Một số nguyên tắc tổ chức dạy học tác phẩm theo định hướng phát triển năng lực đọc hiểu truyện ngắn nước ngoài cho học sinh Trung học cơ sở .... Xuất phát từ những lý do cấp thiết trên,
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Lời đầu tiên cho phép tôi xin gửi lời cảm ơn đặc biệt và lòng biết ơn sâu
sắc đối với thầy GS.TS Lê Huy Bắc, người đã tận tình trực tiếp hướng dẫn tôi
hoàn thành luận văn này
Tôi cũng xin được gửi lời cảm ơn chân thành nhất tới Ban giám hiệu, các thầy cô trong Khoa Sư phạm Trường Đại học Giáo Dục, Đại học Quốc Gia
Hà Nội đã tận tình giúp đỡ, chỉ bảo tôi trong suốt hai năm học vừa qua
Đồng thời tôi xin chân thành cảm ơn gia đình, bạn bè đã giúp đỡ, hỗ trợ
để luận văn được hoàn thành đầy đủ
Luận văn cũng là kết quả của quá trình học tập và sự nỗ lực của bản thân tôi, tuy nhiên không tránh khỏi những thiếu sót Tôi rất mong nhận được sự góp ý của thầy cô và bạn bè để hoàn thiện hơn Luận văn của mình
Hà Nội, ngày 01 tháng 10 năm 2018
Tác giả Trần Thị Mai Thủy
Trang 5DANH MỤC CÁC BẢNG, HÌNH ẢNH
Bảng 1.1 Khảo sát sự yêu thích của học sinh sau khi học
đoạn trích “Chiếc lá cuối cùng”
22
Bảng 1.2 Khảo sát việc đọc đoạn trích “Chiếc lá cuối cùng”
của học sinh trước giờ lên lớp
23
Bảng 3.1 Kết quả kiểm tra trình độ học tập của hai lớp trước
khi tham gia dạy thực nghiệm
61
Bảng 3.2 Kết quả kiểm tra HS 2 lớp sau dạy thực nghiệm 75 Hình 3 Hình ảnh chiếc lá thường xuân ngoài cuộc sống 65
Trang 6MỤC LỤC
Lời cảm ơn i
Danh mục các chữ viết tắt ii
Danh mục các bảng, hình ảnh iii
MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 3
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 4
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 5
5 Phương pháp nghiên cứu 5
6 Đóng góp của luận văn 6
7 Cấu trúc luận văn 6
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 7
1.1 Lý thuyết định hướng phát triển năng lực đọc hiểu 7
1.1.1 Khái niệm năng lực đọc hiểu và năng lực trong dạy học môn Ngữ văn 7 1.1.2.Năng lực đọc hiểu văn ản và phát triển năng lực đọc môn Ngữ văn của học sinh Trung học cơ sở 10
1.1.3 Đặc điểm t m sinh l của học sinh Trung học cơ sở trong việc dạy học phát triển năng lực đọc hiểu 12
1.1.4 Những qu n điểm ạy học t ch cực liên qu n đến đổi mới phương pháp dạy học truyện ngắn nước ngoài và đoạn tr ch “Chiếc lá cuối cùng” 14
1.2 Cơ sở thực tiễn 15
1.2.1 Mục tiêu, nội ung, phương pháp ạy học đoạn tr ch “Chiếc lá cuối cùng” (Tr ch Chiếc lá cuối cùng) củ O Henry theo chương trình và sách giáo kho hiện hành 15
1.2.2 Khảo sát thực trạng dạy học đoạn tr ch “Chiếc lá cuối cùng” (Tr ch Chiếc lá cuối cùng) củ O Henry theo chương trình và sách Ngữ văn hiện hành 17
Trang 71.3 Lý thuyết truyện ngắn và năng lực đọc hiểu truyện ngắn 28
1.3.1 Khái niệm truyện ngắn và đặc trưng của thể loại truyện ngắn 28 1.3.2 Ph n loại truyện ngắn 34 1.3.3 Vị tr của truyện ngắn nước ngoài trong chương trình giáo ục phổ thông 35
1.4 Đặc điểm truyện ngắn của O Henry 37
1.4.1 Tác giả O Henry 37 1.4.2 Đặc điểm truyện ngắn của O Henry 38
1.4.3 Vị tr củ tác phấm “Chiếc lá cuối cùng” trong chương trình Ngữ văn
phổ thông 39
Tiểu kết chương 1 40 CHƯƠNG 2 TỔ CHỨC DẠY HỌC TÁC PHẨM “CHIẾC LÁ CUỐI CÙNG” THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC ĐỌC HIỂU TRUYỆN NGẮN NƯỚC NGOÀI CHO HỌC SINH TRUNG HỌC CƠ
SỞ 41
2.1 Một số nguyên tắc tổ chức dạy học tác phẩm theo định hướng phát triển
năng lực đọc hiểu truyện ngắn nước ngoài cho học sinh Trung học cơ sở 41
2.1.1 Nguyên tắc đảm bảo sự thống nhất giữ t nh kho học và t nh giáo ục
trong dạy học 41
2.1.2 Nguyên tắc đảm bảo sự thống nhất giữ t nh tự giác, t nh t ch cực, t nh
độc lập, sáng tạo và sự tự học của học sinh 41
2.1.3 Nguyên tắc đảm bảo sự thống nhất giữ t nh trực quan với sự phát triển
tư uy lý thuyết trong dạy học đoạn tr ch “Chiếc lá cuối cùng” 42
2.1.4 Nguyên tắc đảm bảo t nh vừa sức và chú ý tới đặc điểm lứa tuổi
Trung học cơ sở 43
2.2 Đề xuất định hướng phát triển năng lực đọc hiểu truyện ngắn nước ngoài
cho học sinh Trung học cơ sở 44
2.2.1 Đổi mới mục tiêu ạy học 44
2.2.2 Đổi mới về nội dung dạy học 45
Trang 82.2.3 Đổi mới về phương pháp ạy học 52
Tiểu kết chương 2 59
CHƯƠNG 3 THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 60
3.1 Mục đích, đối tượng và nội dung thực nghiệm 60
3.1.1 Mục đ ch thực nghiệm 60
3.1.2 Đối tượng và nội dung thực nghiệm 60
3.2 Phương pháp và quy trình thực nghiệm 61
3.2.1 Phương pháp thực nghiệm 61
3.2.2 Quy trình thực nghiệm 61
3.3 Đề xuất những việc làm cụ thể khi thực nghiệm và kết quả sau khi tiến hành thực nghiệm 62
3.3.1 Thiết kế giáo án 62
3.3.2 Thuyết minh giáo án thực nghiệm 74
3.3.3 Kết quả thực nghiệm 75
3.3.4 Đánh giá thực nghiệm 76
Tiểu kết chương 3 77
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 78
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 80 PHỤ LỤC
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Nền giáo dục trên thế giới đang phát triển như vũ bão với những cải cách về nội dung chương trình giáo dục và phương pháp giáo dục hướng tới phát triển con người tốt nhất và ngày càng hoàn thiện hơn Trước những thách thức lớn của thời đại thì nền giáo dục phổ thông nước nhà vài năm trở lại đây đang có những bước chuyển tích cực Nền giáo dục phổ thông nước nhà đang chuyển mục tiêu, từ hướng tiếp cận nội dung sang hướng tiếp cận năng lực giúp học sinh (HS) phát triển một cách toàn diện hơn Kết quả của việc dạy học không chỉ đơn giản là quan tâm học sinh học được cái gì mà học sinh sẽ áp dụng được những gì đã học vận dụng vào thực tế cuộc sống thế nào Phương pháp (PP) dạy học truyền thống theo lối “truyền thụ một chiều” nghĩa là chỉ có người dạy hoạt động là chủ yếu sang dạy học “lấy người học làm trung tâm” - phát triển năng lực Đại hội Đảng lần thứ XI đã chỉ rõ ràng rằng từ nội dung, phương pháp dạy - học tất cả các cấp bậc học đều phải được phát triển, đổi mới một cách mạnh mẽ, tích cực Nghĩa việc đổi mới phương pháp dạy học (PPDH) và việc đánh giá kiểm tra kết quả giáo dục phải đi theo hướng phát triển năng lực (NL) của người học
Năng lực và năng lực đọc hiểu văn bản là một trong những khái niệm được quan tâm nhìn nhận, đánh giá và trao đổi trong vài năm trở lại đây Dạy học theo hướng tiếp cận năng lực người học giúp phát triển các năng lực chuyên biệt cần thiết trọng học tập văn như năng lực sáng tạo, năng lực tiếp nhận, năng lực phê bình Bốn kĩ năng nghe – nói – đọc – viết cũng cần được chú ý nâng cao mới có thể phát huy được tính cực, chủ động sáng tạo của học sinh Năng lực đọc hiểu (NLĐH) văn bản tuy là là năng lực quan trọng cần ở
HS trong việc học tập môn Ngữ văn, nhất là khi phương pháp giáo dục được đổi mới, thế nhưng lại chưa đạt chuẩn ở lứa tuổi trung học
Trong các nhà trường phổ thông hiện nay, tình trạng giảng dạy theo kiểu chỉ dựa vào giảng, bình, diễn giảng, bình luận, phân tích vẫn còn rất phổ
Trang 10biến Lý do tình trạng này dù đã được nhiều lần đề xuất thay đổi nhưng vẫn tiếp tục tiếp diễn là do nhiều yếu tố, điều kiện khiến cho cả giáo viên và học sinh không thể thay đổi được cách học tập cố hữu Người học thì còn các tình trạng như học sinh học thụ động vì đã hoàn toàn mất năng lực đọc – hiểu văn bản văn học do lối học cũ thiếu sáng tạo, chỉ hầu như là giáo viên giảng, học sinh nghe, giáo viên đọc, học sinh chép Sự thiếu tương tác giữa trò và thầy, giữa trò với trò dẫn đến học sinh bị hạn chế các kỹ năng đọc – hiểu cần thiết Trong khi để học sinh thực sự hứng thú và yêu thích với tiết học thì phải tạo cho học sinh sự đam mê và chủ động trong tiết học ngay từ đầu
Văn bản (VB) truyện ngắn, đặc biệt là truyện ngắn nước ngoài chiếm số lượng không quá lớn trong chương trình Ngữ văn Trung học cơ sở (THCS), thế nhưng các văn bản lại được lựa chọn khá phong phú, thuộc nhiều trào lưu, khuynh hướng khác nhau Những văn bản truyện ngắn đó đều là những tinh hoa văn hóa của nhân loại được đội ngũ biên soạn sách giáo khoa chọn lọc đưa vào chương trình giảng dạy Mỗi loại văn bản đều có đặc trưng riêng
cả về nội dung lẫn hình thức nên không thể áp đặt văn bản nào cũng có phương pháp dạy - học giống hệt nhau Bởi sự áp đặt đó sẽ vô hình chung khiến cho học sinh hiểu nhầm hoặc không thể hiểu hết được ý nghĩa mà tác phẩm muốn truyền tải Vậy nên phương pháp dạy đọc – hiểu truyện ngắn nước ngoài vẫn là vấn đề khiến các thầy cô chú ý, quan tâm Nhất là khi dạy học văn bản truyện ngắn nước ngoài cũng phải gắn liền với dạy học phát triển năng lực đọc hiểu cho học sinh Tuy nhiên vấn đề này lại chưa được nghiên cứu, tìm hiểu một cách rõ ràng, chi tiết, cụ thể Điều này khiến cho bản thân những giáo viên như chúng tôi thực sự lúng túng khi lựa chọn phương pháp giảng dạy học phần truyện ngắn nước ngoài
Xuất phát từ những lý do cấp thiết trên, tôi đã lựa chọn đề tài “Phát triển năng lực đọc hiểu truyện ngắn nước ngoài cho học sinh Trung học cơ sở qua
dạy học tác phẩm Chiếc lá cuối cùng của O Henry” Hy vọng luận văn có thể
đưa ra một vài biện pháp khắc phục được phần nào những khó khăn còn tồn
Trang 11đọng trên và đưa ra một phương pháp giảng dạy truyện ngắn nước ngoài cụ thể có thể giúp các thầy cô giáo có hướng đi đúng đắn trong giảng dạy và học sinh cũng có thể có điều kiện học tập tốt hơn, kiến thức được nâng cao, duy trì hứng thú học tập với môn văn
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Dự thảo chương trình giáo dục phổ thông tổng thể ban hành ngày 5/8/2015 của Bộ Giáo Dục và Đào Tạo (GD&ĐT), chương trình giáo dục phổ thông mới sẽ không chỉ dừng ở việc giúp HS tiếp thu trọn vẹn nội dung kiến thức mà còn giúp HS hình thành, phát triển 8 năng lực (NL) chung bao gồm:
NL tự học, NL giải quyết vấn đề và sáng tạo, NL thẩm mỹ, NL thể chất, NL giao tiếp, NL hợp tác, NL tính toán, NL công nghệ thông tin và truyền thông Đọc hiểu (ĐH) không phải là một khái niệm đã tồn tại từ rất lâu, khái niệm này mới chỉ xuất hiện trong giới văn chương từ thập niên 40 của thế kỉ
XX Đọc hiểu gắn liền với đọc văn Chính lẽ đó mà nhiều nhà nghiên cứu cho rằng đọc hiểu liên quan đến hành vi ngôn ngữ
Nhà nghiên cứu Nguyễn Thái Hòa trong bài viết “Vấn đề đọc hiểu và dạy đọc hiểu” quan niệm rằng đọc hiểu đơn giản hay phức tạp thì cũng đều là hành vi ngôn ngữ, thông qua thị giác và thính giác để tạo lập thao tác tiếp nhận, phân tích và ghi nhớ thông tin
Tác giả Nguyễn Trọng Hoàn lại có ý kiến như đọc không thể hiểu đơn giản là đọc bằng miệng mà còn dùng tâm hồn, tình cảm, văn hóa, trải nghiệm
để cảm nhận văn bản Sự hoàn thiện trong nhân cách của nhà văn cũng chính
là sự hoàn thiên nhân cách trong tâm hồn độc giả Qua tác phẩm văn học mà thấy được con người, thấy được thời đại tác giả sinh sống
Theo ý kiến của tác giả Xavier Roegiers thì chúng tôi hiểu rằng đọc tác phẩm không chỉ là đọc chữ viết mà còn đọc cả nhận thức, đọc cả cách bản thân cần hiểu về tác phẩm
Nhà nghiên cứu Antoine cũng có quan điểm tương đồng với tác giả Xavier Roegiers khi nhận xét đọc văn bản chính là một trải nghiệm kép Trải
Trang 12nghiệm đó không có ranh giới rõ ràng, đan xen sự giằng xé giữa cảm xúc, giữa sự tự do thể hiện và cách sử dụng câu thức, giữa mối bận tâm về người khác và sự băn khoăn của chính bản thân
Từ sự nghiên cứu của những tác giả đi trước, khái niệm đọc hiểu dần được hình thành Đọc hiểu giống như một khái niệm khoa học Tuy rằng đọc hiểu được hình thành từ quá trình học tập, nghiên cứu của HS, nhất là với môn văn thì đọc hiểu được xem là yếu tố quan trọng trong việc tìm hiểu ý nghĩa, giá trị của tác phẩm nhưng không phải là một cách đọc diễn cảm thông thường mà nhiều người vẫn lầm hiểu Chính vì vậy tác giả Phạm Thị Thu Hương mới khẳng định đọc hiểu và hoạt động dạy đọc hiểu là hai khái niệm khác nhau, một hoạt động của người học và một hoạt động của người dạy Nhìn chung, các bài báo, cuốn sách hay những nghiên cứu liên quan đến vấn đề đọc hiểu đều ít nhiều được trình bày, luận giải trong mối liên hệ với dạy học đọc hiểu trong nhà trường Những công trình nghiên cứu thiên về lí thuyết đọc hiểu xuất phát từ đọc văn với những thao tác kĩ thuật, kĩ năng thuộc các loại và thể loại khác nhau như cuốn “Dạy học tập đọc ở Tiểu học” (2001) của tác giả Lê Phương Nga và cuốn “Dạy học đọc hiểu ở Tiểu học” của tác giả Nguyễn Thị Hạnh,… bước đầu thuyết phục được người đọc về cơ
sở khoa học của dạy đọc hiểu văn bản
Trong chương trình Ngữ văn THCS, truyện ngắn nước ngoài chiếm một
số lượng không nhỏ trong khối lượng kiến thức cần dạy cho HS và cũng đang rất được các thầy cô quan tâm, chú ý Đặc biệt là biện pháp dạy đọc hiểu truyện ngắn nước ngoài theo hướng phát triển năng lực đọc hiểu trở thành vấn đề khiến các thầy cô giáo luôn băn khoăn, trăn trở Mặc dù được quan tâm, chú ý nhưng vẫn chưa có một công trình nghiên cứu cụ thể nào về phát triển năng lực đọc hiểu truyện ngắn nước ngoài cho HS THCS
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của luận văn nhằm đề xuất một số biện pháp dạy học tích cực cụ thể nhằm phát triển năng lực đọc hiểu truyện ngắn nước ngoài cho học sinh THCS
Trang 133.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để thực hiện nghiên cứu trên, luận văn có nhiệm vụ:
- Nghiên cứu, xác định cơ sở lí luận, thực tiễn của việc dạy học truyện ngắn nước ngoài trong chương trình Ngữ văn 8 để phát triển năng lực đọc hiểu cho học sinh
- Khảo sát và đánh giá thực trạng dạy đọc hiểu truyện ngắn nước ngoài ở trường THCS
- Đề xuất biện pháp dạy học truyện ngắn nước ngoài ở lớp 8 để phát triển năng lực đọc hiểu cho học sinh
- Kiểm tra, đánh giá tính khả thi của các biện pháp thông qua thực nghiệm sư phạm
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là các vấn đề liên quan đến đọc hiểu truyện ngắn nước ngoài và phương pháp dạy học nhằm nâng cao, phát triển năng lực đọc hiểu truyện ngắn nước ngoài cho học sinh THCS
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Do phạm vi nghiên cứu hẹp và khả năng nghiên cứu nên trong luận văn này chúng tôi chỉ xin phép nghiên cứu đi sâu vào việc khảo sát dạy học văn
bản truyện ngắn nước ngoài Chiếc lá cuối cùng trong chương trình Ngữ văn 8
và đưa ra các biện pháp dạy học tích cực nhằm phát triển năng lực đọc hiểu cho học sinh
5 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện đề tài này, tôi sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:
- Phương pháp nghiên cứu lí thuyết
- Phương pháp điều tra
- Phương pháp khảo sát
- Phương pháp thực nghiệm
Trang 146 Đóng góp của luận văn
Với mục đích tìm hiểu, đề xuất một số phương pháp dạy học tích cực nhằm nâng cao năng lực đọc hiểu truyện ngắn nước ngoài cho học sinh THCS, luận văn sẽ cung cấp cho giáo viên những gợi ý thiết thực trong quá trình giảng dạy môn Ngữ Văn nói chung và dạy đọc – hiểu truyện ngắn nước ngoài nói riêng và hướng dẫn học sinh cách học tập hiệu quả nhất để phát triển năng lực đọc hiểu truyện ngắn nước ngoài
7 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục, nội dung luận văn gồm có 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn
Chương 2: Tổ chức dạy học tác phẩm Chiếc lá cuối cùng theo định
hướng phát triển năng lực đọc hiểu truyện ngắn nước ngoài cho HS THCS Chương 3: Thực nghiệm sư phạm
Trang 151.1.1.1 Khái niệm năng lực
Khái niệm năng lực xuất hiện từ rất sớm nhưng chỉ được bắt đầu nghiên cứu từ những năm 70 của thế kỉ XX nhưng quan điểm tiếp cận và cách định nghĩa của mỗi nghiên cứu lại không hề giống nhau
Có ý kiến cho rằng NL chính là khả năng hoàn thành thành công trong một hoàn cảnh xã hội cụ thể đáp ứng những yêu cầu khó, phức tạp NL có cấu trúc nội tại bao hàm nhiều yếu tố phức tạp về tri thức, kĩ năng nhận thức,
kĩ năng thực hành, quan điểm, thái độ, nhân phẩm và đạo đức NL có bản chất năng động và có mối liên hệ chặt chẽ, mật thiết với hoàn cảnh thực hiện
NL được hình thành, phát triển, thể hiện qua hoạt động
NL theo Từ điển Tiếng Việt do Hoàng Phê làm chủ biên có thể được
NL có thể tồn tại ở dạng tiềm năng theo cách hiểu trên nên ở lĩnh vực tâm lý học, NL cũng có cách định nghĩa tương tự NL ở đây được hiểu chính
là kĩ xảo và khả năng đã sẵn ở bản thân hoặc được rèn luyện qua quá trình học tập, trải nghiệm, giải quyết những tình huống trong đời sống một cách hiệu quả, linh hoạt
Trang 16Theo định nghĩa của PISA thì NL cũng có cách hiểu tương đương với trong lĩnh vực tâm lý học NL cũng chính là khả năng giải quyết có hiệu quả, trách nhiệm các vấn đề, yêu cầu của bản thân hay xã hội dựa trên nhưng kiến thức, những kỹ và kinh nghiệm đã có được từ quá trình trải nghiệm, rèn luyện của bản thân Qua những cách định nghĩa trên thì người đọc có thể hiểu NL
sẽ bao gồm kiến thức, kĩ năng, thái độ luôn được người học sử dụng linh hoạt trong một tình huống nhất định thì sẽ phái triển thành NL
Trong Tâm lí học hay PISA thì NL đều có điểm chung cốt lõi trong những cách hiểu về khái niệm chính là khả năng nhận thức và vận dụng kiến thức, kĩ năng và thái độ trong học tập và trong thực tiễn cuộc sống Tuy nhiên mỗi người lại có khả năng không giống nhau nên hiệu quả của quá trình tiếp thu nhận thức và vận dụng thực tiễn cũng sẽ khác nhau, cao hay thấp là do
NL của mỗi người
Và chúng ta cũng nhận thấy, năng lực của HS phổ thông bao hàm: những kĩ năng, kinh nghiệm, khả năng vận dụng kiến thức, thái độ… để hoàn thành tốt nhiệm vụ học tập, giải quyết được các vấn đề liên quan đến thực tế cuộc sống của bản thân mình
Nhìn chung, năng lực sẽ được hiểu là khả năng vận dụng kiến thức, thái
độ, kinh nghiệm để hoàn thành một cách hiệu quả nhất các nhiệm vụ, tình huống xảy ra trong các lĩnh vực liên quan đến đời sống, công việc, xã hội trên
cơ sở vận dụng sự hiểu biết, kĩ năng của bản thân
1.1.1.2 Khái niệm đọc hiểu
Đọc hiểu là khái niệm được biết đến nhiều nhất trong dạy học văn Chương trình Giáo dục được cải cách, đổi mới nên từ bình giảng văn học, phân tích văn học đã được đổi tên thành đọc-hiểu văn bản Do khái niệm được tiếp cận từ nhiều vấn đề và góc độ khác nhau nên đọc-hiểu cũng có rất nhiều quan niệm khác nhau:
Theo Anderson và Pearson (1984), năng lực nhận thức luôn phức tạp, khó khăn nên đòi hỏi thông tin trong văn bản phải luôn được tích hợp với tri
Trang 17Theo tác giả Phạm Thị Thu Hương (2012), bản chất của ĐH là quá trình người đọc thông qua các hoạt động tư duy nhận thức, hành động để kiến tạo ý nghĩa của văn bản
Do ĐH có thể giúp người đọc giải quyết được những nhiệm vụ trong học tập và giải quyết các vấn đề ở cuộc sống nên ĐH còn là năng lực – năng lực đọc hiểu Văn học chính là nơi năng lực ĐH được hình thành nên năng lực DDH có thể xem là năng lực chuyên biệt của môn Ngữ văn
Năng lực ĐH đang không ngừng được nâng cao và hoàn thiện khi không chỉ dùng để giúp học sinh hoàn thành nhiệm vụ học tập mà còn giúp HS giải quyết những vấn đề trong đời sống Điều này đã khiến năng lực đọc hiểu thành năng lực chung mà học sinh cần có
1.1.1.3 Năng lực trong dạy học môn Ngữ văn
a Các năng lực chung cốt lõi cần hình thành cho học sinh phổ thông
Dự thảo Chương trình phổ thông tổng thể sau 2015 đã khẳng định HS
phổ thông cần thiết hình thành và phát triển những NL sau:
Trang 18- Năng lực hợp tác;
- Năng lực tính toán;
- Năng lực công nghệ thông tin và truyền thông (ICT)
b Năng lực chuyên biệt môn Ngữ văn
Tác giả Phan Trọng Luận đã quan tâm, triển khai rõ ràng khái niệm NL trong dạy học văn có 3 loại năng lực văn chương: năng lực sáng tạo, năng lực phê bình và năng lực tiếp nhận Và NL tiếp nhận với HS là NL vô cùng quan trọng cần có trong quá trình học tập nên phải được hình thành ở tất cả HS
TS Phạm Minh Diệu cũng cho rằng trong môn Ngữ văn HS cần hình thành 2 năng lực cơ bản: năng lực đọc hiểu (tiếp nhận văn bản), năng lực làm văn (tạo lập văn bản)
Trong môn Ngữ văn, năng lực chuyên biệt có thể sẽ bao gồm:
- Năng lực giải quyết vấn đề
- Năng lực sáng tạo
- Năng lực hợp tác
- Năng lực tự quản bản thân
- Năng lực giao tiếp tiếng Việt
- Năng lực thưởng thức văn học /cảm thụ thẩm mỹ
1.1.2 Năng lực đọc hiểu văn bản và phát triển năng lực đọc môn Ngữ văn
của học sinh Trung học cơ sở
1.1.2.1 Khái niệm đọc hiểu văn ản
Ở Việt Nam tính đến thời điểm hiện tại thì khái niệm đọc hiểu văn bản (ĐHVB) vẫn còn có nhiều điểm cần trao đổi thảo luận, trước hết là vấn đề về bản chất của khái niệm ĐHVB
Theo GS Nguyễn Thanh Hùng thì đọc không chỉ đơn giản là tái tạo âm thanh từ ngôn từ mà đọc còn là quá trình khơi dậy xúc cảm, giác quan và thấu hiểu tín hiệu để giải mã ngôn ngữ, mã hóa văn hóa, nghệ thuật, bên cạnh đó thì kinh nghiệm sống của bản thân người đọc cũng được tập hợp để tìm ra ý nghĩa tư tưởng, thẩm mỹ mà tác phẩm muốn gửi gắm Thông qua đọc – hiểu,
Trang 19NL và kiến thức của từng cá nhân con người mới có cơ hội được bộc lộ và phát triển rõ Bên cạnh đó thì việc đọc – hiểu cũng trở thành kinh nghiệm, văn học, nâng tầm nhận thức của con người về việc đọc – hiểu
Theo GS Trần Đình Sử thì ĐHVB là một quá trình đối thoại, người đọc
sẽ đối thoại với tác giả thông qua cách hiểu biết của mình với văn bản Đọc giúp người đọc là liên hệ với các văn bản có trước, đó là mối liên hệ liên văn bản rộng rãi và chặt chẽ Đọc tạo mối liên hệ với ngữ cảnh của văn bản, sáng tác của nhà văn, hoàn cảnh xã hội, văn hóa, lịch sử
Theo cách hiểu của PISA, tổ chức OECD quan niệm thì đọc hiểu là sự nhận biết, tri nhận, sử dụng và đưa ý kiến phản hồi trước một văn bản viết, nhằm mục đích, phát triển tri thức và tiềm năng cũng như việc tham gia hoạt động của người đọc trong xã hội
Từ những quan niệm của các tác giả, khái niệm ĐHVB được hiểu là một quá trình khám phá, tri nhận, tiếp thu nội dung ý nghĩa của VB Trong đó xã hội, con người, thời đại được tái hiện trong cấu trúc hình tượng thẩm mĩ của tác phẩm đan xen giữa hoạt động tri nhận, đánh giá, thưởng thức giá trị nội dung và nghệ thuật độc đáo của tác phẩm
1.1.2.2 Phát triển năng lực đọc hiểu môn Ngữ văn của HS THCS
CT Ngữ văn THCS hiện hành nêu 3 loại văn bản để dạy học đọc hiểu:
- Văn bản nhằm mục đích truyền đạt thông tin (VB thông tin)
- Văn bản nhằm mục đích biểu cảm: thổ lộ, bày tỏ tình cảm, tư tưởng của tác giả về/ với một đối tượng nào đó (VB văn học)
- Văn bản nhằm mục đích thuyết phục (VB nghị luận)
Dù theo cách phân loại nào thì truyện ngắn nói chung và truyện ngắn nước ngoài nói riêng thuộc văn bản văn học, văn bản nhằm mục đích biểu cảm
Phát huy năng lực đọc hiểu cho HS thì bản thân HS cần hình thành 3 bước cơ bản:
Bước 1: Đọc thông – thuộc (nhận biết)
Trang 20Bất cứ VB nào trước khi muốn tìm hiểu HS đều phải đọc VB ít nhất một lần
Để phát triển năng lực đọc hiểu VB thì đây là bước bắt buộc Chỉ có đọc thông thạo thì HS mới có thể tri giác được toàn bộ VB Bước đầu hình thành những ấn tượng đầu tiên về tác phẩm
Đọc thuộc chính là cách giúp HS ghi nhớ được tối đa VB Sau khi đọc thuộc,
HS sẽ nhớ được chính xác được những thông tin quan trọng liên quan đến bài học bao gồm tên tác phẩm, tên tác giả, hoàn cảnh sáng tác, nội dung chính của tác phẩm cùng những tình tiết chính của cốt truyện (với VB truyện ngắn)
sẽ đều được hình thành trong bước đọc thuộc này
Bước 2: Đọc hiểu – sáng tạo (thông hiểu)
Nếu ở bước 1 HS chỉ cần ghi nhớ được những thông tin quan trọng của VB thì ở đọc sáng tạo HS cần phải huy động tối đa những kiến thức mà mình có liên quan đến nhiều lĩnh vực đến VB để tìm hiểu nội dung của VB Ngoài đọc diễn cảm mà nhiều người vẫn nghĩ là quan trọng trong bước này thì những hoạt động khác của GV và HS như phân tích, bình giảng, thảo luận nhóm, tổ chức trò chơi… cũng được sử dụng để HS hiểu được, ghi nhớ chính xác nội dung mà VB phản ánh
Bước 3: Đọc vận dụng
Ở bước này, HS sẽ không chỉ đơn giản là ghi nhớ nội dung tác phẩm mà từ
đó còn hiểu, đánh giá và ứng dụng được giá trị nội dung của bài học vào bản thân mình HS qua đó sẽ hoàn thiện dần về kiến thức, phẩm chất Đây chính
là mục tiêu cuối cùng của việc phát triển năng lực đọc hiểu VB cho HS Hệ thống bài tập củng cố kiến thức, các hoạt động trải nghiệm, tổ chức trò chơi, phỏng vấn GV đều nên sử dụng để HS nắm được nội dung, ý nghĩa của tác phẩm văn học
1.1.3 Đặc điểm t m sinh lí của học sinh Trung học cơ sở trong việc dạy học phát triển năng lực đọc hiểu
Lứa tuổi HS THCS là những HS có độ tuổi từ 11–15 tuổi (HS từ lớp 6 đến 9 ở trường THCS) Đây là lứa tuổi thiếu niên và giữ một vị trí quan trọng
Trang 21trong quá trình trưởng thành của HS Tuổi thiếu niên được gọi là thời kì quá
độ từ thiếu nhi sang tuổi thiếu niên Trong thời kì này nếu sự phát triển của các em được định hướng đúng, được tạo điều kiện thuận lợi thì trẻ em sẽ trở thành những cá nhân thành đạt, những công dân tốt
HS ở lứa tuổi này sẽ trải qua giai đoạn khó khăn, phức tạp, biến động, mâu thuẫn trong sự phát triển cả thể chất lẫn tâm lý Tính hai mặt của hoàn cảnh phát triển tạo nên sự khó khăn, phức tạp Một mặt sẽ xuất hiện những yếu tố thúc đẩy một phần tính cách người lớn phát triển trong trẻ Mặc khác, yếu tố hoàn cảnh sống cũng sẽ kìm hãm sự phát triển tính cách người lớn Nhiều phụ huynh có thói quen bảo bọc con em mình quá mức, không để các
em phải động tay vào bất cứ việc gì trong nhà, không phải thực hiện nghĩa vụ
gì ngoài việc học Điều này đã vô tình khiến các em thụ động, ỷ lại
Sự phát triển trong cấu trúc nhận thức của HS THCS đều có chung sự hình thành và phát triển các tri thức lí luận Ở tuổi này, các khái niệm đã được hình thành và phát triển các khái niệm khoa học có tính khái quát dựa trên khả năng suy luận logic Việc quan sát sẽ không quyết định hoàn toàn sự hình thành tri thức mà HS sẽ vận dụng cả các phương pháp logic để suy nghĩ
Áp dụng logic sẽ giúp HS ghi nhớ chính xác và lâu hơn vấn đề
Tuy khả năng ghi nhớ của HS THCS có cao hơn so với HS tiểu học nhưng vẫn còn một số khuyết điểm Sự tùy tiện trong ghi nhớ khiến các em không nhớ được nhiều, khi gặp khó khăn sẽ từ bỏ ghi nhớ quan trọng Đây chính là khó khăn GV cần giúp các em giải quyết, khắc phục
HS THCS có khả năng tập trung tốt hơn, di chuyển nhanh hơn, giữ chủ
ý lâu hơn so với HS tiểu học Những yếu tố này gần như phụ thuộc và tính chất đối tượng, vào hứng thú của HS THCS Tuy chủ ý của các em phát triển mạnh nhưng lại không bền vững, không duy trí được lâu dài, chính vì vậy, trong các giờ học GV cần tổ chức những bài học có nội dung hấp dẫn,
HS phải tích cực hoạt động, tích cực suy nghĩ, tham gia xây dựng bài
Trang 221.1.4 Những qu n điểm dạy học tích cực liên qu n đến đổi mới phương pháp dạy học truyện ngắn nước ngoài và đoạn trích “Chiếc lá cuối cùng”
1.1.4.1 Dạy học lấy học sinh làm trung t m
Dạy học lấy HS làm trung tâm hiện nay đang là một trong những quan điểm dạy học tích cực nhất GV không còn là người chủ động trong giờ học
mà chuyển sang vai trò là người chỉ đường, dẫn dắt HS tích cực, chủ động, sáng tạo trong giờ học của mình
Người học trở thành trung tâm trong quá trình dạy học, chủ động tiếp thu, lĩnh hội kiến thức thay vì ngồi im một chỗ nghe giảng Người học sẽ được phát huy một cách tối đa những năng lực, phẩm chất để HS không ngừng tự nâng cao và hoàn thiện kiến thức cũng như đạo đức của bản thân mình
1.1.4.2 Dạy học theo hướng hoạt động hoá người học
Dạy học theo hướng hoạt động hóa người học bản chất chính là hướng người học tập trung vào quá trình học tập của bản thân mình bằng cách tích cực, chủ động, tự tìm hiểu trong giờ học
Học tập sẽ không còn là một nhiệm vụ ép buộc mà là tự chủ động tìm hiểu kiến thức để rèn luyện bản thân Tư duy sáng tạo chỉ được rèn luyện thông qua nhiệm vụ học tập
1.1.4.3 Dạy học theo hướng tiếp cận mục tiêu
Mục tiêu dạy – học đã được các chưng trình giáo dục thiết kế chi tiết, cụ thể với từng nội dung bài học Người dạy, người học căn cứ vào đó để lựa chọn kiến thức, phương pháp dạy học phù hợp với mục tiêu dạy học đã được xác định Việc dạy học tiếp cận mục tiêu sẽ giúp cho người học càng ngày càng hoàn thiện hơn về lương kiến thức cũng như phẩm chất của bản thân mình
Hơn nữa khi đã có mục tiêu thì việc kiểm tra – đánh giá cũng sẽ được tiến hành một cách khoa học, chính xác, công bằng
1.1.4.4 Dạy học định hướng phát triển năng lực
Trang 23Trong quan điểm dạy học định hướng phát triển năng lực, HS sẽ được phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo, giúp HS bồi dưỡng được năng lực hợp tác, năng lực vận dụng cũng không còn chỉ trên sách vở mà được HS áp dụng vào đời sống hàng ngày, năng lực tự học được nâng cao nhờ hứng thú học tập được tác động tích cực
Dạy học theo định hướng phát triển năng lực giúp GV và HS:
- Kiến thức không bị dàn trải, GV sẽ tập trung được vào những kiến thức và kỹ năng yêu cầu HS sẽ đạt được trong bài học
- Sau giờ học, HS có thể ứng dụng những kiến thức đã học vào thực tế cuộc sống, bài học chỉ thực sự có giá trị khi HS trải nghiệm thực tế
- Thông qua kết quả HS đạt được, GV sẽ có sự điều chỉnh hợp lý hơn
để nâng cao chất lượng và phương pháp giảng dạy bài học
- HS sẽ tự lựa chọn được phương pháp học hiệu quả hơn để nâng cao chất lượng học tập của mình Sự thụ động lĩnh hội kiến thức sẽ chuyển sang chủ động một cách tối ưu
- Việc kiểm tra – đánh giá cũng sẽ chính xác và khoa học hơn
1.2 Cơ sở thực tiễn
1.2.1 Mục tiêu, nội dung, phương pháp dạy học đoạn trích “Chiếc lá cuối cùng” (Trích Chiếc lá cuối cùng) của O Henry theo chương trình và sách giáo kho hiện hành
Trang 241.2.1.2 Về nội dung
- Đặc điểm bài học:
+ Các sáng tác của O Henry không thi vị hóa cuộc sống, ngòi bút của ông hướng về hiện thực, tái hiện chân thực những cảnh đời đói khổ Với O Henry, nghệ thuật phải phụng sự cái đẹp, phải phụng sự cuộc sống
+ Chiếc lá cuối cùng là tấm lòng của người nghệ sĩ nghèo của nước Mĩ
nói chung, đặc biệt là tấm lòng của cụ Bơ-men, người đã tạo nên kiệt tác
“Chiếc lá cuối cùng” và Xiu, bạn thân của Giôn-xi Câu chuyện ca ngợi tình cảm trong sáng, cao đẹp của những nghệ sĩ chân chính, ca ngợi sự hy sinh quên mình của họ vì nghệ thuật, vì tinh thần nhân đạo cao cả
+ Tất cả được biểu đạt bằng một kết cấu mẫu mực vào hạng bậc nhất Cốt truyện, nhân vật, giọng điệu trần thuật, đối thoại đều có thể được xem là một trong những khuôn mẫu của thể loại truyện ngắn ở thế kỉ XIX
1.2.1.3 Về phương pháp
Vận dụng linh hoạt những phương pháp giảng dạy tích cực:
- Nêu vấn đề, phát vấn, kết hợp diễn giảng
- Hoạt động song phương giữa GV và HS
Trên đây là những mục tiêu có tính chất tổng quát chung cho đoạn trích
Chiếc lá cuối cùng trong chương trình (CT) Ngữ văn ở THCS Những thay
đổi về mục tiêu môn học theo hướng hữu ích hơn, cần thiết hơn cho sự thành công trong cuộc sống của người học đã góp phần hình thành và phát triển các năng lực và giá trị cuộc sống cần có cho người học
Trang 251.2.2 Khảo sát thực trạng dạy học đoạn trích “Chiếc lá cuối cùng” (Trích Chiếc lá cuối cùng) của O Henry theo chương trình và sách Ngữ văn hiện hành
Hiện nay sách giáo khoa (SGK) Ngữ văn THCS được viết theo cách hướng dẫn học sinh hoạt động chiếm lĩnh kiến thức Các câu hỏi tham khảo ở phần hướng dẫn đọc hiểu trong SGK là một trong những gợi ý về nội dung, ý nghĩa tác phẩm của tác giả Câu hỏi ở mức độ nhận thức càng cao thì tư duy của HS càng phát triển GV có thể xem cách đặt câu hỏi gợi ý, hướng dẫn phù hợp tạo điều kiện cho HS chủ động, tích cực tham gia vào quá trình học tập
Qua quá trình trực tiếp giảng dạy của bản thân và dự giờ của đồng nghiệp cùng những ý kiến tham khảo được từ HS tôi nhận thấy có những vấn
Giáo viên:
- Chưa phân loại được câu hỏi hướng dẫn HS chiếm lĩnh kiến thức trong các văn bản của SGK
- Cách đặt và sử dụng câu hỏi kích thích tư duy HS còn chưa phù hợp
- Nhiều khi kiến thức khối lượng lớn, thời gian ngắn khiến GV vẫn chưa thể thoát khỏi tình trạng đọc chép với HS để tránh cháy giáo án
Trang 26- Tài liệu tham khảo cho GV còn nhiều hạn chế, chưa phong phú
Trong quá trình tiến hành khảo sát về dạy học đoạn trích Chiếc lá cuối cùng ở khối 8 – THCS, chúng tôi tập trung khảo nghiệm hai đối tượng tham
gia vào quá trình dạy học trong nhà trường: đó là GV trực tiếp giảng dạy và
HS khối 8 – THCS Lê Hồng Phong và THCS Kiện Khê (Hà Nam)
Trên cơ sở kết quả khảo sát sẽ giúp chúng tôi tiến hành đề xuất các giải pháp giúp cho quá trình dạy học phát triển năng lực đọc hiểu truyện ngắn
nước ngoài qua dạy học đoạn trích Chiếc lá cuối cùng có hiệu quả
Ngoài ra chúng tôi còn tiến hành khảo sát các nguồn tài liệu tham khảo
về đoạn trích Chiếc lá cuối cùng để rút ra những đánh giá chung nhất, kết
luận sát thực nhất về thực trạng dạy và học truyện ngắn nước ngoài
1.2.2.1 Khảo sát qu phiếu đánh giá giáo viên
Để tạo cơ sở thực tiễn cho việc nghiên cứu đề tài, đối với GV, thông qua
việc tìm hiểu, đánh giá, phân tích bài soạn giảng đoạn trích Chiếc lá cuối cùng, cùng với việc dự giờ giảng, phát phiếu điều tra kết hợp với phỏng vấn
trực tiếp để tham khảo ý kiến của GV, chúng tôi có thể rút ra những mặt tích cực cũng như hạn chế trong khi giảng dạy tác phẩm này trong nhà trường phổ thông
Chúng tôi tiến hành khảo nghiệm đối với một số GV trực tiếp giảng dạy
đoạn trích Chiếc lá cuối cùng ở trường THCS Lê Hồng Phong và THCS Kiện
Khê (Hà Nam) với một số câu hỏi sau:
1 Trong quá trình ạy học đoạn tr ch “Chiếc lá cuối cùng” của O Henry, các thầy cô đã vận dụng những phương pháp, iện pháp nào?
2 Khi giảng dạy đoạn tr ch “Chiếc lá cuối cùng” các thầy cô có chú ý tới yếu tố truyện ngắn nước ngoài sẽ dạy như thế nào để HS tiếp thu kiến thức tốt nhất không?
3 Các thầy cô có cho rằng việc phát triển năng lực đọc hiểu truyện ngắn nước ngoài cho HS qua dạy học đoạn tr ch “Chiếc lá cuối cùng” hiện
Trang 27n y là cần thiết không?
Qua việc phát phiếu điều tra, tìm hiểu, đánh giá, phân tích giáo án của đội ngũ GV trường THCS Lê Hồng Phong và THCS Kiện Khê (Hà Nam), chúng tôi tổng hợp được kết quả như sau:
Cùng với đổi mới CT SGK Ngữ văn, phương pháp dạy học (PPDH) cũng được đổi mới nhằm mục đích phát huy tính sáng tạo, chủ động cho HS, đặc biệt là phát triển năng lực đọc hiểu cho HS qua dạy học truyện ngắn nước ngoài HS trước đây còn mang cách học thụ động, chủ yếu ngồi chờ GV truyền thụ tri thức và ghi chép một cách máy móc rồi cố gắng học thuộc để trả bài Việc làm này vô tình khiến cho các em HS lười suy nghĩ, sáng tạo, không có đam mê với môn học
PPDH mới lấy HS làm trung tâm, là chủ thể hoạt động dạy – học, GV chỉ là người khơi gợi, định hướng tri thức khiến cho HS hào hứng, thích thú hơn trong giờ học, giúp các em chủ động lĩnh hội tri thức sẽ nhớ kiến thức lâu hơn
Kết quả sau khi tiếp xúc với các thầy cô giáo đã có kinh nghiệm trong giảng dạy lâu năm về môn Văn thì chúng tôi thấy có tới 70% các thầy cô (12/15 phiếu) chủ yếu vẫn dạy học theo hướng kinh nghiệm, hầu hết đều có
chung một quan điểm: Khi tiến hành dạy đoạn trích Chiếc lá cuối cùng của
O Henry chỉ quan tâm đến nội dung và hình thức của đoạn trích Nội dung chủ yếu mà GV tập trung khai thác là tình yêu thương cao cả giữa những người nghèo khổ và nghệ thuật chân chính là nghệ thuật của tình yêu thương,
vì sự sống của con người Về nghệ thuật, GV tập trung vào cách kể xen tả và biểu cảm; sắp xếp các tình tiết hấp dẫn, chặt chẽ khéo léo; đảo ngược tình huống 2 lần
Phương pháp chủ yếu sử dụng là: Thuyết giảng, nêu câu hỏi phát vấn, bình giảng Phương pháp trực quan, so sánh trong quá trình dạy có vận dụng song ít hơn Đặc biệt, phương pháp đọc diễn cảm, thảo luận nhóm, trình bày cảm nhận, quan điểm của HS đối với nội dung của đoạn trích, tư tưởng tình
Trang 28cảm của tác giả trong quá trình dạy học thì gần như không được lưu tâm áp dụng Tuy nhiên trên thực tế những phương pháp này giúp cho người học cảm nhận tác phẩm một cách sâu sắc giá trị nội dung và nghệ thuật của tác phẩm Trong khi đó, phương pháp dạy học tích cực thông qua trò chơi các
GV đều không sử dụng cho rằng phương pháp này rất tốn thời gian mà không mang lại hiệu quả cao vì kiến thức truyền tải được rất ít Hơn nữa, trong giờ đọc – hiểu thì phương pháp nên được sử dụng chủ yếu là bình giảng
Ở câu hỏi thứ 2 chúng tôi nhận được phần lớn GV (66,7%) chưa quan tâm đến yếu tố truyện ngắn nước ngoài sẽ dạy như thế nào để HS tiếp thu kiến thức tốt nhất (10/15 phiếu) Những yếu tố về lịch sử, địa lý, hoàn cảnh sống của nước ngoài sẽ khiến cho HS cảm thấy khó khăn trong việc tiếp nhận tác phẩm Từ đó, HS thấy khó hiểu những điều mà tác giả gửi gắm Khi dạy,
GV cần đặc biệt khai thác kĩ hoàn cảnh ra đời của chiếc lá cuối cùng Hoàn cảnh khắc nghiệt mới sinh ra kiệt tác, mới thấy được điểm sáng của lòng người Cuộc sống con người luôn là điều đáng quý nhất, nhưng cụ Bơ-men, khi cần vẫn sẵn sàng hi sinh tính mạng của mình để tạo ra những điều cao quý Đặc biệt, GV gần như đã không quan tâm quá nhiều nghệ thuật xây dựng tác phẩm của O Henry Tác phẩm là truyện ngắn nước ngoài có kĩ thuật tự sự và cách xây dựng cốt truyện mới lạ, độc đáo O Henry đã khéo léo sử dụng thủ pháp tăng cấp nhưng khi câu chuyện lên đỉnh điểm thì khéo đan cài tư tưởng, chủ đề khác vào, đây mới chính là chủ đề tư tưởng chính của tác phẩm Từ nhân vật chính Giôn-xi, Xiu đến những nhân vật phụ bác sĩ, bức tường gạch, chiếc lá thường xuân đều chỉ là những yếu tố thúc đẩy cho
sự xuất hiện của cụ Bơ-men và tác phẩm chiếc lá cuối cùng Với kĩ thuật tự
sự này, O Henry đã tạo dựng được độ hẫng thẩm mỹ trong tâm lý tiếp nhận, điều mà chỉ thường gặp trong thi ca vì văn xuôi rất kho để có thể triển khai
Nên Chiếc lá cuối cùng giống như một bài thơ – tranh đặc biệt đi sâu vào
lòng người
Chiếc lá cuối cùng không chỉ nổi bật ở kĩ thuật tự sự mà cốt truyện còn
Trang 29được xem là mẫu mực vào hạng bậc nhất Ngoài cốt truyện bề nổi còn có cốt truyện ngầm
Cốt truyện bề nổi có thể tóm tắt trong 5 bước điển hình của một cốt truyện truyện ngắn:
+ Trình bày: Xiu và Giôn-xi là hai nữ họa sĩ trẻ sống trong một khu nhà trọ ổ chuột nghèo nàn Giôn-xi bệnh nặng đang chờ chết Cụ Bơ-men cũng là một họa sĩ sống cùng khu đó Khao khát lớn nhất cuộc đời họa sĩ của cụ là hoàn thành được một kiệt tác nhưng chưa thể thực hiện được
+ Thắt nút: Giôn-xi mang sinh mạng của mình trao gửi cho dây thường xuân với những chiếc lá đang rụng gần hết
+ Đỉnh điểm: Chỉ còn một chiếc lá cuối cùng chưa rụng, nhưng nếu nó rơi sau đêm mưa bão, Giôn-xi sẽ chết theo
+ Kết thúc: Chiếc lá vẫn còn, Giôn-xi dần hồi phục
Cốt truyện ngầm song hành cùng cốt truyện bề nổi chính là: Cụ Bơ-men, một họa sĩ già nuôi mơ ước vẽ được một kiệt tác để đời Sống bên cạnh ông
là một họa sĩ trẻ bị bệnh và muốn chết vì những chiếc lá thường xuân rụng
Cụ Bơ-men muốn cứu cô gái nên đã vẽ chiếc lá giả vào đêm mưa bão lớn để thay thế cho chiếc lá đã rụng (Điều này không được kể trực tiếp trong cốt truyện) Cuối cùng kết truyện thì cô gái bình phục còn cụ Bơ-men thì qua đời
+ Đoạn 1: Từ đầu Hà Lan: Giôn-xi bỏ mặc bản thân, đợi chờ cái chết đến với mình
Trang 30+ Đoạn 2: Tiếp vịnh Na-plơ: Giôn-xi hồi sinh, vượt qua cái chết cận kề + Đoạn 3: còn lại: Bí mật của chiếc lá thường xuân cuối cùng
Do đó bài dạy chưa thể giúp HS hiểu rõ được cách đọc hiểu một tác phẩm truyện ngắn nước ngoài thế nào và cũng thể phát huy được năng lực đọc hiểu tích cực của HS, khơi dậy tình yêu thương con người
1.2.2.3 Khảo sát qu phiếu khảo sát học sinh
HS là đối tượng tiếp nhận trực tiếp nội dung bài học đồng thời là chủ thể của hoạt động dạy – học
Qua đó chúng tôi đã phát phiếu khảo sát với lớp 8A (lớp chọn) ở trường THCS Lê Hồng Phong và lớp 8C (không phải lớp chọn) trường THCS Kiện Khê (Hà Nam) với một số câu hỏi sau:
C u 1: S u khi học xong đoạn tr ch “Chiếc lá cuối cùng”, em có yêu
C u 3: S u khi đọc xong đoạn tr ch “Chiếc lá cuối cùng” cảm nhận của
em về tình yêu thương con người gắn liền với nghệ thuật có gì mới mẻ?
Sau khi tiến hành khảo sát chúng tôi thu được kết quả sau:
Bảng 1.1 Khảo sát sự yêu th ch của học sinh sau khi học đoạn
Trang 31Bảng 1.2 Khảo sát việc đọc đoạn tr ch “Chiếc lá cuối cùng” của
học sinh trước giờ lên lớp
Câu hỏi 3: Riêng câu hỏi 3 sẽ được phân tích cụ thể dưới đây vì đây không phải là dạng câu hỏi trắc nghiệm
Dựa theo kết quả điều tra từ câu hỏi 1 và câu hỏi 2 của 2 lớp HS ở trường THCS Lê Hồng Phong thì chúng tôi nhận thấy có sự phân hóa giữa lớp chọn và lớp thường
Lớp 8A vì là lớp chọn, đa phần là những HS có ý thức học tập rất tốt nên số lượng các em HS yêu thích bài học và đọc lại bài học sau khi học cao hơn lớp 8C chỉ là lớp thường, mức độ HS trung bình nếu như không thể khơi gợi được cảm xúc học tập của các em thì chắc chắn sau khi học xong, các em
sẽ không còn muốn động đến bài học nữa
Ở câu hỏi 3: Sau khi đọc xong đoạn trích “Chiếc lá cuối cùng” cảm nhận của em về tình yêu thương con người gắn liền với nghệ thuật có gì mới mẻ? Theo đánh giá thì đây là một câu hỏi khá mới với các em HS ở cả 2 lớp nhưng cũng không có gì là quá khó để có thể đưa ra câu trả lời Tuy nhiên số lượng HS có thể trả lời được câu hỏi này một cách đầy đủ, chi tiết, cảm xúc ở
Trang 32tác do cụ Bơ - men hy sinh tính mạng để vẽ ra cứu Giôn - xi chứ chưa thể hiểu sâu sắc được ý nghĩa sâu xa về sự hi sinh của cụ Bơ-men, về hình ảnh chiếc lá thường xuân cụ vẽ trên tường và sự hồi sinh kì diệu của Giôn-xi Tương tự như ý nghĩa nội dung của tác phẩm thì ở nghệ thuật truyện ngắn, HS cũng chỉ nhớ được tác giả đã kết hợp nhuần nhuyễn yếu tố tự sự kết hợp miêu tả và biểu cảm, đảo ngược tình huống truyện chứ chưa được đi sâu tìm hiểu nghệ thuật xây dựng cốt truyện độc đáo của tác giả O.Hen-ri đó chính là hai cốt truyện bề nổi và ngầm cùng song hành với nhau tạo nên sự đặc biệt cho nghệ thuật xây dựng cốt truyện của tác phẩm cũng như của thể loại truyện ngắn, đặc biệt là truyện ngắn nước ngoài
1.2.2.4 Nguyên nh n
a – Tác phẩm là truyện ngắn nước ngoài
Cùng với văn học dân tộc thì văn chương nước ngoài đã góp phần tạo điều kiện cho HS mở rộng tầm nhìn, kiến thức, cảm thụ được những tinh hoa của văn hóa nhân loại, có thêm ý thức rèn luyện bản thân và hướng tới phát triển, hoàn thiện bản thân Tuy nhiên việc dạy và học những tác phẩm văn chương nước ngoài, đặc biệt là truyện ngắn nước ngoài hiện nay vẫn còn là một vấn đề khó khăn và thử thách với không chỉ riêng HS mà còn cả GV do những khó khăn và khác biệt ở nhiều mặt
Do khoảng cách lớn về không gian, thời gian, về lịch sử, tâm lý Tác giả
O Henry (1862–1910), Chiếc lá cuối cùng được tác giả sáng tác vào năm
1907 O Henry phát hiện mình mắc bệnh lao lây từ mẹ của ông vào năm
1882 (tương tự như nhân vật trong truyện ngắn Chiếc lá cuối cùng) Bối cảnh
trong truyện ngắn của ông rất phong phú, tất cả đều tái hiện khung cảnh xã hội kinh tế nước Mỹ vào khoảng cuối thế kỉ 19, đầu thế kỉ 20, khi mà đường phố New York được thắp sáng bằng đèn ga, xe ngựa vẫn còn được dùng
để di chuyển, người chăn bò phải sống bờ sống bụi và pháp luật vẫn còn
bị coi thường
Ở một xã hội như thế thì những con người có số phận nhỏ bé, thấp hèn
Trang 33sẽ không bao giờ được chú ý, được quan tâm, được thông cảm, được giúp đỡ Bản thân tác giả cũng không phải là một nhà từ thiện giàu có vì chính bản thân ông cũng đang phải trải qua những tháng ngày sống khổ cực chống lại bệnh tật và kinh tế khó khăn Việc O Henry có thể giúp được những con người nghèo khổ ấy chỉ có thể là hướng ngòi bút của mình đến những con người nghèo khổ, thông qua những nhân vật trong những tác phẩm của mình
để nói lên tình yêu thương, sự đồng cảm, trân trọng của tác giả đối với họ Những tình tiết truyện được sắp xếp theo ý đồ của tác giả nhưng lại đầy ngẫu nhiên, bất ngờ xảy đến với cuộc đời nhân vật, khi thì mỉa mai châm biếm đến bật cười, lúc lại oái oăm khó hiểu và thậm chí là nghiệt ngã đến rơi nước mắt khiến cho người đọc trải qua nhiều cung bậc cảm xúc khác nhau không quá vui sướng, đọng lại sự bâng khuâng, trăn trở mà không quá nặng
nề Chính lý do này đã khiến cho truyện ngắn của ông đọng lại trong tâm hồn
người đọc rất lâu sau đó Đó cũng chính là lý do khiến cái kết của Chiếc lá cuối cùng vẫn luôn ám ảnh trong tâm trí người đọc dù cho tác phẩm
nhiều độc giả chỉ đọc duy nhất một lần Điều đó chứng tỏ ngòi bút của O.Hen-ri tinh tế và tài tình đến mức nào mới có thể tạo nên những kiệt tác ngôn từ như vậy
Có lẽ chính vì không sống cùng một thời kì, lại không được trải qua cuộc sống khó khăn, vất vả mà tác giả cũng như những nhân vật trong truyện ngắn đã trải qua nên HS khó lòng mà hiểu hết được nội dung tư tưởng của tác phẩm Bởi chỉ khi đặt được mình vào hoàn cảnh của nhân vật trong câu chuyện, trải nghiệm được hiện thực cuộc sống mà tác giả lúc đó đang sinh sống thì sự rung cảm, nhận thức của HS mới có thể thể hiện, phát triển một cách tốt nhất được
Bên cạnh đó, việc tác giả là tác giả nước ngoài, thường HS sẽ chỉ được học 1 tác phẩm nên sẽ không thể hiểu hết được đặc sắc nghệ thuật trong sáng tác của tác giả gây khó khăn trong việc hình thành phong cách riêng của tác giả Đó cũng là một trở ngại lớn khi HS tiếp cận với nghệ thuật chính của tác
Trang 34phẩm cũng như muốn hiểu thêm về cuộc đời của tác giả để thêm hướng tiếp cận với tác phẩm
b – Từ phía tài liệu giảng dạy và học tập
Tài liệu mà người dạy và người học được tìm hiểu trực tiếp chỉ có SGK
và SGV Với SGV tuỳ trình độ, khả năng mà GV có sự tham khảo giới hạn, mục đích sử dụng ở những bài dạy cũng phải khác nhau SGV có thể chỉ dung để tham khảo mà cũng có thể coi như một giáo án hoàn chỉnh tùy phải mục đích sử dụng của GV
Có thể thấy rõ, tất cả các tài liệu giảng dạy và học tập đều hướng GV và
HS nhận ra lòng yêu thương cao cả giữa những con người nghèo khổ qua những tình tiết truyện hấp dẫn được sắp xếp khéo léo, kết cấu đảo ngược tình huống truyện độc đáo của tác giả O Henry
Khi hướng dẫn HS đọc hiểu đoạn trích “Chiếc lá cuối cùng”, đội ngũ biên soạn SGK đã dẫn dắt HS tìm hiểu nội dung đoạn trích bằng hệ thống câu hỏi:
1 Tìm chi tiết nói lên tấm lòng yêu thương và hành động cao cả của cụ Bơ-men đối với Giôn-xi? Tại s o nhà văn ỏ qu không kể sự việc cụ đã vẽ chiếc lá trên tưởng trong đêm mư tuyết? Chiếc lá cuối cùng có thể là một kiệt tác không?
2 Tìm ằng chứng để khẳng định Xiu không hề được cụ Bơ-men cho biết ý định vẽ chiếc lá th y cho chiếc lá cuối cùng rụng xuống Nếu Xiu biết được thì truyện có kém hấp dẫn không? Vì s o?
3 Nguyên nh n s u x nào quyết định t m trạng hồi sinh của Giôn-xi? Tại s o nhà văn kết thúc truyện bằng lời kể củ Xiu mà không để Giôn-xi phản ứng gì thêm?
4 Chứng minh truyện “Chiếc lá cuối cùng” của O Henryđược kết thúc trên cơ sở hai sự kiện bất ngờ đối lập nhau tạo nên hiện tượng đảo ngược tình huống hai lần, tạo hứng thú cho độc giả?
SGK và sách giáo viên (SGV) cũng chú ý đến phát triển năng lực
Trang 35đọc hiểu của HS khi cung cấp hệ thống tri thức giúp HS hiểu được tình yêu thương cao cả giữa những con người nghèo khổ với nhau, để HS có ý thức, trách nhiệm với cuộc sống, xã hội
Qua việc khảo sát một số tài liệu cơ bản trong dạy và học đoạn trích
Chiếc lá cuối cùng, đặc biệt là SGK và SGV Ngữ văn 8 (tập 1) trong nhà
trường THCS hiện nay, chúng tôi nhận thấy người soạn sách, GV và HS đều bám rất sát vào nội dung chính cần đạt của đoạn trích; và các nhà biên soạn cũng đã thể hiện sự chú trọng đến vai trò của việc phát triển năng lực cảm thụ của HS trong dạy học đoạn trích
c – Từ phía người dạy
Do thời lượng dành cho việc giảng dạy tìm hiểu đoạn trích Chiếc lá cuối cùng trong nhà trường THCS chỉ có 2 tiết mà nội dung cần hướng
dẫn HS đọc hiểu nhiều Nếu để đi sâu vào tìm hiểu cuộc đời của tác giả O.Hen-ri thì có lẽ cũng phải chiếm thời lượng một nửa tiết học Hơn nữa
dù chỉ là đoạn trích nhưng thông điệp truyền tải đến HS lại khá lớn từ ý nghĩa nội dung đến đặc sắc nghệ thuật Trong khi tác phẩm Chiếc lá cuối cùng lại là một trong những tác phẩm sáng nhất về nghệ thuật truyện ngắn đặc sắc của O.Hen-ri
“Cháy giáo án” là chuyện mà bất cứ giáo viên nào cũng sẽ gặp phải Bài học thì chưa dạy hết nhưng thời gian thì đã không còn GV bị áp lực
“cháy giáo án” nên lại càng dạy cho thật nhanh để kịp số lượng tiết mà vẫn phải truyền đạt được kiến thức bài học tối đa nên khó tránh được việc
HS thụ động, chỉ ngồi ghi chép bài, nghe cô giáo giảng Bởi thuyết giảng, đọc - chép trình là cách truyền thụ nhanh nhất, giúp học sinh ghi được nhiều kiến thức nhất về nội dung bài học Việc làm này khiến cho giờ học văn càng trở nên nhàm chán, đơn điệu, không có sức thu hút với học sinh như những môn học khác do phải chép quá nhiều
Chiếc lá cuối cùng được đưa vào SGK chỉ là đoạn trích khiến cho
GV khó khăn trong việc tìm hiểu nội dung truyện ngắn một cách trọn vẹn
Trang 36do tài liệu khó tìm vì đó là tài liệu liên quan đến truyện ngắn nước ngoài
và do thời gian không có phép
d – Từ phía người học
Môn văn vốn là một môn học không có nhiều sức hấp dẫn với HS bởi
HS luôn nghĩ môn văn dài, khó học và trừu tượng, lại không được ứng dụng nhiều trong cuộc sống Phần lớn HS học văn bây giờ đều không có đam mê
mà chỉ học vì đó là một môn học chính, học để kiểm tra, học để thi Chính điều này đã khiến cho hứng thú học tập môn văn phần nào bị giảm bớt Tác phẩm truyện ngắn mặc dù dung lượng đã khá ngắn so với những thể loại văn học khác nhưng nếu mang một tác phẩm truyện ngắn và một tác phẩm thơ cho HS học thì HS sẽ thích học thơ hơn vì thơ có vần, có nhịp, dễ đọc, dễ hiểu, dễ nhớ Trong khi đó truyện ngắn lại nhiều chữ, dài dòng, nếu không tập trung cao sẽ rất khó mà theo dõi được nội dung tác phẩm và tìm ra được đặc sắc nghệ thuật của tác phẩm
HS còn phụ thuộc quá nhiều vào các loại sách tham khảo khi soạn bài, cốt chỉ chép cho đủ bài soạn để kiểm tra chứ chưa hào hứng tìm hiểu
bài học ngay từ khi còn ở nhà Chiếc lá cuối cùng lại là một đoạn trích từ
tác phẩm nước ngoài, sự khác biệt về không gian, thời gian, lịch sử, văn hóa cũng là một trong những lý do khiến cho việc tiếp nhận tác phẩm của
HS gặp khó khăn
Việc đọc - chép dài dòng, lan man và việc phải học thuộc ý nghĩa nội dung và nghệ thuật của tác phẩm, ghi nhớ nhân vật, từng tình tiết quan trọng của cốt truyện cũng và một khó khăn và thách thức lớn đối với HS
1.3 Lý thuyết truyện ngắn và năng lực đọc hiểu truyện ngắn
1.3.1 Khái niệm truyện ngắn và đặc trưng của thể loại truyện ngắn
1.3.1.1 Khái niệm truyện ngắn
Khái niệm truyện ngắn (tiếng Anh: Short Story, tiếng Pháp: Nouvelle)
đã xuất hiện từ rất sớm trong các từ điển chuyên ngành cũng như các công trình nghiên cứu lí luận văn học
Trang 37Muốn hiểu về khái niệm truyện ngắn thì cần phân biệt được khái niệm
“truyện ngắn” với khái niệm “chuyện” và “truyện” “Chuyện” dùng để nói về câu chuyện hay kể chuyện bằng lời, có tính chất truyền miệng, kể theo trí nhớ
và thường bỏ qua yếu tố trần thuật “Truyện” dùng để chỉ một thể loại văn học có cốt truyện, có tính hư cấu, có người trần thuật Nhưng vì sự hạn chế của khái niệm “truyện” còn chưa phân biệt được đó là văn bản dài hay ngắn, viết bằng văn vần hay văn xuôi nên đã sự ra đời của các khái niệm tiếp theo
là truyện ngắn, truyện vừa, tiểu thuyết So với những khái niệm trên thì khái niệm “truyện ngắn” ra đời tương đối muộn và xung quanh khái niệm này vẫn còn những ý kiến trái chiều khiến cho khái niệm “truyện ngắn” vẫn chưa thống nhất và có nhiều định nghĩa khác nhau như:
Khái niệm “truyện ngắn” được định nghĩa trong Từ điển thuật ngữ văn học như sau: “Tác phẩm tự sự cỡ nhỏ Nội dung thường bao trùm gần như hết
các phương diện của đời sống nhưng cái độc đáo của nó là ngắn Chính vì ngắn nên người đọc có thể tiếp thu liền một mạch, đọc một hơi không nghỉ Cốt truyện thường xảy ra trong một khoảng thời gian, không gian giới hạn Chính sự hạn chế đó giúp người đọc nhanh chóng hiểu, cảm được điều
gì đó sâu sắc về cuộc sống, tình người
Kết cấu của truyện ngắn thường xuất hiện dựa trên nguyên tắc tương phản hoặc liên tưởng chứ không chia tầng, chia tuyến Bút pháp trần thuật thường là chấm phá Quan trọng nhất của truyện ngắn chính là chi tiết hàm súc, cô đọng, dung lượng lớn, hành văn mang ẩn ý, khiến tác phẩm có được chiều sâu mà không thể dùng lời nói hết được
Nhắc đến truyện ngắn thì không thể thiếu sự ngắn gọn và hàm súc Nhà văn A.P Sekhop đã nói: “Nghệ thuật truyện ngắn là nghệ thuật cắt tỉa, tước
bỏ cái gì không cần thiết” Còn A Tolstoi thì khẳng định: “Truyện ngắn là một hình thức nghệ thuật khó viết bậc nhất” Tác giả Lại Nguyên Ân quan niệm rằng truyện ngắn là một thể loại tự sự cỡ nhỏ, thường được viết bằng văn xuôi, mọi mặt của cuộc sống, xã hội, con người đều có thể trở thành nội
Trang 38dung Truyện ngắn thường bị giới hạn về dung lượng nên độc giả dễ theo dõi, tiếp nhận
Trong giáo trình L luận văn học của nhóm tác giả (do Phương Lựu chủ
biên) thì quan niệm rằng truyện ngắn là hình thức ngắn của tự sự Dung lượng ngắn làm truyện ngắn dường như gần gũi, có quan hệ với các truyện kể dân gian như truyện cổ, giai thoại, truyện cười, những bài kí ngắn Những thực ra không phải Nó gần với tiểu thuyết hơn cả bởi là hình thức tự sự tái hiện cuộc sống đương thời
Qua những định nghĩa về truyện ngắn ở trên chúng tôi đi đến cách hiểu sau: Truyện ngắn là hình thức tự sự cỡ nhỏ, dung lượng ngắn để người đọc dễ tiếp nhận, tái hiện một mảng của đời sống, một hoặc một vài biến cố xảy ra trong cuộc đời nhân vật thể hiện một mặt tính cách nào đó của nhân vật, một khía cạnh của vấn đề xã hội Cốt truyện thường xảy ra trong một khoảng thời gian, không gian giới hạn Sự hạn chế đó giúp người đọc nhanh chóng hiểu, cảm được điều gì đó sâu sắc về cuộc sống, tình người Kết cấu của truyện ngắn thường xuất hiện dựa trên nguyên tắc tương phản hoặc liên tưởng chứ không chia tầng, chia tuyến
1.3.1.2 Đặc trưng thể loại của truyện ngắn
Việc xác định đặc trưng thể loại của truyện ngắn vẫn còn gây ra nhiều ý kiến trái chiều trong giới chuyên môn, nhưng hầu hết các tác giả, các nhà nghiên cứu đều khá thống nhất trong việc chỉ ra các đặc trưng của truyện ngắn như: Cốt truyện, nhân vật, kết cấu, bút pháp trần thuật, giọng điệu Đây chính là những yếu tố giúp truyện ngắn khác biệt với tiểu thuyết ở chỗ
“ngắn” và “ít” Ngắn ở số lượng từ và ít ở nhân vật, sự kiện Nhân vật của truyện ngắn không được khắc họa bằng những điển hình về tính cách, hoàn cản và chỉ là hiện thân cho một mối quan hệ hoặc trạng thái tồn tại
Trong Vấn đề giảng dạy tác phẩm theo loại thể, Trần Thanh Đạm có
viết truyện ngắn phải có 3 đặc trưng cơ bản: Tình tiết (cốt truyện), nhân vật
và lời kể chuyện Tác giả Bùi Việt Thắng trong công trình Truyện ngắn
Trang 39những vấn đề l thuyết và thể loại cũng đưa ra các đặc trưng của truyện ngắn
như: Cốt truyện, nhân vật, kết cấu, dung lượng, tình huống
Chúng tôi sẽ căn cứ trên những nghiên cứu đi trước để trình bày cụ thể một số đặc trưng cơ bản của truyện ngắn như sau:
a Cốt truyện
Cốt truyện là hệ thống những sự kiện, biến cố, hành động thường xảy ra trong một khoảng thời gian, không gian giới hạn Chính sự hạn chế đó giúp người đọc nhanh chóng hiểu, cảm được điều gì đó sâu sắc về cuộc sống, tình người qua đó gián tiếp thể hiện chủ đề tư tưởng của tác phẩm
Dostoievski đã từng nhấn mạnh rằng cốt truyện không phải là nơi để tác giả bịa ra những câu chuyện mà phải sử dụng chính những thứ đã có sẵn trong cuộc sống để làm tư liệu sáng tác cho tác phẩm của mình Trí tưởng tượng dù có phong phú như thế nào thì cũng không thể tự mình nghĩ ra những điều mà ngay cả cuộc sống bình thường cũng không hề thấy xuất hiện Tuy rằng ý kiến của Dostoievski khá chính xác nhưng cũng không nên tuyệt đối hóa mà chỉ để tham khảo có một điều có thể khẳng định rõ ràng rằng nhiều cốt truyện đã lấy nội dụng từ chính những câu chuyện có thật ngoài cuộc sống, điều này được thể hiện rõ rệt trong các trào lưu văn học
hiện thực Đọc những tác phẩm: Bà Bovary của Flaubert, Ðỏ và đen của
Standhal và những tập tác phẩm của Sekhôp, L Tolstoi, Dostoievski sẽ thấy cốt truyện được lấy ý tưởng, nội dung từ những câu chuyện ngoài cuộc sống và trên tạp chí Với nền văn học trong nước có thể thấy điển hình cho
cốt truyện có thật chính là tác phẩm Ch Phèo của Nam Cao, Người mẹ cầm súng của Nguyễn Thi, Ðất nước đứng lên của Nguyên Ngọc, Hòn Ðất của
Anh Ðức
Cốt truyện là khái niệm trong văn học, trình tự sự kiện có thể thay đổi
và có tính sáng tạo Những xung đột xã hội được khái quát lại, được đồng hóa
để thể hiện sự điển hình hóa, thông qua đó để gửi gắm tâm hồn, tình cảm và
sự đánh giá chủ quan của tác giả đối với hiện thực xã hội Cùng là một xung
Trang 40đột xã hội như nhau nhưng mỗi tác giả lại có những ý tưởng xây dựng cốt truyện khác nhau để thể hiện phong cách nghệ thuật riêng của mình Đó chính là điều khiến cho các tác giả, dù có sử dụng một đề tài trong cuộc sống nhưng câu chuyện họ kể lúc nào cũng mới mẻ và thu hút người đọc Vì vậy
có thể nói cốt truyện chính là sản phẩm sáng tạo cá tính của nhà văn
Một cốt truyện sẽ có sự phát triển như quá trình phát triển của xung đột Tuy rằng cơ sở khách quan tạo nên cốt truyện chính là xung đột nhưng cũng không nên đồng nhất xung đột với cốt truyện Một cốt truyện sẽ thường có 5 phần: Trình bày, thắt nút, phát triển, cao trào và mở nút
Phần trình bày thường giới thiệu các nguyên nhân, điều kiện khiến xung đột xảy ra và mô tả những chi tiết đầu tiên liên quan đến nhân vật
Phần thắt nút thường nắm vai trò bộc lộ trực tiếp những mâu thuẫn đã bị dồn nén từ trước lâu tạo thành xung đột chính của cốt truyện
Phần phát triển sẽ bao gồm hoàn cảnh, sự kiến, biến cố xảy đến với cuộc đời nhân vật khiến cuộc đời nhân vật rẽ sang bước ngoặt mới Đây là phần dài và quan trọng nhất của cốt truyện
Phần cao trào thì xung động, mâu thuẫn đã phát triển đến đỉnh điểm của
sự quyết liệt, gay gắt buộc xung đột phải được giải quyết theo một hướng nhất định
Phần kết thúc cũng là lúc xung đột được giải quyết và cái kết sẽ thường
là mong muốn của tác giả mà kết thúc, cách gọi khác thì đó chính là thông điệp nhân văn
b Tình huống
Nhiều nhà lý luận cho rằng mỗi truyện ngắn chỉ có một tình huống, tuy nhiên sự thực lại chứng minh mỗi truyện ngắn cũng có thể chứa đựng trong
nó hơn một tình huống, trong đó có một tình huống tiêu biểu nhất giữ vai trò
là tâm điểm để cốt truyện xoay quanh nó Nhiệm vụ của tình huống truyện là
để liên kết các nhân vật có thể là không quen biết nhau cùng tham gia và một hoạt động, biến cố, tình huống có ý nghĩa nào nào đó với cốt truyện Tình