Các nhà quản lý, nhất là Hiệu trưởng các trường trung học phổ thông chưa thấy hết được ý nghĩa kinh tế - xã hội của công tác hướng nghiệp là góp phần vào sự phát triển kinh tế - xã hội b
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
LUẬN VÃN THẠC s ĩ QUẢN LÝ GIÁO DỤC
Chuyên ngành : quản lý giáo dục
N g ư ờ i h ư ớng dẫn kh o a h ọc : P G S T S N G U Y Ê N Đ Ứ C T R Í
OA HC TRUNG ĩ
Trang 2MỞ ĐẨU
Chương 1: C ơ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỂ VÂN ĐỂ NGHIÊN c ứ u
1.2.2 Quản lý giáo dục và quản lý nhà trường 7
13 Ý nghĩa của công tác hướng nghiệp cho học sinh trung học phổ thông 9
1 3 1 T iế p c ậ n l ý lu ậ n c h u n g 9
1.4.1 Hướng nghiệp cho học sinh trung học phổ thông bước khởi đầu
1.4.3 Nhiệm vụ và nội dung của công tác hướng nghiệp 15
1.5 Những nhân tố ảnh hưởng đến công tác hướng nghiệp cho học
MỤC LỤC
Trang 31.5.1 Quan niệm xã hội về nghề nghiệp 19
1.6 Q u ả n lý c ủ a H iệ u tr ư ở n g đ ố i với c ô n g tá c h ư ớ n g n g h iệ p c h o
học sinh tại các trường trung học phổ thông 23
1.6.2 Các nội dung quản lý của Hiệu trưởng đối với công tác hướng nghiệp 25
1.7 Kinh nghiệm công tác hướng nghiệp của một số nước trên thế giới 27 Chương 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ CÔNG TÁC HƯỚNG NGHIỆP
CHO HỌC SINH CỦA HIỆU TRƯỞNG CÁC TRƯỜNG TRUNG
HỌC PHỔ THÔNG Ở QUẬN CẨU GIẤY
2.1 Thực trạng đội ngũ nhân lực ở Việt Nam hiện nay 31
2.2 T h ự c t r ạ n g n g u ồ n n h â n lực v à tìn h h ìn h p h á t t r iể n k in h t ế - 31
xã hội - giáo d ụ c củ a q u ận C ầu G iấy
2.2.1 Thực trạng nguồn nhân lực quận Cầu Giấy 322.2.2 Tinh hình phát triển kinh tế - xã hội - giáo dục quận Cầu Giấy 33
2.3 K h á i q u á t c ô n g tá c h ư ớ n g n g h iệ p tạ i c á c tr ư ờ n g t r u n g h ọ c p h ổ 37
th ô n g ở q u ậ n C ầ u G iấ y
2.3.1 Sơ bộ về quá trình phát triển công tác hướng nghiệp ở Hà Nội 372.3.2 Thực trạng công tác hướng nghiệp tại các trường trung học phổ thông 382.3.3 Đánh giá chung công tác huứng nghiệp tại các trường trung học phổ thông 48
2.4 Thực trạng công tác quản lý hướng nghiệp tại các trường 51 trung học phổ thông ở quận Cầu Giấy
2.4.1 Thực trạng công tác quản lý hướng nghiệp tại các trường trung 51học phổ thông
2.4.2 Đánh giá chung về công tác quản lý công tác hướng nghiệp tại 55các trường trung học phổ thông
Trang 43.2.1 Nâng cao nhận thức về công tác hướng nghiệp cho các lực lượng 60trong và ngoài trường
3.2.2 Tạo ra môi trường có tính pháp lý nhằm đẩy mạnh công tác 63hướng nghiệp tại các trường trung học phổ thông
3.2.3 Xây dựng đội ngũ giáo viên có năng lực phẩm chất tốt làm 65nhiệm vụ giáo dục hướng nghiệp
3.2.4 Tăng cường nguồn lực cho công tác hướng nghiệp 783.2.5 Đổi mới phương thức quản lý, tổ chức công tác hướng nghiệp 813.2.6 Củng cố ban tư vấn hướng nghiệp tại trường cho học sinh trung học 84phổ thông
3.4 Khảo nghiệm tính cần thiết và tính khả thi của các biện pháp 88
Trang 5CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
Trang 6MỞ ĐẨU
1 Lý do chọn đề tài
Hiện nay, vấn đề phân luồng học sinh sau cấp trung học cơ sở (THCS)
và trung học phổ thông (THPT) là vấn đề bức xúc của toàn ngành giáo dục cũng như toàn xã hội Trong những năm gần đây số lượng học sinh tốt nghiệp trung học phổ thông muốn tiếp tục học cao đẳng, đại học ngày càng tăng gây sức ép lên cao đẳng đại học, các loại hình đào tạo khác như trường dạy nghề, trung học chuyên nghiệp ít được học sinh quan tâm chọn vào học, tạo nên sự mất cân đối trong cơ cấu đào tạo nguồn nhân lực Chính vì vậy, chúng ta rất khó khăn để thực hiện mục tiêu đào tạo là tạo ra một đội ngũ lao động đồng bộ
về ngành nghề, cân đối về cơ cấu phục vụ cho quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá và gia nhập tổ chức thương mại Quốc tế WTO
Trăn trở vể vấn đề trên trong cuộc hội thảo Đối thoại Pháp - Á về “Vấn
đề và hướng đi cho giáo dục hướng nghiệp tại Việt Nam” được tổ chức tại Khoa Sư phạm - Đại học Quốc gia Hà Nội năm 2005, nhiều đại biểu đã bức xúc về vấn đề học sinh phổ thông sau khi tốt nghiệp: đại đa số học sinh trung học phổ thông không đánh giá được năng lực của mình, không biết rõ mình thích nghề gì Những câu hỏi: đi đâu? học trường nào? làm nghề gì sau khi tốt nghiệp trung học phổ thông? thường là những phương trình nhiều ẩn số, những câu hỏi khó giải đáp
Một trong những nguyên nhân của tình trạng trên là do việc hướng nghiệp cho học sinh phổ thông vẫn chưa được thực hiện tốt Các nhà quản lý, nhất là Hiệu trưởng các trường trung học phổ thông chưa thấy hết được ý nghĩa kinh tế - xã hội của công tác hướng nghiệp là góp phần vào sự phát triển kinh tế - xã hội bền vững của đất nước, tránh được sự lãng phí về đào tạo và sử dụng lao động, một tài sản vô giá của đất nước và góp phần tích cực vào việc thay đổi nhận thức và quan niệm của toàn xã hội về việc làm trong cơ chế thị
Trang 7trường Do công lác hướng nghiệp chưa được coi trọng nên việc hướng nghiệp cho học sinh phổ thông còn rất yếu chưa đáp ứng được yêu cầu của học sinh
và của xã hội, làm cho đại đa số học sinh trung học phổ thông không đánh giá được năng lực của mình cũng như không biết rõ mình thích nghề gì
Nhận rõ tầm quan trọng của vấn đề trên ngày 19/3/1981 Hội đồng Chính phủ đã ra Quyết định 126/CP, công tác hướng nghiệp đã chính thức trở thành một nội dung giáo dục trong nhà trường phổ thông ở nước ta với những mục tiêu, nội dung, hình thức tổ chức cụ thể Hoạt động hướng nghiệp đã được
tổ chức ở hầu hết các trường trung học phổ thông trong cả nước Mặc dù vậy, với nhiều lý do khác nhau mà chất lượng hiệu quả của công tác hướng nghiệp còn rất thấp Thực trạng này đã được nhận định khái quát trong nghị quyết TW2 - khoá VIII “Công tác hướng nghiệp ở bậc phổ thông chưa được chú ý đúng mức”
Thủ đô Hà Nội dang phát triển mạnh mẽ về nhiều mặt, trong đó quận Cầu Giấy có tốc độ đô thị hoá rất nhanh làm cho cơ cấu lao động có sự dịch chuyển mạnh Do đó Thủ đô Hà Nội, quận Cầu Giấy đang rất cần một đội ngũ
có cơ cấu trình độ, có cơ cấu ngành nghề hợp lý, có năng lực, có phẩm chất đạo đức cao đẹp Điểu đó đặt ra cho công tác hướng nghiệp cho học sinh phổ thông ở Hà Nội nói chung, ở quận Cầu Giấy nói riêng những nhiệm vụ hết sức quan trọng Với mục đích nhằm góp phần giải quyết tốt công tác hướng nghiệp cho học sinh quận Cầu Giấy trong những năm tới, chúng tôi xin chọn
đề tài "Các biện pháp quản lý của H iệu trưởng nhằm đẩy m ạnh công tác
hướng nghiệp cho học sình trung học p h ổ thông quận Cầu Giấy, Hà Nội".
Trang 83.2 Đ ối tượng nghiên cứu
Các biện pháp quản lý của Hiệu trưởng nhằm đẩy mạnh công tác hướng nghiệp cho học sinh các trường THPT quận Cầu Giấy, Hà Nội
4 Nhiệm vụ nghiên cứu
Luận văn tập trung giải quyết 3 vấh đề chính sau:
* Tổng quan cơ sở lý luận về hướng nghiệp cho học sinh THPT
* Phân tích, đánh giá thực trạng công tác hướng nghiệp và thực trạng quản lý của Hiệu truởng về công tác hướng nghiệp cho học sinh các trường THPT quận Cầu Giấy, Hà Nội
* Đề xuất các biện pháp quản lý của Hiệu trưởng nhằm đẩy mạnh công tác hướng nghiệp cho học sinh các trường THPT quận Cầu Giấy, Hà Nội
5 Giả thuyết khoa học của đề tài
Nếu thực hiện được các biện pháp: nâng cao nhận thức về công tác hướng nghiệp cho các lực lượng trong và ngoài trường, tạo môi trường có tính pháp lý, xây dựng đội ngũ giáo viên có năng lực phẩm chất tốt, tăng cường nguồn lực, đổi mới phương thức quản lý- tổ chức, củng cố ban tư vấn hướng nghiệp phù hợp với điều kiện của các trường THPT ở Cầu Giấy thì công tác hướng nghiệp cho học sinh các trường THPT ở quận Cầu Giấy sẽ được đẩy mạnh
6 P h ạ m vi n g h iê n c ứ u
Luận văn chỉ tập trung nghiên cứu các biện pháp quản lý của Hiệu trưởng nhằm đẩy mạnh hoạt động hướng nghiệp cho học sinh các trường THPT ở quận a u Giấy, Hà Nội
7.2 Nhónĩ phương pháp nghiên cứu thực tiễn
+ Điều tra, khảo sát
+ Quan sát sư phạm
Trang 9+ Tổng kết rút kinh nghiêm
+ Phương pháp chuyên gia
+ Lấy ý kiến về mức độ cần thiết và tính khả thi của các biện pháp đề xuất
8 Cấu trú c của luận văn
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận - khuyến nghị, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn được trình trong 3 chương:
Chương /: Cơ sở lý luận chung của vấn đề nghiên cứu
Chương 2: Thực trạng quản lý công tác hướng nghiệp cho học sinh của Hiệu
trưởng các trường trung học phổ thông ở quận Cầu Giấy
Chương 3: Các biện pháp quản lý của Hiệu trưởng nhằm đẩy mạnh công tác hướng nghiệp cho học sinh trung học phổ thông quận Cầu Giấy
Trang 10Chương 1: c ơ SỞ LÝ LUẬN CHUNG CỦA VẤN ĐỂ NGHIÊN c ứ u
1.1 Tổng quan về vấn đề nghiên cứu
Hướng nghiệp và dạy nghề cho học sinh phổ thông là xu thế của thời đại và cũng là một nhu cầu cấp bách của nước ta Như K.Marx đã viết: khả năng lựa chọn nghề là mặt ưu việt của con người trước những tồn tại khác của thế giới, nhưng đồng thời việc lựa chọn ấy lại là một hành động có thể tiêu diệt cuộc sống của họ, làm tiêu tan mọi dự định của họ và làm cho họ bất hạnh Do vậy, việc lựa chọn này cần phải đắn đo suy nghĩ kỹ, đó là trách nhiệm đầu tiên của thanh niên khi bước vào đời
Đúng vậy, việc lựa chọn nghề nghiệp có ý nghĩa vô cùng to lớn trong cuộc đời mỗi con người Chỉ khi nào nghề nghiệp hợp với ý thích của con người, khi con người có hứng thú với công việc họ làm, khi họ thật sự yêu thích công việc thì lúc đó họ mới tìm thấy niềm vui trong lao động, mới có thể nâng cao cường độ lao động đến mức tối đa mà không cảm thấy mệt nhọc, chỉ khi đó con người mói có thể mang lại cái quý giá trong lĩnh vực lao động của mình Song thế giới nghề nghiệp vô cùng phong phú trong khi khả năng con người là có hạn Vậy, mình sẽ chọn nghề gì? có rất ít học sinh THPT trả lời chính xác câu hỏi này vì đánh giá khả năng của mình chưa đúng, sự thiếu hiểu biết về bản chất, đối tượng nghề Để giúp cho học sinh THPT nhận thức được điều trên, đó là trách nhiệm của nhà trường, của ngành giáo dục, của gia đình
và của toàn xã hội
Trong quá trình công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước nguồn nhân lực
là yếu tố căn bản quyết định sự thành công, giáo dục và đào tạo chính là nền tảng quan trọng, trong đó nhà trường với công tác hướng nghiệp cho học sinh
có tính quyết định hơn cả trong việc phát triển nguồn nhân lực, cung ứng lao
kỹ thuật cho thị trường lao động Đảng và Nhà nước ta đã nhận rõ tầm quan trọng mang tính chiến lược của công tác giáo dục và đào tạo, coi giáo dục đào tạo cùng với khoa học công nghệ là quốc sách hàng đầu, “đầu tư cho giáo dục
Trang 11là đầu tư cho sự phát triển” Thấm nhuần tư tưởng của Đảng và Nhà nước, Bộ trưởng Bộ GD & ĐT đã ra chỉ thị số 22/2005 vể nhiệm vụ của toàn ngành giáo dục trong đó nhấn mạnh “chú trọng giáo dục đạo đức, lối sống và hướng nghiệp” cho học sinh phổ thông.
Hướng nghiệp cho học sinh phổ thông trở thành vấn đề nóng bỏng gây nên sự quan tâm của toàn xã hội Trong nước và quốc tế đã có nhiều đề tài nghiên cứu, tài liệu, báo cáo khoa học bàn về vấn đề này, các tác giả phải kể đến, như: N.C.Krupskaia “Lựa chọn nghề nghiệp”, Lawrence.K.Janes “Kỹ năng nghề nghiệp bước vào thế kỷ 21”, E.A.Klimop “Nay đi học mai làm gì”
Nhiều nhà giáo dục học, nhà hoạt động trong lĩnh vực lao động nghề nghiệp và việc làm trong nước đã vào cuộc và có những đóng góp to lớn cho
sự hình thành và phát triển của hoạt động hướng nghiệp cho học sinh, như:Nguyễn Đức Trí, Phạm Tất Dong, Đặng Danh Ánh, Nguyễn Văn Hộ, PhạmHuy Thụ, Đoàn Chi, Phan Ngọc Luận Nhiều sách, tài liệu được xuất bản:
“Giúp bạn chọn nghề” của tác giả Phạm Tất Dong, ‘T ài liệu tư vấn tập huấn nghề cho học sinh p h ổ thống 1992, ỉ 994” do Phạm Huy Thụ chủ biên, “Tài liệu bồi dưỡng giáo viên - hoạt động giáo dục hướng nghiệp''’ Bộ GD & ĐT
Đặc biệt những bài viết có giá trị của các tác giả tâm huyết với công tác hướng
nghiệp trong Kỷ yếu hội thảo Đối thoại Pháp - Á về “ Vấn đề và hướng đi cho
giáo dục hướng nghiệp tại Việt Narrì\ Bên cạnh đó, nhiều đề tài khoa học
nghiên cứu về vấn đề này, như đề tài khoa học cấp Nhà nước trong đó PGS TS
Nguyễn Văn Lê tham gia “Giáo dục p h ổ thông và hướng nghiệp nền tảng đ ể
phát nguồn nhân lực đì vào công nghiệp hoá - Hiện đại hoá ”, nhiều đề tài
thạc sĩ nghiên cứu về các giải pháp quản lý nhằm đẩy mạnh công tác hướng nghiệp, tư vấn hướng nghiệp cho học sinh tại các trung tâm kỹ thuật tổng hợp của tác giả Trần Mai Thu, Mai Thi Thanh Bình, Vũ Đình Triển đã cho chúng
ta thấy định hướng nghề nghiệp cho một lớp lao động mới của xã hội là một điều vô cùng cấp thiết Tuy nhiên, chưa có tài liệu nào nghiên cứu về biện pháp quản lý của Hiệu trưởng các trường THPT với công tác hướng nghiệp
Trang 121.2 Các khái niệm cơ bản của đề tài
1.2.1 Quản lý
Quản ỉý vừa là một khoa học, vừa là một nghệ thuật, nó tác động đến một hệ thống hoạt động xã hội từ tầm vĩ mô cho đến tầm vi mô Có nhiều cách hiểu về khái niộm quản lý
Theo định nghĩa kinh điển: Quản lý là tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức [19, tr 1]
Theo cách tiếp cận hiện đại hoạt động quản lý còn được định nghĩa một cách rõ hen: Quản lý là quá trình đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng cách vận dụng và thực hiện một cách sáng tạo các chức năng kế hoạch hoá, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra [19, tr.l]
Từ những khái niệm trên ta có thể kết luận rằng: Quản lý là tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý đến đối tượng quản lý bằng một
hệ thống các giải pháp nhằm thay đổi trạng thái của đối tượng quản lý, thông qua việc thực hiện sáng tạo các chức năng quản lý, nhằm đạt mục tiêu cuối cùng là phục vụ lợi ích của con người
1.2.2 Quản lý giáo dục và quản lý nhà trường
Quản lý giáo dục là tập hợp những giải pháp (tổ chức, phương pháp, cán bộ, giáo dục, kế hoạch hoá, tài chính, cung tiêu ) nhằm bảo đảm sự vận hành bình thường của các cơ quan trong hệ thống giáo dục, bảo đảm sự tiếp tục phát triển và mở rộng hệ thống về mặt số lượng [30, tr.33]
Quản lý nhà trường là quản iý tập thể giáo viên và học sinh, để chính họ lại tự quản lý quá trình dạy học - giáo dục, nhằm tạo ra sản phẩm là nhân cách người lao động mới [30, tr.54]
Quản lý trường học có thể hiểu là một chuỗi tác động hợp lý có mục đích, tự giác, hệ thống, có kế hoạch mang tính tổ chức sư phạm của chủ thể quản lý đến tập thể giáo viên và học sinh, đến những lực lượng giáo viên trong
và ngoài nhà trường nhằm huy động họ cùng hợp tác, phối hợp và tham gia
Trang 13vào mọi hoạt động của nhà trường nhằm làm cho quy trình này vận hành tới việc hoàn thành mục tiêu.
Vậy, người quản lý nhà trường là người phải biết dự báo quy hoạch, kế hoạch hoá sự phát triển của nhà trường, biết cụ thể hoá chiến lược chính sách của cấp trên vào tình hình thực tiễn, đề ra được quyết sách hợp lý cho sự phát triển của nhà trường
1.2.3 Giáo dục hướng nghiệp
Từ giữa thế kỷ 19 đến giữa tkế kỷ 20 hướng nghiệp là một đề tài được nhìn nhận dưới nhiều góc độ khác nhau và chuyên môn khác nhau:
Các nhà tâm lý coi: hướng nghiệp là một hệ thống các biện pháp tâm lý
sư phạm và y học giúp cho thế hệ trẻ chọn nghề trong đó tính đến nhu cầu của
xã hội và năng lực của bản thân
Các nhà kinh tế lại hiểu: hướng nghiệp là mối quan hệ kinh tế giúp cho mỗi thành viên trong xã hội phát triển năng lực lao động và đưa họ vào một lĩnh vực hoạt động cụ thể phù hợp với sự phân bố lực lượng lao động xã hội
Các nhà giáo dục cho rằng: hướng nghiệp là một hình thức hoạt động dạy của thầy và hoạt động học của trò Với tư cách là hoạt động dạy của thầy, hướng nghiệp được coi như là công việc của tập thể giáo viên, tập thể sư phạm, có mục đích giáo dục học sinh trong việc chọn nghề, giúp các em tự quyết định nghề nghiệp tương lai trên cơ sở phân tích khoa học về năng lực, hứng thú của bản thân và nhu cầu nhân lực của các ngành sản xuất trong xã hội [13, tr 22]
Như vậy, hướng nghiệp trong trường phổ thông được thể hiện như một
hệ thống tác động sư phạm nhằm giúp các em học sinh chọn được nghề một cách hợp lý, một cách có cơ sở khoa học
Tuy nhiên, đến cuối thế kỷ 20 khi mà cuộc cách mạng khoa học công nghệ bùng nổ làm cho các ngành nghề thay đổi liên tục thì công tác hướng nghiệp không chỉ diễn ra ở các trường phổ thông mà còn ở ĐH,CĐ, THCN 1ÚC này cách nhìn nhận của một số nhà khoa học đã thay đổi đôi chút: Nếu coi con người là trọng tâm của mọi hoạt động giáo dục - học tập và sản xuất thì phải xem xét lại công tác hướng nghiệp dưới góc độ mới, đó là hướng
Trang 14nghiệp cần phải được tiến hành trong cả quá trình phát triển nghề nghiệp của con người ở tất cả các giai đoạn của nó có tính đến những ảnh hưởng của tiến
bộ khoa học công nghệ
Mặc dù có sự khác nhau đôi chút về đối tượng của công tác hướng nghiệp, song các quan điểm trên cơ bản đều thống nhất coi hướng nghiệp là hoạt động của cơ quan khác nhau nhằm giúp con người chọn nghề phù hợp với nhu cầu xã hội và nguyện vọng của bản thân
1.3 Ý nghĩa của công tác hướng nghiệp cho học sinh trung học phổ thông
1.3.1 Tiếp cận lý luận chung
Theo các nhà khoa học, con người chỉ có thể sáng tạo trong công việc
và đảm bảo năng suất lao động cao hơn khi lao động trở thành niềm vui, niềm hạnh phúc khi họ được quyền chọn một nghề phù hợp với năng lực, sở trường
và hứng thú của bản thân Góp phần xác định sự phù hợp nghề của từng người trong tương lai là nhiệm vụ rất cơ bản của công tác hướng nghiệp Vì vậy, trong hướng nghiệp bao giờ cũng có mối tương quan tổng thể giữa đặc điểm nhân cách với hệ thống những yêu cẩu do từng nghề đặt ra cho con người Sự phù hợp nghề và nhân cách bao giờ cũng bộc lộ ở hai phương diện: năng lực
và phẩm chất trong lao động của nghề nghiệp theo yêu cầu của nghề đo đặt ra Chúng luồn thống nhất với nhau, chuyên hoá lẫn nhau, thiếu một trong hai phương diện đó thì không coi là phù hợp về nghề được
Ở đây, sự phù hợp vể nghề cần được hiểu rông hơn, đó là sự phù hợp giữa cá nhân với nhu cầu xã hội hay nói một cách khác là sự phù hợp giữa đặc điểm nhân cách với hộ thống những yêu cầu do từng nghé đặt ra cho con người Điều này chỉ có thể đạt tốt thông qua hướng nghiệp Đồng tihời mối tương quan giữa giữa hai yếu tố đó chính là đối tượng nghiên cứu của hướng nghiệp Luận điểm này nhấn mạnh nguyên tắc bao trùm trong hướng nghiệp là nguyên tắc giáo dục toàn diện
Theo tác giả E.A.Klimốp trong cuốn “nay đi học mai làm gì?” đã lấy đối tượng lao động để phân loại [ 35, tr.34]
Trang 15Bảng 1: Phân loại nghề theo mối quan hệ Người - Đối tượng lao động
Nhóm nghề Đối tượng lao động chủ
yếu
M ột số ví dụ về các nghề và
chuyên mônNgười-
Thợ rèn, thợ nguội, thợ điện, thợ xây, thợ tiện, thợ máy, lái xe
Người-Người Con người, nhóm tập thể Giáo viên, bác sĩ, bán hàng, y tá, nhà
giáo dục, quản lý,sĩ quan quân đội Người-
Nhạc, hoạ, điêu khắc, thêu, sơn mài, dệt thảm, nhạc sĩ, nhà văn, nhà thơ
Tác giả Nguyễn Văn Hộ và Nguyễn Thị Thanh Huyên trong cuốn
“Hoạt động giáo dục hướng nghiệp và dạy nghề kỹ thuật trong nhà trường P T ’
đã đề xuất 5 cách phân loại nghề: dựa trên đối tượng lao động; dựa trên phương tiện lao động; dựa trên công cụ lao động; dựa trên điểu kiện lao động; dựa trên các thao tác lao động
Tâm lý học hướng nghiệp coi nhân cách bao gồm bốn cấu trúc nhỏ sau:
+ Xu hướng: Gồm những thuộc tính, những phẩm chất, như: hứng thú,
khuynh hướng, nguyện vọng, lý tưỏng, niềm tin, thế giới quan Chúng đóng một vai trò quan trọng là động cơ thúc đẩy con người vươn tới mục đích
đã định Khi tiến hành hướng nghiệp, cần hết sức coi trọng giáo dục xu hướng nghề nghiệp cho học sinh, đặc biệt là hứng thú nghề nghiệp và lý tưỏng nghề nghiệp
Trang 16+ Kinh nghiệm: Bao gồm tổng thể tri thức, kỹ năng, kỹ xảo và thói quen
Xét về phương diện lao động nghề nghiệp thì trong nhân cách của người lao động không thể thiếu tri thức về quá trình công nghệ, những kỹ năng kỹ xảo nghề nghiệp, thói quen lao động cần thiết
+ Những đặc điểm của quá trinh phản ánh tâm lý: Là những đặc điểm
của quá trình cảm giác, tri giác, tư duy, tưởng tượng, trí nhớ K hi hướng nghiệp, cần lưu ý phát hiện và phát triển những đặc điểm này ở mỗi học sinh
để hướng các em đi vào những nghề phù hợp trong tương lai
+ Đặc điểm về khí chất, giới tính, lứa tuổi và bệnh lý: Là những đặc
điểm chịu sự chế ước sinh vật Không thể bỏ qua vai trò của cấu trúc nhân cách này trong quá trình hướng nghiệp, khi hướng dẫn chọn nghề, khi tuyển lao động, nhất thiết phải xét đến đặc điểm tuổi tác, giới tính, bệnh tậ t
Sự phân loại này chỉ là tương đối, sự phù hợp nghề của một con người
cụ thể trong tương lai bao giờ cũng thể hiện ở sự phù hợp đồng bộ những đặc điểm trong cả bốn cấu trúc nhân cách trên với yêu cầu của một nghề nào đó Song công tác hướng nghiệp không phải chỉ dựa vào sự phù hợp ngẫu nhiên,
mà điều quan trọng hơn là tạo ra sự phù hợp nghề Nói cách khác đi, công tác hướng nghiệp phải giành lấy quyền chủ động trong việc điểu chỉnh sự chọn nghề của học sinh, tạo ra rự phù hợp nghề trên cơ sở giáo dục và dạy học, mở
ra khả năng sử dụng hợp lý nguồn lao động của đất nước trong tương lai
Theo quan điểm điều khiển học, bản chất của công tác hướng nghiệp là một hệ thống điều khiển các động cơ chọn nghề của thanh thiếu niên, học sinh
Hệ thống này bao gồm:
- Đối tượng điều khiển: Là các động cơ và định hướng vị trí nghề nghiệp
trong tương lai của học sinh
- Chủ th ể điều khiển: Nhà trường (bao gồm cả các trung tâm kỹ thuật
tổng hợp - hướng nghiệp); gia đình, các cơ quan nhà nước, các tổ chức xã hội, các nhóm không chính thức của học sinh,
- Các phương tiện và phưcmg pháp điều khiển: Công tác hướng nghiệp
trong nhà trường, sự giáo dục định hướng của gia đình, thông tin nghề nghiệp
Trang 17của cơ quan chuyên môn, lác động của các phương tiện thông tin đại chúng,
dư luận nhóm và dư luận xã hội, hoạt động tư vấn nghề nghiệp của các trung
tâm tư vấn nghể nghiệp và công tác quản lý các hoạt động hướng nghiệp của
các trường
- Kết quả điều khiển: Sự sẵn sàng tâm lý đi vào lao động nghề nghiệp
của học sinh Học sinh có khả năng chọn nghề phù hợp với đòi hỏi của nghề,
đúng với khả năng nguyện vọng bản thân và hợp với yêu cầu xã hội
Ngoài ra, tham gia vào hệ thống này còn có các kênh thông tin và liên
hệ ngược về thị trường lao động, nhu cầu nhân lực của nền kinh tế quốc dân
cũng như thông tin về hiệu quả của những tác động hướng nghiệp [28, tr 150]
Sơ đồ hệ thống điều khiển các động cơ chọn nghề có thể được mô hình
hoá như sau:
Sơ đ ồ 1: H ệ th ố n g đ iều k h iể n đ ộ n g cơ c h ọ n n g h ề
+ C: Chủ thể điều khiển
+ P: Phương pháp, phương tiện điều khiển
+ Đ: Đối tượng điều khiển
+ K: Kết quả điéu khiển
+ T: Thông tin nhu cầu của thị trường lao động
+ N: Các nghiên cứu xã hội học và kết quả thống kê i i 1
i i r
K
1.3.2 Tiếp cận lý luận quản lý
Dưới góc độ tâm lý học, hướng nghiệp được hiểu là góp phần xác định
sự phù hợp về nghề của từng con người cụ thể ưong tương lai Vì vậy, hướng
nghiệp phải nghiên cứu mối tương quan giữa con người và nghề, giữa những
đặc điểm nhân cách với hệ thống những yêu cầu do từng nghề đặt ra cho con
người trong lao động nghề nghiệp của họ
Trang 18Hướng nghiệp trong nhà trường phổ thông là một trong những hình thức hoạt động thông qua việc học tập của học sinh để học sinh phải lĩnh hội được những thông tin nghề nghiệp trong xã hội, đặc biệt là nghề nghiệp ở địa phương, học sinh phải nắm yêu cầu của từng nghề cụ thể mà mình muốn chọn trong tương lai Học sinh phải có kỹ năng tự đối chiếu những phẩm chất tâm sinh lý của mình với hệ thống yêu cầu của nghề đang đặt ra cho ngưcd lao động Công tác hướng nghiệp trong trường phổ thông chỉ là một bộ phận của công tác hướng nghiệp của toàn xã hội Vì vậy, công tác hướng nghiệp trong nhà trường phải thống nhất với công tác hướng nghiệp trong xã hội Hai bộ phận này có quan hệ hết sức mật thiết với nhau, bổ sung lẫn nhau, hỗ trợ nhau Công tác hướng nghiệp không thể có hiệu quả nếu nhà trường tiến hành một cách biệt lập và ngược lại.
Như vậy, để công tác hướng nghiệp cho học sinh phổ thông được thực hiện tốt đạt được mục đích phân luồng hợp lý học sinh sau khi tốt nghiệp tạo nguồn nhân lực phù hợp với sự phát triển kinh tế xã hội cần phải có những biện pháp kịp thời đồng bộ và thoả đáng cho từng khâu của công tác này Trên
cơ sở nghiên cứu các vấn đề hướng nghiệp ta có thể hiểu bản chất của quản lý công tác hướng nghiệp là quản lý một hệ thống điều khiển các động cơ chọn nghề của thanh thiếu niên, học sinh bao gồm các nội dung sau:
+ K ế hoạch hoá trong việc tổ chức thực hiện hướng nghiệp + Quản lý nội dung chương trình hướng nghiệp
+ Quản lý đội ngũ giáo viên làm nhiệm vụ hướng nghiệp + Quản lý cơ sở vật chất phục vụ cho hướng nghiệp
Hay nói cách khác hệ thống điều khiển này bao gồm:
+ Quản lý đối tượng điều khiển + Quản lý chủ thể điều khiển + Quản lý các phương tiện và phương pháp điều khiển + Quản lý kết quả điều khiển
Trang 191.4 V ai tr ò c ủ a cô n g tác h ư ớ n g n g h iệ p c h o h ọ c sin h tr u n g h ọ c p h ổ th ô n g
1.4.1 Hướng nghiệp cho học sinh trung học p h ổ thông bước khởi đầu quan
trọng đ ểp h á t triển nguồn nhân lực
Do đặc thù của hoàn cảnh lịch sử và phát triển kinh tế xã hội của Việt Nam, một quốc gia đang phát triển, lại đang chuyển đổi mô hình quản lý kinh
tế sang cơ chế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, chúng ta chưa có đầy đủ điều kiện để tiến hành một cách chính quy và có hệ thống Vì thế, trong quá trình tiến hành công nghiệp hoá - hiện đại hoá trên nên kinh tế nhiều thành phần thì các công nghệ hiện đại sẽ từng bước được áp đụng trong lĩnh vực sản xuất sao cho phù hợp với sự phát triển kinh tế - xã hội, cho nên việc chuyển đổi cơ cấu kinh tế lao động ở nước ta hiện nay cần được tiến hành trên
cơ sở nắm vững những hướng đi trong phát triển kinh tế đất nước cụ thể là:
+ Phải thay đổi cơ cấu trình độ lao động: Theo thống kê, tỷ lệ lao động có
trình độ đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp và công nhân kỹ thuật là 1,33/ 1 /4 / 17 năm 2000 thì những năm tới phải đổi tỷ lệ đó là: 1 đại học/ 4 trung học chuyên nghiệp/ 20 công nhân kỹ thuật lành nghề/ 60 công nhân kỹ thuật bán lành nghề/ 15 lao động đơn giản
+ Phải giảm tỷ lệ lao động nông nghiệp: trong cơ cấu lao động theo nghành
năm 1993 lao động nông nghiệp chiếm 71%, công nghiệp 12%, dịch vụ 17%, thì kế hoạch năm 2010 tỷ lệ nông nghiệp giảm xuống chỉ còn 50%
+ Phải cân đối cơ cấu lao động theo vùng miền, lãnh thổ Ví dụ ở vùng châu thổ sông Hồng 20,5% trong khi đó ở vùng Tây Nguyên chỉ có 4%.
Theo hướng này phải tiếp tục đưa nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp lên trình độ mới bằng cách ứng dụng những tiến bộ khoa học và công nghệ mới, nhất là công nghệ sinh học ( lai tạo, cấy ghép g e n ) đẩy mạnh thuỷ lợi hoá, cơ giới hoá, điện khí hoá, phát triển công nghiệp, dịch vụ phấn đấu đến năm 2020 nước ta trở thành nước công nghiệp Khi đó tỷ trọng lao động nông nghiệp không được vượt quá 30% Do vậy, vấn đề dạy nghề phi nông trở nên rất quan trọng và cấp thiết ở các vùng nông thôn [20, tr 22]
Trang 201.4.2 Mục tiêu của công tác hướng nghiệp
Công tác hướng nghiệp cơ bản nhằm đạt được hai mục tiêu:
1.4.2.1 Mục tiêu thứ nhất
Trên bình diện cá nhân, hướng nghiệp giúp cho học sinh chọn nghề phù hợp với nhu cầu của xã hội, đồng thòi thoả mãn tối đa nguyện vọng, thích hợp
với năng lực, sở trường và điều kiện tâm sinh lý của mỗi cá nhân để họ phát
triển đến đỉnh cao nghề nghiệp
1.4.2.2 Mục tiêu thứ hai
Trên bình diện vĩ mô toàn xã hội, hướng nghiệp nhằm góp phần phân
bổ hợp lý và sử dụng có hiệu quả nhất nguồn nhân lực, vốn quý của đất nước
để phục vụ cho sự phát triển kinh tế- xã hội, mang lại sự phồn vinh cho đất nước [22, tr 33]
Để đạt được những mục tiêu đó, việc lựa chọn nghề nghiệp của mỗi cá nhân cần được tiến hành hết sức nghiêm túc và có trách nhiệm Nhiều nhà khoa học cho rằng; con người chỉ có thể sáng tạo trong công việc khi lao động trở thành niềm vui, niềm hạnh phúc đối với họ, khi họ đã được quyền chọn nghề, chọn việc phù hợp với năng lực, sở trường và hứng thú của bản thân mình
Tuy nhiên, việc lựa chọn nghề nghiệp phù hợp không đơn giản bởi vì thế giới nghề nghiệp vô cùng phong phú, đa dạng và luôn biến động Chính vì vậy công tác hướng nghiệp cho học sinh ngay từ trên ghế nhà trường càng ưở nên cần thiết và đáng quan tâm, để chuẩn bị tốt cho nguồn nhân lực trong thời
kỳ công nghiệp hoá - hiện đại hoá và hội nhập kinh tế thế giới, nhằm góp phần đưa đất nước phát triển bền vững theo định hướng xã hội chủ nghĩa
1.4.3 Nhiệm vụ và nội dung của công tác hướng nghiệp
Nhiệm vụ của công tác hướng nghiệp được ghi trong quyết định 126/CP
về “Công tác hướng nghiệp ở các trường phổ thông” gồm:
+ Giáo dục thái độ lao động đúng đắn
+ Tổ chức cho học sinh thực tập và làm quen với một số nghề
+ Tim hiểu năng khiếu, khuynh hướng nghề nghiệp của từng học sinh
để khuyến khích, hướng dẫn, bồi dưỡng khả năng nghề nghiệp thích hợp nhất
Trang 21Hoạt động hướng nghiệp có 3 nội dung có liên quan chặt chẽ với nhau.Trong đó nội dung định hướng nghề và tư vấn nghẻ là vô cùng quan trọng bởi lẽ nó giúp phát hiện được sự phù hợp nghề thực sự cho học sinh THPT Tuy nhiên ba nội dung trên có liên quan chặt chẽ với nhau và hỗ trợ lẫn nhau, nếu không làm tốt nội dung nào sẽ dẫn đến kết quả thấp trong giáo dục hướng nghiệp.
+ Định hướng nghề + Tư vấn nghề + Tuyển chọn nghề
S ơ đ ồ 2: Nội d u n g c ủ a n h iệ m v ụ h ư ớ n g n g h iệ p
- Thông tin về hệ thống trường đào tạo và loại hình đào tạo
- Thông tin về thị trường lao động; Thông tin về nhu cầu nhân lực các loại của các vùng kinh tế trọng điểm, các khu chế xuất và các loại doanh nghiệp và các thành phần kinh tế khác (đặc biệt khi Việt Nam ra nhập WTO)
Trang 22Nhiệm vụ của giáo dục và tuyên truyền nghề là tạo dư luận tích cực đối với các nghề trong lĩnh vực công nghiệp, nông lâm ngư nghiệp, giao thông vận tải,
y tế, văn hoá, giáo dục kích thích vào tư tưởng tình cảm, nhận thức của học sinh giúp học sinh có hứng thú vào việc học một nghề cụ thể nào đó sau khi tốt nghiệp THPT
Ị 4.3.2 T ư vấn nghề
Tư vấn nghề thực chất là điẻu chỉnh động cơ chọn nghề cho học sinh THPT Tư vấn nghề được thể hiện qua 2 dạng: tư vấn sơ bộ và tư vấn chuyên sâu
* Tư vấn sơ bộ: Do chính các thầy cô giáo thông qua các bài giảng, qua sự trao
đổi thầy - trò, trò - thầy giúp các em nắm bắt được những yêu cầu đòi hỏi của một số nghề, của một số trường hoặc nhu cầu nhân lực ở địa phương, về năng lực của học sinh để đưa ra những lời khuyên hợp lý cho học sinh Qua sự trao đổi này các em sẽ tự trả lời những câu hỏi: Em có muốn học nghề đó không?
Em có khả năng làm nghề đó không? Xã hội, địa phương có nhu cầu vê ngành nghề gì?
* Tư vấn chuyên sâu: Đây là tư vấn đòi hỏi phải có đội ngũ chuyên sâu gồm:
Các nhà tâm lý học, các nhà giáo dục học, các bác sĩ được huấn luyện và có kinh nghiệm với các kiến thức về nghề, vẻ nền kinh tế và nhu cầu nhân lực, nhân cách và tâm sinh lý của học sinh Đồng thời đội ngũ này phải biết điều tra, đánh giá về nhân cách, trí tuệ và hệ tâm lý vận động của học sinh Tư vấn chuyên sâu đòi hỏi phải có cả những thiết bị kỹ thuật phù hợp
1.4.3.3 Tuyển chọn nghề
Tuyển chọn nghề giúp các em lựa chọn một nghề nghiệp phù hợp nhất trên cơ sở:
- Những hiểu biết về đặc điểm nhân cách và tâm sinh lý của bản thân
- Những hiểu biết về thế gới nghề nghiệp, những yêu cầu đòi hỏi của nghề đối với người lao động
- Những hiểu biết về thị trường lao động trong nước và địa phương cũngnhư nhu cầu nhân lực của xã hội ■ * -A r t y s w
ĐA) H Ọ C Q U O C GIA HÀ Nv TRUNG TÀM THÔNG TIN THƯ VIÉK
Trang 23Theo bộ sách giáo dục hướng nghiệp THPT (xem phần phụ lục 5), học sinh THPT sau khi được hướng nghiệp các em sẽ tự mình trả lời được các câu hỏi khi lựa chọn nghề nghiệp tương lai của mình:
1 Em có thích nghể đó không?
2 Em có thể làm nghề đó không?
3 Nghề đó có còn cần cho xã hội không?
Trong trường THPT, giáo dục hướng nghiệp thường được tiến hành định hướng và tư vấn nghề nghiệp đồng thời góp một phần nào đó trong việc tuyển chọn nghề nghiệp dưới tác động của các lực lượng xã hội, lấy sự chỉ đạo của hệ thống sư phạm làm trung tâm, để khi tốt nghiệp ra trường các em có thể lựa chọn cho mình một cách có ý thức, có cơ sở khoa học nghề nghiệp cho tương lai
Theo quan điểm mới, nội dung của công tác hướng nghiệp gồm bốnvấn đề:
- Làm cho học sinh có được những hiểu biết về thế giới nghề nghiộp và nội dung hoạt động của một số nghề và những yêu cẩu của nghề đối với người lao động
- Nghiên cứu những đặc điểm tâm sinh lý của học sinh
- Giúp học sinh lựa chọn nghề
il I - Giúp học sinh nắm vững nghề và hình thành khả năng thích ứng nghề
1.5 N h ữ n g n h â n t ố ả n h h ư ở n g đ ến h ư ớ n g n g h iệ p ch o h ọ c sin h tr u n g học
p h ổ th ô n g
Trong hội thảo Đối thoại Pháp Á “Về hướng đi cho giáo dục hướng nghiệp Việt Nam” PGS.TS Nguyễn Đức Trí đã gửi gắm những trăn trở của mình trong tham luận “Một số vấn đề về hướng nghiệp” đã viết: Giáo dục hướng nghiệp hiện nay chưa được các cấp quản lý giáo dục và các trường học quan tâm đúng mức, còn có các địa phương và trường học chưa thực hiện đầy
đủ các nội dung giáo dục hướng nghiệp, chất lượng giáo dục hướng nghiệp chưa đáp ứng được yêu cầu của học sinh và xã hội, học sinh cuối các cấp học, bậc học chưa được chuẩn bị chu đáo để lựa chọn nghề nghiệp, lựa chọn ngành học phù hợp với bản thân và yêu cầu của xã hội [28, tr.143]
Trang 24Đúng vậy, Công tác hướng nghiệp ở các trường phổ thông chưa tốt do rất nhiều yêu tố khách quan cũng như chủ quan, như: quan niệm nghề nghiệp của gia đình, của xã hội, ảnh hưởng của chủ nghĩa bằng cấp,
1.5.1 Quan niệm của xã hội vê nghề nghiệp
ỉ 5.1.1 Quan niệm của gia đình vê' nghề nghiệp
Theo khảo sát 100 học sinh lớp 12 THPT trường Nguyễn Tất Thành về mức độ ảnh hưởng của 3 yếu tố: gia đình, nhà trường và bản thân về việc lựa chọn nghề sau khi học xong ta thấy yếu tố về gia đình ảnh hưởng lớn đến sự lựa chọn nghề nghiệp của các em
□ 1
■ 2
□ 3
m 1:15 Học sinh lựa chọn theo sự khuyên bảo của thầy cô giáo
I 2: 65 Học sinh lựa chọn theo sở thích của bản thân
□ 3: 20 Học sinh lựa chọn theo sự khuyên bảo của gia đình
B iểu đ ồ 1: N h ữ n g yếu tô ả n h h ư ở n g tói việc lự a c h ọ n n g h ề c ủ a học sin h
Văn hoá truyẻn thống của Việt Nam đóng một vai trò lớn trong quá trình lựa chọn nghề nghiệp của học sinh THPT So với thế hệ con cháu người lớn thường có nhiều ưu thế hơn, có nhiều kinh nghiệm, có vị thế nhất định trong xã hội, có tích luỹ về kinh tế, tài chính, quan hệ xã hội, kỹ năng và chuyên môn .Giữa các thành viên trong gia đình còn có các quan hệ tâm lý, tình cảm tạo điều kiên cho việc trao đổi giữa các thế hệ về vấn đề hướng nghiệp Mặt khác, các quyết định liên quan đến nghề nghiệp của thế hệ con cháu lại thường được diễn ra ở giai đoạn khi chúng còn khá trẻ, chưa tích luỹ được nhiều và cũng chưa khẳng định được mình do đó các em thường có khuynh hướng lệ thuộc nhất định vào gia đình
Truyền thống văn hoá, các quy ước ngầm ở Việt Nam về trách nhiệm của thế hệ cha ông trong việc quan tâm, chăm sóc thế hệ con cháu đã có tác động can thiệp ít hoặc nhiều vào các quyết định, dự định vể nghề nghiệp, học
Trang 25hành của các em sau này Nhìn vào sơ đồ ta thấy rằng yếu tố gia đình ảnh hưởng rất lớn đến các em trong việc lựa chọn ngể nghiệp tương lai.
Vậy, những người làm công tác hướng nghiệp phải làm sao cho các phụ huynh học sinh nhận thức được ý nghĩa, tầm quan trọng trong việc lựa chọn nghề nghiệp có cơ sở khoa học để họ cùng cộng tác với nhà trường hướng được cho học sinh theo nghề gì thích hợp với môi trường, xã hội đầy biến đổi, phù hợp với bản thản các em
ỉ 5.1.2 Quan niệm của x ã hội
Đối với các cá nhân, các quan niệm xã hội tác động, qui định quá trình, cách thức và mục tiêu xã hội hoá nói chung và xã hội hoá về định hướng nghề nghiệp nói riêng Một loạt các quan niệm thế nào là nghề? không phải là nghề? Thế nào là thành đạt? Thế nào là không thành đạt? Thế nào là nghề cao quý? Thế nào là nghê tầm thường? Thêm vào đó là một bảng phân loại tự động trong quan niệm của xã hội về nghề nghiệp, tuổi, giới tính, dân tộc tôn giáo, niềm tin đó là những yếu tố khách quan Bên cạnh đó các quan niệm thế nào
là tính thực tiễn thức thòi, thế nào là khôn ngoan, thế nào là phù hợp, thế nào
là không phù hợp trong việc lựa chọn nghề nghiệp Chính những yếu tố trên làm cho học sinh thiếu tự tin, rối nhiễu thông tin và có thể dẫn đến việc ra quyết định ihiếu phù hợp ảnh hưởng bất lợi đến sự phát triển và quá trình
xã hội hoá của các em
Vì vậy, để giúp học sinh chọn được một nghề một cách hợp lý và có khoa học, nhà trường không chỉ tác động trực tiếp đến các em mà còn phải hướng dẫn cho phụ huynh học sinh để giúp con cái họ chọn nghề
Ỉ.5.Ỉ.3 Chủ nghĩa bằng cấp
Chủ nghĩa bằng cấp cũng là một nguyên nhân tác động đến công tác hướng nghiệp Sức ép của chủ nghĩa bằng cấp có nguồn gốc từ trong lịch sử giáo dục truyền thống trọng học, hiếu học của nhân dân ta Có nhiều ý kiến cho rằng bây giờ là thời đại của bằng cấp Người ta đánh giá năng lực, khả năng của một con người dựa trên những tấm bằng mà người đó có Người có bằng đại học thì hơn người có bằng cao đẳng, trung học chuyên nghiệp Người
Trang 26có bằng tiến sĩ thì hơn người có bằng thạc sĩ, đại học và trong tiềm thức người
ta không tôn trọng đúng mức những người lao động, công nhân, nông dân mặc
dù những con người này đã trực tiếp sản xuất ra của cải vật chất cho xã hội Quan niệm xã hội và giáo dục truyền thống đã ăn sâu vào tâm thức của nhiều người Việt về mặt tâm lý, văn hoá là tinh thần trọng người có học và đặc biệt
là người có học vị cao (Sĩ nông, công thương); (Nhất sĩ, nhì nông); ( Làm thầy nuôi thợ, làm thợ nuôi miệng); (Bái tổ vinh quy) Chính những điều này
đã ảnh hưởng đến việc lựa chọn nghề nghiệp của các em học sinh THPT (khoảng 89% học sinh tốt nghiệp THPT muốn thi vào cao đẳng, đại học)
Bên cạnh đó bản thân người lao động nhiều khi vẫn còn tự ti, thiếu tự tin vào những việc mình đang làm nên nhiều khi không phát huy được hết khả năng của mình
Chủ nghĩa bằng cấp là một vấn đề phức tạp vừa có lý vừa bất hợp lý song là một vấn đề tồn tại khách quan trong xã hội ảnh hưởng không nhỏ đến công tác hướng nghiệp
1.5.2 Sự phát triển kính tế - xã hội
Đây là nhân tố ảnh hưởng lớn đến công tác hướng nghiệp trong trường phổ thông, sự đổi mới này vừa có tác động khách quan vừa có tác động chủ quan vào công tác hướng nghiệp
Về mặt chủ quan, đó là các chủ trương đổi mới kinh tế xã hội của đảng
và nhà nước trong công cuộc công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước và quá trình gia nhập tổ chức thương mại thế giới WTO, sự ảnh hưởng của sự chuyển đổi sang cơ chế thị trường, của sự giao lưu với thế giới bên ngoài, sự hoà nhập,
sự tác động của thời đại, của thị trường thế giới Cơ chế thị trường đã tác động mạnh mẽ đến đội ngũ lao động (nguồn nhân lực) Sức lao động trở thành hàng hoá vì thế cho nên có sự cạnh tranh về thị trường sức lao động và việc làm Sự cạch tranh gay gắt trong mục tiêu nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả của nhiều thành phần kinh tế trong cơ chế thị trường đòi hỏi người lao động phải hết sức năng động, sáng tạo để đáp ứng được với nhu cầu của thị trường đầy ắp những biến động này Người lao động lúc này không chỉ cần có kiến
Trang 27thức và kỹ năng lao động nghề nghiệp mà còn phải có tư duy kinh tế, phải biết cách làm ăn và phải tự tìm lấy, tạo ra công ăn việc làm.
Trong sự nghiệp công nghiệp hoá hiộn đại hoá đất nước với vấn đề then chốt là chuyển giao công nghệ, chuyển từ lao động giản đơn sang lao động với những phương tiện hiện đại và công nghệ mới như công nghệ điện tử, công nghệ thông tin, công nghệ sinh học, công nghệ vật liệu mới Sự liên kết giữa các lĩnh vực công nghệ tạo thành một hệ thống công nghệ hiện đại tạo ra nhiều ngành nghề mới trong xã hội, giúp con người có nhiều khả năng lựa chọn ngành nghề hơn Sự chuyển đổi cơ cấu kinh tế kéo theo sự chuyển đổi cơ cấu lao động đặc biệt ở các vùng nông thôn các nghành nghề phi nông sẽ được phục hồi và mở mang để đảm bảo tỷ lệ lao động nông nghiệp từ 71 % năm
1993 sẽ giảm còn 30% năm 2020 theo kế hoạch Chính vì vậy, việc hướng nghiệp và dạy nghê phi nông trở nên vô cùng quan trọng và cấp thiết ở các vùng nông thôn
Với nén kinh tế nhiều thành phần làm cho nhu cầu của thị trường lao động thay đổi nhanh chóng cho nên công tác hướng nghiệp phải thực hiện nhanh nhạy và linh hoạt sao cho nắm bắt và đáp ứng được sự thay đổi này ở mức cao nhất
1.5.3 Đặc trưng hệ thống giáo dục
Mặc dù trong văn kiện Đại hội Đảng IX, Đảng ta đã nhấn mạnh “coi trọng công tác hướng nghiệp và phân luồng học sinh trung học, chuẩn bị cho thanh thiếu niên đi vào lao động nghề nghiệp”, nhưng trong thực tế dường như giáo dục chỉ tập trung vào một luồng để học sinh học lên bậc đại học, cao đẳng Luồng vào học nghề coi như ngõ cụt vì tuyển sinh học nghề chỉ được tiến hành chủ yếu từ sau cấp học THCS nên học sinh tốt nghiệp nghề không
có xu hướng học lên vì chưa tốt nghiệp THPT Trong khi học sinh tốt nghiệp THPT ra trường hầu như chỉ được trang bị kiến thức về văn hoá để tiếp tục học lên ở bậc cao hơn chứ không có được kỹ năng tối thiểu để ỉao động Tình trạng đáng báo động ở Việt Nam hiện nay là hơn 1.000.000 thí sinh dự thi đại học trong đó chỉ có 200.000 đỗ còn 800.000 trượt Vậy, số học sinh trượt này sẽ ra
Trang 28sao, đó chính là hồi chuông cảnh tỉnh toàn xã hội Để tình trạng trên xảy ra chứng tỏ rằng hệ thống giáo dục nước ta có nhiều bất cập, hệ dạy nghề chưa được quan tâm thoả đáng Công tác phân luồng học sinh sau khi tốt nghiệp THPT làm chưa tốt Nhận thức của nhiều học sinh chưa được minh bạch, sâu sắc nên cứ tốt nghiệp THPT là dứt khoát phải thi vào đại học, cao đẳng Vì vậy, công tác hướng nghiệp phải làm thế nào để trước khi rời trường phổ thông các
em phải có được những kỹ năng cơ bản về một số nghề và đinh hướng được bước đi tiếp theo của mình trong việc lựa chọn nghề nghiệp tương lai
Tóm lại, công tác hướng nghiệp cần phải khắc phục được những khó khàn nêu trên bằng sự nỗ ỉực của các cấp, của mọi gia đình và của toàn xã hội
để có thể thực hiện được nhiệm vụ của mình là góp phần phân luồng học sinh phổ thông tạo bước khởi đầu quan trọng để phát triển nguồn nhân lực cho đất nước
1.6 Q u ả n lý c ủ a H iệ u trư ở n g đối với cô n g tá c h ư ớ n g n g h iệ p c h o h ọ c sin h
tạ i c ác trư ờ n g tr u n g h ọ c p h ổ th ô n g
1.6.1 Chức năng quản lý của Hiệu trưởng
Theo Peter Prucker người quản lý phải giải quyết 3 vấn đề để tổ chức phát triển: [ 16, tr 18]
+ Làm rõ sứ mệnh đặc thù của tổ chức trong đời sống xã hội
+ Tạo ra sức hấp dẫn cho công việc, giúp cho các thành viên làm việc
có hiệu quả
+ Đánh giá ảnh hưởng và trách nhiệm của tổ chức đối với xã hội
Vậy, người quản lý nhà trường (Hiệu trưởng) là ngưcd phải nhận thức được 3 vấn đề trên tức là phải biết dự báo quy hoạch, kế hoạch hoá sự phát triển của nhà trường, biết cụ thể hoá chiến lược chính sách của cấp trên vào tình hình thực tiễn, đề ra được quyết sách hợp lý cho sự phát triển của nhà trường Các chức năng này phản ánh nội dung của quá trình quản lý tức là giai đoạn k ế tiếp nhau tạo thành một chu trình quản lý Theo GS.TS Phạm Minh Hạc thì: các chức năng quản lý là những hình thái biểu hiện sự tác động có mục đích đến tập thể người
Trang 29Hiệu trưởng phải nắm rõ và thực hiện các chức năng quản lý cơ bản, đó
là lập kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra đánh giá, trong đó chức năng tổ chức giữ một vai trò quan trọng mục tiêu Tổ chức là phối hợp các tác động bộ phận lại với nhau làm cho chúng tạo nên một tác động tích hợp nhằm đạt hiệu quả lớn hơn tổng hiệu quả các tác động bộ phận Hiệu trưởng hình thành các
cơ chế quản lý bao gồm cơ cấu tổ chức và hệ thống văn bản pháp quy để vận hành cơ cấu tổ chức đó Vậy, người Hiệu trưởng cần hình thành các bộ phận nhân sự cơ bản :
- Nòng cốt hoạt động: giáo viên, cán bộ công nhân viên, học sinh
- Nhóm cán bộ đứng đầu nhà trường: Hiệu trưởng, Hiệu phó
- Tuyến trung gian: Các tổ trưởng tổ bộ môn
- Bộ phận chức năng: Gồm những người quản lý có trách nhiệm vạch
kế hoạch, huấn luyện, thiết kế và thực hiện tiêu chuẩn hoá nêu trên
Giai đoạn vận hành cơ cấu tổ chức quản lý, Hiệu trưởng phải nắm rõ được những bước cơ bản sau:
- Tiếp nhận nguồn dự trữ: Tiếp nhận học sinh mới, giáo viên mới, cơ sở vật chất kĩ thuật được đầu tư thôm, kinh phí tổ chức việc tận dụng nguồn lực
dự trữ này vào việc thực hiện kế hoạch
- Đưa nội dung kế hoạch đến những người thực hiện
- Xác lập cơ chế phối hợp, cộng tác giữa các cá nhân các bộ phận
- Nâng cao trình độ nghiệp vụ, cải thiện đời sống của cán bộ - giáo viên.Đây là nhiệm vụ làm thường xuyên từ đầu đến cuối của chu trình quản
lý của Hiệu trưởng nhằm phát triển đội ngũ giáo viên, làm giàu lên để tổ chức vững mạnh lên
ì 6.2 Các nội dung quản lý của Hiệu trưởng đối với công tác hướng nghiệp
Để làm tốt công tác hướng nghiệp trong trường trung học phổ thông đáp úng được những nhiệm vụ trong giai đoạn mới Hiệu trưởng các trường THPT phải:
ỉ.6.2.1 K ế hoạch hoá công tác hướng nghiệp
+ Lập kế hoạch tuyên truyền để huy động, vận động, thu hút học sinhtrường để được hướng nghiệp
Trang 30+ Lập kế hoạch phối kết hợp với các lực lượng trong và ngoài trường để tạo điều kiện cho công tác hướng nghiệp trong nhà trường được đẩy mạnh.
+ Lập kế hoạch phát triển đội ngũ cán bộ, giáo viên cho chuyên môn làm công tác hướng nghiệp
+ Lập kế hoạch đầu tư trang thiết bị, tài liệu, kinh phí cho công tác hướng nghiệp, nhằm từng bước đáp ứng yêu cầu phân luồng hợp lý học sinh tốt nghiệp bậc trung học
1.6.2.2 T ổ chức công tác hướng nghiệp
Khi cán bộ hướng nghiệp lập xong kế hoạch, Hiệu trưởng xem và xét duyệt Nếu khả thi Hiệu trưởng yêu cầu họ phải chuyển hoá những ý tưởng đó thành hiện thực Một tổ chức lành mạnh sẽ có ý nghĩa quyết định đối với sự chuyển hoá như thế Tổ chức công tác hướng nghiệp là quá trình hình thành nên cấu trúc các quan hệ giữa các thành viên, giữa các bộ phận một tổ chức nhằm làm cho họ thực hiện thành công các kế hoạch và đạt được những mục tiêu tổng thể của tổ chức Tổ chức là quá trình sắp xếp, liên kết giữa các yếu tố công việc - con người - bộ máy sao cho phù hợp ăn khớp với nhau, cả trong nội bộ từng yếu tố nhằm lựa chọn quyết định phương án cụ thể, hợp lý Quá trình liên kết phối hợp giữa các bộ phận, yếu tố thành một hệ thống hoàn chỉnh theo quy luật gắn bó hữu cơ giữa chúng
Nhờ việc tổ chức có hiệu quả, Hiệu trưởng có thể điều phối tốt hơn các nguồn vật lực, nhân lực Thành tựu của nhà trường phụ thuộc rất nhiều vào năng lực quản lý, năng lực sử dụng các nguồn lực của người Hiệu trưởng Quá trình tổ chức sẽ lôi cuốn việc hình thành, xây dựng các bộ phận, các phòng ban cùng các công việc của chúng Và sau đó là vấn đề nhân sự, cán bộ sẽ tiếp nối ngay sau các chức năng k ế hoạch hoá và tổ chức
Để nâng cao chất lượng giáo dục hướng nghiệp cho học sinh phổ thông,
Bộ Giáo dục và Đào tạo yêu cầu các Sở Giáo dục và Đào tạo, các trường phổ thông, các trung tâm kỹ thuật tổng hợp - hướng nghiệp thực hiện các chỉ thị số 33/2003/CT - Bộ GD&ĐT, chỉ thị số 22/2005/ c r - Bộ GD&ĐT, V/v số 8262/
Bộ GD&ĐT, Hiệu trưởng dựa trên quyết định 126/CP, Nghị quyết 40/2000/
Trang 31Ọ H 10, Nghị quyết đại hội Đảng lần thứ 9 và Chỉ thị 14/ 2001/CT của Thủ tướng chính Phủ về đổi mới chương trình giáo dục phổ thông, đội ngũ cán bộ quản lý
và giáo viên cần nâng cao hơn nữa nhận thức về ý nghĩa, mục đích, nội dung và những biện pháp thực hiện giáo dục hướng nghiệp cho học sinh phổ thông
ỉ 6.2.3 Chỉ đạo công tác hướng nghiệp
Chỉ đạo công tác hướng nghiệp là việc theo dõi, giám sát các thành quả của công tác hướng nghiệp và tiến hành các bước hoạt động sửa chữa, uốn nắn nếu cần thiết Chỉ đạo công tác hướng nghiệp là chức năng quan trọng của cán
bộ quản lỷ nói chung và của Hiệu trưởng nói riêng, lập k ế hoạch phân công, phân nhiệm các cán bộ, giáo viên của nhà trường làm công tác hướng nghiệp, chỉ đạo công tác chuyên môn và kiểm tra đánh giá chất lượng của công tác hướng nghiệp và dự kiến điều chỉnh kế hoạch nếu có vấn đề khó khăn đột xuất Khi thực hiện các chức năng này, người Hiệu trưởng cũng như các cán bộ quản lý nhà trường cần chú ý đến nguyên tắc, tính mục đích và hệ thống các văn bản chỉ đạo của ngành và của địa phương Hiệu trưởng nhà trường thực hiện chức năng chỉ đạo công việc của nhà trường với tư cách người quản lý nhà nước, người trụ cột của tập thể sư phạm và của mọi hoạt động giáo dục, người chỉ huy dàn nhạc Hiệu trưởng thực hiện chức năng điều khiển bằng mệnh lệnh, chỉ thị hoặc tham gia Điều đó có nghĩa là Hiệu trưởng sử dụng năng lực của cán bộ, giáo viên để khuyến khích họ thực hiện Trong quá trình tham gia Hiệu trưởng sẽ phát hiện được những điểm tốt hoặc chưa tốt để thực hiện chức năng kế tiếp là kiểm tra hay điều chỉnh kế hoạch
1.62.4 Kiểm tra đánh giá công tác hướng nghiệp
Kiểm tra đánh giá công tác hướng nghiệp là việc xác nhận xem kết quả hoạt động có phù hợp với những yêu cầu, mục tiêu đặt ra hay không
Trong năm học Hiệu trưởng có kế hoạch kiểm tra, đánh giá công tác hướng nghiệp theo kế hoạch của công tác thanh kiểm tra Việc kiểm ưa ngoài
kế hoạch chỉ xảy ra khi có vẩn đề Qua đó Hiệu trưởng nhà trường sẽ đề ra những biện pháp chỉ đạo, xử lý, uốn nắn những sai lệch
Trang 32Tóm lại, Hiệu trưởng phải làm được bốn việc trên sẽ giải quyết được những vấn đề hướng nghiệp cho học sinh các trường THPT hiện nay.
1.7 K in h n g h iệm cô n g tá c h ư ớ n g n g h iệ p c ủ a m ộ t số nư ớ c tr ê n t h ế giới
1.7.1 Tại liên bang Nga
Trải qua nhiều biến động của lịch sử, nền giáo dục của Nga vẫn được đánh giá là một nền giáo dục hàng đầu thế giới Ngày nay, nển giáo dục của Nga đang cải cách, hoàn thiện để phù hợp với xu thế thời đại và những đòi hỏi mới của khoa học kỹ thuật Các nhà giáo dục của Nga vẫn kế thừa và tiếp tục phát triển trong điểu kiện hiện đại mặt lý luận về vai trò và ý nghĩa của giáo dục tổng hợp quán triệt vào dạy các môn khoa học của trường phổ thông đồng thời vào giảng dạy môn công nghệ và giáo dục lao động Chương trình giáo dục công nghệ học trường phổ thông bao gồm những nội dung có tính giáo dục kỹ thuật tổng hợp không nhằm đào tạo một nghề cụ thể mà theo nhóm công nghệ học, gắn sản xuất với kinh doanh, mang tính hướng nghiệp Thông qua đó học sinh được làm quen, thử sức với từng loại hình sản xuất trong xây dựng đồng thời chú ý vai trò của công nghệ thông tin với nền kinh tế hiện đại
Tại Nga công tác hướng nghiệp gồm 3 khâu: định hướng nghề nghiệp,
Tư vấn nghề và tuyển chọn nghề Hướng nghiệp có nhiệm vụ chuẩn bị về tư tưởng và thực tế cho học sinh tốt nghiệp THPT sẵn sàng tham gia lao động và lựa chọn nghề nghiệp để phù hợp với sự phát triển của kinh tế xã hội Các nhà giáo dục Nga cho rằng trong các tiêu chí đánh giá chất lượng học sinh thì sự thành đạt nắm vững nghề đã chọn là giá trị cao nhất
L7.2 Tại ÚC
Giáo dục hướng nghiệp, lập nghiệp (Career Education) ở trường nhằm phát triển những kỹ năng, kiến thức và thái độ thông qua một chương trình được kế hoạch hoá Việc giáo dục này giúp học sinh đưa ra những quyết định đúng đắn sau khi tốt nghiệp và tham gia có hiệu quả vào đời sống lao động Tạo ra cho các em thói quen thường xuyên lao động suốt đời: ở nhà, trong hệ thống giáo dục chính quy, ở cộng đồng
Trang 33Giáo dục hướng nghiệp trong nhà trường chỉ ra 4 nhiệm vụ của học sinh, bốn nhiệm vụ này có liên quan mật thiết với nhau.
- Học về bản thân trong mối quan hệ với lao động
- Học về thế giới nghề nghiệp
- Học về lập kế hoạch và ra quyết định hướng nghiệp, lập nghiệp
- Phát triển khả triển khai các quyết đinh về hướng nghiệp và tiến hành thay đổi công việc
Học sinh phải đối mặt với nhiều sự dịch chuyển trong suốt thời gian học,
từ chuyển từ năm học này sang năm học khác, từ trường này sang trường khác,
từ môn học này sang môn học khác Họ phải có những kỹ năng quản lý những thay đổi này, những kỹ năng này có thể giúp các em không ngỡ ngàng trước những sự thay đổi sau này
1.7.3 Tại Cộng Hoà Pháp
Năm 1975, nước Pháp đã tiến hành cải cách giáo dục để hiện đại hoá nền giáo dục, trong công cuộc cải cách này giáo dục Pháp đặc biệt chú trọng tới giảng dạy lao động và nghề nghiệp cho học sinh khắc phục khuynh hướng và quan niệm coi giáo dục lao động là hoạt động giáo dục loại hai Để phát triển nhân cách toàn điện cho học sinh, nhà trường đặt giáo dục hướng nghiệp và nghề nghiệp bình đẳng vói các hoạt động giáo dục khác của nhà trường, đào tạo “tiền nghề nghiệp” là cơ sở của việc học tập liên tục về sau và chuẩn bị cho học sinh bước vào cuộc sống lao động
Từ năm 1975, nhà trường đã dạy các môn học công nghệ học, khoa học kinh tế và những kiến thức xã hội học nhập môn trong trường phổ thông Chương trình công nghệ học trong trường phổ thông phải bao gồm những kiến thức liên quan đến thiết kế cơ khí, các loại m áy và hiệu quả sử dụng chúng, học sinh cần hiểu được vị trí của công nghệ trong môi trường xã hội
và trong tự nhiên, các mức độ của trình độ thành thạo công nghệ, những thành tựu to lớn và những hiểm họa trong lao động: công nghệ học là lĩnh vực cơ bản của văn hoá Giáo dục phổ thông không có mục tiêu đào tạo một nghề cụ thể mà nhiệm vụ chính là phải cung cấp những tri thức kỹ thuật xác
Trang 34định và phát triển kỹ năng cần thiết giúp học sinh hiểu được thế giới công nghệ xung quoanh - E.B Lưxova, “Những vấn để nội dung giáo dục trong nhà trường pháp”, tạp chí Sư phạm, 3/1999, tiếng Nga.
1.7.4 Tại N h ậ t Bản
Nhật Bản là nước sớm quan tâm tới mối liện giữa kiến thức phổ thông với kiến thức và kỹ năng lao động nghề nghiệp, trong đó công tác hướng nghiệp thời gian dài được gọi là “Hướng dẫn tiền đồ” “hướng dẫn tìm việc” ngày nay còn gọi là “định hướng cho tương lai” Tại các Trường THPT dù là công lập hay tư thục định hướng cho tương lai của học sinh bắt đầu từ lớp 10, thông qua giờ hoạt động câu lạc bộ hoặc hướng dẫn riêng cho từng em của giáo viên chủ nhiệm Lớp 11 nhà trường mời các giảng viên ở bên ngoài như: những sinh viên tốt nghiệp hay những người lãnh đạo các doanh nghiệp đến nói chuyện về kinh nghiêm bản thân hay hoạt động của doanh nghiệp họ Lớp
12 nhà trường tổ chức cho học sinh đã tham quan để định hướng cho tương lai Nhà trường phổ thông Nhật Bản tiến hành rèn luyện khả năng thích ứng của học sinh qua một số hoạt động như:
- Hoạt động nhóm nhỏ và “tinh thần doanh nghiệp Nhật Bản”
- Giáo dục lòng trung thành của người lao động Nhật Bản tương lai
- Giáo dục quan hệ lãnh đạo trong trường phổ thông
- Hình thành thói quen cần cù tự giác của người lao động
1.7.5 Bài học rút ra từ kinh nghiệm của các nước
Qua sơ lược tình hình hướng nghiệp của một số nước công nghiệp phát triển ta thấy rằng việc hướng nghiệp và lựa chọn nghề của các nước này được coi là một quá trình đào tạo và giáo dục có hệ thống, dài hạn, bao gồm công tác hướng nghiệp ở nhà trường và tất cả các giải pháp nhằm tư vấn nghê cho học sinh Điều này kết hợp với sự phát triển mạnh của hệ thống giáo dục nghề nghiệp giúp cho các nước thực hiộn tốt nhiệm vụ phân luồng học sinh tốt nghiệp phổ thông Sau bậc THCS, học sinh được phân hoá theo hai luồng chính: luồng tiếp tục lên đại học, cao đẳng, luồng học nghề để vào đời Tương ứng với các luồng trên có rất nhiều loại hình trường trung học khác nhau để
Trang 35đáp ứng nguyện vọng của học sinh Do vậy, ngay từ bậc tiểu học, THCS tuỳ thuộc vào hoàn cảnh cụ thể mà các nước có cách nhìn và cách đi riêng của mình về hướng nghiệp cho học sinh.
Hầu hết các nước trên đều quan tâm tới việc giáo dục kỹ thuật tổng hợp, công nghệ gắn liền với các hoạt động lao động sản xuất kinh doanh khác, không đào tạo một nghề cụ thể như giáo dục hướng nghiệp và dạy nghề như chúng ta đang làm Điều này giúp học sinh làm quen, thử sức với từng loại hình sản xuất đồng thời giúp các em hiểu được tầm quan trọng của công nghệ, đặc biệt công nghệ thông tin với nền kinh tế hiện đại
Trong khi ở Việt Nam, giáo dục hướng nghiệp chỉ giới thiệu cho học sinh làm quen với thế giới nghề nghiệp và dạy cho học sinh học một nghề cụ thể
Qua đó, những nhà quản lý giáo dục (Hiệu trưởng ) cần phải học hỏi kinh nghiệm làm công tác hướng nghiệp của các nước, như:
- Giáo dục cho các em học về bản thân qua mối quan hệ sản xuất để hình thành thói quen cần cù tự giác trong lao động
- Dạy cho các em học cách lập kế hoạch và ra quyết định lựa chọn nghề nghiệp tương lai
- Dạy các em làm quen với việc thay đổi công việc
- Chú trọng giáo dục công nghệ và gắn công nghệ với kinh tế, sản xuất, kinh doanh
Qua việc phân tích cơ sở lý luận chung về quản lý giáo dục hướng nghiệp chúng ta có căn cứ đánh giá được thực trạng quản lý công tác hướng nghiệp cho học sinh của Hiệu trưởng các trường THPT ở quận Cầu Giấy
Trang 36Chương 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ CÔNG TÁC HƯỚNG NGHIỆP CHO HỌC SINH CỦA HIỆU TRƯỞNG CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC
PHỔ THÔNG QUẬN CẦU GIẤY
2.1 Thực trạng đội ngũ nhân lực ở Việt Nam hiện nay
Hiện nay đại bộ phận thanh, thiếu niên sau khi rời ghế nhà trường để đi vào thị trường lao động mới chỉ được trang bị các tri thức văn hoá phục vụ cho việc học tập lên các bậc tiếp theo chứ hầu như chưa có kiến thức cũng như kỹ năng nghề nghiệp ở trình độ tối thiểu
Theo tổng điều tra dân số ngày 1/4/1999 nước ta có trên 4,1 triệu người lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật trong đó có 2,5 ngàn tiến sĩ khoa học; 8,8 ngàn tiến sĩ chuyên nghành; 17,2 ngàn thạc sĩ, 936 ngàn người có trình độ đại học; 379,2 ngàn người có trình độ trung học chuyên nghiệp; 1239,8 ngàn người có trình độ công nhân kỹ thuật, nhân viên kỹ thuật, có bằng chứng chỉ chiếm 8,1% tổng số người lao động từ 15 tuổi trở lên [23,ư 153]
Phần lớn lao động của ta chưa qua đào tạo nghề và tỷ lệ này lại được phân chia không đồng đều theo khu vực nông thôn và thành thị, khu vực truyền thống và khu vực công nghiệp
Hiện nay đại bộ phận thanh, thiếu niên sau khi rời ghế nhà trường để đi vào thị trường lao động mới chỉ được trang bị các tri thức văn hoá phục vụ cho việc học tập lên các bậc tiếp theo chứ hầu như chưa có kiến thức cũng như kỹ năng nghé nghiệp ở trình độ tối thiểu Hàng năm nước ta có khoảng 1,6 triệu thanh niên ở độ tuổi 16 - 17 sẵn sàng tham gia lao động, lực lượng này có khoảng 60% là không được học n g h ề
Mỗi năm có khoảng 40 vạn hex: sinh THCS vào học THPT sau 3 năm học có khoảng 20 vạn học sinh bước vào lao động sản xuất mà không qua đào tạo nghề Trước thực trạng đó giáo dục nước ta đã đề ra những mục tiêu cụ thể :
- Chất lượng giáo đục phải phù hợp với thị trường lao động,
- Giáo dục năng lực tự tìm việc làm, tự lập nghiệp [26, tr 155]
Trang 37Trong đó Giáo dục phổ thông đóng vai trò quan trọng Ngành Giáo dục
và Đào tạo ở nước ta đã có những cố gắng đáng kể như: cải cách chương trình đào tạo và đổi mới phương pháp giảng dạy, mở rộng các cấp học, bậc học, đa dạng hoá các loại hình đào tạo nhưng vẫn không làm thay đổi tình hình mất cân đối nghiêm trọng trên thị trường lao động như thừa lao động có bằng đại học, thiếu trầm trọng kỹ thuật viên và công nhân lành nghề Ở Việt Nam vẫn còn có tình trạng sử dụng không đúng đối tượng lao động Ví dụ: Những người
có học vấn cao làm công việc có trình độ thấp do đó những người có học vấn mức phù hợp không có việc làm, điều này khiến cho họ phải bằng mọi cách học lên bậc cao hơn để có cơ hội kiếm việc làm
Chuyển đổi cơ cấu lao động là một nhiệm vụ quan trọng của CNH - HĐH Nhiệm vụ của hướng nghiệp trong chuyển đổi cơ cấu lao động là góp phần thực hiện chỉ tiêu của chiến lược phát triển nguồn nhân lực Việt Nam giai đoạn 2010 - 2020 là:
+ Tỷ lệ người lao động qua đào tạo trong tổng số lao động phải tăng theo thời gian: năm 2000 là 22 - 25%; năm 2020 là 60 - 70%
+ Bảo đảm 60% thanh niên ở độ tuổi 18- 23 phải trở thành công nhân
kỹ thuật, trong đó 25% phải được đào tạo đại học và trên đại học
+ Tăng số lượng học sinh học nghề, trung học chuyên nghiệp, cao đẳng đại học theo tỷ lộ dự kiến:
Năm 2000 - 2 413 445/ 2 000 000/ 669 420 Năm 2010 - 3 678 465/ 4 000 000/ 1 660 080 Năm 2020 - 5 286 529/ 6 000 000/ 2 871700 [20, tr 23]
2.2 T h ự c t r ạ n g n g u ồ n n h â n lực v à p h á t triể n k in h t ế - x ã h ộ i - g iáo d ụ c
của quận C ầu Giấy
2.2.1 Thực trạng nguồn nhân lực quận Cầu Giấy
Quận Cầu Giấy được phối hợp bởi 4 thị trấn: Nghĩa Đô, Nghĩa Tân, Mai Dịch, Cầu Giấy và 3 xã Dịch Vọng, Yên Hoà, Trung Hoà năm 1996 theo nghị định của Chính phủ với diện tích 12,04km2, dân số 147.000, nên kinh tế nhiều
Trang 38thành phần Trong một vài năm gần đây, quận Cầu Giấy có tốc độ đô thị hoá nhanh so với các quận mới thành lập khác của Hà Nội Nhiều diên tích canh tác nông nghiệp trở thành khu công nghiệp, đô thị mới, mật độ dân số tăng nhanh do vậy đòi hỏi Quận phải chuyển đổi mạnh về cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động Để giải quyết được vấn đề này đó chính là nhiệm vụ của các cơ quan giáo dục trên địa bàn Quận, trong đó việc hướng nghiệp cho thế hệ trẻ là nhiệm vụ hết sức quan trọng, cần thiết và cấp bách.
Thực trạng nguồn nhân lực hiện nay của Quận như sau:
- Nguồn nhân lực tương đối trẻ và có tỷ lệ chệnh lệnh về trình độ giáo dục và đào tạo cao so với một số quận khác trong toàn thành phố,
- Số lượng nhân lực lao động và tốc độ gia tăng hàng năm lớn,
- Về cơ cấu đào tạo lao động ở quận Cầu Giấy bị mất cân đối mạnh theo hướng thừa lao động có trình độ đại học thiếu lao động có tay nghề “thừa thầy, thiếu thợ” và thiếu hụt những bộ phận nhân lực có trình độ cao,
- Về chất lượng nhân lực chưa cao, chưa đồng đều, chưa đáp ứng với yêu cầu phát triển kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá và quá trình hội nhập WTO,
- Việc sử dụng và phân bố nguồn nhân lực chưa hợp lý và hiệu quả,
- Tỷ lệ thất nghiệp trên địa bàn quận Cầu Giấy khá cao
2.2.2 Tình hình phát triển kinh tế - x ã hội - giáo dục quận Cầu Giấy
Theo báo cáo tổng kết về kinh tế - xã hội - giáo dục của quận Cầu Giấy năm 2005 như sau:
2.2.2.1 V ề mặt kinh t ế
- Kinh tế của Quận đã tăng lên đáng kể so với năm 2004
- Ước tính doanh thu bán lẻ hàng hoá trên thị trường tự do đạt: 6,056 tỷ tăng 27%
- Giá trị sản xuất công nghiệp ngoài quốc doanh đạt: 279,459 triệu đồng tăng 21%
- Giá trị sản xuất nông nghiệp ước đạt: 2,225 triệu đồng( đạt 66%) giảm 34%
Trang 392.2.22 Vê vân lioá x ã hội
Hoàn thành tốt nhiệm vụ năm học 2004 - 2005 tỷ lệ học sinh tốt nghiệp THPT 100% Tạo điều kiện thuận lợi về vật chất cũng như tinh thần để giúp các trường THPT trên địa bàn đạt kết quả cao nhất Duy trì 3 trung tâm học tập cộng đồng phường, và thành lập mới 3 trung tâm tại phường Mai Dịch, Nghĩa
Đô và Nghĩa Tân Được xét công nhận 3 trường chuẩn quốc gia, dự kiến trong những năm tới thành phố sẽ công nhận tiếp các trường còn lại
Tóm lại, trong những năm vừa qua giáo dục của Quận đã có những bước phát triển vững trắc thực hiện tốt nhiệm vụ và không ngừng nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện Quy mô phát triển, số lượng học sinh ngày càng tăng, Quận đã phổ cập trung học cơ sở Số thanh niên có thể đạt được trình độ THPT chiếm 83,22% (2005), học sinh đi học các trường dạy nghề hoặc đi vào cuộc sống lao động là 16,78% Để thế hệ trẻ của quận đủ sức tiếp cận sự phát triển của khoa học công nghệ hiện đại phục vụ cho sự nghiệp CNH - HĐH và quá trình hội nhập kinh tế WTO Quận Cầu Giấy chủ trương tập trung nâng cao giáo dục toàn diện các cấp học, phấn đấu đến năm 2007 này tỷ lộ phổ cập THPT trên địa bàn là 88%, thường xuyên nâng tỷ lệ ngânh sách của Quận cho hoạt động GD - ĐT, tích cực chuẩn bị cơ sở vật chất và đội ngũ giáo viên, tập chung đầu tư xây dựng một hệ thống các trường đạt chuẩn quốc gia, đa dạng hoá, xã hội hoá các loại hình trường lớp Đặc biệt quận coi trọng phổ cập hoá ngoại ngữ, tin học cho học sinh, cán bộ và lãnh đạo các đơn vị trong toàn Quận, ứng dụng rộng rãi công nghệ thông tin vào quản lý và sản xuất Quận
đã chú trọng việc bồi dưỡng học sinh giỏi các cấp, ngành, loại hình phổ thông, dạy nghề Giành một phần ngân sách của Quận để đầu tư vào việc bồi dưỡng nhân tài Động viên, khuyến khích các doanh nghiệp trên địa bàn hỗ trợ cấp kinh phí, đầu tư cho quỹ này
22.2.3 V ề giáo dục
Quận Cầu Giấy là khu vực dân trí cao ở Hà Nội Nằm trên địa bàn Quận có 80 cơ sở đào tạo và nghiên cứu khoa học cấp nhà nước và cấp bộ Một số trường đại học lớn là: Đại học Quốc gia Hà Nội, Học viện Kỹ thuật
Trang 40quân sự, Đại học Thương mại, Đại học Công nghệ, Đại học Sư phạm Hà Nội, Vì vậy, ảnh hưởng của việc học hành lên cao đến với các em, đi vào tiềm thức của các em và gia đình là rất sâu rộng Trước đây chỉ con cái cán bộ, công nhân viên chức nhà nước vào ĐH, CĐ và thành đạt trong học hành nay con em các gia đình nông dân thường dân của Quận đã đỗ đạt rất cao Bên cạnh đó, số học sinh học xong THPT hiện vẫn chưa đi làm và vẫn nuôi mộng phải vào Đại học trong những năm tới Theo thống kê của Phòng giáo dục chuyên nghiệp - Phòng giáo dục phổ thông Sở giáo dục Hà Nội về tình trạng phân luồng học sinh THPT của quận Cầu Giấy trong những năm qua như sau: Bảng 2: Bảng phân luồng học sinh tru n g học phổ thông quận C ầu GiấyNăm Học Học sinh
lớp 12
Học sinh tốt nghiệp
Học sinh
ĐH, CĐ
Học sinh học nghề
Học sinh ở nhà LĐ
Nguồn: Phòng GDCN, Phòng GDPT- Sở GD & ĐT, Hà Nội
Nhìn vào bảng trên ta thấy số lượng học sinh học đại học, cao đẳngngày càng tăng trong khi số lượng học nghề ngày càng giảm, hàng năm lượngthanh niên chưa có việc làm trên địa bàn còn quá lớn Vậy, khi đất nước ranhập WTO thì những đối tượng trên sẽ làm gì? Để tránh tình trạng thất nghiệpcho lứa tuổi thanh thiếu niên của Quân, biện pháp hữu hiệu nhất là hướngnghiệp nghề nghiệp cho học sinh ngay từ khi còn ngồi trên ghế nhà trường, để
họ nhận thấy được năng lực và khả năng nghề nghiệp của mình Để sau này họ
sẽ chọn cho mình một hướng đi phù hợp nhất ngắn nhất
Tóm lại, để thế hệ trẻ của Quận đủ sức tiếp cận sự phát triển của khoahọc công nghệ và phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá và quátrình hội nhập WTO, Quận đã chủ trương tập trung cao giáo dục toàn diện cáccấp học, quan tâm sâu sát phát triển giáo dục mầm non, phấn đấu đến năm
2007 tỷ lệ phổ cập THPT và tương đương trên địa bàn Quận đạt mức 88%Thường xuyên nâng tỷ lệ ngân sách của Quận cho các hoạt động GD - ĐT