ và tài năng vượt trội Sự sáng tạo khoa học thường được bắt đầu từ ý tưởng cá nhân sau
đó được sự hỗ trợ, hợp tác nghiên cứu của tập thể, theo định hướng của người chủ trì Vì vậy có thể nói chủ thể của NCKH vừa có tính cá nhân vừa có tính tập thể Khách thể của NCKH là các sự vật, hiện tượng của tự nhiên, xã hội và tư duy
mà nhà khoa học nghiên cứu để khám phá, sáng tạo ra tri thức khoa học.[20, tr 35]
Đối tượng của NCKH là tri thức khoa học Tri tức khoa học là “kết quả của quá trình nhận thức có mục đích, có kế hoạch, có phương pháp và phương tiện đặc biệt, do đội ngũ các nhà khoa học thực hiện”[22, tr 16]
NCKH có chức năng mô tả sự vật hiện tượng để đạt được kinh nghiệm; giải thích đối tượng nghiên cứu để có tri thức ở trình độ tư duy lí luận; tiên đoán về sự vật; sáng tạo các giải pháp để cải tạo thế giới
Trong cuốn “Bước đầu tìm hiểu phương pháp nghiên cứu khoa học giáo dục” (tạp chí nghiên cứu giáo dục, 1974) của tác giả Phạm Minh Hạc đã đưa ra định
nghĩa “Nghiên cứu khoa học là phát hiện những hiện tượng sự việc mới, có tính chân lý trong hiện thực hoặc khám phá những qui luật nguyên lý mới trong hiện thực đó” [19]
Nhóm tác giả Trịnh Đình Thắng, Đỗ Công Tuấn, Lê Hoài An, với tác phẩm
“Nghiên cứu khoa học là một hoạt động trí óc bằng những phương pháp nhất định
để tìm kiếm, vạch ra một cách chính xác và có mục đích những gì mà con người chưa biết đến tức là tạo ra sản phẩm dưới dạng kiến thức mới” Ở đây, định nghĩa
về nghiên cứu khoa học được các tác giả nêu nên như một dạng lao động đặc thù - lao động trí óc với mục tiêu là làm ra những giá trị nhận thức mới mà trước đó chưa
ai biết
Tác giả Vũ Cao Đàm đã nêu nên khái niệm về nghiên cứu khoa học như sau:
“Nghiên cứu khoa học là một hoạt động xã hội, hướng vào việc tìm kiếm những điều mà khoa học chưa biết, hoặc là phát hiện bản chất sự vật, phát triển nhận thức khoa học về thế giới hoặc là sáng tạo phương pháp mới hoặc là phương tiện kỹ thuật mới để cải tạo thế giới”[12, tr 14]
Trang 27Tác giả Phạm Viết Vượng trong giáo trình “Phương pháp luận nghiên cứu
khoa học” đã nhận định: “Nghiên cứu khoa học là quá trình khám phá bằng cách tác động vào các đối tượng, làm cho nó bộc lộ bản chất của mình và kết quả tác động đó cho ta tri thức về đối tượng” [30, tr 25] Nghiên cứu khoa học là một hoạt
động đặc biệt của con người Đây là hoạt động có mục đích, có kế hoạch đươc tổ chức chặt chẽ của một đội ngũ các nhà khoa học với những phẩm chất đặc biệt, được đào tạo ở trình độ cao
Tác giả Phạm Viết Vượng - Nguyễn Xuân Thức cho rằng: “Bản chất của nghiên cứu khoa học là hoạt động sáng tạo của các nhà khoa học, tạo ra hệ thống tri thức có giá trị để sử dụng vào cải tạo thế giới” [31, tr 22] Với quan niệm bản
chất của NCKH là hoạt động sáng tạo, thì sản phẩm của NCKH chính là hệ thống thông tin mới về thế giới và những giải pháp cải tạo thế giới Sản phẩm khoa học luôn được kế thừa, hoàn thiện và bổ sung theo sự phát triển của xã hội loài người và
tiệm cận tới chân lý khách quan
Theo lý thuyết công nghệ thì nghiên cứu khoa học là quá trình tìm tòi những phát hiện những thông tin mới, gia công chế biến thông tin cũ để lưu trữ và sử dụng thông tin vào mục đích phục vụ cuộc sống và sản xuất
Từ những phân tích trên, khái niệm “Nghiên cứu khoa học”của đề tài đưa ra
là: Nghiên cứu khoa học là hoạt động xã hội có kế hoạch có tổ chức của các nhà
khoa học hướng vào việc tìm kiếm những điều mà con người chưa biết hoặc phát hiện bản chất sự vật, phát triển nhận thức khoa học về thế giới, hoặc là sáng tạo phương pháp mới, phương tiện kỹ thuật mới để cải tạo thế giới
Vai trò của khoa học và NCKH: Hiện nay trên thế giới, cuộc cách mạng khoa học công nghệ đang phát triển nhanh như vũ bão cùng với khối lượng tri thức khoa học tăng lên nhanh chóng và không có giới hạn Thời gian từ phát minh khoa học đến ứng dụng vào sản xuất và đời sống hàng ngày càng rút ngắn đi Nhiều lĩnh vực nghiên cứu mới, nhiều ngành nghề mới xuất hiện Khoa học và thành tựu của nó ngày càng xâm nhập rộng rãi vào mọi lĩnh vực của đời sống xã hội Nhiều thành tựu của khoa học được ứng dụng vào sản xuất với mục đích tạo ra của cải ngày càng
Trang 28nhiều cho xã hội Khoa học ngày nay đã trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp, là
yếu tố cấp thiết cho mọi tiến bộ xã hội “ khoa học là linh hồn sự phồn vinh của các quốc gia, là nguồn sống dồi dào của mọi tiến bộ xã hội Chính những phát minh khoa học và những ứng dụng của nó dẫn dắt chúng ta đi” [16, tr 34] Nói về tầm quan trọng của nghiên cứu khoa học, từ xưa Anhxtanh đã cho rằng: “Nếu nghiên cứu khoa học teo đi, đời sống tinh thần của đất nước ngừng trệ và do đó bao khả năng tiến bộ tương lai tan thành mây khói”
Theo tác giả Phạm Viết Vượng - Nguyễn Xuân Thức, căn cứ vào trình độ nhận thức của loài người, có thể phân chia các loại hình NCKH thành 4 loại hình nghiên cứu:
* Nghiên cứu cơ bản: là loại hình nghiên cứu nhằm mục tiêu tìm tòi, sáng tạo
ra những tri thức mới, những giá trị mới cho nhân loại
* Nghiên cứu ứng dụng: là loại hình nghiên cứu nhằm tìm ra cách vận động
những tri thức cơ bản để tạo ra quy trình công nghệ mới, những nguyên lý mới trong quản lý kinh tế và xã hội
* Nghiên cứu triển khai: là loại hình nghiên cứu nhằm tìm khả năng áp dụng
đại trà các kết quả nghiên cứu ứng dụng vào thực tế sản xuất và đời sống xã hội, tạo
ra các mô hình chế biến thông tin khoa học thành sản phẩm tinh thần hay vật chất
* Nghiên cứu dự báo: là loại hình nghiên cứu nhằm phát hiện những triển
vọng, những khả năng, những xu hướng mới của sự phát triển khoa học và thực tiễn Nghiên cứu dự báo dựa trên các quy luật và tốc độ phát triển của khoa học hiện đại, trên cơ sở khoa học quốc gia và thế giới Nghiên cứu dự báo dựa trên kết quả phân tích và tổng hợp một số lượng lớn thông tin khách quan về thành tựu của khoa học, đồng thời dựa và khả năng và nhu cầu cuộc sống hiện tại Các dự báo gồm:
- Những thành tựu của khoa học và thực tiễn có thể đạt được trong hiện tại
Trang 291.2.3.3 Khái niệm Quản lý hoạt động NCKH của sinh viên
QL hoạt động NCKH của SV là một trong những nội dung của công tác QL giáo dục trong nhà trường, tiến hành theo quy chế của Bộ GD&ĐT
Mục tiêu quản lý hoạt động NCKH của sinh viên trường đại học nhằm góp phần giải quyết các nhiệm vụ cơ bản: Nâng cao chất lượng đào tạo đại học, đáp ứng yêu cầu về nguồn nhân lực chất lượng cao phục vụ cho CNH - HĐH của đất nước; kết hợp thực hiện các nhiệm vụ khoa học với các nhiệm vụ đào tạo của nhà trường, ứng dụng các thành tựu khoa học, các tiến bộ kỹ thuật phục vụ việc thực hiện các nhiệm vụ phát triển sự nghiệp GD&ĐT, phát triển kinh tế xã hội Xây dựng và phát triển tiềm lực NCKH của trường, từng bước hội nhập với nền KHCN hiện đại của khu vực và trên thế giới
QL hoạt động NCKH của SV là có thể nói đến một quy trình tác động mang tính pháp lí, tính khoa học, có mục tiêu rõ ràng của chủ thể QL đến đối tượng bị QL nhằm chỉ huy và điều hành đối tượng bị QL và hoạt động NCKH của họ theo đúng mục tiêu của hoạt động NCKH đã đề ra, góp phần nâng cao chất lượng của hoạt động NCKH trong nhà trường nói riêng và chất lượng đào tạo nói chung
1.3 Lý luận về hoạt động Nghiên cứu khoa học của sinh viên
1.3.1 Mục tiêu hoạt động NCKH của SV
Hoạt động NCKH của sinh viên nhằm mục đích:
- Giúp sinh viên củng cố, tổng hợp và nâng cap kiến thức đã học và làm quen với các phương pháp tư duy và NCKH; tạo điều kiện để sinh viên đi sâu tím hiểu, nghiên cứu những vấn đề cụ thể mà chuyên môn đặt ra
- Nâng cao chất lượng đào tạo và tự đạo tạo, phát hiện và bồi dưỡng tài năng trẻ cho đất nước
- Góp phần giải quyết một số vấn đề do thực tiễn đạt ra thông qua việc ứng dụng các tiến bộ khoa học công nghệ vào sản xuất, đời sống và an ninh quốc phòng
Mục tiêu hoạt động NCKH của sinh viên được cụ thể hóa như:
- Mục tiêu hoạt động NCKH của SV là phục vụ trực tiếp cho quá trình học tập của SV, nâng cao chất lượng học tập của sinh viên nhằm nâng cao chất lượng đào tạo của nhà trường
Trang 30- Sinh viên sẽ được tiếp cận, vận dụng các phương pháp nghiên cứu khoa học
đề giải quyết các vấn đề thực tiễn trong cuộc sống, từ đó giúp sinh viên làm sáng tỏ hơn về mặt lý luận của các môn học trong quá trình đào tạo
- Sinh viên được rèn luyện các phương pháp nghiên cứu khoa học, kỹ năng làm việc nhóm và nâng cao năng lực tự học của bản thân
- Ngoài ra, thông qua hoạt động nghiên cứu khoa học còn giúp cho Trường phát hiện và bồi dưỡng những tài năng trẻ
1.3.2 Nội dung của hoạt động NCKH của SV
Nghiên cứu khoa học của sinh viên là một nội dung quan trọng trong chương trình đào tạo ở trường đại học, qua đó hình thành tư duy và phương pháp NCKH, đáp ứng yêu cầu: giảng dạy kết hợp với thực hành và NCKH, góp phần nâng cao chất lượng đào tạo toàn diện; Phát huy tính năng động, sáng tạo, khả năng nghiên cứu khoa học độc lập của sinh viên, hình thành năng lực tự học cho sinh viên; Góp phần tạo ra tri thức, sản phẩm mới cho xã hội
NCKH của SV là hoạt động trí tuệ giúp SV vận dụng phương pháp luận và phương pháp NCKH trong học tập và trong thực tiễn Làm quen với hoạt động này
SV vận dụng tổng hợp những tri thức đã học để tiến hành hoạt động nhận thức có tính chất nghiên cứu, bước đầu góp phần giải quyết những vấn đề khoa học do thực tiễn cuộc sống và nghề nghiệp đặt ra
Khi tham gia NCKH, SV sẽ tập làm quen với một đề tài nghiên cứu quy mô nhỏ, sẽ được tiếp cận với những vấn đề cụ thể, có ý thức đào sâu suy nghĩ, và tập cách tư duy để tự nghiên cứu giải quyết một vấn đề Trong quá trình thực hiện đề tài
SV sẽ nảy sinh ra nhiều hướng giải quyết khác nhau Quá trình này sẽ giúp SV rèn luyện tư duy độc lập, biết bảo vệ lập trường khoa học của mình Một số đề tài khoa học thường do một nhóm từ hai SV trở lên cùng thực hiện do một SV làm trưởng nhóm vì vậy việc cùng thực hiện một đề tài nghiên cứu cũng giúp SV phát triển các
kĩ năng mềm như làm việc theo nhóm với sự chia sẻ ý thức và trách nhiệm, thêm vào đó là kĩ năng tra cứu tư liệu, phương pháp phân tích, tổng hợp
NCKH của SV bao gồm các nội dung chính sau đây:
- Thực hiện đề tài nghiên cứu khoa học thuộc lĩnh vực được đào tạo và các lĩnh vực khác phù hợp với khả năng của SV;
Trang 31- SV có thể tham gia câu lạc bộ khoa học SV, sinh hoạt chuyên đề khoa học, báo cáo khoa học tại các hội nghị, hội thảo khoa học, viết bài đăng trên các tạp chí khoa học, các giải thưởng khoa học và công nghệ ở trong, ngoài nước và các hình thức hoạt động khoa học và công nghệ khác của SV
- Thông qua các hoạt động khoa học như trao đổi về phương pháp, kinh nghiệm học tập, viết tiểu luận, đề án môn học, luận văn tốt nghiệp để rèn luyện kỹ năng NCKH;
- Báo cáo kết quả NCKH: Tham luận hội thảo khoa học, bài báo đăng trên các ấn phẩm NCKH trong và ngoài Trường: Kỉ yếu hội thảo, Tạp chí khoa học của trường và
các báo và tạp chí chuyên ngành khác)…báo cáo luận văn và đồ án tốt nghiệp
Ngoài ra, hàng năm SV có thể tham gia vào các cuộc thi chuyên đề, nghiên cứu các đề tài khoa học của Trường giao hay các hợp đồng với bên ngoài, dự các buổi sinh hoạt khoa học ở cấp Khoa/Viện, Trường Tham gia thực hiện các đề tài khoa học của GV dưới dạng điều tra, khảo sát thu thập số liệu phổ biến khoa học
Như vậy, NCKH sẽ rèn luyện cho SV khả năng tư duy sáng tạo, một cách khoa học những quan điểm, vấn đề lí luận hoặc thực tiễn đang đặt ra Bên cạnh đó, hoạt động này còn giúp SV rèn luyện kĩ năng phân tích, tổng hợp kiến thức, tư duy lôgic SV được tập dượt NCKH thông qua trình học các môn học theo yêu cầu của từng học kỳ để từ đó sẽ hình thành những phẩm chất của nhà khoa học như tính kiên trì, trung thực, khách quan, thận trọng, biết hợp tác trong cuộc sống và trong công tác
Hoạt động NCKH có các đặc trưng cơ bản, như sau: [Nguyễn Vân Anh
(2009), Các biện pháp quản lý nhằm tăng cường hoạt động NCKH của SV trường ĐHSP Thái Nguyên, Luận văn Thạc sĩ) [1]
Tính mới: Đây là thuộc tính quan trọng số một của lao động khoa học NCKH
là quá trình thâm nhập vào thế giới của những sự vật mà con người chưa biết, hướng tới những phát hiện mới hoặc sáng tạo mới Kết quả trong nghiên cứu là quá trình phát triển tư duy khoa học một cách mới mẻ, sản phẩm khoa học chứa đựng yếu tố mới
Trang 32Tính tin cậy: Một kết quả nghiên cứu đạt được nhờ một phương pháp nào đó
phải có khả năng kiểm chứng lại nhiều lần, do nhiều người khác nhau thực hiện trong những điều kiện quan sát hoặc thí nghiệm hoàn toàn giống nhau với những kết quả thu được hoàn toàn giống nhau
Tính thông tin: Sản phẩm khoa học luôn mang đặc trưng thông tin sản phẩm
của NCKH được thể hiện: một báo cáo khoa học, tác phẩm khoa học, mẫu vật liệu mới, mẫu sản phẩm mới, mô hình thí điểm
Tính khách quan: Vừa là một đặc điểm của NCKH, vừa là một tiêu chuẩn của
người NCKH
Tính rủi ro: Hoạt động NCKH đòi hỏi phải mạnh dạn, mạo hiểm…, một
nghiên cứu có thể thành công, có thể thất bại, các nhà khoa học phải dấn thân vào nghiên cứu với những giả thiết mới có luận cứ và sẵn sàng chấp nhận sự thất bại
Tính kế thừa: Mỗi nghiên cứu phải kế thừa các kết quả nghiên cứu trong trong
các lĩnh vực khoa học rất khác xa nhau Tính kế thừa có ý nghĩa quan trọng về mặt phương pháp luận nghiên cứu
Tính cá nhân: Vai trò cá nhân trong sáng tạo mang tính quyết định Tính độc
đáo của cá nhân kết hợp với vai trò của tập thể khoa học trong xu thế hội nhập hiện nay sự hợp tác trong NCKH là rất quan trọng Nếu không có đặc trưng này trong NCKH thì sẽ gặp rất nhiều khó khăn, không tạo được các kết quả nghiên cứu, đặc biệt là sự thiếu hợp tác gắn kết giữa các nhà khoa học, các chuyên ngành nghiên cứu với nhau, là sự lãng phí rất lớn trong hoạt động NCKH, thể hiện sự thiếu đồng nhất chưa tìm được tiếng nói chung trong NCKH
Tính phi kinh tế: Lao động NCKH rất khó định mức một cách chính xác như
trong lĩnh vực sản xuất vật chất Những thiết bị chuyên dụng trong NCKH hầu như không thể khấu hao nếu được đặt trong Labo của các nhà nghiên cứu Đặc điểm này cho thấy thực tế hiệu quả kinh tế của NCKH hầu như không thể xác định, chúng ta chỉ xem xét kết quả hay sản phẩm nghiên cứu đóng góp cho sự nghiệp khoa học
Trang 33Lợi ích của NCKH đối với SV
Với chính sách khuyến khích SV tham giaNCKH ở các trường như hiện nay,
có thể nói SV nhận được khá nhiều lợi ích từ hoạt động này Các lợi ích tiêu biểu có thể tập hợp lại thành hai nhóm chính
Thứ nhất, phải kể đến sự gia tăng đáng kể về kiến thức và kinh nghiệm nghiên cứu Tham gia NCKH đòi hỏi người nghiên cứu phải không ngừng bổ sung, hoàn
thiện kiến thức của mình, do đó việc tìm kiếm và đọc thêm các tài liệu bổ trợ là cấp thiết Thông qua điều này, kỹ năng nghiên cứu cũng như kiến thức phục vụ cho đề tài của các bạn SV sẽ tăng lên Thêm vào đó, SV có cơ hội được làm việc cùng với Giảng viên hướng dẫn (GVHD) nên sẽ được định hướng và chỉ dẫn thấu đáo hơn đối với các vấn đề nghiên cứu
Thứ hai, hoạt động NCKH giúp SV tăng cường các kỹ năng bổ trợ cấp thiếtcho công việc cuộc sống sau này như: kỹ năng tư duy phản biện, kỹ năng quản
lýthời gian, làm việc nhóm, các kỹ thuật tin học, … trong đó quan trọng nhất làkhả năng tư duy phản biện độc lập, sáng tạo, nhìn các sự vật, sự việc ở nhiều khía cạnh khác nhau để có cách hiểu toàn diện nhất
1.3.3 Hình thức, phương pháp hoạt động NCKH của SV
Các hình thức NCKH của sinh viên đại học trong quá trình học tập tại nhà trường:
Bài tập nhỏ (bài tập môn học)
Bài tập nhỏ thuộc loại hình nghiên cứu, xử lý một số vấn đề khoa học cụ thể, thường được thực hiện ngay từ năm thứ nhất và là dịp tổng kết những kiến thức trọng tâm trong chương trình môn học Ở những bài tập này có thể liên hệ mở rộng thêm kiến thức ngoài nội dung giảng dạy và học tập được quy định trong chương trình
Cách thức thực hiện: Giảng viên hướng dẫn cho sinh viên tìm hiểu, tra cứu tài liệu, nghiên cứu thêm một số vấn đề nhằm mở rộng tầm hiểu biết, vận dụng và khai thác thêm tri thức mới Thời gian tiến hành bài tập cùng với thời gian học tập chương trình môn học
Mục đích: Sinh viên tham gia nghiên cứu ở loại hình này chỉ là phát hiện các vấn đề trọng tâm của môn học, có khi là tập xử lý một đề tài mà người khác đã bàn
Trang 34tới hoặc tóm tắt các nội dung chính, sưu tầm tài liệu, ứng dụng thực tế có liên quan đến môn học Đưa ra những đánh giá nhận xét với nhận thức chủ quan của mình trên cơ sở nắm bắt đầy đủ lý thuyết Vấn đề cốt lõi ở đây là để cho sinh viên hứng thú và có ý tưởng mới, kỹ năng tự học, tự nghiên cứu tạo phong cách của cá nhân trong quá trình học tập tiếp theo
Bài tập lớn (tiểu luận)
Tiểu luận là loại bài tập chính thức được quy định trong chương trình đào tạo, sau khi sinh viên đã học kiến thức cơ sở ngành và kiến thức chuyên môn
Cách thức thực hiện: Tất cả sinh viên đều phải làm dưới sự hướng dẫn của giảng viên Đây là loại hình nghiên cứu yêu cầu cao hơn bài tập nhỏ, thời gian nghiên cứu dài hơn và có quy định cụ thể về nội dung, thời gian hoàn thành, hình thức đánh giá Việc tiến hành làm bài tập lớn thường gắn với việc học tập chuyên đề
từ năm thứ hai Những chuyên đề hỗ trợ rất tốt về chất lượng cho việc làm bài tập lớn của sinh viên
Mục đích chủ yếu của hình thức nghiên cứu này là cho sinh viên thực hành với các thủ pháp NCKH, tìm hiểu, tra cứu tài liệu, phát hiện ứng dụng, liên hệ thực
tế chứ chưa làm giàu cho khoa học bằng kết quả của các công trình nghiên cứu
Cách đánh giá: Kết quả được đánh giá bằng điểm số của môn học Việc hoàn thành bài tập lớn có ý nghĩa quan trọng đặt tiền để cho các hình thức nghiên cứu cao hơn như: làm khoá luận, đồ án tốt nghiệp
Bài báo khoa học
Đây là những bài báo rất ngắn (chỉ khoảng 600 đến 1000 chữ, tùy theo qui định của tập san) mà nội dung chủ yếu tập trung giải quyết một vấn đề rất hẹp hay báo cáo một phát hiện nhỏ nhưng quan trọng
Mục đích của bài báo khoa học là một hình thức bài viết nhằm thông báo một kết quả nghiên cứu (quan sát, điều tra, một kết quả thực nghiệm, một sáng kiến )
Yêu cầu đặt ra cho một bài báo khoa học là:
- Bài báo khoa học phải mang tính thuyết phục cao
- Ðộ dài ngắn của bài báo khoa học tùy thuộc vào nội dung công việc, song nói chung không quá dài Thông thường, nơi xuất bản luôn luôn yêu cầu sự ngắn gọn của bài báo khoa học, mang tính trao đổi thông tin là chủ yếu
Trang 35Khoá luận tốt nghiệp
Khoá luận là hình thức nghiên cứu cao hơn làm bài tập lớn Đây là bài tập NCKH cuối khoá chỉ dành riêng cho những sinh viên có kết quả học tập đạt từ loại khá trở lên
Cách thức thực hiện: Khi làm khoá luận, sinh viên phải đọc nhiều tài liệu có liên quan nhất là những sách chuyên khảo và phải được một giảng viên chính hướng dẫn trên cơ sở tinh thần chủ động, độc lập nghiên cứu của sinh viên là chủ yếu Yêu cầu của khóa luận phải thể hiện rõ tính sáng tạo của người nghiên cứu
Cách kiểm tra đánh giá: Việc đánh giá kết quả của khoá luận do một hội đồng do Hiệu trưởng quyết định thành lập Sinh viên được dành khoảng thời gian
30 phút để báo cáo tóm tắt khoá luận Sau khi phản biện đọc nhận xét, người hướng dẫn đánh giá kết quả và thái độ làm việc của sinh viên Toàn thể hội đồng thảo luận kết quả kể cả việc chất vấn tác giả, cuối cùng là phần bỏ phiếu kín cho điểm theo thang điểm 10 Điểm của khoá luận là điểm trung bình của các thành viên hội đồng được công bố công khai ngay trong buổi nghiệm thu
Đồ án tốt nghiệp (dành cho các sinh viên các ngành kỹ thuật)
Về tính chất và mức độ các yêu cầu của đồ án tốt nghiệp cũng như yêu cầu của khoá luận Song việc làm đồ án tốt nghiệp được thực hiện bởi sinh viên các ngành kỹ thuật Đồ án tốt nghiệp được xem như chương trình nghiên cứu cuối cùng, khi sinh viên đã hoàn thành tất cả các môn học và chương trình học tập khác
Nội dung của đồ án tốt nghiệp đối với các khối ngành kỹ thuật là những hình thức nghiên cứu hướng tới mục đích là để sinh viên thực hiện NCKH Đây là
cơ sở nền móng giúp cho những chuyên gia sau này không những giỏi về chuyên môn, mà còn tham gia NCKH có hiệu quả, chủ động sáng tạo trong công việc
Cách thức thực hiện: Sinh viên làm đồ án tốt nghiệp tự chọn đề tài hoặc giảng viên hướng dẫn gợi ý đề tài nghiên cứu Quá trình thực hiện đề tài sinh viên phải tra cứu tài liệu, tìm hiểu sâu phần kiến thức chuyên ngành, có ý tưởng, mô hình
cụ thể để ứng dụng các nghiên cứu Đồ án tốt nghiệp gồm thuyết minh, số liệu tính toán, so sánh tính kinh tế kỹ thuật lựa chọn phương án, bản vẽ, mô hình và sản phẩm ứng dụng
Trang 36Cách đánh giá: Đồ án tốt nghiệp được bảo vệ trước hội đồng do hiệu trưởng
ra quyết định thành lập, kết quả được tính là điểm tốt nghiệp của sinh viên
Ngoài các hình thức NCKH thuộc chương trình đào tạo trên, các sinh viên còn tham gia nhiều hình thức NCKH khác như: thi Olympic, thực tập tốt nghiệp tại doanh nghiệp, viết bài gửi đăng trên tạp chí khoa học, tham gia hội nghị khoa học, tham gia đề tài NCKH cấp khoa, cấp trường,… do giảng viên hướng dẫn
Ngoài các hình thức NCKH trên còn có các hình thức khác như: tham gia các hội nghị khoa học; tham gia các đề tài nghiên cứu; tham gia cuộc thi SV NCKH; hoạt động thực tế, kiến tập tại các doanh nghiệp……
1.4 Lý luận về quản lý hoạt động NCKH của SV
1.4.1 Quản lý mục tiêu hoạt động NCKH của SV
QL hoạt động NCKH của SV là một trong những nội dung của công tác QL giáo dục trong nhà trường, tiến hành theo quy chế của Bộ GD&ĐT
Mục tiêu chính của nghiên cứu khoa học ở bậc này là trang bị cho sinh viên các kiến thức, kỹ năng nghiên cứu khoa học độc lập để hỗ trợ cho hoạt động học tập
và chuẩn bị cho các dự án thật sau khi tốt nghiệp Do vậy, khi tiếp cận nghiên cứu khoa học trong sinh viên, mục tiêu nên đặt nhiều trọng số vào hoạt động nghiên cứu hay quá trình tiến hành nghiên cứu (phát hiện vấn đề, xây dựng đề cương, tổ chức thực hiện, phương pháp thực hiện, tìm kiếm tài liệu, thu thập thông tin, thí nghiệm, quan sát, phân tích số liệu, thử nghiệm kết quả, viết báo cáo, trình bày báo cáo) chứ không đặt nặng vào kết quả nghiên cứu sản phẩm cuối cùng
1.4.2 Quản lý nội dung hoạt động NCKH của SV
Nghiên cứu khoa học trong sinh viên không là cái gì xa vời, nó nằm ngay trong hoạt động đào tạo của các trường Nó bắt nguồn từ những việc nhỏ như phát hiện ra một vấn đề thú vị trong quá trình học môn học sinh viên, sinh viên tự tìm đọc tài liệu, các công trình nghiên cứu trên các tạp chí khoa học, trao đổi với nhau (và với giảng viên) ở các diễn đàn chính thức và không chính thức đến việc thực hiện các đề án môn học, luận văn tốt nghiệp hay cao hơn là các đề tài nghiên cứu độc lập
Trang 37Nội dung của vấn đề nghiên cứu khoa học của sinh viên thường gắn với nội dung môn học, các vấn đề phát hiện trong quá trình học môn học
1.4.3 Quản lý hình thức, phương pháp NCKH
NCKH của SV được tiến hành dưới nhiều hình thức khác nhau như: viết tiểu
luận/bài điều kiện, Xê-mi-na, viết luận văn, tham gia hội nghị khoa học, tham gia một phần đề tài của thầy/cô, tham gia cuộc thi SV NCKH, viết bài gửi đăng trên tạp chí khoa học, hoạt động thực tế… Với mỗi mục tiêu và nội dung khác nhau lại thì lại có hình thức NCKH tương ứng, với sinh viên năm nhất mục tiêu chủ yếu là phát hiện vấn đề trọng tâm của môn học và sinh viên chưa có nhiều kiến thức và kỹ năng NCKH thì hình thức chủ yếu là bài tập nhỏ, bài điều kiện Khi kiến thức của sinh viên đã được hình thành và để sinh viên tập dượt NCKH thì vào năm thứ hai sinh viên thực hiện NCKH dưới dạng bài tập lớn, tiểu luận giúp sinh viên độc lập vận dụng và thực hiện hoàn chỉnh một qui trình nghiên cứu khoa học, thấy được những trở ngại, thấy được những khó khăn và xử lý các khó khăn đó để từ đó SV năm cuối thực hiện viết khóa luận tốt nghiệp hay đồ án tốt nghiệp
1.4.4 Quản lý kiểm tra, đánh giá hoạt động NCKH của SV
Nghiên cứu khoa học là công việc đi tìm lời giải thích và thực hiện các dự báo cho các câu hỏi mà khoa học và thực tiễn chưa có đáp án nhằm góp phần gia tăng tri thức nhân loại Với cách đặt vấn đề này, nghiên cứu khoa học là công việc chuyên nghiệp, của các nhà nghiên cứu chuyên nghiệp – thông thường là những người có bằng Tiến sĩ ở các chuyên ngành Bằng thạc sĩ (master) ở các nước cũng chủ yếu để
đi làm chứ không phải là bằng cấp nghiên cứu Chúng ta cũng cần phân biệt rõ hai thành phần trong nghiên cứu khoa học: hoạt động nghiên cứu (quá trình thực hiện nghiên cứu) và kết quả nghiên cứu (mức độ đóng góp cho khoa học, mức độ ứng dụng giải quyết vấn đề thực tiễn) Hai thành phần này cũng chính là hai tiêu chí để đánh giá một công trình nghiên cứu Để tiến hành kiểm tra cần phải có tiêu chuẩn, nội dung và phương pháp kiểm tra Nhà quản lý phải thu thập thông tin từ các bộ phận, các thành viên trong tổ chức để đánh giá, kịp thời phát hiện sai sót và điều chỉnh Đồng thời tìm ra nguyên nhân của thành công và thất bại để rút ra bài học kinh nghiệm cho quá trình quản lý tiếp theo
Trang 38Kiểm tra hoạt động NCKH của sinh viên được căn cứ vào mục đích, nội dung, tiến độ thực hiện (kết quả từng giai đoạn) để kiểm tra, đánh giá theo các tiêu chí và yêu cầu đặt ra Kiểm tra được thực hiện bởi hội đồng khoa học cấp khoa, đối với đề tài NCKH cấp trường có sự tham gia của thành viên hội đồng khoa học trường Các thông tin trong quá trình kiểm tra được sử dụng để ra quyết định điều chỉnh phù hợp nhằm đạt mục tiêu đề ra
1.4.5 Quản lý các điều kiện hỗ trợ cho hoạt động NCKH của SV
NCKH của sinh viên là một hoạt động đầy khó khăn, thử thách Đòi hỏi sinh viên phải kiên trì tập trung trí tuệ, sức lực, thời gian cho công trình nghiên cứu Vì vậy, cơ quan quản lý hoạt động NCKH, giảng viên cần phải có những biện pháp động viên, có cơ chế khuyến khích, hành động thuyết phục để khích lệ sinh viên tập trung cho hoạt động nghiên cứu, không nản chí hay bỏ giữa chừng, nhằm tạo động lực cho người học hoàn thành nhiệm vụ nghiên cứu
Quản lý các điều kiện hỗ trợ cho hoạt động NCKH bao gồm: quản lý bố trí sắp xếp để các giảng viên nhiều kinh nghiệm, năng lực chuyên môn tốt, nhiệt tình tham gia hướng dẫn sinh viên NCKH Đầu tư thỏa đáng có trọng điểm về điều kiện,
cơ sở vật chất như: thư viện, phòng thí nghiệm, phòng thực hành, hợp tác liên kết với cơ sở sản xuất, doanh nghiệp, tổ chức các đoàn tham quan doanh nghiệp cho SV
để từ đó SV có cơ hội phát hiện ra đề tài NCKH thiết thực, có ý nghĩa cho mình Tạo điều kiện thuận lợi để sinh viên có thể tìm hiểu tiếp cận thực tế trong quá trình học tập, NCKH và tìm kiếm việc làm khi ra trường
1.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động NCKH của SV
1.5.1 Năng lực học tập - NCKH của SV
Đội ngũ sinh viên của nhà trường là lực lượng đông đảo những con người trẻ, tràn đầy nhiệt huyết muốn được cống hiến, có khả năng sáng tạo, trực tiếp tham gia NCKH và là nguồn nhân lực thúc đẩy hoạt động NCKH của trường phát triển Tuy nhiên kỹ năng, phương pháp NCKH còn nhiều hạn chế, để NCKH có hiệu quả, sinh viên phải có niềm đam mê với đề tài mình theo đuổi và còn phải có nhiệt huyết và trăn trở, ứng dụng những kiến thức mình đã và đang được học vào vấn đề mình
Trang 39Giáo dục đại học hiện nay, dạy tư duy sáng tạo thông qua bộ môn NCKH, NCKH trong quá trình học các môn học Đó là một việc làm hữu hiệu nhất giúp SV học tập và vận dụng những tri thức và kĩ năng để bước đầu “tập dượt NCKH”; phát hiện vấn đề, rèn luyện kĩ năng nghiên cứu, tư duy sáng tạo để có thể tiến tới nghiên cứu những công trình đạt hiệu quả cao hơn
Trong những năm gần đây, việc đào tạo gắn với nhu cầu người sử dụng được nhiều trường đại học quan tâm, nhất là các trường đại học khối kỹ thuật Việc sinh viên ra trường được các nhà tuyển dụng lựa chọn dựa vào năng lực chuyên môn được đào tạo, khả năng đáp ứng công việc, có thể thích ứng với lĩnh vực chuyên môn gần ngành đào tạo làm thay đổi nhận thức của sinh viên về phương pháp học tập Chính vì vậy, nhận thức của sinh viên về tầm quan trọng của hoạt động NCKH ngày càng được nâng cao được thể hiện ở việc sinh viên tích cực hơn trong đăng ký tham gia đề tài NCKH cấp khoa, cấp trường, phấn đấu học tập có kết quả cao để được làm đồ án tốt nghiệp
NCKH đòi hỏi SV nắm vững về kiến thức; có khả năng phát hiện, khả năng
tư duy phản biện, nghĩa là khi gặp bất cứ vần đề nào đó hay một kết luận nào đó được đưa ra thì chúng ta sẽ có được tư duy là “Tại sao”, “Tại sao họ lại đưa ra kết luận này?” ,“Liệu có thể đưa ra kết luận nào khác hay không?”…; có tư duy sắc sảo, một quan điểm đúng, một hệ phương pháp phù hợp và khả năng thành thạo trong việc sử dụng các phương tiện kĩ thuật; khả năng thu thập, xử lý số liệu và tìm kiếm tài liệu
1.5.2 Năng lực NCKH của cán bộ GV
Đội ngũ đóng vai trò “hoa tiêu” giúp SV từng bước thực hiện một đề tài nghiên cứu và là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến hoạt động NCKH của SV, là những người tham gia hướng dẫn NCKH, bao gồm chủ yếu là đội ngũ GV có kinh nghiệm giảng dạy và NCKH ở các khoa, tổ bộ môn và SV đạt kết quả cao trong học tập Đây là đội ngũ đông đảo những con người trẻ, có khả năng sáng tạo, tràn đầy nhiệt huyết muốn được cống hiến, trực tiếp tham gia NCKH và là nguồn nhân lực thúc đẩy hoạt động NCKH của trường phát triển
Trang 40Vai trò của người thầy rất quan trọng, có tính chất quyết định trong việc định hướng cho SV cách thức chọn, triển khai và hoàn thành một đề tài nghiên cứu Muốn SV trở thành những người sáng tạo, trước hết cần phải có những người thầy sáng tạo, có kinh nghiệm NCKH, có tác phong nghiên cứu từ đó mới khơi gợi lòng ham thích học hỏi, giúp SV phát triển tư duy sáng tạo Người GV muốn trở thành
GV giỏi phải biết nghiên cứu, tìm tòi, sáng tạo trong dạy học Việc nghiên cứu và hướng dẫn SV NCKH là yêu cầu bắt buộc đối với tất cả GV ĐH Như vậy, để hoạt động NCKH của SV đạt chất lượng cao thì trước tiên cần phải chú trọng và nâng cao công tác NCKH của GV
1.5.3 Yếu tố thuộc về môi trường quản lý
Để có môi trường thuận lợi cho các tổ chức, cá nhân và toàn xã hội trong đó
có các trường đại học tham gia hoạt động khoa học và công nghệ Trong những năm qua, Nhà nước đã ban hành Luật Khoa học và Công nghệ, Luật Sở hữu trí tuệ, Luật Chuyển giao công nghệ, Luật Tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật, Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hoá và nhiều văn bản hướng dẫn thi hành để tạo thành một hệ thống pháp luật hoàn chỉnh và đồng bộ Việc hoàn thiện môi trường pháp lý đã phục vụ cho các cuộc đàm phán gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), đưa Việt Nam hòa nhập với các chuẩn thương mại quốc tế
Trong QLGD nói chung và quản lý hoạt động NCKH nói riêng các chủ trương, chính sách, chỉ thị, thông tư, hướng dẫn, là công cụ quản lý, môi trường pháp lý quan trọng để hệ thống giáo dục đào tạo, các nhà trường vận động phát
triển Tại văn kiện Đại hội X khẳng định: “Giáo dục và đào tạo cùng với khoa học
và công nghệ là quốc sách hàng đầu, là nền tảng và động lực thúc đẩy công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước” Cương lĩnh xây dựng đất nước thời kỳ quá độ lên chủ
nghĩa xã hội (Bổ sung, phát triển 2011) được thông qua tại Đại hội XI của Đảng
nhấn mạnh: “Giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ có sức mạnh nâng cao dân trí, phát triển nguồn nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, góp phần quan trọng phát triển đất nước, xây dựng nền văn hoá và con người Việt Nam Phát triển giáo dục
và đào tạo cùng với phát triển khoa học và công nghệ là quốc sách hàng đầu; đầu
tư cho giáo dục và đào tạo là đầu tư phát triển”