1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Những biện pháp quản lý hoạt động dạy học môn tiếng anh tại trường đại học điện lực

115 11 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 115
Dung lượng 3,81 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tác giả xin chân thành cảm ơn Ban Giám Hiệu, các Phòng ban, các Khoa và Bộ môn Ngoại ngữ cùng toàn thể các cán bộ quản lý, giảng viên và sinh viên hệ Đại học chính quy tại Trường đại học

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA SƯ PHẠM

TRẦN THỊ BÍCH HẢI

z

NHỮNG BIỆN PHÁP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG

DẠY - HỌC MÔN TIẾNG ANH TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐIỆN LỰC

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ GIÁO DỤC

Chuyên ngành: Quản lý giáo dục

Mã số: 60 14 05 Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS NGUYỄN THỊ MỸ LỘC

HÀ NỘI - 2008

Trang 2

MỤC LỤC

1 Lý do chọn đề tài……… 1

2 Mục đích nghiên cứu……… 2

3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu ……… 3

4 Giả thuyết khoa học……… 3

5 Phạm vi nghiên cứu ……… 3

6 Phương pháp nghiên cứu … ……… 3

7 Cấu trúc luận văn……… 4

Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động dạy - học môn tiếng anh……… 5

1.1 Các khái niệm cơ bản của vấn đề nghiên cứu ……… 5

1.1.1 Khái niệm quản lý, chức năng quản lý …… 5

1.1.2 Quản lý giáo dục, quản lý nhà trường……… 8

1.1.3 Quản lý hoạt động dạy - học ……… 12

1.2 Đặc trưng dạy- học ngoại ngữ, dạy- học tiếng Anh ……… 17

1.3 Hoạt động dạy - học ngoại ngữ (tiếng Anh) trong trường đại học …… 18

1.3.1 Yêu cầu xã hội ……… 18

1.3.2 Hệ mục tiêu 18

1.3.3 Nội dung dạy học……… … .… 19

1.3.4 Phương pháp dạy học……… 20

1.3.5 Kiểm tra đánh giá……… 21

1.4 Quản lý hoạt động dạy- học tiếng Anh ở đại học ……… 22

1.4.1 Quản lý hoạt động dạy của giảng viên 22

1.4.2 Quản lý hoạt động học của sinh viên 23

1.5 Chiến lược phát triển nguồn nhân lực của ngành Điện và vai trò của tiếng Anh trong việc phát triển nguồn nhân lực ……… 24

1.5.1 Chính sách phát triển nguồn nhân lực……… 24

Trang 3

1.5.2 Mục tiêu, nội dung đào tạo và phát triển nguồn nhân lực 2006-2015 25

1.5.3 Vai trò của tiếng Anh trong việc phát triển nguồn nhân lực ngành Điện………

26

Tiểu kết chương 1……… 28

Chương 2: Thực trạng công tác quản lý hoạt động dạy – học môn tiếng anh tại trường đại học điện lực

29

2.1 Một vài nét về trường Đại học Điện lực… 29

2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển ……… 29

2.1.2 Chức năng, nhiệm vụ của trường Đại học Điện lực……… 29

2.1.3 Cơ cấu tổ chức của trường và đội ngũ giảng viên, CBCNV 30

2.1.4 Quy mô tuyển sinh và ngành nghề đào tạo……… 32

2.1.5 Hệ thống cơ sở vật chất 33

2.1.6 Bộ môn tiếng Anh ………… 33

2.2.Thực trạng hoạt động dạy – học môn tiếng Anh tại trường Đại học Điện lực 35

2.2.1 Thực trạng hoạt động giảng dạy môn tiếng Anh của giảng viên … 36

2.2.2 Thực trạng hoạt động học tập môn tiếng Anh của sinh viên 41

2.2.3 Thực trạng cơ sở vật chất, trang thiết bị, phương tiện – kỹ thuật phục vụ hoạt động dạy-học

46

2.3 Thực trạng quản lý hoạt động dạy- học môn tiếng Anh tại trường Đại học Điện lực………

47

2.3.1 Thực trạng quản lý hoạt động giảng dạy môn tiếng Anh của giảng viên…

47

2.3.2 Thực trạng quản lý hoạt động học tập môn tiếng Anh của sinh viên…

54

2.3.3 Thực trạng quản lý cơ sở vật chất, trang thiết bị, phương tiện – kỹ thuật phục vụ hoạt động dạy- học ………

56

Tiểu kết chương 2 57

Trang 4

CHƯƠNG 3: NHữNG biện pháp quản lý hoạt

động dạy – học môn tiếng anh tại tr-ờng đại

học ĐIện lực ………

58

3.1 Nguyờn tắc để xõy dựng cỏc biện phỏp quản lý ……… 58

3.1.1 Nguyờn tắc tớnh hệ thống ……… 58

3.1.2 Nguyờn tắc tớnh thực tiễn ……… 58

3.1.3 Nguyờn tắc tớnh hiệu quả ……… 59

3.2 Cỏc biện phỏp quản lý hoạt động dạy- học mụn tiếng Anh tại trường Đại học Điện lực………

59

3.2.1 Nhúm biện phỏp về đổi mới quản lý hoạt động giảng dạy của đội ngũ giảng viờn………

60

3.2.2 Nhúm biện phỏp về đổi mới quản lý hoạt động học tập của sinh viờn

67

3.2.3 Nhúm biện phỏp về đổi mới quản lý kiểm tra đỏnh giỏ kết quả học tập của sinh viờn…

74

3.2.4 Nhúm biện phỏp về đổi mới quản lý cơ sở vật chất, trang thiết bị, phương tiện - kỹ thuật phục vụ hoạt động dạy - học

76

3.2.5 Nhúm biện phỏp về tăng cường năng lực cho đội ngũ giảng viờn

79

3.3 Mối quan hệ giữa cỏc nhúm biện phỏp quản lý 81

3.4 Thăm dũ tớnh cần thiết và tớnh khả thi của cỏc biện phỏp……… 83

Kết luận và khuyến nghị……… …… 89

1 Kết luận……… 89

2 Khuyến nghị……… 90

TÀI LIỆU THAM KHẢO……… 92

PHỤ LỤC

Trang 5

LỜI CẢM ƠN

Tác giả xin chân thành cảm ơn Khoa Sư phạm và các Thày giáo,

Cô giáo trường Đại Học Quốc Gia Hà Nội đã tận tình giảng dạy và cung cấp những kiến thức cơ bản, đã giúp đỡ tác giả trong quá trình học tập và nghiên cứu

Tác giả xin chân thành cảm ơn Ban Giám Hiệu, các Phòng ban, các Khoa và Bộ môn Ngoại ngữ cùng toàn thể các cán bộ quản lý, giảng viên và sinh viên hệ Đại học chính quy tại Trường đại học Điện Lực đã tạo điều kiện thuận lợi, cung cấp thông tin, đóng góp ý kiến, giúp đỡ tác giả trong quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành bản luận văn này

Đặc biệt, tác giả xin bầy tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc đến PGS.TS Nguyễn Thị Mỹ Lộc, người hướng dẫn Khoa học đã tận tình hướng dẫn và chỉ bảo để tác giả hoàn thành luận văn này

Dù đã có nhiều cố gắng song luận văn này không thể tránh khỏi

những thiếu sót, hạn chế Kính mong nhận được những ý kiến đóng góp của các Thày giáo, Cô giáo, và các bạn đồng nghiệp

Xin chân thành cảm ơn

Hà Nội, tháng 5 năm 2008 Tác giả

Trần Thị Bích Hải

Trang 6

PPD-H Phương pháp dạy- học QLGD Quản lý giáo dục QLHSSV Quản lý học sinh sinh viên

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Việt Nam đang cùng nhân loại bước vào những năm đầu của thế kỷ 21, thế

kỷ của nền kinh tế tri thức trên phạm vi toàn cầu, thế kỷ của sự bùng nổ thông tin và khoa học công nghệ, yếu tố cạnh tranh và thị trường hoá đã tác động đến nền kinh tế quốc dân Các doanh nghiệp nước ngoài đang tranh thủ cơ hội nắm bắt nhu cầu và từng bước cạnh tranh trên thị trường Việt Nam Thị trường điện năng cũng không nằm ngoài xu hướng đó Sự chào giá cạnh tranh và mua bán điện đã bắt đầu hình thành trong nền kinh tế Việt Nam Ngành điện là sự sống còn của công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Để phát triển, ngành Điện phải tham gia hội nhập quốc tế và ngoại ngữ đóng vai trò dẫn đường cho sự thành công Trong những bối cảnh đó yếu tố con người - nguồn nhân lực chất lượng cao là yếu tố quyết định để phát triển kinh tế Ngoại ngữ chính là công cụ đắc lực và hữu hiệu giúp cho con người hoà nhập vào sự phát triển chung của xã hội

Nhu cầu phát triển nhân lực của xã hội nói chung và của ngành Điện nói riêng theo xu thế hội nhập đã đặt ra cho ngành giáo dục đối với D-H ngoại ngữ là đào tạo ra nguồn nhân lực tầm cao, có khả năng sử dụng được ngoại ngữ thành thạo trong công việc chuyên môn của mình Chính vì vậy quản lý HĐD-H môn ngoại ngữ có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với việc nâng cao chất lượng đào tạo trong nhà trường Quản lý tốt hoạt động này sẽ giúp GV

và SV có những bước đi đúng đắn trong từng khâu của quá trình D-H nhằm đạt được các yêu cầu do mục tiêu giáo dục đề ra

Hiện nay, việc quản lý HĐD-H ngoại ngữ ở các trường đại học còn nhiều bất cập, chậm đổi mới Thực trạng D-H chay còn phổ biến, PP, phương tiện, hình thức tổ chức D-H lạc hậu, chương trình, giáo trình chưa cập nhật, CSVC

Trang 8

Trường đại học Điện lực là trường của ngành đào tạo những kỹ sư điện cho đất nước vì vậy nhà trường luôn nhận được sự quan tâm của Tập đoàn Điện lực Việt Nam về việc đào tạo và phát triển nguồn nhân lực Từ những năm 1990 đến nay nhà trường đã xúc tiến mở rộng quan hệ với một số trường Điện trong khu vực và trên thế giới Qua nhiều năm giảng dạy ở bộ môn tiếng Anh, tôi nhận thấy vấn đề chất lượng môn tiếng Anh tuy đã được quan tâm nhưng chưa thực sự đáp ứng được yêu cầu của ngành đề ra Hàng năm Tập đoàn Điện lực Việt Nam có chủ trương cho kỹ sư đi học ở nước ngoài để nâng cao trình độ chuyên môn nhưng thực tế cho thấy nhiều kỹ sư đã bỏ lỡ

cơ hội vì không đủ điều kiện ngoại ngữ Môn tiếng Anh được dạy khá nhiều

ở trường Đại học Điện lực nhưng chất lượng chưa cao: SV sau khi hoàn thành môn tiếng Anh ở trường không sử dụng được ngôn ngữ này trong giao tiếp, thậm chí khi làm việc với chuyên gia nước ngoài phải thông qua phiên dịch, tài liệu chuyên ngành không sử dụng được Có nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng này: việc quản lý HĐD-H môn tiếng Anh ở trường Đại học Điện lực còn mang nặng tính hình thức; việc đầu tư trang thiết bị hiện đại phục vụ cho giảng dạy và học tập còn hạn chế hoặc nếu được trang bị thì hiệu qủa sử dụng còn thấp; tầm quan trọng của môn tiếng Anh đối với chiến lược phát triển nguồn nhân lực của ngành Điện chưa được nhà trường quan tâm đúng mức

Xuất phát từ các vấn đề nêu trên tôi đã lựa chọn đề tài: “Những biện pháp quản lý hoạt động dạy - học môn tiếng Anh tại trường Đại học Điện lực” làm đề tài nghiên cứu luận văn thạc sĩ quản lý giáo dục

2 Mục đích nghiên cứu

2.1 Mục đích

Đề xuất những biện pháp quản lý thích hợp và hiệu quả cho hoạt động dạy-học môn tiếng Anh tại trường Đại học Điện lực

Trang 9

2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Hệ thống hoá những vấn đề lý luận quản lý hoạt động dạy - học môn tiếng Anh ở Đại học

- Đánh giá thực trạng quản lý hoạt động dạy-học môn tiếng Anh tại Trường Đại học Điện lực

- Đề xuất các biện pháp quản lý hoạt động dạy- học môn tiếng Anh tại Trường Đại học Điện lực

3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu

3.1 Khách thể nghiên cứu

Hoạt động dạy-học môn tiếng Anh tại trường Đại học Điện lực

3.2 Đối tượng nghiên cứu

Quản lý hoạt động dạy-học môn tiếng Anh tại trường Đại học Điện lực

4 Giả thuyết khoa học

Nếu có được những biện pháp quản lý hợp lý và khả thi đối với việc giảng dạy và học tập môn tiếng Anh thì chất lượng của môn học này tại

Trường Đại học Điện lực sẽ được đảm bảo và từng bước nâng cao

5 Phạm vi nghiên cứu

Trường Đại học Điện lực đào tạo cả 3 hệ: Trung cấp, Cao đẳng và Đại học Do thời gian có hạn đề tài này chỉ tiến hành nghiên cứu các biện pháp quản lý hoạt động dạy- học môn tiếng Anh cho hệ Đại học chính quy của Trường Đại học Điện lực

6 Phương pháp nghiên cứu

Để giải quyết các nhiệm vụ nghiên cứu, chúng tôi sử dụng phối hợp các phương pháp nghiên cứu sau:

Trang 10

+ Sưu tầm sách, tài liệu đến vấn đề nghiên cứu

+ Đọc, phân tích, tổng hợp các tài liệu để xây dựng cơ sở lý luận của đề tài

- Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn:

+ Phương pháp điều tra xã hội học

+ Phương pháp tổng kết kinh nghiệm quản lý

+ Phương pháp hỏi ý kiến các chuyên gia

- Nhóm phương pháp thống kê toán học

7 Cấu trúc luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, khuyến nghị và tài liệu tham khảo, luận văn được trình bày trong 3 chương:

 Chương 1: Cơ sở lý luận của đề tài

 Chương 2: Thực trạng quản lý hoạt động dạy- học môn tiếng Anh tại Trường Đại học Điện lực

 Chương 3: Những biện pháp quản lý hoạt động dạy- học môn tiếng Anh tại Trường Đại học Điện lực

Cuối luận văn là phần danh mục tài liệu tham khảo và các phụ lục

Trang 11

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY-HỌC

MÔN TIẾNG ANH 1.1 Các khái niệm cơ bản của vấn đề nghiên cứu

1.1.1 Khái niệm quản lý, chức năng quản lý

có hai phân hệ: người quản lý và đối tượng bị quản lý

Có nhiều quan điểm khác nhau về quản lý tuỳ thuộc vào các cách tiếp cận, góc độ nghiên cứu và hoàn cảnh xã hội, kinh tế, chính trị Có thể điểm qua một số lý thuyết đó như sau:

K.Marx: “Tất cả mọi lao động xã hội trực tiếp hay lao động chung nào

tiến hành trên quy mô tương đối lớn, thì ít nhiều cũng cần đến một sự chỉ đạo

để điều hoà những hoạt động cá nhân và thực hiện những chức năng chung phát sinh từ sự vận động của toàn bộ cơ thể sản xuất khác với sự vận động của những khí quan độc lập của nó Một người độc tấu vĩ cầm tự điều khiển lấy mình, còn một dàn nhạc thì cần phải có một nhạc trưởng” [27, Tr 480]

Trang 12

nhóm Mục tiêu của mọi nhà quản lý là nhằm hình thành một môi trường

mà trong đó con người có thể đạt được các mục đích của nhóm với thời gian, tiền bạc, vật chất và sự bất mãn cá nhân ít nhất Với tư cách thực hành thì cách quản lý là một nghệ thuật, còn kiến thức có tổ chức về quản

lý là một khoa học” [26, Tr.33]

Các tác giả Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc cho rằng: “Hoạt động quản lý là tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý (người quản lý) đến khách thể quản lý (người bị quản lý) trong một tổ chức nhằm cho tổ chức vận hành và đạt mục đích của tổ chức” [8 , Tr.1]

Nghiên cứu các định nghĩa trên chúng ta có thể thấy mặc dù các tác giả

có các quan niệm khác nhau về quản lý nhưng họ đều thống nhất:

Quản lý luôn luôn tồn tại với tư cách là một hệ thống gồm các yếu tố: chủ thể quản lý (người quản lý, tổ chức quản lý); khách thể quản lý (người bị quản lý, đối tượng quản lý) gồm: con người, trang thiết bị kỹ thuật, nguồn tài chính…và mục đích hay mục tiêu chung của công tác quản lý do chủ thể quản lý áp đặt hay do yêu cầu khách quan của xã hội hoặc do có sự cam kết, thoả thuận giữa chủ thể quản lý và khách thể quản lý, từ đó nảy sinh các mối quan hệ tương tác với nhau giữa chủ thể quản lý và khách thể quản lý

Bản chất của hoạt động quản lý là cách thức tác động (tổ chức, điều khiển, chỉ huy) hợp quy luật của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành đạt hiệu quả mong muốn và đạt được mục tiêu đề ra

Như vậy quản lý là một hoạt động mang tính tất yếu của xã hội Chủ thể quản lý và khách thể quản lý luôn luôn có quan hệ tác động qua lại và chịu tác động của môi trường Con người là yếu tố trung tâm của hoạt động quản

lý vì thế quản lý vừa là một khoa học vừa là một nghệ thuật:

Trang 13

- Quản lý là một khoa học vì các hoạt động quản lý luôn là một hoạt động

có tổ chức, có định hướng trên những quy luật, những nguyên tắc và phương pháp hoạt động cụ thể Chỉ khi nhận biết đúng các quy luật đó, các đặc điểm của từng cá thể, các đặt trưng tâm lý khác nhau thì tác động của quản lý mới có kết quả Mặc dù trong hoạt động quản lý, nhà quản lý luôn tìm cách đúc kết kinh nghiệm và cải tiến công việc để có hiệu quả, tuy nhiên, muốn quản lý tốt thì phải học, không thể chỉ làm theo kinh nghiệm được

- Quản lý đồng thời là một nghệ thuật vì hoạt động quản lý là một hoạt động thực hành trong thực tiễn vô cùng phong phú và đầy biến động Không

có một nguyên tắc chung nào cho mọi tình huống Nhà quản lý phải làm sao

để có thể xử lý sáng tạo, thành công mọi tình huống nhằm thực hiện có hiệu quả mục tiêu đề ra, điều đó phụ thuộc vào bí quyết sắp xếp các nguồn lực, nghệ thuật giao tiếp, ứng xử, khả năng thuyết phục, kỹ năng sử dụng biện pháp của từng người

1.1.1.2 Các chức năng cơ bản của quản lý

Chức năng quản lý là hình thái biểu hiện sự tác động có mục đích của chủ thể quản lý đến đối tượng quản lý Quản lý có bốn chức năng cơ bản, có quan

hệ chặt chẽ với nhau là: kế hoạch hoá, tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra

 Kế hoạch hoá: Đây là chức năng cơ bản nhất trong các chức năng

quản lý Kế hoạch hoá bao gồm việc xây dựng mục tiêu, chương trình hành động và quyết định cách thức, phương tiện cần thiết trong một thời gian nhất định của một hệ thống quản lý để đạt được mục tiêu Kế hoạch hoá giúp nhà quản lý có cái nhìn tổng thể, toàn diện, từ đó thấy được hoạt động tương tác giữa các bộ phận Việc lập kế hoạch cho phép lựa chọn những phương án tối

ưu, tiết kiệm nguồn lực, tạo hiệu quả hoạt động cho toàn bộ tổ chức và có khả năng ứng phó với sự thay đổi Ngoài ra, nó còn tạo điều kiện dễ dàng cho việc kiểm tra Không có kế hoạch sẽ không thể xác định tổ chức hướng tới

Trang 14

đó kiểm tra trở thành vô căn cứ Nhà quản lý thông qua kế hoạch có thể nhìn thấy tương lai, có thể điều chỉnh những quyết định trước đó, bảo đảm hướng vào mục tiêu đã định

 Tổ chức: Tổ chức là việc biến những ý tưởng trừu tượng của kế hoạch

thành hiện thực Xét về mặt chức năng quản lý, tổ chức là quá trình hình thành nên cấu trúc các quan hệ giữa các thành viên, giữa các bộ phận trong tổ chức nhằm làm cho họ thực hiện thành công các kế hoạch và đạt được mục tiêu tổng thể của tổ chức Tổ chức làm cho các chức năng khác của hoạt động quản lý thực hiện có hiệu quả Thành tựu của một tổ chức phụ thuộc rất nhiều vào năng lực của người quản lý Họ cần thiết kế cơ cấu các bộ phận, sử dụng các nguồn nhân lực và vật lực sao cho phù hợp với mục tiêu của tổ chức

 Chỉ đạo: Đây là quá trình sử dụng quyền lực quản lý để tác động

đến đối tượng bị quản lý một cách có chủ đích nhằm phát huy hết tiềm năng của họ hướng vào việc đạt mục tiêu chung Chỉ đạo là chức năng thể hiện năng lực của người quản lý Việc chỉ đạo không chỉ bắt đầu sau việc lập kế hoạch và cơ cấu tổ chức đã hoàn tất, mà nó hoà quyện và ảnh hưởng đến hai chức năng kia

 Kiểm tra: Đây là chức năng quan trọng xuyên suốt quá trình quản lý Mục

đích của kiểm tra nhằm bảo đảm các kế hoạch thành công, phát hiện kịp thời những sai lệch, tìm nguyên nhân và biện pháp điều chỉnh các sai lệch nhằm làm cho toàn bộ hệ thống đạt mục tiêu đã định Kiểm tra là một quá trình bao gồm các bước: xây dựng các tiêu chuẩn; đo lường việc thực hiện; đánh giá các tiêu chuẩn

Trang 15

thành tự giác, có ý thức, có mục đích và có chương trình Ngày nay giáo dục

là hoạt động xã hội rộng lớn có liên quan trực tiếp đến lợi ích và nghĩa vụ, quyền lợi của mọi công dân, mọi tổ chức kinh tế xã hội đồng thời có tác dụng mạnh mẽ đến tiến trình phát triển của đất nước Dưới góc độ coi giáo dục là một hoạt động chuyên biệt thì QLGD là quản lý các hoạt động của một cơ sở giáo dục như trường học, các đơn vị phục vụ đào tạo, là sự điều hành hệ thống giáo dục quốc dân nhằm đạt được mục tiêu đào tạo Dưới góc độ xã hội, QLGD là quản lý mọi hoạt động giáo dục trong xã hội

QLGD là một khoa học quản lý chuyên ngành được nghiên cứu trên nền tảng của khoa học nói chung, đồng thời cũng là bộ phận của khoa học giáo dục Cách phổ biến trong sự phát triển lý thuyết là áp dụng các mô hình quản

lý công việc và bối cảnh giáo dục Vào giữa những năm 1990, QLGD từ chỗ

là một lĩnh vực nghiên cứu mới mẻ đã trở thành một lĩnh vực có lý luận riêng

và có dữ liệu thực nghiệm với độ tin cậy được kiểm tra trong giáo dục Cũng giống như khái niệm quản lý, khái niệm QLGD có nhiều cách hiểu và được nhiều tác giả định nghĩa khác nhau

Theo tác giả Phạm Minh Hạc: “QLGD là tổ chức các HĐD-H Có tổ

chức được các HĐD-H, thực hiện được các tính chất của nhà trường Việt Nam xã hội chủ nghĩa, mới quản lý được GD, tức là cụ thể hoá đường lối GD của Đảng và biến đường lối đó thành hiện thực, đáp ứng nhu cầu của nhân dân, của đất nước” [14, Tr.9]

Theo Giáo sư Nguyễn Ngọc Quang khái niệm QLGD là khái niệm đa cấp (bao hàm cả quản lý hệ thống giáo dục quốc gia, quản lý các phân hệ của nó,

đặc biệt là quản lý trường học) “QLGD là hệ thống những tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý nhằm làm cho hệ vận hành theo đường lối và nguyên lý giáo dục của Đảng, thực hiện được các tính chất của nhà trường xã hội chủ nghĩa Việt Nam, mà tiêu điểm hội tụ là

Trang 16

Trong cuốn Giáo dục học, Phạm Viết Vƣợng đã viết: “Mục đích cuối

cùng của QLGD là tổ chức giáo dục có hiệu quả để đào tạo ra lớp thanh niên thông minh, sáng tạo, năng động, tự chủ, biết sống và biết phấn đấu vì hạnh phúc của bản thân và xã hội” [24, Tr 206]

Qua các định nghĩa trên chúng ta có thể rút ra những kết luận: QLGD là

hệ thống những tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý đến tập thể giáo viên và học sinh, đến những lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường làm cho quá trình này hoạt động để đạt những mục tiêu dự định, nhằm điều hành phối hợp các lực lượng xã hội thúc đẩy mạnh

mẽ công tác giáo dục thế hệ trẻ, theo yêu cầu phát triển xã hội

Trong QLGD, quan hệ cơ bản là quan hệ giữa người quản lý với người dạy và người học, ngoài ra còn các mối quan hệ khác như: quan hệ giữa các cấp bậc khác, giữa GV với SV, giữa nhân viên phục vụ với công việc liên quan đến hoạt động giảng dạy và học tập, giữa GV- SV và CSVC phục vụ cho giáo dục

Ngày nay, theo quan điểm học tập thường xuyên, học tập suốt đời, giáo dục không còn giới hạn cho thế hệ trẻ mà là giáo dục cho mọi người, cho nên QLGD được hiểu là sự điều hành hệ thống giáo dục quốc dân nhằm thực hiện

mục tiêu: nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài

1.1.2.2 Quản lý nhà trường

Quản lý nhà trường là hoạt động của chủ thể quản lý (hiệu trưởng và các cơ quan quản lý cấp trên) nhằm tập hợp và tổ chức các hoạt động của giáo viên, học sinh và các lực lượng giáo dục khác, cũng như huy động tối đa các nguồn lực giáo dục để nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo trong nhà trường Quản lý nhà trường thực chất là quản lý giáo dục trên tất cả các mặt, các khía cạnh liên quan đến hoạt động giáo dục trong phạm vi nhà trường

Quản lý nhà trường là một hệ thống những hoạt động có mục đích, có kế hoạch hợp quy luật của chủ thể quản lý giáo dục để đạt tới mục tiêu giáo dục đặt

ra đối với ngành giáo dục trong từng giai đoạn phát triển của đất nước

Trang 17

* Mục đích của quản lý nhà trường là: đưa nhà trường từ trạng thái đang có tiến lên một trạng thái phát triển mới bằng phương thức xây dựng và phát triển mạnh mẽ các nguồn lực giáo dục và hướng các nguồn lực đó vào phục vụ cho việc tăng cường chất lượng giáo dục

* Nội dung công tác QLGD trong nhà trường bao gồm:

+ Quản lý toàn bộ CSVC và thiết bị nhà trường nhằm phục vụ tốt nhất cho việc giảng dạy, học tập và giáo dục học sinh

+ Quản lý tốt nguồn tài chính hiện có của nhà trường theo đúng nguyên tắc quản lý tài chính của nhà nước đồng thời biết động viên, thu hút các nguồn tài chính khác nhằm xây dựng CSVC, mua sắm trang thiết bị phục

vụ các hoạt động giáo dục và dạy học

+ Tổ chức đội ngũ các thày giáo, CBCNV và tập thể học sinh thực hiện tốt các nhiệm vụ trong chương trình công tác của nhà trường

+ Chỉ đạo tốt các hoạt động chuyên môn theo chương trình giáo dục của Bộ, của nhà trường Thực hiện nghiêm túc chương trình, cải tiến phương pháp giáo dục, nâng cao chất lượng dạy học

+ Quản lý tốt việc học tập của học sinh theo quy chế của Bộ GD&ĐT Quản lý học sinh bao hàm cả quản lý thời gian và chất lượng học tập, quản lý tinh thần thái độ và phương pháp học tập

+ Chăm lo đến đời sống vật chất và tinh thần của tập thể giáo viên, công nhân viên nhà trường

Tóm lại, QLGD trong nhà trường chính là quản lý các thành tố của quá trình D-H và có thể biểu diễn bằng hình sau:

Trang 18

Hình 1.2: Quản lý các thành tố của quá trình D-H

TR: Trò (SV) ĐK: Điều kiện (CSVC - Trang thiết bị)

QL: Quản lý

1.1.3 Quản lý hoạt động dạy - học

1.1.3.1 Hoạt động dạy - học

* Khái niệm hoạt động dạy - học

“Quá trình dạy học là một hệ toàn vẹn bao gồm hoạt động dạy và hoạt động học Hai hoạt động này luôn tương tác với nhau, thâm nhập vào nhau, sinh thành ra nhau Sự tương tác này giữa dạy và học mang tính chất cộng tác, trong đó hoạt động dạy giữ vai trò chủ đạo " [23, Tr.52]

Quá trình dạy - học là một hệ thống toàn vẹn, bao gồm ba thành tố cơ bản: Khái niệm khoa học, dạy và học Các thành tố của quá trình dạy-học luôn luôn tương tác với nhau theo những quy luật riêng, quy định lẫn nhau để tạo nên sự thống nhất biện chứng:

- Giữa dạy với học

- Giữa truyền đạt với điều khiển trong dạy

- Giữa lĩnh hội và với tự điều khiển trong học

Trang 19

Hoạt động dạy: Dạy là điều khiển quá trình trò chiếm lĩnh khái niệm

khoa học, bằng cách đó phát triển, hình thành nhân cách trò Dạy có hai chức năng: truyền đạt thông tin dạng học và điều khiển hoạt động dạy học

Hoạt động dạy học giúp trò lĩnh hội tri thức, hình thành và phát triển nhân cách Vai trò chủ đạo của hoạt động dạy được biểu hiện với ý nghĩa là

tổ chức và điều khiển hoạt động học của trò, giúp trò nắm được kiến thức, hình thành kĩ năng, thái độ Hoạt động dạy có chức năng kép là truyền đạt và điều khiển Nội dung, chương trình dạy học theo một quy định bắt buộc và đ-ược thống nhất trong mỗi cấp học Để đạt được mục đích, người dạy và ngư-

ời học đều phải phát huy các yếu tố chủ quan của cá nhân (phẩm chất và năng

lực của người dạy và người học) để xác định nội dung, lựa chọn phương

pháp, tìm kiếm các hình thức, các phương tiện dạy - học phù hợp

Hoạt động học: Học là quá trình trong đó dưới sự định hướng của

người dạy, người học tự giác, tích cực, độc lập, tiếp thu tri thức, kinh nghiệm

từ môi trường xung quanh bằng các thao tác trí tụê và chân tay nhằm hình thành cấu trúc tâm lý mới để biến đổi nhân cách của mình theo hướng ngày càng hoàn thiện Cũng như hoạt động dạy, hoạt động học có hai chức năng kép là lĩnh hội và tự điều khiển Nội dung của hoạt động học bao gồm toàn

bộ hệ thống khái niệm của môn học, bằng phương pháp đặc trưng của môn học, của khoa học đó, với phương pháp nhận thức độc đáo, phương pháp chiếm lĩnh khoa học để biến tri thức của nhân loại thành học vấn của bản thân Muốn vậy, người học phải xác định rõ mục đích, động cơ học tập có sự say mê, tích cực, tiếp thu một cách tự giác, sáng tạo những thông tin và biết

sử dụng những thông tin đó với kinh nghiệm riêng của bản thân

Nhưng để học đạt được hiệu quả và tránh được những sai lầm thì học càng cần phải có sự hướng dẫn, tổ chức, chỉ đạo của thầy Như vậy hoạt động học của trò cần phải diễn ra trong mối quan hệ thống nhất biện chứng với

Trang 20

tiếp tuỳ theo mức độ tự lực của người học, để đạt được mục đích cuối cùng của người học, đó là:

- Nắm vững tri thức khoa học

- Phát triển tư duy và năng lực hoạt động

- Hình thành thái độ, đạo đức và nhân cách, lý tưởng sống

* Mối quan hệ giữa hoạt động dạy - học

HĐD-H mang tính chất hai chiều, gồm hoạt động dạy và hoạt động học, đó là hai mặt của một quá trình luôn tác động qua lại và bổ sung cho nhau, phối hợp chặt chẽ thống nhất với nhau giữa người dạy và người học HĐD-H diễn ra trong những điều kiện xác định, trong đó hoạt động dạy đóng vai trò chủ đạo, điều khiển, hướng dẫn, hoạt động học đóng vai trò chủ động, tích cực, tự giác và sáng tạo, nhằm đạt hiệu quả theo mục tiêu

Bản chất của quá trình dạy học: là sự thống nhất biện chứng của dạy và học, được thể hiện trong và bằng sự tương tác có tính chất cộng đồng và hợp tác giữa dạy và học tuân theo logic khách quan của nội dung dạy học “Chỉ trong sự tác động qua lại giữa thày và trò thì mới xuất hiện bản thân quá trình dạy học Sự phá vỡ mối liên hệ tác động qua lại giữa dạy và học sẽ làm mất đi sự toàn vẹn đó” [23, Tr 23]

1.1.3.2 Quản lý hoạt động dạy - học

Trang 21

Quản lý hoạt động dạy- học là quản lý một quá trình với một hệ thống bao gồm nhiều yếu tố như: mục đích, nhiệm vụ, nội dung, chương trình, các hoạt động dạy của thày với hoạt động học của trò, KT- ĐG kết quả dạy và học v.v Hai quá trình này đã được ghi nhận trong mục tiêu, kế hoạch hoạt động giáo dục của mỗi cấp bậc học

Quản lý quá trình dạy- học cũng phải thực hiện bốn chức năng cơ bản của quản lý nói chung Quản lý quá trình dạy học do nhà trường hướng dẫn

tổ chức và chỉ đạo nhưng nó có quan hệ tương tác, liên thông với các tổ chức giáo dục khác, hoặc các cơ quan, tổ chức văn hoá, khoa học, TDTT, các tổ chức đoàn thể quần chúng ngoài xã hội, nơi trò tham gia học tập, vui chơi, giải trí có tổ chức

Quản lý quá trình dạy- học là quản lý việc chấp hành những quy định,

quy chế về hoạt động giảng dạy của thầy và hoạt động học tập của trò

 Quản lý hoạt động giảng dạy

Quản lý hoạt động giảng dạy, thực chất là quản lý nhiệm vụ giảng dạy của đội ngũ giáo viên Thày truyền đạt những kiến thức, kỹ năng và những giá trị về tư tưởng, phẩm chất cần được trang bị cho trò Đồng thời, thày có nhiệm vụ phải học tập, rèn luyện, bồi dưỡng và tự bồi dưỡng để nâng cao trình độ, nâng cao chất lượng giảng dạy của mình Trong quá trình GD & ĐT, giáo viên vừa là đối tượng quản lý, vừa là chủ thể quản lý của hoạt động giảng dạy

Quản lý hoạt động giảng dạy bao gồm một số nội dung quản lý cơ bản:

- Quản lý việc thực hiện chương trình giảng dạy (nội dung, tiến trình)

- Quản lý giờ lên lớp và việc vận dụng phương pháp, sử dụng phương tiện dạy học Hình thức dạy và học trên lớp hiện nay vẫn được coi là một trong các hình thức cơ bản và chủ yếu của quá trình dạy học Vì vậy chất lượng của HĐD-H phụ thuộc rất nhiều vào chất lượng của các giờ lên lớp

Trang 22

- Quản lý việc thực hiện quy chế KT- ĐG chất lượng KT- ĐG là khâu quan trọng và không thể thiếu trong HĐD-H Kiểm tra đánh giá kết quả học tập của trò là quá trình thu thập và xử lý thông tin về trình độ và khả năng thực hiện nhiệm vụ học tập của người học, trên cơ sở đó đề ra những biện pháp phù hợp giúp họ học tập tiến bộ

- Quản lý hồ sơ chuyên môn của các giáo viên: là phương tiện giúp người quản lý nắm chắc được tình hình thực hiện nhiệm vụ chuyên môn của các giáo viên, đồng thời hồ sơ chuyên môn của các giáo viên là một trong những

cơ sở pháp lý đánh giá việc thực hiện nề nếp chuyên môn của họ Những hồ

sơ cơ bản cần phải có của mỗi giáo viên gồm:

+ Chương trình những phân môn được phân công giảng dạy

+ Kế hoạch năm học: kế hoạch hoạt động chuyên môn chung của giáo viên + Kế hoạch giảng dạy môn học

+ Tập bài soạn

+ Sổ dự giờ

+ Sổ theo dõi chuyên cần và điểm của người học

+ Hồ sơ nghiên cứu khoa học (bao gồm: Đăng ký đề tài, đề cương nghiên cứu, tư liệu và kết quả nghiên cứu)

+ Hồ sơ tự học, tự bồi dưỡng (kế hoạch, nội dung và tài liệu học tập)

 Quản lý hoạt động học tập

Quản lý hoạt động học tập là quản lý việc thực hiện các nhiệm vụ học tập, nghiên cứu, rèn luyện của người học trong suốt quá trình học tập Người học vừa là đối tượng quản lý, vừa là chủ thể tự quản lý

Trong quản lý hoạt động học tập của người học cần lưu ý tính phức tạp và tính trừu tượng về sự chuyển biến trong nhân cách, do tác động đồng thời của nhiều yếu tố chủ thể và khách thể, làm cho kết quả học tập của họ bị hạn chế Quản lý hoạt động học tập có nội dung, yêu cầu cụ thể, vì vậy cần phải tăng cường việc KT- ĐG các hoạt động học tập của người học và hoạt động giảng dạy của thày

Trang 23

Quản lý hoạt động học tập bao gồm:

- Quản lý hoạt động học trên lớp

- Quản lý hoạt động tự học

- Quản lý các hoạt động ngoại khoá

 Quản lý CSVC, trang thiết bị, phương tiện - kỹ thuật phục vụ HĐD-H

Quản lý CSVC, trang thiết bị, phương tiện - kỹ thuật phục vụ cho D-H đảm bảo được các yêu cầu liên quan mật thiết với nhau đó là: Tổ chức quản lý tốt, đảm bảo đầy đủ và sử dụng có hiệu quả CSVC, trang thiết bị, phương tiện -

kỹ thuật phục vụ HĐD-H trong nhà trường

Nội dung quản lý CSVC, trang thiết bị, phương tiện - kỹ thuật phục vụ HĐD-H trong nhà trường thực chất là quản lý các việc sau:

- Xây dựng nội quy và kế hoạch, nguồn kinh phí trang bị sử dụng CSVC, trang thiết bị, phương tiện - kỹ thuật phục vụ HĐD-H

- Quản lý việc tổ chức bồi dưỡng kỹ năng sử dụng các phương tiện - kỹ thuật

- Quản lý các trang thiết bị phục vụ D-H (trường lớp, phòng học, bàn ghế, bảng ), hoạt động của các phòng bộ môn, phòng chức năng, thư viện trường học với các sách báo, tài liệu tham khảo

1.2 Đặc trưng dạy- học ngoại ngữ, dạy- học tiếng Anh

Tiếng Anh cũng như bất kỳ ngoại ngữ nào đều có chức năng là công cụ giao tiếp được thể hiện ở bốn dạng hoạt động cơ bản: nghe, nói, đọc, viết Ở các trường đại học, tiếng Anh nói riêng và ngoại ngữ nói chung là môn học bắt buộc Sau khi học xong chương trình đào tạo ngoại ngữ ở trường đại học người học sẽ sử dụng được ngoại ngữ để giao tiếp thông thường, đọc sách,

báo và những tài liệu có liên quan đến chuyên ngành mà mình được đào tạo

Trang 24

Mục tiêu D-H ngoại ngữ là người học có thể phát triển khả năng hiểu và

sử dụng ngôn ngữ được học Kỹ năng sử dụng ngôn ngữ được chia làm 2 loại: kỹ năng thu nhận gồm kỹ năng nghe, đọc và kỹ năng tái tạo bao gồm kỹ năng nói, viết Người dạy cần phân biệt yêu cầu của từng kỹ năng để có PP dạy học thích hợp và người học có PP học tương ứng

Đối với môn học ngoại ngữ, ngoài các kĩ năng ngôn ngữ người học phải đạt được để sử dụng nó làm phương tiện giao tiếp, người học còn được trang

bị thêm kiến thức về ngôn ngữ, văn hoá của thứ tiếng đó

Ngoại ngữ là hiện tượng xã hội, là công cụ giao tiếp quan trọng nhất của con người và rất gắn bó với việc phát triển tư duy và văn hoá Nếu việc D-H ngoại ngữ được đặt đúng vị trí và tiến hành đúng yêu cầu thì nó còn tác dụng không nhỏ trong việc rèn luyện các đức tính cần cù, khắc phục khó khăn và hăng say tìm hiểu cho người học

Giảng dạy môn tiếng Anh ở đại học được thực hiện trong điều kiện rất thuận lợi: trình độ đầu vào của SV cao, ý thức và thái độ học tập tương đối tốt Nhưng

để giúp cho SV học tốt môn tiếng Anh thì GV phải thực sự nhiệt tình, có tinh thần trách nhiệm và phải nhận thức đúng vai trò của tiếng Anh với nghề nghiệp tương lai của SV trong xu thế hội nhập để giúp cho SV có mục đích, động cơ đúng đắn trong việc học tập môn tiếng Anh ở trường Ngoài ra đối với môn học tiếng Anh, GV phải thực sự yêu thích, tâm đắc với môn học mình dạy mới có thể tạo được hứng thú, truyền sự nhiệt tình, yêu thích đó tới SV được

Cùng với sự phát triển của khoa học kỹ thuật và sự hội nhập quốc tế, ngoại ngữ trở thành công cụ quan trọng nhất của mỗi quốc gia, mỗi dân tộc Ngoại ngữ chính là chìa khoá để mở cánh cửa đến với thế giới, với khoa học công nghệ, với kinh tế toàn cầu và kinh tế tri thức

1.3 Hoạt động dạy - học ngoại ngữ (tiếng Anh) trong trường Đại học

1.3.1 Yêu cầu xã hội

Trang 25

Nghị quyết TW2 về GD&ĐT, đào tạo khoa học và công nghệ đã nêu rõ nhiệm vụ cấp bách của ngành giáo dục trong việc đào tạo nhân tài, tạo nguồn nhân lực cho đất nước, phục vụ tốt sự nghiệp công nghiệp hoá và hiện đại hoá cho nên trong giai đoạn hiện nay, quá trình D-H trong đó D-H ngoại ngữ

ở các trường đại học kỹ thuật có vị trí và nhiệm vụ đặc biệt quan trọng, có tác dụng góp phần thúc đẩy quá trình hội nhập của Việt Nam vào cộng đồng các nước tiên tiến trong khu vực và trên thế giới Cuộc cách mạng xã hội, cách mạng khoa học và công nghệ đòi hỏi giáo dục có hiệu quả, tức là đáp ứng đúng và kịp thời các yêu cầu của nền kinh tế xã hội Chính vì vậy trong quá trình D-H ngoại ngữ, việc xây dựng động cơ học tập đúng đắn cho SV là rất cần thiết, SV cần hiểu và học tốt tiếng Anh là để chuẩn bị hành trang vào đời trước hết là cho chính bản thân mình, sau đó là cho gia đình và xã hội SV cần phải có trình độ tiếng Anh giỏi để sau này làm việc tốt, góp phần xây dựng đất nước Việt Nam và hội nhập vào cộng đồng quốc tế

1.3.2 Hệ mục tiêu

Xuất phát từ xu thế toàn cầu hóa trên toàn thế giới, xuất phát từ thực tế hội nhập của Việt nam, trong thời đại khoa học công nghệ đặc biệt là công nghệ thông tin phát triển nhanh chóng và những đòi hỏi của thế giới việc làm trong thời đại ngày nay, người tốt nghiệp đại học ở Việt nam được yêu cầu phải sử dụng ít nhất một ngoại ngữ ở trình độ nhất định Tháng 7/2007, Bộ

GD&ĐT đã có Dự thảo “Đề án dạy và học ngoại ngữ trong hệ thống giáo dục quốc dân giai đoạn 2007 – 2015”

Theo dự thảo này, mục tiêu chung của dạy học ngoại ngữ là: “Thực hiện đổi mới toàn diện việc dạy học ngoại ngữ trong hệ thống giáo dục quốc dân nhằm đảm bảo đến năm 2015 nâng cao rõ rệt trình độ ngoại ngữ của một số đối tượng ưu tiên, đồng thời triển khai chương trình dạy học ngoại ngữ đối với các cấp học và trình độ đào tạo, tạo điều kiện để đến năm 2020 tăng đáng

Trang 26

cách độc lập và tự tin trong giao tiếp, học tập và làm việc trong môi trường

đa ngôn ngữ, đa văn hóa phù hợp với xu thế hội nhập quốc tế, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” [7, tr 8]

Đối với các trường đại học không chuyên ngữ, đề án chỉ rõ các nội dung đổi mới: “ … Khuyến khích các trường chọn tiếng Anh Trình độ ngoại ngữ chung của SV sau khi tốt nghiệp cao đẳng và đại học không chuyên ngữ đạt bậc 3 Các trường cần tiến hành kiểm tra trắc nghiệm về năng lực ngoại ngữ của SV nhập học để sắp xếp theo học các chương trình ngoại ngữ phù hợp Tùy theo điều kiện cụ thể của mình, các trường cao đẳng và đại học không chuyên ngữ có thể xây dựng và tiến hành chương trình dạy và học ngoại ngữ đối với các học sinh nhập học có trình độ đầu vào là bậc 3 để đạt được bậc cao hơn nữa về năng lực ngoại ngữ” [7, tr 29] Theo đề án, trong Bảng năng lực ngoại ngữ có đặt ra yêu cầu cụ thể đối với từng kỹ năng mà SV cần đạt được ở trình độ ngoại ngữ bậc 3 và bậc 4

1.3.3 Nội dung dạy học

Nội dung dạy học ngoại ngữ bao gồm 4 kỹ năng: nói, nghe, đọc, viết trong đó kỹ năng đọc hiểu giữ vai trò vị trí trung tâm Cả 4 kỹ năng đều hình thành trên cơ sở hiểu nội dung thông điệp và giữa chúng có mối quan hệ chặt chẽ, hỗ trợ nhau

Nội dung tri thức ngoại ngữ người dạy cung cấp cho SV phải là những tri thức khoa học cơ bản, tối thiểu để giúp họ nhận thức được và có thể vận dụng chủ động, tự giác chúng như một công cụ giao tiếp Ngoài ra GV cần củng cố

và phát triển kiến thức ngoại ngữ đó để giúp SV có thể tiếp tục học lên hoặc vận dụng vốn ngoại ngữ của mình vào cuộc sống

Ngoài việc truyền đạt kiến thức, GV còn giúp cho SV hiểu thêm về đất nước, văn hoá, con người của dân tộc có ngôn ngữ đang học, tạo cho SV có hứng thú học tập và làm giàu thêm vốn hiểu biết của mình

Trang 27

Ngoài những vấn đề trên, nội dung, chương trình dạy học ngoại ngữ ở đại học phải phù hợp với xu thế tiến bộ của thời đại, sự phát triển của khoa học công nghệ, đồng thời phải gắn liền với yêu cầu phát triển đất nước

1.3.4 Phương pháp dạy học

Ngày nay, SV có khả năng làm việc độc lập Cơ hội học tập để làm giàu kiến thức và kỹ năng của SV được mở rộng hơn Họ linh hoạt hơn, thực tế hơn và nhạy cảm hơn Trước sức ép từ xã hội và để có được cơ hội việc làm

và việc làm tốt, để tồn tại và khẳng định mình trong tương lai SV hiện nay có

xu hướng vượt ra khỏi khuôn khổ cố định của chương trình, giáo trình trong học đường; biết tận dụng tối đa cơ hội học tập để chiếm lĩnh kiến thức, kỹ năng

Trước những đòi hỏi ấy nhà trường cần nhanh chóng nắm bắt nhu cầu đào tạo và triển khai áp dụng những PP, kỹ năng giảng dạy và học tập ngoại ngữ: D-H theo nhóm; sử dụng nguồn tư liệu thực tế trong học ngoại ngữ; mở rộng việc nghiên cứu và xử lý tài liệu trực tuyến phục vụ giảng dạy; sử dụng phần mềm học tiếng Anh EDO với việc tự học của SV; khai thác các yếu tố văn hoá để tăng hiệu quả học ngoại ngữ; sử dụng PP giao tiếp để phát triển kỹ năng nghe, nói; sử dụng các bài tập lớn trong giảng dạy ngoại ngữ để tăng cường năng lực tự học từ vựng, cấu trúc, ngữ pháp cho SV

Việc lựa chọn phương pháp dạy học cần phù hợp với mục tiêu, nội dung chương trình, đối tượng đào tạo Phải kết hợp nhiều phương pháp và luôn sáng tạo để phù hợp với từng tiết dạy GV phải tìm cách dẫn dắt SV thâm nhập vào môi trường ngôn ngữ, nhận thức các hiện tượng và hành vi ngôn ngữ để từ đó hình thành các kỹ năng nói, nghe, đọc, viết và dịch

Mục tiêu quan trọng nhất của việc giảng dạy ngoại ngữ ở trường đại học

là dạy cách học cho SV, trang bị cho họ những phương pháp và kỹ năng cơ bản để tăng cường khả năng tự học, thói quen học suốt đời

Trang 28

KT- ĐG chất lượng dạy- học môn ngoại ngữ đang được coi là vấn đề trọng tâm của công tác QLGD trong tất cả các trường đại học Để việc KT-

ĐG được thực hiện tốt cần tuân thủ các yêu cầu sau:

- Đánh giá phải căn cứ vào mục tiêu để có PP đánh giá phù hợp, đồng thời mới xác định được hình thức và nội dung KT- ĐG

- Đánh giá phải đảm bảo tính thường xuyên, hệ thống và toàn diện.Trong quá trình học ngoại ngữ phải sử dụng các loại hình KT- ĐG vào các thời điểm khác nhau: kiểm tra đầu vào, định kỳ và hết môn

- Đánh giá kết quả học tập của SV phải đảm bảo tính khách quan, chính xác Khi xây dựng một đề kiểm tra ngoại ngữ cần chú ý: bài kiểm ta phải tương xứng với toàn bộ vấn đề cần đánh giá Độ dài của bài kiểm tra phải phù hợp với thời gian làm bài, tránh quá dài hoặc quá ngắn

- Lựa chọn và sử dụng các loại câu hỏi một cách hợp lý Có rất nhiều cách phân loại câu hỏi sử dụng trong KT- ĐG Thông thường phân loại theo cách chấm, người ta phân biệt 2 loại câu hỏi: câu hỏi trắc nghiệm khách quan và câu hỏi trắc nghiệm tự luận Cả 2 loại này đều có khả năng khảo sát thành tích của người học, tuy nhiên cần sử dụng kết hợp cả 2 loại trong kiểm tra ngoại ngữ vì mỗi loại đều có mặt ưu, nhược điểm riêng Hiện nay trong KT- ĐG đang có xu thế sử dụng câu hỏi trắc nghiệm khách quan

Hoạt động này trong quá trình đào tạo luôn là công việc bắt buộc của các

GV đứng lớp Chính GV là người tự ra đề kiểm tra cho lớp học, tự thực hiện chấm điểm, đồng thời cũng là người quản lý, sử dụng kết quả kiểm tra để phản hồi cho người học và cải thiện quá trình giảng dạy (ngoài việc tác động tới bộ phận quản lý, để bảo đảm rằng công việc giảng dạy đang được thực hiện theo đúng kế hoạch) Do đó vấn đề được đặt ra là phải nâng cao chất lượng đội ngũ GV ngoại ngữ tại các trường đại học một cách toàn diện để họ

có thể đưa ra những quyết định và áp dụng những cách làm có tác động tốt đến quá trình giảng dạy Điều này chỉ có thể làm được thông qua việc nâng cao vai trò chuyên môn của bộ môn ngoại ngữ tại các trường

Trang 29

1.4 Quản lý hoạt động dạy- học tiếng Anh ở đại học

1.4.1 Quản lý hoạt động dạy của giáo viên

Quản lý hoạt động giảng dạy của GV là một trong những yếu tố được quan tâm hàng đầu đối với đào tạo đại học như: việc thiết kế các giáo án điện

tử, việc đổi mới PP, hình thức tổ chức D-H, sử dụng phương tiện D-H hiện đại, ứng dụng công nghệ thông tin trong giảng dạy

Quản lý việc thực hiện chương trình giảng dạy: quản lý GV dạy đúng, dạy

đủ các bài, đúng tiến độ và KT- ĐG kết quả học tập của SV theo đúng kế hoạch dạy học Quản lý giờ lên lớp và việc vận dụng PP, sử dụng phương tiện dạy học trong giảng dạy ngoại ngữ

Quản lý việc đánh giá kết quả học tập của SV: để việc quản lý KT- ĐG kết quả học tập của SV đạt mục đích cần: xác định trình độ ngoại ngữ của

SV so với mục tiêu đề ra; xem xét nội dung chương trình học có phù hợp với

SV hay không để có kế hoạch điều chỉnh; Phát hiện những lỗi SV hay mắc phải khi học ngoại ngữ để giúp họ khắc phục; điều chỉnh cách dạy của GV cho phù hợp với yêu cầu, mục tiêu, nhiệm vụ dạy học Ngoài ra, việc KT -

ĐG kết quả học tập của SV cũng không ngừng đổi mới đối với hình thức thi

trắc nghiệm trên máy tính, tự luận,…nhằm tránh thói quen học vẹt của SV,

Một yếu tố nữa không kém phần quan trọng là quản lý hoạt động tự học,

tự bồi dưỡng của GV, giúp GV nâng cao trình độ Nội dung của bồi dưỡng chuyên môn cho GV là cập nhật kiến thức, hướng dẫn GV cải tiến và áp dụng PP dạy học mới, các hình thức dạy học có hiệu quả cao, đồng thời động

Trang 30

viên các GV tham gia các đề tài NCKH cấp Trường và Bộ Thông qua hoạt động NCKH là cách bồi dưỡng chuyên môn cho GV tốt nhất

1.4.2 Quản lý hoạt động học của sinh viên

Việc quản lý hoạt động học tập của SV là một trong những yếu tố không nhỏ góp phần nâng cao chất lượng đào tạo Hoạt động học tập của SV song song cùng tồn tại với hoạt động dạy của GV Quản lý hoạt động học tập của

SV là quản lý việc thực hiện các nhiệm vụ học tập, nghiên cứu và rèn luyện nghề nghiệp của SV Vì vậy, quản lý hoạt động học tập của SV cần đạt được những yêu cầu chủ yếu sau:

- Xây dựng động cơ học ngoại ngữ cho SV: Động cơ học tập của SV cũng

có nhiều thứ bậc khác nhau: bắt đầu từ nhu cầu phải hoàn thành nhiệm vụ học tập, tự khẳng định mình, cao hơn nữa là cơ hội có việc làm và công danh

sự nghiệp Động cơ là tiền đề, là điều kiện cho hoạt động học ngoại ngữ của

SV Vì vậy, việc giúp cho SV có động cơ và thái độ học tập tích cực, có ý thức tự giác tìm tòi, nghiên cứu, chủ động lĩnh hội kiến thức là nội dung cơ bản, rất quan trọng của công tác quản lý hoạt động học ngoại ngữ của SV

- Quản lý phương pháp học ngoại ngữ của SV: Tổ chức hướng dẫn SV tìm ra phương pháp học có hiệu quả Phương pháp học tập có vai trò quan trọng trong việc nâng cao chất lượng học tập và kĩ năng nghề nghiệp cho

SV Ngoài ra cần hướng dẫn SV tự học, tự nghiên cứu, giúp SV làm quen với phương pháp NCKH và cách sử dụng công nghệ thông tin trong hoạt động học tập

- Xây dựng nội quy, quy định về hoạt động học tập cho SV: Quản lý nề nếp học tập là xây dựng và duy trì hệ thống những quy định về nề nếp học tập cho SV nhằm rèn luyện cho SV có tính tự giác trong học tập, chấp hành tốt các quy chế, nội quy do trường và khoa đề ra

Trang 31

- Quản lý việc phân tích và đánh giá kết quả học tập của SV: KT- ĐG giúp SV hệ thống hoá kiến thức, xác định được trình độ của mình, từ đó SV nâng cao tinh thần trách nhiệm trong học tập Thông qua phân tích kết quả học tập của SV, Ban chủ nhiệm khoa và các trưởng bộ môn có được thêm các thông tin về chất lượng giảng dạy của các GV, chất lượng học tập của SV qua các học phần, từ đó có biện pháp điều chỉnh quản lý HĐD-H cho phù hợp Muốn cho SV tự học có kết quả tốt phải đưa nội dung tự học của SV vào các bài KT- ĐG.Việc KT- ĐG hoạt động học tập trên lớp của SV theo hướng tích cực, sáng tạo giúp SV năng động trong học tập và phát triển tư duy

- Quản lý các điều kiện đảm bảo cho hoạt động học ngoại ngữ của SV: việc xây dựng kế hoạch đầu tư CSVC, trang thiết bị, phương tiện - kỹ thuật hiện đại trong D-H ngoại ngữ sẽ thu hút, kích thích SV tham gia học ngoại ngữ tốt hơn Để tăng cường hiệu quả học tập cho SV cần phải đảm bảo điều kiện về cơ sở vật chất như: lớp học, phòng tự học, thư viện, tài liệu tham khảo… và các trang thiết bị như: đài cát xét, đầu video, băng hình…

1.5 Chiến lƣợc phát triển nguồn nhân lực của ngành Điện và vai trò của tiếng Anh trong việc phát triển nguồn nhân lực

1.5.1 Chính sách phát triển nguồn nhân lực

Tập đoàn Điện lực Việt Nam theo quan điểm tập đoàn kinh tế đa ngành, từng bước khẳng định vị thế trong nước và mở rộng thị trường ngoài nước trên các lĩnh vực: sản xuất kinh doanh điện năng, kinh doanh viễn thông công cộng, kinh doanh tài chính, sản xuất chế tạo thiết bị điện lực và thiết bị viễn thông… Quản lý nguồn nhân lực , phát huy nguồn nhân lực con người là yếu

tố cơ bản cho sự phát triển nhanh và bền vững của chiến lược phát triển và xây dựng của Tập đoàn Điện lực Do vậy chính sách phát triển nguồn nhân lực của ngành là:

Trang 32

- Xây dựng lực lượng lao động: Xây dựng cơ chế tuyển dụng, bổ sung, đào tạo lại đội ngũ CBCNV về kiến thức, kinh nghiệm, kỹ năng và năng lực chuyên biệt phù hợp với mục tiêu, nhiệm vụ của ngành

- Phát triển CBCNV: Xây dựng và thực hiện quy trình phân tích nhu cầu đào tạo và BD, phát triển CBCNV để có thể đảm đương công việc trên

cơ sở những kỹ năng và năng lực chủ yếu, thực hiện luân chuyển công tác

CB

- Quan hệ lao động: Đảm bảo sự tham gia quản lý của công đoàn, duy trì

sự thoả thuận, đàm phán giữa lãnh đạo các đơn vị và đại diện công đoàn về các quyết định ảnh hưởng đến hợp đồng lao động

1.5.2 Mục tiêu, nội dung đào tạo và phát triển nguồn nhân lực 2006-2015

1.5.2.1 Phát triển khối các trường, phấn đấu có một đến hai trường đạt tiêu chuẩn khu vực

- Củng cố và phát triển đội ngũ CBQL, GV: tăng cường số GV có trình

độ thạc sỹ, tiến sỹ, tổ chức các lớp cập nhật kiến thức công nghệ, kiến thức

sư phạm cho GV; nâng cao trình độ tin học, máy tính và tiếng Anh cho GV

- Nội dung chương trình cần bố trí liên thông giữa các bậc học: tạo thuận lợi cho người học khi chuyển đổi ngành nghề; phát triển đào tạo kỹ sư thực hành và đẩy mạnh đào tạo công nhân kỹ thuật lành nghề

- Đổi mới hình thức đào tạo bám sát việc áp dụng khoa học công nghệ mới theo địa chỉ sử dụng Xây dựng kế hoạch chính lý mục tiêu, kế hoạch, nội dung, chương trình đào tạo theo hướng: xây dựng chương trình chuẩn thống nhất trong ngành về đào tạo các chuyên ngành hệ thống điện, thuỷ điện, nhiệt điện, xây dựng mới ngành bảo dưỡng vận hành tuabin khí, công nghệ thông tin viễn thông… Chương trình giảng dạy phải luôn được cập nhật kiến thức khoa học và công nghệ mới của ngành điện

- Tiếp tục liên kết đào tạo với các trường đại học kỹ thuật trong nước

để đào tạo các kỹ sư chuyên ngành điện cung cấp cho các đơn vị vùng sâu, vùng xa

Trang 33

- Đẩy mạnh các hoạt động sản xuất, nghiên cứu thực nghiệm khoa học trong các trường đào tạo, bồi dưỡng để nâng cao chất lượng

1.5.2.2 Tăng cường công tác đào tạo ngắn hạn, bồi dưỡng nghiệp vụ

- Mở rộng các loại hình đào tạo, bồi dưỡng và đào tào lại, theo các chuyên ngành để từng bước đưa công tác đào tạo của Tập đoàn Điện lực đạt trình độ cao, đặc biệt là các kỹ sư giỏi, chuyên gia đầu ngành ở tất cả các lĩnh vực trong kỹ thuật và quản lý Chọn cử một số CB có triển vọng

đi đào tạo cao học tại học viện Công nghệ Châu Á - Thái Lan và các nước khác như Canada, Thuỵ Điển

- Tổ chức luân phiên bồi dưỡng để cập nhật kiến thức mới cho đội ngũ lao động kỹ thuật chuyên ngành để đáp ứng nhu cầu vận hành, bảo dưỡng thiết bị công nghệ hiện đại Chỉ đạo thống nhất công tác bồi dưỡng chuyên môn, được học tập và thi nâng cao tay nghề tại các trường đào tạo của ngành

- Tổ chức hội thảo, sinh hoạt chuyên đề để trao đổi kinh nghiệm ở những

cơ sở đã đựoc đầu tư thiết bị công nghệ mới Chủ động có kế hoạch bồi dưỡng những CB trẻ có năng lực phát triển thành những CB nòng cốt của Tập đoàn Điện lực

1.5.2.3 Quan hệ hợp tác quốc tế về đào tạo

Tranh thủ hỗ trợ và hợp tác của các tổ chức quốc tế, hợp tác với các hãng sản xuất thiết bị điện và Tập đoàn Điện lực nước ngoài để cử các chuyên gia quản lý và kỹ thuật trong các lĩnh vực then chốt đi đào tạo tại nước ngoài Bên cạnh đó, có thể mời các chuyên gia giỏi trao đổi chuyên gia trong lĩnh vực đào tạo cần thiết; tăng cường trao đổi kinh nghiệm đào tạo nội dung, chuyên gia ngành điện trong ngành điện lực ASEAN

1.5.3 Vai trò của tiếng Anh trong việc phát triển nguồn nhân lực ngành Điện

Nhu cầu phát triển nguồn nhân lực của ngành Điện không nằm ngoài những đòi hỏi của xã hội, cần phát triển những nhà quản lý giỏi, những cán

Trang 34

chính là con đường dẫn họ đến với khoa học kỹ thuật và công nghệ hiện đại,cho họ cơ hội có việc làm tốt và là điều kiện để cho họ được đào tạo nâng cao trình độ chuyên môn

Công nghiệp điện ngày càng phát triển cao, không ngừng thay đổi về kỹ thuật và công nghệ do đó thiết bị điện thuộc loại hiện đại phải nhập của nước ngoài và khi lắp đặt, vận hành phải có chuyên gia nước ngoài hướng dẫn kỹ thuật Việc đó đòi hỏi kỹ sư nếu sử dụng thông thạo tiếng Anh để tiếp thu kỹ thuật công nghệ tiên tiến và làm việc với chuyên gia không qua phiên dịch sẽ thuận lợi và công việc đạt hiệu quả cao Chính vì thế khi tuyển dụng cán bộ,

kỹ sư cho các ngành của Tập đoàn Điện lực, tiêu chí có trình độ tiếng Anh được đặt lên hàng đầu Điều đó chứng tỏ rằng tiếng Anh thực sự cần thiết đối với chiến lược phát triển nguồn nhân lực của ngành Điện

Đào tạo nước ngoài vẫn là một trong những chính sách được quan tâm của Tập đoàn Điện lực nhằm xây dựng đội ngũ chuyên gia hàng đầu Kế hoạch đào tạo các kỹ sư tài năng và đào tạo cán bộ ở bậc sau đại học tại nước ngoài giai đoạn 2006-2010 đã được Hội đồng quản trị phê duyệt Thực hiện chủ trương này Tập đoàn Điện lực đã tiếp tục mở rộng hợp tác với các trường Đại học ở Thái Lan, Canada và Mỹ và hàng năm cử những kỹ sư, cán bộ có chuyên môn giỏi và có đủ điều kiện tiếng Anh để đào tạo thạc sỹ và tiến sỹ tại các nước trên Ngoài ra Tập đoàn Điện lực còn có chính sách đào tạo

“Chương trình nâng cao tiếng Anh cho CBQL ngành Điện” với kinh phí đào tạo là 10.000 USD/người, thời gian học 8 tuần tại trường Đại học NewSouthwals ở Úc Tiêu chuẩn được tham dự chương trình này là CBQL phải đạt 500 điểm TOEIC trở lên

Dự án Jica đã kết thúc thành công sau 5 năm hoạt động với 55 chương trình đào tạo được xây dựng cho 5 lĩnh vực (điện, thuỷ điện, trạm biến áp, đường dây truyền tải điện, phân phối) Những tài liệu, thiết bị cho dự án chuyển giao lại cho Tập đoàn Điện lực là những tiền đề để ngành chỉ đạo trường Đại học Điện Lực tiếp tục xây dựng thành một hệ thống đào tạo kỹ

Trang 35

thuật ngắn hạn tại chỗ và tập trung theo hướng tiêu chuẩn Quốc tế Để sử dụng được những tài liệu do dự án chuyển giao những GV đang giảng dạy tại các Khoa của trường phải có trình độ tiếng Anh, nhất là tiếng Anh chuyên ngành để dịch những tài liệu đó sang tiếng Việt phục vụ cho những khoá đào tạo kỹ thuật tại chỗ và tập trung sau này Để chọn ra GV ở các Khoa trong trường cho công việc giảng dạy tiếng Anh chuyên ngành và dịch tài liệu, Trường Đại học Điện lực đã kết hợp với Trung tâm đào tạo và Hợp tác Quốc

tế Việt - Úc mở lớp “Nâng cao trình độ tiếng Anh cho GV” Thời gian học 6 tháng tại trường Để được tham dự khoá học này các GV phải có trình độ C tiếng Anh và bài thi kết thúc khoá học là bài giảng bằng tiếng Anh theo chuyên môn được đào tạo

Tiểu kết Chương 1

Nội dung của Chương1 đề cập đến các khái niệm cơ bản liên quan đến quản lý và quản lý nhà trường, HĐD-H và quản lý HĐD-H, quản lý HĐD-H môn tiếng Anh Các khái niệm cơ bản đó giúp chúng tôi có cơ sở phân tích thực trạng quản lí HĐD-H môn tiếng Anh ở Trường Đại học Điện lực để đề xuất một số biện pháp phù hợp nhằm nâng cao chất lượng D-H môn học này ở trường và đáp ứng yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá của đất nước khi gia nhập WTO

Trang 36

Chương 2: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY- HỌC MÔN TIẾNG ANH Ở TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐIỆN LỰC 2.1 Một vài nét về Trường Đại học Điện lực

2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển

Thực hiện chủ trương sắp xếp lại mạng lưới các trường đào tạo thuộc Tổng công ty Điện lực Việt Nam, ngày 8/4/2000 Bộ Công nghiệp đã có quyết định số 24/2000/QĐ-BCN sát nhập Trường Trung học Điện 1 và Trường bồi dưỡng tại chức thành Trường Trung học Điện 1 trực thuộc Tổng công ty Điện lực Việt Nam Ngày 26/10/2001 Bộ GD&ĐT quyết định nâng cấp Trường Trung học Điện 1 thành Trường Cao đẳng Điện lực theo Quyết định số 5835/QĐ -BGD&ĐT – TCCB ngày 26 tháng 10 năm

2001 của Bộ trưởng Bộ GD&ĐT

Sau 5 năm, do nhu cầu phát triển mạng lưới các trường đại học trong cả nước, nhu cầu phát triển nhân lực ngành Điện, và sự nỗ lực cố gắng của BGH cùng toàn thể CBCNV và GV của nhà trường, Trường đã được quyết định thành lập Trường Đại học Điện lực theo Quyết định số 111/2006 QĐ –TTg ngày 19 tháng 5 năm 2006 của Thủ tướng Chính phủ Trường Đại học Điện lực nay thuộc Tập đoàn Điện lực có trụ sở chính tại 235 Đường Hoàng Quốc Việt, Từ Liêm, Hà Nội và cơ sở 2 tại Tân Minh, Sóc Sơn, Hà Nội

Về quản lý nhà nước, Trường là đơn vị trực thuộc Tập đoàn Điện lực Việt nam Về công tác đào tạo, Trường chịu sự quản lý của Bộ GD&ĐT

2.1.2 Chức năng, nhiệm vụ của Trường Đại học Điện lực

Trường Đại học Điện lực là một trường đại học công lập, đa cấp, đa ngành, trực thuộc Tập đoàn Điện lực Việt Nam, có nhiệm vụ chủ yếu là đào tạo nguồn nhân lực có chất lượng cao ở các bậc đào tạo cho Tập đoàn Điện lực Việt Nam cũng như cho các nhu cầu của xã hội, đồng thời là một trong những trung tâm NCKH - công nghệ hàng đầu của Tập đoàn Điện lực Việt Nam

Trang 37

 Chức năng

Đào tạo HS, SV có trình độ đại học, cao đẳng và Trung học phục vụ cho nhu cầu phát triển nguồn nhân lực của ngành Điện và các cá nhân, đơn vị trong thành phần kinh tế khác của xã hội

Hoạt động NCKH - công nghệ phục vụ cho công tác giảng dạy, học tập

và ứng dụng trong thực tiễn sản xuất kinh doanh

Đào tạo lại, bồi dưỡng đội ngũ CBQL, cán bộ kỹ thuật theo kế hoạch của Tập đoàn Việt Nam và hợp đồng đào tạo đối với các cơ quan doanh nghiệp trong và ngoài ngành Điện

Liên doanh, liên kết phối hợp với các tổ chức chính trị, xã hội, các cơ sở NCKH, sản xuất, kinh doanh, dịch vụ trong hoạt động đào tạo và khoa học công nghệ, gắn đào tạo với thực tế sản xuất kinh doanh

Hợp tác đào tạo và NCKH, chuyển giao công nghệ với các trường Đại học trong và ngoài nước

2.1.3 Cơ cấu tổ chức của Trường và đội ngũ giảng viên, cán bộ, công nhân viên

2.1.3.1 Cơ cấu tổ chức của Trường Đại học Điện lực

Trang 38

Hình 2.1: Cơ cấu tổ chức của nhà trường

(Nguồn: Phòng Tổ chức Hành chính, Trường Đại học Điện lực)

2.1.3.2 Đội ngũ giảng viên, cán bộ, công nhân viên (tính đến 28/03/2008)

Trường hiện đang là cơ sở đào tạo đội ngũ GV, cán bộ, chuyên gia ngành Điện đông và mạnh nhất của cả nước Tổng số đội ngũ GV, cán bộ, công nhân viên của Trường là: 297 trong đó:

 Trên đại học: 21 tiến sỹ (4 Phó Giáo sư), 86 thạc sỹ, 1 Nhà giáo ưu tú

 Trình độ đại học: 130

 Trình độ khác: CĐ: 5, Trung cấp: 22, , Sơ cấp: 38

 Giảng viên hợp đồng trong năm 2007 của trường là 82

Trang 39

Trong vài năm qua nhà trường đã gửi 10 cán bộ GV làm nghiên cứu sinh ở nước ngoài Số CBGD có học vị của trường đã và sẽ tăng lên nhanh chóng trong tương lai

2.1.4 Quy mô tuyển sinh và ngành nghề đào tạo

Từ năm học 2006 đến nay trường đã tiến hành đào tạo cả 4 hệ: Đại học, Cao đẳng, Trung cấp, Công nhân

Các ngành nghề hiện đang được đào tạo ở các bậc học như sau:

Đại học: Hệ thống điện, Năng lượng, Quản lý năng lượng, Nhiệt điện,

Công nghệ tự động, Công nghệ thông tin, Công nghệ cơ khí, Cơ điện tử, Điện

tử - Viễn thông, Quản trị kinh doanh

Cao đẳng: Hệ thống điện, Tin học, Nhiệt điện, Thuỷ điện, Công nghệ tự

động, Quản lý năng lượng, Điện tử- Viễn thông, Cơ khí và Cơ điện tử

Trung học: Hệ thống điện, Nhiệt điện, Thuỷ điện, Công nghệ tự động, Tin học Công nhân kỹ thuật: Quản lý vận hành đường dây và Trạm biến áp, Vận

hành thuỷ điện, Nhiệt điện

Trường cũng đã liên kết đào tạo được 2 khoá cao học với 38 học viên và

427 kỹ sư chuyên ngành Hệ thống điện

Tổng số HSSV của trường hiện nay là 5.415 (trong đó có 1.294 SV đại học, 2.089 SV cao đẳng, 1.932 HS bậc THCN, 100 HS bậc công nhân) Trong tương lai, Trường tiếp tục nghiên cứu thị trường lao động để xây dựng thêm các chương trình cho các ngành đào tạo mới kể cả dài hạn và ngắn hạn, phù hợp với nhu cầu phát triển của ngành Điện nói riêng và của nền kinh

tế đất nước nói chung

Song song với các lĩnh vực nêu ở trên, trong quá trình phát triển, Trường Đại học Điện lực đã tích cực mở rộng giao lưu quốc tế, hợp tác với các đối

Trang 40

+ 2 giảng đường lớn (sức chứa 150 – 200 SV/phòng)

+ 2 hội trường lớn (sức chứa từ 400 SV/phòng)

- Khu xưởng thực hành: phân xưởng cơ khí, phân xưởng cho kỹ thuật viên, phân xưởng điện và một số phòng học lý thuyết và phòng làm việc

- Khu thí nghiệm: 28 phòng thí nghiệm chuyên ngành, và một số phòng học lý thuyết và phòng làm việc

- 2 phòng học ngoại ngữ (35 cabin/phòng) và 2 phòng học vi tính (hơn 100 máy)

- 1 thư viện: với hơn 2.800 đầu sách trên 12.000 cuốn thuộc nhiều lĩnh vực, phòng đọc 150 chỗ Nhà trường có kế hoạch xây dựng một thư viện điện

tử với tổng diện tích mặt sàn khoảng 1.200 m2

- Ký túc xá SV, học viên: sức chứa 550 SV và khu nhà ăn thoáng mát

2.1.5.2 Hệ thống trang thiết bị, phương tiện dạy - học

Các phương tiện D-H của Trường chưa nhiều, bao gồm:

- Các dụng cụ thực hành xưởng, thí nghiệm điện, nhiệt, thuỷ, tự động,

- Hệ thống loa, micro, amply, camera ở hầu hết các phòng học lý thuyết

- Máy chiếu đa phương tiện (multimedia LCD projector): 2

- Máy chiếu hắt (overhead projector): 2

- Máy cassette dạy ngoại ngữ: 5 chiếc

2.1.6 Bộ môn tiếng Anh

2.1.6.1 Đội ngũ giảng viên

Ngày đăng: 16/03/2021, 22:35

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm