1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phát triển năng lực tính toán cho học sinh bằng cách ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học số học lớp 6

109 12 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 109
Dung lượng 3,91 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC NGUYỄN THỊ MAI LAN PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC TÍNH TOÁN CHO HỌC SINH BẰNG CÁCH ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG DẠY HỌC SỐ HỌC LỚP 6 LUẬN V

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC

NGUYỄN THỊ MAI LAN

PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC TÍNH TOÁN CHO HỌC SINH BẰNG CÁCH ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN

TRONG DẠY HỌC SỐ HỌC LỚP 6

LUẬN VĂN THẠC SĨ SƯ PHẠM TOÁN

HÀ NỘI - 2020

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC

NGUYỄN THỊ MAI LAN

PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC TÍNH TOÁN CHO HỌC SINH BẰNG CÁCH ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN

TRONG DẠY HỌC SỐ HỌC LỚP 6

LUẬN VĂN THẠC SĨ SƯ PHẠM TOÁN

Chuyên ngành: Lý luận và phương pháp dạy học bộ môn Toán

Mã số: 8.14.01.11

Người hướng dẫn khoa học: TS NGUYỄN VĂN TUẤN

HÀ NỘI - 2020

Trang 3

i

LỜI CẢM ƠN

Trong quá trình hoàn thành luận văn này, tác giả đã nhận được sự ủng hộ

và giúp đỡ quý báu của các tập thể và cá nhân

Tác giả xin cảm ơn tập thể các thầy cô Trường Đại học Giáo dục - Đại học Quốc gia Hà Nội đã tạo điều kiện cho tác giả trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn

Tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến thầy giáo hướng dẫn khoa học TS Nguyễn Văn Tuấn, người đã tận tâm giúp đỡ, hướng dẫn tác giả trong quá trình nghiên cứu và thực hiện đề tài

Tác giả xin chân thành cảm ơn các trường Trung học cơ sở và các giáo viên, học sinh tham gia thực nghiệm sư phạm, gửi các ý kiến đóng góp để luận văn này hoàn thiện hơn

Tác giả xin cảm ơn đồng nghiệp, gia đình, bạn bè đã động viên khích lệ tác giả trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu

Hà Nội, ngày 20 tháng 06 năm 2020

Tác giả luận văn

Nguyễn Thị Mai Lan

Trang 4

ii

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT STT Từ viết tắt Viết đầy đủ

1 BGD&ĐT Bộ Giáo dục và Đào tạo

2 CNTT Công nghệ thông tin

Trang 5

iii

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lí do chọn đề tài 1

2 Mục đích nghiên cứu 3

3 Nhiệm vụ nghiên cứu 3

4 Khách thể nghiên cứu 3

5 Đối tượng nghiên cứu 3

6 Phạm vi nghiên cứu 4

7 Giả thuyết khoa học 4

8 Phương pháp nghiên cứu 4

9 Cấu trúc luận văn 4

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 5

1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề 5

1.1.1 Trên thế giới 5

1.1.2 Ở Việt Nam 6

1.2 Cơ sở lý luận 7

1.2.1 Cơ sở lý luận về phát triển năng lực cho học sinh trung học cơ sở 7

1.2.2 Một số khái niệm cơ bản 9

1.2.3 Ứng dụng công nghệ thông tin để nâng cao chất lượng dạy học môn toán 15

1.2.4 Chương trình toán THCS 21

1.3 Cơ sở thực tiễn 26

1.3.1 Khảo sát thực trạng dạy học phát triển năng lực cho học sinh ở trường Trung học cơ sở Chu Văn An, Tây Hồ, Hà Nội 26

1.3.2 Khảo sát thực trạng sử dụng công nghệ thông tin trong dạy học Số học 6 ở trường Trung học cơ sở Chu Văn An, Tây Hồ, Hà Nội 27

Tiểu kết chương 1 31

Trang 6

iv

CHƯƠNG 2 MỘT SỐ BIỆN PHÁP PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC TÍNH TOÁN TRONG DẠY HỌC SỐ HỌC LỚP 6 BẰNG CÁCH ỨNG DỤNG

CÔNG NGHỆ THÔNG TIN 32

2.1 Tạo hứng thú học tập chủ đề tính toán cho học sinh bằng cách ứng dụng công nghệ thông tin trong trong dạy học Số học 6 32

2.1.1 Sử dụng hiệu ứng PowerPoint trong việc hình thành các quy tắc tính toán 33

2.1.2 Sử dụng các trò chơi bằng một số phần mềm để tạo hứng thú học tập cho học sinh lớp 6 38

2.1.3 Sử dụng công cụ vẽ hình, tô màu và một số tính năng khác của PowerPoint tạo các hình, biểu tượng sinh động 43

2.2 Rèn luyện kỹ năng tính toán cho học sinh bằng cách ứng dụng một số phần mềm 47

2.2.1 Rèn luyện cho học sinh quan sát rồi rút ra các phương pháp tính nhanh 48

2.2.2 Rèn luyện kỹ năng tính toán cho HS thông qua trải nghiệm các bài toán thực tế 49

2.3 Thiết kế một số bài giảng có chủ đề tính toán bằng một số phần mềm 51

2.4 Đổi mới kiểm tra đánh giá Số học 6 bằng một số phần mềm 63

Tiểu kết chương 2 69

CHƯƠNG 3 THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 70

3.1 Mục đích thực nghiệm 70

3.2 Nội dung thực nghiệm 70

3.3 Phương pháp thực nghiệm 71

3.3.1 Chọn lớp thực nghiệm 71

3.3.2 Bố trí lớp thực nghiệm 71

Trang 7

v

3.3.3 Phương pháp thu thập dữ liệu và đo lường 71

3.4 Kết quả thực nghiệm 71

3.4.1 Kết quả định lượng 71

3.4.2 Kết quả định tính 76

Tiểu kết chương 3 78

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 79

1 Kết luận 79

2 Khuyến nghị 80

TÀI LIỆU THAM KHẢO 81 PHỤ LỤC

Trang 8

vi

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 1.1 Nhận thức của GV và HS về dạy học phát triển năng lực 26

Bảng 1.2 Kết quả khảo sát GV về thực trạng việc dạy học theo hướng phát triển NL cho HS ở THCS 27

Bảng 1.3 Nhận thức của GV về vai trò của việc sử dụng CNTT trong dạy học môn Toán 28

Bảng 1.4 Kết quả khảo sát việc GV sử dụng CNTT trong các khâu của quá trình dạy học 29

Bảng 1.5 Những khó khăn của HS khi học Số học 6 30

Bảng 3.1 Độ lệch và độ nhọn của phân phối điểm các bài kiểm tra 72

Bảng 3.2 Tổng hợp điểm qua 3 lần kiểm tra của HS lớp thực nghiệm 74

Bảng 3.3 Phân phối tần suất điểm các lần kiểm tra lớp thực nghiệm 74

Bảng 3.4 Bảng tổng hợp điểm của 03 bài kiểm tra 75

Trang 9

vii

DANH MỤC CÁC HÌNH

Hình 2.1 Biểu diễn phép cộng trên trục số 35

Hình 2.2 Minh họa phép cộng 36

Hình 2.3 Phép cộng số nguyên dương với số nguyên âm 37

Hình 2.4 Phép cộng số nguyên âm với số nguyên âm 37

Hình 2.5 So sánh phép cộng với số nguyên âm và phép cộng với số nguyên dương 38

Hình 2.6 Ví dụ về trò chơi ô chữ 41

Hình 2.7 Câu hỏi trong trò chơi ô chữ 41

Hình 2.8 Đáp án trong trò chơi ô chữ 42

Hình 2.9 Tư liệu trong trò chơi ô chữ 42

Hình 2.10 Luyện tập phân số trên Violet 43

Hình 2.11 Sơ đồ Ven học sinh lớp 6A1 44

Hình 2.12 Sơ đồ Ven học sinh lớp 6A2 45

Hình 2.13 Bài toán áp dụng phép cộng hai số nguyên khác dấu 49

Hình 2.14 So sánh hai phân số cùng tử số 50

Hình 2.15 Kiểm tra bài cũ 52

Hình 2.16 Phép cộng hai số nguyên cùng dấu 53

Hình 2.17 Áp dụng phép cộng hai số nguyên cùng dấu 53

Hình 2.18 Quy ước cộng hai số nguyên cùng âm 54

Hình 2.19 Phép cộng hai số nguyên cùng dấu 54

Hình 2.20 Quy tắc cộng hai số nguyên cùng dấu 55

Hình 2.21 Bài tập nhóm 55

Hình 2.22 Bài tập cá nhân 56

Hình 2.23 Bài tập điền bảng 56

Hình 2.24 Sơ đồ tư duy phép cộng hai số nguyên cùng dấu 56

Hình 2.25 Trò chơi củng cố kiến thức bằng ô chữ 1 57

Trang 10

viii

Hình 2.26 Trò chơi củng cố kiến thức bằng ô chữ 2 57

Hình 2.27 Hướng dẫn học bài 58

Hình 2.28 Hình ảnh HS chơi Kahoot! 59

Hình 2.29 Ví dụ về phân số 60

Hình 2.30 Phân số bằng nhau 60

Hình 2.31 Phép trừ phân số 60

Hình 2.32 Phép nhân phân số 61

Hình 2.33 Số nghịch đảo 61

Hình 2.34 Phép chia phân số 61

Hình 2.35 Cộng hai phân số khác mẫu 62

Hình 2.36 Phân số thập phân 62

Hình 2.37 Phép nhân phân số 62

Hình 2.38 Cộng hai phân số cùng mẫu 63

Hình 2.39 Bộ công cụ Violet 65

Hình 2.40 Thiết kế câu hỏi trong bộ công cụ violet 65

Hình 2.41 Bài kiểm tra 15 phút 66

Hình 2.42 Kết quả bài kiểm tra 66

Hình 2.43 Bài kiểm tra trên Thanhedu.com 67

Hình 2.44 Thống kê bài kiểm tra trên Thanhedu.com 68

Trang 11

ix

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ

Biểu đồ 3.1 Tần suất phân phối điểm của các bài kiểm tra (có gắn đường

cong chuẩn) 73 Biểu đồ 3.2 Phân phối tần suất điểm của các bài kiểm tra 75

Trang 12

Xã hội đang ngày càng phát triển và trong hầu hết các lĩnh vực ta đều thấy CNTT đang từng bước khẳng định vị trí và vai trò của mình; CNTT giúp nâng cao hiệu quả hoạt động của con người, đặc biệt trong lĩnh vực giáo dục Các trường học hiện nay hầu hết đều đã được trang bị máy vi tính, phòng học CNTT, kết nối Internet… Với sự trợ giúp của máy tính, GV có thể xây dựng được những bài giảng sinh động thu hút sự tập trung của người học, dễ dàng thể hiện được các PPDH tích cực làm cho HS phát huy được tính tích cực, chủ động sáng tạo trong việc lĩnh hội tri thức mới Việc ứng dụng CNTT nhằm làm thay đổi phương pháp, phương thức dạy và học theo chiều hướng tích cực đã được thể hiện rõ:

Trong Quyết định số 117/QĐ-TTg, ngày 25/1/2017 Thủ tướng Chính

phủ đã đề ra mục tiêu chung “Tăng cường ứng dụng CNTT nhằm đẩy mạnh triển khai chính phủ điện tử, cung cấp dịch vụ công trực tuyến trong hoạt động quản lý điều hành của cơ quan quản lý nhà nước về giáo dục và đào tạo

ở trung ương và địa phương; đổi mới phương pháp dạy - học”[8]

Trong kế hoạch của Bộ Giáo dục và Đào tạo số 345/KH - BGDĐT,

ngày 23/5/2017 đã đưa ra nhiệm vụ: “Triển khai xây dựng và thường xuyên cập nhật kho học liệu số dùng chung phục vụ giáo dục mầm non, giáo dục

Trang 13

2

phổ thông, giáo dục thường xuyên trong toàn ngành, gồm: Bài giảng điện

tử, học liệu đa phương tiện, SGK điện tử, phần mềm mô phỏng và các học liệu khác Tuyên truyền trên các phương tiện đại chúng về vai trò, ý nghĩa của ứng dụng công nghệ thông tin trong các hoạt động quản lý, dạy - học, nghiên cứu khoa học”[4]

Đặc biệt, trong bối cảnh cuộc cách mạng công nghệ 4.0 đang bùng nổ trên khắp thế giới và Việt Nam, CNTT đã thâm nhập vào mọi khía cạnh của đời sống, trong đó có lĩnh vực dạy học, đòi hỏi giáo viên (GV) phải khai thác được thông tin, sắp xếp thông tin có hiệu quả nhằm tổ chức hoạt động cho HS trong hoạt động dạy học Bên cạnh đó, ngoài áp dụng CNTT thì sử dụng các loại tư liệu cũng rất quan trọng để đảm bảo cho quá trình dạy học đạt được hiệu quả cao

Tuy nhiên đây là một việc làm không phải đơn giản vì nguồn tư liệu hiện nay hết sức phong phú nhưng lại nằm chủ yếu ở các sách tham khảo, đĩa CD chuyên ngành, trên mạng Internet mà không phải GV nào cũng dễ dàng thu thập được Mặt khác, nhiều GV cũng chưa biết cách khai thác các

tư liệu đó đưa vào bài giảng để giảng dạy và phát triển năng lực tính toán cho HS

Chương trình Toán lớp 6 mở đầu cho những kiến thức sâu hơn về số học, đặc biệt là năng lực tính toán; là nền tảng cho khoa học và đời sống sau này Với HS lớp 6, lứa tuổi mới lớn thích độc lập khám phá kiến thức

Vì vậy, việc sử dụng công nghệ thông tin để phát triển năng lực tính toán cho học sinh ở THCS là vấn đề đặt ra cho các giáo viên, cần tìm ra các biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả dạy học số học lớp 6

Đánh giá được tầm quan trọng đó, tôi lựa chọn đề tài: “Phát triển năng

lực tính toán cho học sinh bằng cách ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học Số học lớp 6”

Trang 14

3

2 Mục đích nghiên cứu

- Nghiên cứu lý luận về việc sử dụng các phần mềm trong dạy học môn Toán

- Đề xuất một vài biện pháp phát triển năng lực tính toán cho học sinh trong dạy học số học lớp 6

3 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Nghiên cứu cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn của đề tài: năng lực và nâng cao năng lực tính toán, vai trò của công nghệ thông tin với toán học, …

- Điều tra thực trạng vận dụng CNTT trong dạy học toán để nâng cao

năng lực tính toán ở trường THCS Chu Văn An, Hà Nội

- Nghiên cứu cấu trúc, nội dung và chương trình sách giáo khoa (SGK) môn toán lớp 6

- Đề xuất một vài biện pháp nâng cao năng lực tính toán cho học sinh trong dạy học số học lớp 6 bằng cách ứng dụng công nghệ thông tin

- Nghiên cứu phương pháp dạy học phù hợp với chủ đề đã xây dựng nhằm nâng cao năng lực tính toán của học sinh

- Tiến hành thực nghiệm sư phạm tại trường THCS Chu Văn An để đánh giá tính phù hợp của các biện pháp đã đề xuất trong việc nâng cao năng lực tính toán cho học sinh trong dạy học môn Toán

4 Khách thể nghiên cứu

Trong luận văn này khách thể nghiên cứu là quá trình dạy học môn toán

ở trường THCS

5 Đối tượng nghiên cứu

Chương trình SGK toán lớp 6, các phần mềm toán học như phần mềm PowerPoint, violet và việc dạy học toán, kiểm tra đánh giá có ứng dụng công nghệ thông tin

Trang 15

4

6 Phạm vi nghiên cứu

- Nghiên cứu chương trình toán học lớp 6, tập trung nghiên cứu các chủ

đề có sử dụng công nghệ thông tin để nâng cao năng lực tính toán của học sinh

- Dạy thực nghiệm các chủ đề toán học gắn liền với công nghệ thông

tin tại trường THCS Chu Văn An, Hà Nội

7 Giả thuyết khoa học

Nếu giáo viên xây dựng được một số chủ đề số học lớp 6 có sử dụng công nghệ thông tin đồng thời sử dụng các phương pháp dạy học tích cực thì

sẽ nâng cao được năng lực tính toán cho học sinh Từ đó giúp nâng cao và

phát triển chất lượng dạy học môn Toán lớp 6

8 Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu lý luận: Tác giả sẽ thu thập, tham khảo các tài liệu có liên quan đến đề tài Sử dụng một số phương pháp như phân tích, đánh giá, tổng hợp, hệ thống hóa, khái quát hóa … các tài liệu thu thập được

Nghiên cứu thực tiễn: Theo dõi quá trình học tập của học sinh trong các

giờ học Điều tra mức độ phát triển năng lực tính toán của học sinh

9 Cấu trúc luận văn

Trong luận văn, tác giả có thể hiện phần mở đầu, kết luận, khuyến nghị, tài liệu tham khảo, phụ lục và nội dung chính của luận văn được trình bày trong 3 chương:

Chương 1 Cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn của đề tài

Chương 2 Một số biện pháp phát triển năng lực tính toán trong dạy

học số học lớp 6 bằng cách ứng dụng công nghệ thông tin

Chương 3 Thực nghiệm sư phạm

Trang 16

5

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI

1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề

1.1.1 Trên thế giới

Khi tìm hiểu về năng lực, các nhà nghiên cứu trên thế giới nhìn chung đều có những nhận định giống nhau về quan niệm, các thành tố của năng lực Năm 2000, Erwin và T Dary đã xác định 3 loại kết quả cần quan tâm của sinh

viên: Tư duy phê phán, giải quyết vấn đề và viết [22]

Ở đây, các tác giả nhất trí với quan điểm về giải quyết vấn đề, với việc

sử dụng kiến thức, lựa chọn giải pháp đúng đắn, xác định và hạn chế các khó khăn, đánh giá quá trình và giải quyết vấn đề

Từ đặc điểm năng lực, tổng hợp các mô hình khác nhau và tập trung vào quá trình giải quyết vấn đề, M.Wu (2003) đưa ra ý kiến năng lực giải quyết vấn đề trong toán học bao gồm 4 năng lực thành phần: năng lực đọc hiểu, năng lực suy luận toán học, năng lực thực hiện tính toán và năng lực vận dụng kiến thức vào thực tiễn trong quá trình giải quyết vấn đề [29]

AH Schoenfeld (1985) khi nghiên cứu về năng lực giải quyết vấn đề trong dạy học môn Toán đưa ra 4 thành tố cơ bản để đánh giá năng lực giải quyết vấn đề của một cá nhân là: Kiến thức nền tảng (Knowledge base); Chiến lược giải quyết vấn đề (Problem solving strategies or heuristics); khả năng kiểm soát (Control); Niềm tin (Beliefs) [28]

Năng lực tính toán của học sinh trong dạy học toán có các dấu hiệu được thể hiện ở kiến thức, kĩ năng, thái độ là nền tảng của năng lực giải quyết vấn

đề Nhờ các dấu hiệu này mà ta có thể nhận biết và xác định năng lực giải quyết vấn đề của học sinh

Trang 17

6

1.1.2 Ở Việt Nam

Ở Việt Nam, đã có nhiều bàn luận về phát triển năng lực toán học, ứng dụng CNTT trong dạy học, tuy nhiên ứng dụng CNTT trong dạy học Số học 6 thì rất ít được đề cập đến

Tác giả Nguyễn Anh Tuấn (2002) lựa chọn vấn đề Biện pháp bồi dưỡng năng lực phát hiện và giải quyết vấn đề cho học sinh THCS trong dạy học khái niệm Toán học (mở đầu là khái niệm Đại số ở THCS), trong tạp chí giáo dục,

tác giả nghiên cứu năng lực phát hiện và giải quyết vấn đề theo hai nhóm năng lực phát hiện vấn đề và năng lực giải quyết vấn đề trong học Toán [18]

Năm 2016, trong luận văn Rèn luyện năng lực giải quyết vấn đề trong dạy học ứng dụng dấu tam thức bậc hai ở trường Trung học phổ thông đã

nghiên cứu về một số biện pháp nhằm năng cao năng lực giải quyết vấn đề trong dạy học ứng dụng dấu của tam thức bậc hai trong chương trình lớp 10 trung học phổ thông [13]

Về ứng dụng của CNTT trong dạy học Toán THCS, có thể kể đến

Nguyễn Bá Kim - Đào Thái Lai - Trịnh Thanh Hải (2008), Dạy học hình học với sự hỗ trợ của phần mềm Cabri Geometry, NXB ĐH Sư Phạm [14]

Các tác giả trong nước đã nghiên cứu một số khía cạnh của phương pháp dạy học giải quyết vấn đề theo định hướng phát triển năng lực giải quyết vấn đề cho học sinh trên cơ sở vận dụng vào một số phân môn của Toán học Tuy nhiên, sau khi Bộ Giáo dục và Đào tạo công bố Chương trình Giáo dục phổ thông môn Toán vào năm 2018 thì năng lực giải quyết vấn đề toán học cùng bộ công cụ, kiểm tra đánh giá đang là một vấn đề mới và cũng rất cần thiết trong thời gian tới Nhưng hiện nay chưa có nhiều nghiên cứu vấn đề đó

Trang 18

1.2.1 Cơ sở lý luận về phát triển năng lực cho học sinh trung học cơ sở

Khi xã hội phát triển, các cuộc cách mạng công nghiệp nối tiếp nhau ra đời, nền kinh tế tri thức phát triển mạnh Trong thời đại của nền kinh tế tri thức như hiện nay - thời đại mà sự phát triển được quyết định bởi trí tuệ và khả năng sáng tạo thì nguồn lực con người là vô cùng quan trọng Vấn đề đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng nhu cầu của thời đại đặt ra những thử thách rất lớn đối với nhiều quốc gia Để đảm bảo phát triển bền vững, nhiều quốc gia không ngừng đổi mới giáo dục

Nghị quyết số 29 của Trung ương Đảng (2013) đã tiếp tục khẳng định việc đổi mới căn bản và toàn diện nền giáo dục nước ta Theo Nghị quyết, Bộ Giáo dục và đào tạo đã chỉ đạo đường lối đổi mới giáo dục Việt Nam là

“Chuyển từ dạy học tiếp cận nội dung sang dạy học phát triển năng lực người học, tức là phát triển cho HS cả về kiến thức, kĩ năng và thái độ, thay cho cách học thụ động trước đây Định hướng này đòi hỏi cần phải đổi mới một cách toàn diện cả mục tiêu, nội dung, chương trình, PPDH và đánh giá trong dạy học” [1]

Chương trình giáo dục định hướng phát triển năng lực đã được bàn luận nhiều từ cuối thế kỉ 20 và hiện nay nó đã trở thành xu hướng giáo dục quốc tế Với nền giáo dục Việt Nam hiện nay, để thay đổi thực trạng học sinh học thụ động, Bộ GD & ĐT đã chỉ rõ các định hướng và cách tiếp cận giúp học sinh phát triển các năng lực, phẩm chất Cụ thể, dự thảo “Chương trình giáo dục phổ thông tổng thể năm 2018” của Bộ GD & ĐT đã nêu lên 5 phẩm chất chủ yếu cần hình thành ở học sinh là yêu nước, nhân ái, chăm chỉ, trung thực và trách nhiệm Về năng lực, chương trình hướng đến 10 năng lực cốt lõi gồm:

Trang 19

8

- Những năng lực chung, được tất cả các môn học và hoạt động giáo dục góp phần hình thành, phát triển: năng lực tự chủ và tự học, năng lực giao tiếp và hợp tác, năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo [5]

- Những năng lực chuyên môn, được hình thành, phát triển chủ yếu thông qua một số môn học và hoạt động giáo dục nhất định: năng lực ngôn ngữ, tính toán, tìm hiểu tự nhiên và xã hội, công nghệ, tin học, thẩm mỹ, thể chất [5] Đặc biệt, theo [5], quan điểm xây dựng chương trình môn Toán trong

chương trình giáo dục phổ thông tổng thể: “Chương trình môn Toán được xây dựng theo định hướng phát triển phẩm chất năng lực của người học, đặc biệt năng lực giải quyết các vấn đề trong thực tiễn cuộc sống, nhằm phát huy tốt nhất tiểm năng của mỗi học sinh.” [5]

Như đã nêu ở trên, bản chất của giáo dục theo hướng tiếp cận năng lực là lấy năng lực làm cơ sở tham chiếu để tổ chức chương trình và thiết kế nội dung học tập Điều này cũng được hiểu là năng lực của học sinh sẽ là kết quả cuối cùng cần đạt được của quá trình giáo dục Hay nói cách khác, thành phần

cơ bản và cốt lõi của mục tiêu giáo dục là các phẩm chất và năng lực của người học Năng lực người học được coi là điểm xuất phát và là sự cụ thể hóa mục tiêu giáo dục Vì vậy, những yêu cầu về phát triển năng lực người học là yếu tố then chốt trong mục tiêu giáo dục

Do đó ta có thể thấy trong quá trình dạy học ở trường THCS nói chung và quá trình dạy học môn Toán nói riêng, nhiệm vụ phát triển các năng lực cho học sinh trở thành nhiệm vụ quan trọng Để đáp ứng mục tiêu phát triển năng lực người học thì GV phải áp dụng các phương pháp dạy học tích cực theo khoa học giáo dục hiện đại vào dạy học nhằm phát triển kiến thức, kĩ năng, thái độ Đặc biệt trong đó phát triển năng lực nhận thức, phát triển tư duy, năng lực giải quyết vấn đề, năng lực tính toán quan trọng hơn bao giờ hết

Trang 20

9

1.2.2 Một số khái niệm cơ bản

1.2.2.1 Năng lực, năng lực toán học, năng lực tính toán

a) Năng lực

Ngày nay có rất nhiều quan niệm khác nhau về năng lực và do vậy cũng có rất nhiều khái niệm năng lực khác nhau Chúng ta có thể xem xét và tiếp cận khái niệm năng lực từ nhiều phương diện khác nhau

- Theo quan điểm của những nhà tâm lí học: “Năng lực là tổng hợp các đặc điểm thuộc tính tâm lí của cá nhân phù hợp với yêu cầu đặc trưng của một hoạt động nhất định nhằm đảm bảo cho hoạt động có kết quả tốt” [20]

- Albert Rutherford cho rằng: “Năng lực là toàn bộ các thuộc tính tâm lí làm cho con người thích hợp với một hoạt động có lợi ích xã hội nhất định” [17]

- Năng lực theo từ điển Tiếng Việt đó là “khả năng làm việc tốt, nhờ có phẩm chất đạo đức và trình độ chuyên môn” [16]

- Theo từ điển Bách khoa Việt Nam: “Năng lực là đặc điểm của cá nhân thể hiện mức độ thông thạo - tức là có thể thực hiện một cách thành thục và chắc chắn một hoạt động nào đó” [12]

Song song với năng lực là tri thức, kĩ năng, kĩ xảo Tri thức, kĩ năng, kĩ xảo là điều kiện cần thiết để hình thành năng lực nhưng không đồng nhất với năng lực Năng lực góp phần làm cho quá trình lĩnh hội tri thức, kĩ năng, kĩ xảo trong lĩnh vực hoạt động được nhanh chóng thuận lợi và dễ dàng hơn

Có năng lực hoạt động tức là có tri thức, kĩ năng, kĩ xảo Tuy nhiên điều này không đồng nghĩa là có năng lực trong các lĩnh vực ấy

Như vậy, theo như nghiên cứu của tôi, khái niệm về năng lực có thể rút

ra như sau: “Năng lực là toàn bộ những kĩ năng, kĩ xảo học được hay có sẵn của mỗi cá nhân nhằm giải quyết các tình huống xác định và khả năng vận dụng các cách giải quyết vấn đề một cách hiệu quả.”

Trang 21

10

b) Năng lực toán học

Theo [19], khái niệm năng lực toán học được hiểu theo hai hướng: “Thứ nhất là năng lực trong học tập, tức là năng lực trong việc học môn Toán, nắm vững các khái niệm, định lý, tính chất, hệ quả toán học Theo hướng này, người học có năng lực toán học sẽ nhanh nhạy trong việc tiếp thu các kiến thức toán học và thực hiện một cách thành thạo các kĩ năng kĩ xảo tương ứng” [19]

“Thứ hai là năng lực hoạt động sáng tạo trong hoạt động nghiên cứu toán học với tư cách là khoa học Người có năng lực sáng tạo toán học sẽ tạo

ra những kết quả mới, cống hiến cho nhân loại những công trình toán học đầy ý nghĩa đối với hoạt động thực tiễn của con người và đối với ngành khoa học toán học” [19]

Chúng ta có thể khẳng định rằng năng lực toán học là điều kiện cần của năng lực sáng tạo toán học, bởi vì năng lực sáng tạo toán học có thể xuất phát

từ việc tạo ra một định nghĩa hay một định lí mới, điều này hoàn toàn khác với việc hiểu và thừa nhận định nghĩa hay định lí đã có trước đó

Tìm hiểu năng lực toán học với cách nghiên cứu các thành tố, tác giả quan niệm rằng năng lực toán học gồm năm thành tố cốt lõi: năng lực tư duy

và lập luận toán học; năng lực mô hình hóa toán học; năng lực giải quyết vấn

đề toán học; năng lực giao tiếp toán học; năng lực sử dụng công cụ, phương tiện toán học

Năng lực toán học của học sinh chủ yếu được hình thành và phát triển trong tiến trình: nhận biết kiến thức, kĩ năng toán học; kết nối toán học với đời sống thực tiễn; áp dụng kiến thức, kĩ năng toán học để giải quyết vấn đề

cụ thể trong hoạt động hoặc trong cuộc sống hàng ngày

Mọi học sinh khi đi học đều có năng lực toán học, nhưng năng lực đó được hình thành, thể hiện, phát triển khác nhau thông qua hoạt động học tập

Trang 22

11

và trải nghiệm ở mỗi cá nhân Do đó, giáo viên cần xác định bản chất của năng lực, các con đường hình thành, phát triển năng lực Từ đó giáo viên lựa chọn các hệ thống tri thức, kĩ năng, kĩ xảo; phương pháp, hình thức truyền tải nội dung để đưa vào bài học phù hợp cho mọi đối tượng học sinh

c) Năng lực tính toán

“Năng lực tính toán của học sinh là khả năng làm chủ những hệ thống kiến thức, kĩ năng, thái độ,…phù hợp với lứa tuổi và vận dụng (kết nối) chúng một cách hợp lý vào thực hiện thành công nhiệm vụ học tập, giải quyết hiệu quả những vấn đề đặt ra cho chính các em trong cuộc sống” [18] Hay có thể nói: Năng lực tính toán là năng lực biểu hiện thông qua khả năng sử dụng các phép tính và đo lường cơ bản, sử dụng các ngôn ngữ toán và sử dụng các công cụ tính toán” [18]

Qua đó, chúng ta có thể thấy năng lực tính toán của HS là một trong tám năng lực mà giáo dục đang rất quan tâm Giáo dục theo định hướng mới đang tìm ra các biện pháp để phát triển năng lực tính toán cho học sinh

Năng lực tính toán giúp người học không chỉ biết học thuộc các ghi nhớ một cách máy móc mà còn phải biết làm thông qua các hoạt động cụ thể Người học phải sử dụng những tri thức học được để giải quyết các tình huống

do cuộc sống đặt ra Nói cách khác phải gắn với thực tiễn đời sống Nếu như tiếp cận nội dung chủ yếu yêu cầu người học trả lời câu hỏi: Biết cái gì? Thì tiếp cận theo năng lực tính toán luôn đặt ra câu hỏi: Biết làm gì từ những điều

đã biết Như vậy, nói đến năng lực tính toán thì phải nói đến khả năng thực hiện, khả năng giải quyết bài toán chứ không chỉ biết và hiểu và học thuộc

Vấn đề phát triển năng lực tính toán cho HS là một yêu cầu không thể thiếu trong việc phát triển chương trình giáo dục phổ thông tổng thể Điều này

đã được nêu trong chiến lược phát triển từ năm 2011 đến năm 2020 [5]

Tuy nhiên thực trạng dạy học theo hướng phát triển năng lực tính toán cho học sinh trong trường THCS còn rất nhiều hạn chế, đặc biệt là rất khó

Trang 23

12

khăn đối với học sinh vùng núi, vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc thiểu số Vì vậy mỗi GV cần phải đổi mới các phương pháp dạy theo hướng dạy học phát huy năng lực tính toán cho học sinh và phải phù hợp với từng khu vực, vùng miền Một số biện pháp nhằm phát triển năng lực tính toán cho học sinh trong dạy học môn Toán ở trường THCS đã được nghiên cứu và đề xuất Tuy nhiên cần phải tổ chức thực hiện ở một số trường để khẳng định tính khả thi của các biện pháp đó

Trong luận văn, khi đề cập đến vấn đề năng lực tính toán của học sinh THCS nói chung và HS lớp 6 nói riêng cần chú ý một số biểu hiện cơ bản sau:

- Thực hiện thành thạo các phép tính số học (cộng, trừ, nhân, chia, lũy thừa với số tự nhiên, số nguyên, phân số) và bước đầu biết ước lượng trong giải quyết các vấn đề thực tiễn liên quan đến tính toán

- Sử dụng chính xác các ngôn ngữ toán học như thuật ngữ, kí hiệu toán học, tính chất của các phép tính, vẽ phác một số hình đơn giản, tính chất một số hình đơn giản…

- Biết vận dụng suy luận logic để biểu diễn được mối liên hệ toán học giữa các yếu tố trong các bài toán, tình huống và giải quyết những vấn đề đơn giản trong học tập và cuộc sống

- Sử dụng được một số dụng cụ đo, vẽ trong học tập như các loại thước, compa,…và sử dụng được máy tính cầm tay với những chức năng tính toán đơn giản trong học tập và trong cuộc sống

Như vậy, so với những quan niệm về năng lực tính toán của một số nước thì quan niệm về tính toán của luận văn được thể hiện ở phạm vi hẹp hơn Trọng tâm là kỹ năng thực hiện năm phép tính cộng, trừ, nhân, chia, nâng lên lũy thừa và vận dụng suy luận logic để giải quyết những vấn đề đơn giản trong học tập, trong cuộc sống liên quan đến tính toán

1.2.2.2 Công nghệ thông tin

Trang 24

13

Khái niệm về Công nghệ thông tin (CNTT) ở Việt Nam đã được định

nghĩa trong Nghị quyết Chính phủ 49/CP ký ngày 04/08/1993: “Công nghệ thông tin là tập hợp các phương pháp khoa học, các phương tiện và công cụ

kỹ thuật hiện đại, chủ yếu là kĩ thuật máy tính và viễn thông nhằm tổ chức khai thác và sử dụng có hiệu quả các nguồn tài nguyên thông tin rất phong

phú và tiềm năng trong mọi lĩnh vực hoạt động của con người và xã hội” [7]

Công nghệ thông tin bao gồm các lĩnh vực chính là quá trình tiếp thu,

xử lý, lưu trữ và phổ biến hóa âm thanh, hình ảnh, văn bản và thông tin số bởi

các vi điện tử dựa trên sự kết hợp giữa máy tính và truyền thông

Trong thời đại ngày nay - thời đại của công nghệ thông tin và nền kinh

tế tri thức - đã tạo ra những biến đổi to lớn trong mọi mặt hoạt động của con người và xã hội Việc ứng dụng công nghệ thông tin rộng rãi trên tất cả các lĩnh vực đã cho thấy vai trò to lớn và những tác dụng kì diệu của công nghệ thông tin trong các lĩnh vực của đời sống xã hội, đặc biệt trong lĩnh vực giáo

dục ở một số nước có nền giáo dục phát triển

Ở Việt Nam trong những năm qua, việc đổi mới nội dung, chương trình sách giáo khoa được thực hiện khá đồng bộ Đổi mới nội dung, chương trình yêu cầu phải đổi mới phương pháp dạy học Đổi mới phương pháp dạy học yêu cầu phải sử dụng phương tiện dạy học hiện đại và công nghệ thông tin là một trong những phương tiện quan trọng góp phần đổi mới phương pháp dạy học bằng việc cung cấp cho giáo viên những phương tiện làm việc tương

thích trong dạy học

Trong chiến lược phát triển giáo dục 2011 - 2020 của Bộ giáo dục và Đào tạo đã yêu cầu ngành giáo dục cần phải từng bước phát triển giáo dục dựa trên CNTT để tạo ra các thay đổi lớn trong việc truyền đạt nội dung của

chương trình đến với người học Do đó ta có thể khẳng định rằng: “Ứng dụng CNTT là một xu thế của giáo dục Việt Nam trong giai đoạn hiện nay và trong

Trang 25

14

tương lai lâu dài” [3]

Việc ứng dụng công nghệ thông tin vào dạy học còn làm thay đổi nội dung và phương pháp truyền đạt trong giờ dạy Nhờ các công cụ đa phương tiện của máy tính như hình ảnh, văn bản, đồ họa, âm thanh, hoạt cảnh,…giáo viên sẽ xây dựng bài giảng sinh động, tạo hứng thú, thu hút sự tập trung của người học,…dễ dàng thể hiện được các phương pháp sư phạm như phương pháp dạy học tình huống, phương pháp dạy học nêu vấn đề, thực hiện đánh giá và lượng giá học tập toàn diện, khách quan ngay trong quá trình học Việc ứng dụng công nghệ thông tin vào dạy học đã giúp học sinh được tiếp cận phương pháp học tập mới nhất, hấp dẫn hơn hẳn phương pháp đọc - chép truyền thống Ngoài ra, sự tương tác giữa thầy cô và học trò cũng được cải thiện đáng kể, học sinh có nhiều cơ hội thể hiện quan điểm cũng như chính kiến riêng của mình Điều này không chỉ giúp các em ngày càng thêm tự tin

mà còn để cho giáo viên hiểu thêm về năng lực, tính cách và mức độ tiếp thu kiến thức của học trò, từ đó có những điều chỉnh phù hợp và khoa học Hơn thế nữa, việc được tiếp xúc với nhiều công nghệ thông tin trong lớp học còn mang đến cho các em những kỹ năng tin học cần thiết ngay từ khi còn ngồi trên ghế nhà trường Các em học sinh sẽ được làm quen với các hình thức tự học như học online, học qua cầu truyển hình, tăng cường khả năng tìm kiếm thông tin, thuyết trình cho bài học của các em

Theo [15]: “Trong dạy học, sự hỗ trợ của CNTT có khả năng tạo môi

trường tương tác để người học hoạt động và thích nghi với môi trường” [15]

Giáo viên cần phải vừa dạy học sinh việc học, dạy tự học, đồng thời phải biết sử dụng và khai thác những phương tiện phù hợp để phục vụ cho quá trình lĩnh hội và khám phá ra tri thức của học sinh trong quá trình dạy học Mỗi hoạt động phải tạo ra được sự hứng thú học tập cho các học sinh Có nhiều cách tạo ra sự hứng thú và động cơ học tập cho học sinh nhưng quan

Trang 26

15

trọng nhất vẫn phải dựa trên sự lao động trong học tập và thành quả học tập của bản thân mỗi học sinh Tức là là vai trò giáo viên không phải là người ra lệnh, truyền thông tin một cách miễn cưỡng mà phải là người có vai trò thiết

kế, ủy thác, điều khiển và thể chế hóa để từ đó các học sinh được hoạt động

và tương tác

Hiện nay có rất nhiều phần mềm ứng dụng trong dạy học các bộ môn nói chung và các phần mềm chuyên biệt sử dụng trong giảng dạy môn toán Các phần mềm này rất hữu ích cho hỗ trợ giảng dạy theo phương pháp dạy

học tích cực như các phần mềm: MS PowerPoint, Violet,…

Đối với môn Toán không có nhiều tranh ảnh như các bộ môn khác nhưng không phải vì thế mà không cần đến ứng dụng công nghệ thông tin Bộ

đồ dùng dạy và học toán chỉ là những con số, các bài toán và những hình vẽ, thế nhưng những con số, bài toán và hình vẽ nếu đưa lên màn hình lớn với sự nhấn mạnh bằng các hiệu ứng như: cách đổi màu chữ hay gạch chân,… sẽ có hiệu quả hơn Chính vì thế mà việc đưa ứng dụng công nghệ thông tin vào

giảng dạy môn Toán là cần thiết

1.2.3 Ứng dụng công nghệ thông tin để nâng cao chất lượng dạy học môn toán

Để nâng cao chất lượng dạy học môn Toán, GV cần ứng dụng các phần mềm dạy học, nhất là những phần mềm dạy học môn Toán để củng cố, vận dụng và khắc sâu kiến thức Giáo viên cũng có thể áp dụng phần mềm dạy học trong việc kiểm tra bài cũ, xây dựng phần khởi động sinh động, tăng cường hứng thú học tập và phát hiện kiến thức mới cho HS Đặc biệt trong các tiết luyện tập, nếu GV biết khai thác phần mềm toán học một cách có hiệu quả sẽ thu hút HS chú ý, tăng cường vận dụng kiến thức để giải bài tập và nhất là phát triển khả năng tính toán cho HS Để làm được điều này trước tiên chúng ta cần làm rõ lí luận về phần này như sau:

Trang 27

sở học tập các kiến thức sau Chính vì vậy kiểm tra bài cũ là một khâu hết sức quan trọng Đổi mới phương pháp dạy học, nhất là đổi mới phương pháp kiểm

tra bài cũ là việc làm quan trọng và cấp bách

Để tạo được hứng thú cho HS xuyên suốt cả một tiết học thì cách vào bài cần phải lôi cuốn và hấp dẫn Thay vì vào bài trực tiếp, GV có thể bắt đầu với một vấn đề thu hút tất cả HS trong lớp tham gia là cách vào bài hiệu quả, thoải mái và nhanh chóng nhất GV nên tổ chức điều khiển hoạt động một cách có hiệu quả, tránh làm ồn, nhắc bài, hỏi bài, không trung thực trong việc kiểm tra bài cũ, đảm bảo HS không làm việc riêng hay không chú ý khi kiểm

tra bài cũ các HS khác

b) Các phương pháp và hình thức khởi động, kiểm tra bài cũ

Nếu trước đây để kiểm tra bài cũ, GV thường gọi một vài HS lên bảng trả lời câu hỏi hoặc làm một vài bài tập của GV yêu cầu Một tiết học, phần kiểm tra bài cũ thông thường chỉ có vài phút, GV chỉ có thể kiểm tra được một vài HS, do đó chưa đánh giá được tình hình chuẩn bị học tập, ôn tập bài

cũ của HS trong lớp Còn đối với kiểm tra bài cũ theo hình thức nhóm, HS chưa thể phát huy được hết tính tích cực, chủ động trong học tập dẫn đến hiệu quả của hoạt động nhóm không được như ý muốn Với phương pháp dạy học mới, GV cần thiết kế, tổ chức một hoạt động kiểm tra bài cũ với các phần thật

Trang 28

17

logic, từ đó hình thành được kiến thức mới Nếu GV lơ là, không để ý đến phần kiểm tra kiến thức cũ thì qua trình tiếp thu kiến thức của HS sẽ bị gián đoạn, HS sẽ bị hổng kiến thức và kĩ năng cần đạt được sau mỗi tiết học Điều

này sẽ ảnh hưởng đến chất lượng dạy và học ở GV và HS

Để phần khởi động đạt được hiệu quả cao, GV nên sử dụng và phối hợp nhiều hình thức và phương pháp để có thể kiểm tra được hầu hết HS trong lớp GV có thể lập kiểm tra tập thể hoặc kiểm tra phân nhóm ở các nội dung phù hợp với năng lực của HS GV nên sử dụng ngôn từ nhẹ nhàng, rõ ràng, dễ hiểu; cần tránh sự khó hiểu về câu hỏi hay những yêu cầu đặt ra làm ảnh hưởng đến việc khách quan khi kiểm tra bài Và đặc biệt thái độ sư phạm của

GV giữ vai trò rất quan trọng để tạo sự thaanh thiện, gần gũi với HS GV cần niềm nở, tránh ngắt lời, tránh những lời nói vô tình, xúc phạm HS khi các em

đang trả lời; cần nhận xét và sửa chữa lỗi sai kịp thời cho HS

Giáo viên chuẩn bị kĩ các câu hỏi cho phần kiểm tra bài cũ, có thể cho

HS chuẩn bị trước các câu hỏi đó ở nhà Hệ thống các câu hỏi đưa ra cần đảm bảo tính tối ưu như hệ thống câu hỏi dẫn dắt tìm hiểu bài mới, cần đảm bảo tính bao quát, tính trọng tâm và tính vừa sức GV nên chọn các câu hỏi kiểm tra phù hợp với từng đối tượng, mức độ kiểm tra tăng dần từ dễ đến khó với

mỗi HS để giúp HS tiến bộ

Như chúng ta đã biết, các hoạt độngg vui chơi đối với HS Tiểu học hay THCS là một yêu cầu rất cấp thiết Đối với môn Toán nếu GV biết chọn các hình thức tổ chức áp dụng trò chơi trong các giờ học sẽ giúp HS phấn khích

và có hào hứng mỗi khi đến lớp

Giáo viên có thể lựa chọn một số hình thức kiểm tra như:

- Tổ chức các trò chơi khởi động trước sau đó có các câu hỏi kiểm tra bài

cũ, dẫn dắt vào bài mới

Trang 29

năng lực cho HS, đặc biệt là năng lực tính toán

1.2.3.2 Dạy học củng cố kiến thức khi giảng dạy xong kiến thức mới

thành kiến thức mới” [16]

Củng cố kiến thức cho HS là một việc làm hết sức quan trọng và không thể thiếu của mỗi GV khi tiến hành dạy môn Toán ở trường THCS Nhờ quá trình củng cố mà HS được khắc sâu, hệ thống và khái quát những kiến thức đã học Trước đây, việc củng cố kiến thức chủ yếu vào cuối tiết học, GV có thực hiện củng cố song chỉ là việc làm tự phát và chủ yếu bằng kinh nghiệm của GV; GV nhận thức chưa đúng về tầm quan trọng của củng cố kiến thức Giờ đây, GV có thể tổ chức hoạt động củng cố sau mỗi đơn vị kiến thức hay xuyên suốt cả tiết học Muốn cho quá trình củng cố kiến thức đạt hiệu quả cao

Trang 30

tiết học đó; không vận dụng để tính toán thành thạo các bài toán hơi phức tạp

Giáo viên có thể củng cố kiến thức bằng sơ đồ tư duy hay tổ chức các trò chơi vận dụng kiến thức đã học Sau mỗi tiết học, để giảm bớt căng thẳng cũng như giúp HS nhớ nhanh, hiệu quả thì các trò chơi rất được khuyến khích

áp dụng Khi chọn một trò chơi để củng cố kiến thức, GV cần xem xét kĩ trò chơi nào phù hợp với nội dung bài học, phải đảm bảo cho HS thông qua trò chơi này giúp HS củng cố kiến thức bài vừa học là gì Với các phần mềm chuyên dụng, CNTT giúp GV thiết kế các hoạt động, các trò chơi để kiểm tra nhanh mức độ nhận biết, thông hiểu, vận dụng bậc thấp, vận dụng bậc cao GV

có thể thiết kế các câu hỏi trắc nghiệm, các trò chơi có hình ảnh, âm thanh 1.2.3.3 Dạy tiết Luyện tập trong môn Toán ở trường trung học cơ sở

Ngay từ tiểu học học sinh đã làm quen và biết đến những tiết luyện tập Trong phân phối chương trình môn Toán THCS các khối lớp hiện nay số lượng các tiết luyện tập cũng tăng đáng kể, nhằm đáp ứng mục tiêu đặt ra đó

là: tăng thực hành, giảm lý thuyết

Trang 31

20

a) Vị trí của những tiết luyện tập

Trong môn Toán, tiết luyện tập có tác dụng hoàn thiện các kiến thức cơ bản mà ở tiết lý thuyết vừa cung cấp; nâng cao kiến thức trong chừng mực có

thể; giúp học sinh nhớ và khắc sâu hơn những vấn đề tiết lý thuyết vừa học

Đặc biệt khi dạy tiết luyện tập, giáo viên cần lưu ý rằng tiết luyện tập không phải chỉ là tiết giải bài tập đã giao cho học sinh làm ở nhà trước đó hay giải bài tập mà giáo viên cho trên lớp mà cần coi đấy là tiết dạy cho học sinh cách suy nghĩ, tính toán giải bài toán Trong tiết luyện tập cần xác định rõ: thầy phải luyện cái gì và trò phải tập cái gì? Các tiết luyện tập sẽ có mục đích rõ ràng hơn các tiết bài tập Hiện nay SGK đã phân biệt rõ ràng phần luyện tập

và phần bài tập Trong các tiết luyện tập giáo viên được tự do hơn trong việc lựa chọn nội dung, chủ đề hơn so với tiết lý thuyết miễn sao đảm bảo mục tiêu

đề ra Giáo viên nên dành cho học sinh thời gian làm quen với bài toán, tự nghiên cứu tìm tòi lời giải bài toán và để học sinh được hưởng niềm vui khi tự

mình tìm ra chìa khóa để giải bài toán

b) Mục tiêu chung của tiết luyện tập

Xét về mục tiêu của tiết luyện tập, mỗi giáo viên khi giảng dạy cần lưu ý

ba điều sau:

Thứ nhất là, hoàn thiện kiến thức hoặc nâng cao ở mức độ phổ thông cho phép của tiết lý thuyết trước đó thông qua các chủ đề, các bài tập đã được sắp xếp hợp lý theo kế hoạch Hệ thống bài tập gồm: các bài tập trong SGK,

sách bài tập, các bài tập tự chọn, tự sáng tạo của giáo viên

Thứ hai là, rèn luyện cho học sinh các kỹ năng, thuật toán hoặc nguyên tắc giải toán dựa trên cơ sở nội dung lý thuyết vừa học và phù hợp với đa số

học sinh trong lớp

Thứ ba là, thông qua phương pháp và nội dung luyện tập, rèn luyện cho

học sinh nề nếp làm việc có khoa học, tư duy cần thiết

Trang 32

21

Chúng ta đều nhận thấy việc kích thích sự hứng thú đề học sinh yêu thích học tập bộ môn là một yếu tố không kém phần quan trọng trong việc dạy

học, đây là mục tiêu mà bất kì thầy cô giáo nào cũng mong muốn đạt tới

Trình độ nhận thức của mỗi học sinh trong lớp học không giống nhau

Có những học sinh học rất tốt, khá, giỏi, tiếp thu nhanh nhưng cũng có những học sinh học rất yếu, kém, tiếp thu chậm Do đó khi dạy tiết luyện tập, giáo viên cần tìm cách lôi cuốn tất cả các em học sinh, làm cho học sinh tập trung, trải nghiệm… qua đó thấy được cái hay, sự cần thiết và lợi ích của môn toán trong cuộc sống Trong Số học 6, nếu giáo viên chọn các chủ đề thích hợp có ứng dụng công nghệ thông tin trong các tiết luyện tập sẽ kích thích sự chú ý,

sự yêu thích của học sinh Với những phần mềm chuyên dụng, CNTT ngày càng hữu ích cho môn toán Ví dụ, CNTT giúp giáo viên tạo ra các học liệu, hình ảnh đồ họa đẹp mắt, sinh động chất lượng hay giáo viên có thể lưu giữ các học liệu liên quan đến dạy học với một dung lượng lớn và có thể soạn giáo án trên máy và in ra (nếu cần) không mất nhiều thời gian Ngoài ra, với các chức năng của các phần mềm trình diễn như PowerPoint, Violet… CNTT

có thể giúp GV tạo ra những trò chơi, qua đó HS có thể vừa học, vừa giải trí Những trò chơi gây hứng thú học tập hoặc củng cố kiến thức nhằm phát triển năng lực trí tuệ cho HS

1.2.4 Chương trình toán THCS

Chương trình toán THCS nhằm cung cấp cho học sinh những kiến thức cơ bản nhất về Số học, Đại số và Hình học để khi học sinh hoàn thành chương trình THCS có thể tham gia học nghề lao động sản xuất hoặc tiếp tục lên THPT

Về Số học: Học sinh được học về các dấu hiệu chia hết, tính chất chia hết của một tổng, số nguyên tố và hợp số

Trang 33

22

Về Đại số: Học sinh được học về các tập hợp số (N, Z, Q, R) và các phép tính, tỉ lệ thức và dãy tỉ số bằng nhau, đẳng thức và bất đẳng thức, phương trình và bất phương trình, căn bậc hai và căn bậc ba

Về Hình học: Học sinh được học về các đối tượng hình học cơ bản và các quan hệ hình học cơ bản, các đa giác (chủ yếu là tam giác và tứ giác) và tính chất, đường tròn và các tính chất, một số khối hình không gian

1.2.5 Chương trình Số học lớp 6

a) Yêu cầu dạy học

Trong quá trình dạy học nội dung Số học 6, GV cần đạt mức độ và yêu cầu sau:

+ Sử dụng các phương tiện dạy học trực quan hợp lý khi giảng dạy, GV phải cho học sinh thấy được ý nghĩa của việc học lý thuyết và thực tế, tác dụng giáo dục của toàn chương Giúp HS nắm vững khái niệm, tính chất, các định lý và ý nghĩa của chúng Từ đó, tạo động lực cho HS có ý thức trong việc rèn luyện kỹ năng sử dụng các kiến thức toán học vào việc giải các bài toán và thực tiễn

+ Lựa chọn hệ thống bài tập trong SGK nhằm mục đích củng cố kiến thức cơ bản, rèn luyện tư duy lôgic, trí tưởng tượng và bổ sung một số kiến thức không đề cập trong SGK

+ Sử dụng các hình ảnh minh họa trực quan phải giúp HS đạt được những kỹ năng sau đây: Biết lập luận có căn cứ, trình bày lời giải một cách lôgic, mạch lạc, biết vận dụng một cách sáng tạo các công thức toán khi giải các bài toán tính toán

Tóm lại, Trong hoạt động dạy học Số học 6, bằng phương pháp, phương tiện trực quan có thể tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động dạy học, tạo hứng thú học tập cho HS, cung cấp cho HS những kiến thức bổ ích, chính xác

Trang 34

23

Sự phân tích các đặc điểm nêu trên cho phép kết luận rằng: Yêu cầu sư phạm của việc xây dựng và sử dụng phương tiện trực quan dùng cho việc dạy học Số học 6 phải góp phần:

- Tạo ra các hình ảnh, clip, sơ đồ Toán học sinh động, phong phú tăng cường hứng thú, giúp học sinh nhận thức đầy đủ và trực quan về các khái niệm và công thức tính toán

- Tái tạo lại nội dung các vấn đề nghiên cứu trong dạng ngắn gọn, nhằm giúp học sinh củng cố ghi nhớ, áp dụng kiến thức

- Hướng dẫn học sinh lập luận có căn cứ

- Tạo điều kiện cho quá trình suy diễn trừu tượng phát triển thuận lợi b) Nội dung

Nội dung SGK môn Toán phần Số học 6 gồm 3 chương, trong đó 3 chương đầu HS ôn tập và bổ túc về số tự nhiên, chương thứ hai HS học kiến thức mới về số nguyên và chương cuối học về phân số Sau đây là kế hoạch nội dung của các chương theo sách giáo khoa năm 2018:

Chương 1: Ôn tập và bổ túc về số tự nhiên

§7: Lũy thừa với số mũ tự nhiên Nhân hai lũy thừa cùng cơ số 12-13

§9: Thứ tự thực hiện các phép tính/ Luyện tập 15-17

Trang 35

24

§11: Dấu hiệu chia hết cho 2, cho 5/ Luyện tập 20-21

§12: Dấu hiệu chia hết cho 3, cho 9/ Luyện tập 22-23

§14: Số nguyên tố Hợp số Bảng số nguyên tố/ Luyện tập 25-26

§15: Phân tích một số ra thừa số nguyên tố/ Luyện tập 27-28

§16: Ước chung và bội chung/Luyện tập 29-30

Chương II: Số nguyên

§3 Thứ tự trong tập hợp các số nguyên/ Luyện tập 42-43

§5: Cộng hai số nguyên khác dấu/ Luyện tập 45-46

§6: Tính chất của phép cộng các số nguyên/ Luyện tập 47-48

§7: Phép trừ hai số nguyên/ Luyện tập 49-50

Trang 36

25

§11: Nhân hai số nguyên cùng dấu/ Luyện tập 61-62

Chương III: Phân số

§11: Tính chất cơ bản của phép nhân phân số/ Luyện tập 83-84

§13: Hỗn số- Số thập phân- Phần trăm/ Luyện tập 87-89

§14: Tìm giá trị phân số của một số cho trước 90

§15: Tìm một số biết giá trị phân số của nó 91

Trang 37

26

Bảng 1.1 Nhận thức của GV và HS về dạy học phát triển năng lực

SL %

1

Câu 1: Để hình thành và phát triển năng lực tự học cho HS, GV cần phải

rèn luyện cho HS những kĩ năng:

Tự kiếm tra đánh giá kết quả học tập 29 58

Trang 38

27

Kết quả bảng 1.2 cho thấy cả GV và HS đều nhận thức rõ về dạy học phát triển năng lực Cụ thể: trên 75% GV cho rằng để hình thành và phát triển năng lực cho HS, GV cần phải rèn luyện cho HS những kĩ năng sau: Đọc sách và tài liệu (92%); Tìm kiếm tư liệu (88%); Xây dựng động cơ học tập (86%); Lập kế hoạch tự học (84%) Chỉ có 34% GV đồng ý rằng cần rèn

kĩ năng nghe giảng và ghi chép bài để phát triển NL cho HS

Còn đối với HS, có tới 53,5% HS đồng ý là NL có vai trò rất cần thiết cho HS và không có HS nào phủ định vai trò của phát triển NL trong dạy học hiện nay nói chung và dạy học môn Toán nói riêng

Vậy thực trạng việc dạy học theo hướng phát triển năng lực cho HS như thế nào? Để trả lời câu hỏi này chúng tôi tiến hành khảo sát cả GV và HS, kết quả được trình bày ở bảng 1.2 dưới đây

Bảng 1.2 Kết quả khảo sát GV về thực trạng việc dạy học theo hướng

phát triển năng lực cho HS ở THCS

SL %

Thầy/ Cô thường rèn luyện cho HS năng lực tự học ở mức:

Kết quả cho thấy 96% GV rất thường xuyên và thường xuyên dạy học theo hướng phát triển NL, chỉ có 4% GV không thường xuyên rèn luyện NL cho HS Điều này chứng tỏ từ nhận thức đúng đắn về dạy học phát triển NL

mà GV có PPDH phù hợp để đổi mới dạy học theo hướng tích cực

1.3.2 Khảo sát thực trạng sử dụng công nghệ thông tin trong dạy học Số học 6 ở trường Trung học cơ sở Chu Văn An, Tây Hồ, Hà Nội

Để tìm hiểu nhận thức của GV về vai trò của việc sử dụng CNTT trong dạy học Số học 6 nói riêng và môn Toán nói chung ở trường THCS, chúng tôi

Trang 39

28

đã đưa ra câu hỏi cho GV: Theo thầy (cô) việc sử dụng CNTT trong giảng dạy môn Toán có những vai trò nào sau đây? Kết quả được trình bày ở bảng 1.3 Bảng 1.3 Nhận thức của GV về vai trò của việc sử dụng CNTT trong dạy học

Kết quả khảo sát trên cho thấy, 100% GV đều nhận thức đúng đắn về vai trò của việc ứng dụng CNTT trong giảng dạy môn Toán Phần lớn GV nhận thức được CNTT có vai trò tạo hứng thú cho HS, giúp giảm thiểu việc học chay, nâng cao chất lượng môn học, giúp HS dễ quan sát và có tính năng tương tác cao Ngoài ra, nhiều GV cũng thấy được việc sử dụng CNTT góp phần phát huy tính sáng tạo của HS trong dạy học Tuy nhiên, có đến 42%

GV không cho rằng sử dụng CNTT tiết kiệm thời gian cho GV

Ngoài ra, hầu như các giáo viên dạy toán đều cho rằng học Số học khó đối với học sinh lớp 6, học sinh mới chuyển giao cấp học, cách học thay đổi, HS thường thụ động trong việc tiếp thu kiến thức

Từ kết quả này chúng tôi nhận thấy việc ứng dụng CNTT trong dạy học

Số học 6 là hết sức cần thiết

Đặc biệt, trong dạy học phát triển năng lực cho HS cần đổi mới phương pháp dạy học phù hợp với đối tượng HS và điều kiện thực tế của địa phương

Trang 40

29

Đổi mới dạy học cần gắn liền với đổi mới kiểm tra đánh giá theo hướng phát huy tính tích cực của HS, vì vậy, việc dạy học cần chú trọng cả 3 khâu là dạy học kiến thức mới, ôn tập, củng cố kiến thức và kiểm tra - đánh giá Vì vậy chúng tôi đã đặt bảng hỏi cho GV và HS về việc sử dụng CNTT nhằm phát triển năng lực Toán học cho HS Kết quả được trình bày ở bảng 1.4

Bảng 1.4 Kết quả khảo sát việc GV sử dụng CNTT trong các khâu của quá

trình dạy học

Mục đích sử dụng CNTT Số lượng %

Tuy nhiên, với HS, khi học môn Toán các em gặp những khó khăn là: 62,6% HS cảm thấy nội dung khó hơn hẳn Tiểu học; 19,8% HS khó khăn khi thay đổi môi trường học; 39,5% HS khó khăn khi tiếp cận các thuật ngữ, khái niệm Đặc biệt có tới 56,4% HS thấy bài giảng của GV còn đơn điệu, chưa sinh động Kết luận này được minh chứng ở bảng 1.5

Ngày đăng: 16/03/2021, 23:17

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w