Dạy nghề gúp cho người lao động có kiến thức chuyên môn, kỹ năng và thái độ NN để từ đó họ có thể tìm được việc làm phù hợp với trình độ và năng lực của bản thân trong các cơ quan, doa
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
BÙI KHẮC DUY
QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC HƯỚNG NGHIỆP
Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG THÀNH PHỐ ĐIỆN BIÊN PHỦ,
TỈNH ĐIỆN BIÊN
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ GIÁO DỤC
HÀ NỘI - 2015
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
BÙI KHẮC DUY
QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC HƯỚNG NGHIỆP
Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG THÀNH PHỐ ĐIỆN BIÊN PHỦ,
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Sau thời gian học tập và nghiên cứu tại Trường Đại học Giáo dục, Đại học Quốc gia Hà Nội, được sự giúp đỡ và chỉ bảo tận tình của các thầy, cô giáo và sự
nỗ lực của bản thân, tác giả đã hoàn thành luận văn khoa học này
Tác giả xin gửi lời tri ân sâu sắc tới các thầy giáo, cô giáo, cán bộ Trường Đại học Giáo dục, Đại học Quốc gia Hà Nội đã tận tình giảng dạy, truyền đạt những kiến thức và kinh nghiệm quý báu, tạo mọi điều kiện giúp đỡ tác giả hoàn thành chương trình học tập và nghiên cứu của mình
Đặc biệt, tác giả xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc nhất tới
PGS TS Đặng Danh Ánh, người hướng dẫn khoa học, người thầy uyên bác, đầy
trách nhiệm, tận tâm đã giúp đỡ tác giả trong việc định hướng nghiên cứu cũng như trong suốt quá trình thực hiện đề tài
Tác giả xin chân thành cảm ơn các cán bộ quản lý, các nhà giáo, các em học sinh và cha mẹ học sinh của Trường trung học phổ thông thành phố Điện Biên Phủ, trung tâm Kỹ thuật tổng hợp - Hướng nghiệp tỉnh, gia đình, bạn bè đã tạo điều kiện, cộng tác và ủng hộ tác giả trong quá trình học tập và nghiên cứu của mình
Mặc dù đã nỗ lực hết mình trong học tập, nghiên cứu lý luận, khảo sát thực tiễn, nhưng chắc chắn tác giả không tránh khỏi những thiếu sót Kính mong nhận được sự góp ý, chỉ bảo của các thầy giáo, cô giáo, các bạn đồng nghiệp và tất cả những ai quan tâm đến đề tài này
Hà Nội, tháng 10 năm 2015
Tác giả
Bùi Khắc Duy
Trang 4GD&ĐT : Giáo dục và Đào tạo
Trang 5MỤC LỤC
Lời cảm ơn i
Danh mu ̣c chữ viết tắt ii
Mục lục iii
Danh mu ̣c bảng vi
Danh mục sơ đồ biểu đồ vii
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC HƯỚNG NGHIỆP TRONG TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 5
1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề 5
1.1.2 Ở Việt Nam 7
1.2 Một số khái niệm cơ bản của đề tài 11
1.2.1 Nghề - Đào tạo nghề 11
1.2.2 Hướng nghiệp và giáo dục hướng nghiệp 14
1.2.3 Quản lý - quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp 18
1.3 Giáo dục hướng nghiệp trong trường phổ thông 24
1.3.1 Đặc điểm học sinh học trung học phổ thông 24
1.3.2 Ý nghĩa của giáo dục hướng nghiệp cho học sinh phổ thông 25
1.3.3 Nhiệm vụ của giáo dục hướng nghiệp ở trường phổ thông 26
1.3.4 Các hình thức hướng nghiệp cho học sinh trong trường phổ thông 27
1.4 Nội dung quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp trong trường trung học phổ thông 28
1.4.1 Nâng cao nhận thức về giáo dục hướng nghiệp 28
1.4.2 Xây dựng kế hoạch giao dục hướng nghiệp 28
1.4.3 Tổ chức thực hiện giáo dục hướng nghiệp 29
1.4.4 Chỉ đạo thực hiện giáo dục hướng nghiệp 30
1.4.5 Xây dựng các nguồn lực phụ vụ giáo dục hướng nghiệp 30
1.4.6 Kiểm tra đánh giá công tác giáo dục hướng nghiệp 31
1.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến giáo dục hướng nghiệp 31
1.5.1 Đường lối của Đảng, chính sách của Nhà nước về giáo dục hướng nghiệp 31
1.5.2 Yêu cầu của đổi mới giáo dục hướng nghiệp phổ thông 32
Trang 61.5.3 Điều kiện kinh tế - xã hội 32
Kết luận Chương 1 33
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC HƯỚNG NGHIỆP Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG THÀNH PHỐ ĐIỆN BIÊN PHỦ 34
2.1 Khái quát tình hình giáo dục và đào tạo tại trường trung học phổ thông thành phố Điện Biên Phủ 34
2.1.1 Khái quát chung về nhà trường 34
2.1.2 Tình hình hiện nay của nhà trường 34
2.2 Thực trạng hoạt động giáo dục hướng nghiệp ở trường trung học phổ thông thành phố Điện Biên Phủ 36
2.2.1 Thực trạng nhận thức của học sinh, cán bộ quản lý, giáo viên và phụ huynh học sinh trong nhà trường về giáo dục hướng nghiệp 38
2.2.2 Thực trạng hoạt động giáo dục hướng nghiệp tại trường trung học phổ thông thành phố Điện Biên Phủ 43
2.3 Thực trạng quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp tại trường THPT thành phố Điện Biên Phủ hiện nay 55
2.3.1 Xây dựng kế hoạch giáo dục hướng nghiệp 55
2.3.2 Tổ chức thực hiện kế hoạch giáo dục hướng nghiệp 58
2.3.3 Chỉ đạo thực hiện giáo dục hướng nghiệp 59
2.3.4 Nguồn lực phục vụ giáo dục hướng nghiệp 62
2.3.5 Kiểm tra, đánh giá công tác giáo dục hướng nghiệp 64
2.4 Đánh giá chung về thực trạng hoạt động giáo dục hướng nghiệp và quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp tại trường THPT thành phố Điện Biên Phủ 65
2.4.1 Kết quả hoạt động GDHN và công tác quản lý hoạt động GDHN của trường THPT thành phố Điện Biên Phủ 65
2.4.2 Hạn chế trong quản lý giáo dục hướng nghiệp của nhà trường 68
2.4.3 Nguyên nhân của hạn chế 69
Kết luận Chương 2 71
Trang 7CHƯƠNG 3 BIỆN PHÁP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC HƯỚNG NGHIỆP Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG THÀNH PHỐ ĐIỆN
BIÊN PHỦ 73
3.1 Nguyên tắc đề xuất xây dựng biện pháp 73
3.1.1 Nguyên tắc đảm bảo tính pháp chế 73
3.1.2 Nguyên tắc đảm bảo tính thực tiễn, kế thừa và phát triển 74
3.1.3 Nguyên tắc đảm bảo tính khả thi 75
3.2 Biện pháp quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp ở trường trung học phổ thông thành phố Điện Biên Phủ 76
3.2.1 Cải tiến viê ̣c tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức về giáo dục hướng nghiệp 76
3.2.2 Đổi mới công tác kế hoạch và tăng cường trách nhiệm quản lý của nhà trường về giáo dục hướng nghiệp 82
3.2.3 Tổ chức bồi dưỡng năng lực chuyên môn và nghiê ̣p vu ̣ sư pha ̣m về giáo dục hướng nghiệp cho cán bộ quản lý và giáo viên 87
3.2.4 Chỉ đạo đổi mới phương pháp và hình thức tổ chức hoạt động giáo dục hướng nghiệp 90
3.2.5 Nâng cấp cơ sở vật chất, thiết bị phu ̣c vu ̣ giáo du ̣c hướng nghiê ̣p 94
3.2.6 Quan tâm hỗ trợ tư vấn cho học sinh và phụ huynh về sự lựa chọn nghề trong giáo dục hướng nghiệp 96
3.3 Mối quan hệ giữa các biện pháp 100
3.4 Khảo nghiệm sự cần thiết và tính khả thi của biện pháp quản lý công tác giáo dục hướng nghiệp ở trường THPT thành phố Điện Biên Phủ 101
3.4.1 Phương pháp nghiên cứu được dùng để xác định sự cần thiết và tính khả thi 101
3.4.2 Nội dung phiếu hỏi ý kiến 101
3.4.3 Đối tượng hỏi ý kiến 101
Kết luận chương 3 105
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 106
1 Kết luận 106
2 Khuyến nghị 108
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 111
PHỤ LỤC 113
Trang 8DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1 Thống kê số lớp, số học sinh trong 4 năm học 34
Bảng 2.2 Thống kê kết quả xếp loại hạnh kiểm, học lực 36
Bảng 2.3 Nhận thức của học sinh về nghề nghiệp 39
Bảng 2.4 Nhận thức của học sinh về tầm quan trọng của GDHN 40
Bảng 2.5 Nhận thức của CBQL, GV về tầm quan trọng của GDHN trong trường THPT 41
Bảng 2.6 Mức độ quan tâm của CBQL, GV nhà trường hiện nay về GDHN 41
Bảng 2.7 Tầm quan trọng của gia đình và nhà trường trong GDHN cho học sinh 42 Bảng 2.8 Hiểu biết của phụ huynh HS về nghề định chọn cho "con" 43
Bảng 2.9 Tổ chức, triển khai các chủ đề GDHN 44
Bảng 2.10 Mức độ ảnh hưởng của chương trình GDHN thông qua các môn học và các chủ đề GDHN đến việc chọn nghề của HS 44
Bảng 2.11 Ứng dụng các phương pháp GDHN 45
Bảng 2.12 Ứng dụng các hình thức GDHN 47
Bảng 2.13 Giáo dục hướng nghiệp qua hoạt động hướng nghiệp 48
Bảng 2.14 Hướng nghiệp thông qua dạy học môn công nghệ 50
Bảng 2.15a Tình hình học nghề phổ thông của học sinh 51
Bảng 2.15b Điều kiện thực hiện dạy nghề phổ thông 51
Bảng 2.16 Giáo dục hướng nghiệp thông qua hoạt động dạy học các môn văn hóa 53
Bảng 2.17 Hướng nghiệp thông qua hoạt động ngoại khóa 54
Bảng 2.18 Xây dựng các điều kiện phục vụ cho hoạt động giáo dục hướng nghiệp 62
Bảng 2.19 Thành công trong tổ chức thực hiện và QL hoạt động GDHN của nhà trường 65
Bảng 2.20 Nguyên nhân của những thành công 67
Bảng 3.1 Kết quả khảo nghiệm sự cần thiết và tính khả thi của các biện pháp 101
Trang 9DANH MỤC SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ
Sơ đồ 1.1 Mô hình quản lý 20
Sơ đồ 1.2 Mối quan hệ các chức năng 23
Sơ đồ 1.3 Các thành tố của quản lý giáo dục hướng nghiệp 23 Biểu đồ 3.1.Biểu đồ đánh giá tính rất cần thiết và rất khả thi của các biện pháp 103 Biểu đồ 3.2 Biểu đồ đánh giá mức độ cần thiết của các biện pháp 104 Biểu đồ 3.3 Biểu đồ đánh giá tính khả thi của các biện pháp 104
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Giáo dục hướng nghiệp cho học sinh phổ thông đang là vấn đề thời sự nóng hổi, bức xúc không chỉ đối với toàn ngành GD mà còn đối với toàn xã hội và là một trong những mối quan tâm lớn của Đảng và Nhà nước
Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX chỉ rõ: “…Coi trọng công
tác hướng nghiệp và phân luồng học sinh trung học, chuẩn bị cho thanh thiếu niên
đi vào lao động nghề nghiệp phù hợp với chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong cả nước
và từng địa phương…” [34] Điều này cũng được khẳng định trong nhiều văn bản
và nghị quyết về GD&ĐT như Luật GD, Quyết định 126/CP ngày 19/3/1981 của Chính phủ, Nghị quyết 40/2000/QH 10 của Quốc hội, Chiến lược phát triển GD 2001-2010, Chỉ thị 33/CT-BGD&ĐT ngày 23/7/2003 của Bộ GD&ĐT, Nghị định 75/2006/NĐ-CP ngày 02/8/2006…
Thực hiện chủ trương của Đảng và Nhà nước, Bộ GD&ĐT đã đưa GDHN vào nội dung GDPT Đặc biệt từ năm học 2006-2007 hoạt động GDHN được chính thức đưa vào chương trình và kế hoạch GDPT nhằm giúp HS biết cách chọn NN phù hợp với hứng thú, năng lực của bản thân, đồng thời phù hợp với nhu cầu nhân lực và yêu cầu phát triển KT-XH của đất nước Tuy nhiên hiệu quả hoạt động GDHN trong thời gian qua của các nhà trường còn thấp, chưa đáp ứng yêu cầu của
xã hội
Trường THPT thành phố Điện Biên Phủ là trường thuộc vùng thuận lợi của tỉnh Điện Biên, trường được UBND Tỉnh và Sở GD&ĐT quan tâm đầu tư về đội ngũ và CSVC đảm bảo cho sự phát triển về GD, nhưng so với yêu cầu chung vẫn còn nhiều bất cập, trong đó có những bất cập về GDHN Cụ thể là:
- CBQL, GV, NV và HS chưa nhận thức đầy đủ tầm quan trọng của GDHN;
- Do thiếu nhận thức đầy đủ và sâu sắc vai trò, vị trí của GDHN trong quá trình dạy học nên công tác QL hoạt động này rất lỏng lẻo, chưa có sự đầu tư và quan tâm đúng mức Tổ chức thực hiện, kiểm tra đánh giá còn mang tính hình thức
GV giảng dạy GDHN chủ yếu là GV kiêm nhiệm và GV chủ nhiệm, GV ít được được tập huấn, bồi dưỡng về kiến thức GDHN, phần lớn GV tự nghiên cứu tài liệu dẫn đến GV thiếu hiểu biết về kiến thức GDHN và thực hiện mang tính đại khái, cho
Trang 11xong chương trình, thậm chí cắt xén chương trình và thời gian;
- CSVC không đáp ứng yêu cầu, không có phòng HN tư vấn học đường, thiết
bị dạy học phục vụ hoạt động GDHN còn thiếu, nghèo nàn, lạc hậu, thiếu sách, thiếu tư liệu, tài liệu ít được cập nhật và không phù hợp với điều kiện thực tế
- Việc dạy NPT của nhà trường chưa được lồng ghép với các chủ đề GDHN, chưa xây dựng được mối liên kết với các trường Đại học, Cao đẳng, Trung học chuyên nghiệp và các trường công nhân kỹ thuật cũng như doanh nghiệp để GDHN cho HS Vì thế hiện nay HS của nhà trường thường chọn nghề một cách ngẫu nhiên , theo cảm tính , không có hiểu biết cần thiết về nghề mà mình định lựa chọn , do đó gặp nhiều khó khăn trong học nghề , ảnh hưởng đến chất lươ ̣ng đào tạo Hậu quả là
HS, SV chán nghề, đổi nghề trong quá trình đào tạo, thậm trí có một số em bỏ nghề, làm ảnh hưởng tới kế hoạch phát triển nguồn nhân lực của đất nước và của các doanh nghiệp thuộc năm thành phần kinh tế Tình hình này gây lãng phí tiền, vật chất không chỉ của gia đình mà còn của nhà nước
Vì những lý do trên, tôi chọn đề tài “Quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp ở trường trung học phổ thông thành phố Điên Biên Phủ, tỉnh Điện Biên
” làm đề tài nghiên cứu
3 Nhiệm vụ nghiên cứu
Căn cứ vào mục đích nghiên cứu, đề tài tập trung giải quyết các nhiệm vụ sau:
- Nghiên cứu cơ sở lý luận về GDHN và QL hoạt động GDHN trong trường THPT
- Đánh giá thực trạng hoạt động GDHN và QL hoạt động GDHN tại trường THPT thành phố Điện Biên Phủ
- Đề xuất một số biện pháp QL hoạt động GDHN cho HS ở trường THPT thành phố Điện Biên Phủ
Trang 124 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
4.1 Khách thể nghiên cứu
Hoạt động GDHN cho HS ở trường THPT thành phố Điên Biên Phủ
4.2 Đối tượng nghiên cứu
Quản lý hoạt động GDHN cho HSTHPT
5 Câu hỏi nghiên cứu
- Thực trạng QL hoạt động GDHN ở trường THPT thành phố Điên Biên Phủ tỉnh Điện Biên hiện nay như thế nào?
- Trong chương trình GDPT, GDHN có vai trò như thế nào? Thực trạng công tác QL, tổ chức thực hiện biện pháp nào để hoạt động GDHN tại các trường THPT được triển khai và hiệu quả như thế nào?
6 Gỉa thuyết khoa học
Hiện nay trong công tác QL GDHN ở các trường THPT vẫn còn những hạn chế, bất cập do đó chưa đạt được các mục tiêu đề ra Nếu áp du ̣ng đồng bô ̣ những biện pháp QL do đề tài nêu ra thì sẽ nâng cao hiệu quả QL GDHN ở các trường
THPT tỉnh Điện Biên
7 Phạm vi nghiên cứu
- Đánh giá thực trạng về hoạt động GDHN và QL hoạt động GDHN ở cả khối lớp 10, 11, 12, nhưng đi sâu vào khối 12 của trường THPT thành phố Điện Biên Phủ
- Thời gian: các năm học 2010-2011, 2011-2012, 2012-2013 và 2013-2014
8 Phương pháp nghiên cứu
8.1 Phương pháp nghiên cứu lý thuyết
- Tìm hiểu chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước về công tác GDHN
- Hệ thống hóa những vấn đề lý luận về GDHN và QL GDHN ở trường THPT
8.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
Khảo sát, điều tra (thông qua bảng hỏi, qua các số liệu thống kê); phương pháp tổng kết kinh nghiệm, thực nghiệm, xin ý kiến chuyên gia, phỏng vấn sâu
8.3 Phương pháp thống kê
Sử dụng phương pháp thống kế toán và một số phần mền để sử lý các số liệu thu thập trong quá trình khảo sát
Trang 139 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
- Góp phần giú p các trường THPT trong tỉnh Điện Biên có thể tham khảo,
áp dụng vào công tác QL hoạt động GDHN của mình
10 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, khuyến nghị, tài liệu tham khảo và phụ lục, nội
dung của luận văn được cấu trúc làm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp trong
trường trung học phổ thông
Chương 2: Thực trạng quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp ở trường
trung học phổ thông thành phố Điên Biên Phủ
Chương 3: Biện pháp quản lý hoạt động giáo hướng nghiệp ở trường trung
học phổ thông thành phố Điên Biên Phủ
Trang 14- Thế kỷ XIX (năm 1848), những người làm công tác HN ở Pháp đã xuất bản
cuốn sách: “Hướng nghiệp chọn nghề” nhằm giúp đỡ thanh niên trong việc lựa chọn
NN để sử dụng có hiệu quả năng lực lao động của thế hệ trẻ
Cộng hòa Pháp là một trong những nước đã phát triển hướng học, HN và tư vấn nghề sớm nhất trên thế giới Ngày 25-12-1922 Bộ Công nghiệp và Thương nghiệp Cộng hòa Pháp đã ban hành nghị định về công tác hướng học, HN và thành lập Sở HN cho thanh niên dưới 18 tuổi; tới ngày 24-5-1938 công tác HN đã mang tính pháp lý thông qua quyết định ban hành chứng chỉ HN bắt buộc đối với tất cả thanh niên dưới 17 tuổi, trước khi trở thành người làm việc trong các xí nghiệp thủ công, công nghệ hoặc thương nghiệp Từ năm 1960, Pháp đã tiến hành thành lập hệ thống các trung tâm thông tin hướng học và HN từ Bộ GD đến khu, tỉnh, huyện và cụm trường
Năm 1975, nước Pháp đã tiến hành cải cách GD để hiện đại hóa nền GD Cải cách GD ở Pháp chú ý đặc biệt chăm lo giảng dạy lao động và NN cho HS, khắc phục khuynh hướng và quan niệm coi GD lao động là một hoạt động GD loại hai (tức là đứng sau các môn khoa học) Nhà trường Pháp hiện nay đã giảm bớt tính hàn lâm trong việc cung cấp các kiến thức khoa học, tăng tỉ trọng kiến thức có ý nghĩa thực dụng và ý nghĩa HN để giúp cho HS trung học chuẩn bị đi vào đào tạo và cuộc sống NN
- Hoạt động HN được nhiều tác giả quan tâm như: E.A Klimov, V.N Supkin, V.P Gribanov, V.A Kruchetxki Nghiên cứu của các tác giả tập trung vào hứng thú NN, động cơ chọn nghề, các giá trị về nghề mà HS quan tâm, đồng thời
Trang 15đưa ra những chỉ dẫn để giúp HS chọn nghề tốt hơn như: Đảm bảo quyền tự lựa chọn nghề của HS; tôn trọng hứng thú NN của con người cũng như chỉ rõ nhu cầu của thị trường lao động; không ngừng nâng cao trình độ thạo nghề của cá nhân như
là điều kiện quan trọng nhất được thỏa nguyện nhu cầu phát triển của con người trong lao động
- Ở Nhật Bản, đã từ lâu GD Nhật Bản chú ý đến vấn đề hoàn thiện nội dung, hình thức dạy học kĩ thuật nhằm cung cấp tri thức, rèn luyện kĩ năng lao động NN
và phát triển tư duy sáng tạo cho HSPT Chính vì vậy, ở Nhật Bản trong những năm qua, nhiều cuộc cải cách GD đã được tiến hành với mục đích đảm bảo cho GDPT đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế cụ thể của đất nước Trong đó có nhiều biện pháp
đã được áp dụng để nâng cao trình độ đào tạo về HN và khoa học tự nhiên trong các trường phổ thông
- Ở Trung Quốc, một quốc gia có sự ảnh hưởng sâu sắc của tư tưởng học hành,
thi cử vì mục tiêu thoát khỏi lao động chân tay, cốt đỗ đạt khoa cử để “làm quan” tuy
nhiên trong hơn 40 năm cải cách mở cửa, nước này đã có nhiều cải cách về GD Trong chương trình giảng dạy thường có các môn học tự chọn với mục tiêu trang bị cho HS những kiến thức và kỹ năng chuyên môn cần thiết để HS có khả năng tham gia lao động NN ở các lĩnh vực KT-XH khác nhau hoặc tiếp tục học lên trình độ NN cao hơn
ở bậc đại học Như vậy trong GD&ĐT, Trung Quốc đã và đang thực hiện việc phân luồng HS sau THCS
- Ở các nước Châu Âu, vốn là châu lục phát triển mạnh mẽ về khoa học, công nghệ, nên họ đã làm tốt công tác phân luồng cho một bộ phận HSPT học nghề để sớm tự lập cuộc sống Điển hình ở Đức, hệ thống trường phổ thông quán triệt nguyên tắc HN để chuẩn bị cho HS đi vào trường đào tạo nghề tùy theo trình độ học tập của mỗi em HS được phân loại ngay từ cấp tiểu học Sau lớp 5, căn cứ vào thành tích học tập của từng em, HS được phân loại thành hai loại: loại chỉ học hết lớp 10 rồi đi vào học công nhân lành nghề tại các trung tâm dạy nghề và loại học hết trung học, lớp 12 Đến đây, lại được phân loại, những HS học khá trở lên được học lên lớp 13 thi lấy bằng tú tài toàn phần và vào học các trường đại học, số còn lại
sẽ vào học tại các cơ sở đào tạo nghề trung cấp Sự phân loại sơ bộ được tiến hành
từ khi học tiểu học nhưng phải được phúc tra và đưa ra quyết định chính xác sau lớp
Trang 169 Trong thời kỳ hiện đại hóa quá trình học tập của Đức, GDPT trong các nhà trường phải giữ được những truyền thống tốt đẹp đồng thời GD của nhà trường phổ thông phải xem xét lại mục tiêu và nhiệm vụ để hiện đại hóa nền GD Đức theo hướng: chuyển từ nhà trường truyền thống với 3 loại hình sang 2 loại hình; giảm thời lượng học tập của trường Ghim-na-zi (THCS) nhưng vẫn đảm bảo trình độ cao
về GDPT; sử dụng nguồn lực chính của nhà trường, sự sáng tạo của GV và sự đổi mới nhằm làm cho nhà trường được tự chủ trong QL
- Theo UNESCO, HN là một quá trình cung cấp cho người học những thông tin về bản thân, về thị trường lao động và định hướng cho người học các quyết định đúng đối với sự lựa chọn NN Trong khuyến cáo về GD thế kỷ XXI, UNESCO xác
định “học để làm việc” là một trong 4 trụ cột mà các nền GD phải hướng tới Về
GDHN, quan điểm của UNESCO cũng cho rằng GDPT là giai đoạn mà thế hệ trẻ lựa chọn cho mình con đường bước vào cuộc sống lao động thực sự HN tạo điều kiện cho HS lựa chọn một trong nhiều con đường khác nhau, giúp thế hệ trẻ có cơ hội học tập, tiếp cận đúng NN phù hợp khả năng cá nhân, tránh lãng phí cho gia đình,
xã hội
Tóm lại: ngày nay người ta nhận thấy chỉ cung cấp thông tin là không đầy
đủ, mà cần phải chỉ ra sự phát triển về mặt cá nhân, xã hội, GD và NN của HS Một
sự thay đổi khác có ảnh hưởng lớn đến hoạt động HN là nó được nhận thức như là một quá trình phát triển, đòi hỏi một cách tiếp cận chương trình chứ không chỉ đơn giản là các cuộc phỏng vấn cá nhân tại thời điểm quyết định
1.1.2 Ở Việt Nam
So với các nước trên thế giới GDHN ở Việt nam đã được tiến hành muộn Mặc dầu, nước Việt Nam dân chủ cộng hòa được ra đời năm 1945, song do vấp phải nhiều cuộc chiến tranh nên lúc đó hệ thống GDHN chưa hình thành, chủ trương chính sách về GDHN chưa rõ nét Ban đầu (những năm 1945-1975) GDHN chủ yếu cho HS tìm hiểu ngành nghề (chưa có chương trình GDHN) qua các hình thức: HS học tập kỹ thuật tại các trường phổ thông: công nghiệp, nông lâm - ngư nghiệp, vừa học vừa làm và lao động sản xuất cùng bà con nông dân, công nhân nhằm đạt được mục tiêu, nguyên lý GD là: học đi đôi với hành, học tập ngắn liền với lao động sản xuất; GD nhà trường kết hợp với GD gia đình và xã hội Chính vì vậy ngay từ
Trang 17năm 1960, Bác Hồ đã dạy “Trong việc giáo dục và học tập phải chú trọng đủ các
mặt: đạo đức cách mạng, giác ngộ xã hội chủ nghĩa, văn hóa, kĩ thuật, lao động và sản xuất” Người cũng đã chỉ ra “Nhà trường xã hội chủ nghĩa là nhà trường:
- Học đi với lao động
- Lý luận đi với thực hành
- Cần cù đi với tiết kiệm"
Trong bài báo “Học hay, cày giỏi”, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đề cập đến một yếu tố mới của GD, đó là phải coi trọng “Việc cung cấp cho học sinh những tri
thức cơ bản về kĩ thuật sản xuất công nghiệp và nông nghiệp” và “Những ngành sản xuất chủ yếu” trong xã hội Đó cũng chính là những nội dung GD kỹ thuật tổng
hợp và GDHN của nước ta lúc bấy giờ
Sau khi thống nhất đất nước, dưới ánh sáng nghị quyết số 14-NQ/TW ngày 11/01/1979 của Bộ Chính trị về cải cách GD, ở Việt Nam đã xuất hiện hai nhóm đầu tiên nghiên cứu về GDHN vào những năm 1976 - 1986 [5, 99-110]:
Nhóm thứ nhất ở Viện Khoa học giáo dục Việt Nam do Phạm Tất Dong dẫn đầu cùng các cộng sự Phạm Huy Thụ, Nguyễn Thế Trường, Đàm Chi đã nghiên cứu các đề tài:
- Tư vấn nghề và sắp xếp việc làm cho thương bệnh binh;
- Xây dựng chương trình "sinh hoạt GDHN" cho HSPT và sử dụng hợp lý
Nhóm thứ hai ở Viện Khoa học Dạy nghề do Đặng Danh Ánh dẫn đầu cùng các cộng sự Bùi Sĩ, Phạm Đức Quang, Mạc Cẩm Tú, Phan Ngọc Anh, Bùi Thị Mùi, Nguyễn Thị Hòa đã nghiên cứu các đề tài:
- Nghiên cứu mô hình trung tâm Dạy nghề Quận, Huyện nhằm tiếp nhận HSPT tốt nghiệp của các cấp ra trường;
- Xây dựng phòng truyền thống HN trong trường phổ thông và trường nghề;
Trang 18- Mô tả đặc tính của các nghề đào tạo nhằm GDHN cho HSPT;
- Nghiên cứu động cơ chọn nghề, học nghề và thích ứng nghề của HS các trường nghề
Những số liệu thu được của nhóm này làm cơ sở để Chính phủ ra Nghị quyết 109/CP ngày 12/3/1981 về phương hướng, chủ trương và biện pháp phát triển dạy nghề nhằm thu hút HSPT tốt nghiệp các cấp ra trường
Như vậy, công tác nghiên cứu GDHN của 2 Viện kể trên đã phối hợp với nhau rất đồng bộ, nhịp nhàng và hiệu quả
Cần nhấn mạnh rằng, ngày 19-3-1981, Hội đồng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 126/CP về "Công tác hướng nghiệp trong trường phổ thông và việc
sử dụng học sinh các cấp phổ thông cơ sở và phổ thông trung học tốt nghiệp ra
trường" [15] Có thể coi quyết định này là một cột mốc quan trọng đối với sự phát
triển GD trong hệ thống nhà trường phổ thông, bởi từ thời điểm ấy, HN được chính thức coi như là một nội dung GD và đồng thời được coi như một hoạt động có trong các tiết dạy của các môn học Để triển khai quyết định trên, ngày 17/8/1981 có thông tư số 31/TT-BGD của Bộ GD và thông tư 48/BT ngày 27/4/1982 của Hội đồng Bộ trưởng hướng dẫn việc thực hiện quyết định số 126/CP cho các cơ quan
QL GD, trường phổ thông các cấp và các Bộ, Ngành trong toàn quốc Phải nói rằng, đây là thời kỳ phát triển hoàng kim nhất của GDHN Việt Nam
Tuy nhiên, vào cuối thập kỷ 80 của thế kỉ XX, do nhiều yếu tố khác nhau, xu thế tách học với hành, GD với lao động sản xuất ngày càng tăng lên Vai trò của công tác HN dần dần bị coi nhẹ, việc học nghề của HSPT ít được quan tâm, nhiều
trường học đã tự ý bỏ sinh hoa ̣t HN, dẫn đến tình trạng thừa "thầy" thiếu "thợ" ngày
càng nghiêm trọng, ảnh hưởng không nhỏ đến sự phát triển nguồn nhân lực trong giai đoạn CNH-HĐH đất nước Nhiều Nghị quyết của Đảng đã nói đến thực trạng này Từ Đại hội Đảng lần thứ VIII (1996) đến Đại hội Đảng lần thứ IX (2001), Trung ương Đảng luôn nhấn mạnh đến tăng cường công tác HN, đẩy mạnh công tác dạy nghề
Để thực hiện chủ trương của Đảng về công tác HN, ngày 23-7-2003, Bộ GD&ĐT có Chỉ thị số 33/2003/CT-BGD "Về việc tăng cường GDHN cho HSPT"; trong phương hướng nhiệm vụ từng năm học, GDHN được quan tâm chỉ đạo Quyết
Trang 19định số 16/2006/QĐ-BGD ngày 5/6/2006 "Về việc ban hành chương trình GDPT", trong đó GDHN có chương trình chuẩn và chính thức có kế hoạch GD ở bậc THCS
và THPT, được triển khai đại trà từ năm học 2006-2007
Với mục tiêu của đổi mới chương trình GDPT là HS học xong cấp THPT phải đạt được ở các mặt GD: tư tưởng, đạo đức, lối sống; học vấn kiến thức phổ thông, hiểu biết kỹ thuật và HN; kỹ năng học tập và vận dụng kiến thức; thể chất và xúc cảm thẩm mỹ Trong những năm gần đây, các nhà tâm lý học, giáo dục học, xã hội học, kinh tế học, chính trị học trong nước đã tiếp cận nhiều vấn đề GDPT và HN cho HSPT ở các khía cạnh khác nhau
- Các tác giả Nguyễn Văn Hộ, Phạm Tất Dong, Đặng Danh Ánh trong các công trình nghiên cứu về công tác HN đã tập trung vào những vấn đề như:
+ Vấn đề lịch sử phát triển công tác GDHN ở các nước trên thế giới và ở Việt Nam
+ Bản chất khoa học của công tác HN
+ Mục đích, nhiệm vụ, vai trò của công tác HN
+ Nội dung cơ bản và các hình thức HN
- Tác giả Phạm Minh Hạc đã chỉ ra rằng muốn có được nguồn nhân lực phù
hợp với cơ cấu đào tạo thì phải: "Chú trọng GDHN thiết thực cho HSPT, giúp các
em chọn nghề phù hợp với sở trường, trình độ, nhu cầu phát triển của bản thân và yêu cầu phát triển đất nước", [25]
- Tác giả Đặng Danh Ánh đã đề cập đến quan điểm mới về GDHN, coi HN
là loại hoạt động của nhiều cơ quan khác nhau nhằm giúp cho con người chọn nghề phù hợp với nhu cầu của xã hội và nguyện vọng, sở trường của cá nhân, [1]
- Tác giả Nguyễn Toàn đã nêu mục tiêu của công tác HN là: "HS phải được
trang bị một cách hệ thống những hiểu biết và kỹ năng lao động cần thiết để lựa chọn NN, để làm được những NPT, những nghề phổ biến ở địa phương hoặc tiếp tục học nghề một cách thuận lợi, thích nghi nhanh chóng với những thay đổi về việc làm", [31]
- Tác giả Nguyễn Văn Hộ đã đề cập vấn đề: “Thiết lập và phát triển hệ thống
HN cho HS Việt Nam”, nhằm thúc đẩy công tác chỉ đạo, QL GDHN trong trường
Trang 20phổ thông, [27]
- Tác giả Phạm Tất Dong có bài viết: “Công tác HN trong giai đoạn hiện
nay” [20] đã đề cập đến vấn đề: Đổi mới nội dung HN trong nhà trường hiện nay
đang là một yêu cầu ngày càng cấp thiết và xác định trong những năm tới, công tác
HN phải đóng góp hơn nữa vào việc giải quyết việc làm cho thanh, thiếu niên, định hướng thế hệ trẻ vào những lĩnh vực sản xuất cần phát triển, tạo ra cho mỗi thanh, thiếu niên nhiều khả năng để tự tạo ra việc làm
Các công trình của các tác giả đều tập trung vào nghiên cứu cơ sở lý luận về GDHN, kinh nghiệm quốc tế về GDHN, những cơ sở khoa học về việc lựa chọn nghề phù hợp cũng như phương pháp tổ chức GDHN ở trường phổ thông Bên cạnh
đó còn có rất nhiều luận văn thạc sỹ nghiên cứu về nhiều khía cạnh khác nhau của GDHN và QL GDHN ở các trường phổ thông tại nhiều vùng miền Các đề tài đã chỉ
ra được mục đích, ý nghĩa, nội dung, hình thức tổ chức HN và thực tiễn hoạt động
HN của các nhà trường cho HSPT Những công trình nghiên cứu đó tuy chưa tương xứng với thực tế GD, nhưng cũng đã góp phần tạo chuyển biến trong nhận thức và
hỗ trợ chuyên môn nghiệp vụ cho CBQL thực hiện QL đối với công tác GDHN
1.2 Một số khái niệm cơ bản của đề tài
1.2.1 Nghề - Đào tạo nghề
1.2.1.1 Nghề, nghề đào tạo
Có nhiều định nghĩa nghề khác nhau như: "Nghề là một công việc nhờ đó
người ta có thu nhập"; "Nghề là năng lực làm ra những đồ dùng cần thiết"; "Nghề
là một tập hợp các hoạt động nhằm hoàn thành nhiệm vụ theo sự phân công lao động xã hội" ,[5,49]
Dưới góc độ HN, nhà bác học Nga E.A.Climốp định nghĩa như sau: "Nghề là
nhóm các chuyên môn gần nhau Còn chuyên môn là một dạng hoạt động mà trong
đó con người dùng trí lực và thể lực của mình tạo ra những phương tiện cần thiết cho xã hội tồn tại và phát triển", [5,49]
Theo tác giả Đặng Danh Ánh: "Nghề là một việc nào đó theo sự phân công
xã hội", [5,49] Tác giả cũng cho rằng có hai loại nghề chính là: Nghề xã hội và
nghề đào tạo "Nghề xã hội là nghề không phải đào tạo chuyên biệt", [5,49]; "Nghề đào tạo là một nghề theo nghĩa chung, nhưng để hoàn thành một nhiệm vụ theo sự
Trang 21phân công lao động xã hội thì người lao động phải được đào tạo theo một nội dung, trong một thời gian nhất định trước khi tham gia vào lao động xã hội", [5,117], " có thể ngắn hạn tại cơ sở sản xuất, trung tâm dạy nghề, có thể dài hạn tại nhà trường",
[5,63]
Theo từ điển Tiếng Việt (1998): "Nghề là công việc chuyên làm theo sự phân
công lao động của xã hội", [21,654]
Từ các định nghĩa trên chúng ta có thể hiểu nghề là một lĩnh vực hoạt động lao động mà trong đó, nhờ được đào tạo, con người có được những tri thức, những
kỹ năng để làm ra các loại sản phẩm vật chất hay tinh thần nào đó, đáp ứng được những nhu cầu của xã hội NN trong xã hội không phải là một cái gì cố định, cứng nhắc NN cũng giống như một cơ thể sống, có sinh thành, phát triển và tiêu vong Chẳng hạn, do sự phát triển của kỹ thuật điện tử nên đã hình thành công nghệ điện
tử, do sự phát triển vũ bão của kỹ thuật máy tính nên đã hình thành cả một nền công nghệ tin học đồ sộ bao gồm việc thiết kế, chế tạo cả phần cứng, phần mềm và các thiết bị bổ trợ; công nghệ các hợp chất cao phân tử tách ra từ công nghệ hóa dầu, Như vậy nghề nào cũng hàm chứa trong nó một hệ thống giá trị kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo, truyền thống nghề, hiệu quả do nghề mang lại Nghề là cơ sở giúp con
người có "nghiệp" - việc làm, sự nghiệp, hay nghề Có thể nói NN là một dạng lao
động đòi hỏi con người phải có một quá trình đào tạo chuyên biệt để có những kiến thức chuyên môn, kỹ năng, kỹ xảo nhất định
Tóm lại, các tác giả cho rằng: Nghề là một lĩnh vực hoạt động lao động mà trong đó, nhờ được đào tạo, con người có được những tri thức, những kỹ năng để làm
ra các loại sản phẩm vật chất hay tinh thần nào đó, đáp ứng được những nhu cầu của
xã hội Nghề bao gồm nhiều chuyên môn Chuyên môn là một lĩnh vực lao động sản xuất hẹp mà ở đó, con người bằng năng lực thể chất và tinh thần của mình làm ra những giá trị vật chất (lương thực, thực phẩm, công cụ lao động…) hay giá trị tinh thần (sách báo, phim ảnh, âm nhạc, …) với tư cách là những phương tiện sinh tồn và phát triển của xã hội
1.2.1.2 Đào tạo nghề
Chúng tôi quan niệm rằng, đào tạo nghề là một hướng chủ yếu HN cho
những HSPT không vào được các trường cao đẳng, đại học Có rất nhiều định nghĩa
Trang 22về đào tạo nghề (dạy nghề)
Theo Cac-Mác công tác dạy nghề phải bao gồm các thành phần:
Theo tác giả William Mc Gehee: "Dạy nghề là những quy trình mà các công
ty sử dụng để tạo thuận lợi cho việc học tập có kết quả các hành vi đóng góp vào mục đính và mục tiêu của công ty"
Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) định nghĩa: "Dạy nghề là cung cấp cho
người học những kỹ năng cần thiết để thực hiện tất cả các nhiệm vụ liên quan tới công việc nghề nghiệp được giao"
Theo tài liệu của Bộ Lao động thương binh và xã hội năm 2002: "Đào tạo
nghề là hoạt động nhằm trang bị cho người lao động những kiến thức, kỹ năng và thái độ lao động cần thiết để người lao động sau khi hoàn thành khóa học hành
được một nghề trong xã hội", [14,54]
Luật giáo dục nghề nghiệp Số: 74/2014/QH13: "Đào tạo nghề nghiệp là hoạt
động dạy và học nhằm trang bị kiến thức, kỹ năng và thái độ nghề nghiệp cần thiết cho người học để có thể tìm được việc làm hoặc tự tạo việc làm sau khi hoàn thành khóa học hoặc để nâng cao trình độ nghề nghiệp", [29,3]
Từ các định nghĩa trên, chúng ta có thể thấy dạy nghề có ý nghĩa quan trọng trong việc giải quyết việc làm cho người lao động, nó là yếu tố cơ bản thuận lợi cho quá trình tìm việc làm và thực hiện công việc của người lao động Dạy nghề gúp cho người lao động có kiến thức chuyên môn, kỹ năng và thái độ NN để từ đó họ có thể tìm được việc làm phù hợp với trình độ và năng lực của bản thân trong các cơ quan, doanh nghiệp, tổ chức lao động sản xuất, hay có thể tự tạo ra công việc cho bản thân Vì vậy, dạy nghề phải mang tính tích hợp giữa lý thuyết và thực hành Sự tích hợp thể hiện ở chỗ nó đòi hỏi người học (HS, SV) hôm nay, người thợ trong tương lai phải vừa chuyên sâu về kiến thức, vừa phải thành thục về kỹ năng tay
Trang 23nghề Đây là điểm khác biệt lớn trong dạy nghề với việc dạy văn hóa
Dạy nghề phải thực hiện theo nguyên tắc: học đi đôi với hành, lấy thực hành, thực tập kỹ năng NN là chính; coi trọng GD đạo đức NN; rèn luyện ý thức tổ chức
kỷ luật, ý thức tự học, sáng tạo và tác phong công nghiệp của người học, đảm bảo tính GD toàn diện Trong đó: về kiến thức, HS hiểu được cơ sở khoa học về vật liệu, dụng cụ, thiết bị, quy trình công nghệ, biện pháp tổ chức QL sản xuất đáp ứng yêu cầu thích ứng với sự thay đổi cơ cấu lao động sản xuất, công nghệ và đào tạo nghề mới; bên cạnh trang bị kiến thức, HS được trang bị kỹ năng NN như kỹ năng sử dụng công cụ gia công vật liệu, các thao tác kỹ thuật, tính toán, lập kế hoạch, thiết kế
và vận dụng vào thực tiễn
Ở Việt Nam trong những năm gần đây, do sự chuyển biến của nền kinh tế từ
cơ chế kế hoạch hóa tập trung sang cơ chế thị trường, nên đã gây ra những biến đổi sâu sắc trong cơ cấu NN trong xã hội Trong cơ chế thị trường, nhất là trong nền kinh tế tri thức tương lai, sức lao động cũng là một thứ hàng hóa Giá trị của thứ hàng hóa sức lao động này tuỳ thuộc vào trình độ, tay nghề, khả năng về mọi mặt
của người lao động Xã hội đón nhận thứ hàng hóa này như thế nào là do “hàm
lượng chất xám” và “chất lượng sức lao động” quyết định Khái niệm phân công
công tác sẽ mất dần trong quá trình vận hành của cơ chế thị trường Con người phải chủ động chuẩn bị tiềm lực, trau dồi bản lĩnh, nắm vững một nghề, biết nhiều nghề để rồi tự tìm việc làm, tự tạo việc làm…Vì vậy dạy nghề tại Việt Nam phải phát triển nhanh cả về quy mô và chất lượng, đáp nhu cầu nguồn nhân lực trong thời kỳ CNH-HĐH và hội nhập quốc tế
1.2.2 Hướng nghiệp và giáo dục hướng nghiệp
Trang 24phân bố tối ưu (có chú ý tới năng khiếu, năng lực, thể lực) nội dung theo ngành và loại lao động giúp đỡ hợp lý lựa chọn ngành nghề", [32,458]
Theo từ điển GD học: “HN là hệ thống các biện pháp giúp đỡ HS làm quen
tìm hiểu nghề, lựa chọn, cân nhắc NN với nguyện vọng năng lực sở trường của mỗi người với nhu cầu và điều kiện thực tế khách quan của xã hội” , [24,209] Công tác
HN có ý nghĩa KT-XH rất lớn giúp cho thanh niên có cơ hội phát huy được năng lực, nâng cao được hiệu quả lao động, say mê sáng tạo trong NN, mặt khác giúp tránh thay đổi NN nhiều lần, hạn chế các hậu quả xấu do NN không phù hợp mang lại
Trên quan điểm tiếp cận HN dưới góc độ xã hội học, tác giả Phạm Tất Dong
cho rằng: "HN như là một hệ thống tác động của xã hội về GD, về y học, kinh tế học
nhằm giúp cho thế hệ trẻ chọn được nghề phù hợp với hứng thú, năng lực, nguyện vọng, sở trường của cá nhân, vừa đáp ứng nhu cầu nhân lực của các lĩnh vực sản xuất trong nền kinh tế quốc dân", [21]
Về khía cạnh tác động của HN đối với sự phát triển KT-XH: "HN được hiểu
là khái niệm chung của một trong những lĩnh vực văn hóa - xã hội, thực hiện dưới hình thức quan tâm của xã hội và đào tạo nghề cho thế hệ đang lớn lên, hỗ trợ và phát triển những thiên hướng và thực hiện đồng bộ các biện pháp chuyên môn tác động đến con người trong việc tự xác định NN và lựa chọn hình thức tối ưu để có việc làm, có tính đến nhu cầu và năng lực của con người, kết hợp với hoàn cảnh KT-XH trong thị trường lao động", [22]
Với tư cách là hoạt động dạy của thầy trong nhà trường, HN được coi như một công việc của GV, của tập thể sư phạm với mục tiêu GD HS trong việc chọn nghề, giúp các em tự quyết định NN trong tương lai trên cơ sở phân tích khoa học
về năng lực, hứng thú của bản thân và nhu cầu nguồn nhân lực của các ngành sản xuất trong xã hội
Từ những quan niệm trên, có thể hiểu: HN là tổng thể những tác động giúp con người định hướng đến một nghề hay một số nghề nhất định, đảm bảo được sự phù hợp giữa khả năng, yêu cầu của cá nhân với yêu cầu của xã hội HS cần được
HN liên tục, thường xuyên bằng nhiều hình thức Chúng ta cần quan tâm để HS chọn nghề theo hứng thú, sở thích và mong muốn HS ngày càng nhận thức sâu sắc
Trang 25nghĩa vụ lao động, nhu cầu nhân lực mà xã hội đặt ra Do đó HN phải được cả xã hội quan tâm, không nên để cho HS chọn nghề một cách tự phát, ngẫu nhiên mà
HN dẫn thế hệ trẻ đi vào thế giới NN, giúp họ phát huy được hết năng lực trong thế giới đó và có được cuộc sống thỏa mãn với lao động NN sau này
1.2.2.2.Giáo dục hướng nghiệp
Lý luận về GDHN trong nhà trường phổ thông đã được nghiên cứu tương đối
cơ bản và hệ thống Có rất nhiều quan niệm khác nhau về GDHN theo lĩnh vực nghiên cứu, mục tiêu, chuyên môn và quan niệm khác nhau
Hoyt (1987) cho rằng: "GDHN là một quá trình giúp HS đạt được các kiến
thức về nghề, biết sử dụng kiến thức, kĩ năng, và thái độ cần thiết trong quá trình làm việc, trong quá trình sản xuất và hài lòng với các hoạt động khác trong cuộc sống"
Theo tài liệu GDHN trong trường học của Australia quan niệm: "Trong nhà
trường phổ thông, HN là công việc của tập thể sư phạm nhằm GD HS lựa chọn nghề một cách tốt nhất Nghĩa là trong sự lựa chọn đó có sự phù hợp giữa nguyện vọng NN của cá nhân với yêu cầu phát triển KT-XH và có sự phù hợp giữa năng lực của cá nhân với đòi hỏi của nghề [10]
Theo tác giả Đặng Danh Ánh: "GDHN là hoạt động của tập thể sư phạm,
của cán bộ của các cơ quan nhà máy khác nhau, được tiến hành với mục đích gúp
HS chọn nghề đúng đắn với năng lực, thể lực và tâm lý của cá nhân với nhu cầu KT-XH GDHN là một bộ phận cấu thành quá trình GD - học tập trong nhà trường", [1,27]; “GDHN là hoạt động phối hợp giữa nhà trường, gia đình, trong
đó tập thể sư phạm nhà trường giữ vai trò quyết định nhằm giúp HS chọn nghề trên
cơ sở khoa học”, [5,122]
Tại sao gọi là GDHN? Đặng Danh Ánh giải thích tiếp: "Trong quá trình HS
chọn nghề gặp rất nhiều khó khăn, lúng túng để giải quyết mối quan hệ giữa ước và hiện thực, giữa cái "muốn", cái "có thể" và "cái phải làm" sao cho có sự nhất trí cao giữa nguyện vọng của cá nhân với nhu cầu nhân lực của các thành phần kinh
tế, giữa năng lực của bản thân với yêu cầu của nghề Để giải quyết mối quan hệ phức hợp từng cặp một này tập thể sư phạm nhà trường phải sử dụng tổng hợp tổng hợp các biện pháp GD đồng bộ tác động lên HS mang tính hướng dẫn, mền dẻo,
Trang 26tính thuyết phục - giảng giải cao, tuyệt đối không được áp đặt, bảo đảm nguyên tắc hình thành hứng thú, điều chỉnh uốn nắn động cơ để giúp các em HS tự giác chọn nghề phù hợp trên cơ sở khoa học Với ý nghĩa này, GDHN được coi là bộ phận nằm trong chương trình GD&ĐT của nhà trường Khái niệm GDHN bắt nguồn từ
đó mà ra", [5,122]
Tác giả Nguyễn Minh Đường (2008) đã định nghĩa: “GDHN là hệ thống
những biện pháp dựa trên cơ sở tâm lý học, sinh lý học, giáo dục học, xã hội học và nhiều khoa học khác nhằm giúp HS, SV định hướng NN một cách đúng đắn để có thể lựa chọn nghề cho phù hợp với nhu cầu xã hội, đồng thời thoả mãn tối đa nguyện vọng, thích hợp năng lực, sở trường và điều kiện tâm sinh lý cá nhân cũng như hoàn cảnh sống của mỗi người để có thể phát triển đến đỉnh cao trong NN, cống hiến được nhiều cho xã hội cũng như tạo lập được cuộc sống tốt đẹp hơn cho bản thân”, [23,51]
Các nhà Tâm lý học Việt Nam cho rằng: “GDHN là hệ thống các biện pháp
tâm lý - sư phạm và y học giúp cho thế hệ trẻ chọn nghề có tính đến nhu cầu của xã hội và năng lực của bản thân”
Theo tác giả Nguyễn Trọng Bảo: "GDHN là một hệ thống các biện pháp GD
của nhà trường, gia đình và xã hội, nhằm chuẩn bị cho thế hệ trẻ về tư tưởng, tâm
lý, tri thức, kĩ năng, để họ có thể sẵn sàng đi vào ngành nghề, vào lao động sản xuất, đấu tranh, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc", [8,29]
Như vậy trên mỗi phương diện, mỗi lĩnh vực nghiên cứu đều có quan niệm GDHN riêng, các quan niệm về GDHN tuy có sự khác nhau, song ở khía cạnh nào thì các quan niệm trên đều nhấn mạnh đến ba vấn đề cơ bản như sau:
- Thứ nhất: GDHN là quá trình tác động của nhà trường, gia đình và xã hội, trong đó nhà trường đóng vai trò chủ đạo nhằm định hướng và chuẩn bị cho HS sẵn sàng đi vào lao động sản xuất ở các NN mà hiện tại và tương lai xã hội đang cần Mặt khác giúp HS chọn nghề phù hợp với năng lực, hứng thú, sở trường của bản thân và nhu cầu của gia đình và xã hội;
- Thứ hai: GDHN là một hệ thống các biện pháp tác động như: tâm lý học, sinh lý học, giáo dục học, xã hội học và nhiều khoa học khác để GDHN cho HS;
- Thứ ba: trong nhà trường phổ thông, GDHN vừa là hoạt động dạy của thầy,
Trang 27là hoạt động tập thể sư phạm vừa là hoạt động học của HS, HS lĩnh hội được những thông tin về nghề trong xã hội, đặc điểm yêu cầu của từng nghề để GDHN cho HS Kết quả cuối cùng của GDHN là HS chọn được nghề phù hợp
Tóm lại, GDHN là một tổ hợp các hoạt động của nhà trường, gia đình và xã hội trong đó nhà trường đóng vai trò chủ đạo trong việc cung cấp tri thức, hình thành kỹ năng chọn nghề cho HS, trên cơ sở đó HS lựa chọn nghề phù hợp với năng lực, tính cách, sở thích, phù hợp với điều kiện hoàn cảnh của gia đình và phù hợp với nhu cầu của xã hội Như vậy, GDHN được thực hiện thông qua nhiều hoạt động, nhiều con đường khác nhau, với các mục tiêu và nội dung khác nhau nhưng đều hướng đến mục tiêu chung là giúp HS chọn được nghề phù hợp
1.2.3 Quản lý - quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp
1.2.3.1 Quản lý
a) Khái niệm
Sự phát triển của xã hội dựa vào nhiều yếu tố, trong đó có 3 thành tố cơ bản là: tri thức, sức lao động và trình độ quản lý Mọi hoạt động của xã hội đều dựa vào trình độ QL, vì vậy QL vừa là một khoa học, vừa là một nghệ thuật, nó điều khiển một hệ thống hoạt động xã hội ở tầm vĩ mô cũng như vi mô Do những lợi ích lớn lao của QL, đã xuất hiện hàng loạt các công trình nghiên cứu về QL Từ các góc độ nghiên cứu đó, có rất nhiều cách tiếp cận khác nhau để luận giải về khái niệm, bản chất lý luận, các công cụ làm cơ sở thực hành QL Ở đây, xin được trình bày một số
cách tiếp cận khái niệm QL:
Theo W.Taylor, người đầu tiên nghiên cứu quá trình lao động trong từng bộ phận của nó, nêu ra hệ thống tổ chức lao động nhằm khai thác tối đa thời gian lao động, sử dụng hợp lý nhất các công cụ và phương tiện lao động nhằm tăng năng
suất lao động Ông cho rằng: "Quản lý là nghệ thuật biết rõ ràng, chính xác cái gì
cần làm và làm cái đó thế nào, bằng phương pháp tốt nhất và rẻ nhất", [19, 29]
Theo Harold Koontz và những cộng sự khác thì: "Quản lý là hoạt động đảm
bảo phối hợp những nỗ lực cá nhân nhằm đạt được mục đích của tổ chức trong một
môi trường và đối với nguồn lực cụ thể", [19,25]
Đối với Mary Parker Follett: QL là "nghệ thuật hoàn thành công việc thông
qua người khác" là " quá trình lập kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo và kiểm tra công
Trang 28việc của các thành viên của tổ chức và sử dụng tất cả các nguồn lực sẵn có của tổ chức để đạt được các mục tiêu của tổ chức" (Stoner, 1995); "là một tập hợp các hoạt động (bao gồm lập kế hoạch, ra quyết định, tổ chức, lãnh đạo và kiểm tra) nhằm vào các nguồn lực của tổ chức (con người, tài chính, vật chất và thông tin) nhằm mục đích đạt được các mục tiêu của tổ chức hiệu quả nhất" (Griffin,
1998,[18, 49]
Ơ Việt Nam, tiếp cận trên phương diện hoạt động của một tổ chức, Nguyễn
Ngọc Quang cho rằng: "Quản lý là tác động có mục đích, có kế hoạch của chủ thể
quản lý đến những người lao động nói chung là khách thể quản lý nhằm thực hiện
những mục tiêu dự kiến ", [30]
Theo Đặng Vũ Hoạt và Hà Thế Ngữ, trong tác phẩm " những vấn đề cốt yếu
trong quản lý " (1987) thì: "Quản lý là một quá trình định hướng, quá trình có mục
tiêu, quản lý là một hệ thống nhằm đạt được những mục tiêu nhất định Những mục tiêu này đặc trưng cho trạng thái mới của hệ thống mà người quản lý mong muốn",
[26]
Theo quan điểm của tác giả Đặng Quốc Bảo thì: "Quản lý = quản + lý
Trong đó: Quản: Chăm sóc, giữ gìn sự ổn định; Lý: Sửa sang, sắp xếp, đổi mới phát triển",[7]
Như vậy: Quản lý = ổn định + phát triển Hệ ổn định mà không phát triển thì tất yếu sẽ dẫn đến suy thoái Hệ phát triển mà không ổn định thì tất yếu sẽ rối loạn Điều đó có nghĩa là hoạt động QL nhằm làm cho hệ thống vận động theo mục tiêu
đề ra và tiến tới trạng thái có chất lượng mới QL tạo ra sự ổn định cho sự phát triển Xã hội muốn phát triển phải chú trọng QL để đảm bảo cho sự phát triển vững
chắc và đúng quy luật
Các định nghĩa trên đã cố gắng phản ánh những nét đặc trưng của QL bằng nhiều cách như nhấn mạnh tính chất hay hình thức tác động, mục đích hay chức
năng của nó Theo tác giả Nguyễn Thị Mỹ Lộc "Quản lý được định nghĩa như việc
đạt tới các mục tiêu của tổ chức một cách có hiệu quả thông qua lập kế hoạch, tổ chức, xếp đặt nhân sự, chỉ đạo thực hiện và kiểm tra các nguồn lực của tổ chức",
[19]
Xuất phát từ các khái niệm QL nêu trên, chúng ta nhận thấy có thể xây dựng
Trang 29một khái niệm mới như sau: “Quản lý là sự tác động có chủ đích của chủ thể quản
lý đến khách thể quản lý thông qua các hoạt động kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra làm cho tổ chức vận hành ổn định và phát triển nhằm đạt được mục tiêu
của tổ chức”
Theo định nghĩa xây dựng trên, hoạt động QL được hiểu là tác động qua lại giữa chủ thể QL và khách thể QL Điều này khác với cách hiểu hoạt động QL chỉ là tác động một chiều mà không có thông tin phản hồi, không có hoạt động tự QL Cũng theo định nghĩa này, QL có bốn chức năng chính là kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra QL một tổ chức là làm cho tổ chức đó ổn định, phát triển nhưng đích cuối cùng vẫn là đạt được mục tiêu Như vậy, để QL tốt tổ chức của mình, nhà
QL phải xác định chính xác, tường minh mục tiêu của tổ chức mình Nếu mục tiêu được xác định quá cao so với khả năng thì không thực hiện được và sẽ gây ra sự chán nản, ngược lại nếu mục tiêu xác định quá thấp thì không cần nỗ lực, cố gắng vẫn đạt được mục tiêu Chính vì vậy, mục tiêu phải vừa sức, đảm bảo phải nỗ lực mới đạt được Khi đạt được mục tiêu, tất cả các thành viên trong tổ chức mới thấy được sự tự hào, cảm thấy tự tin và gắn bó với tổ chức mình Và như vậy, tổ chức sẽ
ổn định và phát triển
b) Bản chất quản lý
Bản chất của QL là sự tác động có mục đích của người QL đến tập thể người
bị QL.Trong GD nhà trường đó là tác động của nhà QLGD đến tập thể GV, HS và
các lực lượng khác nhằm thực hiện hệ thống các mục tiêu GD
Bản chất của hoạt động QL có thể mô hình hoá qua sơ đồ:
Sơ đồ 1.1 Mô hình quản lý
Trong đó:
- Chủ thể QL có thể là một cá nhân, một nhóm hay một tổ chức;
- Khách thể QL là những con người cụ thể và sự hình thành tự nhiên các quan hệ giữa những con người, giữa các nhóm người với nhau;
Khách thể QL Phương pháp
Mục tiêu
Công cụ Chủ thể QL
Trang 30- Công cụ QL là phương tiện tác động của chủ thể QL tới khách thể QL như:
mệnh lệnh, quyết định, chính sách, luật lệ ;
- Phương pháp QL được xác định theo nhiều cách khác nhau: nó có thể do
nhà QL áp đặt hoặc do sự cam kết giữa chủ thể QL và khách thể QL
Như vậy, hiệu quả QL phụ thuộc vào các yếu tố: chủ thể, đối tượng, mục tiêu,
phương pháp và công cụ QL
c) Chức năng của quản lý
Chức năng QL là các hoạt động xác định được chuyên môn hoá, nhờ đó chủ
thể QL tác động vào đối tượng QL Hay nói một cách khác, chức năng QL là một
dạng hoạt động QL đặc biệt thông qua đó chủ thể QL tác động vào khách thể nhằm
đạt được một mục tiêu nhất định
Về các chức năng QL, hiện nay có nhiều cách phân chia khác nhau do các
quan điểm của từng tác giả Nhưng nhìn chung, giữa các cách phân chia này không
có sự khác biệt nhiều Có tác giả chia ra thành các bước: lập kế hoạch, tổ chức, điều
hành, phối hợp, theo dõi, đánh giá Nhưng cũng có tác giả chia nhỏ ra thành các kỹ
năng: xác định mục tiêu, lập kế hoạch, tổ chức điều hành, lãnh đạo, giám sát và
kiểm tra Song nhìn chung, các nhà nghiên cứu về khoa học QL đều thống nhất
chung 4 chức năng cơ bản của QL là: kế hoạch hoá, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra
Đây là những chức năng chung nhất đối với mọi nhà QL, không phân biệt cấp bậc,
ngành nghề, quy mô lớn nhỏ của tổ chức và môi trường xã hội, dù là ở Hoa Kỳ,
Nhật Bản hay ở Việt Nam Tuy nhiên, phổ biến hay chung nhất không có nghĩa là
đồng nhất, mỗi xã hội khác nhau, những lĩnh vực khác nhau, những cấp bậc khác
nhau, có sự khác nhau về mức độ của tầm quan trọng, sự quan tâm cũng như
phương thức thực hiện các chức năng này
- Chức năng lập kế hoạch: "Kế hoạch theo nghĩa chung nhất là toàn thể
những việc dự định làm, gồm những công tác sắp xếp có hệ thống, quy vào một mục
tiêu nhất định và thực hiện trong một thời gian đã định trước" Kế hoạch là chức
năng cơ bản nhất của mọi quá trình QL Có kế hoạch trước khi làm việc là cách làm
khoa học nhất, giúp cho hoạt động của tổ chức tập trung vào các nhiệm vụ trọng
tâm và giúp người QL chủ động khi điều hành công việc
Chức năng kế hoạch có ba nội dung chính: xác định, hình thành mục tiêu;
Trang 31xác định, đảm bảo về nhân lực và các nguồn lực khác để đạt được mục tiêu đã đề ra; quyết định xem những biện pháp nào cần thiết và làm như thế nào, khi nào làm và
ai sẽ làm để đạt được mục tiêu đó Sản phẩm quan trọng của chức năng kế hoạch hoá đó là kế hoạch: kế hoạch dài hạn (5-10) năm, kế hoạch trung hạn (3- 5) năm và
kế hoạch hàng năm
- Chức năng tổ chức: khi người QL đã lập xong kế hoạch, họ cần thiết phải
chuyển hoá những ý tưởng thành hiện thực Xét về mặt chức năng QL thì tổ chức là quá trình hình thành nên cấu trúc quan hệ thành viên, giữa các bộ phận trong một tổ chức nhằm làm cho họ thành công với các kế hoạch và đạt được mục tiêu tổng thể của tổ chức Nhờ tổ chức mà người QL có thể phối hợp, điều phối tốt hơn các nguồn lực Ngược lại, thành tựu của một tổ chức phụ thuộc vào năng lực và phong cách của chủ thể QL, phụ thuộc vào việc sử dụng, huy động các nguồn lực cũng như tạo ra các động lực và biết khơi dậy nội lực của tổ chức Một tổ chức đoàn kết
và " lành mạnh" sẽ có ý nghĩa quyết định đối với việc chuyển hoá kế hoạch thành
hiện thực và chất lượng của quá trình QL tuỳ thuộc phần lớn vào việc tổ chức thực hiện
- Chức năng chỉ đạo thực hiện: theo quan điểm của lý thuyết hệ thống thì chỉ
đạo là quá trình vận hành, điều khiển hệ thống Có người gọi chỉ đạo là quá trình tác động Việc chỉ đạo phải bắt đầu ngay sau khi lập kế hoạch và thiết kế bộ máy hoàn tất mà nó phải thấm vào, đan xen vào, ảnh hưởng quyết định tới hai chức năng trên
Có thể nói, đây là quá trình tác động của chủ thể QL, sau khi kế hoạch đã được thiết lập, cơ cấu bộ máy đã được hình thành, nhân sự đã được tuyển dụng và hoàn thiện tổ chức, tập hợp, động viên, khuyến khích họ hoàn thành những nhiệm
vụ nhất định để đạt được mục tiêu của tổ chức
- Chức năng kiểm tra đánh gía: kiểm tra là khái niệm được sử dụng để chỉ
một hoạt động nhằm thẩm định, xác định một hành vi của cá nhân hay một tổ chức
Kiểm tra là chức năng cơ bản, quan trọng của QL QL mà không kiểm tra thì coi như không QL Theo lý thuyết hệ thống, kiểm tra chính là thiết lập mối liên hệ ngược trong QL Vì vậy, kiểm tra trong QL là một hệ thống phản hồi giúp cơ quan
QL tìm được nguyên nhân của những sai lệch để có thể điều chỉnh kịp thời kế hoạch cũng như thay đổi cách thức chỉ đạo thực hiện nhằm đạt được kết quả mong muốn
Như vậy chức năng QL có thể biểu diễn theo sơ đồ sau:
Trang 32Sơ đồ 1.2 Mối quan hệ các chức năng
Trong 4 chức năng của QL: kế hoạch hoá, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra, chúng luôn luôn được thực hiện liên tiếp, đan xen vào nhau, phối hợp và bổ sung cho nhau tạo thành một chu trình QL Trong chu trình đó, yếu tố thông tin luôn có mặt trong tất
cả các giai đoạn, với vai trò là điều kiện, là phương tiện không thể thiếu được khi thực hiện các chức năng QL và ra các quyết định QL
1.2.3.2 Quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp
QL trong nhà trường bao gồm nhiều lĩnh vực như: quản lý GV, HS; QL quá trình dạy học; QL CSVC, thiết bị dạy học; QL tài chính, QL HĐHN , trong đó QL hoạt động GDHN là một nhiệm vụ quan trọng trong quá trình GD của mỗi nhà
trường, do đó QL GDHN có thể hiểu là: Quản lý GDHN là một bộ phận của quản lý
giáo dục, là hệ thống những tác động có định hướng, có chủ đích, có kế hoạch và hợp quy luật của chủ thể quản lý đến đối tượng quản lý của công tác hướng nghiệp nhằm thực hiện có chất lượng và hiệu quả mục tiêu hướng nghiệp cho học sinh phổ thông
Các thành tố cơ bản của QL GDHN như sau:
Sơ đồ 1.3 Các thành tố của quản lý giáo dục hướng nghiệp
Trang 33- Trong QL GDHN, chủ thể QL là lãnh đạo hoặc chuyên viên phụ trách HN của Bộ GDĐT, Sở GDĐT, Phòng GDĐT, Ban giám hiệu nhà trường và Giám đốc trung tâm có chức năng HN cho HSPT Trên cơ sở quyền hạn, trách nhiệm và năng lực của mình, chủ thể QL tác động lên đối tượng QL bằng các phương pháp và công
cụ nhất định thông qua việc thực hiện các chức năng QL để đạt được mục tiêu
GDHN
- Đối tượng QL là tất cả những người thực hiện và nhận nhiệm vụ HN, bao gồm: GV, tập thể sư phạm, cán bộ làm nhiệm vụ GDHN và HS, cùng các tổ chức, đoàn thể xã hội Đối tượng QL còn bao gồm các hình thức GDHN, tài chính-ngân sách, CSVC, thiết bị dạy học và hệ thống thông tin cho GDHN
- Công cụ QL là những phương tiện mà cán bộ QL GDHN sử dụng trong quá trình QL nhằm định hướng, dẫn dắt, khích lệ và phối hợp hoạt động của các tác nhân HN và HSPT trong việc thực hiện mục tiêu GDHN Công cụ chủ yếu để QL GDHN là các quy định của Nhà nước và Bộ GD&ĐT về GDHN, là các cơ chế và chính sách cho GDHN
- Phương pháp QL là cách thức tác động bằng những phương tiện khác nhau (như quyền lực, quyết định, cơ chế chính sách, tài chính, kỹ thuật - công nghệ…) của cán bộ QL HN tới đối tượng QL
Chức năng QL GDHN về cơ bản tuân thủ theo 4 chức năng cơ bản của QL là: kế hoạch hoá, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra, đánh giá
1.3 Giáo dục hướng nghiệp trong trường phổ thông
1.3.1 Đặc điểm học sinh học trung học phổ thông
HS THPT là đối tượng tuổi thanh niên là giai đoạn phát triển bắt đầu từ lúc dậy thì, là thời kỳ đạt được sự trưởng thành về mặt cơ thể Nhìn chung thì đây là lứa tuổi của các em có cơ thể phát triển cân đối, khỏe đẹp Đa số các em có thể đạt được những khả năng, thành tích về cơ thể như người lớn
Nội dung và tính chất hoạt động học tập của HS khác nhiều so với hoạt động học tập của các em khi học tập ở THCS Thái độ có ý thức của các em đối với học tập ngày càng phát triển hơn
Về nhân cách, sự phát triển tự ý thức là một đặc điểm nổi bật trong sự phát triển nhân cách của HS lứa tuối thanh niên mới lớn, nó có ý nghĩa to lớn đối với sự
Trang 34phát triển tâm lý của lứa tuổi thanh niên HS Trên cơ sở tự ý thức phát triển mạnh
mẽ, nhu cầu tự GD của HS cũng được phát triển Vấn đề tự GD của HS thật sự cần thiết cho sự phát triển của chính bản thân; nó khiến cho vị trí của các em thay đổi:
HS từ chỗ là đối tượng của GD thì dần dần đến giai đoạn này các em đã trở thành vừa là đối tượng, vừa là chủ thể của GD Do vậy cần phải khuyến khích và hướng dẫn việc tự GD của các em
Về giao tiếp và đời sống tình cảm của HS THPT, ở tuổi này, quan hệ với bạn cùng tuổi chiếm vị trí lớn hơn hẳn so với quan hệ với người lớn tuổi hoặc ít tuổi hơn Đó là do lòng khao khát muốn có vị trí bình đẳng trong cuộc sống chi phối Trong hoàn cảnh giao tiếp tự do, rỗi rãi, trong tiêu khiển, trong việc phát triển nhu cầu, sở thích HS hướng vào bạn bè nhiều hơn hướng vào cha mẹ Nhưng khi bàn đến những giá trị sâu sắc hơn như chọn nghề, thế giới quan, những giá trị đạo đức thì ảnh hưởng của cha mẹ mạnh hơn rõ rệt
Tuy nhiên, thiếu sót cơ bản hiện nay trong hoạt động tư duy của nhiều HS là thiếu tính độc lập Nhiều khi các em chưa chú ý phát huy hết năng lực độc lập suy nghĩ của bản thân, còn kết luận vội vàng theo cảm tính, hoặc thiên về việc tái hiện
tư tưởng của người khác, cách luận chứng của người khác Hiểu được điều này thì nhà trường cần thiết phải có biện pháp tích cực tác động vào gia đình HS để góp phần giúp các em có thêm sự trợ giúp cần thiết trong nhận thức và định hướng nghề
1.3.2 Ý nghĩa của giáo dục hướng nghiệp cho học sinh phổ thông
GDHN là một bộ phận của GD Về phương diện này, HN là công việc điều chỉnh động cơ chọn nghề của HS, điều chỉnh hứng thú NN của các em theo xu thế phân công lao động xã hội Như vậy HN là một hoạt động góp phần cụ thể hóa mục tiêu đào tạo của trường phổ thông, đồng thời GDHN góp phần thực hiện mục đích
GD của nhà trường là góp phần đào tạo HS trở thành những người lao động có năng lực thích ứng với một lĩnh vực nghề cụ thể
Hoạt động GDHN luôn hướng vào việc sử dụng hợp lý tiềm năng lao động tuổi trẻ của đất nước, từ đó nâng cao năng suất lao động của xã hội GDHN là một trong những yếu tố làm đồng bộ hóa đội ngũ lao động NN, phân bố lại lực lượng lao động xã hội, chuyên môn hóa tiềm năng lao động trẻ tuổi HN phải được coi là điều kiện đảm bảo chất lượng và hiệu quả GD HN sẽ tạo nên những yếu tố mới trong
Trang 35con người lao động, yếu tố cơ bản của việc tăng năng suất lao động xã hội
Xét ở bình diện xã hội, HN có tác dụng điều chỉnh sự phân công lao động xã hội, tạo ra sự cân bằng trong phân bố nguồn nhân lực HN kết hợp chặt chẽ với lao động sản xuất và dạy nghề có tác dụng làm ổn định đời sống xã hội, góp phần tạo điều kiện để xã hội sử dụng hết lực lượng HSPT ra trường trong lĩnh các vực kinh
tế
1.3.3 Nhiệm vụ của giáo dục hướng nghiệp ở trường phổ thông
1.3.3.1 Mục đích của giáo dục hướng nghiệp
Mục đích của GDHN là hình thành năng lực tự chủ trong việc chọn nghề của
HS, gúp HS chọn được nghề phù hợp với nguyện vọng, năng lực, sở trường của bản thân và phù hợp với nguồn nhân lực của các thành phần kinh tế trong xã hội
Trong trường THPT, GDHN gúp HS nhận thức được ý nghĩa mình là chủ thể trong việc lựa chọn nghề, có nhận thức và sự lựa chọn đúng đắn khi lựa chọn nghề trên cơ sở hiểu biết khoa học về NN, thị trường nguồn nhân lực, năng lực, sở trường của bản thân
1.3.3.2 Nhiệm vụ của giáo dục hướng nghiệp
Nhiệm vụ GDHN trong trường THPT bao gồm:
- Cung cấp kiến thức, hình thành kỹ năng, GD thái độ và ý thức đúng đắn với NN;
- Tổ chức cho HS học tập làm quen với một số nghề phổ biến trong xã hội và các nghề truyền thống của địa phương;
- Tìm hiểu năng khiếu, khuynh hướng NN của từng HS để khuyến khích, hướng dẫn, bồi dưỡng khả năng NN thích hợp nhất;
- Động viên, hướng dẫn HS đi vào những nghề, những nơi đang cần lao động trẻ tuổi có văn hóa;
- Đổi mới hình thức GDHN theo chương trình khung của Bộ GD&ĐT, phù hợp với thực tiễn địa phương GDHN cần gắn với phát triển kinh tế, phát triển nguồn nhân lực và gắn với cơ cấu hệ thống GD quốc dân, trong vai trò điều chỉnh
cơ cấu phân luồng HS, thay đổi nhận thức, động cơ chọn nghề của HS sau cấp trung học
Trang 361.3.4 Các hình thức hướng nghiệp cho học sinh trong trường phổ thông
Trong chương trình GDHN quy định tại thông tư số 31/TT-BGD ngày 17/8/1981 của Bộ GD&ĐT, đã chỉ rõ các hình thức tổ chức GDHN là:
- GDHN qua các môn học;
- GDHN qua hoạt động sản xuất;
- GDHN thông qua giới thiệu các ngành nghề (theo chủ đề của chương trình chính khóa);
- GDHN thông qua hoạt động ngoại khóa;
Các hình thức GDHN trên được định hướng chung cho tất cả các trường THPT trên toàn quốc, theo chương trình, tài liệu GDHN từ lớp 6 đến lớp 12 do Bộ GD&ĐT ban hành Tuy nhiên do điều kiện KT-XH ở các vùng miền khác nhau nên việc triển khai GDHN chưa thực sự được quan tâm, HN của các nhà trường còn mang tính hình thức hạn chế về hiệu quả
Bên cạnh 4 hình thức GDHN được định hướng nêu trên, trong thực tế triển khai thực hiện, tùy theo điều kiện thực tế ở các địa phương, mỗi trường nên vận dụng sáng tạo để có hình thức tổ chức GDHN phong phú, đa dạng như:
- GDHN qua lao động công ích và tự phục vụ;
- GDHN qua câu lạc bộ tìm hiểu về nghề;
- GDHN qua văn phòng tư vấn;
- GDHN qua việc mời chuyên gia, nghệ nhân nói chuyện về nghề;
- GDHN qua liên kết với các doanh nghiệp để tham quan các cơ sở sản xuất
Trang 37thế nào? đang là vấn đề khó khăn cho GV và các nhà QL, đang còn bỏ ngỏ cần phải được nghiên cứu giải quyết.
1.4 Nội dung quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp trong trường trung học phổ thông
1.4.1 Nâng cao nhận thức về giáo dục hướng nghiệp
Như chúng ta đã biết, quá trình nhận thức là quá trình chủ thể phản ánh thế giới khách quan vào ý thức của mình, nắm được bản chất và các quy luật của nó, vận dụng các quy luật này để làm biến đổi nó, cải tạo nó Vì vậy, để thực hiện tốt nhiệm vụ và đạt tới mục tiêu của hoạt động GDHN, cần thiết phải làm cho các lực lượng tham gia GDHN và cả HS có ý thức đầy đủ về vị trí, tầm quan trọng cũng như mục đích, nhiệm vụ của GDHN, từ đó có ý thức tự giác, tích cực thực hiện nhiệm vụ của cá nhân và tập thể trong hoạt động GDHN, để hoạt động GDHN mang lại hiệu quả cao đối với việc phát triển nguồn nhân lực, đáp ứng yêu cầu phát triển KT-XH của địa phương, đất nước
1.4.2 Xây dựng kế hoạch giao dục hướng nghiệp
1.4.2.1 Về căn cư để xây dựng kế hoạch
- Xác định mục tiêu chung của GDHN ở trường THPT;
- Tình hình giảng dạy và nội dung chương trình các môn học trong nhà trường, đặc điểm sinh lý, tính cách, lứa tuổi, HS dân tộc trong trường và các lực lượng ngoài nhà trường hỗ trợ cho công tác GDHN;
- Điều kiện KT-XH của địa phương và CSVC;
- Hệ thống văn bản chỉ đạo, hướng dẫn về GDHN
1.4.2.2 Nội dung kế hoạch
- Xây dựng kế hoạch: kế hoạch phải phân tích được thực trạng GDHN trong năm học trước qua đó xác định rõ: mục tiêu, thời gian thực hiện, địa điểm, hình thức
tổ chức, lực lượng tham gia, điều kiện thực hiện, người thực hiện; kế hoạch phải cân đối, hợp lý với kế hoạch toàn diện của cả nhà trường Việc xây dựng kế hoạch gúp CBQL nhà trường tập trung vào mục tiêu hoạt động GDHN, dự kiến trước khả năng ứng phó với những thay đổi có thể xẩy ra trong quá trình triển khai thực hiện, lựa chọn phương án tối ưu, tiết kiệm nguồn nhân lực, tạo hiệu quả hoạt động GDHN trong nhà trường, đồng thời tạo điều kiện cho nhà QL dễ dàng kiển tra thực hiện kế
Trang 38hoạch, chương trình của các lực lượng tham gia hoạt động GDHN trong nhà trường
- Tổ chức thực hiện: là tổ chức thực hiện các hoạt động trong kế hoạch GDHN đã đề ra: giải thích mục tiêu, yêu cầu của kế hoạch, thảo luận biện pháp thực hiện, sắp xếp bố trí nhân lực, phân công trách nhiệm QL, huy động CSVC, xác định tiến độ và thời gian thực hiện (bắt đầu, kết thúc)
- Chỉ đạo thực hiện kế hoạch: là giao việc, hướng dẫn, gám sát, thúc đẩy, thực hiện các hoạt động cụ thể trong kế hoạch (theo tuần, tháng, học kỳ, năm) để đảm bảo việc GDHN được thực hiện đúng hướng và đạt hiệu quả Chú trọng đôn đốc việc thực hiện kế hoạch của nhà trường trên một số mặt quan trọng như nội dung, thời gian, phương tiện, nhân lực và hiệu quả kinh tế, GD của GDHN
- Kiểm tra, đánh giá: là thực hiện kiểm tra định kỳ, thường xuyên, đột xuất, trực tiếp hay gián tiếp để lực lượng tham gia hoạt động GDHN tự điều chỉnh hoạt động của mình Để kiểm tra, đánh giá phát huy hiệu quả thì phải xây dựng các tiêu chí để việc kiểm tra, đánh giá thực hiện được các yêu cầu:
+ Đánh giá được toàn diện: kiến thức, kỹ năng, thái độ;
+ Đảm bảo độ tin cậy: tính chính xác, tính trung thực, khách quan, công bằng;
+ Đảm bảo tính khả thi: nội dung, hình thức, phương tiện tổ chức kiểm tra, đánh giá phải phù hợp với mục tiêu GDHN và điều kiện thực hiện;
+ Đảm bảo yêu cầu phân hóa: phân loại trình độ, năng lực, hiệu quả của người thực hiện
1.4.3 Tổ chức thực hiện giáo dục hướng nghiệp
Nhà trường thành lập Ban hướng nghiệp và phối hợp các lực lượng trong và ngoài nhà trường trong công tác GDHN (Ban HN gồm các thành phần: Phó hiệu trưởng (trưởng ban), GV chủ nhiệm, GV bộ môn, đại diện Đoàn thanh niên, đại diện Ban đại diện cha mẹ HS, đại diện các cơ sở sản xuất ở địa phương, cán bộ thư viện, y tế nhà trường)
Nhiệm vụ của Ban HN: Giúp cho cán bộ, GV, NV các tổ chức đoàn thể trong nhà trường và HS nhận thức đầy đủ và sâu sắc mục đích, yêu cầu, nhiệm vụ, nội dung của GDHN trong trường học; Tuyên truyền, vận động các tổ chức xã hội có liên quan cùng tham gia vào công tác GDHN Giúp Hiệu trưởng xây dựng chương trình, kế hoạch hoạt động hàng tháng, năm và chỉ đạo, kiểm tra đánh giá việc thực hiện chương trình, kế hoạch
Trang 391.4.4 Chỉ đạo thực hiện giáo dục hướng nghiệp
Chỉ đạo thực hiện GDHN qua các hình thức (con đường) GDHN đã lập trong
kế hoạch Thực hiện đồng bộ và linh hoạt qua các hình thức HN để đạt được mục tiêu GDHN
Chỉ đạo đổi mới phương pháp, phương tiện, vận dụng linh hoạt hình thức tổ chức các hoạt động GDHN cho phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý của HS Phương pháp tổ chức các hoạt động GDHN phải chú trọng vào các hoạt động tìm hiểu, nhận thức về NN Chương trình GDHN theo chương trình của nhà trường (chương trình của Bộ GD&ĐT chỉ là chương trình khung và tài liệu hoạt động GDHN chỉ có tài liệu tham khảo cho GV)
Chỉ đạo sự phối hợp giữa các lực lượng GD: nhà trường, gia đình, xã hội trong GDHN
1.4.5 Xây dựng các nguồn lực phụ vụ giáo dục hướng nghiệp
Đội ngũ trực tiếp thực hiện GDHN kết hợp với GV chủ nhiệm, Ban HN thực hiện nội dung, chương trình HN theo kế hoạch
Hiệu trưởng cần bồi dưỡng các thành viên trong Ban HN về năng lực tổ chức QL hoạt động GDHN có nề nếp, chất lượng, thường xuyên, liên tục Thực hiện bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng, phương pháp HN cho đội ngũ GV các môn học để lồng ghép trong quá trình dạy học
Xây dựng kế hoạch bồi dưỡng đội ngũ về nhận thức về vai trò, nhiệm vụ của nhà trường trong đó có GDHN theo yêu cầu GD toàn diện HS Cử CBQL, GV tham gia các lớp tập huấn về công tác GDHN do Bộ và Sở GD&ĐT tổ chức; tham quan, học hỏi các cơ sở GD thực hiện tốt hoạt động GDHN
Trang 40từng cá nhân và tập thể trong hoạt động GDHN của nhà trường
1.4.6 Kiểm tra đánh giá công tác giáo dục hướng nghiệp
Kiểm tra, đánh giá là quá trình thu thập thông tin về các nội dung trong công tác GDHN, đưa ra những nhận định, phán đoán về thực trạng GDHN trong nhà trường, trên cơ sở đó đề xuất những quyết định phù hợp nhằm nâng cao hiệu quả GDHN ở nhà trường
Việc kiểm tra, đánh giá hoạt động GDHN góp phần làm sáng tỏ mức độ đạt được và chưa đạt được về các mục tiêu của GDHN, xác định những nguyên nhân ảnh hưởng, từ đó có những điều chỉnh hợp lý trong quá trình tổ chức GDHN Do
đó, trong kiểm tra, đánh giá GDHN, cần coi mục tiêu đã xây dựng trong kế hoạch là tiêu chuẩn để đánh giá kết quả Việc kiểm tra phải thường xuyên, liên tục, có tiêu chí, chuẩn mực cụ thể
1.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến giáo dục hướng nghiệp
1.5.1 Đường lối của Đảng, chính sách của Nhà nước về giáo dục hướng nghiệp
Nhiều văn kiện, Nghị quyết của Đảng về GD đã nhấn mạnh ý nghĩa, tầm quan trọng của GDHN như đã nêu trong phần lý do chọn đề tài Nội dung cơ bản
chỉ đạo đã nhấn mạnh việc GDHN là: thực hiện phân luồng HS các cấp để góp
phần thiết thực vào việc thực hiện GD toàn diện, chuẩn bị nguồn nhân lực cho sự nghiệp đổi mới, CNH-HĐH đất nước; GDHN góp phần lớn trong việc định hướng
và chuẩn bị cho thanh niên đi vào lao động NN phù hợp với sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong cả nước và từng địa phương