1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp cho học sinh trường trung học phổ thông tam nông tỉnh phú thọ thông qua dạy học môn vật lí lớp 10

118 3 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 118
Dung lượng 1,38 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC BÙI NGỌC LUẬN QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC HƯỚNG NGHIỆP CHO HỌC SINH TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG TAM NÔNG, TỈNH PHÚ THỌ THÔNG QUA DẠY HỌC M

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC

BÙI NGỌC LUẬN

QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC HƯỚNG NGHIỆP

CHO HỌC SINH TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG TAM NÔNG, TỈNH PHÚ THỌ THÔNG QUA DẠY HỌC MÔN VẬT LÍ LỚP 10

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ GIÁO DỤC

HÀ NỘI - 2018

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC

BÙI NGỌC LUẬN

QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC HƯỚNG NGHIỆP

CHO HỌC SINH TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG TAM NÔNG, TỈNH PHÚ THỌ THÔNG QUA DẠY HỌC MÔN VẬT LÍ LỚP 10

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ GIÁO DỤC

CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ GIÁO DỤC

Mã số: 8 14 01 14

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Trần Khánh Đức

HÀ NỘI - 2018

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Tự đáy lòng mình, tôi xin được chân thành cảm ơn sâu sắc tới các Thầy

cô giáo của Trường Đại học Giáo Dục, Đại học Quốc Gia Hà Nội đã mang hết tâm huyết của mình tận tình giảng dạy, giúp đỡ, tạo mọi điều kiện tốt nhất cho tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu, thực hiện luận văn tốt nghiệp

Tác giả xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới người thầy đáng kính

PGS.TS.Trần Khánh Đức – thầy trực tiếp hướng dẫn khoa học – đã tận

tình chỉ bảo giúp đỡ, động viên, hướng dẫn tác giả trong suốt quá trình nghiên cứu, thực hiện luận văn

Xin được cảm ơn các thầy giáo trong BGH trường THPT Tam Nông cùng toàn thể các thầy giáo, cô giáo, các đồng chí cán bộ nhân viên nhà trường, cảm ơn phụ huynh học sinh và các em học sinh đặc biệt là các em học sinh khối 10 của trường đã nhiệt tình hợp tác giúp đỡ, cung cấp số liệu chính xác, các tư liệu trong quá trình nghiên cứu đề tài

Trong quá trình thực hiện luận văn tốt nghiệp không thể tránh khỏi những hạn chế thiếu sót Tôi rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của quý thầy cô và các bạn đồng nghiệp để luận văn được hoàn thiện hơn

Hà Nội, tháng 6 năm 2018

Tác giả

Bùi Ngọc Luận

Trang 4

GDHN – DN: Giáo dục hướng nghiệp – dạy nghề

Trang 5

MỤC LỤC

Trang

Lời cảm ơn i

Danh mục các chữ viết tắt ii

Mục lục iii

Danh mục các bảng, biểu đồ viii

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC HƯỚNG NGHIỆP CHO HỌC SINH THÔNG QUA VIỆC DẠY HỌC MÔN VẬT LÍ LỚP 10 Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 5

1.1 Tổng quan lịch sử nghiên cứu vấn đề 5

1.1.1 Những nghiên cứu trên thế giới 5

1.1.2 Những nghiên cứu trong nước 8

1.2 Một số khái niệm cơ bản 12

1.2.1 Quản lý 12

1.2.2 Giáo dục và Quản lý giáo dục 13

1.2.3 Giáo dục hướng nghiệp và quản lý giáo dục hướng nghiệp 15

1.2.4 Dạy học 16

1.3 Mục tiêu, nguyên tắc, nội dung, phương pháp và hình thức giáo dục hướng nghiệp cho học sinh 17

1.3.1 Mục tiêu của giáo dục hướng nghiệp 17

1.3.2 Những nguyên tắc giáo dục hướng nghiệp 18

1.3.3 Nội dung giáo dục hướng nghiệp 20

1.3.4 Phương pháp giáo dục hướng nghiệp 21

1.3.5 Các hình thức tổ chức giáo dục hướng nghiệp 23

1.3.6 Giáo dục hướng nghiệp thông qua việc dạy học các môn khoa học ở trường THPT 25

1.3.7 Ý nghĩa hoạt động giáo dục hướng nghiệp cho học sinh THPT thông qua dạy học môn Vật lí lớp 10 30

Trang 6

1.4 Nội dung quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp cho học sinh

thông qua dạy học môn Vật lí lớp 10 ở các trường THPT 31

1.4.1 Đề ra mục tiêu và xây dựng kế hoạch giáo dục hướng nghiệp cho học sinh thông qua dạy học môn Vật lí lớp 10 31

1.4.2 Tổ chức bộ máy thực hiện hoạt động giáo dục hướng nghiệp cho học sinh thông qua dạy học Vật lí lớp 10 34

1.4.3 Chỉ đạo triển khai các hoạt động giáo dục hướng nghiệp thông qua dạy học môn Vật lí lớp 10 35

1.4.4 Giám sát và kiểm tra đánh giá kết quả hoạt động giáo dục hướng nghiệp cho học sinh thông qua dạy học môn Vật lí lớp 10 35

1.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp thông qua dạy học môn Vật lí lớp 10 36

1.5.1 Yếu tố khách quan 36

1.5.2 Yếu tố chủ quan 36

Tiểu kết chương 1 38

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC HƯỚNG NGHIỆP CHO HỌC SINH THÔNG QUA DẠY HỌC MÔN VẬT LÍ LỚP 10 Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG TAM NÔNG, HUYỆN TAM NÔNG, TỈNH PHÚ THỌ 39

2.1 Đặc điểm, tình hình kinh tế - xã hội và giáo dục THPT huyện Tam Nông, tỉnh Phú Thọ 39

2.1.1 Đặc điểm tình hình – kinh tế xã hội, huyện Tam Nông, tỉnh Phú Thọ 39

2.1.2 Khái quát về hệ thống GD huyện Tam Nông, tỉnh Phú Thọ 41

2.2 Đặc điểm tình hình GD của trường THPT Tam Nông huyện Tam Nông, tỉnh Phú Thọ 42

2.3 Nội dung và phương pháp khảo sát 45

2.3.1 Mục đích khảo sát thực trạng 45

2.3.2 Nội dung khảo sát thực trạng 45

Trang 7

2.3.3 Đối tượng khảo sát 45

2.3.4 Địa bàn khảo sát 45

2.3.5 Phương pháp khảo sát 46

2.3.6 Quy trình khảo sát 46

2.3.7 Đánh giá và xử lý kết quả khảo sát 47

2.3.8 Thời gian thực hiện khảo sát 47

2.4 Thực trạng giáo dục hướng nghiệp cho học sinh thông qua dạy học môn Vật lí lớp 10 ở trường THPT Tam Nông huyện Tam Nông, tỉnh Phú Thọ 47

2.4.1 Thực trạng về nhận thức của cán bộ quản lý và giáo viên về tầm quan trọng của hoạt động giáo dục hướng nghiệp cho học sinh thông qua dạy học môn Vật lí lớp 10 47

2.4.2 Thực trạng về nội dung, hình thức cách thức tổ chức các hoạt động giáo dục hướng nghiệp cho học sinh thông qua dạy học môn Vật lí lớp 10 52

2.5 Thực trạng quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp cho học sinh thông qua dạy học môn Vật lí lớp 10 ở trường THPT Tam Nông huyện Tam Nông, tỉnh Phú Thọ 55

2.5.1 Lập kế hoạch hoạt động giáo dục hướng nghiệp cho học sinh thông qua dạy học môn Vật lí lớp 10 55

2.5.2 Chỉ đạo hướng dẫn triển khai hoạt động giáo dục hướng nghiệp cho học sinh thông qua dạy học môn Vật lí lớp 10 56

2.5.3 Tổ chức và chỉ đạo xây dựng nội dung, chương trình giáo dục hướng nghiệp thông qua việc dạy học môn Vật lí lớp 10 59

2.5.4 Tổ chức bồi dưỡng nâng cao trình độ của giáo viên Vật lí trong thực hiện hoạt động giáo dục hướng nghiệp thông qua việc dạy học môn Vật lí lớp 10 60

2.5.5 Kiểm tra đánh giá kết quả hoạt động giáo dục hướng nghiệp cho học sinh thông qua dạy học môn Vật lí lớp 10 61

Trang 8

2.6 Đánh giá chung về thực trạng quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp cho học sinh thông qua dạy học môn Vật lí lớp 10 ở trường

THPT Tam Nông huyện Tam Nông, tỉnh Phú Thọ 62

2.6.1 Ưu điểm 62

2.6.2 Những mặt còn tồn tại 62

2.6.3 Nguyên nhân của những hạn chế 63

Tiểu kết chương 2 64

CHƯƠNG 3: BIỆN PHÁP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC HƯỚNG NGHIỆP CHO HỌC SINH THÔNG QUA DẠY HỌC MÔN VẬT LÍ LỚP 10 Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG TAM NÔNG, HUYỆN TAM NÔNG, TỈNH PHÚ THỌ 65

3.1 Quan điểm chỉ đạo của Đảng, Nhà nước và Ngành GD&ĐT về giáo dục hướng nghiệp cho học sinh phổ thông 65

3.2 Các nguyên tắc xây dựng biện pháp 65

3.2.1 Nguyên tắc đảm bảo chủ chương đường lối của Đảng 65

3.2.2 Nguyên tắc đảm bảo tính mục tiêu 66

3.2.3 Nguyên tắc đảm bảo tính khoa học 66

3.2.4 Nguyên tắc đảm bảo tính khả thi 66

3.3 Các biện pháp quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp cho học sinh thông qua việc dạy học môn Vật lí lớp 10 tại trường THPT Tam Nông Tỉnh Phú Thọ 67

3.3.1 Chỉ đạo đẩy mạnh công tác tuyên truyền đến CBQL, GV, NV, phụ huynh và học sinh nâng cao nhận thức về tầm quan trọng và lợi ích của việc giáo dục hướng nghiệp cho các em học sinh thông qua dạy học môn Vật lí lớp 10 67

3.3.2 Lập kế hoạch dạy học Vật lí 10 lồng ghép nội dung giáo dục hướng nghiệp và xây dựng một số kế hoạch dạy học tự chọn Vật lí lớp 10 theo hình thức dạy học dự án nhằm giáo dục hướng nghiệp cho học sinh 68

Trang 9

3.3.3 Tổ chức hội thảo, tập huấn bồi dưỡng năng lực thiết kế qui trình quản lí, xây dựng kế hoạch, biên soạn nội dung giáo dục hướng nghiệp cho học sinh thông qua việc dạy học môn Vật lí lớp

10 cho đội ngũ CBQL và giáo viên Vật lí trường THPT Tam Nông 71

3.3.4 Thực hiện xã hội hóa đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị và đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động giáo dục hướng nghiệp thông qua việc dạy học môn Vật lí lớp 10 74

3.3.5 Chỉ đạo phối hợp chặt chẽ với các lực lượng trong và ngoài nhà trường tổ chức giáo dục hướng nghiệp cho học sinh thông qua dạy học môn Vật lí lớp 10 75

3.3.6 Xây dựng quy trình kiểm tra đánh giá chi tiết việc thực hiện của giáo viên và học sinh đối với hoạt động giáo dục hướng nghiệp thông qua việc dạy học môn Vật lí lớp 10 76

3.3.7 Tổ chức tốt công tác thi đua và khen thưởng có cơ chế động viên khen thưởng đối với tổ chức cá nhân làm tốt công tác giáo dục hướng nghiệp thông qua việc dạy học môn Vật lí lớp 10 78

3.4 Khảo nghiệm tính cần thiết và tính khả thi của các biện pháp 79

3.4.1 Mục đích khảo nghiệm 79

3.4.2 Nội dung và phương pháp khảo nghiệm 80

3.4.3 Đối tượng và địa điểm khảo nghiệm 80

3.4.4 Kết quả khảo nghiệm 81

Tiểu kết chương 3 84

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 85

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 91

PHỤ LỤC 96

Trang 10

DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU ĐỒ

Trang

Bảng 1.1: Mối liên quan giữa kiến thức Vật lí 10 và các ngành nghề 28

Bảng 2.1: Thống kê kết quả chất lượng giáo dục văn hóa của trường THPT Tam Nông - huyện Tam Nông – tỉnh Phú Thọ 44

Bảng 2.2: Thống kê xếp loại hạnh kiểm của trường THPT Tam Nông – huyện Tam Nông – tỉnh Phú Thọ 44

Bảng 2.3: Ý kiến của CBQL và giáo viên, nhân viên về tính cần thiết của việc tăng cường giáo dục hướng nghiệp thông qua việc dạy học môn Vật lí lớp 10 48

Bảng 2.4: Đánh giá vai trò của Hiệu trưởng trong công tác quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp thông qua dạy học Vật lí lớp 10 50

Bảng 2.5: Mong muốn của HS khi học môn Vật lí 52

Bảng 2.6: Tần suất được tiếp cận các hình thức GDHN 53

Bảng 2.7: Hiểu biết và vận dụng DHDA của GV 54

Bảng 2.8 Đánh giá về thực trạng Quản lí xây dựng kế hoạch giáo dục hướng nghiệp cho HS thông qua việc dạy học môn Vật lí lớp 10 55

Bảng 2.9: Thực trạng về quản lý chỉ đạo, hướng dẫn triển khai hoạt động giáo dục hướng nghiệp thông qua việc dạy học môn Vật lí lớp 10 56

Bảng 2.10: Đánh giá về quản lý hoạt động xây dựng nội dung, chương trình giáo dục hướng nghiệp thông qua việc dạy học môn Vật lí lớp 10 59

Bảng 2.11: Thực trạng về tổ chức bồi dưỡng nâng cao trình độ của giáo viên Vật lí trong thực hiện hoạt động giáo dục hướng nghiệp thông qua việc dạy học môn Vật lí lớp 10 60

Bảng 2.12: Đánh giá về thực trạng về quản lí kiểm tra, đánh giá kết quả giáo dục hướng nghiệp học sinh thông qua việc dạy học môn Vật lí lớp 10 61

Bảng 3.1: Đánh giá sự cần thiết của các giải pháp đề xuất 81

Bảng 3.2: Đánh giá về tính khả thi của các giải pháp đề xuất 82

Biểu đồ 3.1: Tính cần thiết và tính khả thi của các biện pháp 83

Trang 11

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Để đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục đáp ứng mục tiêu giáo dục

theo tinh thần Nghị quyết số 29- NQ/TW “Đối với giáo dục phổ thông, tập

trung phát triển trí tuệ, thể chất, hình thành phẩm chất, năng lực công dân, phát hiện và bồi dưỡng năng khiếu, định hướng nghề nghiệp cho học sinh Hoàn thành việc xây dựng chương trình giáo dục phổ thông giai đoạn sau năm

2015 Bảo đảm học sinh trung học phổ thông phải tiếp cận nghề nghiệp và chuẩn bị cho giai đoạn học sau phổ thông có chất lượng” [1]

Để đáp ứng những mục tiêu trên, giáo dục phải đổi mới quá trình dạy

và học với những thành tố của nó: nội dung, phương pháp, hình thức tổ chức dạy học, cách thức kiểm tra, đánh giá…Sự đổi mới phải làm cho quá trình dạy học vừa đảm bảo tính khoa học vừa đảm bảo phát huy tính tích cực, tự chủ, sáng tạo của học sinh

Giáo dục hướng nghiệp thông qua các môn học là một trong các hình thức giáo dục hướng nghiệp ở trường phổ thông Đây là một việc hết sức khó khăn nhưng rất quan trọng vì những tri thức ngành nghề khác nhau trong xã hội chứa đựng trong các môn học Giáo dục hướng nghiệp trong các môn học ở trường phổ thông sẽ đạt được mục tiêu kép vừa nâng cao chất lượng dạy học môn học vừa góp phần làm cho học sinh định hướng nghề nghiệp sau này

Vật lí là môn khoa học thực nghiệm Kiến thức môn Vật lí luôn gắn liền với thực tế cuộc sống Tuy nhiên, việc dạy và học ở nhiều trường THPT còn chịu nhiều tác động nặng nề bởi mục tiêu thi cử, do đó vẫn chủ yếu là truyền thụ kiến thức, kĩ năng làm bài kiểm tra, mang nặng tính lí thuyết, xa rời thực tiễn người học đang sống, không khuyến khích tìm tòi, ít rèn luyện cho học sinh cách học cách suy nghĩ độc lập, sáng tạo giải quyết vấn đề

Nội dung kiến thức chương trình Vật lí lớp 10 trung học phổ thông, phần kiến thức cơ học và nhiệt học tương đối hấp dẫn, gần gũi, gắn liền với cuộc sống thường nhật, cũng như các công việc thuộc các ngành nghề khác nhau

Thực tiễn cho thấy, hiện nay các trường THPT nói chung trường THPT

Trang 12

Tam Nông nói riêng hoạt động giáo dục hướng nghiệp cho học sinh thông qua dạy học môn Vật lí còn nhiều hạn chế về mục tiêu, nội dung, chương trình, phương pháp giáo dục, cách thức thực hiện… dẫn đến hoạt động giáo dục hướng nghiệp chưa hiệu quả Một trong các nguyên nhân là công tác quản lí hoạt động này trong giai đoạn hiện nay chưa đi vào chiều sâu, chưa có những giải pháp hữu hiệu cần có biện pháp để sớm khắc phục những hạn chế và đưa

ra giải pháp hiệu quả Tuy đã có nhiều công trình nghiên cứu, luận văn thạc sĩ

về quản lý giáo dục hướng nghiệp song chưa có công trình nào đi sâu nghiên cứu vấn đề quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp cho học sinh trường THPT thông qua dạy học môn Vật lí lớp 10

Xuất phát từ những lí do trên, đề tài nghiên cứu được lựa chọn là: “Quản

lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp cho học sinh trường THPT Tam Nông, tỉnh Phú Thọ thông qua dạy học môn Vật lí lớp 10” để nghiên cứu

2 Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và đánh giá thực trạng công tác quản

lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp cho học sinh trường THPT Tam Nông thông qua dạy học môn Vật lí lớp 10, đề xuất các biện pháp quản lý nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả của hoạt động giáo dục hướng nghiệp của nhà trường thông qua dạy học môn Vật lí lớp 10, đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục hiện nay

3 Khách thể và đối tƣợng nghiên cứu

3.1 Khách thể nghiên cứu

Hoạt động giáo dục hướng nghiệp cho học sinh khối lớp 10 trường THPT thông qua việc dạy học môn Vật lí trong chương trình giáo dục THPT

3.2 Đối tượng nghiên cứu

Quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp cho học sinh khối lớp 10 trường THPT thông qua việc dạy học môn Vật lí lớp 10

4 Câu hỏi nghiên cứu

Cần dựa trên cơ sở khoa học & thực tiễn nào để đề xuất các biện pháp quản lý để nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động giáo dục hướng nghiệp thông qua môn học Vật lí lớp 10 THPT ?

Trang 13

Cần có những biện pháp quản lý như thế nào để nâng cao chất lượng và hiệu quả giáo dục hướng nghiệp thông qua dạy học môn Vật lí 10 ở trường THPT Tam Nông huyện Tam Nông tỉnh Phú Thọ?

5 Giả thuyết nghiên cứu

Nêu đề xuất và từng bước triển khai các biện pháp quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp theo tiếp cận dựa trên mục tiêu - chức năng quản lý và phù hợp với thực tiễn nhà trường thì sẽ nâng cao được chất lượng và hiệu quả hoạt động giáo dục hướng nghiệp thông qua dạy học môn Vật lí 10 ở trường

THPT Tam Nông huyện Tam Nông tỉnh Phú Thọ

6 Nhiệm vụ nghiên cứu

6.1 Nghiên cứu cơ sở lý luận về giáo dục hướng nghiệp và quản lý giáo dục hướng nghiệp cho học sinh THPT

6.2 Nghiên cứu thực trạng công tác giáo dục hướng nghiệp và quản

lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp thông qua dạy học môn Vật lí lớp 10 ở trường THPT Tam Nông, huyện Tam Nông, tỉnh Phú Thọ

6.3 Đề xuất các biện pháp quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp thông qua dạy học môn Vật lí lớp 10 ở trường THPT Tam Nông, huyện Tam Nông, tỉnh Phú Thọ

7 Phạm vi nghiên cứu

Hoạt động giáo dục hướng nghiệp và quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp thông qua môn học Vật lý 10 ở trường THPT Tam Nông tỉnh Phú Thọ

8 Phương pháp nghiên cứu

8.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận

Thu thập và đọc, phân tích, tổng hợp, hệ thống hóa các nguồn tài liệu, nhằm xây dựng cơ sở lý luận cho đề tài gồm: Lý luận hoạt động giáo dục hướng nghiệp thông qua dạy học các môn học; lý luận về quản lý giáo dục, quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp thông qua dạy học các môn học chính khóa; nghiên cứu về mục tiêu giáo dục học sinh THPT; nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến kết quả giáo dục và quản lý giáo dục hướng nghiệp thông qua dạy học Vật lí

Trang 14

8.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn

* Phương pháp quan sát sư phạm

Thu thập thông tin qua việc quan sát các hoạt động quản lý công tác giáo dục hướng nghiệp của Ban giám hiệu, hoạt động dạy học của giáo viên Vật lí và hoạt động học của học sinh trường THPT Tam Nông, huyện Tam Nông, tỉnh Phú Thọ

* Phương pháp điều tra bằng phiếu

Xây dựng bảng hỏi, nghiên cứu về biện pháp giáo dục hướng nghiệp của giáo viên Vật lí và thực trạng, nguyện vọng học tập của học sinh đối với giáo dục hướng nghiệp thông qua môn Vật lí trường THPT Tam Nông;

* Phương pháp tổng kết kinh nghiệm

8.3 Nhóm phương pháp khác

* Phương pháp xin ý kiến chuyên gia

Phỏng vấn cán bộ lãnh đạo, lãnh đạo phụ trách quản lý công tác giáo dục hướng nghiệp ở trường THPT Tam Nông huyện Tam Nông, tỉnh Phú Thọ

* Phương pháp thống kê toán học

9 Cấu trúc đề tài

Ngoài phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, tài liệu tham khảo, phụ lục, nội dung chính của luận văn được trình bày trong 3 chương;

Chương 1: Cơ sở lý luận quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp cho

học sinh thông qua việc dạy học môn Vật lí lớp 10 ở trường THPT

Chương 2: Thực trạng quản lý hoạt động hoạt động giáo dục hướng

nghiệp cho học sinh thông qua dạy học Vật lí lớp 10 ở trường THPT Tam Nông, huyện Tam Nông, tỉnh Phú Thọ

Chương 3: Biện pháp quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp cho

học sinh thông qua dạy học Vật lí lớp 10 ở trường THPT Tam Nông, huyện Tam Nông, tỉnh Phú Thọ

Trang 15

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC HƯỚNG NGHIỆP CHO HỌC SINH THÔNG QUA VIỆC DẠY HỌC MÔN VẬT LÍ LỚP 10 Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG

1.1 Tổng quan lịch sử nghiên cứu vấn đề

1.1.1 Những nghiên cứu trên thế giới

- Giáo dục hướng nghiệp và quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp đã xuất hiện từ đầu thế kỉ XIX năm 1848, ở Pháp xuất bản cuốn “Hướng nghiệp chọn nghề” [30, tr.18] Nội dung cuốn sách đề cập tới vấn đề sự phát triển đa dạng của nghề nghiệp do sự phát triển của nền sản xuất công nghiệp và việc phải giúp đỡ thanh niên trong sự lựa chọn nghề nghiệp là một xu thế tất yếu Khẳng định sự cần thiết phải giúp đỡ thanh niên, học sinh trong việc lựa chọn nghề nghiệp nhằm phát huy hiệu quả lực lượng lao động trẻ tuổi [30, tr.31]

- Ở Mĩ đầu thế kỉ XX giáo sư Frank Parsons đã viết cuốn sách “Chọn lựa một nghề ” (Choosing a Vocation) vào năm 1909 bàn đến hướng nghiệp cho HS dựa trên năng lực, năng khiếu, hứng thú, sở thích của từng cá nhân [54, tr.14] Vào thập niên 70 của thế kỉ XIX Giáo sư xã hội học người mỹ John Holland với lý thuyết “nhân cách nghề nghiệp và sở thích nghề nghiệp” đã nêu ra các lĩnh vực nghề nghiệp ứng với mỗi nhóm sở thích dựa vào 6 loại tính cách là (1 Thực tế, 2 Điều tra, 3 Nghệ sĩ, 4 Xã hội, 5 Dám nghĩ dám làm, 6 Tập quán) từ đó giới thiệu phân nhóm tính cách năng lực, ngành nghề tương ứng phù hợp mỗi người để cá nhân tự xác định cho bản thân lựa chọn thành công nghề nghiệp phù hợp cho tương lai Ngày nay, ở Mỹ, chương trình dạy tích hợp ở bậc THPT (văn hóa, khoa học kĩ thuật, lao động), rất chú trọng các môn

tự chọn: máy tính, kĩ thuật điện, hải dương học, y học cơ sở, ngoại ngữ Đây

là cơ sở làm tiền đề cho việc chọn nghề tương lai

-TheoTổ chức giáo dục, Văn hóa và Khoa học của Liên hiệp quốc (UNESCO): Chủ tịch Ủy ban quốc tế về giáo dục của UNESCO, Jacques

Trang 16

Delors khi phân tích những trụ cột của giáo dục toàn cầu đã viết: “Học để biết, học để làm việc, học để chung sống với nhau học để khẳng định bản thân” Kết quả của giáo dục phải được thể hiện rõ ở thế hệ trẻ năng lực “sống – làm việc – phát triển” Tác giả đã nêu rõ vấn đề học nghề phổ thông cho học sinh là một yêu cầu không thể thiếu được Qua đó tác giả cũng đã nhấn mạnh: học sinh sẽ có cơ hội phát triển năng lực toàn diện của bản thân tham gia thực hiện các hoạt động nghề nghiệp song song với việc học để hỗ trợ cho việc vận dụng kiến thức đã học vào thực tiễn

- Ở Nhật Bản giáo dục kỹ thuật – nghề nghiệp ở Nhật Bản được hình thành và phát triển sớm ngay trong quá trình cải cách giáo dục lần thứ nhất

Từ năm 1895 Luật Quốc gia về GDNN đã được thông qua và đến năm 1899 các chương trình đào tạo nghề nghiệp ở các ngành nông nghiệp, nghề cá, lâm nghiệp và công nghiệp đã được thực hiện ở bậc THCS [24, tr.771]

+ Đến năm 1951, để đáp ứng nhu cầu phát triển GDNN trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, Luật Thúc đẩy GDNN đã được ban hành làm cơ

sở pháp lý cho quá trình hiện đại hóa, chuẩn hóa (chương trình, thiết bị) cho các loại hình giáo dục kỹ thuật – nghề nghiệp Từ năm 1957, Nhật Bản đã có chính sách tăng trợ cấp (10%) lương cơ bản cho GV dạy kỹ thuật và DN các trường trung học bậc cao

+ Từ năm 1958, các chương trình GDNN (môn công nghệ) bắt buộc

đã được đưa vào trường THCS, thực chất là các chương trình kết hợp giữa giáo dục văn hóa phổ thông và đào tạo nghề phổ biến ở bậc THCS Vào những năm 50 đã có khoảng 45,2% HS Nhật Bản ở độ tuổi 15 ra trường làm việc sau khi tốt nghiệp THCS (chỉ có khoảng 43% tiếp tục học lên trung học bậc cao) [24, tr.771]

+ Đến nhưng năm 60, GDNN ở Nhật Bản chủ yếu phát triển trên nền tảng giáo dục phổ cập 9 năm (sau THCS) Từ năm 1958 đã hình thành các chương trình GDNN bậc Trung học mà chủ yếu là ở các trường trung học kỹ thuật/trung học nghề Khoảng 70% HS theo các khóa phổ thông để hướng vào

Trang 17

CĐ/ĐH và khoảng 26% theo hướng đào tạo nghề nghiệp ở bậc Trung học Trong thời kỳ này, để đáp ứng nhu cầu cao về nhân lực lao động kỹ thuật, Chính phủ Nhật Bản đã có chính sách đầu tư tăng gấp đôi số trường học kỹ thuật bậc cao (Technical High School) và thành lập loại hình trường CĐ công nghệ (College of Technology) đào tạo trong 5 năm với đối tượng tuyển sinh là

HS tốt nghiệp THCS Đây thực chất là một hình thức phân luồng và là một loại hình liên thông trực tiếp giữa giáo dục THPT và GDNN, đồng thời, để đáp ứng nhu cầu GV kỹ thuật/DN cho các trường phổ thông và nghề nghiệp, Nhật Bản đã thành lập các trường CĐSPKT (3 năm) Các trường này có thể gắn kết chặt chẽ với các khoa công nghệ ở các ĐH quốc gia Hiện nay, việc đào tạo mới GV cho lĩnh vực giáo dục KT – NN chủ yếu thực hiện ở các trường CĐ công nghệ và các khoa SPKT ở các ĐH quốc gia, ĐH công Việc bồi dưỡng thường xuyên GV KT – NN được tổ chức chủ yếu ở các trung tâm giáo dục kỹ thuật ở các vùng, địa phương [24, tr 772]

+ Để đáp ứng nhu cầu đa dạng và thường xuyên thay đổi của các nhà

sử dụng lao động và tiến bộ KH – CN, các chương trình giáo dục công nghệ ở trường phổ thông và chương trình đào tạo nghề nghiệp ở các trường kỹ thuật cũng thường xuyên được hoàn thiện Từ năm 1977, các chương trình giáo dục

KT – NN ở trường trung học được bổ sung các môn về cơ sở kỹ thuật – công nghiệp còn các chương trình phổ thông được tăng cường các nội dung thực hành, hoạt động thực tế Vào cuối nhưng năm 80, các nội dung tích hợp về công nghệ thông tin và máy tính cũng đã được chọn lọc để đưa vào chương trình công nghệ ở trường THCS và các chương trình giáo dục ở các trường trung học bậc cao (phổ thông hoặc kỹ thuật) Nội dung đào tạo KT – NN ở các trường trung học kỹ thuật còn được cập nhập các lĩnh vực tiến bộ KH –

CN cơ điện tử; cơ điện tử ứng dụng dưới dạng các chủ đề tích hợp

+ Các chương trình giáo dục KT - NN cũng do từng cơ sở đào tạo xây dựng trên cơ sở khung chương trình quốc gia của Bộ Giáo dục quy định Chương trình chi tiết được thiết kế cho từng khóa đào tạo và được điều chỉnh

Trang 18

thường xuyên cho phù hợp với tiến bộ công nghệ và nhu cầu nhân lực thị trường lao động [24, tr.772]

- Ở Philippine giảng dạy tích hợp các môn khoa học công nghệ vào THPT, sau trung học cơ sở, nhánh giáo dục nghề nghiệp có 2 năm học nghề, 2 năm sau chọn nghề nhất định

- Ở Malaysia sau THCS học sinh được phân chia 3 hướng chính: Nhóm giáo dục kĩ thuật công nghệ cơ khí dân dụng; nhóm giáo dục phổ thông dạy các môn văn hóa; nhóm giáo dục nghề nghiệp giảng dạy lí thuyết, thực hành nghề cơ khí, ô tô, hàn, điện, điện tử

- Lịch sử GDHN và QL HĐGDHN trên thế giới đã có sự phát triển đáng kể đáng kể trong việc xây dựng được hệ thống lý thuyết và các chiến lược phát triển GDHN và QL GDHN hơn 100 năm qua, bao gồm: Frank Parsons, với cách tiếp cận “yếu tố nhân cách”; John Holland với lý thuyết

“nhân cách nghề nghiệp và sở thích nghề nghiệp”; Allan Walker với quan điểm “trong quá trình QL HĐGDHN ở trường học, cần chú ý đến mục tiêu phát triển kỹ năng hướng nghiệp và thích ứng nghề của HS”; Eli Ginzberg và Donald Super với quan điểm “tiếp cận phát triển” và “tự hiểu mình”, cần QL tốt tiến trình phát triển nghề nghiệp của mọi cá nhân từ khi còn nhỏ cho đến lớn; E.A Klimov, V.N Supkin, V.P Gribanov, V.A Kruchetxki với hướng tiếp cận chủ yếu tập trung vào “QL hứng thú nghề nghiệp, động cơ chọn nghề, các giá trị về nghề mà HS quan tâm” Gần đây, GDHN đã được luật pháp quy định cụ thể ở cộng hòa Pháp Năm 2010, Châu Âu nhấn mạnh đến việc QL tốt

hệ thống GDHN và dạy nghề thông qua đáp ứng nhu cầu của cá nhân và TTLĐ, bồi dưỡng đội ngũ làm công tác này, đảm bảo chất lượng GDHN cấp quốc gia, cải thiện xã hội hóa công tác này

1.1.2 Những nghiên cứu trong nước

Đối với lĩnh vực hướng nghiệp dạy nghề phổ thông thể hiện ngay trong quan điểm giáo dục của Đảng ta, Bác Hồ đã sớm chỉ ra: “Nhà trường xã hội chủ nghĩa là nhà trường: Học đi đôi với lao động; lý luận đi đôi với thực

Trang 19

hành; cần cù đi đôi với tiết kiệm” (Bài Bác Hồ nói chuyện với học sinh và giáo viên trường phổ thông cấp 3 Chu Văn An, ngày 31/12/1958)

Công tác hướng nghiệp được chính thức đưa vào trường phổ thông từ 19/3/1981 theo quyết định số 126/CP của Chính phủ về công tác hướng nghiệp trong trường phổ thông và việc sử dụng hợp lí trung học cơ sở, trung học phổ thông tốt nghiệp ra trường [32] Trong quyết định này đã nêu rõ được

vị trí, vai trò, nhiệm vụ công tác hướng nghiệp, xác định được nhiệm vụ cụ thể của chính quyền các cấp, các ngành kinh tế, văn hóa, du lịch từ trung ương đến địa phương có trách nhiệm tạo mọi điều kiện thuận lợi trực tiếp giúp đỡ các trường phổ thông trong việc đào tạo, sử dụng hợp lí và tiếp tục bồi dưỡng học sinh phổ thông sau khi tốt nghiệp Ban hành kèm Quyết định 126/CP của Chính phủ là Thông tư 31-TT của Bộ Trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo về việc hướng dẫn thực hiện Quyết định nêu trên [6] Trong nội dung của thông tư đã hướng dẫn cụ thể nêu rõ được mục đích, hình thức và nhiệm

vụ hướng nghiệp cho học sinh trong nhà trường phổ thông, đã xác định rõ trách nhiệm cụ thể cho các tổ chức, cá nhân trong nhà trường, toàn bộ giáo viên, nhân viên nhà trường đều phải có trách nhiệm trong công tác GDHN Vấn đề hướng nghiệp cho học sinh trong nhà trường phổ thông không phải là vấn đề mới Đây là quan tâm đến tương lai của thế hệ trẻ nên rất cần được toàn xã hội chăm lo giúp đỡ, đặc biệt là các nhà quản lí giáo dục, các bậc cha

mẹ học sinh và chính quyền các cấp, các ban ngành, đoàn thể từ trung ương đến địa phương

Mục tiêu của GDHN ở THPT: trong chương trình giáo dục cấp THPT được ban hành theo quyết định số 16/2006/QĐ – BGD&ĐT của bộ GD&ĐT ngày 5/5/2006 [13], sau khi tham gia hoạt động GDHN ở THPT, HS cần đạt được:

Trang 20

phương, đất nước và khu vực; về thế giới nghề nghiệp, thị trường lao động, hệ thống giáo dục nghề nghiệp (trung cấp chuyên nghiệp và dạy nghề), CĐ, ĐH

ở địa phương và cả nước

- Về kĩ năng:

1 Bản thân người học biết tự đánh giá năng lực của mình và những điều kiện của gia đình trong việc định hướng chọn nghề trong tương lai;

2 Hoc sinh biết tìm hiểu những thông tin các ngành nghề và thông tin

về các cơ sở đào tạo nghề phù hợp cho mình;

3 Định hướng và lựa chọn được nghề nghiệp tương lai

- Về thái độ:

1 Chủ động và tự tin trong việc chọn nghề phù hợp;

2 Có hứng thú và khuynh hướng chọn nghề đúng đắn Nội dung GDHN ở THPT: Theo Bộ GD&ĐT [13], trong nhà trường THPT, nội dung hoạt động GDHN được tập trung ở 24 chủ đề và phân theo 3 khối

Hoạt động giáo dục hướng nghiệp là môn học liên quan đến nhiều môn học khác, đòi hỏi một lượng kiến thức rất rộng và mang tính thời sự trong xã hội” và theo Chỉ thị số 33/2003/CT-BGD&ĐT ngày 23.7.2003 của Bộ GD&ĐT (gọi tắt Chỉ thị 33 của Bộ GD&ĐT) quy định hoạt động giáo dục hướng nghiệp, có nhiệm vụ: “Giáo dục thái độ lao động và ý thức đúng đắn với nghề nghiệp; cho học sinh làm quen với một số nghề phổ biến trong xã hội và các nghề truyền thống của địa phương; tìm hiểu năng khiếu, khuynh hướng nghề nghiệp của từng học sinh để khuyến khích, hướng dẫn và bồi dưỡng khả năng nghề nghiệp thích hợp nhất; động viên học sinh đi vào những nghề, những nơi đang cần” [8, tr 2]

Tác giả Trần Khánh Đức đã đề cập đến việc dạy nghề ban đầu cho học sinh phổ thông trung học kỹ thuật Việt Nam và xác định: Nội dung, hình thức phương pháp dạy nghề ban đầu cho học sinh lớp 10,11 trường phổ thông trung học kỹ thuật theo nhóm nghề xây dựng, các phương pháp và hình thức dạy sản xuất trong các trường dạy nghề xây dựng được sử dụng phù hợp với mục đích, nhiệm vụ và nội dung ở trường phổ thông trung học kỹ thuật ở nước ta

Trang 21

Các công trình trên cho thấy rằng, các nhà nghiên cứu giáo dục Việt Nam rất quan tâm đến công tác hướng nghiệp, lao động sản xuất, và dạy kỹ thuật nghề nghiệp cho học sinh phổ thông Nhưng các công trình nghiên cứu

kể trên phần lớn tập trung vào việc đổi mới tư tưởng, quan điểm và một số mặt về nội dung, chương trình, tổ chức quản lý hoạt động dạy học nghề cho học sinh phổ thông trong điều kiện nền kinh tế - xã hội ở các nước phát triển cao hơn nước ta Cũng như nhiều nước trên thế giới, vấn đề chất lượng dạy nghề đang là mối quan tâm lo ngại hiện nay của nền giáo dục phổ thông nước

ta Thực tiễn công tác GDHN - DN hiện nay phát triển còn chậm và chưa đáp ứng yêu cầu trong thời kỳ mới Kết quả và chất lượng dạy học nghề phổ thông hàng năm chưa phản ánh đúng trình độ học lực của học sinh vì việc đánh giá chỉ mới dựa trên tỷ lệ khá giỏi của kỳ thi nghề, chưa đánh giá đầy đủ các mặt như: phẩm chất xã hội - nghề nghiệp của học sinh, khả năng thích ứng thị trường lao động, các chỉ số về sức khỏe tâm lý Mặc dù hiện nay đã có một số chương trình nghề phổ thông xây dựng theo hướng chuẩn quốc gia nhưng bên cạnh đó lại chưa có tiêu chí đánh giá thống nhất về chất lượng, chưa ban hành tiêu chuẩn đối với giáo viên dạy, cơ sở vật chất thiết bị… GDNN

Theo giáo sư Phạm Minh Hạc, trong tác phẩm “Giáo dục Việt Nam

trước ngưỡng cửa thế kỉ 21” tác giả đã phân tích GD&ĐT Việt Nam và xây

dựng phương hướng đổi mới giáo dục từ việc xây dựng một nền giáo dục kỹ thuật, đó là nền giáo dục được chỉ đạo bằng tư tưởng phục vụ phát triển công nghệ Giáo sư đã khẳng định con người trong công cuộc đổi mới là ưu tiên đến việc giáo dục nghề nghiệp, đây cũng là quan điểm của giáo dục hướng nghiệp hiện nay và trong tương lai [27, tr.14]

Tác giả Nguyễn Tất Dong, Nguyễn Văn Hộ, Phạm Huy Thụ trong đề

án “Hướng nghiệp và sử dụng hợp lí HS ra trường” đã đề cập đến việc hình

thành các luận chứng cho hệ thông giáo dục hướng nghiệp trong điều kiện phát triển KT - XH của đất nước và đề xuất một số hình thức phối hợp giữa

cơ sở giáo dục với các cơ sở đào tạo nghề, cơ sở sản xuất trong việc hướng nghiệp-dạy nghề cho người học [19, tr.9]

Trang 22

Tác giả Nguyễn Văn Lê và nhóm công tác đã nghiên cứu vấn đề:

“Hướng Nghiệp – nền tảng để phát triển nguồn nhân lực đi vào công nghiệp

hóa, hiện đại hóa đất nước Việt Nam” Đề tài đã tìm hiểu thực trạng tiềm

năng nghề nghiệp người học, đặt ra phương hướng, nhiệm vụ cho giáo dục nói chung, giáo dục hướng nghiệp nói riêng nhằm phát triển tiềm năng nghề nghiệp cho người học [36, tr.16]

Tác giả Phạm Đăng Khoa (2014), “Mô hình tư vấn HN suốt đời tại Cộng hòa Pháp và hướng ứng dụng vào Việt Nam”, Tạp chí Giáo dục (số 345), tr 54-55

Đối với công tác quản lý giáo dục hướng nghiệp được nhiều tác giả nghiên cứu trong các công trình luận văn thạc sĩ quản lý giáo dục như:

Năm 2007 tác giả Nguyễn Văn Toàn viết đề tài “Biện pháp quản lý

giáo dục hướng nghiệp của Hiệu trưởng trường trung học phổ thông theo hướng tạo nguồn đào tạo cán bộ xã ở huyện Mường Khương tỉnh Lào Cai”

Tác giả Ngô Tuấn Tăng “Biện pháp quản lý giáo dục nhằm nâng cao

hiệu quả hoạt động giáo dục hướng nghiệp và dạy nghề phổ thông cho HS trung học tại trung tâm kĩ thuật tổng hợp tỉnh Thái Nguyên” năm 2009

Tác giả Nguyễn Thị Thu “Quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp tại

trường THPT Nguyễn Bỉnh Khiêm, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang” năm 2010

Tuy nhiên, chưa có công trình, luận văn đi sâu nghiên cứu quản lý hoạt

động giáo duc hướng nghiệp thông qua dạy học môn Vật lý 10 ở trường THPT

1.2 Một số khái niệm cơ bản

1.2.1 Quản lý

Quản lý là một hiện tượng xã hội xuất hiện rất sớm, là một phạm trù tồn tại khách quan được ra đời từ bản thân nhu cầu của mọi chế độ xã hội, mọi quốc gia và ở mọi thời đại Quản lý là một dạng hoạt động đặc biệt quan trọng của con người Quản lý chứa đựng nội dung rộng lớn, đa dạng phức tạp

và luôn vận động, biến đổi, phát triển Từ đó nhận thức về quản lý, khái niệm quản lý có nhiều cách tiếp cận và có nhiều quan niệm khác nhau

Trang 23

Theo chuyên gia tư vấn quản lý người Mỹ Fredrick Winslow Taylor (1856-1915) thì: "Quản lý là biết được chính xác điều bạn muốn người khác làm và sau đó hiểu được rằng họ đã hoàn thành công việc một cách tốt nhất và

rẻ nhất" [24, tr.393]

Theo nhà lý thuyết tổ chức, giáo sư quản lý kinh doanh tại Đại học California người Mỹ Harold Koontz, Cyri O' Donnell thì "Quản lý là một hoạt động thiết yếu bảo đảm sự hoạt động nỗ lực của các cá nhân nhằm đạt được các mục tiêu của tổ chức" [25, tr 4]

Ở Việt Nam tác giả Trần Kiểm: "Quản lí một hệ thống xã hội là tác động có mục đích đến tập thể người – thành viên của hệ - nhằm làm cho hệ vận hành thuận lợi và đạt tới mục đích dự kiến" [44, tr 5]

Như vậy, mỗi quan niệm nhấn mạnh mặt này hay mặt khác của quản lý nhưng nội hàm của các khái niệm đều có điểm chung đó là:

- Hoạt động quản lý được tiến hành trong một số tổ chức hay một nhóm

xã hội

- Hoạt động quản lý có tính hướng đích nghĩa là những tác động để nhằm hướng đến một mục tiêu cụ thể do tổ chức đề ra

- Hoạt động quản lý là phối hợp những tác động nỗ lực của toàn thể các

cá nhân trong tổ chức nhằm thực hiện mục tiêu đề ra của tổ chức

Thông qua những phân tích ở trên chúng tôi nhận thức được rằng: quản lý là một quá trình tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý tới khách thể quản lý nhằm đạt được mục tiêu cụ thể của tổ chức đã đề ra

1.2.2 Giáo dục và Quản lý giáo dục

Khái niệm Giáo dục

Theo Từ điển Giáo dục học (Nhà xuất bản Từ điển bách khoa, 2001) thuật ngữ Giáo dục được định nghĩa là “Hoạt động hướng tới con người thông qua một hệ thống các biện pháp tác động nhằm truyền thụ những tri thức và kinh nghiệm, rèn luyện kỹ năng và lối sống, bồi dưỡng tư tưởng và đạo đức

Trang 24

cần thiết cho đối tượng, giúp hình thành và phát triển năng lực, phẩm chất, nhân cách phù hợp với mục đích, mục tiêu chuẩn bị cho đối tượng tham gia lao động sản xuất và đời sống xã hội Đây là một hoạt động dặc trưng và tất yếu của xã hội loài người, là điều kiện không thể thiếu được để duy trì và phát triển con người và xã hội Giáo dục là một bộ phận của quá trình tái sản xuất

mở rộng sức lao động xã hội, mà con người được giáo dục là nhân tố quan trọng nhất, vừa là động cơ, vừa là mục đích của phát triển xã hội”

Khái niệm về Quản lí Giáo dục

Giáo dục là quá trình đào tạo con người một cách có mục đích, nhằm cung cấp cho con người những hành trang về đạo đức, tri thức, sức khỏe, để tham gia đời sống xã hội, tham gia vào lao động sản xuất, bằng cách tổ chức truyền thụ và lĩnh hội những kinh nghiệm lịch sử của xã hội loài người Để đạt được mục đích trên thì giáo dục phải có tổ chức, quản lý giáo dục

MI.Kondanop cho rằng "Quản lý giáo dục là tập hợp các biện pháp tổ chức cán bộ kế hoạch hóa, tài chính, cung tiêu nhằm đảm bảo vận hành bình thường của các cơ quan trong hệ thống giáo dục, để tiếp tục phát triển và mở rộng hệ thống cả về mặt chất lượng lẫn số lượng" [39, tr.7]

Theo giáo sư Phạm Minh Hạc nguyên Bộ trưởng Bộ Giáo dục thì "Quản

lý giáo dục là hệ thống tác động có mục đích, có kế hoạch hợp quy luật của chủ thể quản lý, nhằm làm cho hệ thống vận hành theo đường lối nguyên lý của Đảng, thực hiện các tính chất của nhà trường XHCN điểm hội tụ là quá trình dạy học, giáo dục thế hệ trẻ, đưa hệ thống giáo dục đến mục tiêu dự kiến tiến bộ trạng thái về chất" [26, tr.12]

Căn cứ vào các ý kiến trên ta có thể quan niệm về quản lý giáo dục như sau: Quản lý giáo dục là hệ thống tác động có hướng đích của chủ thể quản lý trong việc vận dụng nguyên lý, phương pháp chung nhất của kế hoạch đến đối tượng quản lý ở các cơ sở giáo dục khác nhau trong toàn bộ hệ thống giáo dục, nhằm phát triển quy mô cả về số lượng để đạt tới mục tiêu giáo dục

Trang 25

1.2.3 Giáo dục hướng nghiệp và quản lý giáo dục hướng nghiệp Giáo dục hướng nghiệp

Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang thì khái niệm về giáo dục hướng nghiệp trên phương diện giáo dục học là "Giáo dục hướng nghiệp là một hệ thống các biện pháp giáo dục nhằm chuẩn bị cho học sinh sớm có ý thức chọn ngành nghề vừa phù hợp với sự phân công lao động xã hội, vừa phù hợp với nguyện vọng cá nhân " [42, tr 13]

Trong các nhà trường THPT, hoạt động giáo dục hướng nghiệp là một

hệ thống các tác động của các lực lượng giáo dục, trong đó nhà trường đóng vai trò chủ đạo, nhằm hướng dẫn và chuẩn bị cho thế hệ trẻ tìm hiểu về nghề nghiệp, thị trường lao động và đánh giá năng lực bản thân, giúp học sinh lựa chọn nghề nghiệp hoặc lựa chọn trường học, ngành học phù hợp với năng lực

cá nhân và yêu cầu của xã hội để quyết định sẽ đi vào lao động sản xuất hoặc học tập tiếp lên theo những định hướng nghề nghiệp nhất định, đem lại lợi ích cho mỗi cá nhân, gia đình và xã hội Như vậy, giáo dục hướng nghiệp là một trong những nhiệm vụ quan trọng của ngành giáo dục, được coi như là công việc của toàn thể giáo viên, tập thể nhà trường nhằm mục đích giáo dục học sinh trong việc chọn nghề, giúp các em chuẩn bị tâm thế và những điều kiện cần thiết lựa chọn nghề nghiệp tương lai trên cơ sở phân tích khoa học về năng lực, sở thích, ước mơ của bản thân và nhu cầu nhân lực của các ngành trong xã hội

Căn cứ vào các phân tích trên có thể kết luận: Giáo dục hướng nghiệp

là một hệ thống tác động sư phạm đến sự phát triển kiến thức, kĩ năng và thái

độ thông qua một chương trình hoạch định sẵn và sẽ giúp người học có quyết định về sự lựa chọn trong trường học và ngành học sau khi tốt nghiệp, giúp học sinh làm việc hiệu quả hơn Vì vậy, khi xem xét giáo dục hướng nghiệp với tư cách là một trong những nội dung của hoạt động giáo dục trong các trường THPT, thông qua hoạt động giáo dục hướng nghiệp người học lĩnh hội

Trang 26

được những thông tin về nghề nghiệp ở địa phương và nghề nghiệp trong xã hội, hiểu được các nghề nghiệp có xu thế phát triển trong tương lai và nắm được hệ thống yêu cầu của từng nghề cụ thể mà mình muốn chọn, có kỹ năng

tự đối chiếu với năng lực của bản thân với hệ thống yêu cầu của nghề đang đặt ra cho thế hệ trẻ sự lựa chọn và sự tự quyết định tương lai của mình

Quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp

Giáo dục hướng nghiệp có vai trò quan trọng trong việc định hướng và đào tạo nguồn nhân lực cho đất nước Theo chương trình giáo dục phổ thông tổng thể thì ở cấp THPT là giai đoạn giáo dục định hướng nghề nghiệp Chính

vì vậy, quản lí hoạt động giáo dục hướng nghiệp là một trong những nhiệm vụ quan trọng của công tác quản lý nhà trường THPT

Quản lý giáo dục hướng nghiệp thực chất là điều hành phối hợp các lực lượng nhằm thực hiện công tác giáo dục hướng nghiệp theo yêu cầu phát triển của xã hội

Quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp thông qua dạy học môn Vật lí lớp 10

Với đề tài này tác giả quan niệm: Quản lý hoạt động giáo dục hướng

nghiệp cho học sinh thông qua dạy học môn Vật lí lớp 10 là một hoạt động tác động hợp lý có kế hoạch, nội dung, phương pháp, chương trình, mục đích của nhà quản lý đến các thầy cô giáo giảng dạy bộ môn Vật lí lớp 10 và các lực lượng tham gia giáo dục hướng nghiệp nhằm điều khiển, điều chỉnh định hướng quá trình giáo dục học sinh thông qua dạy học dạy học môn Vật lí lớp 10 từ đó nâng cao hiệu quả trong việc giúp các em lựa chọn ngành nghề liên quan đến bộ môn Vật lí lớp 10 phù hợp với năng lực sở trường và nhu cầu xã hội

1.2.4 Dạy học

Dạy học là quá trình kết hợp hoạt động dạy của người dạy và hoạt động học của người học theo một kế hoạch, nội dung chương trình nhất định nhằm đạt được các mục tiêu dạy học Dạy là sự truyền lại những kinh

Trang 27

nghiệm, những tinh hoa mà nhân loại đã sáng tạo và tích lũy được của thế

hệ trước cho thế hệ sau Việc dạy là hoạt động của người lớn giúp đỡ trẻ

em lĩnh hội những tinh hoa văn hóa xã hội, nhằm tạo ra sự phát triển tâm lý nhân cách ở người học Việc dạy diễn ra trong cuộc sống hàng ngày khác với việc dạy diễn ra trong nhà trường Đứa trẻ sinh ra thì cha, mẹ là người thầy đầu tiên như vậy những người lớn có kinh nghiệm đều có thể dạy trẻ

em trong cuộc sống hàng ngày Dạy cho học sinh lĩnh hội những tri thức khoa học, cần những người có năng lực, có phương pháp được đào tạo (là những GV) và được tiến hành theo một phương thức đặc biệt (gọi là phương thức nhà trường) Như vậy dạy là hoạt động của GV nhằm hướng dẫn, tổ chức, điều khiển hoạt động nhận thức của HS Trong xã hội phát triển hiện nay, hoạt động dạy tập chung theo hướng dạy phương pháp học, phương pháp tư duy, khuyến khích tự học, tạo cơ sở để người học tự cập nhật và đổi mới tri thức, kỹ năng, phát triển năng lực

1.3 Mục tiêu, nguyên tắc, nội dung, phương pháp và hình thức giáo dục hướng nghiệp cho học sinh

1.3.1 Mục tiêu của giáo dục hướng nghiệp

Trong các nhà trường phổ thông, việc giáo dục hướng nghiệp nhằm thực hiện các mục tiêu sau:

- Hình thành ở học sinh những biểu tượng đúng đắn về những nghề cần phát triển, từ đó giúp cho học được làm quen với những ngành nghề cơ bản trong xã hội, những ngành nghề có vị trí then chốt trong nền kinh tế quốc dân, những nghề cần thiết có thể phải phát triển ngay ở địa phương mình Cần giúp học sinh nhận thức được yêu cầu phải lựa chọn cho mình nghề nghiệp trong tương lai phù hợp với năng lực và hoàn cảnh của bản thân Nếu người lao động được đào tạo phù hợp với năng lực sở trường của mình sẽ có điều kiện

để giỏi nghề vì đam mê với nghề có được tri thức, kĩ năng, kỹ xảo để hành nghề, từ đó sẽ có thể tạo ra sản phẩm có chất lượng tốt, thu nhập cao Từ nhận thức đó, học sinh sẽ tự giác trong việc tìm hiểu nghề và những yêu cầu của

Trang 28

nghề đối chiếu với năng lực bản thân, tạo hứng thú nghề nghiệp mà các em cần tìm hiểu

- Trong quá trình dạy học căn cứ vào năng lực, sở trường của từng học sinh thầy cô giáo hướng dẫn và phát triển hứng thú nghề nghiệp cho các em giúp học sinh tìm hiểu nghề, thực hiện giáo dục hướng nghiệp sẽ phát hiện và hướng dẫn sự phát triển hứng thú của học sinh trên cơ sở phân tích những đặc điểm, điều kiện, hoàn cảnh riêng của từng cá nhân

- Nhà trường tạo điều kiện để học sinh hình thành năng lực tương ứng với hứng thú nghề nghiệp thông qua hoạt động lao động sản xuất kết hợp với giáo dục hướng nghiệp Việc tổ chức các hoạt động hướng nghiệp ở đây phải được triển khai theo kế hoạch, khoa học, phù hợp với các đối tượng học sinh, phù hợp với đặc điểm vùng miền mà học sinh đang sinh sống Tạo cơ hội cho người học được tham gia trong các hoạt động thực tế nói trên sẽ làm thay đổi nhận thức và giúp học sinh tìm ra nghề phù hợp với năng lực mình

- Phát triển và bồi dưỡng phẩm chất, đạo đức nghề nghiệp cho thế hệ trẻ, giúp học sinh hiểu năng lực sở trường của mình, hiểu yêu cầu của các ngành nghề các điều kiện để giỏi được nghề đó Định hướng nghề nghiệp cho học sinh lựa chọn các ngành nghề mà Đất nước ta và thế giới đang có nhu cầu

1.3.2 Những nguyên tắc giáo dục hướng nghiệp

- Nguyên tắc đảm bảo tính giáo dục tức là phải đảm bảo mục tiêu giáo dục tổng thể phù hợp với các quy định và mục tiêu đào tạo chung Đây là nguyên tắc quan trọng nhất của giáo dục hướng nghiệp, yêu cầu giáo dục hướng nghiệp trong các nhà trường THPT phải góp phần hình thành phẩm chất, năng lực toàn diện cho học sinh đòi hỏi phải tiến hành đồng bộ các mặt giáo dục khác, nhằm đảm bảo để học sinh phát triển toàn diện, hài hòa Thông qua thực hiện nhiệm vụ giáo dục hướng nghiệp tại trường THPT nhằm trang

bị cho học sinh những hiểu biết về thế giới nghề nghiệp, điều kiện để thực hiện tốt được công việc của ngành nghề và đáp ứng yêu cầu của nghề vv… Hình thành năng lực nghề nghiệp, nhận thức đúng đắn đối với hướng nghiệp,

Trang 29

phát triển tư duy sáng tạo, bồi dưỡng tình cảm nghề nghiệp, tăng cường khả năng cảm thụ thẩm mỹ đối với hoạt động lao động kỹ thuật Một trong những đặc điểm của giáo dục hướng nghiệp tại trường THPT là học sinh được tiếp thu các khái niệm tri thức về nghề, mặt khác bước đầu được tham gia vào quá trình lao động sản xuất trực tiếp của xã hội Đảm bảo tính giáo dục trong giáo dục hướng nghiệp còn có ý nghĩa là phải tránh các tư tưởng lệch lạc xảy ra trong trường học, tư tưởng cường điệu hóa hay coi nhẹ một mặt nào đó trong quá trình giáo dục

- Nguyên tắc đảm bảo tính kỹ thuật tổng hợp trong giáo dục hướng nghiệp Trong quá trình giáo dục ở trường THPT thì giáo dục kỹ thuật tổng hợp và giáo dục hướng nghiệp là hai quá trình giáo dục riêng biệt, song chúng

có mối quan hệ khăng khít với nhau, cùng nhau thực hiện mục tiêu chung là đào tạo con người lao động mới đáp ứng yêu cầu nghề nghiệp của xã hội Mục tiêu chính của giáo dục kỹ thuật tổng hợp góp phần đào tạo con người phát triển toàn diện có khả năng lao động sáng tạo và có tiềm lực để chuyển đổi nghề khi kỹ thuật và quy trình công nghệ đổi mới Mặc dù giáo dục kỹ thuật tổng hợp và giáo dục hướng nghiệp không đồng nhất với nhau nhưng đều có chung mục tiêu là đào tạo con người mới không những sẵn sàng lao động mà còn có trình độ khoa học và đạt hiệu quả cao Vì vậy giáo dục hướng nghiệp phải tiến hành trên tinh thần giáo dục toàn diện, giáo dục kỹ thuật tổng hợp nghĩa là phải thay đổi cập nhận những tiến bộ xã hội

- Nguyên tắc bảo đảm tính hệ thống và đồng bộ trong quá trình giáo dục hướng nghiệp Nguyên tắc bảo đảm tính hệ thống đòi hỏi quá trình giáo dục hướng nghiệp ở trường THPT phải được tiến hành sao cho quá trình tiếp thu các tri thức và kỹ năng nghề nghiệp của các ngành nghề khác nhau của học sinh, phù hợp với logic khoa học của lĩnh vực nghề nghiệp tương ứng, cũng như phù hợp với đặc điểm tâm, sinh lý lứa tuổi và lao động nhận thức của các cá nhân học sinh Nguyên tắc này đòi hỏi giáo dục hướng nghiệp trong các trường THPT phải tiến hành bằng nhiều con đường khác nhau và

Trang 30

phải huy động được sự tham gia đóng góp của nhiều lực lượng như gia đình, nhà trường và xã hội Trên cơ sở nguyên tắc này, quá trình lĩnh hội tri thức về nghề nghiệp của học sinh mới diễn ra một cách có ý thức, học sinh mới có khả năng vận dụng linh hoạt, có hiệu quả các tri thức đã học vào quá trình lao động sản xuất thực tiễn

- Nguyên tắc đảm bảo tính thực tiễn của quá trình giáo dục hướng nghiệp Đây là nguyên tắc cơ bản cần quán triệt trong giáo dục hướng nghiệp Mục đích cao nhất và cuối cùng của toàn bộ hệ thống giáo dục là đảm bảo cho giáo dục phục vụ tốt nhất, các yêu cầu của thực hiện và trở thành động lực cơ bản thúc đẩy thực tiễn phát triển Trong quá trình giáo dục hướng nghiệp nếu đảm bảo tính thực tiễn sẽ làm tăng khả năng ứng dụng các kiến thức đã học vào thực tế cuộc sống, giúp học sinh có khả năng sáng tạo, khả năng học tập suốt đời, thích nghi nhanh chóng hơn với đời sống xã hội thay đổi như ngày nay Đặc biệt với giáo dục hướng nghiệp tại các trường THPT phải đáp ứng các thực tiễn những đòi hỏi về năng lực lao động, yêu cầu nghề và khả năng đáp ứng việc làm của thị trường lao động tại địa phương

1.3.3 Nội dung giáo dục hướng nghiệp

Nội dung giáo dục hướng nghiệp tại các trường THPT phải đáp ứng được mục tiêu, đào tạo con người toàn diện, năng động, sáng tạo, có khả năng

sử lý thích ứng tốt các vấn đề thực tiễn đặt ra

Nội dung giáo dục hướng nghiệp cần có các đặc trưng cụ thể như sau:

- Nội dung giáo dục hướng nghiệp vừa mang tính chất cơ bản, đơn giản, tinh gọn, thiết thực, vừa mang tính "chìa khóa" để tạo điều kiện cho học sinh chiếm lĩnh được các nội dung khác và khả năng phát triển sâu hơn, rộng hơn ngành nghề đã tìm hiểu

- Nội dung giáo dục hướng nghiệp phải linh hoạt đủ mềm dẻo phù hợp với năng lực, sở trường của học sinh, tăng thời lượng thực hành, tăng trải nghiệm thực tiễn vận dụng tri thức rèn luyện kỹ năng để giải quyết các vấn đề

mà thực tế đặt ra thông qua lao động sáng tạo tích lũy tri thức

Trang 31

- Nội dung giáo dục hướng nghiệp phải hướng vào việc làm cho học sinh biết tiếp cận với trình độ khoa học, kỹ thuật, công nghệ tiên tiến của nhân loại, đồng thời thời phải biết phát huy bản sắc văn hóa dân tộc bằng việc phát triển các ngành nghề truyền thống ở địa phương và đất nước

- Nội dung giáo dục hướng nghiệp phải đảm bảo được sự cân đối giữa tri thức văn hóa phổ thông, khoa học kỹ thuật - công nghệ phù với các chương trình giáo dục, tạo điều kiện cho học sinh nhanh chóng tiếp cận với nghề nghiệp, đặc biệt các ngành nghề trong định hướng phát triển của địa phương

và đất nước

1.3.4 Phương pháp giáo dục hướng nghiệp

Hiện nay, giáo dục hướng nghiệp trong các trường THPT đang được thực hiện bằng nhiều phương pháp khác nhau như: Học nghề phổ thông, tham gia hoạt động ngoại khóa, tìm hiểu thông tin nghề nghiệp và tư vấn hướng nghiệp , dù bằng phương pháp nào cũng đều hướng tới một mục đích chung là hình thành hứng thú, khuynh hướng và năng lực lựa chọn nghề nghiệp cho học sinh

Học nghề phổ thông: Đây là một trong những cách mà giáo viên có

thể giúp cho học sinh tiếp cận được các kinh nghiệm làm việc trong quá trình

là học sinh phổ thông Học nghề phổ thông là một phương pháp rất hữu hiệu

để giúp học sinh trong quá trình học tăng thêm nhận thức về kiến thức nghề nghiệp, biết vận dụng lí thuyết vào trong công việc, hiểu rõ sở thích và khả năng của bản thân giúp cho quyết định nghề nghiệp sau này, đối chiếu và quan sát sự phù hợp khả năng của bản thân với nghề nghiệp

Tham gia hoạt động ngoại khóa: Việc tổ chức cho các em tham gia

các hoạt động ngoại khóa sinh hoạt tập thể kết hợp hoạt động văn nghệ, thể thao, hoạt động từ thiện và làm tình nguyện viên cho những hoạt động cộng đồng sẽ giúp học sinh rất nhiều trong việc khám phá sở thích, khả năng, cá tính và giá trị sống của mình Trường THPT cần tạo điều kiện cho học sinh có thể tham gia các loại hình ngoại khóa khác nhau càng nhiều càng tốt

Trang 32

Tìm hiểu thông tin nghề nghiệp: Là một trong những hoạt động dễ

thực hiện và nên được thực hiện hàng năm của trương THPT là khuyến khích

và tạo điều kiện cho học sinh tìm hiểu về các nghề nghiệp khác nhau qua những cuộc trò chuyện về nghề nghiệp Có thể thực hiện theo các hình thức

cụ thể như sau:

- Đến thăm quan các doanh nghiệp, nhà máy tổ chức giao lưu với các doanh nghiệp và người lao động trong những ngành nghề khác nhau Chương trình này được thực toàn trường hay theo khối và có thể được tổ chức với sự hợp tác của đoàn trường với các doanh nghiệp trong vùng, Giúp học sinh tìm hiểu thực tế các ngành nghề, nhà trường nên vận động cha mẹ học sinh giúp

đỡ cùng các thầy cô giáo được phân công đưa học sinh đi thăm các doanh nghiệp nhà máy để học sinh được tìm hiểu thực tế để tổ chức những buổi giao lưu với người lao động trong những ngành nghề khác nhau và những người quản lý doanh nghiệp

- Tổ chức cho học sinh giao lưu với các cựu học sinh của trường hiện đang thành công trong các lĩnh vực nghề nghiệp để tìm hiểu những thông tin

về các ngành nghề hoặc khuyến khích học sinh tìm hiểu thông tin nghề nghiệp của những người thân trong gia đình thành đạt trong lĩnh vực nghề nghiệp

- Mở những cuộc thi đua tìm hiểu, thuyết trình hay viết về thông tin nghề nghiệp để khuyến khích học sinh tìm hiểu về các nghề nghiệp khác nhau càng sớm càng tốt Những hoạt động này có thể được lồng ghép vào các dịp như ngày Hiến chương các nhà giáo, ngày Quốc tế phụ nữ, ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam, dịp Kỉ niệm thành lập trường v.v…

Tư vấn hướng nghiệp: Đây là hoạt động và quan trọng trong công tác

tư vấn hướng nghiệp cho học sinh trong toàn trường Nhà trường thành lập tổ

tư vấn nghề nghiệp gồm giáo viên chủ nhiệm, giáo viên có nhiều kinh nghiệm Các giáo viên làm công tác hướng nghiệp được sắp xếp thời gian biểu phù hợp cho học sinh có thể tới gặp, nêu câu hỏi thắc mắc, trò chuyện và tìm hiểu thông tin cơ bản về hướng nghiệp vào thời điểm thích hợp và đối với

Trang 33

những trường hợp cần tư vấn đặc biệt, học sinh có thể được gửi đến gặp các chuyên gia tư vấn hướng nghiệp

1.3.5 Các hình thức tổ chức giáo dục hướng nghiệp

Giáo dục hướng nghiệp tại trường THPT được thực hiện thông qua nhiều hình thức, các hình thức có tính hệ thống, liên quan chặt chẽ và hỗ trợ lẫn nhau như:

Giáo dục hướng nghiệp thông qua dạy học các môn khoa học

Giáo dục hướng nghiệp thông qua dạy học các bộ môn khoa học là thực hiện việc tích hợp nội dung hướng nghiệp vào các môn học, các bài học nhằm khai thác mối liên hệ giữa kiến thức khoa học cơ bản với các ngành nghề, gắn nội dung kiến thức của các bài học với thực tiễn cuộc sống sản xuất Quá trình

đó có tác dụng, mở rộng tầm nhìn nghề nghiệp của học sinh, lôi cuốn họ vào thế giới nghề nghiệp nhằm tìm hiểu và có những dự kiến nghề nghiệp cho bản thân trong tương lai Các môn học khoa học góp phần giáo dục lý tưởng cách mạng, đạo đức lối sống, giáo dục nhân sinh quan, bồi dưỡng phẩm chất, năng lực của người học Giáo dục hướng nghiệp thông qua dạy học các môn khoa học có hai ưu điểm nổi bật là

+ Học sinh tìm hiểu các nghề nghiệp dựa trên căn cứ kiến thức khoa học của các môn học

+ Giúp học sinh biết vận dụng kiến thức của môn học vào thực tiễn, giảm bớt sự nhàm chán của kiến thức hàn lâm góp phần phát triển phẩm chất năng lực người học từ đó giúp học sinh có thêm hứng thú để yêu thích say mê môn học tạo động lực học tập

- Giáo dục hướng nghiệp qua giảng dạy môn Công nghệ: Đây là môn

học ứng dụng khoa học sư phạm chuyên ngành nghiên cứu các hiện tượng, các vấn đề, các quá trình đào tạo kỹ thuật và nghề nghiệp, bộ môn Công nghệ trong chương trình giáo dục phổ thông cung cấp cho học sinh những nguyên

lý kỹ thuật chung của các quá trình sản xuất chủ yếu, củng cố những nguyên

lý khoa học và làm cho học sinh hiểu được những ứng dụng của chúng trong

Trang 34

sản xuất, trong các hoạt động nghề nghiệp khác nhau Môn Công nghệ trở thành cầu nối giữa kiến thức khoa học với sản xuất, là điều kiện để phát triển

cá nhân, phát triển năng lực cần thiết để học sinh học tốt một nghề, đồng thời

có ý nghĩa dẫn dắt học sinh tìm hiểu thế giới nghề nghiệp, làm cho họ biết định hướng trong hệ thống sản xuất xã hội, tự giác tìm hiểu nghề nghiệp và biết chọn hướng học tập và nghề nghiệp mai sau một cách có ý thức

- Giáo dục hướng nghiệp qua hoạt động lao động, dạy nghề phổ thông

Thông qua quá trình lao động, học nghề phổ thông học sinh được bồi dưỡng đạo đức, tình yêu lao động, trân trọng và có thái độ đúng đắn với lao động tác phong của người lao động mới, làm cho học sinh hiểu rõ vai trò hoạt của học nghề phổ thông và vai trò của lao động giúp con người sáng tạo và phát triển toàn diện Tổ chức lao động và dạy nghề phổ thông làm cho học sinh thấy được sự phát triển của khoa học – kỹ thuật, sự cần thiết phải hợp tác lao động, phải có trách nhiệm công việc với cộng đồng xã hội, phải có phẩm chất và năng lực phù hợp với các yêu cầu của nghề, từ đó giáo dục cho học sinh có ý thức lao động đúng đắn đối với nghề nghiệp, bồi dưỡng đạo đức và

lý tưởng nghề nghiệp Thông qua học nghề giúp các em học sinh rèn luyện những kỹ năng sử dụng công cụ, đặc biệt là công cụ làm những nghề phổ biến

ở địa phương, giúp học sinh có khả năng tính toán, xây dựng kế hoạch, rèn luyện kỹ năng hợp tác giữa cá nhân và tập thể, hình thành thói quen lao động

và có văn hóa., nâng cao khả năng sáng tạo

Giáo dục hướng nghiệp thông qua các buổi sinh hoạt hướng nghiệp

và các hoạt động ngoại khóa khác

Thông qua các buổi sinh hoạt hướng nghiệp để giới thiệu cho học sinh những ngành nghề chủ yếu, nghề cơ bản của đất nước, những ngành nghề mà đất nước đang cần phát triển và những ngành nghề có xu hướng phát triển mạnh trong tương lai Các buổi sinh hoạt hướng nghiệp nhằm giới thiệu xu hướng phát triển của các ngành nghề và các yêu cầu của các ngành nghề bao

Trang 35

gồm các nội dung: Vai trò, vị trí của ngành, nghề đối với nền kinh tế đất nước

và xu thế phát triển toàn cầu, những thuận lợi, khó khăn và triển vọng phát triển cũng như ý nghĩa đóng góp của nghề đối với nhân loại, điều kiện làm việc và vệ sinh lao động, điều kiện tâm sinh lý và tình trạng sức khỏe, những phẩm chất và năng lực do nghề đòi hỏi, những kiêng kỵ trong nghề … và hệ thống đào tạo nghề Quá trình giới thiệu phải luôn kết hợp với việc hướng dẫn học sinh lựa chọn nghề phù hợp với năng lực sở trường của bản thân

1.3.6 Giáo dục hướng nghiệp thông qua việc dạy học các môn khoa học ở trường THPT

Dạy là sự truyền lại những kinh nghiệm, những tinh hoa mà nhân loại

đã sáng tạo và tích lũy được của thế hệ trước cho thế hệ sau Việc dạy là hoạt động của người lớn giúp đỡ trẻ em lĩnh hội những tinh hoa văn hóa xã hội, nhằm tạo ra sự phát triển tâm lý nhân cách ở trẻ em Việc dạy diễn ra trong cuộc sống hàng ngày khác với việc dạy diễn ra trong nhà trường Đứa trẻ sinh

ra thì cha mẹ là người thầy đầu tiên như vậy những người lớn có kinh nghiệm đều có thể dạy trẻ em trong cuộc sống hàng ngày Dạy cho học sinh lĩnh hội những tri thức khoa học, cần những người có năng lực, có phương pháp được đào tạo (là những GV) và được tiến hành theo một phương thức đặc biệt (gọi là phương thức nhà trường) Như vậy dạy là hoạt động của GV nhằm hướng dẫn,

tổ chức, điều khiển hoạt động nhận thức của HS Trong xã hội phát triển hiện nay, hoạt động dạy tập chung theo hướng dạy phương pháp học, phương pháp

tư duy, khuyến khích tự học, tạo cơ sở để người học tự cập nhật và đổi mới tri thức, kỹ năng, phát triển năng lực, biết ứng dụng kiến thức vào thực tiễn

GDHN thông qua dạy học các môn khoa học cơ bản nhằm khai thác mối liên hệ giữa kiến thức môn học với các ngành nghề, gắn nội dung của bài học với cuộc sống sản xuất bằng cách tích hợp, lồng ghép những kiến thức môn học với kiến thức nghề nghiệp giúp cho HS hiểu biết những vấn đề liên quan đến các ngành nghề trong xã hội, phát triển và bồi dưỡng những năng

Trang 36

khiếu của HS Trên cơ sở đó GV định hướng chọn nghề cho HS phù hợp với năng khiếu đó

Các môn khoa học cơ bản như Toán, Vật lí, Hóa học, Sinh học, Tin học, Ngữ văn Lịch sử…

Có chức năng cung cấp những kiến thức khoa học giúp học sinh hình thành tư duy lí luận thế giới quan khoa học, tạo cho học sinh hình thành những kĩ năng thực hành, ứng dụng những tri thức vào cuộc sống Trong quá trình học tập các môn khoa học được hình thành, phát triển năng lực riêng, những năng lực chuyên biệt của các em học sinh

Vai trò của quá trình dạy học các bộ môn khoa học đối với công tác giáo dục hướng nghiệp

* Giúp học sinh có được một số hiểu biết khoa học nhất định đối với hệ thống nghề cần tìm hiểu

Quá trình chọn nghề học sinh thường thiếu hiểu biết rõ ràng về nghề nghiệp mình lựa chọn chính vì vậy nhiều học sinh đã đang học phải bỏ giữa chừng vì thấy mình không phù hợp với nghề

Trong quá trình giảng dạy những môn học các thầy cô giáo giúp học sinh hiểu được mối quan hệ giữa kiến thức khoa học cơ bản với chuẩn bị nghề nghiệp cho tương lai, làm cho các em có hình ảnh về nghề nghiệp ngay từng môn học

Ví dụ học sinh có hể tìm hiểu làm nghề làm kĩ sư cầu đường khi thiết

kế các cây cầu thì phải vồng lên để đáp giảm áp lực lên cầu thông qua bài lực

li tâm Vật lí lớp 10

Thông qua qua các bài học lịch sử có thể hướng nghiệp cho học sinh tìm hiểu lựa chọn ngành hướng dẫn viên di lịch ở các Bảo tàng, ngoại giao, quân sự, khảo cổ học

* Phát hiện ra năng lực riêng của học sinh qua quá trình dạy học từ đó

tư vấn nghề nghiệp cho học sinh

Trang 37

Thông qua quá trình giảng dạy môn học sẽ phát hiện được học sinh có năng lực riêng từ đó có tư vấn định hướng nghề nghiệp cho tương lai phù hợp với năng lực của học sinh

Quá trình dạy học môn học có rất nhiều ứng dụng trong thực tiễn cuộc sống giúp thầy cô giáo phát hiện sở trường, sở đoản, năng lực chuyên biệt của học sinh, khả năng tổ chức sắp xếp, tính toán, năng lực giải quyết vấn đề, năng lực vận dụng kiến thức vào thực tiễn, từ đó giúp thầy cô giáo có căn cứ

để tư vấn định hướng nghề nghiệp cho học sinh thông qua quá trình dạy học

Môn Vật lí có nhiều ứng dụng khoa học vào thực tiễn rất gần gũi với đời sống, các kiến thức đa dạng và phong phú Lượng thông tin về nghề nghiệp có liên quan đến kiến thức Vật lí là tương đối nhiều

Các ngành nghề liên quan giữa tri thức ngành nghề với kiến thức Vật lí lớp 10

Trang 38

Bảng 1.1 Mối liên quan giữa kiến thức Vật lí 10 và các ngành nghề

STT Ngành nghề Mối liên quan với kiến thức

Cơ học Mối liên quan với kiến thức Nhiệt học

ma sát, lực hướng tâm, lực quán tính li tâm Cân bằng và chuyển động của vật rắn Bảo toàn cơ năng

Khi thiết kế các công trình xây dựng, cầu, đường bộ, đường sắt… liên quan đến kiến thức:

- Sự nở vì nhiệt của vật rắn

- Biến dạng cơ của vật rắn

Lưu thông máu trong cơ thể,

sự vận động của hệ cơ, xương, các chuyển động của cơ thể:

liên quan đến momen lực, cân bằng lực, ba định luật Niu-tơn, lực ma sát, định luật bảo toàn năng lượng

Động tác hô hấp: liên quan đến các định luật của chất khí

Cơ chế thải nhiệt qua da: liên quan đến sự hóa hơi Các bệnh về viêm đường

hô hấp, bệnh do nấm: liên quan đến sự chuyển thể của các chất, đến độ ẩm của không khí

Các môn bóng đá, bóng chuyền, bóng ném, bóng rổ, đẩy tạ, nhảy cao, nhảy xa…:

liên quan đến ba định luật Niutơn, bài toán ném ngang, ném xiên

Các động tác của môn bơi:

liên quan đến lực và phản lực,

cơ học chất lưu

Các môn võ đối kháng: liên quan đến cân bằng của vật có mặt chân đế, quy tắc momen Môn bi-a: va chạm đàn hồi

Trượt băng nghệ thuật: liên quan đến sự nóng chảy và đông đặc

4

Điện, cơ khí,

chế tạo máy,

động cơ

Sản xuất các chi tiết máy, các

bộ phận quay: Liên quan đến chuyển động tròn đều, lực đàn hồi, lực ma sát, lực hướng tâm, quán tính, momen lực, cân bằng của vật có mặt chân

đế, quy tắc momen

Chế tạo khuân đúc và các sản phẩm từ khuân đúc: Liên quan đến sự nở vì nhiệt của vật rắn, sự nóng chảy và đông đặc

Sản xuất rơ-le nhiệt: Sự nở

Trang 39

Duyệt binh khi đi qua cầu:

liên quan đến cộng hưởng cơ

Chuyển động của các phương tiện cơ giới quân sự: liên quan đến động lực học vật rắn

Liên quan đến sự nở vì nhiệt, biến dạng cơ của vật rắn, các nguyên lí của nhiệt động lực học, sự chuyển thể của các chất

li tâm, các lực cơ học, định luật bảo toàn động lượng

Khi khách du lịch di chuyển lên cao so với mực nước biển liên quan đến áp suất, nhiệt độ, độ ẩm không khí

giải trí

Biểu diễn xiếc cân bằng: liên quan đến điều kiện cân bằng của vật rắn, momen lực, quy tắc momen

Tiết mục tung hứng: liên quan đến chuyển động của vật bị ném, công thức cộng vận tốc

Các tiết mục nhào lộn: lực hướng tâm, chuyển động tròn đều

Thổi bong bóng nghệ thuật: liên quan đến hiện tượng căng mặt ngoài, lực căng bề mặt của chất lỏng

thủy văn

Hiện tượng thủy triều: Lực hấp dẫn giữa Mặt Trăng, Mặt Trời và Trái Đất

Các hiện tượng thời tiết như mưa, mù, ẩm, nồm, khô hanh…liên quan đến

độ ẩm không khí, áp suất không khí, sự chuyển thể của các chất

Trang 40

10 Sản xuất đồ

gia dụng

Máy giặt, máy hút bụi, máy lọc nước, cây lau nhà: chuyển động tròn đều, lực quán tính li tâm, chuyển động li tâm…

Nồi áp suất: sự sôi

* Những hình thức tổ chức giáo dục hướng nghiệp cho học sinh trung học phổ thông, thông qua việc dạy học môn Vật lí lớp 10

Có thể lựa chọn và tổ chức thực hiện hoạt động giáo dục hướng nghiệp cho học sinh thông qua dạy học Vật lí lớp 10 linh hoạt sao cho phù hợp với bài học và được chia ra theo 2 cách chính

- Tích hợp nội dung giáo dục hướng nghiệp đối với nghề nghiệp có liên quan đến kiến thức Vật lí lớp 10 của tiết học Giáo viên khéo léo lồng ghép nội dung hướng nghiệp vào bài dạy của mình giới thiệu về những ngành nghề

có liên quan đến kiến thức của bài học, những điều kiện và yêu cầu cần thiết đối với những người làm nghề đó và yêu cầu học sinh về nhà tìm hiểu

- Sử dụng phương pháp dạy học tích cực, lựa chọn hình thức dạy học theo dự án cho học sinh đóng vai là người thực hiện công việc cụ thể của nghề

mà học sinh tìm hiểu liên quan đến kiến thức Vật lí 10 Tổ chức thực hiện vào cuối năm học lớp 10 Đây là hình thức hướng nghiệp giúp học sinh tìm hiểu sâu được các ngành nghề đồng thời biết vận dụng kiến thức đã học vào cuộc sống nghĩa là giúp giáo viên thực hiện bước hướng dẫn tìm tòi mở rộng trong sinh hoạt chuyên môn theo hướng nghiên cứu bài học nhằm đổi mới phương pháp giảng dạy theo hướng phát huy năng lực phẩm chất học sinh

1.3.7 Ý nghĩa hoạt động giáo dục hướng nghiệp cho học sinh THPT thông qua dạy học môn Vật lí lớp 10

+ Góp phần đổi mới phương pháp giảng dạy theo hướng lấy HS làm trung tâm học Vật lí đi đôi với thực hành vận dụng kiến thức vào cuộc sống góp phần đổi mới phương pháp giảng dạy sử dụng phương pháp dạy học tích cực, hình thức dạy học theo dự án chính là thực hiện đổi mới sinh hoạt chuyên môn theo hướng nghiên cứu bài học đây chính là thực hiện mức độ cao nhất

Ngày đăng: 16/03/2021, 23:33

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w