1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Mối quan hệ giữa hành vi bạo lực thân thể của cha mẹ với hành vi hung tính của học sinh trung học cơ sở

119 29 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 119
Dung lượng 2,23 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

kiểm tra “Mối quan hệ giữa hành vi bạo lực cơ thể của cha mẹ với hành vi hung tính của học sinh trung học cơ sở” vì cho rằng đối với tuổi tiểu học, hành vi của cha mẹ có ảnh hưởng nhiều

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ TÂM LÝ HỌC

CHUYÊN NGÀNH: TÂM LÝ HỌC LÂM SÀNG TRẺ EM VÀ VỊ THÀNH NIÊN

(Chuyên ngành đào tạo thí điểm)

Người hướng dẫn khoa học: GS.TS Bahr Weiss

Ths Trần Thành Nam

HÀ NỘI – 2013

Trang 4

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng3.1: Số lượng học sinh tính theo khối lớp 51

Bảng 3.2: Số lượng học sinh tính theo giới tính 52

Bảng 3.3: Tình trạng hôn nhân của cha mẹ học sinh 53

Bảng 3.4: Nghề nghiệp của cha mẹ học sinh 53

Bảng 3.5: Điểm trung bình hành vi hướng ngoại, điểm hành vi xâm khích, điểm hành vi phá luật ở học sinh (do cha mẹ đánh giá) theo trường

54 Bảng 3.6: Điểm trung bình hành vi hướng ngoại, điểm hành vi xâm khích, điểm hành vi phá luật ở học sinh (do con đánh giá) theo trường

55 Bảng 3.7: Điểm trung bình hành vi hướng ngoại, điểm hành vi xâm khích, điểm hành vi phá luật ở học sinh (do cha mẹ đánh giá ) theo khối lớp

56 Bảng 3.8: Điểm trung bình hành vi hướng ngoại, điểm hành vi xâm khích, điểm hành vi phá luật ở học sinh (do con đánh giá) theo khối lớp

56 Bảng 3.9: Điểm trung bình hành vi hướng ngoại, điểm hành vi xâm khích, điểm hành vi phá luật ở học sinh (cha mẹ đánh giá ) theo giới

57 Bảng 3.10: Điểm trung bình hành vi hướng ngoại, điểm hành vi xâm khích và điểm hành vi phá luật ở học sinh (con đánh giá) theo giới 57

Bảng 3.11: 5 hành vi mà cha mẹ thường sử dụng nhiều nhất 58

Bảng 3.12: Sự khác biệt về điểm tổng hành vi bạo lực của cha mẹ theo trường 59

Bảng 3.13: Sự khác biệt về điểm tổng hành vi bạo lực của cha mẹ theo khối lớp 59

Bảng 3.14: Sự khác biệt về điểm tổng hành vi bạo lực của cha mẹ theo giới tính 60

Bảng 3.15: Tương quan giữa hành vi bạo lực của cha mẹ và điểm tổng hành vi hướng ngoại của con cái (qua bảng hỏi YSR) 61

Bảng 3.16: Tương quan giữa hành vi hướng ngoại tổng con đánh giá

Trang 5

Bảng 3.17: Tương quan giữa hành vi bạo lực của cha mẹ và điểm

tổng hành vi hướng ngoại của con cái (qua bảng hỏi CBCL)

Bảng 3.18: Tương quan giữa các hành vi bạo lực của cha mẹ và

điểm tổng hành vi hướng ngoại của con cái (qua bảng hỏi CBCL) Bảng 3.19: Tương quan giữa các hành vi bạo lực của cha mẹ và

điểm tổng hành vi phá luật của con cái (qua bảng hỏi YSR) 66

Bảng 3.20: Tương quan giữa các hành vi bạo lực của cha mẹ và hành

vi phá luật của con (trẻ đánh giá) 67 Bảng 3.21: Tương quan giữa hành vi bạo lực của cha mẹ và hành vi

phá luật của con (cha mẹ đánh giá) 68 Bảng 3.22: Tương quan giữa cáchành vi bạo lực của cha mẹ và hành

vi phá luật của con (cha mẹ đánh giá) 69 Bảng 3.23: Tương quan giữa hành vi bạo lực của cha mẹ và hành vi

xâm khích của con (trẻ đánh giá) 70 Bảng 3.25:Tương quan giữa các hành vi bạo lực của cha mẹ và

hành vi xâm khích của con (trẻ đánh giá) 71 Bảng 3.26: Tương quan giữa hành vi bạo lực của cha mẹ và hành vi

xâm khích của con (cha mẹ đánh giá) 73 Bảng 3.27: Tương quan giữa các hành vi bạo lực của cha mẹ và

hành vi xâm khích của con (cha mẹ đánh giá) 74 Bảng 3.28: Ảnh hưởng của giới tính đến hành vi bạo lực của cha mẹ

với hành vi hướng ngoại của con 76 Bảng 3.29: Ảnh hưởng của trường học đến hành vi bạo lực của cha

mẹ với hành vi hướng ngoại của con 76 Bảng 3.30: Ảnh hưởng của tình trạng hôn nhân đến hành vi bạo lực

của cha mẹ với hành vi hướng ngoại của con 77 Bảng 3.31: Ảnh hưởng của kết quả học tập đến hành vi bạo lực của

cha mẹ với hành vi hướng ngoại của con 78 Bảng 3.32: Ảnh hưởng của thu nhập bình quân của gia đình đến

hành vi bạo lực của cha mẹ với hành vi hướng ngoại của con 78 Bảng 3.33: Ảnh hưởng của trình độ học vấn của cha và của mẹ đến

hành vi bạo lực của cha mẹ với hành vi hướng ngoại của con 79

Trang 6

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ

T rang

Biểu đồ 3.1 Số lượng học sinh 5

2 Biểu đồ 3.2 Số lượng học sinh theo giới tính 5

2

Trang 7

MỤC LỤC

T rang

Lời cảm ơn i

Danh mục viết tắt i

i Danh mục các bảng i

ii Danh mục các biểu đồ i

v Mục lục v

MỞ ĐẦU 1

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN 5

1.1 Khái niệm bạo lực và hành vi bạo lực 5

1.1.1 Khái niệm bạo lực 5

1.1.2 Khái niệm về hành vi bạo lực 6

1.1.3 Nguyên nhân dẫn đến hành vi bạo lực 8

1.1.4 Bản chất của hành vi bạo lực 1

4 1.2 Hành vi hung tính 1

5 1.2.1 Khái niệm hành vi hung tính 1

5

Trang 8

1.2.2 Cơ chế của hành vi rối loạn hung tính 1

cha mẹ với hành vi hung tính của học sinh 2

9 1.4 Những nghiên cứu về hành vi bạo lực cơ thể của cha mẹ và những

hậu quả có liên quan 3

thiếu niên ( Điều tra SAVY) 4

2

Chương 2: TỔ CHỨC VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 4

3 2.1 Đặc điểm của khách thể nghiên cứu 4

3 2.2 Tổ chức thu thập số liệu 4

4

2.3 Các loại thang đo sử dụng trong nghiên cứu 4

5 2.4 Phương pháp xử lý số liệu 4

Trang 9

Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 5

1 3.1 Đặc điểm khách thể nghiên cứu 5

2 3.2 Sự khác biệt về điểm tổng hành vi hướng ngoại, điểm hành vi xâm

khích, điểm hành vi phá luật theotrường, theo khối lớp và theo giới tính 5

4 3.3 Những hành vi bạo lực cha mẹ áp dụng với con cái 5

8 3.4 Sự khác biệt về điểm tổng hành vi bạo lực của cha mẹ theo trường,

theo khối lớp và theo giới tính 5

9 3.5 Tương quan giữa điểm tổng hành vi hướng ngoại của con cái (qua

bảng hỏi trẻ tự đánh giá) và các hành vi bạo lực của cha mẹ do con cái

báo cáo 6

1 3.6 Tương quan giữa điểm tổng hành vi hướng ngoại của con cái (qua

bảng hỏi CBCL) với hành vi bạo lực của cha mẹ 6

3 3.7 Tương quan giữa hành vi bạo lực của cha mẹ và hành vi phá luật của

con (trẻ đánh giá) 6

6 3.8 Tương quan giữa hành vi bạo lực của cha mẹ và hành vi phá luật của

con (cha mẹ đánh giá) 6

8 3.9 Tương quan giữa hành vi bạo lực của cha mẹ và hành vi xâm khích

của con (trẻ đánh giá) 7

0 3.10 Tương quan giữa hành vi bạo lực của cha mẹ và hành vi xâm khích

của con (cha mẹ đánh giá) 7

3 3.11 Những yếu tố ảnh hưởng đến mối quan hệ giữa hành vi bạo lực của

Trang 10

cha mẹ và hành vi hướng ngoại của con 7

Trang 11

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Ông cha ta có câu “yêu cho roi cho vọt” ý muốn nói để giáo dục con cái nên người cần có những hình phạt nghiêm khắc Quan niệm này đã ăn sâu vào niềm tin của các bậc cha mẹ Việt Nam nhiều thế hệ và dẫn đến việc cha mẹ tin và

sử dụng đòn roi và các hình thức bạo lực cơ thế khác để răn dạy mỗi khi có những hành vi sai Tuy nhiên, những nghiên cứu khác trên thế giới lại chỉ ra rằng hành vi bạo lực cơ thể của cha mẹ thường dẫn tới những hậu quả xấu với con Những trẻ bị đánh đập và trừng phạt về thân thể có nhiều vấn đề về hành vi cảm xúc hơn, thiếu tự tin hơn trong các mối quan hệ xã hội và thường có hành vi hung tính, xâm khích khi đối mặt với những mâu thuẫn Nhiều nhà nghiên cứu cũng đã giải thích rằng khi cha mẹ trừng phạt thân thể con cái mình chính là đang làm mẫu để trẻ học theo cách hành xử hung tính và tin rằng hành vi hung tính, xâm khích, làm đau người khác là có thể chấp nhận được

Lứa tuổi thiếu niên là thời kỳ vô cùng phức tạp, thời kỳ đang dần chuyển từ trẻ con sang người lớn Lứa tuổi này có nhiều biến đổi về tâm sinh

lý, xã hội nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển Đặc trưng nổi bật của lứa tuổi này

là sự bắt chước không chỉ bắt chước những người trong g gia đình mà bắt chước tất cả những gì diễn ra xung quanh trẻ Khi trẻ sống trong môi trường gia đình có bạo lực nhất là bạo lực về thân thể có thể sẽ làm cho các em tập nhiễm những hành vi bạo lực và niềm tin rằng có thể sử dụng những hành vi này với những người khác khi mình bế tắc hoặc bực bội Những hành vi này nếu không được phát hiện và can thiệp kịp thời sẽ tiếp tục phát triển trầm trọng hơn Góp phần làm tăng vấn nạn bạo lực học đường vẫn đang là một chủ

đề thời sự nóng bỏng trong xã hội thời gian này

Để điều chỉnh hành vi hung tính của trẻ và góp phần giảm vấn nạn bạo lực học đường Điều đầu tiên là chúng ta phải xem xét các yếu tố có liên quan

và có thể dẫn tới hành vi hung tính Trong nghiên cứu này, chúng tôi lựa chọn

Trang 12

kiểm tra “Mối quan hệ giữa hành vi bạo lực cơ thể của cha mẹ với hành vi hung tính của học sinh trung học cơ sở” vì cho rằng đối với tuổi tiểu học, hành

vi của cha mẹ có ảnh hưởng nhiều nhất đến hành vi của con cái và ở lứa tuổi này

các em bị ảnh hưởng nhiều nhất của hành vi bạo lực thân thể

2 Mục đích nghiên cứu

Nghiên cứu này muốn khẳng định mối liên hệ giữa hành vi trừng phạt thân thể của cha mẹ với hành vi hung tính của các con Đồng thời cũng muốn tìm hiểu xem mối quan hệ này có khác nhau đối với các em trai và các em gái trong lứa tuổi học sinh trung học cơ sở không Từ đó đưa ra khuyến nghị giúp cho cha

mẹ có cách ứng xử phù hợp trong việc giáo dục con cái, giảm thiếu những hành

vi hung tính ở con cái, cũng như đề xuất những biện pháp can thiệp khác biệt cho các em trai và em gái trong độ tuổi trung học cơ sở có hành vi hung tính

3 Đối tƣợng ,khách thể nghiên cứu và phạm vi đề tài

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Mối quan hệ giữa hành vi trừng phạt thân thể của cha mẹ với các vấn đề hành vi hung tính của học sinh trung học cơ sở

3.2 Khách thể nghiên cứu

406 học sinh và cha mẹ học sinh trung học cơ sở của ba trường trong nội thành và ngoại thành Thành Phố Hà Nội

3.3 Phạm vi nghiên cứu của đề tài

Cha mẹ học sinh và học sinh các khối 8,9 của trường THCS Phú Diễn, huyện Từ Liêm; THCS Hai Bà Trưng, quận Hai Bà Trưng và THCS Nguyễn Tất Thành, Quận Cầu Giấy, Thành phố Hà Nội

4 Giả thuyết khoa học

+ Hành vi bạo lực của cha mẹ có tương quan thuận chiều với các vấn

đề về hành vi hung tính của trẻ Cha mẹ có xu hướng sử dụng bạo lực nhiều hơn nếu con cái có nhiều vấn đề hành vi và ngược lại khi cha mẹ sử dụng nhiều hình thức bạo lực, con cái có thể bắt chước và thể hiện qua những hành vi hung tính hoặc hành vi phá luật

Trang 13

+ Xu hướng sử dụng hành vi bạo lực ở cha mẹ có mối liên hệ với hành vi xâm khích chặt hơn với hành vi phá luật

+ Xu hướng sử dụng hành vi bạo lực ở cha mẹ với con trai và con gái

có sự khác biệt

+ Mối quan hệ giữa việc cha mẹ sử dụng hành vi bạo lực và vấn đề hành vi hướng ngoại ở trẻ bị ảnh hưởng bởi các yếu tố thứ 3 như giới tính của trẻ, trình độ học vấn của cha mẹ, tình trạng hôn nhân của gia đình (VD mối quan hệ giữa việc sử dụng hành vi bạo lực và hành vi hướng ngoại của trẻ bị ảnh hưởng bởi tình trạng hôn nhân gia đình có nghĩa là mặc dầu cha mẹ không sử dụng nhiều hành vi bạo lực đối với trẻ nhưng nếu trẻ lớn lên trong một gia đình không hoàn thiện, trẻ có thể vẫn phát triển những vấn đề hành vi)

5 Nhiệm vụ của đề tài

5.1 Nghiên cứu lý luận

+ Hệ thống các nghiên cứu về hành vi làm cha mẹ (nhất là những nghiên cứu về bạo lực thân thể) và mối liên hệ của chúng với các dạng rối loạn hướng ngoại của trẻ

+ Tìm hiểu thiết kế nghiên cứu và chiến lược phân tích số liệu từ các nghiên cứu đi trước để rút ra phương pháp và chiến lược phân tích cho nghiên cứu này

5.2 Nghiên cứu thực tiễn

+ Xây dựng bộ câu hỏi về các dạng hành vi trừng phạt cơ thể của cha

mẹ và hành vi hung tính của con cái

+ Tiến hành thu thập số liệu về hành vi trừng phạt cơ thể của cha mẹ

và hành vi hung tính của con cái

+ Lập mô hình phân tích và chạy số liệu nghiên cứu

6 Các phương pháp nghiên cứu

6.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận

- Tổng quan các nghiên cứu trong nước và nước ngoài về các vấn đề có liên quan đến hành vi bạo lực thân thể và hành vi hung tính

Trang 14

- Phân tích tổng hợp những công trình nghiên cứu của các tác giả trong và ngoài nước về hành vi bạo lực thân thể và hành vi hung tính Từ đó chỉ ra được mối tương quan giữa hành vi bạo lực thân thể với hành vi hung tính

- Xác định các khái niệm công cụ và các vấn đề có liên quan đến nghiên cứu: hành vi, hành vi bạo lực thân thể, hành vi hung tính

- Xác định nội dung nghiên cứu thực tiễn: Dựa vào kết quả phần tổng hợp của phần lý thuyết, xác định yếu tố cần khảo sát, nghiên cứu trong thực tiễn, đó là:

+ Xác định các hình thức bạo lực thân thể

+ Xác định các biểu hiện của hành vi hung tính

+ Từ đó tìm ra mối tương quan giữa hành vi bạo lực thân thể của cha mẹ đến hành vi hung tính của thiếu niên

Để xây dựng cơ sở lý luận cho đề tài chúng tôi sử dụng nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận bao gồm: Phương pháp phân tích, tổng hợp, hệ thống hóa, khái quát hóa các tài liệu, thông tin thu được để xây dựng các khái niệm công cụ như: bạo lực, hành vi bạo lực, hành vi bạo lực thân thể, hành vi hung tính

2.4.2 Phương pháp nghiên thực tiễn

Để thực hiện nội dung trên trong quá trình nghiên cứu chúng tôi thực hiện các phương pháp nghiên cứu sau:

- Phương pháp phỏng vấn: Chúng tôi tiến hành gặp gỡ các phụ huynh và học sinh để phỏng vấn về các hình thức trừng phạt mà cha mẹ dành cho con cái

- Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi: Chúng tôi xây dựng bảng hỏi về các hình thức bạo lực thân thể mà cha mẹ sử dụng với con cái và tần suất cha mẹ

áp dụng các hình thức trừng phạt đó

6.3 Phương pháp thống kê và xử lý số liệu

Sử dụng phần mềm thống kê SPSS 17.0 để xử lý số liệu

7 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, tài liệu tham khảo, phụ lục,

Trang 15

Chương 1: Cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu

Chương 2: Tổ chức và phương pháp nghiên cứu

Chương 3: Kết quả nghiên cứu

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN 1.1 Khái niệm bạo lực và hành vi bạo lực

1.1.1 Khái niệm bạo lực

Theo Từ điển Tiếng Việt thì “Bạo lực” được hiểu là “sức mạnh dùng để trấn áp, cưỡng bức hoặc lật đổ” [14, tr.39]

Còn theo Từ điển Xã hội học thì “Bạo lực” được hiểu là các hành vi có khuynh hướng hủy diệt như một phương tiện tối hậu để thực thi quyền lực trong khuôn khổ quan hệ trên dưới một chiều dựa trên ưu thế bề ngoài, không có sự thừa nhận của người yếu thế [5, tr.22]

Theo từ điển Anh – Việt “aggression” có nghĩa là hành hung

Trong tâm lý học có những tác giả sử dụng thuật ngữ “aggression” khi nói đến bạo lực

Các quan điểm khi nói về bạo lực có thể chia ra thành hai xu hướng Có những quan điểm chia bạo lực theo nghĩa hẹp của chuyên ngành chính trị học cho rằng bạo lực là một phương thức vận động chính trị, là “sức mạnh dùng để trấn áp, lật đổ chính quyền” Một số quan điểm khác thì hiểu bạo lực như một hiện tượng xã hội, một phương thức hành xử trong các mối quan hệ xã hội, là những hành động mang tính chất chiếm đoạt làm tổn thương đến người khác và

bị pháp luật trừng phạt

Tuy nhiên, nếu chỉ hiểu theo một trong hai cách trên thì mới chỉ nhìn nhận bạo lực theo một khía cạnh nhất định chứ chưa nhìn nhận theo hướng đa chiều nhiều góc độ Hiểu một cách chung nhất thì bạo lực không chỉ là một hành động

Trang 16

gây tổn thương cả về thể chất và còn bao hàm cả những hành động gây tổn thương tinh thần người khác Bạo lực không chỉ hiểu theo nghĩa “xâm hại”, mà bao gồm cả những hành vi gây tổn thương cho người khác dưới bất kỳ hình thức, phương tiện, mục đích nào

Nhưng quan điểm trên mới chỉ thể hiện được phần nào nội hàm của khái niệm bạo lực Đó được hiểu là những hành động mang tính chất chiếm đoạt tổn thương đến người khác và bị pháp luật trừng phạt Ngày nay, quan điểm bạo lực không chỉ giới hạn ở những hành động làm tổn thương đến thể chất còn xét cả những hành động làm tổn thương đến tinh thần người khác trong gia đình và ngoài xã hội

Trong kỷ yếu hội thảo khoa học nghiên cứu giảng dạy và ứng dụng Tâm lý học – giáo dục trong thời kỳ hội nhập quốc tế, PGS- TS Phan Trọng Ngọ đã định nghĩa bạo lực là hành xử phi nhân tính, chúng là hành vi bất thường trong xã hội nhân văn [dẫn theo 7]

Theo quan niệm của tổ chức Y Tế Thế Giới thì bạo lực được coi là việc sử dụng cố ý lực lượng vật chất hay quyền lực nhằm đe dọa người khác hoặc chống lại một nhóm hoặc cộng đồng mà kết quả của nó có khả năng dẫn đến thương tích hoặc tử vong và tổn hại về tâm lý.[ dẫn theo 19]

Từ việc đó tổng hợp lịch sử nghiên cứu về bạo lực và tham khảo một số định nghĩa về bạo lực khác nhau, chúng tôi xin được trình bày cách hiểu của

mình như sau: Bạo lực được hiểu là sử dụng sức mạnh, quyền lực hay các hành động để cưỡng bức, trấn áp, đe dọa, hành hung… làm tổn thương đến thể chất, tinh thần, tâm lý người khác

1.1.2 Khái niệm về hành vi bạo lực

Định nghĩa của Liên minh cứu trợ trẻ em quốc tế: Hành vi bạo lực thân thể và tinh thần là hành vi sử dụng vũ lực, lời nói hoặc các hành vi khác nhằm gây ra đau đớn hoặc thương tích

Có một số nhóm hành vi bạo lực sau:

Trang 17

- Nhóm 1: hành vi bạo lực về thể chất là những hành vi trong đó cha mẹ dùng sức mạnh để khống chế, sử dụng hành động bằng chân tay, gậy gộc hoặc phương tiện…làm đau đớn, tổn thương thể chất trẻ Có thể nói đến một số biểu hiện như: đánh đòn, tát tai, túm tóc, bắt quỳ gối, úp mặt vào tường…

- Nhóm 2: Hành vi bạo lực tinh thần sử dụng những lời mắng chửi, dọa nạt, gây khống chế…gây đau khổ và làm tổn thương tinh thần trẻ như:

+ La hét, quát tháo, đe dọa với bộ mặt giận dữ và cử chỉ thô bạo

+ Chửi rủa và nói lời xúc phạm đến lòng tự trọng, danh dự và nhân phẩm đạo đức của trẻ

+ Hành hạ những người yêu thương, gần gũi trẻ

+ Cô lập trẻ trong gia đình và các mối quan hệ bạn bè, người thân, người xung quanh; đối xử không công bằng giữa các con

+ Cha mẹ xâm phạm quyền riêng tư cá nhân như đọc trộm tư từ, nhật ký, ghi chép riêng, nghe lén điện thoại của trẻ, can thiệp một cách quá đáng và thô bạo vào những quyết định riêng của trẻ

+ Bếu riếu, chê bai, mắng nhiếc trẻ trước người lạ hoặc đám đông;

có những cử chỉ, lời nói mà trẻ không thích, trẻ đã thể hiện thái độ rõ ràng nhưng cha mẹ cứ lặp đi lặp lại nhiều lần

+ Cha mẹ có thái độ nghi ngờ, coi thường, không tin tưởng trẻ

+ Cha mẹ có những đòi hỏi yêu cầu quá cao so với khả năng của trẻ

Ngoài những hành vi trực tiếp trên thì mâu thuẫn xung đột, những hành vi bạo lực giữa cha mẹ với nhau, sự bỏ mặc, sao nhãng của cha mẹ… cũng là những hành vi bạo lực tinh thần gián tiếp với trẻ

- Nhóm 3: Hành vi bạo lực kinh tế:

+ Không cung cấp tiền tiêu vặt, tiền đóng học, tiền sinh hoạt nhóm, sinh hoạt lớp…cho trẻ khi trẻ xin hoặc nếu có thì mặt nặng mày nhẹ, mắng, thậm chí đánh đòn

+ Bắt làm việc quá sức

Trang 18

Mọi cách phân chia chỉ mang tính tương đối vì trong một hành vi bạo lực dạng này đã có thể bao hàm cả hành vi bạo lực khác, ranh giới giữa chúng không hoàn toàn rõ ràng (vd: Hành vi bạo lực thể chất đã bao hàm cả những bạo lực về mặt tinh thần ) Xác định, phân loại, mức độ một hành vi bạo lực còn phụ thuộc vào rất nhiều những yếu tố khác nhau như điều kiện, hoàn cảnh sống, môi trường văn hóa, đặc điểm tính cách cha mẹ…

1.1.3 Nguyên nhân dẫn đến hành vi bạo lực

1.2.3.1 Tiếp cận nguyên nhân bạo lực từ góc độ sinh học

Darwin là người đầu tiên đưa ra thuyết tiến hóa của loài người căn cứ trên

lý thuyết chọn lọc tự nhiên Khi có nạn đói hoặc chiến tranh hoặc khi thức ăn trở nên khan hiếm, sự cạnh tranh xuất hiện và trong cuộc “đấu tranh sinh tồn chọn lọc tự nhiên sẽ tác động làm lợi cho kẻ mạnh” Căn cứ trên thuyết khoa học tự nhiên, người ta có thể thấy trong suốt quá trình phát triển của loài người hung tính đóng vai trò quan trọng trong sự sống còn của các thành viên Trong thời nguyên thủy, con người hình thành tính hung hãn để săn bắn, giết chết các con vật, tiêu diệt bộ tộc khác, giành bạn tình hoặc lãnh thổ khác…Tức là con người phát triển tính bạo lực trong điều kiện sống bị đe dọa Cá nhân, bộ tộc và bạo lực luôn đi kèm với nhau để thỏa mãn bản năng sinh tồn

Đầu thế kỷ 20, nhà phân tâm học Sigmund Freud đã đưa ra khái niệm mới

mẻ là bản năng chết Bản năng chết được hiểu là khát vọng vô thức tiềm ẩn, muốn thoát ra khỏi những căng thẳng của cuôc sống bằng cách mong muốn được chết được giải thoát để khỏi phải chiến đấu và thích nghi giữa cuộc đời đầy phức tạp khó khăn Bản năng chết được thể hiện bằng sự hằn học của chính mình, sự bất mãn…Bên cạnh bản năng chết, con người còn có bản năng sống Bản năng sống thực chất là nhu cầu như: nhu cầu tính dục, nhu cầu được sống, được ăn, được ở, được yêu thương, được khẳng định, được bảo vệ và tự bảo vệ, được an toàn và được tự do Dựa trên những phát hiện quan trọng về bản năng sống và bản năng chết, Sigmund Freud đã suy đoán rằng hành vi bạo lực của con người

Trang 19

nhân sang người khác Trong bạo lực, ảnh hưởng của bản năng chết làm đổi hướng năng lượng “xung năng”

Cơ chế của quá trình đổi hướng năng lượng xung năng được mô tả bằng

sự dồn nén năng lượng xuống vô thức và sẽ bùng cháy trong thời điểm nhất định theo kiểu “tức nước vỡ bờ” Khi bị kích thích năng lượng bạo lực phải được kích thích ra bên ngoài nhằm vào một đối tượng giao tiếp của chủ thể Nhờ sự đổi hướng năng lượng “xung năng” mà con người cảm thấy nhẹ nhàng hơn, khoan khoái hơn Như vậy sự đổi hướng năng lượng xung năng mang tính hủy hoại của bản năng chết là điều cần thiết để duy trì cân bằng môi trường trong cơ thể

Ý tưởng cho rằng bạo lực có tính bản năng vấp phải sự chỉ trích của các nhà Tâm lý học xã hội Trong thế giới con người, bạo lực thay đổi nhiều hơn những điều được gợi ra từ thuyết bản năng Chính vì vậy thuyết bản năng đã thất bại trong việc mô tả sự đa dạng của hành vi bạo lực từ người này tới người khác,

từ nền văn hóa này tới nền văn hóa khác

Mặc dù khuynh hướng cho rằng hành vi bạo lực của con người không phải

do bản năng nhưng trên thực tế người ta không thể phủ nhận vai trò của yếu tố sinh học Mặc dù nhiều nghiên cứu trước đây chứng minh rằng hành vi bạo lực của con người chịu sự điều khiển của một yếu tố gen nào đó Những người sở hữu gen đó có xu hướng bạo lực nhiều hơn khi bị khiêu khích Tuy nhiên các nhà khoa học chưa xác định đó là gen nào Hay người ta cũng chứng minh rằng rượu và các chất kích thích ảnh hưởng rất lớn đến hành vi hung tính Rượu có thể làm giảm khả năng kiềm chế của con người bao gồm giảm khả năng kiềm chế hành vi bạo lực.[dẫn theo 2]

Vậy bạo lực có phải là bẩm sinh hay không? Đó vẫn là chủ để tranh cãi Chưa có một thực nghiệm nào đủ tin cậy để đo một cách chính xác yếu tố bẩm sinh ảnh hưởng đến tính bạo lực như thế nào Tất cả các loài vật tiến hóa một các ngẫu nhiên tùy theo sự thay đổi của môi trường Còn loài người vì có ngôn ngữ

và bộ óc phát triển đã có định hướng riêng cho sự tiến hóa của mình, vì thế mà không lệ thuộc hoàn toàn vào sự tiến hóa của giới sinh vật Vì vậy, khi xem xét

Trang 20

bản chất hành vi bạo lực chúng ta không thể xem xét đến nguồn gốc sinh học mà phải xét đến nguồn gốc xã hội văn hóa

S – R S: tình huống kích hoạt

R: Hành vi ứng xử của chủ thể khi tiếp nhận kích thích bên ngoài

Theo cách này thì con người bị hoàn cảnh điều khiển như một cái máy Con người có xu hướng hành xử theo bản năng, Hành vi phản ứng là phiên bản của hoàn cảnh tác động, trong mọi hoàn cảnh thì con người đều có cách hành xử hệt như hoàn cảnh tác động đến chủ thể

Cũng như vậy hành vi bạo lực được diễn tả theo công thức:

S – R S: Kích thích bạo lực

R: Bạo lực

Con người có xu hướng trả lời bạo lực với các kích thích bạo lực Trên thực tế thì không phải bất kỳ kích thích bạo lực nào cũng nhận được trả lời bạo lực, vì con người có nhận thức, có nhân cách của bản thân Vì vậy thuyết hành vi

cổ điển không còn phù hợp để giải thích hành vi bạo lực

- Thuyết hành vi bạo lực hiện đại (thuyết nhận thức hành vi) ra đời trên cơ

sở thuyết hành vi cổ điển Trong cách tiếp cận của thuyết hành vi hiện đại giữa S

và R có sự tham gia của quá trình nhận thức và tư duy

S- M – R

Trang 21

M: Là dòng suy nghĩ cảm nhận của chủ thể trước những tình huống kích

thích với chính mình

Chính sự nhận thức tư duy, dòng suy nghĩ của chủ thể đã chi phối sự ứng xử của chủ thể Như vậy, nhận thức hành vi không chỉ chú trọng đến yếu tố môi trường ảnh hưởng đến ứng xử của chủ thể mà coi cách cảm nhận, cách tiếp thu thái độ của chủ thể đối với kích thích đó mới giải thích được đầy đủ hành vi của chủ thể trước một tình huống kích hoạt Hành vi bạo lực hình thành ở chủ thể không chỉ có tác động của của môi trường mà chính là tâm thế đón nhận của chủ thể Con người không chỉ trả lời kích thích một cách bản năng vô thức mà phải

1.2.3.3 Thuyết “nhân văn - hiện sinh”

Đại diện cho trường phái này là A Maslow và C Roger

Các nhà tâm lý học nhân văn - hiện sinh cho rằng con người có bản tính lương thiện và hướng thiện Con người bẩm sinh là tốt vì vậy nếu đặt trong môi trường lành mạnh, tự nhiên thì họ sẽ sống hòa hợp với người khác Bản tính con người là tốt khiến họ lạc quan và tin tưởng vào con người và tương lai của loài người Các nhà tâm lý học nhân văn – hiện sinh quan niệm bản chất con người sinh ra đều tốt, khi họ trở thành người xấu khi có tác động tương tự của môi trường Lý thuyết này đã chống lại thuyết sinh học bẩm sinh, coi con người luôn

có bản chất hung hãn và đó là phản ứng tự nhiên, đấu tranh để sinh tồn

C Roger là một trong những nhà tâm lý học lâm sàng, nhà tư vấn tâm lý nổi tiếng của Mỹ, ông quan niệm về bản chất tốt đẹp của con người:

Trang 22

- Con người về bản chất là lương thiện, các rối nhiễu hành vi là do ứng tập nhiễm các ứng xử sai lệch

- Mỗi con người đều có một tiềm năng riêng và có khuynh hướng tự hiện thực hóa tiềm năng này

Đóng góp chính của Tâm lý học nhân văn cho khoa học tâm lý là việc

mở rộng cách nhìn nhận hành vi bất thường và những rối nhiễu hành vi Tâm lý học nhân văn đề cao vai trò của cá nhân, đề cao khả năng tự thể hiện và tiềm năng phát triển của cá nhân Ở con người khi xuất hiện hành vi rối nhiễu họ sẽ nỗ lực khắc phục Tuy vậy cách lý giải này của tâm lý học nhân văn không có cơ sở thực tiễn để thực hiện, hành vi bạo lực không thể tự biến mất Hành vi bạo lực hình thành do tự tập nhiễm các mẫu ứng xử sai lệch trong xã hội Vì vậy cũng cần tập nhiễm những mẫu hành vi ứng xử tốt đẹp, trong môi trường văn hóa để

nuôi dưỡng hành vi văn minh

1.2.3.4 Lý thuyết “Tâm động lực” – “Thất vọng gây ra giận dữ”

Thất vọng được định nghĩa như sự cản trở hay ngăn chặn một số hành động và định hướng đến mục tiêu Năm 1939, John Dollard và một vài đồng nghiệp của ông ở Yull đã đi tới đề xuất rằng “Bạo lực luôn luôn là kết quả của sự thất vọng” và “sự thất vọng luôn luôn dẫn tới hình thức bạo lực” Dollard và các đồng nghiệp của ông cho rằng động cơ giành được mục đích càng mạnh mẽ thì

sự thất vọng càng tăng lên Sự giận dữ và bạo lực càng gia tăng khi chúng ta tưởng tượng về những gì nhân được nhưng lại bị ngăn trở và phút chót Theo ông, nếu sự thất vọng lặp đi lặp lại nhiều lần thì một lúc nào đó nó sẽ bùng lên dẫn đến những hành vi bạo lực mạnh mẽ.[dẫn theo 2]

Năng lượng bạo lực cần được giải thoát trực tiếp ra ngoài, chống lại nguồn gây ra nó Chúng ta đều được dạy là phải kìm hãm sự trả thù trực tiếp, đặc biệt là

bị người khác phản đối, hoặc bị trừng phạt; thay thế vào đó chúng ta học cách chuyển hướng sự thù địch của chúng ta sang mục tiêu khác an toàn hơn

Những người thường xuyên có bạo lực là những người trong hành vi có xu

Trang 23

như thế Rất nhiều trường hợp những kẻ gây ra bạo động lớn trong những lúc bình thường được đánh giá là hiền lành, nhút nhát thậm chí họ chẳng bao giờ phản đối.Thuyết này giải thích hành vi bùng nổ mãnh liệt của những người mà trong điều kiện bình thường có thể xu hướng tính cách của họ đối lập với tính cách mà họ thể hiện trong cơn bạo lực Hay nói cách khác thất vọng có thể làm một người hiền lành trở thành một tên sát nhân bạo lực.[2]

1.2.3.5 Lý thuyết “học tập xã hội”

Thuyết học tập xã hội xuất hiện năm 1930 với đại diện là Albert Bandura Ngược lại với thuyết tập tính sinh học coi bạo lực là hành vi có tính bản năng của con người, thì Bandura nhấn mạnh điều kiện môi trường và xã hội là một trong những nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến hành vi bạo lực

Albert Bandura (1977) đã đề xuất một học thuyết nghiên cứu xã hội liên quan đến bạo lực Ông tin rằng chúng ta có thể học về tính bạo lực không chỉ bằng việc từng trải qua và chịu hậu quả mà nó gây ra mà còn bằng việc quan sát người khác Cũng như với hầu hết các hành vi xã hội, chúng ta lĩnh hội được nhiều điều về bạo lực thông qua việc xem người khác hành động và bắt chước những hành động đó Bắt chước là một kỹ năng học tập đặc biệt quan trọng Hành vi đạt được có thể là một hành vi giữa con người với nhau, một kỹ năng vận động hoặc một nguyên tắc dựa trên khái niệm Tuy tất cả các loại học tập đều quan trọng song học bằng quan sát, bắt chước đặc biệt quan trọng để tạo ra một hành vi mới cho bản thân

Thuyết học tập xã hội nhấn mạnh kiểm soát môi trường đối với hành vi của con người Xu hướng chung là trẻ có hành vi tiêu cực là do ảnh hưởng phần lớn từ môi trường gia đình Một điều có thể khẳng định rằng phương pháp giáo dục con của cha mẹ là yếu tố quan trọng hàng đầu ảnh hưởng đến sự phát triển nhân cách trẻ Ví dụ, những trẻ trai ở tuổi mẫu giáo hoặc tiểu học nếu bị bạn bè cùng lớp trêu chọc, bắt nạt thì một số người bố hoặc mẹ, thay vì phải nhắc nhở trẻ nhỏ hoặc nói với cô giáo hoặc người lớn can thiệp, thì họ có thể vô tình nói với trẻ những câu như: “Nó đánh mình thì mình phải đánh lại chứ việc gì phải

Trang 24

khóc?”; “Để bố nện cho nó một trận” Hành vi hung hăng được cổ vũ, cha mẹ đã

vô tình ươm mầm hành vi đó trong nhân cách trẻ

Một trọng tâm của thuyết học tập xã hội được bổ sung bằng mối quan tâm đến các yếu tố nhận thức cấu thành làm cơ sở cho học tập và quan sát Khi người lớn tác động vào nhận thức của trẻ trước một hành động, kết quả tích cực, tiêu cực của hành động như thế nào có tác dụng giúp trẻ lựa chọn hành vi phù hợp Badura cũng đặc biệt chú ý đến phần thưởng và hình phạt đối với trẻ, cá nhân đưa ra hướng dẫn tích cực của hành vi có phần thưởng khi trẻ củng cố hành vi tích cực và có hình phạt với trẻ khi chúng lựa chọn hành vi tiêu cực, kinh nghiệm lựa chọn hành vi đúng – sai sẽ giúp trẻ củng cố hành vi mà chúng lựa chọn Người ta học tập về cách thức mang tính bạo lực bằng cả kinh nghiệm và sự quan sát các mẫu hình hiển chiến Tuy nhiên, khi nào phản ứng bạo lực xảy ra? Bandura cho rằng những hành động bạo lực được thúc đẩy bởi một loạt các yếu

tố khác nhau – sự thất vọng, những chấn thương Những kinh nghiệm đó ảnh hưởng đến cảm xúc của chúng ta Song chúng ta có hành động một cách bạo lực hay không phụ thuộc nhiều vào kết quả mà ta mong đợi Hành vi bạo lực xuất hiện khi chúng ta bị khuấy động cảm xúc và nó dường như trở nên an toàn nếu gặp động cơ đúng đắn, thúc giục ngừng bạo lực khi cần thiết

1.1.4 Bản chất của hành vi bạo lực

1.1.4.1 Bạo lực là hành vi có chủ ý, có ý thức

Khi nghiên cứu hành vi bạo lực của con người, người ta không xét hành vi

đó mang tính ý nghĩa xã hội tích cực hay tiêu cực, là hành vi chính nghĩa hay phi nghĩa mà đơn giản xem xét hành vi đó như thế nào thì gọi đó là hành vi bạo lực Với ý nghĩa đó thì mọi hành vi bạo lực có tính toán cố tình làm tổn thương người khác hoặc làm tổn hại vật chất xung quanh đều là hành vi bạo lực

Vô tình làm tổn thương ai đó không phải là một hành động bạo lực vì ở đây không có ý định làm hại Tương tự như vậy, những hành động gây hại mà không có chủ ý thì không gây thù hận, vì vậy không phải là hành vi bạo lực

Trang 25

sẽ gây ra thù hận Vì vậy việc bắn chết người là một hành động bạo lực, kể cả viên đạn bị trượt không gây sát thương

Như vậy, bạo lực là hành vi sử dụng sức mạnh vũ lực có chủ ý có ý thức nhằm làm tổn thương người khác hoặc vật cho dù mục đích có đạt được hay không Đó là hành vi gây tổn hại, gây thương tích cho người khác một cách cố ý

và thương có xu hướng dùng sức mạnh cơ học (đấm,đá, thụi, xô, đẩy…) hoặc sử dụng vũ khí như gậy, dao, súng làm công cụ để tấn công người khác Nhưng vô tình làm ai đó bị tổn thương thì không phải là hành động bạo lực vì ở đây có hành động chủ ý làm tổn thương người khác

1.1.4.2 Bạo lực làm tổn hại về tinh thần

Con người luôn tồn tại với hai mặt rõ rệt là về thể chất và tinh thần, người ta có thể đo đếm được những tổn thương về mặt thể chất, còn tổn thương về mặt tinh thần thì không ai có thể thống kê được Người có hành vi bạo lực luôn đe dọa đến sự bình yên của người khác Các em khi sống trong môi trường thường xuyên bị cha mẹ bạo lực thì thì các em sẽ có sự hoang mang lo lắng về mặt tâm lý

1.1.4.3 Bạo lực tổn hại về thể chất

Là những hành động mà người có hành vi bạo lực được sử dụng sức mạnh

cơ bắp( tay, chân) hoặc công cụ, thậm chí là vũ khí nhằm gây đau đớn về thể xác, thân thể đối với nạn nhân Các em có thể gặp những chấn thương trên cơ thể Những hành vi phổ biến là đánh, đập, tát, đá, cấu, véo Những hành vi này thường để lại hậu quả là những dấu vết trên cơ thể nạn nhân

Sự phân loại về bạo lực làm tổn hại về thể chất và tinh thần như trên chỉ mang tính tương đối vì thực chất chúng có quan hệ chặt chẽ với nhau Bạo lực về thể xác luôn kèm theo sự đau đớn về tinh thần cho đối tượng là nạn nhân có hành

vi đó, làm tổn thương về mặt tinh thần dần dần có thể sẽ dẫn đến bạo lực về mặt thể xác của người đó với các chủ thể khác (xả giận, đấm, đá) hoặc người đó tự bạo hành bản thân mình (tự sát)

1.2 Hành vi hung tính

Trang 26

1.2.1 Khái niệm hành vi hung tính

Theo Slaby và Parke (1983) thì hung tính được định nghĩa như là bất kỳ hành vi nào có mục đích nhằm gây tổn hại hoặc bị thương về thể chất và tâm lý tới các cá nhân và những người khác

Caims: Những hành động khiêu khích là nhằm mục đích gây tổn hại hoặc thương tích

Theo từ điển tâm lý học của Nguyễn Khắc Viện: Hung tính được hiểu là những hành vi hung bạo nhằm tấn công gây tổn thương, đau đớn, chết chóc cho đối phương [15]

Theo từ điển tiếng Việt của Phan Canh, tính từ hung tính được dùng để chỉ

Đó là khái niệm về “lãnh thổ” và khái niệm về “đẳng cấp”

Khái niệm “lãnh thổ” gắn với sự sở hữu đất đai, điều kiện ăn ở chật chội, chen chúc nhau cũng kích thích hành vi hung tính, cũng vì vậy theo các nhà phong tục học không nên để cho mật độ dân cư quá đông, không đủ nuôi sống, cũng vì vậy mà trong các cuộc đấu tranh giữa các động vật cùng giống để tranh giành sinh sống trong một lãnh thổ, lại có cơ chế điều chỉnh không để đi đến tiệt giống, trong các cuộc chiến đấu thường có sự đầu hàng của các con vật yếu hơn, những nghi thức đầu hàng đó sẽ ức chế hành vi tấn công của kẻ mạnh Hung tính của động vật được kích thích khi có kẻ đồng loại (hay khác loài) xâm nhập và có lãnh thổ riêng (chó khác nhà, gà khác chuồng), hoặc khi những con đực tranh giành con cái

Trang 27

Khái niệm “đẳng cấp” rất rõ ràng ở những loài động vật sống thành đàn

có tổ chức Trong một bầy, khi đã thành tôn ti, đã có thủ lĩnh, thì những hành

vi tấn công nhau cũng giảm bớt vì có sự tôn thờ thủ lĩnh là kẻ mạnh nhất, khống chế được cả đàn Đây chính là minh chứng cho khái niệm đẳng cấp Còn theo các nhà tâm lý học lâm sàng thì hung tính được xác định là kiểu hành vi tấn công gây tổn hại hoặc tổn thương cho người khác, vi phạm các chuẩn mực xã hội, hành vi được lặp đi lặp lại kéo dài Kiểu hành vi này thường có ở nhiều môi trường như gia đình, trường học hay cộng đồng

Qua việc xem xét tìm hiểu các khái niệm của các tác giả khác nhau, các trường phái nghiên cứu khác nhau về hung tính chúng tôi tán thành với cách xác định khái niệm hung tính của các nhà tâm lý học lâm sàng, trong đó có khái niệm của bác sĩ Nguyễn Khắc Viện

Nói tóm lại chúng tôi hiểu khái niệm hung tính là: Những đứa trẻ hung tính là những đứa trẻ thường có xu hướng chuyển rất nhanh từ trạng thái

ôn hòa sang trạng thái cáu giận mà không tuân theo một quy luật nào cả, chúng luôn có xu hướng tấn công người khác và các con vật, khi không tấn công nổi thì bỏ chạy (xu hướng hành động mang tính bản năng của con vật)

Và những đứa trẻ hung tính này là những đứa trẻ nghèo nàn, thiếu hụt các

kỹ năng giao tiếp, thuyết phục, đàm phán

Hung tính còn có nguồn gốc từ động vật cấp thấp và khi thế giới động vật

có tiến hóa, phát triển lên thành con người hiện đại như hiện nay thì bản năng hung bạo ấy không hề bị mất đi, nó vẫn tồn tại tiềm tàng trong mỗi chúng ta Nhưng con người chúng ta khác động vật cấp thấp ở chỗ chúng ta sống, hoạt động trong xã hội loài người, chúng ta gia nhập các mối quan hệ người – người, chúng ta được hưởng một nền giáo dục mang tính nhân văn, chúng ta có ý thức

và cao hơn cả là có năng lực tự ý thức, khi chúng ta hành động luôn có sự kiểm soát của lương tâm, chúng ta hành động không chỉ vì thỏa mãn nhu cầu bản năng

mà còn hành động để thỏa mãn những giá trị, năng lực của chúng ta Muốn làm được như vật phần con trong chúng ta phải ít hơn phần người theo đúng nghĩa

Trang 28

của từ này Nhưng hung tính vẫn tồn tại ở một đứa trẻ do chúng thiếu hụt, nghèo nàn kỹ năng giao tiếp, đàm phán…

Theo các nhà tâm lý học lâm sàng thì hung tính nảy sinh do tác động của những kích thích gây ra cảm giác khó chịu sự đau đớn, nhiệt độ cao, tiếng ồn… Thứ hai theo họ hung tính là những trẻ có khó khăn trong việc mã hóa và giải mã các tín hiệu xã hội, từ đó dẫn đến việc đứa trẻ lựa chọn các chiến lược hành động không phù hợp với chuẩn mực xã hội, với quy định mang tính đạo đức xã hội Và chúng sẽ càng thể hiện sự thiếu hụt về nhận thức khi có sự tẩy chay bài xích của những người khác có thể là bạn học cùng, cha mẹ, anh chị em… và những phương thức hành động bạo lực mang tính tất yếu sẽ xảy ra

1.2.2 Cơ chế của hành vi rối loạn hung tính

Ở đứa trẻ bình thường thì xung lực cân bằng với sự kiểm soát Nghĩa là đứa trẻ con kiểm soát được hành vi của mình Còn đối với đứa trẻ hung tính thì quá trình xung lực mạnh hơn và tạo ra sự mất cân bằng ở trẻ

Hung tính còn do những tác động của trạng thái bên trong cơ thể (demal states): đó là sai lệch về cấu trúc hoặc tổn thương một chức năng nào đó Người

ta nhận thấy, trung khu kiểm soát hung tính ở hạnh nhân Nếu kích thích một dòng điện rất nhỏ vào vùng hạnh nhân của một người nào đó thì thấy người đó nổi xung ngay lập tức Ngược lại, người ta cũng làm thí nghiệm cắt bỏ vùng hạnh nhân của một số đối tượng hung tính thì họ trở nên thay đổi và không hung tính như trước nữa

1.2.3 Tiêu chuẩn chẩn đoán

Theo DSM IV thì hung tính được xếp vào các dạng rối loạn hành vi, chúng

được chuẩn đoán theo các tiêu chuẩn sau:

Đó là một kiểu hành vi được lặp đi lặp lại và trong đó các quyền cơ bản của người khác hay các chuẩn mực xã hội phù hợp với lứa tuổi bị vi phạm biểu hiện

ở chỗ có ba hay nhiều hơn các tiêu chuẩn diễn ra không thường xuyên trong 12 tháng, hoặc có ít nhất một tiêu chuẩn diễn ra liên tục trong vòng 6 tháng

Trang 29

a Thường hay bắt nạt đe dọa hay uy hiếp người khác

b Thường hay khởi xướng đánh nhau

c Đã dùng vũ khí có thể gây hại nghiêm trọng về thể chất cho người khác (ví dụ: gậy, gạch, mảnh chai, dao, súng…)

d Đã độc ác về thể chất với súc vật

e Đã ăn cắp khi đối mặt với nạn nhân (cướp giật, tống tiền…) Phá hoại tài sản

f Đã cố ý gây cháy với ý định gây thiệt hại nghiêm trọng

g Đã cố ý phá hoại tài sản người khác

Vi phạm nghiêm trọng các luật lệ

h Thường sống qua đêm ngoài gia đình ít nhất hai lần trong khi đang sống

ở nhà cha mẹ hay nhà người đại diện cha mẹ hay một lần không trong một thời kỳ dài

i Thường trốn học, bắt đầu trước tuổi 13, với trẻ lớn tuổi hơn hành vi này biểu hiện bằng thường xuyên vắng mặt không lý do ở nơi làm việc

Như vậy có 9 tiêu chuẩn để chuẩn đoán

Theo DSM IV, hành vi hung tính có thể khởi phát ở lúc 5 – 6 tuổi nhưng đại

đa số nó có thể thường xuyên xuất hiện ở cuối tuổi trẻ em hay vào đầu tuổi thanh thiếu niên, khởi phát thường ít gặp sau 16 tuổi Hung tính thường giảm đi vào tuổi người lớn nhưng có một tỉ lệ nhất định sẽ kéo dài hành vi này Nhưng theo các tài liệu khác mà chúng tôi đã tham khảo thì chúng tôi xin xác định một cách chính xác về thời gian khởi phát của hung tính, hung tính có lẽ khởi phát từ 3 tuổi nhưng ở những đứa trẻ hay tấn công người khác, súc vật và phá hoại tài sản ngay tức thời khi những người này hoặc các con vật đó cản trở nhu cầu thỏa mãn của chúng thì ko cần phải đợi đến 5-6 tuổi mới xác định được

Ngoài các tiêu chuẩn chẩn đoán theo DSM IV thì theo các nhà tâm lý học lâm sàng, có thêm một số dấu hiệu để chúng ta lưu ý khi quan sát trẻ để từ đó có thể xác định một cách chính xác xem trẻ em có bị liệt vào dạng hung tính hay không (trích theo tài liệu dịch của bác sĩ Phạm Văn Đoàn) Đó là các dấu hiệu:

Trang 30

a.Trẻ dễ dàng chuyển từ trạng thái ôn hòa sang cáu giận, bực tức vừa phải

với tần suất là một vài lần trong ngày hoặc trong mỗi tuần Ở trẻ thơ,sự bực tức, giận dữ là hành vi có vấn đề liên quan đến sự kéo dài dai dẳng của các trạng thái tình cảm tiêu cực

Sự giận dữ là một xúc cảm mạnh biểu hiện chủ yếu ở trẻ em bằng những cơn gào thét nhưng cũng có khi bằng sự kích động ít nhiều mang tính chất hung bạo, bằng dậm chân, bằng những dấu hiệu vận mạch (đỏ mặt, tái mặt, mồ hôi, nước mắt) Khi bị người chứng kiến kìm chế, cơn giận dữ mất đi đột ngột sau một khoảng thời gian không nhất định để nhường chỗ cho một giai đoạn phục hồi với

sự co mình lại, mút ngót tay cái và sự nghỉ ngơi bù lại

Sự giận dữ này thường hay gặp ở một số trẻ có hệ vận động không ổn định, nhiều nhất là ở trẻ từ 3-4 tuổi khi chúng chưa làm chủ được tốt ngôn ngữ của mình và khi người ta áp đặt những điều chỉnh đầu tiên cho hành vi ứng xử của

nó Các cơn giận dữ là một biểu hiện rất trực tiếp của hung tính

b Khóc nức có thể xem là một dạng rối loạn của hành vi hung tính, đó là kết

quả của một sự phản đối với một số tình huống tâm lý cảm xúc gây khó chịu cho trẻ, thường hay gặp khi có sự đụng độ với mẹ Người ta quan sát thấy trong lúc trẻ khóc, một sự ngạt thở gây ấn tượng khá mạnh và nếu như nó kéo dài, có thể dẫn đến mức mất ý thức hoặc các cơn co giật do thiếu oxy, cơn ngạt thở này thường kéo dài theo cơn tím tái nhẹ và sau một vài giây, nhịp thở sẽ trở lại bình thường Hiện tượng này xảy ra khá chọn lọc khi có sự hiện diện của bố mẹ cộng thêm với sự lo lắng của bố mẹ là tác nhân củng cố loại hành vi này

c Nói dối trước hay 6 hay 7 tuổi, đó là khi trẻ dùng nó để hỗ trợ cho tính

khoe khoang, bị chuyện Cũng như vậy, nói đối là tự vệ hết sức thông thường,

ví dụ như cố tình bỏ quên một điểm xấu, không kể với ai đó về một hình phạt vừa mình vừa trải qua…Về sau, vào khoảng 10 – 12 tuổi, chứng nói dối kèm theo trộm cắp và làm hại người khác một cách có tính toán, cân nhắc lúc đó nó chứng tỏ rõ ràng ý muốn vượt qua luật lệ của nhóm xã hội, dẫn đến phạm

Trang 31

pháp, vi phạm các chuẩn mực đạo đức và pháp luật, đó là một dạng biểu hiện của hành vi hung tính

d Trộm cắp: trước 5 hay 6 tuổi nó không có ý nghĩa đáng kể vì đứa trẻ chưa

có khái niệm về sở hữu Sau 5 hay 6 tuổi việc trộm cắp mang ý nghĩa chống đối, ghen tuông ham muốn không kìm được đối với một đồ vật nào đó Nhưng nếu nó lại tái hiện sau 10 đến 12 năm thì quả là đáng sợ

e Trốn nhà: gồm có 3 loại: Trốn học đi chơi nghĩa là trẻ dùng thời gian đi

đến nhà bạn bè hoặc thực hiện một hoạt động nào đó rồi đi về nhà đúng giờ Một loại hành vi trốn nhà nữa mà các chuyên gia tâm lý lâm sàng gọi nó là du đãng: trốn nhà lâu ngày hơn, và có thể dẫn đến sự phạm pháp do sự cần thiết thỏa mãn các nhu cầu

Tóm lại, có thể khẳng định, thông số để xác định hành vi hung tính là những hành vi tấn công, xâm kích người khác một cách nghiêm trọng, thô bạo với tần xuất cao, thường xuyên

Theo chúng tôi cũng cần có sự phân biệt nội hàm khái niệm hung tính (Aggression) với khái niệm có liên quan như: Giận dữ (Anger); Xung tính (Impulsive control disorder); Các cơn khùng bất tử (Explosive disorders) để chính xác trong chuẩn đoán

- Dấu hiệu nhận biết

Trẻ dễ dàng chuyển từ trạng thái ôn hòa sang trạng thái cáu giận/bực tức vừa phải với tần xuất là một vài lần trong ngày hoặc trong mỗi tuần

Thông số để xác định hành vi hung tính là: Những hành vi tấn công xâm khích người khác một cách chủ ý, nghiêm trọng, thô bạo với tần suất cao (thường xuyên) Thực sự hung tính là khuôn mẫu hành vi kéo dài, ổn định, thường xuyên, mạnh mẽ

- Tiến triển

Hành vi hung tính có thể khởi phát 5-6 tuổi nhưng thường ở đầu tuổi thanh thiếu niên Khởi phát ít gặp sau 16 tuổi Hung tính sẽ giảm đi khi trẻ vào tuổi người lớn nhưng có một tỉ lệ nhất định tiếp tục kéo dài hành vi này

Trang 32

- Mô hình 4 thành phần của hung tính

+ Các sự kiện nảy sinh

Sự giận dữ có thể nảy sinh dưới tác động của những kích thích gây cảm giác khó chịu như sự đau đớn, nhiệt độ cao, tiếng ồn và những kích thích thị giác ghê sợ, gây phẫn nộ

+ Quá trình nhận thức

Mô hình nhận thức xã hội của hành vi hung tính cho rằng những đứa trẻ

có hành vi hung tính là những đứa trẻ có khó khăn trong việc mã hóa các tín hiệu

xã hội, phân tích/giải thích chính xác các sự kiện xã hội đưa ra giải pháp với vấn

đề mà chúng nhận biết, quyết định xem xét giải pháp nào là có hiệu quả

+ Những phản ứng sinh lý

Những đứa trẻ hung tính thể hiện kỹ năng nhận thức bị suy giảm sau khi nghe lời đe dọa, bị tẩy chay, bài xích của nhóm bạn cùng tuổi hoặc của những người khác

+ Những phản ứng hành vi

Phản ứng hành vi bao gồm cả bạo lực, có thể diễn ra khi thể hiện sự giận

dữ, Những hành vi thô bạo có thể là sản phẩm của sự tương tác giữa các cá nhân

mà ở nơi những kỹ năng xã hội bị thiếu hụt

1.2.1 Các lý thuyết về nguyên nhân nảy sinh hung tính

1.2.1.1 Các lý thuyết về nguyên nhân nảy sinh hành vi hung tính

- Theo thuyết bẩm sinh:

Thuyết này cho rằng hung tính có ở mọi loại động vật, kể cả ở con người

Đó là sự đấu tranh và chiếm hữu bảo vệ lãnh thổ Rất ít xã hội không tồn tại sợ thù hằn và hành vi hung tính

Các dữ liệu sinh lý thần kinh cho phép khẳng định một phần nào đó hung tính là bẩm sinh, các thí nghiệm cho ta thấy vùng hạnh nhân thái dương

có vai trò hoạt hóa tính hung bạo trong khi một vài vùng đồi thị lại có vai trò

ức chế

Trang 33

Phân tâm học cho rằng hung tính là một lực bẩm sinh đi song song với tính dục Về sau Freud đồng nhất hung tính với lực chết Lombroso coi những dị dạng về sinh lý, giải phẫu bẩm sinh là nguồn gốc của hành vi hung tính Chẳng hạn những người mũi bẹt, trán thấp, quai hàm và xương gò má lớn, đặc biệt là những người có dị tật về mắt, chân to bè…

Thuyết nhiễm sắc thể cho rằng những người đàn ông thừa nhiễm sắc thể

Y – XYY thường có hành vi quá khích và hung bạo Năm 1966 Richart – Spech một người đàn ông bị kết án tù khổ sai vì giết liên tiếp 3 người y tá ở Chicago Khi xét nghiệm người ta thấy người đàn ông này thiếu nhiễm sắc thể Y

- Theo thuyết nội tâm:

Những người theo thuyết này cho rằng nguồn gốc của hành vi hung tính không phải do bẩm sinh mà hành vi hung tính là sự đáp ứng lại đối với những hẫng hụt và đau đớn

Hai tác giả Doller mà Miller năm 1939 cho rằng nếu một người bị ngăn cản hoạt động để đạt tới mục đích nào đó sẽ có nguy cơ bị hẫng hụt nhiều hơn

Và anh ta sẽ có phản ứng với những hẫng hụt đó bằng sự thể hiện sự hung bạo đối với vật thể hoặc người cản trở hoạt động của anh ta

- Theo thuyết tập nhiễm xã hội:

Bandura, Ross & Ross (1961), trong một nghiên cứu kinh điển, đã chứng minh rằng trẻ em tập quen thông qua bắt chước người khác một cách đơn giản Người ta để từng em một trong nhóm trẻ thuộc trường mầm non của trường Đại học Stanford trong căn phòng với một người lớn Căn phòng có một số đồ chơi lắp hình bằng gỗ, nhiều đồ chơi hấp dẫn khác và một con búp bê thổi phồng bằng không khí có tên là Bobo Sau khi chơi lắp hình vài phút, người lớn này quan tâm chú ý đến con búp bê và bắt đầu hành hạ nó một cách bạo lực Anh ta dấm đá nó nhiều lần, dùng cái vồ nhỏ đập vào đầu và quăng ném nó chỗ này chỗ nọ trong khi

hò la hùng hổ “đá nó đi”, “hãy hạ đi ván nó đi” Sau khi được quan sát cơn tức giận bột phát của người lớn xong, người ta nói với trẻ rằng đã đến lúc các bạn phải

Trang 34

sử dụng đồ chơi này Trong phần 2, trẻ được đưa sang một phòng khác có nhiều đồ chơi hấp dẫn hơn nhưng vẫn có con búp bê Bobo và cái vồ nhỏ

Kết quả nghiên cứu so sánh với nhóm đối chứng cho thấy những trẻ không được thấy người lớn làm mẫu về hành vi hung tính ít khi nhặt cái vồ và đập con búp bê trong phần 2 của thí nghiệm Ngược lại, những đứa trẻ đã nhìn thấy người lớn làm mẫu hành vi xâm kích thường tấn công con búp bê một cách bạo lực Dường như đứa trẻ này đã học được về xâm kích và cách thể hiện hành

vi tân công thự sự như thế nào

Tác giả Bandura (1973) cho rằng phần lớn các ứng xử của con người là

do bắt chước Theo ông, nếu như nhà giáo dục, bố mẹ, thầy cô giáo tỏ ra hung hãn thì trẻ sẽ bắt chước và trở thành hung hãn Ngược lại, nếu trẻ bị phạt vì ứng

xử hung hãn thì tần số ứng xử hung hãn của trẻ cũng sẽ giảm

Sau này, năm 1979, Bandura còn nhận dạng cả những người làm mẫu về hành vi hung tính trong gia đình, băng đảng và trên phương tiện thông tin đại chúng Những thanh thiếu niên bạo lực thường là những người đã được bạo hành

từ nhỏ Đó là hung tính đã được học được bằng cách quan sát cha mẹ Đáng buồn

là những trẻ bị bạo hành sau này đã trở thành những bậc cha mẹ bạo hành và đây

là bằng chứng về sức mạnh học tập xã hội (Bandura & Walters, 1959; Kaufman

& Zigler, 1987)

Eron cũng đã tiến hành điều tra tại Chicago (Mỹ) để làm rõ mối quan hệ giữa những đứa trẻ hung bạo và những đặc điểm của bố mẹ và môi trường sống Kết quả cho thấy trẻ em hung bạo là trẻ ít được người khác yêu mến và quan tâm đến các hoạt động của trường học 96% cha mẹ của những trẻ hung tính đã dùng hình thức trừng phạt về thân thể đối với chúng Ngoài ra trẻ dễ bị rơi vào các tưởng tượng hung tính, nhất là khi xem các bộ phim bạo lực và các nhân vật mà

tự chúng đồng nhất Eron khẳng định: xem phim bạo lực là nguyên nhân cơ bản tạo ra hung tính của trẻ

- Thuyết phân tâm:

Trang 35

Các nhà phân tâm học cho rằng, hung tính là một nội lực bẩm sinh đi song song với tính dục Freud đã đồng nhất hung tính với lực chết, đối lập với lực sống, và cũng theo các nhà phân tâm học thì sự xuất hiện ngôn ngữ và trí tuệ tạo

ra nhiều hình thái tấn công tượng trưng

Cũng theo các nhà Phân tâm học thì hung tính xuất hiện khi các nhu cầu bản năng không được thỏa mãn, gây ra sự hẫng hụt, tức tối, phản ứng ra bên ngoài sẽ là tiêu cực Vì chúng ta đã biết những đứa trẻ hung tính là những đứa trẻ luôn muốn phải thỏa mãn ngay nhu cầu của chúng, nếu ai đó hoặc vật gì đó cản trở sự thỏa mãn đó thì chúng liền có hành vi tấn công ngay tức khắc Bởi vậy trong trường hợp này lý giải như các nhà Phân tâm học cũng có góc độ hợp lý của nó

- Theo trường phái nhân văn hiện sinh:

Theo trường phái này thì sở dĩ những đứa trẻ hung bạo là do nó thiếu hụt các kỹ năng sống ví dụ như kỹ năng: Giao tiếp, đàm phán, hòa nhập nhóm… Các giá trị sống, giá trị xã hội, đời sống tâm lý, tình cảm của trẻ nghèo nàn, nếu cộng thêm các biện pháp giáo dục không mang tính nhân văn, giáo dục chủ yếu bằng trừng phạt thì càng kích thích đứa trẻ chống đối, hung bạo hơn Theo các nhà TLH thuộc trường phái này thì nên động viên khuyến khích trẻ bằng những câu chuyện hành động mang tính nhân văn, giáo dục cho trẻ rèn luyện kỹ năng hành động, xây dựng cho trẻ các giá trị sống tốt đẹp hơn thông qua những người mà trẻ ngưỡng mộ ví dụ như bạn học, thầy cô giáo…

1.2.1.2 Các nguyên nhân chủ yếu của hành vi hung tính

- Yếu tố sinh học:

Các dữ liệu sinh lý – thần kinh cho phép khẳng định một phần nào đó hung tính là bẩm sinh, các thí nghiệm cho thấy vùng hạnh nhân thái dương có vai trò hoạt hóa tính hung bạo trong khi một vài vùng đồi thị lại có vai trò ức chế Những nghiên cứu tỉ mỉ hơn, cũng trên súc vật cho ta thấy ở khu hạnh nhân thái dương có những mối tương tác phức tạp giữa hệ thống tăng cường dương tính (thưởng, khoái cảm) và hệ thống tăng cường âm tính (phạt, ghen ghét), sự hoạt hóa

Trang 36

trực tiếp bằng một nguồn điện kích thích đã cho phép “đoản mạch” màng lọc hạnh nhân này Và có lẽ tất cả hệ thống viền đều tham gia vào việc điều hòa các phản ứng cảm xúc và các hành vi hung bạo, các thí nghiệm làm tổn thương cả hai bên hạnh nhân cho thấy là hệ thống viền và hạnh nhân đều tham gia không những vào việc phát sinh các hành vi cảm xúc và sự hung bạo mà còn vào sự biến đổi và ức chế ổn định của chúng do tác động của môi trường xung quanh

- Yếu tố gen

Yếu tố sinh học có ảnh hưởng đến phát triển mẫu hành vi hung tính Những nghiên cứu gần đây cho rằng di truyền rõ ràng đóng một vai trò quan trọng trong sự xuất hiện những khác biệt cá nhân về hành vi hung tính Những đứa trẻ sinh đôi đồng hợp tử có hung tính hơn những đứa trẻ sinh đôi dị hợp tử

- Yếu tố hoóc môn

Những bằng chứng gần đây cho thấy những đứa trẻ có những khó khăn như dễ gắt gỏng, dễ cáu kỉnh, khó trấn tĩnh (bình tĩnh trở lại) thì dễ phát triển khuôn mẫu hành vi hung tính ở các giai đoạn lứa tuổi sau này Trong một nghiên cứu đối với những đứa trẻ trên 15 – 17 tuổi ở Thụy Điển đã phát hiện thấy mối liên hệ giữa hàm lượng hóc môn Testosteron và hung tính Những đứa trẻ có hàm lượng Testosteron cao thì dễ có khả năng phản ứng hung hãn thô bạo đối với những sự khiêu khích và đe dọa của người khác Trong trường hợp này thì Testosteron có ảnh hưởng trực tiếp tới hành vi hung tính

Những đứa trẻ có hàm lượng Testosteron cao thường kém kiềm chế, hay gắt gỏng, cáu kỉnh, sẵn sàng tham gia các loại hung tính hủy hoại mà không phải

do khiêu khích, không do kích động Trong trường hợp này hoóc môn có tác động gián tiếp tới mức độ hung tính

Ảnh hưởng của hoóc môn không phải chỉ với trẻ trai mà cũng ảnh hưởng đến cả trẻ gái Trong một nghiên cứu khác về tác động của hoóc môn cho thấy lượng hoóc môn tăng lên ở tuổi dậy thì có liên quan tích cực đến sự thể hiện giận

dữ và hung tính khi tre gái ở tuổi vị thành niên và tương tác, giao tiếp với bố mẹ

Trang 37

Nhưng sự phát hiện này không có nghĩa rằng nhân tố sinh học như hoóc môn đóng vai trò độc lập với môi trường xã hội mà ở một số thời điểm trong quá trình phát triển như tuổi vị thành niên thì hoóc môn có ảnh hưởng rõ hơn, dưới tác động của một vài điều kiện như tình huống đe dọa, kiêu khích

- Yếu tố NST bất thường

Các nghiên cứu đã tìm ra mối quan hệ hay nói cách khác sự quy định NST đối với việc tạo ra hành vi bình thường hay rối nhiễu tâm lý thì thấy như sau: Những đứa trẻ thừa NST Y có thể tăng rõ rệt về hành vi chống đối xã hội và những vấn đề cảm xúc khác Song trong một số lớn những trường hợp này lại không thấy những bất thường như vậy

- Tổn thương khi đẻ non:

Khi mới sinh ra đứa trẻ bị tách ra khỏi mối quan hệ mẹ con để chăm sóc trong bệnh viện nhiều tuần thậm chí nhiều tháng, điều này làm ảnh hưởng xấu đến quá trình gắn bó, tạo ra sự kém thích nghi xã hội sau này Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng nếu một đứa trẻ bị tách mẹ quá sớm thì sự phát triển trí tuệ cảm xúc của nó sẽ có vấn đề, quá trình xã hội hóa của nó sau này của nó sẽ không được thuận lợi như những đứa trẻ được hưởng đầy đủ sự chăm sóc, yêu thương của người mẹ khi mới ra đời Vì khi trong bào thai đứa trẻ sống trong một môi trường

an toàn và ấm áp, thế mà khi chào đời đã bị tách ngay khỏi mẹ và hưởng một sự chăm sóc không đầy đủ tình mẫu tử sẽ gây hẫng hụt cho đứa trẻ và ảnh hưởng đến sự phát triển tâm lý, tình cảm sau này, những đứa trẻ này không biết cách làm chủ các cảm xúc của mình, thiếu hụt các kỹ năng giao tiếp và có thể hung bạo hoặc né tránh không giao tiếp với người khác

- Bệnh cơ thể và tổn thương

Tổn thương não sau khi sinh có thể liên quan tới hành vi chống dối Não

bị tổn thương làm cho học tập khó khăn Hung tính thường gặp hơn ở những đứa trẻ có trí tuệ thấp Não bị tổn thương là một trong nhữn nguyên nhân làm trí tuệ

Trang 38

chậm phát triển Hung tính không phải do bệnh lý của hệ thần kinh tham gia Trẻ

bị tổn thương về thần kinh, có thể bị bố mẹ hoặc người thân bỏ mặc Điều này có thể ảnh hưởng đến tự trọng của trẻ và liên quan tới việc nuôi dạy trẻ không tốt

Trẻ khó khăn về khí chất (không cân bằng, hưng phấn mạnh hơn ức chế) thì có cơ hội phát triển các vấn đề hành vi hơn những trẻ có khí chất dễ dàng Tuy nhiên điều này phụ thuộc nhiều vào khí chất và trách nhiệm bố mẹ Sự xung đột giữa khí chất của trẻ và bố mẹ đôi khi làm nền tảng của hung tính nghiêm trọng

và kéo dài Tuy nhiên một số gia đình lại thành công trong việc nuôi dạy trẻ có khí chất khó khăn

- Yếu tố môi trường

Gia đình và sự ảnh hưởng của nó tới hành vi hung tính của trẻ Không người nào thay thế tốt cho một cặp bố mẹ hòa thuận, hợp ý trong việc nuôi dạy

và xã hội hóa của trẻ Điều đó không có nghĩa là trẻ không phát triển tốt ở gia đình chỉ có bố hoặc mẹ Trẻ sống trong gia đình chuyển nhà liên tục hoặc sống tự

do, ở trại mồ côi, thường bị thiếu kinh nghiệm học tập cần cho quá trình xã hội hóa Tuy nhiên, trẻ sống trong gia đình ổn định có cả hai bố mẹ, không thể đảm bảo rằng trẻ không có biểu hiện hành vi hung tính Vậy yếu tố nào trong gia đình ảnh hưởng đến quá trình xã hội hóa Có nhiều người cho rằng đó là mối quan hệ không hài hòa giữa bố mẹ, giữa các thành viên trong gia đình, chia cắt sớm hoặc nhập viện, vắng mặt bố, mâu thuẫn giữa nhân cách bố mẹ và trẻ, rối loạn về kinh

tế và đặc biệt là phương pháp giáo dục con cái của bố mẹ Trong các nghiên cứu

đã chỉ ra có bộ phận không nhiều các bậc cha mẹ có chủ ý dạy trẻ tính tấn công, xâm khích người khác để tự vệ hoặc để trở thành người đàn ông Nhưng hầu hết cha mẹ nào sử dụng hình phạt về thể chất đặc biệt dựa trên cơ sở bất đồng thì thường có những đứa con hung hăng và có thái độ thù ghét

Trong công trình nghiên cứu của Patterson, ông đã quan sát gia đình của những đứa trẻ hung tính và trẻ không hung tính tại môi trường gia đình của chúng Những đứa trẻ trong môi trường của ông là những trẻ đang đi học và

Trang 39

thì có hành vi làm ngơ, không quan tâm và mâu thuẫn trong việc trừng phạt hành

vi sai lệch của trẻ và không có hiệu quả trong việc tặng thưởng cho trẻ có những hành vi hợp chuẩn Những cha mẹ của trẻ em hung tính thường trừng phạt chúng nhiều hơn, họ trừng phạt trẻ ngay cả khi trẻ có hành vi phù hợp Kết quả là làm phát triển ở trẻ thái độ thù ghét hoặc hành vi chống đối với những cưỡng bức/ ép buộc của cha mẹ chúng Đứa trẻ học cách mà cha mẹ chúng đã làm với chúng và cho rằng đó là phương thức hành vi có hiệu quả nhất để kiểm soát người khác

Ngoài ra nguy cơ hành vi hung tính ở trẻ có cha mẹ bị rối nhiễu nhân cách chống đối xã hội hoặc một anh, chị hay em bị rối nhiễu hành vi Hành vi này thường gặp ở trẻ em có cha mẹ học sinh bị nghiện rượu hoặc bị rối nhiễu khí chất hay tâm thần phân liệt hoặc cha mẹ học sinh có tiền sử rối nhiễu thiếu sót chú ý hiếu động hay rối nhiều hành vi chống đối xã hội Gia đình không chỉ ảnh hưởng trực tiếp tới sự phát triển hành vi hung tính của trẻ thông qua cách thức giáo dục con cái mà còn mang tính gián tiếp tới sự phát triển hành vi hung tính của trẻ thông qua cách thức giáo dục con cái mà còn mang tính gián tiếp khi cha

mẹ không kiểm soát được các hoạt động của trẻ ngay cả khi trẻ ở trong gia đình

và ngoài gia đình Nhiều bậc cha mẹ có con hung tính không biết con họ đang làm gì đang chơi ở đâu, chơi với ai

- Các yếu tố ngoài gia đình ảnh hưởng tới hành vi hung tính

Các yếu tố xã hội bên ngoài gia đình cũng có ảnh hưởng nhất định tới hành vi hung tính ở trẻ Người ta thấy trẻ em thường xuyên phải chuyển nhà hoặc chuyển trường có tỷ lệ hành vi hung tính cao Tỷ lệ trẻ có hành vi hung tính ở thành phố cao hơn ở nông thôn, đặc biệt tầng lớp khó khăn ở thành phố lớn

Ngoài ra trẻ hung tính thường bị các bạn tẩy chay, chúng thất bại trong học tập Từ đó những đứa trẻ này sẽ tìm kiếm những nhóm trẻ tự phát ngoài nhà trường mà thường là nhóm trẻ có hành vi lệch chuẩn, chống đối xã hội Nhóm trẻ

tự phát này là môi trường thuận lợi để duy trì hành vi chống đối xã hội và hoạt động phạm pháp

Trang 40

Khi đánh giá một trẻ có hung tính thì không coi các yếu tố nguyên nhân như những yếu tố độc lập mà giữa các nguyên nhân trên có mối quan

hệ với nhau

1.3 Lý thuyết nói đến mối tương quan giữa hành vi bạo lực thân thể của cha

mẹ với hành vi hung tính của học sinh

Cha mẹ có ảnh hưởng quan trọng nhất đến sự phát triển cảm xúc và hành

vi ở con trẻ Có rất nhiều học thuyết về hành vi nhấn mạnh tầm quan trọng của hành vi làm cha mẹ đối với sự phát triển của trẻ Ví dụ như thuyết về sự gắn bó

mẹ con (Bowbly 2004) cho rằng phong cách làm cha mẹ nồng ấm và nuôi dưỡng, sẵn sàng đáp ứng nhu cầu của trẻ sẽ quyết định chất lượng gắn bó trong mối quan hệ giữa cha mẹ và con cái Ngược lại, những hành vi mang tính chất bạo lực hoặc bỏ mặc con cái trong những ngày đầu tiên của cuộc đời sẽ phát triển mối quan hệ gắn bó mẹ con thiếu an toàn trong suốt cuộc đời trẻ sau này, là tiền

đề phát triển rối nhiễu hành vi cảm xúc Đặc biệt là khả năng kiểm soát cảm xúc

và sự tức giận Nghiên cứu cũng chỉ ra những đứa trẻ phát triển mối quan hệ thiếu an toàn, tiêu cực với cha mẹ thường chơi với bạn bè một cách không phù hợp, khó kiểm soát tức giận, không biết hợp tác với bạn trong khi chơi Thiếu sự gắn bó liên kết giữa trẻ với cha mẹ làm cho trẻ có xu hướng tránh né cha mẹ, không có động lực làm theo lời cha mẹ căn dặn Điều này có liên quan trực tiếp đến kết quả học tập của các em trong độ tuổi học đường cũng như các vấn đề rồi nhiễu hành vi cảm xúc (Granot & Mayselee, 2001)

Các lý thuyết về học tập, đặc biệt là học tập qua quan sát của Bandura nhấn mạnh vai trò của cha mẹ trong phát triển của trẻ Hành vi của cha mẹ định hình trong sự phát triển của trẻ qua các hành vi trừng phạt và khuyến khích đóng vai trò cho hình mẫu hành vi của trẻ Tuy nhiên những cha mẹ sử dụng hình phạt quá đà sẽ dẫn tới việc trẻ nhận thấy viêc nổi nóng và đánh người khác là điều được chấp nhận vì bố mẹ chúng đã làm với chúng Và trẻ sẽ bắt chước sử dụng hành vi bạo lực với người khác

Ngày đăng: 16/03/2021, 22:38

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w