ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC ĐÀO VĂN ĐỨC QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG ĐỊNH HƯỚNG NGHỀ NGHIỆP CHO HỌC SINH TẠI TRUNG TÂM GIÁO DỤC KỸ THUẬT TỔNG HỢP - HƯỚNG NGHIỆP HẢI PHÒNG THEO
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
ĐÀO VĂN ĐỨC
QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG ĐỊNH HƯỚNG NGHỀ NGHIỆP CHO HỌC SINH TẠI TRUNG TÂM GIÁO DỤC KỸ THUẬT TỔNG HỢP - HƯỚNG NGHIỆP HẢI PHÒNG THEO CHƯƠNG TRÌNH GIÁO DỤC PHỔ THÔNG MỚI
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ GIÁO DỤC
HÀ NỘI - 2018
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
ĐÀO VĂN ĐỨC
QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG ĐỊNH HƯỚNG NGHỀ NGHIỆP CHO HỌC SINH TẠI TRUNG TÂM GIÁO DỤC KỸ THUẬT TỔNG HỢP - HƯỚNG NGHIỆP HẢI PHÒNG THEO CHƯƠNG TRÌNH GIÁO DỤC PHỔ THÔNG MỚI
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ GIÁO DỤC
CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ GIÁO DỤC
Mã số: 8.140114
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS ĐẶNG XUÂN HẢI
HÀ NỘI - 2018
Trang 3i
LỜI CẢM ƠN
Sau một thời gian nghiên cứu đề tài “Quản lý hoạt động định hướng nghề
nghiệp cho học sinh tại Trung tâm giáo dục kỹ thuật tổng hợp - hướng nghiệp Hải Phòng theo chương trình giáo dục phổ thông mới.” đến nay luận văn đã hoàn
thành Với tình cảm chân thành, tôi xin cảm ơn các thầy giáo, cô giáo và Hội đồng khoa học Khoa Quản lý Giáo dục - Trường Đại học Giáo dục, Đại học Quốc Gia Hà Nội đã tham gia giảng dạy, tư vấn, giúp đỡ, tạo điều kiện tốt nhất cho tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn
Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS.TS Đặng Xuân Hải đã
tận tình chỉ bảo, động viên, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn này
Tôi xin trân trọng cảm ơn sự giúp đỡ của các đồng chí lãnh đạo Sở Giáo dục
& Đào tạo Hải Phòng, các bậc phụ huynh, các em học sinh, các cán bộ giáo viên tại Trung tâm giáo dục kỹ thuật tổng hợp - hướng nghiệp Hải Phòng đã giúp đỡ, tạo mọi điều kiện để tôi hoàn thành luận văn này
Tôi xin bày tỏ tình cảm sâu sắc tới gia đình và người thân đã ủng hộ, động viên, tạo điều kiện để tôi học tập và nghiên cứu để hoàn thành luận văn
Dù đã có nhiều cố gắng, xong luận văn không thể tránh khỏi những thiếu xót Kính mong các quý thầy, cô giáo, bạn bè góp ý để luận văn được hoàn thiện hơn
Xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, tháng 11 năm 2018
Tác giả luận văn
Đào Văn Đức
Trang 4ii
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
CNH, HĐH: Công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Trang 5iii
MỤC LỤC
Lời cảm ơn i
Danh mục các chữ viết tắt ii
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG ĐỊNH HƯỚNG NGHỀ NGHIỆP CHO HỌC SINH THEO CHƯƠNG TRÌNH GIÁO DỤC PHỔ THÔNG MỚI 5
1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề 5
1.1.1 Trên thế giới 5
1.1.2 Ở Việt Nam 9
1.2 Một số khái niệm cơ bản 12
1.2.1 Quản lý 12
1.2.2 Quản lý giáo dục 13
1.2.3 Hướng nghiệp và định hướng nghề nghiệp 14
1.2.4 Quản lý hoạt động định hướng nghề nghiệp 21
1.2.5 Chương trình giáo dục phổ thông mới 21
1.3 Hoạt động định hướng nghề nghiệp cho học sinh phổ thông theo chương trình giáo dục phổ thông mới 25
1.3.1 Mục tiêu hoạt động về định hướng nghề nghiệp 25
1.3.2 Nội dung hoạt động định hướng nghề nghiệp 25
1.3.3 Phương thức hoạt động định hướng nghề nghiệp 28
1.4 Nội dung quản lý hoạt động định hướng nghề nghiệp cho học sinh 29
1.4.1 Lập kế hoạch cho hoạt động định hướng nghề nghiệp cho học sinh 29
1.4.2 Tổ chức thực hiện các nội dung hình thức định hướng nghề nghiệp cho học sinh 30
1.4.3 Chỉ đạo hoạt động định hướng nghề nghiệp cho học sinh 30
1.4.4 Kiểm tra, đánh giá kết quả định hướng nghề nghiệp cho học sinh 31
1.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý hoạt động định hướng nghề nghiệp cho học sinh 31
1.5.1 Các yếu tố chủ quan 31
1.5.2 Các yếu tố khách quan 32
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 35
Trang 6iv
NGHỀ NGHIỆP CHO HỌC SINH TẠI TRUNG TÂM GIÁO DỤC KỸ THUẬT TỔNG HỢP - HƯỚNG NGHIỆP HẢI PHÒNG THEO CHƯƠNG
TRÌNH GIÁO DỤC PHỔ THÔNG MỚI 36
2.1 Khái quát về đặc điểm kinh tế, văn hóa, xã hội, giáo dục của Hải Phòng 36
2.1.1 Khái quát về vị trí địa lý, tình hình kinh tế - văn hóa- xã hội, giáo dục của Hải Phòng 36
2.1.2 Tình hình giáo dục Hải Phòng 37
2.1.3 Thị trường lao động ở địa phương 38
2.1.4 Quan điểm phát triển giáo dục & đào tạo 40
2.2 Khái quát về Trung tâm giáo dục kỹ thuật tổng hợp - hướng nghiệp Hải Phòng 41
2.2.1 Đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên 41
2.2.2 Học sinh 42
2.2.3 Cơ sở vật chất 43
2.3 Giới thiệu về quá trình khảo sát thực tế 44
2.3.1 Đối tượng và mục đích khảo sát 44
2.3.2 Nội dung khảo sát 45
2.3.3 Phương pháp khảo sát 45
2.3.4 Thời gian khảo sát thực trạng 45
2.3.5 Xử lý kết quả khảo sát 45
2.4 Thực trạng triển khai hoạt động ĐHNN cho HS 46
2.4.1 Thực trạng việc xác định và thực hiện nội dung định hướng nghề nghiệp 46
2.4.2 Thực trạng công tác tổ chức cho HS thực tập, làm quen với một số nghề chủ yếu trong xã hội và nghề truyền thống của địa phương 50
2.4.3 Thực trạng về tìm hiểu năng khiếu, khuynh hướng nghề nghiệp của từng HS 51
2.4.4 Thực trạng động viên hướng dẫn HS đi vào nghề, nơi cần lao động trẻ có văn hóa 53
2.4.5 Thực trạng việc xác định và thực hiện phương thức ĐHNN 55
2.4.6 Kết quả giáo dục định hướng nghề nghiệp 57
Trang 7v
2.5 Thực trạng quản lý hoạt động định hướng nghề nghiệp cho học sinh tại
Trung tâm giáo dục kỹ thuật tổng hợp - hướng nghiệp Hải Phòng 59
2.5 1 Thực trạng lập kế hoạch hoạt động định hướng nghề nghiệp cho học sinh tại Trung tâm giáo dục kỹ thuật tổng hợp - hướng nghiệp Hải Phòng 59
2.5.2 Thực trạng tổ chức thực hiện các nội dung, hình thức hoạt động ĐHNN cho HS tại Trung tâm giáo dục kỹ thuật tổng hợp-hướng nghiệp Hải Phòng 60
2.5.3 Thực trạng chỉ đạo việc thực hiện hoạt động định hướng nghề nghiệp cho học sinh tại Trung tâm giáo dục kỹ thuật tổng hợp - hướng nghiệp Hải Phòng 61
2.5.4 Thực trạng kế hoạch kiểm tra đánh giá kế hoạch hoạt động định hướng nghề nghiệp cho học sinh tại Trung tâm giáo dục kỹ thuật tổng hợp - hướng nghiệp Hải Phòng 64
2.6 Thực trạng các yếu tố tác động định hướng nghề nghiệp cho học sinh tại trung tâm giáo dục kỹ thuật tổng hợp - hướng nghiệp Hải Phòng 66
2.6.1 Thực trạng nhận thức của phụ huynh học sinh, cán bộ và giáo viên và học sinh về vấn đề định hướng nghề nghiệp cho học sinh 66
2.6.2 Đánh giá thực trạng định hướng nghề nghiệp hiện nay 68
2.7 Đánh giá chung về thực trạng quản lý hoạt động định hướng nghề nghiệp cho học sinh tại Trung tâm giáo dục kỹ thuật tổng hợp - hướng nghiệp Hải Phòng theo chương trình giáo dục phổ thông mới 69
2.7.1 Kết quả đạt được 69
2.7.2 Hạn chế và nguyên nhân 70
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 71
CHƯƠNG 3 BIỆN PHÁP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG ĐỊNH HƯỚNG NGHỀ NGHIỆP CHO HỌC SINH TẠI TRUNG TÂM GIÁO DỤC KỸ THUẬT TỔNG HỢP - HƯỚNG NGHIỆP HẢI PHÒNG THEO CHƯƠNG TRÌNH GIÁO DỤC PHỔ THÔNG MỚI 72
3.1 Nguyên tắc đề xuất các biện pháp 72
3.1.1 Nguyên tắc đảm bảo tính thực tiễn 72
3.1.2 Nguyên tắc đảm bảo tính khả thi 72
3.1.3 Nguyên tắc đảm bảo tính hiệu quả 72
Trang 8vi
3.1.4 Nguyên tắc đảm bảo tính kế thừa, phát triển 72
3.2 Một số biện pháp quản lý hoạt động định hướng nghề nghiệp cho học sinh tại Trung tâm giáo dục kỹ thuật tổng hợp - hướng nghiệp Hải Phòng theo chương trình giáo dục phổ thông mới 72
3.2.1 Biện pháp 1: Nâng cao nhận thức về hoạt động ĐHNN cho các đối tượng liên quan 72
3.2.2 Biện pháp 2: Bồi dưỡng năng lực tư vấn định hướng nghề nghiệp cho đội ngũ cán bộ, giáo viên của Trung tâm giáo dục kỹ thuật tổng hợp - hướng nghiệp Hải Phòng 76
3.2.3 Biện pháp 3: Tăng cường phối hợp với các cơ sở sản xuất kinh doanh, các khu công nghiệp trên địa bàn thành phố Hải Phòng trong hoạt động định hướng nghề nghiệp 78
3.2.4 Biện pháp 4: Hoàn thiện bộ phận tư vấn định hướng nghề nghiệp tại Trung tâm giáo dục kỹ thuật tổng hợp - hướng nghiệp Hải Phòng 79
3.2.5 Biện pháp 5: Kiểm tra, đánh giá hoạt động ĐHNN cho HS một cách thường xuyên 81
3.3 Mối quan hệ giữa các biện pháp 82
3.4 Khảo nghiệm tính cần thiết và tính khả thi của các biện pháp 83
3.4.1 Tổ chức khảo nghiệm 83
3.4.2 Kết quả khảo nghiệm 83
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 87
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 88
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 91 PHỤ LỤC
Trang 9vii
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1 Số học sinh học nghề phổ thông từ năm 2015 đến năm 2018 42 Bảng 2.2 Quy mô phân bổ các nghề phổ thông từ năm 2015 đến năm 2018 42 Bảng 2.3 Thực trạng giáo dục thái độ lao động và ý thức nghề nghiệp của phụ
huynh với con mình tại trung tâm giáo dục kỹ thuật tổng hợp - hướng nghiệp Hải Phòng 47 Bảng 2.4 Thực trạng về thái độ lao động và ý thức nghề nghiệp của HS tại trung
tâm giáo dục kỹ thuật tổng hợp - hướng nghiệp Hải Phòng 48 Bảng 2.5 Thực trạng giáo dục thái độ lao động và ý thức nghề nghiệp cho HS của
giáo viên tại trung tâm giáo dục kỹ thuật tổng hợp-hướng nghiệp Hải Phòng 49 Bảng 2.6 Thực trạng về sự quan tâm đến tổ chức thực tập làm quen với nghề cho
con cái của phụ huynh HS THPT tại trung tâm giáo dục kỹ thuật tổng hợp - hướng nghiệp Hải Phòng 50 Bảng 2.7: Thực trạng phụ huynh tìm hiểu năng khiếu của con em tại trung tâm
giáo dục kỹ thuật tổng hợp-hướng nghiệp Hải Phòng 52 Bảng 2.8: Thực trạng giáo viên tìm hiểu năng khiếu của HS tại trung tâm giáo dục
kỹ thuật tổng hợp - hướng nghiệp Hải Phòng 52 Bảng 2.9: Thực trạng phụ huynh động viên hướng dẫn HS đi vào nghề, nơi cần
lao động trẻ có văn hóa 54
Bảng 2.10: Thực trạng việc xác định và thực hiện phương thức ĐHNN 55 Bảng 2.11: Định hướng nghề nghiệp qua các môn học nghề 58 Bảng 2.12: Thực trạng lập kế hoạch hoạt động định hướng nghề nghiệp cho học
sinh sinh 59 Bảng 2.13: Thực trạng tổ chức thực hiện các nội dung, hình thức hoạt động ĐHNN
cho HS 60 Bảng 2.14: Thực trạng chỉ đạo việc thực hiện hoạt động định hướng nghề nghiệp 62 Bảng 2.15: Thực trạng kế hoạch kiểm tra đánh giá kế hoạch hoạt động định hướng
nghề nghiệp cho học sinh 65 Bảng 2.16: Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý ĐHNN ở Trung tâm giáo dục kỹ
thuật tổng hợp-hướng nghiệp Hải Phòng 66 Bảng 3.1 Kết quả khảo nghiệm tính cần thiết của các biện pháp đề xuất 84 Bảng 3.2 Kết quả khảo nghiệm tính khả thi của các biện pháp đề xuất 85
Trang 10“Đẩy mạnh phân luồng sau trung học cơ sở; định hướng nghề nghiệp ở trung học phổ thông”, “Bảo đảm học sinh có trình độ trung học cơ sở (hết lớp 9) có tri thức phổ thông nền tảng, đáp ứng yêu cầu phân luồng mạnh sau trung học cơ sở; trung học phổ thông phải tiếp cận nghề nghiệp và chuẩn bị cho giai đoạn học sinh sau phổ thông có chất lượng” [33] Chỉ thị 7860/ LĐHN ngày 08/ 08/ 2001 cũng hướng dẫn thực hiện nhiệm vụ giáo dục lao động hướng nghiệp của Bộ giáo dục - Đào tạo với
nhiệm vụ trọng tâm là: “Nâng cao nhận thức của cán bộ quản lý và giáo viên về ý
nghĩa, nội dung và biện pháp thực hiện giáo dục kỹ thuật tổng hợp và hướng nghiệp cho học sinh, tiếp tục và củng cố trung tâm KTTH - HN để nâng cao hơn nữa chất lượng Hướng nghiệp - Dạy nghề phổ thông” [9]
Nhận thức được vai trò và tầm quan trọng của hoạt động ĐHNN cho HS tại các Trung tâm giáo dục kỹ thuật tổng hợp - hướng nghiệp và việc làm cần thiết phải bồi dưỡng năng cao năng lực, kỹ năng tư vấn ĐHNN cho đội ngũ giáo viên, trong
Trang 112
những năm vừa qua, công tác dạy nghề và tư vấn nghề cho HS tại Trung tâm giáo dục kỹ thuật tổng hợp - hướng nghiệp Hải Phòng đã triển khai các hoạt động nhằm tăng cường năng lực ĐHNN cho đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên tại Trung tâm Tuy nhiên, trước yêu cầu đổi mới của chương trình giáo dục phổ thông mới thì việc quản lý hoạt động ĐHNN cho học sinh tại Trung tâm còn hạn chế Một số giáo viên còn chưa nhiệt tình trong công tác giảng dạy, năng lực ĐHNN cho HS còn hạn chế Bên cạnh đó, nhận thức của HS và phụ huynh về việc học nghề phổ thông còn chưa đúng Có tới 90% các bậc phụ huynh và HS cho rằng học nghề phổ thông là để cộng điểm khi con em mình thi vào lớp 10 hoặc thi tốt nghiệp THPT
Nhận ra thực tế trên, trong quá trình đảm nhiệm công việc của cá nhân, cùng với mong muốn nâng cao chất lượng hoạt động ĐHNN cho HS tại Trung tâm giáo
dục kỹ thuật tổng hợp - hướng nghiệp Hải Phòng, tôi chọn đề tài: “Quản lý hoạt
động định hướng nghề nghiệp cho học sinh tại Trung tâm giáo dục kỹ thuật tổng hợp - hướng nghiệp Hải Phòng theo chương trình giáo dục phổ thông mới.” làm đề
tài luận văn Thạc sĩ quản lý giáo dục
2 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn về quản lý hoạt động ĐHNN cho
HS tại Trung tâm giáo dục kỹ thuật tổng hợp - hướng nghiệp Hải Phòng, đề tài đề xuất các biện pháp quản lý hoạt động ĐHNN cho học sinh, góp phần nâng cao năng lực ĐHNN cho HS tại Trung tâm giáo dục kỹ thuật tổng hợp - hướng nghiệp Hải Phòng theo chương trình giáo dục phổ thông mới
3 Khách thể và đối tƣợng nghiên cứu
3.1 Khách thể nghiên cứu
Hoạt động ĐHNN cho HS theo chương trình giáo dục phổ thông mới
3.2 Đối tượng nghiên cứu
Quản lý hoạt động ĐHNN cho HS tại Trung tâm giáo dục kỹ thuật tổng hợp - hướng nghiệp Hải Phòng theo chương trình giáo dục phổ thông mới
4 Câu hỏi nghiên cứu
Cần có những biện pháp quản lý nào để hoạt động ĐHNN cho HS tại Trung
tâm giáo dục kỹ thuật tổng hợp - hướng nghiệp Hải Phòng theo chương trình giáo dục phổ thông mới mang lại kết quả thiết thực?
Trang 123
5 Giả thuyết nghiên cứu
Trong những năm qua, công tác quản lý hoạt động ĐHNN ở các trường phổ thông nói chung và ở Trung tâm giáo dục kỹ thuật tổng hợp - hướng nghiệp Hải Phòng nói riêng còn có những bất cập, đặc biệt là vấn đề quản lý, hoạt động ĐHNN
và tư vấn ĐHNN cho HS
Nếu chọn lựa, đề xuất được các biện pháp quản lý có cơ sở khoa học, phù hợp với thực tiễn, điều kiện của Trung tâm giáo dục kỹ thuật tổng hợp - hướng nghiệp Hải Phòng và vận dụng các biện pháp đó một cách khoa học, đồng bộ thì sẽ nâng cao hoạt động ĐHNN cho HS tại Trung tâm giáo dục kỹ thuật tổng hợp - hướng nghiệp Hải Phòng theo chương trình giáo dục phổ thông mới
6 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở lý luận về quản lý hoạt động ĐHNN cho HS
- Nghiên cứu thực trạng quản lý hoạt động ĐHNN cho HS tại Trung tâm
giáo dục kỹ thuật tổng hợp - hướng nghiệp Hải Phòng theo chương trình giáo dục phổ thông mới
- Đề xuất một số biện pháp quản lý hoạt động ĐHNN cho HS tại Trung tâm
giáo dục kỹ thuật tổng hợp - hướng nghiệp Hải Phòng theo chương trình giáo dục phổ thông mới
7 Phạm vi nghiên cứu
Giới hạn nội dung: Đề tài tập trung nghiên cứu, đề xuất các biện pháp quản
lý hoạt động ĐHNN cho HS tại Trung tâm giáo dục kỹ thuật tổng hợp - hướng nghiệp Hải Phòng theo chương trình giáo dục phổ thông mới
Giới hạn thời gian: Nghiên cứu thực trạng quản lý hoạt động ĐHNN cho HS
tại Trung tâm tâm giáo dục kỹ thuật tổng hợp - hướng nghiệp Hải Phòng từ năm
2014 đến năm 2018
Giới hạn địa bàn: Trung tâm giáo dục kỹ thuật tổng hợp - hướng nghiệp Hải Phòng
8 Phương pháp nghiên cứu
8.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý thuyết
Nghiên cứu, phân tích, tổng hợp các văn kiện, văn bản, tài liệu, sách, báo, thông tin trên Internet, các tạp chí khoa học trong và ngoài nước về hoạt động dạy học nghề phổ thông để xây dựng cơ sở lý luận của đề tài
Trang 134
8.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Phương pháp quan sát: Quan sát thực tế hoạt động ĐHNN cho HS tại Trung tâm giáo dục kỹ thuật tổng hợp - hướng nghiệp Hải Phòng
- Phương pháp khảo sát, điều tra bằng phiếu hỏi, phỏng vấn: Thu thập ý kiến đánh giá của cán bộ quản lý, giáo viên và HS về các vấn đề liên quan đến nghiên cứu của đề tài
- Phương pháp tổng kết kinh nghiệm quản lý: Từ kết quả thực tế hoạt động ĐHNN cho học sinh tại Trung tâm giáo dục kỹ thuật tổng hợp - hướng nghiệp Hải Phòng, đưa ra các ý kiến đánh giá làm cơ sở cho việc đề xuất các biện pháp
- Phương pháp lấy ý kiến chuyên gia: Xin ý kiến chuyên gia về vấn đề quản
lý hoạt động ĐHNN cho HS tại các Trung tâm giáo dục kỹ thuật tổng hợp - hướng nghiệp Hải Phòng
8.3 Phương pháp thống kê toán học
Dùng để xử lý, phân tích các số liệu của đề tài
9 Cấu trúc luận văn
Luận văn gồm có phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục
Luận văn được trình bày theo 3 chương:
Chương 1 Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động ĐHNN cho HS theo chương
trình giáo dục phổ thông mới
Chương 2 Thực trạng quản lý hoạt động ĐHNN cho HS tại Trung tâm giáo
dục kỹ thuật tổng hợp - hướng nghiệp Hải Phòng theo chương trình giáo dục phổ thông mới
Chương 3 Biện pháp quản lý hoạt động ĐHNN cho HS tại Trung tâm giáo
dục kỹ thuật tổng hợp - hướng nghiệp Hải Phòng theo chương trình giáo dục phổ thông mới
Trang 14Đầu thế kỷ 20, Mỹ, Anh, Pháp, Thụy Điển đều xuất hiện cơ sở dịch vụ hướng nghiệp Ở Nga đầu thập kỉ 20, công tác hướng nghiệp rất được chú trọng, làm cơ sở
để phát triển nguồn nhân lực phục vụ nền công nghiệp hóa đất nước bấy giờ
Tư vấn hướng nghiệp được hầu hết các quốc gia trên thế giới quan tâm Tác giả Keller và Viteles, 1937 Watts, 1996, Super 1974 đề cập đến tác phẩm Parson ở Hoa Kì trong những năm 1990, tác phẩm của Lahy trong lựa chọn nhân sự ở Pháp năm 1910, nỗ lực của Gemelli trong lựa chọn nhân sự ở Ý năm 1912, và sự tập trung vào hướng nghiệp của Christianen ở Bỉ năm 1911, 1912 và những tác phẩm tiên phong ở Genneva và London năm 1914 và 1915 do Reuchlin miêu tả (1964) những
nỗ lực ban đầu trong thiết lập tư vấn và hướng nghiệp ở Hoa Kì và châu Âu [57]
Năm 1937, Keller và Viteles đưa ra tầm nhìn toàn thế giới về tư vấn và hướng nghiệp, họ khảo sát, so sánh các quốc gia ở Châu Âu, Châu Á Hai tác giả đã đưa ra mục đích chung của tư vấn và hướng nghiệp với nhiều hình thức tổ chức và cung cấp dịch vụ khác nhau phụ thuộc vào truyền thống, chính trị, kinh tế và xã hội của từng nước Tư vấn và hướng nghiệp tiếp tục phát triển và thực hiện trong các cơ
sở giáo dục ở các quốc gia trên thế giới [60]
Cuối thế kỷ thứ XIX đầu thế kỷ XX nhà bác học người Mỹ khi nghiên cứu
về tâm lý lao động, ông đã có nhận xét nổi tiếng về quan hệ giữa khả năng tâm, sinh lý của mỗi người với một nghề Người ta đã có cách thức tìm những người có khả năng thích hợp cho những nghề cụ thể để đảm bảo nâng cao năng suất lao động Đồng thời ở Mỹ cũng bắt đầu giáo dục hướng dẫn cho công dân của họ hiểu
Trang 15Ở CHLB Đức, hướng nghiệp được xác định ngay trong hệ thống giáo dục phổ thông với các loại trường khác nhau từ bậc THCS: Trường Hauplschule là trường đào tạo HS có thiên hướng về nghề đơn giản, Trường Realschudle là trường cho HS có xu hướng đi học các trường trung cấp chuyên nghiệp với hơn 4000 nghề trong danh mục của nước Đức, Trường Gymnasiyrn là trường dành cho HS có thể học lên đại học Ngoài ra ở Đức còn có loại trường Gesantschule thích hợp với cả
ba loại trường trên Việc học các loại trường phân hóa tự nguyện dựa theo sự tư vấn của trường tiểu học Sau khi tốt nghiệp THCS hệ 9 năm hoặc 10 năm HS có thể đi học nghề tại các xí nghiệp và trường nghề THCN, trường THPT nghề Do thực hiện
hệ thống giáo dục phổ thông phân hóa sớm và đạt đến trình độ hoàn thiện, nên nguồn nhân lực nói chung và công nhân lành nghề ở CHLB Đức hài hòa, nhịp nhàng như quá trình tự động hóa Ở CHLB Đức không có sự căng thẳng trong thi tuyển, phần lớn vào các trường đại học theo hình thức xét tuyển, có sự bảo lãnh về kinh phí đào tạo do các đơn vị sử dụng sau tốt nghiệp Ngay vào các trường trung cấp hoặc dạy nghề HS cũng nhận được phần kinh phí từ 1/2 đến 2/3 của cơ sở sẽ nhận vào làm việc sau khi HS ra trường [55]
Ở Nga ngày nay cũng như Liên Xô trước kia cũng thực hiện hệ thống giáo
Trang 167
dục phân hóa cao Ngay khi kết thúc THCS, phần lớn HS theo học các trường trung cấp kỹ thuật Học xong trường trung cấp kỹ thuật, HS sẽ đi lao động theo nghề nghiệp được học từ 3 đến 5 năm Sau đó, nếu có nguyện vọng họ sẽ được học tiếp lên Đại học, Cao đẳng Các trung tâm tư vấn hướng nghiệp của nước này có lịch sử lâu đời, có uy tín cao trong xã hội, đặc biệt là các phụ huynh đặt niềm tin tuyệt đối
về nghề nghiệp của con cái do các trung tâm tư vấn nghề nghiệp chỉ dẫn Các trung tâm tư vấn là nơi làm việc của các nhà tâm lý học, xã hội học, nhà kinh tế có danh tiếng, những bác sĩ giỏi Họ tư vấn nghề nghiệp có giá trị tương xứng với số tiền mà phụ huynh chi trả, bậc phụ huynh luôn tin cậy và hài lòng về những lời tư vấn nghề nghiệp cho con cái họ Các nhà máy, xí nghiệp, cơ sở sản xuất cũng thường xuyên
cử các chuyên gia đến các trường phổ thông giới thiệu, quảng bá về đơn vị mình để
học sinh có thể tìm hiểu, quyết định hướng đi của các em Các chuyên gia đứng ra
ký hợp đồng đào tạo giữa gia đình với trường nghề và nơi sử dụng kết quả đào tạo
Sự phát triển kinh tế - xã hội mạnh mẽ của Nga ngày nay cũng như Liên Xô trước kia là nhờ có đội ngũ công nhân hùng hậu về số lượng và có tay nghề cao Hệ thống Giáo dục - Đào tạo của Liên Xô đã một thời là hệ thống đào tạo tiên tiến, có danh tiếng vào tốp đầu thế giới
Ở Nhật Bản, hệ thống Giáo dục - Đào tạo đã được coi trọng ngay từ khi đứa trẻ chưa ra đời, chưa đến trường Vai trò của người mẹ đặc biệt được coi trọng Hệ thống giáo dục phổ thông và giáo dục chuyên nghiệp phát triển khá hoàn chỉnh theo một hướng rõ ràng: nhu cầu lao động phù hợp với thị trường lao động Vai trò của
tư nhân trong đào tạo nghề ở Nhật Bản là rất quan trọng, thông qua hiệp hội các giới
sử dụng lao động Vai trò của nhà nước thể hiện qua “ Hệ thống trợ cấp giáo dục và đào tạo” để trợ giúp những người lao động học nghề trong các trường nghề của nhà nước và tư nhân, kể cả những người học nghề tại gia đình (nếu họ có đăng kí và được kiểm soát) Học nghề tại gia đình là một đặc thù nghề nghiệp ở Nhật Bản Chính vì hình thức đào tạo, sử dụng lao động có nghề đa dạng, phong phú và hiệu quả, nên số đông học sinh trung học vào học nghề, số còn lại với tỷ lệ thích hợp, có đầy đủ điều kiện được học lên trở thành những tri thức bậc cao
Ngoài ra, ở Nhật bản còn có mô hình đào tạo KOSEN Đào tạo theo mô hình KOSEN đã được Nhật Bản áp dụng từ những năm 60 của thế kỷ trước Đặc điểm
Trang 178
của mô hình KOSEN là đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao nhằm đáp ứng nhu cầu của các doanh nghiệp và đảm bảo 100% sinh viên tốt nghiệp có việc làm Mô hình đào tạo của KOSEN bao gồm chương trình đào tạo KOSEN kéo dài 5 năm, trong đó 3 năm đầu đào tạo tương đương chương trình cấp 3, và 2 năm sau đào tạo chuyên sâu về kỹ thuật Mô hình giáo dục này là các tổ chức giáo dục đại học chấp nhận sinh viên tốt nghiệp trung học cơ sở từ 15 tuổi trở lên cung cấp khóa học 5 năm tập trung vào giáo dục kỹ thuật thực tế dựa trên đào tạo kinh nghiệm chuyên sâu Sinh viên thường vào các trường cao đẳng sau trung học cơ sở (lớp chín trong
hệ thống Bắc Mỹ hoặc năm thứ mười trong hệ thống Anh) Do đó, học sinh theo một mô hình học 6-3-5 (sáu năm tiểu học, ba năm trung học cơ sở và năm năm đại học) thay vì hệ thống 6-3-3-4 điển hình hơn thường thấy ở Nhật Bản Lối vào là bằng cách kiểm tra mặc dù một số sinh viên có thể được chấp nhận bằng cách giới thiệu Một vài học sinh được chấp nhận sau trung học vào năm thứ tư của chương trình Các chương trình kỹ thuật kéo dài 5 năm trong khi các chương trình thương mại hàng hải là 5,5 năm Vào cuối chương trình, sinh viên được trao chứng chỉ
"Liên kết" Trong các chương trình kỹ thuật, sinh viên có thể chọn từ nhiều tiểu khu vực khác nhau Chúng bao gồm kỹ thuật hóa học, công nghệ sinh học, kỹ thuật điện
và điện tử, kỹ thuật dân dụng, hệ thống thông tin và công nghệ điều khiển
Điểm đáng chú ý khác của mô hình KOSEN là việc đào tạo không chỉ có lý thuyết mà hướng đến kỹ năng thực hành, khả năng sáng tạo của người học thông qua các hoạt động thực hành, nghiên cứu; sử dụng giảng viên có trình độ cao và thiết bị đào tạo tốt; đào tạo chất lượng cao với mô hình nhóm nhỏ
Trung Quốc là nước đông dân nhất thế giới Để đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế nhiều thập kỷ qua, Trung Quốc đã tập trung nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, chủ yếu là nhanh chóng tạo ra đội ngũ công nhân có tay nghề cao Trung Quốc đã làm được điều mà nhiều nước không làm được, đó là đưa 60% HS trung học vào học nghề trong và ngoài nước Vấn đề cấp bách là phải thay đổi kỹ năng nghề truyền thống, cập nhật thêm các kỹ năng mới Tất cả các kỹ năng đó đều được đưa vào trường phổ thông, hình thành nguồn lao động với các kỹ năng mới cho HS
ngay từ khi ngồi trên ghế nhà trường
Hiện nay, hệ thống giáo dục bắt buộc 10 năm của Trung Quốc đã bao trùm
Trang 189
lên 85% dân số Với Trung Quốc, mục tiêu xây dựng một hệ thống giáo dục với nhiều cấp độ, đó là các trường nghề và kỹ thuật bậc đại học Để thu hút số đông HS trung học vào trường nghề, Trung Quốc cũng đa dạng hóa các loại hình trường: trường trung học bách khoa, trường kỹ thuật, trung tâm đào tạo nghề, các tổ chức đào tạo nghề do cộng đồng đảm nhiệm, các trung tâm đào tạo nghề do các doanh nghiệp phụ trách
Sự đa dạng các loại hình đào tạo cho người học và khi ra trường được sử dụng theo hướng nhấn mạnh sự cân bằng về khả năng, trình độ và kỹ năng chất lượng ngành nghề đã tạo hiệu quả trở lại với các cơ sở đào tạo Người học phải thật
sự nâng cao chất lượng qua đào tạo và quan trọng hơn làm cho thế hệ trẻ Trung Quốc dễ dàng lựa chọn việc làm cho mình trong mênh mông thị trường lao động Học lên đại học cũng chỉ là một con đường với những người có điều kiện phù hợp Trung Quốc đã xây dựng và thực hiện kế hoạch tổng thể việc làm cho khu vực thành thị và nông thôn theo hướng đô thị hóa Kế hoạch trên đã điều chỉnh lại một
xu hướng, hàng năm dòng người lao động nông thôn cứ chảy ra thành phố, kế hoạch trên đã thực hiện mục tiêu là thu hẹp khoảng cách giữa thành thị và nông thôn, mục tiêu của chủ nghĩa xã hội
Nhìn chung các công trình nghiên cứu nói trên đều nghiên cứu về vấn đề hướng nghiệp cho HS Các tác giả đã nghiên cứu và khẳng định được tầm quan trọng của hướng nghiệp, ĐHNN với HS Điều này càng khẳng định đề tài tôi đang nghiên cứu “Quản lý hoạt động định hướng nghề nghiệp cho học sinh tại Trung tâm giáo dục kỹ thuật tổng hợp - hướng nghiệp Hải Phòng theo chương trình giáo dục phổ thông mới” có ý nghĩa rất cần thiết để nâng cao chất lượng của công tác ĐHNN cho HS trong giai đoạn hiện nay
1.1.2 Ở Việt Nam
Vấn đề hướng nghiệp ở Việt Nam được tiến hành nghiên cứu và triển khai sớm từ những năm 70 của thế kỷ trước Nghị quyết của bộ chính trị về cải cách giáo dục năm 1979 đã khẳng định hướng nghiệp là một bộ phận khăng khít của quá trình giáo dục, các nghị quyết 109/CP ngày 12/3/1981 và nghị quyết 12/CP ngày 19/3/1981 của Chính phủ đã tạo hành lang pháp lý cho sự phát triển của công tác hướng nghiệp, nhất là hướng nghiệp trong trường phổ thông Tháng 3/ 1999 trong
Trang 1910
một bài viết đăng báo Nhân Dân, Cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng viết: “Nước ta trong tiến trình đẩy mạnh CNH, HĐH từ trình độ thấp, thì giáo dục ngành nghề lại càng quan trọng, cho nên phải coi trọng công tác phân luồng HS sau THCS vào các trường trung học chuyên nghiệp và dạy nghề”
Có thể nói GS.TS Phạm Tất Dong là một trong những người đầu tiên ở Việt Nam nghiên cứu về hướng nghiệp học sinh với công trình “Những yếu tố và điều kiện tác động đến chọn nghề của học sinh” ; “Nghề nghiệp tương lai, giúp bạn chọn
nghề” và một số công trình khác [20-23] Tiếp đến là PGS.TS Đặng Danh Ánh với
đề tài “ Một số vấn đề tâm lý giáo dục hướng nghiệp” (1974) Đề tài khoa học cấp nhà nước KX-05-09 “Giáo dục phổ thông và hướng nghiệp - nền tảng để phát triển nguồn nhân lực đi vào CNH, HĐH” cũng đã được tiến hành Tại các sở giáo dục và đào tạo cũng có một số đề tài nghiên cứu về giáo dục hướng nghiệp và phân luồng
HS trung học Đề tài “Thực trạng và giải pháp để tổ chức hướng nghiệp, phân luồng
cho HS sau THCS và THPT ở Nghệ An” chủ nhiệm ThS Nguyễn Đình Anh.
Một số năm gần đây, vấn đề hướng nghiệp chọn nghề được một số nhà nghiên cứu ở phía Nam quan tâm: TS Quang Dương với tiểu luận “Cần có một triết
lý hướng nghiệp và hành nghề” ThS Đào Thị Vân Anh nghiên cứu “Xu hướng chọn nghề của HS và công tác hướng nghiệp cho HS ở Thành Phố Hồ Chí minh”; ThS La Hồng Huy (Trường đại học An Giang) có đề tài “Thực trạng và giải pháp về công tác hướng nghiệp ở một số trường THPT tỉnh An Giang”
Một số tỉnh miền núi cũng có những đề tài nghiên cứu về giáo dục hướng nghiệp Đề tài “Nghiên cứu phát triển GDHN, giáo dục nghề phổ thông và dạy nghề nhằm phân luồng HS sau THCS, THPT tỉnh Yên Bái giai đoạn 2011 - 2015, định hướng đến năm 2020” của Sở GD&ĐT Yên Bái do ThS Vũ Thị Minh Lý làm chủ nhiệm Sở GD&ĐT Tỉnh Kon Tum với đề tài “Khảo sát nhu cầu, động cơ lựa chọn nghề nghiệp của HS THPT trên địa bàn tỉnh Kon Tum và một số giải pháp cho công tác hướng nghiệp” do Văn Đức Thảo làm chủ nhiệm
Mỗi đề tài đã đặt ra những vấn đề mà địa phương cần giải quyết, tìm những giải pháp cho công tác đào tạo nghề mà cái gốc là phải tiến hành tốt công tác GDHN cho HS từ THCS đến THPT HS phải biết được những yêu cầu mà địa phương đòi hỏi, hiểu biết chính họ và có cách lựa chọn nghề phù hợp Dù ở những
Trang 2011
nơi kinh tế - xã hội phát triển như Thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long hay những vùng núi xa xôi, sự phát triển kinh tế xã hội còn nhiều hạn chế, thì nhu cầu để sống bằng những nghề phù hợp vẫn là những đòi hỏi cấp bách với mỗi người, mỗi vùng trong thời kỳ CNH, HĐH và hội nhập quốc tế
ĐHNN cho HS là một vấn đề cần thiết và quan trọng Vì vậy, Bộ trưởng Phùng Xuân Nhạ đã ký Chỉ thị số 3031/CT-BGDĐT về nhiệm vụ chủ yếu năm học 2016 - 2017 của ngành Giáo dục đã xác định Công tác phân luồng và định hướng nghề nghiệp là một trong những nhiệm vụ chủ yếu “Tuyên truyền nâng cao nhận thức về công tác giáo dục hướng nghiệp và phân luồng học sinh ở trong và ngoài nhà trường Cung cấp rộng rãi thông tin về tình hình phát triển kinh tế - xã hội, nhu cầu của thị trường lao động, nhằm định hướng các hoạt động giáo dục đáp ứng yêu cầu của thị trường lao động, phục vụ nhu cầu của địa phương”,
“Triển khai thí điểm mô hình giáo dục nhà trường gắn với thực tiễn sản xuất kinh doanh của địa phương, mô hình phối hợp giữa các cơ sở giáo dục nghề nghiệp và các trường trung học cơ sở, trung học phổ thông đào tạo kỹ năng nghề trong chương trình hướng nghiệp Tăng cường huy động các nguồn lực tài chính và các điều kiện về cơ sở vật chất, trang thiết bị, đảm bảo cho việc tổ chức các hoạt động dạy học/giáo dục trong nhà trường theo hướng thực học, lý thuyết gắn với thực hành và thực tiễn, đảm bảo giáo dục cơ bản ở trung học cơ sở, phục vụ cho giáo dục hướng nghiệp và phân luồng đạt hiệu quả”
Ở Hải Phòng cũng có một số đề tài nghiên cứu về giáo dục hướng nghiệp nghề cho học sinh Tác giả Đào Bá Bính đã nghiên cứu đề tài “ Biện pháp quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp cho học sinh trường trung học phổ thông Quốc Tuấn, thành phố Hải Phòng Tác giả Vũ Văn Ngôn với đề tài: “ Biện pháp quản lý hoạt động dạy - học nghề phổ thông tại Trung tâm giáo dục Kỹ thuật tổng hợp -hướng nghiệp Hải Phòng trong giai đoạn hiện nay.” Những công trình nghiên cứu này đã đề cập đến quản lý hoạt động GDHN trên từng mặt khác nhau và ở các bình diện khác nhau, tuy nhiên chưa có công trình nào đề cập đến quản lý hoạt động định hướng nghề nghiệp cho HS tại trung tâm giáo dục Kỹ thuật tổng hợp - hướng nghiệp Hải Phòng theo chương trình giáo dục phổ thông mới Xuất phát từ thực tế
đó, tôi đã chọn đề tài “Quản lý hoạt động định hướng nghề nghiệp cho học sinh tại
Trang 21tổ chức, điều khiển, phối hợp và kiểm tra” [59]
Theo tác giả Đặng Quốc Bảo: “Quản lý là một quá trình lập kế hoạch, tổ chức, hướng dẫn và kiểm tra những nỗ lực của các thành viên trong một tổ chức và
sử dụng các nguồn lực của tổ chức để đạt được những mục tiêu cụ thể” [7] Trong cuốn “Khoa học tổ chức và quản lý”, Quản lý là tác động có mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý đến tập thể những người lao động nói chung (Phạm Minh Hạc, 1998) [30] Tác giả Griffin, 1998, quản lý là tập hợp các hoạt động lập ra kế hoạch,
ra quyết định, tổ chức, lãnh đạo và kiểm tra với các nguồn lực của tổ chức nhằm mục đích đạt được các mục tiêu của tổ chức hiệu quả nhất [58]
Theo tác giả Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc: “Hoạt động quản lý
là tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý (người quản lý) đến khách thể quản lý (người bị quản lý) trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt mục đích của tổ chức” [39]
Như vậy, có nhiều khái niệm khác nhau về quản lý và có thể hiểu quản lý là thiết kế và duy trì một môi trường mà trong đó các cá nhân làm việc với nhau trong nhóm có thể hoàn thành các nhiệm vụ và mục tiêu đã định; là hệ thống tác động lên đối tượng quản lí thông qua các chức năng quản lí
Trang 2213
Từ các định nghĩa được nhìn nhận từ nhiều góc độ, chúng ta thấy rằng tất cả các tác giả đều thống nhất về cốt lõi của khái niệm quản lý, đó là trả lời câu hỏi; Ai quản lý? (Chủ thể quản lý); Quản lý ai? Quản lý cái gì? (Khách thể quản lý); Quản
lý như thế nào? (Phương thức quản lý); Quản lý bằng cái gì? (Công cụ quản lý); quản lý để làm gì? (Mục tiêu quản lý) Từ đó chúng ta có thể đưa ra định nghĩa:
Quản lý là sự tác động liên tục có tổ chức, có định hướng, có mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý đến đối tượng quản lý để chỉ huy, điều khiển, liên kết các yếu tố tham gia vào hoạt động thành một chỉnh thể thống nhất, điều hoà hoạt động của các khâu một cách hợp quy luật nhằm đạt đến mục tiêu xác định trong điều kiện biến động của môi trường
Chủ thể quản lý có thể là một cá nhân,một nhóm hay một tổ chức
Khách thể quản lý là những con người cụ thể và sự hình thành tự nhiên các mối quan hệ giữa những con người, giữa những nhóm người
Công cụ quản lý là phương tiện tác động của chủ thể quản lý tới khách thể
và hợp quy luật các chức năng kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra” [39] Trong thực tế, quản lý giáo dục là quá trình tác động có kế hoạch, có tổ chức của các cơ quan quản lý giáo dục các cấp tới các thành tố của quá trình dạy học - giáo dục nhằm làm cho hệ giáo dục vận hành có hiệu quả và đạt tới mục tiêu giáo dục
Trang 2314
nhà nước đề ra Theo tác giả Bush T: “Quản lý giáo dục, một cách khái quát, là sự tác động của tổ chức và hướng đích của hai chủ thể quản lý giáo dục tới đối tượng quản lý giáo dục theo cách sử dụng các nguồn lực càng có hiệu quả càng tốt nhằm đạt mục tiêu đề ra” [62]
Như vậy, quan niệm về quản lý giáo dục có thể có những cách diễn đạt khác nhau, song trong mỗi cách định nghĩa đều đề cập tới các yếu tố cơ bản: Chủ thể quản lý giáo dục; khách thể quản lý giáo dục, mục tiêu quản lý giáo dục, ngoài ra còn phải kể tới cách thức (phương pháp quản lý giáo dục) và công cụ (hệ thống văn bản quy phạm pháp luận) quản lý giáo dục
1.2.3 Hướng nghiệp và định hướng nghề nghiệp
* Hướng nghiệp
Hiện nay có nhiều ý kiến và quan niệm khác nhau về hướng nghiệp
Trong tâm lý học thì hướng nghiệp được coi là một quá trình chuẩn bị cho thế hệ trẻ sẵn sàng tâm lý đi vào lao động nghề nghiệp Sự sẵn sàng tâm lý đó chính
là tâm thế lao động – một trạng thái tâm lý tích cực trước hoạt động lao động
Những nhà giáo dục hiểu hướng nghiệp như một hệ thống tác động giúp thế
hệ trẻ có cơ sở khoa học trong việc chọn nghề phù hợp với những yêu cầu của sự phân công lao động xã hội, có tính đến hứng thú và năng lực của từng cá nhân
Xét trên bình diện khoa học lao động, hướng nghiệp là sự xác định tính phù hợp của từng con người cụ thể trên cơ sở xác định sự tương thích giữa những đặc điểm tâm
- sinh lý của họ với những yêu cầu của một nghề nào đó đối với người lao động
Về phương diện kinh tế học, hướng nghiệp được hiểu là hệ thống những biện pháp dẫn dắt, tổ chức cho người học lựa chọn nghề để họ đi vào lao động nghề nghiệp nhằm sử dụng hợp lý tiềm năng lao động trẻ tuổi của đất nước Hướng nghiệp góp phần tích cực vào quá trình phấn đấu nâng cao năng suất lao động
Trên bình diện vĩ mô toàn xã hội, hướng nghiệp góp phần phân bố hợp lý
và sử dụng có hiệu quả nguồn nhân lực, vốn quý cho sự phát triển kinh tế – xã hội, mang lại phồn vinh cho đất nước Do vậy, hướng nghiệp có một ý nghĩa to lớn, một khởi đầu quan trọng cho quá trình phát triển lực lượng sản xuất của mỗi quốc gia và ai cũng hiểu
Hướng nghiệp là một bộ phận không thể thiếu trong nhà trường Hướng
Trang 2415
nghiệp là biện pháp thực hiện nguyên lý giáo dục: Học đi đôi với hành, giáo dục kết hợp với lao động sản xuất, nhà trường gắn liền với xã hội Trong giáo dục hướng nghiệp, học sinh được tìm hiểu về vấn đề nghề nghiệp, có cơ hội tiếp cận, thử sức với nghề, đồng thời được thực hành lao động nghề nghiệp để kiểm chứng nguyện vọng và sở thích cá nhân cũng như củng cố những lý luận khoa học đã được học Nhờ đó có thể nâng cao chất lượng giáo dục, làm cho nhà trường gắn liền với thực tế xã hội
Hướng nghiệp góp phần thực hiện phân luồng HS, chuẩn bị cho một bộ phận học sinh có được một số kỹ năng cơ bản để có thể tham gia lao động sản xuất khi chưa có điều kiện học tiếp
Hướng nghiệp là bước khởi đầu quan trọng cho sự phát triển nguồn nhân lực Hướng nghiệp là hệ thống những biện pháp dựa trên cơ sở tâm lý học, giáo dục học, xã hội học và nhiều khoa học khác để giúp cho HS chọn nghề phù hợp với nhu cầu xã hội, đồng thời thoả mãn tối đa nguyện vọng, thích hợp với năng lực, sở trường và điều kiện tâm sinh lý cá nhân cũng như điều kiện gia đình để người học
có thể phát triển đến đỉnh cao nghề nghiệp, cống hiến cho xã hội, tạo lập cuộc sống tốt đẹp cho bản thân
Hướng nghiệp tác động trực tiếp đến tình trạng thất nghiệp và năng suất lao động xã hội Thực hiện tốt công tác hướng nghiệp sẽ tạo được nguồn lao động ổn định với trình độ đáp ứng nhu cầu xã hội Hướng nghiệp là giúp HS tìm hiểu về thế giới nghề nghiệp
Ở bình diện cá nhân và đối mỗi cá nhân, hướng nghiệp là hệ thống các giải pháp về tâm lý học, giáo dục học, y học, kinh tế - xã hội nhằm giúp cho con người chọn nghề nghiệp phù hợp với nhu cầu xã hội, phù hợp với nguyện vọng và năng lực bản thân
Ở bình diện trường phổ thông, hướng nghiệp là một hệ thống tác động sư phạm nhằm giúp cho HS chọn nghề phù hợp với nhu cầu xã hội, đồng thời thỏa mãn nhu cầu tối đa nguyện vọng, thích hợp với năng lực, sở trường và điều kiện tâm sinh lý cá nhân cũng như điều kiện gia đình để người học có thể phát triển đến đỉnh cao của nghề nghiệp, cống hiến cho xã hội, tạo lập cuộc sống tốt đẹp cho bản thân
Trang 2516
Ở bình diện xã hội, hướng nghiệp đóng góp phần rất quan trọng tạo nguồn nhân lực cho xã hội phù hợp về cơ cấu và được sử dụng có hiệu quả Do đó, nó là vấn đề xã hội và được nhiều ngành nghề quan tâm tới và cùng tham gia
Như vậy, hướng nghiệp đề cập ở đây đã vượt ra khỏi phạm vi nhà trường phổ thông, bao gồm cả tuyển chọn nghề, thích ứng nghề và hơn nữa, cả tư vấn và dịch
vụ việc làm (cho cả người lao động không qua đào tạo nghề nghiệp)
Theo từ điển Bách khoa toàn thư Việt Nam: Hướng nghiệp là “Hệ thống các biện pháp giúp con người lựa chọn và xác định nghề nghiệp của bản thân trong cuộc sống tương lai trên cơ sở kết hợp với nguyện vọng, sở trường của cá nhân và nhu cầu xã hội” [52]
Hướng nghiệp có nhiệm vụ:
1 Nghiên cứu đặc điểm tâm, sinh lý của thanh niên, học sinh
2 Làm cho thanh niên hiểu nội dung lao động của một số nghề, giúp họ chọn nghề Là một bộ phận hữu cơ của quá trình giáo dục và đào tạo, hướng nghiệp được tiến hành không chỉ ở các trường học mà còn tại các cơ quan và cơ sở sản xuất, với thế hệ trẻ và cả người lớn tuổi không có nghề hoặc phải thay đổi nghề
GS.TS Phạm Tất Dong là một trong những người đầu tiên ở Việt Nam nghiên cứu về hướng nghiệp thì cho rằng: “Hướng nghiệp như là một hệ thống tác động của xã hội về giáo dục, về y học, kinh tế học nhằm giúp cho thế hệ trẻ chọn được nghề nghiệp phù hợp với hứng thú, năng lực, nguyện vọng, sở trường của mỗi cá nhân, vừa đáp ứng nhu cầu của các lĩnh vực sản xuất trong nền kinh
tế quốc dân” [22]
Chủ tịch Ủy ban quốc tế về giáo dục của UNESCO, Jacques Delors cho rằng: Hướng nghiệp phải được tiến hành ở bậc trung học để hướng chuẩn bị cho học sinh bước vào cuộc sống người lớn, vào thế giới lao động Hướng nghiệp giúp học sinh chọn nghề trong mọi lĩnh vực đa dạng khác nhưng không đóng cửa để đi vào ngành nghề cuối cùng Hướng nghiệp được tiến hành xuyên suốt toàn bộ quá trình hệ thống đào tạo nghề nghiệp tổng thể, từ khâu định hướng nghề đến khâu giải quyết việc làm phải chuẩn bị cho thanh thiếu niên đi vào nghề nghiệp phù hợp với sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế cũng như chuyển dịch cơ cấu lao động trong cả nước và từng địa phương, như Văn kiện Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ IX đã
Trang 2617
nhấn mạnh Như vậy, hướng nghiệp là các hoạt động nhằm hỗ trợ mọi cá nhân chọn lựa và phát triển chuyên môn nghề nghiệp phù hợp nhất với khả năng của cá nhân, đồng thời thỏa mãn nhu cầu nhân lực cho tất cả các lĩnh vực nghề nghiệp (thị trường lao động) ở cấp độ địa phương và quốc gia
* Định hướng nghề nghiệp
Nhà tâm lý học người Nga, K.K Platonov đã đưa ra sơ đồ tam giác hướng nghiệp
Định hướng nghề nghiệp là việc thông tin cho học sinh về đặc điểm hoạt động và yêu cầu phát triển của các nghề trong xã hội, đặc biệt là những nghề và những nơi đang cần nhiều lao động trẻ tuổi có văn hoá, về yêu cầu tâm sinh lý của mỗi nghề, về tình hình phân công và yêu cầu điều chỉnh lao động ở cộng đồng dân
cư, về hệ thống trường lớp đào tạo nghề của Nhà nước, tập thể và tư nhân
Tư vấn nghề nghiệp cho học sinh Tư vấn nghề nghiệp nhằm giúp học sinh
có thể định hướng nghề đúng đắn hơn hoặc sẽ chuẩn bị tốt hơn đối với việc xin
được tuyển vào làm việc trong một nghề nào đó
Tuyển chọn nghề là xác định xem các đối tượng dự tuyển có sự phù hợp với một nghề cụ thể hay không để có quyết định tuyển hay không tuyển vào học hay
làm việc
Sơ đồ tam giác trình bày giải quyết những cơ sở chủ yếu cho công tác hướng nghiệp, đó là:tri thức về nghề, tri thức về thị trường lao động, những hiểu biết về đặc điểm nhân cách Căn cứ vào thị trường lao động và những yêu cầu của từng
Trang 2718
ngành nghề mà các chuyên gia hướng nghiệp giúp cho thế hệ trẻ có cái nhìn đúng đắn về nghề nghiệp sẽ chọn trong tương lai Ngành nghề nào đang cần nhân lực, phải có những yêu cầu gì để đáp ứng được nhu cầu của ngành nghề đó Công việc này gọi là ĐHNN
ĐHNN là một khái niệm giáo dục toàn diện và liên tục được thiết kế để cung cấp cho các cá nhân ở cấp trung học với các thông tin và kinh nghiệm để chuẩn bị cho họ sống và làm việc trong một môi trường luôn thay đổi nền kinh tế, xã hội và môi trường cần thiết
Theo từ điển Bách Khoa toàn thư, ĐHNN là một khái niệm giáo dục toàn diện và liên tục được thiết kế để cung cấp cho các cá nhân ở cấp trung học với các thông tin và kinh nghiệm để chuẩn bị cho họ sống và làm việc trong một luôn thay đổi nền kinh tế, xã hội và môi trường cần thiết
Tác giả Nguyễn Đình Xuân và Trần Thị Minh Đức, ĐHNN là một quá trình tìm hiểu, đối chiếu, so sánh những yêu cầu về đặc điểm tư chất và yêu cầu của hoạt động lao động xã hội với những điều kiện cụ thể của bản thân trên cơ sở hình dung
ra trước hoạt động lao động của cá nhân trong hiện tại và tương lai
ĐHNN là một khái niệm bao gồm hai yếu tố liên kết với nhau chặt chẽ: yếu
tố thứ nhất chỉ trạng thái động của khái niệm - là quá trình xác định cho mình một hướng đi, hướng phấn đấu, rèn luyện, và yếu tố thứ hai - sự cần thiết phải thực hiện hoạt động của bản thân theo một hướng đã được xác định Tuy nhiên, với ý nghĩa thứ hai này, không thể không có một mục tiêu, một đích nào đó làm chuẩn để xác định hướng hành động Như vậy, yếu tố định hướng bao gồm trong nó quá trình hoạt động của chủ thể nhằm đạt tới mục đích đã định Chính ở đây, yếu tố thứ hai của khái niệm - nghề nghiệp trở thành mục tiêu của hoạt động định hướng Yếu tố này chi phối các hoạt động của chủ thể về nhận thức, về thái độ, hành vi, đồng thời
nó là kết quả cần đạt tới quá trình hoạt động Chính vì vậy, Tác giả Nguyễn Văn Hộ
và Nguyễn Thị Thanh Huyền cho rằng “ Định hướng nghề nghiệp được hiểu là một quá trình hoạt động được chủ thể tổ chức chặt chẽ theo một lôgic hợp lí về không gian, thời gian, về nguồn lực tương ứng với những gì mà chủ thể có được nhằm đạt tới những yêu cầu đặt ra cho một lĩnh vực nghề nghiệp hoặc cụ thể hơn là của một nghề nào đó” [33]
Trang 2819
Khái niệm trên được thể hiện ở sơ đồ sau:
Trong nhà trường, chủ thể trực tiếp định hướng tới nghề nghiệp là HS, song với tuổi đời còn trẻ, kinh nghiệm, vốn sống và trình độ nhận thức xã hội còn nhiều hạn hẹp, nên cần có sự trợ giúp của các lực lượng giáo dục Lúc này hoạt động ĐHNN của học sinh trở thành đối tượng lao động giáo dục của thầy, cô giáo, của các tổ chức chính trị, xã hội trong trường học nhằm giúp cho quá trình định hướng nghề của học sinh diễn ra thuận lợi, đạt tới sự tương hợp cần thiết giữa nguyện vọng
cá nhân với yêu cầu của nghề trong những điều kiện kinh tế - xã hội cụ thể Ở đây, các lực lượng sư phạm trong nhà trường trở thành chủ thể của một hoạt động đặc thù - hoạt động hướng nghiệp - một trong những nhiệm vụ giáo dục toàn diện đối với học sinh Để thực hiện có hiệu quả hoạt động này, các lực lượng sư phạm trong nhà trường cần hiểu rõ đặc điểm định hướng nghề của học sinh với những yếu tố tạo thành như nhận thức nghề, thái độ nghề, lựa chọn nghề và quyết định nghề Dưới đây chúng ta sẽ tiếp cận với đặc điểm này trong qúa trình ĐHNN cho HS:
Định hướng nhận thức đối với nghề nghiệp Nhận thức nghề nghiệp là quá trình phản ánh các đặc trưng cơ bản của nghề nghiệp, những biểu hiện định giá của
xã hội trong những điều kiện phát triển kinh tế- xã hội cụ thể với giá trị của nghề nghiệp và những đặc điểm phát triển tâm lý, sinh lý của những con người làm việc trong ghề nghiệp đó Nhận thức nghề nghiệp là một trong những thành phần cơ bản của xu hướng nghề nghiệp (bao gồm: nhận thức nghề, tình cảm nghề và hành động chọn nghề) Nhận thức nghề nghiệp kết hợp với những thành phần còn lại của xu hướng nghề tạo nên kết qủa chọn nghề của HS đối với một nghề xác định Xuất phát từ nhận thức nghề với hệ thống tri thức về nghề, về những đòi hỏi khách quan của nghề đối với những ai hoạt động trong nghề nghiệp đó để đối chiếu với những phẩm chất, năng lực, cá nhân tìm ra sự phù hợp của nghề đối với bản thân Có thể nói nhận thức nghề nghiệp là cơ sở cốt lõi mang tính định hướng cho hành động lựa chọn nghề của HS Nhận thức đúng đắn, đầy đủ, sâu sắc về nghề nghiệp sẽ có tác
Nhu cầu
của chủ thể Hoạt động của chủ thể
Mục đích (nghề nghiệp)
Trang 29về những đòi hỏi của xã hội đối với nghề nghiệp, nhận thức về thế giới nghề nghiệp
và những yêu cầu đặc trưng của nghề có dự định lựa chọn
ĐHNN là một việc vô cùng quan trọng trong cuộc đời của mỗi con người, đặc biệt là đối với HS Chọn cho mình một nghề nghiệp để phù hợp với năng lực của bản thân là một việc không hề dễ Việc lựa chọn nghề nghiệp thực sự quan trọng và vô cùng cần thiết
Sơ đồ định hướng nghề nghiệp
ĐHNN, việc làm cho HS sau THCS và THPT được xem là một trong những chức năng quan trọng của một nền giáo dục hiện đại TS.JL Holland, nhà tâm lý học người mỹ đã dành cả cuộc đời của mình để giải đáp ba câu hỏi do ông tự đặt ra: 1 Những đặc điểm gì về con người và môi trường dẫn đến việc người ta cảm thấy thỏa mãn trong nghề, gắn bó với nghề, thành đạt trong nghề? ngược lại, điều gì khiến người ta không hài lòng, không thành công trong nghề đã trọn; 2 Những đặc điểm gì về con người và môi trường đã khiến cho một người trong đời mình giữ nguyên hoặc thay đổi công việc và mức cống hiến?; 3 Cách nào là hữu hiệu nhất
giúp người ta giải bài toán chọn nghề?
Ông đã giải đáp được 3 câu hỏi trên và trong hơn 30 năm qua đã không ngừng hoàn thiện một số bộ công cụ giúp cho những ai quan tâm đến chọn nghề
Định hướng nghề
nghề
Trang 3021
phù hợp có cách để tự tìm hiểu bản thân mình rồi đối chiếu với một danh mục nghề cho sẵn, từ đó xác định mình thích hợp với loại nghề nào Bộ công cụ giúp cho đối tượng nghiên cứu ĐHNN được viết tắt là SDS (Selr Directed Search) ra đời từ năm
1970 và không ngừng được cải tiến, hoàn thiện đã khiến cho TS.JL Holland trở thành người đứng đầu các nhà tâm lý học Mỹ có công trình được xuất bản nhiều nhất và được trích dẫn nhiều nhất
SDS mô phỏng thực tế kinh nghiệm tư vấn nghề nghiệp và ứng dụng các thành tựu của tâm lý học để xây dựng 1 bộ tài liệu diễn giải, tự đánh giá nghề nghiệp và cơ hội nghề nghiệp Chức năng chính của nghiên cứu tự định hướng là: tăng trình độ hiểu biết, tăng cơ hội lựa chọn nghề nghiệp, tăng độ thỏa mãn đối với khát vọng nghề nghiệp [19]
1.2.4 Quản lý hoạt động định hướng nghề nghiệp
Như trên đã đề cập, quản lý là thiết kế và duy trì một môi trường mà trong đó các cá nhân làm việc với nhau trong nhóm có thể hoàn thành các nhiệm vụ và mục tiêu đã định; là tập hợp các hoạt động lập ra kế hoạch, ra quyết định, tổ chức, lãnh đạo và kiểm tra với các nguồn lực của tổ chức nhằm mục đích đạt được các mục tiêu của tổ chức hiệu quả nhất Từ quan điểm trên có thể coi quản lý hoạt động ĐHNN là quá trình tác động có chủ đích, hợp quy luật của chủ thể quản lý đến các đối tượng được quản lý nhằm đảm bảo quá trình hoạt động ĐHNN cho học sinh học nghề, đạt được mục tiêu năng cao hiệu quả đào tạo của nhà trường
Quản lý hoạt động ĐHNN tốt sẽ giúp hoạt động ĐHNN đạt được mục tiêu đề ra; tạo điều kiện cho HS có sự lựa chọn nghề đúng đắn góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực cho thị trường lao động Trên cơ sở luận điểm trình bày ở mục này; ở mục 1.4 dưới đây chúng tôi sẽ đi sâu trình bày nội dung của hoạt động quản lí ĐHNN cho HS phổ thông thông qua việc triển khai các chức năng quản lí
1.2.5 Chương trình giáo dục phổ thông mới
Sau 30 năm đổi mới, đất nước ta đã vượt qua nhiều khó khăn, thách thức, đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử Nước ta đã thoát ra khỏi tình trạng kém phát triển, bước vào nhóm nước đang phát triển có thu nhập trung bình Mặc
dù đã đạt được những kết quả ý nghĩa đó nhưng những thành quả về kinh tế của nước ta chưa vững chắc, nguồn nhân chưa có chất lượng cao, sức cạnh tranh của
Trang 31và năng lực thích ứng cao trước mọi biến động của thiên nhiên và xã hội Đổi mới giáo dục đã trở thành nhu cầu cấp thiết và xu thế mang tính toàn cầu
Trước tình hình đó, Hội nghị lần thứ 8 Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam (khóa XI) đã thông qua Nghị quyết về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo đáp ứng yêu cầu CNH, HĐH trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế; Quốc hội đã ban hành Nghị quyết số 88/2014/QH13 về đổi mới chương trình, sách giáo khoa giáo dục phổ thông, góp phần đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo Ngày 27/3/2015, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 404/QĐ-TTg phê duyệt Đề án đổi mới chương trình, sách giáo khoa giáo dục phổ thông
Mục tiêu đổi mới được Nghị quyết 88/2014/QH13 của Quốc hội quy định:
“Đổi mới chương trình, sách giáo khoa giáo dục phổ thông nhằm tạo chuyển biến căn bản, toàn diện về chất lượng và hiệu quả giáo dục phổ thông; kết hợp dạy chữ, dạy người và định hướng nghề nghiệp; góp phần chuyển nền giáo dục nặng về truyền thụ kiến thức sang nền giáo dục phát triển toàn diện cả về phẩm chất và năng lực, hài hòa đức, trí, thể, mỹ và phát huy tốt nhất tiềm năng của mỗi học sinh”
Mục tiêu đến năm 2020 nước ta cơ bản sẽ trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại và hội nhập quốc tế, một trong ba khâu đột phá triển khai Chiến
lược phát triển kinh tế xã hội giai đoạn 2011- 2020 là:“Phát triển nhanh nguồn
nhân lực, nhất là nguồn nhân lực có chất lượng cao, tập trung vào đổi mới căn bản
và toàn diện nền giáo dục quốc dân ”
Trang 3223
Thực hiện các Nghị quyết của Đảng, Quốc hội và Quyết định của Thủ tướng Chính phủ, chương trình giáo dục phổ thông mới được xây dựng theo định hướng phát triển phẩm chất và năng lực của người học, tạo môi trường học tập và rèn luyện giúp học sinh phát triển hài hoà về thể chất và tinh thần; trở thành người học tích cực, tự tin, có ý thức lựa chọn nghề nghiệp và học tập suốt đời; có những phẩm chất tốt đẹp và năng lực cần thiết để trở thành người công dân có trách nhiệm, người lao động có văn hóa, cần cù, sáng tạo, đáp ứng nhu cầu phát triển của cá nhân và yêu cầu của sự nghiệp xây dựng, bảo vệ đất nước trong thời đại toàn cầu hóa và cách mạng công nghiệp mới
Chương trình giáo dục phổ thông bao gồm chương trình tổng thể (khung
chương trình), các chương trình môn học và hoạt động giáo dục
* Mục tiêu của chương trình giáo dục phổ thông
Chương trình giáo dục phổ thông cụ thể hóa mục tiêu giáo dục phổ thông, giúp người học làm chủ kiến thức phổ thông; biết vận dụng hiệu quả kiến thức vào đời sống và tự học suốt đời; có định hướng lựa chọn nghề nghiệp phù hợp; biết xây dựng và phát triển hài hòa các mối quan hệ xã hội; có cá tính, nhân cách và đời sống tâm hồn phong phú; nhờ đó có được cuộc sống có ý nghĩa và đóng góp tích cực vào
sự phát triển của đất nước và nhân loại
Chương trình giáo dục tiểu học giúp HS hình thành và phát triển những yếu
tố căn bản đặt nền móng cho sự phát triển hài hòa về thể chất và tinh thần, phẩm chất và năng lực; định hướng chính vào giáo dục về giá trị bản thân, gia đình, cộng đồng và những thói quen, nề nếp cần thiết trong học tập và sinh hoạt
Chương trình giáo dục trung học cơ sở giúp học sinh phát triển các phẩm chất, năng lực đã được hình thành và phát triển ở cấp tiểu học; tự điều chỉnh bản thân theo các chuẩn mực chung của xã hội; biết vận dụng các phương pháp học tập tích cực để hoàn chỉnh tri thức và kỹ năng nền tảng; có những hiểu biết ban đầu về các ngành nghề và có ý thức hướng nghiệp để tiếp tục học lên trung học phổ thông, học nghề hoặc tham gia vào cuộc sống lao động
Chương trình giáo dục trung học phổ thông giúp HS tiếp tục phát triển những
sở thích, năng khiếu cũng như năng lực của bản thân một cách tốt nhất tùy thuộc vào điều kiện hoàn cảnh, giúp HS có khả năng thích nghi với mọi môi trường
và những sự thay đổi trong thời kỳ cách mạng công nghiệp 4.0
Trang 3324
* Yêu cầu cần đạt về phẩm chất và năng lực
1 Chương trình giáo dục phổ thông hình thành và phát triển cho HS lòng yêu tự hào dân tộc, yêu dân tộc, vị tha, chăm chỉ, trung thực, sống và làm việc có trách nhiệm
2 Chương trình giáo dục phổ thông hình thành và phát triển cho HS những năng lực tự chủ và tự học, năng lực giao tiếp và hợp tác, năng lực giải quyết vấn đề
và sáng tạo
Những năng lực này được hình thành, phát triển chủ yếu thông qua một các môn học như toán, thể dục, âm nhạc, mỹ thuật, tự nhiên xã hội, khoa học và văn học
Ngoài việc hình thành, phát triển các năng lực cơ bản, chương trình giáo dục
phổ thông còn phần phát hiện, bồi dưỡng năng khiếu cho học sinh
3 Các yêu cầu cần đạt về phẩm chất chủ yếu và năng lực cốt là căn cứ để xây dựng chương trình môn học và hoạt động giáo dục, biên soạn sách giáo khoa
và tài liệu hướng dẫn dạy học, đánh giá kết quả giáo dục HS và chất lượng giáo dục phổ thông
Trong dự thảo đổi mới chương trình giáo dục phổ thông, công tác ĐHNN, phân luồng được chú trọng và thể hiện khá rõ nét, đặc biệt ở cấp trung học phổ thông Học sinh có thể chọn môn học và chuyên đề học tập chọn phù hợp với năng lực và sở thích của mình nhưng bắt buộc phải hoàn thành số lượng các môn học, chuyên đề học tập theo quy định trong chương trình giáo dục Hình thức tổ chức hoạt động ĐHNN được gắn với nghề nghiệp trong tương lai chặt chẽ hơn với việc phát triển mạnh hình thức câu lạc bộ nghề nghiệp Học sinh sẽ được đánh giá theo năng lực, sở thích và được giáo viên định hướng nghề nghiệp cho phù hợp Ở cấp THPT, chương trình có tính phân hóa mạnh dựa trên việc tăng cường các chủ đề, chuyên đề tự chọn Học sinh được tham gia trực tiếp với các ngành nghề khác nhau dưới các hình thức khác nhau Giáo dục ĐHNN là nội dung giáo dục bắt buộc trong chương trình giáo dục phổ thông mới đặt kỳ vọng giải quyết tốt ĐHNN, phân luồng
ở trường trung học trong thời gian tới Bộ Giáo dục và Ðào tạo đang tích cực xây dựng chương trình giáo dục phổ thông mới, theo đó giáo dục hướng nghiệp được thực hiện thường xuyên và liên tục, thông qua tất cả các môn học, các hoạt động giáo dục, đồng thời có các hoạt động giáo dục hướng nghiệp riêng Qua đó, góp phần phân luồng đào tạo nguồn nhân lực phù hợp, có chất lượng, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội
Trang 3425
1.3 Hoạt động định hướng nghề nghiệp cho học sinh phổ thông theo chương trình giáo dục phổ thông mới
1.3.1 Mục tiêu hoạt động về định hướng nghề nghiệp
ĐHNN cho học sinh phổ thông nhằm mục đích bồi dưỡng, hướng dẫn HS ngay từ trong nhà trường, chọn nghề phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội đồng thời phù hợp với năng lực cán nhân
ĐHNN cho HS phổ thông có nhiệm vụ giáo dục thái độ lao động và ý thức đúng đắn với nghề nghiệp, cho HS làm quen với một số nghề phổ biến trong xã hội
và các nghề truyền thống của địa phương, tìm hiểu năng khiếu, sở thích nghề nghiệp
của từng HS đề khuyến khích, định hướng và bồi dưỡng khả năng nghề nghiệp thích
hợp nhất, động viên học sinh đi vào những nghề, những nơi đang cần Gắn với mục tiêu phát triển năng lực cho HS phổ thông, kỹ năng nghề cũng như sự sẵn sàng bước vào cuộc sống của HS phổ thông cần được định hướng ngay trong quá trình học tập
ở những năm cuối của bậc học phổ thông và đó cũng là mục tiêu của hoạt động định
hướng nghề nghiệp cho HS phổ thông của chương trình phổ thông mới
1.3.2 Nội dung hoạt động định hướng nghề nghiệp
Nội dung chương trình phổ thông mới đã có tính hướng nghiệp và phân hóa
ở những năm cuối của bậc phổ thông Bên cạnh những kiến thức, kĩ năng cơ bản nhằm định hướng nghề nghiệp, HS cần được học ít nhất là một nghề thực sự phù hợp với sức khỏe, sở thích, điều kiện và khả năng của bản thân Do đó, cần tích hợp một số ngành, nghề trong nội dung chương trình từng môn học, phù hợp với đặc điểm, thế mạnh của từng địa phương, nhà trường Chú trọng đồng thời lý thuyết và thực hành kĩ năng nghề nghiệp
Nội dung ĐHNN cho HS bao gồm:
* Định hướng nhận thức của HS đối với nghề nghiệp
Nhận thức nghề nghiệp là quá trình phản ánh các đặc trưng cơ bản của nghề nghiệp, những biểu hiện định giá của xã hội trong những điều kiện phát triển kinh tế
- xã hội cụ thể với giá trị của nghề nghiệp và những đặc điểm phát triển tâm lý, sinh
lý của những con người làm việc trong nghề nghiệp đó
HS thường chọn nghề qua nhận thức của bản thân về nghề nghiệp cùng với những trào lưu nghề của xã hội Có thể nói, nhận thức nghề nghiệp đúng sẽ
Trang 35* Định hướng thái độ đối với nghề nghiệp
Thái độ đối với nghề có liên quan đến hành động định hướng nghề Thái độ đối với nghề nghiệp là sự quyết định tính lâu dài của cá nhân về giá trị nghề nghiệp
Có thể là thái độ tích cực hoặc tiêu cực của con người đối với nghề nghiệp Các yếu
tố thể hiện thái độ đối với nghề gồm:
Yếu tố tình cảm: Bao gồm các cảm xúc chấp nhận hoặc thờ ơ với nghề nghiệp Yếu tố nhận thức: Là quan niệm và hiểu biết của cá nhân về một nghề cụ thể nào đó mà họ có dự định lựa chọn
Yếu tố hành vi: Là sự thể hiện quan niệm và tình cảm của mình thành hành động Hành động này có thể là chú ý học tốt những môn có liên quan tới sự lựa chọn nghề, tìm đọc các tài liệu nói về nghề đó, tuyên truyền nghề đó cho bè bạn
Thái độ nghề nghiệp là một thuộc tính cấu thành nhân cách, nó biểu thị sắc thái tình cảm về mức độ say mê của cá nhân đối với hoạt động nghề nghiệp Đặc trưng cơ bản nhất của thái độ nghề nghiệp được biểu hiện trước tiên thông qua động
cơ chọn nghề Theo A.N Lêônchiev "cái gì được phản ánh trong đầu con người, thúc đẩy hoạt động và hướng hoạt động vào việc thoả mãn một nhu cầu nhất định thì gọi là động cơ hoạt động ấy" [60] Như vậy, động cơ chọn nghề của mỗi cá nhân
là những yếu tố tâm lý thúc đẩy cá nhân, chi phố mọi hoạt động của cá nhân, giúp
họ vươn tới sự xác định cho mình một nghề nghiệp nào đó
Khi chọn nghề, cá nhân chịu ảnh hưởng bởi 3 nhóm tác động:
Ảnh hưởng xã hội và con người: Bao gồm tất cả những tác động bên ngoài như nhà trường, gia đình, bạn bè
Ảnh hưởng tình huống: Ảnh hưởng này xuất phát từ tình huống cụ thể có liên quan tới quyết định nghề: nguồn tài chính gia đình, tuổi tác, thời điểm về sự xuất hiện của một nghề mới,
Trang 3627
* Nhận thức về những đặc điểm cá nhân
Để có thể chọn một nghề nào đó, mỗi người trước tiên phải "hiểu mình" để
có được một bức tranh toàn cảnh về chính mình, từ đó có được sự cân nhắc kỹ càng
về sự phù hợp hay không phù hợp giữa những gì vốn có và nhu cầu đòi hỏi của nghề nghiệp
Để đạt được một nghề nào đó thì cá nhân đó phải có nhận thức về nghề, những đòi hỏi mà nghề đó đề ra, bao gồm về thể lực, trình độ, năng lực, kỹ năng, phẩm chất Mỗi HS là chủ thể của sự lựa chọn, nhưng các em cũng chính là đối tượng được nghề nghiệp "xem xét" để đưa tới những quyết định phù hợp hay không phù hợp trong việc chọn nghề của các em Do đó, học sinh cần trang bị cho mình đầy đủ kiến thức, sự hiểu biết về nghề, về năng lực, sở thích của bản thân để đáp ứng yêu cầu do nghề nghiệp đặt ra Đây là một vấn đề khó đối với học sinh, bởi các em thiếu những kiến thức để tự đánh giá và các em không có được khả năng đánh giá về mức độ phù hợp của bản thân của mình với yêu cầu hoạt động nghề nghiệp và càng khó khăn hơn khi các em phải tự giải quyết vấn đề này trong thái độ của mình
Giáo dục hướng nghiệp là một bộ phận của giáo dục toàn diện Giáo dục hướng nghiệp giúp mỗi HS có sự hiểu biết về nghề và yêu cầu của ngành nghề mà mình quan tâm, biết phân tích thị trường lao động, xu hướng phát triển của nghề và
sự đào tạo nghề tương ứng, tự giải quyết những vướng mắc hoặc rèn luyện bản thân Từ đó, mỗi HS tự định hướng cho mình một nghề nghiệp phù hợp nhất
* Năng lực nghề nghiệp
Năng lực là những thuộc tính của nhân cách, nó khác với những phẩm chất
cá nhân khác ở chỗ chúng không tồn tại độc lập mà chỉ tồn tại trong mối tương quan với một hoạt động nhất định nào đó Năng lực được biểu hiện ở nhịp độ, chiều sâu
và sự bền vững trong việc chiếm lĩnh phương pháp và cách thức hoạt động, nó được coi như là cấu trúc đặc thù của nhân cách, bao gồm một tổ hợp những thuộc tính nhân cách của cá nhân, là điều kiện để cá nhân tiến hành có hiệu quả một số hoạt động nhất định, là thành tố bên trong của hoạt động tâm lý và động cơ tâm lý Từ những quan điểm trên chúng ta thấy năng lực nghề nghiệp là những phẩm chất, nhân cách được hình thành và phát triển trong quá trình hoạt động để giúp cho mỗi người lĩnh hội và hoàn thành một hoạt động nhất định nào đó hiệu quả
Trang 3728
Theo K.K Platônôv, cá nhân nào hiểu được những đòi hỏi mà nghề đó đặt ra thì cá nhân đó đã có năng lực về nghề đó [35] Điều này chứng minh rằng năng lực nghề nghiệp được hình thành và phát triển từ khi mỗi cá nhân có định hướng về nghề trong tương lai và trong quá trình làm việc Năng lực nghề nghiệp của mỗi người sẽ được phát huy cao độ khi nó được kết hợp với sở thích, với sự say mê trong công việc Mỗi con người đều tồn tại một tố chất nào đó song nếu chúng ta không biết tận dụng những điều kiện cần thiết để biến những tố chất đó thành năng lực thì những tố chất đó sẽ chẳng có ý nghĩa gì
Trong mỗi cá nhân đều có những năng lực và sở thích nhất định Nếu cá nhân nào biết tận dụng năng lực tiềm ẩn và sở trường sẵn có đó để chọn nghề cho phù hợp thì cá nhân đó làm việc sẽ đạt kết quả cao nhưng nếu cá nhân đó không xác định được sở trường của mình là gì thì cá nhân đó sẽ có những lựa chọn sai lầm dễ
bị thất bại trong công việc
Tự nhận thức chính là nhận thức về chính mình, có thể đó là sức đẩy để đạt tới thành công Bởi vậy trong hoạt động giáo dục của nhà trường, nếu thiếu đi sự hiểu biết học sinh về mặt sinh học để tạo ra những điều kiện cần thiết cho sự phát triển những ưu thế về trí lực, thể lực của các em thì khó có thể phát hiện và hình thành được năng lực nghề nghiệp cho học sinh
1.3.3 Phương thức hoạt động định hướng nghề nghiệp
ĐHNN qua các môn học Thông qua môn học, giáo viên sẽ cung cấp cho các em những thông tin về các ngành nghề có liên quan Việc giảng dạy tích hợp giữa các môn học, liên hệ giữa thực tế cuộc sống với nội dung môn học giúp cho học sinh có nhận thức về thế giới nghề nghiệp, có sự hứng thú tìm hiểu nghề trong tương lai
ĐHNN qua hoạt động dạy nghề phổ thông HS được học nghề phổ thông từ
bậc THCS đến THPT tại trường hoặc các trung tâm giáo dục thường xuyên, Trung
tâm KTTH- HN HS được quyền chọn nghề mà mình thích để đăng kí học Qua hoạt động học nghề này các em được làm quen với một số nghề đơn giản, các em có những hiểu biết thêm về hoạt động của nghề Từ đó các em sẽ có thái độ đúng đắn
về nghề và có được ĐHNN trong tương lai
ĐHNN qua trải nghiệm thực tế tại chính các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất,
Trang 3829
trang trại chăn nuôi và trồng trọt vừa giúp các em hình dung cụ thể về ngành, nghề tương lai, vừa giúp các em khám phá năng lực học tập nhằm hiểu thêm về khả năng, thế mạnh, sở thích của chính bản thân mình
ĐHNN qua việc khuyến khích học sinh tự học, làm việc theo nhóm, thảo luận, thực hiện dự án học tập, thực hành thí nghiệm ở phòng học bộ môn, cơ sở sản xuất kinh doanh, cơ quan văn hóa Tăng cường học qua dự án với các tình huống, vấn đề thực tiễn nhằm rèn luyện kĩ năng ĐHNN cho học sinh dựa trên việc học sinh tự phát hiện ra khả năng của bản thân, khơi gợi sự đam mê, khả năng sáng tạo, sự đồng cảm, khả năng học được những điều thực sự có ích cho lựa chọn nghề từ cuộc sống
1.4 Nội dung quản lý hoạt động định hướng nghề nghiệp cho học sinh
1.4.1 Lập kế hoạch cho hoạt động định hướng nghề nghiệp cho học sinh
Để có kết quả tốt trong việc ĐHNN cho HS tại các cơ sở giáo dục nói chung
ở các trung tâm kỹ thuật tổng hợp - hướng nghiệp nói riêng thì việc đầu tiên và quan trọng mang tính tất yếu là cần phải có kế hoạch hoạt động định hướng nghề nghiệp
cho HS Việc lên kế hoạch ĐHNN cho HS trước hết cần bám sát nội dung của lập
kế hoạch và làm sao bản kế hoạch sẽ là kim chỉ nam định hướng hoạt động hướng
nghiệp cho học sinh Kế hoạch xây dựng cần phải cụ thể hóa về nội dung thực hiện, biện pháp thực hiện, đối tượng thực hiện và cụ thể hóa thời gian thực hiện cho đạt hiệu quả và phù hợp với mục tiêu kế hoạch trong năm cần hướng tới và đảm bảo phù hợp với quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng và nhà nước, phù hợp với điều kiện kinh tế- xã hội của địa phương
Việc lập kế hoạch ĐHNN cho HS được tiến hành ngay từ đầu năm học Trên
cơ sở chủ trương của nhà nước và yêu cầu thực tiễn của địa phương ; cơ sở giáo dục
mà cụ thể ở đây là trung tâm hướng nghiệp dạy nghề của địa phương xây dựng cho mình một kế hoạch phù hợp với các yêu cầu đặt ra Trên cơ sở đó các bộ phận (tổ chuyên môn…) cũng lập ra các kế hoạch cho tổ mình dựa trên kế hoạch của các thành viên trong tổ Mỗi kế hoạch đều thể hiện rõ mục đích, yêu cầu, thời gian thực
hiện, nội dung, hình thức tổ chức
Khi lập kế hoạch ĐHNN cho HS cần nhận thức đầy đủ các nội dung ĐHNN cho HS như tôi đã trình bày ở mục 1.3 trên đây Tôi nhấn mạnh cấu trúc kế hoạch
Trang 3930
thì theo câu trúc chung nhưng nội dung kế hoạch ĐHNN cho HS cần xuất phát từ đặc điểm của đối tượng HS cũng như hoàn cảnh, môi trường và năng lực sở thích
của đối tượng hướng tới; trên cơ sở đó thiết lập mục tiêu và xây dựng nội dung của
kế hoạch Việc lên kế hoạch ĐHNN cần phải tham khảo, cân nhắc và xem xét các
yếu tố bên trong cũng như bên ngoài Sau khi có được đầy đủ những thông tin cần thiết về nghề nghiệp HS đã chọn, việc lên kế hoạch để đạt được mục tiêu là hết sức cần thiết HS cần lên kế hoạch học tập, xác định mục tiêu nghề nghiệp ngắn hạn và dài hạn, những kiến thức và kỹ năng cần bổ sung, xác định rõ mức độ ưu tiên và thời hạn chót hoàn thành
1.4.2 Tổ chức thực hiện các nội dung hình thức định hướng nghề nghiệp cho học sinh
Triển khai thực hiện ĐHNN cho HS theo tài liệu hướng dẫn của Bộ Giáo dục
và Đào tạo, giúp HS, đặc biệt là HS cuối cấp, tìm hiểu thế giới nghề nghiệp, thị trường lao động và đánh giá năng lực của bản thân, hướng dẫn HS lựa chọn nghề nghiệp hoặc lựa chọn trường học, ngành học phù hợp với năng lực cá nhân và yêu cầu của xã hội
Thành lập Ban ĐHNN tại Trung tâm Ban định hướng gồm các thành phần: Ban giám đốc, giáo viên dạy nghề, đại diện Đoàn thanh niên của Trung tâm, đại diện Ban đại diện phụ huynh HS, đại diện các cơ sở sản xuất ở địa phương Ban định hướng nghề nghiệp có chức năng chỉ đạo kế hoạch (soạn thảo, phê duyệt, kiểm tra và đánh giá việc thực hiện kế hoạch) và làm cầu nối liên kết tất cả các thành
phần có liên quan để đạt được mục tiêu của ĐHNN đề ra
Tuyên truyền, vận động các tổ chức ban ngành có liên quan cùng tham gia
vào công tác ĐHNN cho HS
Phối hợp với các lực lượng xã hội trong công tác ĐHNN cho HS tại Trung tâm
Giáo viên được bồi dưỡng và cập nhật thông tin về công tác ĐHNN cho HS
thường xuyên
1.4.3 Chỉ đạo hoạt động định hướng nghề nghiệp cho học sinh
Triển khai và thực hiện ĐHNN cho học sinh theo đúng tài liệu hướng dẫn của Bộ Giáo dục và Đào tạo
Thực hiện việc ĐHNN qua con đường dạy nghề phổ thông và hoạt động tham quan ngoại khóa
Trang 4031
Chỉ đạo soạn, giảng phải theo hướng đổi mới về nội dung, phương pháp, hình thức tổ chức các hoạt động ĐHNN cho HS phải phong phú, sáng tạo phù hợp với nhận thức của học sinh về nghề Các hoạt động ĐHNN cho HS phải chú trọng vào vào việc tìm hiểu và nhận thức về nghề, phải giúp HS tự định hướng được nghề tương lai
Chỉ đạo giáo viên phải soạn lồng ghép bài dạy với thực tiễn cuộc sống về bộ môn nghề mình đang giảng dạy để HS có những hiểu biết về nghề mình đang học
Chỉ đạo tăng cường các hoạt động ngoại khóa cho HS tại các cơ sở sản xuất, các nhà máy, xí nghiệp Động viên HS tích cực tham gia hoạt động định hướng nghề nghiệp tại các cơ sở giáo dục ngoài nhà trường.Việc HS tìm hiểu nghề nghiệp tương lai bằng cách tiếp cận thực tế tại các cơ sở sản xuất, nhà máy, doanh nghiệp, phòng thí nghiệm… là cách ĐHNN rất hiệu quả Các em sẽ được vừa học vừa trải nghiệm bản thân xem mình phù hợp với ngành nghề nào nhất, vì thế, tỉ lệ chọn nhầm nghề của HS sẽ rất thấp
1.4.4 Kiểm tra, đánh giá kết quả định hướng nghề nghiệp cho học sinh
Kiểm tra, đánh giá kết quả là quá trình thu thập thông tin về các nội dung trong công tác ĐHNN cho HS, đưa ra những nhận định về công tác ĐHNN cho HS
từ đó đề ra những biện pháp phù hợp để nâng cao hiệu quả công ĐHNN cho HS Kiểm tra, đánh giá là để tìm ra mặt tích cực để phát huy, đồng thời cũng tìm ra mặt hạn chế để khắc phục Kiểm tra, đánh giá công tác ĐHNN cho HS để kiểm tra mức
độ đạt được và chưa đạt được về các mục tiêu đã đề ra trong kế hoạch, có đảm bảo chất lượng và tiến độ của hoạt động ĐHNN cho học sinh Từ đó tìm ra nguyên nhân
để có cách điều chỉnh hợp lý cho công tác ĐHNN cho HS Ban giám đốc lấy mục tiêu xây dựng từ đầu năm học là tiêu chí để đánh giá kết quả Công tác kiểm tra, đánh giá phải được tiến hành thường xuyên và có tiêu chí cụ thể
1.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý hoạt động định hướng nghề nghiệp cho học sinh
1.5.1 Các yếu tố chủ quan
1.5.1.1 Nhận thức của đội ngũ cán bộ quản lý và giáo viên
Nhìn chung đội ngũ cán bộ quản lý và giáo viên của các cơ sở giáo dục nói chung, với các Trung tâm hướng nghiệp nói riêng cần có tinh thần trách nhiệm cao