Thực trạng dạy học từ vựng tiếng Việt chương trình THCS nhìn từ quan điểm tích hợp Theo đánh giá của Dự thảo Đề án đổi mới chương trình và SGK giáo dục phổ thông sau năm 2015 của Bộ Giá
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Chương trình cao học Lý luận và phương pháp dạy học môn Ngữ văn khóa 2015-2017 tại Trường Đại học Giáo dục - Đại học Quốc gia Hà Nội với tôi thật bổ ích và ý nghĩa Trong suốt quá trình học tập và triển khai nghiên cứu đề tài, với sự
cố gắng của bản thân, sự quan tâm, chỉ bảo tận tình của các thầy cô giáo Trường Đại học Giáo dục, luận văn tốt nghiệp của tôi đã hoàn thành Với lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới các thầy cô giáo Trường Đại học Giáo dục, đặc biệt tới PGS TS Lê Thời Tân - người thầy đáng kính, đã tận tình hướng dẫn tôi phương pháp nghiên cứu khoa học, bổ sung kiến thức giúp tôi hoàn thành luận văn này
Xin gửi lời cảm ơn chân thành tới các thầy cô giáo cùng các em HS các trường THCS: Trung Sơn Trầm, Ngô Quyền (thị xã Sơn Tây, Hà Nội); Thọ Lộc, Vân Nam, thị trấn Phúc Thọ (huyện Phúc Thọ, Hà Nội) đã tạo mọi điều kiện giúp
đỡ tôi trong thời gian thực hiện đề tài
Xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến Đảng ủy - Ban Giám hiệu cùng các đồng nghiệp Trường Hữu Nghị T78 (Bộ Giáo dục và Đào tạo) và đặc biệt là gia đình, những người luôn kịp thời động viên và giúp đỡ tạo điều kiện thuận lợi nhất để tôi hoàn thành luận văn tốt nghiệp
Xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 20 tháng 4 năm 2017
Tác giả luận văn
Nguyễn Hồng Minh
Trang 5MỤC LỤC
Lời cảm ơn i
Danh mục các chữ viết tắt ii
Danh mục các bảng v
Danh mục các biểu đồ vi
Danh mục các hình vii
MỞ ĐẦU………… 1
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 13
1.1 Một số vấn đề về tích hợp và dạy học tích hợp 13
1.1.1 Tích hợp 13
1.1.2 Dạy học tích hợp 13
1.2 Tích hợp trong môn Ngữ văn THCS 26
1.2.1 Tích hợp trong chương trình và SGK Ngữ văn THCS 26
1.2.2 Tích hợp trong dạy học Ngữ văn THCS 30
1.3 Hợp phần từ vựng trong chương trình Ngữ văn THCS 34
1.3.1 Một số vấn đề về từ vựng 34
1.3.2 Hợp phần từ vựng trong chương trình Ngữ văn THCS 42
1.4 Thực trạng dạy học từ vựng từ quan điểm tích hợp 45
1.4.1 Nhận thức của GV về dạy học từ vựng từ quan điểm tích hợp 46
1.4.2 Tổ chức dạy học từ vựng từ quan điểm tích hợp 48
Chương 2: BIỆN PHÁP DẠY HỌC TỪ VỰNG TỪ QUAN ĐIỂM TÍCH HỢP 54
2.1 Một số yêu cầu dạy học từ vựng từ quan điểm tích hợp 54
2.1.1 Tích hợp một cách đồng bộ ở tất cả các khâu của quá trình dạy học 54
2.1.2 Kết hợp hài hòa, đồng bộ giữa các mức độ tích hợp 56
2.1.3 Chú trọng hệ thống câu hỏi vận dụng kiến thức tổng hợp, liên ngành 56
2.1.4 Kết hợp đồng bộ giữa định hướng tích hợp với định hướng giao tiếp và định hướng tích cực hóa hoạt động của HS 58
2.1.5 Bám sát mục tiêu bài học, lựa chọn nội dung tích hợp hợp lý, tránh lạm dụng 59
2.2 Nội dung, phương pháp và cách thức dạy học từ vựng từ quan điểm tích hợp 61 2.2.1 Nội dung tích hợp 62
2.2.2 Phương pháp và cách thức dạy học từ vựng từ quan điểm tích hợp 82
Trang 62.3 Tích hợp trong kiểm tra đánh giá 88
Chương 3: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 93
3.1 Khái quát về thực nghiệm 93
3.1.1 Mục đích thực nghiệm 93
3.1.2 Nội dung thực nghiệm 93
3.1.3 Phương pháp và các bước thực nghiệm 94
3.1.4 Đối tượng thực nghiệm và đối chứng 94
3.2 Thiết kế giáo án thực nghiệm 95
3.3 Kết quả thực nghiệm và đánh giá 104
3.3.1 Kết quả bài trắc nghiệm về mức độ hứng thú của HS tại lớp thực nghiệm 104
3.3.2 Kết quả bài kiểm tra mức độ nhận thức của HS tại 2 lớp thực nghiệm và đối chứng 106
3.4 Thành công và hạn chế của thực nghiệm 108
3.4.1 Thành công của thực nghiệm 108
3.4.2 Hạn chế của thực nghiệm 108
TÀI LIỆU THAM KHẢO 113
PHỤ LỤC ……… 118
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1: Đánh giá của GV về mức độ cần thiết dạy học từ vựng từ quan điểm tích
hợp 46
Bảng 1.2: Nhận thức của GV về những năng lực cần thiết cho dạy học từ vựng từ quan điểm tích hợp 47
Bảng 1.3: Cách thức tích hợp mà GV sử dụng khi dạy học từ vựng 48
Bảng 1.4: Mức độ vận dụng tích hợp trong dạy học từ vựng 49
Bảng 1.5: Hiệu quả của dạy học từ vựng từ quan điểm tích hợp 50
Bảng 2.1: Các mức yêu cầu cần đạt cho mỗi loại câu hỏi/bài tập trong chủ đề 91
Bảng 3.1: Điều tra về mức độ hứng thú của HS sau giờ học thực nghiệm 105
Bảng 3.2: Đánh giá của HS về mức độ cần thiết dạy học bài “Từ ngữ địa phương và biệt ngữ xã hội” theo hướng tích hợp 105
Bảng 3.3: Thống kê phân loại kết quả nhận thức của HS lớp thực nghiệm, lớp đối chứng 106
Trang 8DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 1.1: Đánh giá của GV về mức độ cần thiết của dạy học từ vựng từ quan
điểm tích hợp 46 Biểu đồ 1.2: Cách thức tích hợp mà GV sử dụng khi dạy học từ vựng 48 Biểu đồ 1.3: Hiệu quả của dạy học từ vựng từ quan điểm tích hợp 50 Biểu đồ 3.1: Thống kê phân loại kết quả nhận thức của HS lớp thực nghiệm, đối
chứng 107
Trang 9DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 1.1: Mô hình các mức độ tích hợp 20
Hình 1.2: Mô hình tích hợp đa môn 20
Hình 1.3: Mô hình tích hợp liên môn 21
Hình 1.4: Mô hình tích hợp xuyên môn 21
Hình 2.1: Phân loại từ theo đặc điểm cấu tạo 65
Hình 2.2: Phân loại từ theo nguồn gốc 65
Hình 2.3: Sự phát triển của từ vựng 66
Hình 2.4: Các lỗi dùng từ 66
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
1.1 Vai trò quan trọng của từ vựng trong dạy học tiếng Việt
Từ vựng là chất liệu cần thiết để cấu tạo ngôn ngữ, thiếu từ vựng thì không có bất cứ ngôn ngữ nào Thành phần ngữ âm, thành phần ngữ pháp cũng được thể hiện trong từ Như vậy, dạy học từ vựng là bộ phận không thể thiếu trong chương trình Tiếng Việt ở phổ thông nói chung, trường THCS nói riêng
Từ vựng có vị trí quan trọng trong việc dạy tiếng ở trường phổ thông “Dạy văn trước hết là dạy về từ” (Phạm Văn Đồng) Trong hoạt động nhận thức, từ có chức năng gọi tên sự vật, biểu thị nội dung khái niệm Không nắm được nghĩa từ sẽ không thể thông hiểu nội dung văn bản, mọi suy luận và phán đoán sẽ không có cơ
sở khoa học Trong quan hệ chiều sâu với văn học và văn hóa, từ ngữ được coi là chất liệu, là yếu tố đầu tiên làm nên giá trị thẩm mỹ của tác phẩm văn chương Nhiều thành ngữ, điển cố không chỉ là những sự kiện ngôn ngữ đơn thuần mà còn là “bản đúc kết” đầy đủ, phong phú những hiểu biết của chúng ta về thế giới tự nhiên và xã hội, là phương tiện biểu đạt “tinh thần dân tộc”, chứa đựng những ẩn số văn hóa của dân tộc
Một HS có vốn từ phong phú thì sẽ có khả năng diễn đạt tự nhiên, thuận lợi hơn một em nghèo vốn từ Quan sát thực tiễn cho ta thấy người bản ngữ cũng như người học ngoại ngữ, hễ vốn từ vựng càng phong phú bao nhiêu thì khả năng diễn đạt càng lớn bấy nhiêu và tư duy càng phát triển
1.2 Tích hợp là một trong những xu thế dạy học hiện đại
Tích hợp trong chương trình giáo dục phổ thông là một xu thế quốc tế đã xuất hiện từ lâu; ngay cả với Việt Nam cũng không phải là vấn đề mới, ít nhất là đã đặt ra và thực hiện được một số môn học, với những mức độ khác nhau ở lần đổi mới chương trình năm 2000 theo Nghị quyết 40 của Quốc hội khóa X Năm 2015, chúng ta tiếp tục đổi mới chương trình và SGK, tiếp tục kế thừa và phát huy kết quả tích hợp trong chương trình giáo dục phổ thông hiện hành đồng thời bổ sung, phát triển thêm một bước theo tinh thần đổi mới căn bản toàn diện giáo dục và đào tạo
Trang 11Nghị quyết số 29 của Ban chấp hành TW lần thứ 8 khóa XI đã xác định: “Xây dựng
và chuẩn hóa nội dung giáo dục phổ thông theo hướng hiện đại, tinh gọn, bảo đảm chất lượng, tích hợp cao ở các lớp học dưới và phân hóa dần ở các lớp học trên; giảm số môn học bắt buộc; tăng môn học, chủ đề và hoạt động giáo dục tự chọn” [4
tr 5]
Sau đó Nghị quyết 88 của Quốc hội 13 đã cụ thể hóa hơn yêu cầu tích hợp:
“Đổi mới giáo dục phổ thông theo hướng tinh giản, hiện đại, thiết thực, phù hợp với lứa tuổi, trình độ và định hướng nghề nghiệp; tích hợp cao ở những lớp học dưới và phân hóa dần ở các lớp học trên Ở cấp Tiểu học và Trung học cơ sở thực hiện lồng ghép những nội dung liên quan với nhau của một số lĩnh vực giáo dục, một số môn học trong chương trình hiện hành để tạo thành môn học tích hợp; thực hiện tinh giản, tránh chồng chéo nội dung giáo dục, giảm hợp lý số môn học” [47 tr 2]
Theo đánh giá của Dự thảo Đề án đổi mới chương trình và SGK giáo dục phổ thông sau năm 2015 của Bộ Giáo dục và Đào tạo về xu thế quốc tế về xây dựng chương trình, biên soạn SGK: “Dạy học tích hợp và dạy học phân hóa được xác định là yêu cầu bắt buộc của mục đích phát triển năng lực HS Coi trọng tính tích hợp trong việc thiết kế chương trình, đặc biệt là ở cấp Tiểu học và cấp Trung học cơ
sở Ở giai đoạn đầu của cấp Tiểu học, xây dựng môn học tích hợp các lĩnh vực về tự nhiên và xã hội (trong đó bao hàm cả con người) Ở giai đoạn sau của cấp Tiểu học
và cả cấp Trung học cơ sở xây dựng môn học tích hợp các lĩnh vực khoa học tự nhiên và môn học tích hợp các lĩnh vực khoa học xã hội Đồng thời ở cả ba cấp học, thực hiện tích hợp trong nội bộ môn học, trong đó tích hợp cả các chủ đề liên quan đến thực tiễn đời sống” [14]
1.3 Thực trạng dạy học từ vựng tiếng Việt chương trình THCS nhìn từ quan điểm tích hợp
Theo đánh giá của Dự thảo Đề án đổi mới chương trình và SGK giáo dục phổ thông sau năm 2015 của Bộ Giáo dục và Đào tạo: “Nội dung chương trình, SGK hiện hành tuy bước đầu đã được xây dựng theo quan điểm tích hợp và phân hóa nhưng việc thực hiện dạy học tích hợp và phân hóa chưa có hiệu quả cao, chưa đạt được yêu cầu của mục tiêu chương trình” [14]
Trang 12Chương trình Ngữ văn THCS đã đưa ra định hướng về đổi mới phương pháp
và hình thức dạy học theo quan điểm tích hợp, nhưng những nghiên cứu về DHTH
cụ thể cho từng phân môn Ngữ văn nói chung và hợp phần Từ vựng nói riêng chưa được triển khai một cách thỏa đáng
Hiện nay, việc áp dụng quan điểm tích hợp vào dạy học từ vựng tiếng Việt ở trường THCS nhìn chung vẫn như là một “phép cộng” đơn giản giữa ba phân môn trong một bài học Khá nhiều GV chưa được trang bị một cách hệ thống kiến thức
về tích hợp nên chưa thực sự hiểu một cách thấu đáo tinh thần của quan điểm tích hợp, vì vậy việc giảng dạy nhìn chung vẫn thụ động diễn ra theo biên soạn của SGK
mà không cần biết dụng ý biên soạn như thế để làm gì, bài học đó đã thể hiện đúng tinh thần tích hợp hay chưa Hệ quả là nhiều giờ dạy GV chưa chú ý đến vận dụng tích hợp vào dạy học GV soạn bài nào chỉ biết bài đó Vì vậy, hầu hết mỗi bài học đều bị tách rời khỏi hệ thống Dạy từ vựng chưa chú ý nhiều đến sự liên thông với các kiến thức từ vựng cùng hệ thống và các bộ phận liên quan như Văn học, Tập làm văn Do đó, việc khai thác bài dạy thiếu tính hệ thống, thiếu chiều sâu, chất lượng bài dạy theo yêu cầu tích hợp chưa đạt, GV tích hợp một cách gượng gạo, các đơn vị kiến thức tích hợp không có mối liên hệ gắn bó; sự chuẩn bị nội dung, cách thức tích hợp chưa kỹ, sử dụng tích hợp tùy hứng, chưa trọng tâm dẫn đến hiệu quả không cao
Trên thực tế, các kỹ năng sử dụng từ vựng nói chung của HS vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu xã hội HS nghèo nàn về vốn từ, không hiểu nghĩa từ, không nắm được phạm vi sử dụng từ nên cách diễn đạt thường vụng về, lúng túng, trùng lặp, thiếu sinh động Tình trạng nói sai, viết sai, diễn đạt không đúng với suy nghĩ, diễn đạt xa rời chuẩn mực tiếng Việt, khó khăn trong việc đạt được mục đích giao tiếp vẫn tồn tại, nếu không muốn nói là còn tương đối phổ biến đã ảnh hưởng không nhỏ đến năng lực tư duy, đọc hiểu văn bản, viết văn nghị luận và giao tiếp xã hội của các em
1.4 Yêu cầu về giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt hiện nay
Phát biểu ý kiến tại Hội thảo khoa học quốc gia "Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt trên các phương tiện thông tin đại chúng" do Đài Tiếng nói Việt Nam chủ
Trang 13trì, phối hợp Hội Nhà báo Việt Nam, Hội Ngôn ngữ học Việt Nam và các cơ quan nghiên cứu, cơ quan báo chí tổ chức diễn ra Ngày 5/11/2016 tại Hà Nội, Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam khẳng định: “Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt là trách nhiệm của mỗi người, đặc biệt là các nhà báo, nhà giáo, nhà văn Có một thực tế hiện nay là trong xã hội, trên các diễn đàn, trong một số tài liệu, báo cáo, trên các ấn phẩm thông tin đại chúng, kể cả trong SGK có nhiều biểu hiện thiếu chuẩn mực trong sử dụng tiếng Việt Hiện tượng lạm dụng, sử dụng ngôn từ, từ tiếng nước ngoài đang ngày càng nhiều” [30]
Từ cơ sở lý luận và thực tiễn trên, chúng tôi chọn nghiên cứu đề tài “Dạy học từ vựng tiếng Việt chương trình Trung học cơ sở từ quan điểm tích hợp”
nhằm góp phần nâng cao hiệu quả dạy học từ vựng tiếng Việt ở trường THCS
2 Lịch sử nghiên cứu
Đối với môn Ngữ văn, theo Quyết định số 03/2002/QĐ-BGD & ĐT, ngày 24 tháng 1 năm 2002 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo, bộ SGK Ngữ văn bậc THCS được biên soạn bên cạnh những cải tiến chung như giảm tải, tăng thực hành, gắn với đời sống thì nét nổi bật nhất của lần cải cách SGK môn Văn THCS lần này
là theo hướng tích hợp: Ba phân môn Văn, Tiếng Việt, Làm văn được thống nhất lại thành một môn học và tích hợp trong một chương trình lấy tên là: Tiếng Việt đối với Tiểu học; Ngữ văn đối với cấp THCS và THPT
Trong Chương trình THPT môn Ngữ văn năm 2006 của Bộ Giáo dục và Đào tạo đã nêu rõ: “Lấy quan điểm tích hợp làm nguyên tắc chỉ đạo để tổ chức nội dung chương trình, biên soạn SGK và lựa chọn các phương pháp giảng dạy” [8 tr 27]
“Nguyên tắc tích hợp phải được quán triệt trong toàn bộ môn học, từ Đọc văn, Tiếng Việt đến Làm văn; quán triệt trong mọi khâu của quá trình dạy học; quán triệt trong mọi yếu tố của hoạt động học tập; tích hợp trong chương trình; tích hợp trong SGK; tích hợp trong phương pháp dạy học của GV và tích hợp trong hoạt động học tập của HS; tích hợp trong các sách đọc thêm, tham khảo” [8 tr 40]
Như vậy chương trình và SGK Ngữ văn đã tạo điều kiện thuận lợi cũng như đặt ra đòi hỏi GV phải dạy ba phần của môn Ngữ văn như một thể thống nhất Trong đó mỗi phần vừa giữ bản sắc riêng vừa hòa nhập với nhau cùng hình thành
Trang 14các tri thức, kỹ năng Ngữ văn ở HS Để làm điều đó một cách hiệu quả thì vận dụng quan điểm tích hợp vào dạy học môn Ngữ văn là một yêu cầu tất yếu
Trong thực tế, trước khi Bộ Giáo dục và Đào tạo có chủ trương DHTH, nhiều trường phổ thông đã chủ động thực hiện Trong hoạt động chính khóa, ngoại khóa, các GV Ngữ văn đã có những nội dung DHTH và bước đầu có hiệu quả trong việc thu hút HS, nâng cao chất lượng giảng dạy
Đã có nhiều nghiên cứu về dạy học Ngữ văn từ quan điểm tích hợp
Sách Dạy học Ngữ văn 6 theo hướng tích hợp [1] do Lê A làm chủ biên, các
tác giả chủ yếu chỉ ra ba loại hình tích hợp thể hiện trong SGK Ngữ văn 6, đó là tích hợp ngang, tích hợp dọc và tích hợp mở rộng Điều đáng chú ý nhất ở đây là khái niệm tích hợp mở rộng được tác giả sử dụng để thay thế cho khái niệm “tích hợp liên môn” Tác giả đã quan niệm tích hợp mở rộng là “kiểu tích hợp hướng ngoại (tích hợp ngang và tích dọc vẫn là tích hợp trong nội bộ môn Ngữ văn) với nhiều bộ môn khoa học như: Địa lý, Lịch sử, Dân tộc học, Xã hội học, Văn hóa học Nhiều lĩnh vực nghệ thuật như: Âm nhạc, Hội họa, Nhiếp ảnh, Điện ảnh…cùng các kiến thức đời sống khác để đem lại hiệu quả tối ưu cho bài học Ngữ văn” [1 tr 13]
Trong Giáo trình phương pháp dạy học Ngữ văn ở Trung học cơ sở của
Nguyễn Thanh Hùng [35] tác giả đã dành trọn chương II để nói về “Nguyên tắc tích hợp trong dạy học Ngữ văn ở Trung học cơ sở” Theo tác giả tích hợp là “dạy học ba phân môn hợp nhất, hòa trộn trong nhau, học cái này thông qua cái kia và ngược lại Như thế sẽ tránh được những vướng mắc, dư thừa, chồng chéo nội dung trong quá trình dạy Văn, Tiếng Việt và Làm văn như trước đây” [35 tr 18] Tác giả rất chú trọng đến tích hợp theo chủ đề, nhất là những chủ đề trọng tâm “Từ truyện trung đại đến truyện hiện đại cũng có thể suy nghĩ tới vấn đề (chủ đề trọng tâm) để tích hợp
Đó là điểm chung và điểm riêng trong phương thức diễn đạt tự sự ở truyện trung đại
và truyện hiện đại Bên cạnh đó, cũng có thể tích hợp phương thức biểu đạt tự sự, miêu tả, biểu cảm, lập luận của tập làm văn với phong cách nghệ thuật trong khi dạy tác phẩm văn học hay đoạn trích” [35 tr 23]
Kết luận đáng chú ý nhất của tác giả ở công trình này theo chúng tôi là: “Việc
sử dụng tích hợp ngang và tích hợp dọc khi dạy học Ngữ văn cũng nên quan niệm
Trang 15một cách tương đối linh hoạt, không rập khuôn”; “Tích hợp, xét về mặt tư tưởng là một cái gì đó còn rất khó khăn để mọi người có thể nhận thức đầy đủ và sáng tỏ Bản thân mỗi người chúng ta đều muốn khám phá, tìm hiểu nó nhưng chưa tìm ra đâu là định nghĩa tốt nhất” [35 tr 28]
Một tài liệu quan trọng về tích hợp là cuốn Ngữ văn 6, sách giáo viên, tập 1
do Nguyễn Khắc Phi làm tổng chủ biên Tác giả đã dành ra 32 trang để nói về chương trình Ngữ văn, cấu trúc nội dung và mô hình SGK Ngữ văn THCS, một số vấn đề cần lưu ý trong việc giảng dạy các phân môn, trong đó tác giả đặc biệt quan tâm đến vấn đề tích hợp Tác giả khẳng định: “Lâu nay dù dạy tách ba phân môn, nhưng GV giàu kinh nghiệm vẫn luôn có ý thức kết hợp chúng Tuy nhiên, do không được chương trình hóa, hiệu quả của sự kết hợp đó vẫn rất hạn chế” Theo tác giả, tích hợp chính là “dạy ba phân môn như một thể thống nhất, trong đó mỗi phân môn vừa giữ bản sắc riêng, vừa hòa nhập với nhau để cùng hình thành những tri thức và
kỹ năng Ngữ văn thống nhất ở HS…” [46 tr 11]
Cũng trong tài liệu này, tác giả đã giới thiệu những khái niệm cơ bản về tích hợp hiện nay như: Các yếu tố đồng quy, tích hợp trong từng thời điểm, tích hợp theo từng vấn đề…[46]
Vấn đề tích hợp cũng được Đỗ Ngọc Thống bàn tới trong cuốn Tìm hiểu
chương trình và sách giáo khoa Ngữ văn Trung học phổ thông [51] qua mục “Dạy
học Ngữ văn theo nguyên tắc tích hợp” Ở đây, tác giả đã trình bày nguyên tắc tích hợp trong từng phân môn và nguyên tắc tích hợp giữa ba phân môn Văn, Tiếng Việt, Làm văn Tác giả đã chỉ ra: “ Mỗi bài thường cố gắng khai khác cả ba nội dung Văn, Tiếng Việt, Làm văn Ba nội dung này có liên quan nhau, làm sáng tỏ cho nhau Bài đầu học một văn bản văn học nào đó theo yêu cầu về kiến thức và kỹ năng của văn Bài hai cũng dựa trên văn bản của phần một để dạy học theo yêu cầu nội dung của Tiếng Việt Bài ba cũng vẫn trên văn bản đó mà đáp ứng những yêu cầu của Tập làm văn” [51 tr 143]
Tác giả còn khẳng định do đặc trưng từng bộ môn nên mỗi bài có hai phần Phần chung là chỗ để tích hợp, còn phần riêng để nhân cái chung mà trình bày những kiến thức kỹ năng do yêu cầu của phân môn đó đặt ra
Trang 16Tài liệu Những vấn đề chung về đổi mới giáo dục Trung học cơ sở môn Ngữ
văn [20] do Nguyễn Hải Châu, Nguyễn Trọng Hoàn, Vũ Nho biên soạn cũng đề cập
đến “một số điều cần nói rõ về tích hợp” Tác giả khẳng định: “Vấn đề mới mẻ và khác biệt ở đây là với chương trình và SGK được biên soạn tích hợp, người GV bắt buộc phải có ý thức đầy đủ hơn trong khi vận dụng kiến thức để hỗ trợ, khắc sâu phân môn và bài học tích hợp Dù người GV đó không hiểu tích hợp, không muốn tích hợp thì nếu dạy theo SGK mới, tính chất tích hợp vẫn hiện diện trong giờ dạy Đơn giản vì nội dung văn học trong văn bản không chỉ được học trong tiết văn, nó còn được khai thác ngữ liệu để sử dụng trong tiết Tiếng Việt, và trong chừng mực nhất định, nó còn được một lần nữa khai thác và củng cố trong tiết Tập làm văn” [20
Trong sách Bài tập rèn kỹ năng tích hợp Ngữ văn 6, 7, 8, 9 của Vũ Nho,
Nguyễn Thúy Hồng, Trần Thị Thành [42] biên soạn phù hợp với nội dung từng bài học và yêu cầu rèn luyện kỹ năng Ngữ văn bậc THCS để HS có thể thực hành, thầy
cô giáo sử dụng trong bài giảng hay ra bài tập, các bậc phụ huynh có thể hướng dẫn con em mình Bài tập được biên soạn theo kiểu bài tập - câu hỏi trắc nghiệm và bài tập - câu hỏi tự luận cho mỗi bài học, gắn với cả ba phần Văn, Tiếng Việt, Tập làm văn
Luận văn Phương pháp dạy học Ngữ văn ở trường Trung học cơ sở theo
hướng tích hợp và tích cực [43] của Đoàn Thị Kim Nhung đã đưa ra cơ sở lý luận để
áp dụng tích hợp vào dạy học Ngữ văn và phương pháp dạy Văn học, Tiếng Việt, Tập làm văn theo hướng tích hợp
Luận văn Dạy học Tiếng Việt 10 Trung học phổ thông ban cơ bản theo hướng
tích hợp [40] của Lưu Quỳnh Nga đề xuất một số biện pháp dạy học Tiếng Việt 10
theo hướng tích hợp để góp phần giúp GV có được những định hướng cần thiết để
Trang 17triển khai giờ học có hiệu quả, đáp ứng được yêu cầu tích hợp của chương trình và SGK
Luận văn Tích hợp kiến thức Ngữ Văn trong dạy học bài “Phong cách ngôn
ngữ nghệ thuật” (Ngữ văn 10 - tập 2) của Trịnh Thị Hải Quỳnh [48] trên cơ sở
nghiên cứu lý thuyết dạy học tích hợp và tìm hiểu, đánh giá thực trạng, xây dựng cơ
sở lý luận dạy học theo quan điểm tích hợp kiến thức Ngữ - Văn, luận văn đề xuất cách tích hợp kiến thức Ngữ với Văn vào dạy học bài Phong cách ngôn ngữ nghệ thuật trong chương trình Ngữ văn lớp 10, giúp GV có được những định hướng cần thiết để triển khai giờ học có hiệu quả, đáp ứng được yêu cầu tích hợp của chương trình và SGK
Luận văn Dạy học phần tiếng Việt 11 theo hướng tích hợp của Vũ Thị Hồng
Nhung [44], trên cơ sở nghiên cứu lý thuyết DHTH và phân tích, đánh giá thực trạng dạy học phần Tiếng Việt 11 ở trường phổ thông, luận văn đề xuất một số biện pháp dạy học Tiếng Việt 11 theo hướng tích hợp nhằm nâng cao chất lượng dạy học
Tác giả Huỳnh Thị Tường Vi trong Luận văn Tìm hiểu chất lượng tích hợp
trong sách giáo khoa Ngữ văn 6 Trung học cơ sở [55] đã nghiên cứu về quan điểm
tích hợp trong SGK Ngữ văn 6 THCS, từ đó đề xuất các biện pháp tích hợp, nhằm nâng cao giờ học Ngữ văn 6 để đáp ứng yêu cầu đổi mới của chương trình và SGK theo quan điểm tích hợp
Luận văn Dạy các biện pháp tu từ so sánh, nhân hóa, ẩn dụ, hoán dụ theo
hướng tích hợp trong chương trình ngữ văn lớp 6, lớp 7 Trung học cơ sở của
Nguyễn Thị Vân Anh [3] đã nghiên cứu, đề xuất một số thủ pháp, phương pháp dạy học các bài về biện pháp tu từ so sánh, nhân hóa, ẩn dụ và hoán dụ theo quan điểm tích hợp trong chương trình Ngữ văn lớp 6, lớp 7 để phát triển tư duy, khả năng giao tiếp cho HS
Luận văn Vấn đề phát triển vốn từ vựng cho học sinh lớp 9 - THCS (Trường
hợp tỉnh Tây Ninh) của Lê Văn Hồng [32] trên cơ sở nghiên cứu tình hình sử dụng
từ vựng của HS lớp 9, đề xuất các biện pháp phát triển vốn từ vựng cho HS lớp 9 nhằm nâng cao hiệu quả dùng từ của HS
Trang 18Việc dạy học theo quan điểm tích hợp cũng được bàn đến trong nhiều hội thảo khoa học
Hội thảo Dạy học tích hợp và khả năng áp dụng vào thực tiễn Giáo dục Việt
Nam do Trường ĐHSP Hà Nội tổ chức cuối tháng 11 năm 2008 đã đặt ra nhiều vấn
đề về tích hợp như: Khái niệm về DHTH, sư phạm tích hợp và phương pháp, kỹ năng DHTH; Hiện trạng DHTH trong nhà trường phổ thông, những ưu điểm, khó khăn và kinh nghiệm DHTH trong nhà trường; Các phương hướng áp dụng DHTH trong nhà trường và những yêu cầu với đào tạo GV
Năm 2014, Viện Nghiên cứu Giáo dục thuộc trường ĐH Sư phạm TP Hồ
Chí Minh tổ chức Hội thảo Dạy học tích hợp và dạy học phân hóa ở trường trung
học đáp ứng yêu cầu chương trình và sách giáo khoa sau năm 2015 Hội thảo bao
gồm một số tham luận về DHTH như sau: DHTH và dạy học phân hóa môn Ngữ văn ở truờng THPT: thực trạng và giải pháp; Trường Trung học cơ sở: ngôi nhà tự nhiên của chương trình học tích hợp; Đào tạo và bồi dưỡng GV như thế nào để đáp ứng yêu cầu DHTH trong chương trình giáo dục phổ thông sau năm 2015; Một số năng lực chủ yếu GV cần có trong DHTH và dạy học phân hóa
Ngày 28 tháng 12 năm 2012, Khoa Giáo dục Tiểu học Trường Đại học Sư
phạm TPHCM đã tổ chức Hội thảo khoa học Dạy học tích hợp ở Tiểu học - hiện tại
và tương lai Tham dự Hội thảo có các đại biểu đến từ các trường: Đại học Hoa Sen,
Đại học Sài Gòn, Đại học Cần Thơ, Đại học Bình Dương, Đại học Đồng Tháp, Đại học Quảng Bình, Cao đẳng Sư phạm Kiên Giang, Cao đẳng Sư phạm Nghệ An và Câu lạc bộ Trí thức tỉnh Bình Thuận,… cùng đại diện Ban Giám hiệu, các phòng ban, các giảng viên và sinh viên trong Khoa Đại biểu đã nghe 3 báo cáo và thảo luận
về các vấn đề: đào tạo - dạy học theo quan điểm tích hợp, dạy học trong đào tạo GV Tiểu học và giảng dạy ở trường Tiểu học, vận dụng quan điểm tích hợp trong dạy học ở Tiểu học Ban tổ chức cũng đã tập hợp 23 bài viết của các tác giả gửi đến Hội thảo để in thành kỷ yếu
Ngày 19 tháng 12 năm 2015, Báo Giáo dục và Thời đại phối hợp với Bộ phận Thường trực Đổi mới Chương trình-SGK giáo dục phổ thông (Bộ Giáo dục và Đào
tạo) tổ chức buổi giao lưu trực tuyến với chủ đề: Dạy - học tích hợp ở trường trung
Trang 19học Tham dự buổi giao lưu, nhiều vị khách mời là chuyên gia, GV, cán bộ quản lý
đã có mặt tại trụ sở báo GD&TĐ, nhiệt tình chia sẻ, trao đổi kinh nghiệm về quản lý, chuyên môn trong triển khai dạy - học tích hợp với bạn đọc trên cả nước
Bộ Giáo dục và Đào tạo có nhiều tài liệu tập huấn về DHTH như:
Tài liệu tập huấn DHTH liên môn, lĩnh vực Khoa học Xã hội (Dành cho cán
bộ quản lý và GV THPT), Nxb Đại học Sư phạm, năm 2015
Tài liệu tập huấn DHTH ở trường Trung học Cơ sở, Trung học Phổ thông (Dành cho CBQL và GV THCS, THPT), Nxb Đại học Sư phạm, năm 2016
Nhìn chung, hiện nay dạy học môn Ngữ văn chương trình THCS từ quan điểm tích hợp ở đã có nhiều công trình nghiên cứu Tuy nhiên, những nghiên cứu một cách khoa học và hệ thống về DHTH ở phân môn tiếng Việt bậc THCS còn rất
ít, đặc biệt về dạy học từ vựng tiếng Việt từ quan điểm tích hợp lại hầu như chưa có Chính vì vậy chúng tôi chọn nghiên cứu đề tài “Dạy học từ vựng tiếng Việt chương trình Trung học cơ sở từ quan điểm tích hợp” nhằm nâng cao chất lượng dạy học từ vựng tiếng Việt nói riêng và môn Ngữ văn nói chung ở bậc THCS
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lý thuyết DHTH và phân tích, đánh giá thực trạng dạy học từ vựng tiếng Việt chương trình THCS, luận văn đề xuất một số biện pháp dạy học từ vựng tiếng Việt từ quan điểm tích hợp nhằm nâng cao chất lượng dạy học từ vựng tiếng Việt chương trình THCS
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở lý thuyết về tích hợp và DHTH
- Nghiên cứu quan điểm tích hợp trong chương trình, SGK và trong dạy học Ngữ văn THCS hiện hành
- Khảo sát thực trạng dạy học từ vựng tiếng Việt chương trình THCS từ quan điểm tích hợp
Trang 20- Đề xuất một số biện pháp tích hợp trong dạy học từ vựng tiếng Việt chương trình THCS
- Triển khai thực nghiệm sư phạm để khẳng định tính khả thi của các biện pháp tích hợp Trên cơ sở kết quả thực nghiệm sẽ tiến hành phân tích, nhận xét, đánh giá để có những kiến nghị và giải pháp cụ thể cho những hướng nghiên cứu tiếp theo
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu việc tổ chức dạy học từ vựng tiếng Việt trong chương trình Ngữ văn THCS từ quan điểm tích hợp
4.2 Phạm vi nghiên cứu
- Đề tài nghiên cứu những vấn đề lý luận, tổ chức khảo sát thực trạng và đề xuất các giải pháp dạy học từ vựng tiếng Việt trong chương trình Ngữ văn THCS từ quan điểm tích hợp dưới góc độ dạy học với chủ thể là GV Ngữ văn các trường THCS
- Đề tài tập trung nghiên cứu thực trạng dạy học từ vựng tiếng Việt trong chương trình Ngữ văn THCS từ quan điểm tích hợp và thực nghiệm một số biện pháp dạy học tại 5 trường THCS trên địa bàn Huyện Phúc Thọ và Thị xã Sơn Tây, thành phố Hà Nội, năm học 2016 - 2017
Trong luận văn, khái niệm từ vựng được hiểu là từ vựng tiếng Việt trong chương trình Ngữ văn THCS
5 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp phân tích, tổng hợp tài liệu: Từ việc phân tích tổng hợp các tài liệu liên quan tới đề tài, luận văn có được cơ sở khoa học vững chắc để xác định yêu cầu, tiêu chí và cách thức vận dụng quan điểm tích hợp trong dạy học
- Phương pháp điều tra, khảo sát: Qua khảo sát điều tra bằng nghiên cứu tài liệu, quan sát, phỏng vấn luận văn thu thập những dữ liệu về thực tiễn dạy học Tiếng
Trang 21Việt chương trình THCS theo hướng tích hợp Sau đó, luận văn sử dụng các phương pháp thống kê, phân loại, so sánh để nhận xét, đánh giá và rút ra kết luận
- Phương pháp thực nghiệm sư phạm: Luận văn tiến hành thực nghiệm và đánh giá kết quả nhằm khẳng định giá trị và tính khả thi của giả thuyết nêu trong đề tài
6 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, tài liệu tham khảo, phụ lục, nội dung chính của luận văn được cấu trúc thành 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn
Chương 2: Biện pháp dạy học từ vựng từ quan điểm tích hợp
Chương 3: Thực nghiệm sư phạm
Trang 22CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
1.1 Một số vấn đề về tích hợp và dạy học tích hợp
1.1.1 Tích hợp
Luận văn sử dụng khái niệm tích hợp theo Tài liệu tập huấn DHTH ở Trường
Trung học cơ sở, Trung học phổ thông (Dùng cho cán bộ quản lý, GV THCS, THPT)
của Bộ Giáo dục và Đào tạo [17]:
“Tích hợp có nghĩa là sự hợp nhất, sự hòa nhập, sự kết hợp Nội hàm khoa
học khái niệm tích hợp có thể hiểu một cách khái quát là sự hợp nhất hay nhất thể hóa các bộ phận khác nhau, để đưa tới một đối tượng mới như là một thể thống nhất trên những nét bản chất nhất của các thành phần đối tượng, chứ không phải là một phép cộng giản đơn những thuộc tính của các thành phần ấy
Như vậy tích hợp có hai tính chất cơ bản, liên hệ mật thiết với nhau, quy định
lẫn nhau, đó là tính liên kết và tính toàn vẹn
Nhờ có tính liên kết mà có thể tạo nên một thực thể toàn vẹn trong đó không cần phân chia giữa các thành phần kết hợp
Tính toàn vẹn dựa trên sự thống nhất nội tại các thành phần liên kết, chứ không phải sự sắp đặt các thành phần bên cạnh nhau Không thể gọi là tích hợp nếu các tri thức, kỹ năng không có sự liên kết, phối hợp với nhau trong lĩnh hội nội dung hoặc giải quyết một vấn đề tình huống”
1.1.2 Dạy học tích hợp
Tháng 9 năm 1968, “Hội nghị tích hợp về việc giảng dạy các khoa học” đã được Hội đồng Liên quốc gia về giảng dạy khoa học tổ chức tại Varna (Bungari), với
sự bảo trợ của UNESCO Hội nghị nêu ra hai vấn đề là vì sao phải DHTH và tích
hợp các khoa học là gì Theo đó, DHTH được UNESCO định nghĩa là một cách
trình bày các khái niệm và nguyên lí khoa học cho phép diễn đạt sự thống nhất cơ bản của tư tưởng khoa học, tránh nhấn quá mạnh hoặc quá sớm sự sai khác giữa các lĩnh vực khoa học khác nhau Định nghĩa của UNESCO cho thấy DHTH xuất
Trang 23phát từ quan niệm về quá trình học tập hình thành ở HS những năng lực ở trình độ cao, đáp ứng yêu cầu của xã hội Quá trình DHTH bao gồm những hoạt động tích hợp giúp HS biết cách phối hợp các kiến thức, kỹ năng và thao tác một cách có hệ thống Định nghĩa này nhấn mạnh cách tiếp cận khái niệm và nguyên lí khoa học chứ không phải là hợp nhất nội dung
Trong Dự thảo Chương trình giáo dục phổ thông tổng thể (Trong chương
trình giáo dục phổ thông mới) của Bộ Giáo dục & Đào tạo năm 2015, DHTH là
định hướng dạy học giúp HS phát triển khả năng huy động tổng hợp kiến thức, kỹ năng thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau để giải quyết có hiệu quả các vấn đề trong học tập và trong cuộc sống, được thực hiện ngay trong quá trình lĩnh hội tri thức và rèn luyện kỹ năng; phát triển được những năng lực cần thiết, nhất là năng lực giải quyết vấn đề [15]
Tính tích hợp thể hiện qua sự huy động, kết hợp, liên hệ các yếu tố có liên quan với nhau của nhiều lĩnh vực để giải quyết có hiệu quả một vấn đề và thường đạt được nhiều mục tiêu khác nhau
DHTH là một quan niệm dạy học nhằm hình thành ở HS những năng lực giải quyết hiệu quả các tình huống thực tiễn dựa trên sự huy động nội dung, kiến thức, kỹ năng thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau Điều đó cũng có nghĩa là đảm bảo để mỗi HS biết cách vận dụng kiến thức học được trong nhà trường vào các hoàn cảnh mới lạ, khó khăn, bất ngờ, qua đó trở thành một người công dân có trách nhiệm, một người lao động có năng lực DHTH đòi hỏi việc học tập trong nhà trường phải được gắn với các tình huống của cuộc sống mà sau này HS có thể đối mặt vì thế nó trở nên có
ý nghĩa đối với HS Với cách hiểu như vậy, DHTH phải được thể hiện ở cả nội dung chương trình, phương pháp dạy học, phương pháp kiểm tra đánh giá, hình thức tổ chức dạy học
Như vậy, thực hiện DHTH sẽ phát huy tối đa sự trưởng thành và phát triển cá nhân mỗi HS, giúp các em thành công trong vai trò của người chủ gia đình, người công dân, người lao động tương lai
Trong Ngữ văn 6, sách giáo viên, tập 1 [46] do Nguyễn Khắc Phi tổng chủ
biên có nêu ra Chương trình giảng dạy tích hợp cho trường Tiểu học do Bộ Giáo
Trang 24dục Ma-lay-xi-a công bố lần đầu năm 1997 Chương trình nêu ra tám hướng tích hợp
cụ thể như sau:
1 Tích hợp nhiều kỹ năng trong một môn học Ví dụ trong dạy tiếng, bốn kỹ năng là nghe, nói, đọc, viết Hai hay nhiều hơn trong số những kỹ năng này có thể tích hợp trong một bài học
2 Tích hợp nhiều kỹ năng trong một số môn học
3 Hấp thụ kiến thức nội dung môn học khác qua các môn đang dạy
4 Tích hợp các chuẩn mực đạo đức hoặc nghề nghiệp qua các môn học
5 Những yếu tố cần được dạy qua toàn bộ các môn học, bao gồm ngôn ngữ, môi trường, khoa học và công nghệ, chủ nghĩa yêu nước, năng lực suy nghĩ và năng lực tìm tòi nghiên cứu
6 Tích hợp chương trình chính khóa và ngoại khóa
7 Tích hợp kiến thức và thực tiễn
8 Tích hợp kinh nghiệm quá khứ và những kinh nghiệm mới tiếp thu được của HS
Luận văn sử dụng khái niệm DHTH và một số khái niệm liên quan đến
DHTH dựa theo Tài liệu tập huấn DHTH ở Trường Trung học cơ sở, Trung học phổ
thông (Dùng cho cán bộ quản lý, GV THCS, THPT) [17]:
“Theo Từ điển Giáo dục học:
Dạy học tích hợp: Hành động liên kết các đối tượng nghiên cứu, giảng dạy,
học tập của cùng một lĩnh vực hoặc vài lĩnh vực khác nhau trong cùng một kế hoạch dạy học
Tích hợp trong nội bộ môn học: Nhóm các môn khoa học truyền thống như
Văn, Toán, Sử, Sinh học,…được bố trí riêng rẽ như trong chương trình hiện hành Tích hợp được thực hiện ở chỗ: loại bỏ những nội dung trùng lặp, khai thác sự hỗ trợ giữa các môn Ngoài ra: lấy một môn học làm trụ cột và có lồng ghép nội dung có liên quan.Ví dụ: Trong môn Sinh học có lồng ghép nội dung có liên quan về hóa học, toán học,…
Trang 25Tích hợp các bộ môn: Quá trình xích gần và liên kết các ngành khoa học lại
với nhau trên cơ sở của những nhân tố, những quy luật giống nhau, chung cho các bộ môn, ngược lại với quá trình phân hóa chúng
Tích hợp dọc: Kiểu tích hợp trên cơ sở liên kết hai hoặc nhiều môn học thuộc
cùng một lĩnh vực hoặc một số lĩnh vực gần nhau
Tích hợp ngang: Kiểu tích hợp trên cơ sở liên kết các đối tượng học tập,
nghiên cứu thuộc các lĩnh vực khoa học khác nhau
Tích hợp chương trình: Tiến hành liên kết hợp nhất nội dung các môn học có
nguồn tri thức khoa học và có những quy luật chung gần gũi nhau
Tích hợp kiến thức: Hành động liên kết, nối liền các tri thức khoa học khác
nhau thành một tập hợp kiến thức thống nhất
Tích hợp kỹ năng: Hành động liên kết rèn luyện hai hoặc nhiều kỹ năng thuộc
cùng một lĩnh vực hoặc vài lĩnh vực gần nhau để nắm vững một thể
Trong giáo trình tích hợp hoàn toàn cũng như một phần lại có các cách sau:
Liên hợp: Có sự phối hợp chặt chẽ về nội dung, phương pháp, kế hoạch bài
giảng của các môn học tích hợp nhưng mỗi môn vẫn đặt trong một phần riêng hoặc
một chương riêng Đây là hình thức thấp của tích hợp - tích hợp liên môn
Tổ hợp: Trong cách trình bày nội dung các môn học tích hợp được hòa vào
nhau hoàn toàn Tuy nhiên đã đảm bảo phần nào tính hệ thống của mỗi môn, vẫn có những bài hoặc nội dung nặng về môn này, những bài khác nặng về môn kia; bên cạnh đó có những bài có tính chất bắc cầu giữa các môn đó Đây là hình thức tích hợp ở mức độ cao hơn; ta gọi đó là tổ hợp các môn học khoa học
Tích hợp: Tích hợp ở mức cao nhất, nội dung của các môn học riêng rẽ được
hòa vào nhau hoàn toàn và được trình bày thành những bài hoặc những chủ đề
Tích hợp xuyên môn: Tích hợp ở mức cao nhất, nội dung của các môn học
riêng rẽ được hòa vào nhau hoàn toàn và được trình bày thành những bài hoặc những chủ đề trong một môn học mới
Trang 261.1.2.1 Mục tiêu của dạy học tích hợp
Theo Tài liệu tập huấn Dạy học tích hợp ở Trường Trung học cơ sở, Trung
học phổ thông [17], DHTH nhằm đạt được những mục tiêu sau:
- Thực hiện môn học tích hợp, các quá trình học tập không bị cô lập với cuộc sống hàng ngày, các kiến thức gắn liền với kinh nghiệm sống của HS và được liên hệ với các tình huống cụ thể, có ý nghĩa với HS Khi đó, HS được dạy sử dụng kiến thức trong những tình huống cụ thể và việc giảng dạy các kiến thức không chỉ là lý thuyết mà còn phục vụ thiết thực cho cuộc sống con người, để làm người lao động, công dân tốt,…mặt khác, các kiến thức sẽ không lạc hậu do thường xuyên cập nhật với cuộc sống
Theo đó, khi đánh giá HS, ngoài kiến thức còn cần đánh giá HS về khả năng
sử dụng kiến thức ở các tình huống khác nhau trong cuộc sống Đây cũng chính là mục tiêu của DHTH
- DHTH giúp thiết lập mối liên hệ giữa các khái niệm đã học trong cùng một môn học và giữa các môn học khác nhau Đồng thời, DHTH giúp tránh những kiến thức, kỹ năng, nội dung trùng lặp khi nghiên cứu riêng rẽ từng môn học, nhưng lại
có những nội dung, kỹ năng mà nếu theo môn học riêng rẽ sẽ không có được Do đó vừa tiết kiệm thời gian, vừa có thể phát triển kỹ năng/năng lực xuyên môn cho HS thông qua giải quyết các vấn đề phức hợp
- Thực hiện DHTH giúp xác định rõ mục tiêu, phân biệt cái cốt yếu và cái ít quan trọng hơn khi lựa chọn nội dung Cần tránh đặt các nội dung học tập ngang bằng nhau bởi có một số nội dung học tập quan trọng hơn vì chúng thiết thực cho cuộc sống hàng ngày và vì chúng là cơ sở cho quá trình học tập tiếp theo Từ đó có thể dành thời gian cho việc nâng cao kiến thức cho HS khi cần thiết
- Thực tiễn ở nhiều nước đã chứng tỏ rằng, việc thực hiện quan điểm tích hợp trong giáo dục và dạy học sẽ giúp phát triển những năng lực giải quyết các vấn đề phức tạp và làm cho việc học tập trở nên ý nghĩa hơn đối với HS so với việc các môn học, các mặt giáo dục được thực hiện riêng rẽ
Trang 27Như vậy, DHTH là một trong những quan điểm giáo dục nhằm nâng cao năng lực của người học, giúp đào tạo những người có đầy đủ phẩm chất và năng lực để giải quyết các vấn đề của cuộc sống hiện đại Dạy học theo hướng tích hợp phát huy được tính tích cực của HS, góp phần đổi mới nội dung và phương pháp dạy học
Có thể tóm tắt 3 mục tiêu cơ bản của DHTH:
- Tránh trùng lặp về nội dung thuộc các môn học khác nhau
- Tạo mối quan hệ giữa các môn học với nhau và với kiến thức thực tiễn
- Tạo cơ hội để hình thành và phát triển năng lực, đặc biệt là năng lực giải quyết các vấn đề thực tiễn
1.1.2.2 Ý nghĩa của dạy học tích hợp
Tích hợp là một xu thế tích cực trong giáo dục hiện đại Vận dụng dạy học tích hợp sẽ mang lại những triển vọng mới góp phần nâng cao chất lượng dạy học
Thứ nhất nó góp phần khắc phục hạn chế cách học khép kín tách biệt, tạo điều kiện cho việc học theo hướng mở gắn với thực tiễn đời sống DHTH cung cấp kiến thức ở dạng “sống” trong mối liên hệ với các tình huống, các bài toán thực tiễn.Vì vậy nó góp phần gắn lý thuyết với thực hành nâng cao hiệu quả dạy học
Thứ hai, tích hợp tạo ra tính liên kết, xác lập được mối quan hệ giữa các nội dung kiến thức của các phân môn khác nhau Hiện nay các kiến thức bộ môn được cung cấp rời rạc thiếu nhất quán DHTH sẽ góp phần xâu chuỗi những kiến thức lẻ tẻ
ấy thành các chuỗi vấn đề tích hợp Từ đó HS sẽ có cái nhìn tổng quan về vấn đề giúp ghi nhớ nhanh và dễ dàng huy động kiến thức ứng dụng vào thực tiễn cuộc sống
Thứ ba, tích hợp làm cho việc học trở nên có ý nghĩa khi nâng cao tính tương tác giữa HS và HS, HS và GV hướng tới hình thành năng lực và bồi dưỡng phẩm chất nhân văn cho HS Qua sự giao lưu và những phản hồi của GV cùng với các hoạt động học tập tích cực, HS sẽ có thêm nhiều trạng thái tích cực trong học tập Chương trình DHTH cũng giúp HS có nhiều cơ hội làm việc theo nhóm tạo nên bầu không khí thân thiện, đoàn kết, học hỏi lẫn nhau Từ đó, góp phần hình thành cho HS những năng lực cơ bản: năng lực tư duy, năng lực giao tiếp, năng lực huy động kiến
Trang 28thức tổng hợp vào giải quyết các tình huống thực tiễn và phát triển các kỹ năng mềm Tích hợp cũng là điều kiện giáo dục phẩm chất nhân văn cho HS Qua các hình thức tổ chức dạy học mới có thể lồng ghép những bài học nhân văn sâu sắc, những câu chuyện đạo đức và rèn cách ứng xử giao tiếp trước các vấn đề của đời sống
Thứ tư, tích hợp sẽ tránh được trùng lặp kiến thức, giảm tải và giúp HS lĩnh hội nhiều kiến thức mới chỉ qua tích hợp mới có được Kiến thức của các bộ môn, các phân môn có nhiều phần trùng lặp bởi vậy DHTH giúp chúng ta giảm tải bớt các kiến thức đó HS còn có cơ hội hiểu thêm về các kiến thức liên môn mà chỉ khi đối sánh các kiến thức khác nhau ta mới có được DHTH cũng giúp phân biệt cái cốt yếu với cái ít quan trọng hơn Cái cốt yếu là những năng lực cơ bản cần cho HS vận dụng vào xử lý những tình huống có ý nghĩa trong cuộc sống hoặc nền tảng cho những quá trình học tập tiếp theo
Ngoài ra, chương trình DHTH có độ phức hợp cao hơn so với chương trình dạy học truyền thống, cho nên một thách thức cũng là một ưu thế là vai trò của GV trở nên năng động và quan trọng hơn Trong dạy học truyền thống, vai trò người GV tương đối đơn giản chủ yếu là soạn giáo án Còn đối với DHTH, vai trò của GV nặng nề hơn rất nhiều vì phải thực hiện nhiều công đoạn, không chỉ soạn giáo án mà còn phải thiết kế nội dung dạy học như thế nào để tạo sự liên kết các môn học một cách phù hợp theo nhu cầu của HS Vì vậy trong DHTH cả HS và GV đều là những chủ thể hoạt động tích cực
Như vậy có thể thấy rằng DHTH có ý nghĩa quan trọng trong việc mang lại những giờ học thú vị bổ ích: tạo tính mở, tính liên kết trong nội dung dạy học, nâng cao hứng thú và hình thành cho HS những năng lực cơ bản cần thiết nhất cho cuộc sống Đó là một hướng đi đầy triển vọng hứa hẹn việc mang lại một diện mạo mới góp phần đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục nước nhà
1.1.2.3 Mức độ tích hợp
Tác giả Nguyễn Thị Kim Dung trong tham luận “Dạy học tích hợp trong chương trình giáo dục phổ thông” [24] nhận định: Nhiều nhà khoa học đã phân chia các mức độ tích hợp theo thang tăng dần như sơ đồ dưới đây:
Trang 29Hình 0.1: Mô hình các mức độ tích hợp
- Truyền thống: Từng môn học được giảng dạy, xem xét riêng rẽ, biệt lập,
không có bất kì sự liên hệ, kết nối nào; các vấn đề được giải quyết chỉ trên cơ sở những kiến thức, kỹ năng của chính lĩnh vực bộ môn đó
- Lồng ghép: Tích hợp nội dung nào đó không có trong chương trình vào các
môn học trong chương trình đã có sẵn Ví dụ, kết hợp, lồng ghép các chủ đề về dân
số, môi trường, an toàn giao thông, sức khỏe sinh sản, kỹ năng sống vào các lĩnh vực môn học như Địa lý, Sinh học, GD đạo đức và công dân
- Tích hợp đơn môn: Tích hợp trong nội bộ môn học Tích hợp những nội
dung của các phân môn, các lĩnh vực nội dung thuộc cùng một môn học theo những chủ đề, chương, bài cụ thể nhất định Có thể xây dựng chương trình học tập theo hệ thống nội dung của mỗi môn học riêng biệt Các môn học được tiếp cận một cách riêng rẽ
Hình 0.2: Mô hình tích hợp đa môn
Trang 30- Đa môn: Ở đây các môn học là riêng biệt nhưng có những liên kết có chủ
đích giữa các môn học và trong từng môn bởi các chủ đề hay các vấn đề chung Một chủ đề trong nội dung học tập có liên quan đến kiến thức, kỹ năng thuộc một số môn học khác nhau Các môn học tiếp tục được tiếp cận một cách riêng rẽ, chỉ phối hợp với nhau ở một số đề tài, nội dung Có thể sơ đồ hóa như sau:
- Liên môn: Các môn học được liên hợp với nhau và giữa chúng có những
chủ đề, vấn đề, những khái niệm lớn và những ý tưởng lớn chung Chương trình liên môn tạo ra những kết nối rõ rệt giữa các môn học Chương trình cũng xoay quanh các chủ đề/vấn đề chung, nhưng các khái niệm hoặc các kỹ năng liên môn được nhấn mạnh giữa các môn chứ không phải trong từng môn riêng biệt Nội dung học tập được thiết kế thành một chuỗi vấn đề, tình huống, đòi hỏi muốn giải quyết HS phải huy động tổng hợp kiến thức, kỹ năng của những môn học khác nhau
Hình 0.3: Mô hình tích hợp liên môn
- Xuyên môn: Cách tiếp cận những vấn đề từ cuộc sống thực và có ý nghĩa đối với
HS mà không xuất phát từ các khoa học tương ứng với môn học, từ đó xây dựng thành các môn học mới khác với môn học truyền thống Nội dung học tập hướng vào phát triển các kỹ năng, năng lực cơ bản mà HS có thể sử dụng vào tất cả các môn học, trong việc giải quyết các tình huống khác nhau
Hình 0.4: Mô hình tích hợp xuyên môn
Trang 31Nhu cầu của xã hội hiện đại đòi hỏi nhà trường phải hướng tới hai quan điểm liên môn và xuyên môn trong dạy học
Theo Xavier Roegiers, có 4 cách tích hợp môn học:
Cách 1: Những ứng dụng chung cho nhiều môn học được thực hiện ở cuối năm học hay cuối cấp học Ví dụ các môn khoa học xã hội Văn - Sử - Địa vẫn được dạy riêng rẽ nhưng vào cuối năm học hay cuối cấp học có những chương/ phần nói
về những vấn đề chung của các môn học xã hội như “Tìm hiểu văn hóa địa phương”,
HS được đánh giá bằng một bài thi kiến thức tổng hợp
Cách 2: Đưa ra những ứng dụng chung cho nhiều môn học được thực hiện ở những thời điểm đều đặn trong năm học Ví dụ: Các môn Lý, Hóa, Sinh vẫn được giảng dạy riêng rẽ do từng GV đảm nhận Tuy nhiên, các nhà giáo dục sẽ bố trí xen một số chương trình tích hợp liên môn vào chỗ thích hợp để HS quen với việc sử dụng kiến thức của những môn học gần gũi nhau
Cách 3: Phối hợp quá trình học tập của nhiều môn học khác nhau bằng những
đề tài tích hợp Cách này áp dụng cho các môn học gần nhau về bản chất, mục tiêu hoặc những môn đóng góp, bổ sung cho nhau, thường dựa vào các môn học công cụ Cách tích hợp này có giá trị chủ yếu ở Tiểu học, ở đó, những vấn đề cần xử lý là những vấn đề đơn giản, có giới hạn Ví dụ: Bài Tập đọc tích hợp các kiến thức về lịch sử, địa lý, khoa học, văn học, giáo dục nhân cách trong chương trình Tiểu học hoặc đề tài “Bảo vệ hành tinh xanh” kết hợp kiến thức Sinh - Hóa - Văn - Giáo dục công dân ở cấp trung học
Cách 4: Phối hợp quá trình học tập những môn học khác nhau bằng các tình huống tích hợp, xoay quanh những mục tiêu chung cho một nhóm môn, tạo thành môn học tích hợp Cách tích hợp này được tiến hành trên cơ sở đề xuất các mục tiêu chung cho nhiều môn học Những mục tiêu này gọi là mục tiêu tích hợp Ví dụ: Môn Khoa học tự nhiên và xã hội tích hợp các kiến thức về con người và sức khỏe, gia đình và nhà trường với môi trường xã hội
Nói tóm lại, DHTH là một khái niệm còn tương đối mới, đang được cụ thể hóa ở nhiều cấp độ khác nhau trong các chương trình giáo dục Tùy theo vấn đề, nội
Trang 32dung cũng như nhu cầu thực tế và trình độ của GV mà mức độ tích hợp trong giảng dạy là khác nhau Có những nội dung chỉ tích hợp trong một môn học như dạy học theo chủ đề; có những nội dung được tích hợp đa môn hoặc xuyên môn như dạy học theo dự án chẳng hạn Tích hợp như thế nào trong chương trình để tránh sự lồng ghép "cơ học", để tiếp cận vấn đề được tự nhiên đòi hỏi phải có sự nghiên cứu công phu và khoa học
1.1.2.4 Những nguyên tắc lựa chọn nội dung tích hợp ở nhà trường phổ thông
Theo Tài liệu tập huấn Dạy học tích hợp ở Trường Trung học cơ sở, Trung
học phổ thông [17], nội dung tích hợp ở nhà trường phổ thông bao gồm những
Như vậy, việc lựa chọn các nội dung các bài học/chủ đề tích hợp phải hướng tới việc phát triển những năng lực cần thiết của người lao động để đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong giai đoạn mới Đó là các năng lực sáng tạo, năng lực giải quyết vấn đề, đặc biệt là năng lực vận dụng những hiểu biết vào việc giải quyết những vấn đề thực tiễn của cuộc sống; năng lực quản lý bản thân; năng lực hợp tác; năng lực giao tiếp; năng lực sử dụng công nghệ thông tin và truyền thông; năng lực
Trang 33của người học, đáp ứng được những thay đổi của xã hội trong giai đoạn toàn cầu hóa, tạo điều kiện cho người học vừa thích ứng được với cuộc sống đầy biến động vừa có khả năng, nhạy bén thu nhận kiến thức và học tập suốt đời trên cơ sở nền tảng của giáo dục phổ thông
- Đảm bảo tính khoa học và tiếp cận những thành tựu của khoa học kĩ thuật, đồng thời vừa sức với HS
Xã hội hiện đại là một xã hội đầy biến động, phát triển nhanh chóng và luôn luôn thay đổi Việc xây dựng các bài học/chủ đề tích hợp vừa đòi hỏi phải đảm bảo tính khoa học và vừa tiếp cận được những thành tựu mới của khoa học kĩ thuật nhưng phải phù hợp với khả năng nhận thức của HS cũng như kế hoạch dạy học Để làm được điều này, các bài học/chủ đề tích hợp cần phải tinh giản những kiến thức hàn lâm, tăng cường những kiến thức thực tiễn, tạo điều kiện để HS được trải nghiệm, khám phá tri thức
- Đảm bảo tính giáo dục và giáo dục phát triển bền vững
Nội dung các bài học/chủ đề tích hợp được lựa chọn cần góp phần hình thành, bồi dưỡng cho HS không chỉ nhận thức về thế giới mà còn thể hiện thái độ với thế giới; bồi dưỡng những phẩm chất của người công dân trong thời đại mới: lòng yêu quê hương, đất nước; trách nhiệm đối với gia đình, xã hội; hợp tác, đoàn kết và bình đẳng; tôn trọng và tuân thủ pháp luật; học tập và tôn trọng các nền văn hóa và tôn trọng các dân tộc trên thế giới,…
- Tăng tính hành dụng, tính thực tiễn; quan tâm tới những vấn đề mang tính
xã hội của địa phương
Mọi khoa học đều là kết quả nhận thức của con người trong quá trình hoạt động thực tiễn Vì thế, những nội dung các bài học/chủ đề tích hợp lựa chọn cần tăng cường tính hành dụng, tính thực tiễn nhằm rèn luyện cho HS kỹ năng vận dụng tri thức vào việc tìm hiểu và giải quyết ở mức độ nhất định một số vấn đề của thực tiễn, góp phần đáp ứng những đòi hỏi của cuộc sống
Trang 34Cần quan tâm đến những vấn đề mang tính xã hội của địa phương nhằm giúp
HS có những hiểu biết nhất định về nơi các em đang sinh sống, từ đó chuẩn bị cho
HS tâm thế sẵn sàng tham gia vào hoạt động kinh tế - xã hội của địa phương
- Việc xây dựng các bài học/chủ đề tích hợp dựa trên chương trình hiện hành Các bài học/chủ đề tích hợp được xác định dựa vào những nội dung giao nhau của các môn học hiện hành và những vấn đề cần giáo dục mang tính quốc tế, quốc gia và có ý nghĩa đối với cuộc sống của HS
Các bài học/chủ đề tích hợp không chỉ được thực hiện giữa các môn học, giữa các nội dung có những điểm tương đồng mà còn được thực hiện giữa các môn, giữa các nội dung khác nhau nhưng bổ trợ cho nhau
1.1.2.5 Quy trình xây dựng bài học tích hợp
Theo Tài liệu tập huấn Dạy học tích hợp ở Trường Trung học cơ sở, Trung
học phổ thông [17] quy trình xây dựng bài học tích hợp bao gồm 6 bước như sau:
Bước 1: Rà soát chương trình, SGK để tìm ra các nội dung dạy học gần giống nhau có liên quan chặt chẽ với nhau trong các môn học của chương trình, SGK hiện hành; những nội dung liên quan đến vấn đề thời sự của địa phương, đất nước để xây dựng bài học thích hợp
Bước 2: Xác định bài học tích hợp, bao gồm tên bài học và thuộc lĩnh vực Khoa học Tự nhiên và Công nghệ hay lĩnh vực Khoa học Xã hội và Nhân văn, đóng góp của các môn vào bài học
Bước 3: Dự kiến thời gian (bao nhiêu tiết) cho bài học tích hợp
Bước 4: Xác định mục tiêu của bài học tích hợp, bao gồm: kiến thức, kỹ năng, thái độ, định hướng năng lực thực hành
Bước 5: Xây dựng nội dung của bài học tích hợp Căn cứ vào thời gian dự kiến, mục tiêu, thậm chí cả đặc điểm tâm, sinh lí và yếu tố vùng miền để xây dựng nội dung cho phù hợp
Bước 6: Xây dựng kế hoạch bài học tích hợp (chú ý tới các phương pháp dạy học nhằm phát huy tính tích cực của người học)
Trang 351.1.2.6 Cấu trúc bài học tích hợp
Theo Tài liệu tập huấn Dạy học tích hợp ở Trường Trung học cơ sở, Trung
học phổ thông [17] cấu trúc bài học tích hợp nhƣ sau:
1.2 Tích hợp trong môn Ngữ văn THCS
1.2.1 Tích hợp trong chương trình và SGK Ngữ văn THCS
Trang 36Chương trình và SGK và Ngữ văn THCS hiện hành, đã có bước tiến quan trọng so với chương trình và SGK trước đây cả về tính khoa học, tính tích hợp và tạo điều kiện thuận lợi cho việc đổi mới phương pháp dạy học
Sự liên thông và tính chỉnh thể trong phân môn Tiếng Việt và Ngữ văn, sự tích hợp giữa các phân môn Ngữ văn và với những môn học khác đã được chương trình và SGK tính đến
Chương trình và SGK Ngữ văn hiện hành đã chú trọng kết hợp việc cung cấp
lý thuyết với thực hành Khả năng ứng dụng các kiến thức lý thuyết về Tiếng Việt,
về Văn học vào thực tiễn sử dụng ngôn ngữ trong đời sống cũng như trong phân tích, bình giảng các tác phẩm văn học, về cơ bản đã được quan tâm nhiều trong quá trình xây dựng chương trình và SGK
1.2.1.1 Tích hợp trong Chương trình
Trong Dự thảo Đề án đổi mới chương trình và SGK giáo dục phổ thông sau
năm 2015 của Bộ Giáo dục và Đào tạo: “Chương trình được thiết kế theo hướng
tăng cường tích hợp ở cấp Tiểu học và cấp Trung học cơ sở, phân hóa rõ dần từ cấp Tiểu học đến cấp Trung học cơ sở và sâu hơn ở cấp Trung học phổ thông Giảm số lượng môn học bắt buộc trong mỗi cấp học, lớp học và tăng các môn học, các chuyên đề học tập tự chọn đáp ứng nhu cầu phát triển năng lực, kỹ năng, năng khiếu, tiếp cận nghề nghiệp của HS”
Chương trình Ngữ văn THCS đã khẳng định “lấy quan điểm tích hợp làm nguyên tắc chỉ đạo tổ chức nội dung chương trình, biên soạn SGK và lựa chọn các phương pháp giảng dạy”
Chương trình Ngữ văn THCS được xây dựng trên tinh thần đổi mới rõ nét cả
về nội dung và phương pháp theo quan điểm DHTH Nguyên tắc tích hợp này thể hiện rõ trong phân phối chương trình dạy học bộ môn Về khung phân phối chương trình trong đó mỗi tuần đều phân bố xen kẽ ba phần Văn học - Tiếng Việt - Làm văn
- Chương trình Ngữ văn được kết cấu theo hai quan hệ là hàng ngang và đồng tâm
Trang 37+ Quan hệ hàng ngang: khi dạy một kiểu văn bản thì tất cả các phân môn đều lựa chọn sao cho tương ứng với kiểu văn bản đó Các phân môn trong bài được sắp xếp từ Đọc- hiểu văn bản qua Tiếng Việt đến Tập làm văn Điều ấy có nghĩa là Tập làm văn là phân môn có tính tổng hợp thực hành, chuyển kỹ năng nghe - đọc - hiểu văn bản (lĩnh hội văn bản) đến kỹ năng nói - viết văn bản cùng kiểu (tạo lập văn bản)
ở phân môn Tập làm văn là sự tích hợp đồng quy năng lực đọc - nghe - nói - viết của
HS về một kiểu văn bản, chính đó là mục tiêu của bài học
+ Quan hệ đồng tâm: Chương trình chia việc giảng dạy môn Ngữ văn thành hai vòng: vòng 1: Lớp 6 -7 và vòng 2: Lớp 8 - 9 Ở mỗi vòng, sáu kiểu văn bản (tự
sự, miêu tả, thuyết minh, nghị luận, biểu cảm, hành chính - công vụ) được dạy Tuy nhiên ở vòng 2, mặc dù là những kiểu văn bản ấy nhưng được học với yêu cầu khó hơn, phức tạp hơn
- Việc xây dựng chương trình môn Ngữ văn theo quan điểm tích hợp được thể hiện ở 4 điểm sau:
+ Môn học chương trình xây dựng được gọi là Ngữ văn;
+ Môn Ngữ văn đồng thời hình thành cho HS 4 kỹ năng: nghe, nói, đọc, viết; + Ba phân môn và 4 kỹ năng được dạy học từ một văn bản;
+ Đảm bảo tính thống nhất cao giữa ba phân môn
- Trục tích hợp của môn Ngữ văn: Chương trình Ngữ văn mới lấy 6 kiểu văn bản làm trục đồng quy gồm: tự sự, miêu tả, thuyết minh, nghị luận, biểu cảm, hành chính - công vụ Trong việc phối hợp nội dung dạy học của 3 phân môn, Tiếng Việt
và Văn học chọn nội dung dạy học sao cho có thể phục vụ tốt nhất cho các kiểu văn bản đó
Chương trình môn Ngữ văn THCS có nội dung sát với thực tiễn Việt Nam, thể hiện được tính cập nhật và hiện đại, với nội dung kiến thức phong phú và đa dạng phù hợp với trình độ nhận thức của HS từ lớp 6 đến lớp 9 Với yêu cầu về kiến thức, kỹ năng, thái độ phù hợp với trình độ phát triển của HS; Chương trình đã chú trọng tới sự cân đối giữa lý thuyết và bài tập thực hành đảm bảo chú trọng tới 4 kỹ năng: Nghe, nói, đọc, viết của HS, từ đó phát huy được kỹ năng chủ động, sáng tạo
Trang 38của bản thân; Nội dung chương trình đa dạng các thể loại và được sắp xếp hợp lí theo kiểu đồng tâm, vòng tròn xoáy trôn ốc theo mức độ tăng dần, đi từ nhận thức lí tính đến việc phát triển năng lực tư duy cho HS Trong chương trình, từng phân môn Văn, Tiếng Việt, Làm văn phân chia khá rõ, nhưng lại có tính tích hợp cao, thể hiện tính hiện đại, cập nhật kiến thức sát thực tiễn Việt Nam, đảm bảo các yêu cầu về kiến thức, kỹ năng, thái độ phù hợp với trình độ phát triển của HS, theo độ tuổi, vùng miền, sắp xếp và phát triển hợp lí các mạch kiến thức, có sự cân đối giữa lý thuyết với thực hành, phù hợp với định hướng đổi mới phương pháp dạy học
Ở tất cả các bài học, tiết 1 thường là tiết tìm hiểu văn bản, tiết 2 là tiết tiếng Việt, tiết 3 là tiết làm tập làm văn Cách sắp xếp đó đều có dụng ý Đó là tạo điều kiện để phần tiếng Việt có thể phục vụ việc học văn học và tập làm văn Việc dạy tiếng Việt gắn với văn bản vừa làm HS hiểu văn bản một cách sâu sắc, vừa làm cho bản thân việc dạy tiếng Việt bớt khô khan, nặng nề, đồng thời giúp cho HS có thể hình thành kỹ năng tạo lập các loại văn bản.Tính tích hợp ngang này được thể hiện rất rõ qua hệ thống câu hỏi trong các tiết học
Ở ba cấp học: Tiểu học, THCS, THPT đều có đầy đủ cả ba phân môn và đều được xây dựng theo nguyên tắc tích hợp, nhưng có sự khác nhau ở mức độ tuỳ theo yêu cầu phân loại của từng cấp học Ở cấp Tiểu học, HS tập trung học Tiếng Việt là chủ yếu còn văn học là ngữ liệu để dạy tiếng, cho nên mục đích tích hợp dựa trên bốn kỹ năng cơ bản: Nghe, nói, đọc, viết Sang cấp THCS, chương trình được nâng cao hơn là các kiểu văn bản, văn bản tự sự, văn bản miêu tả, văn bản biểu cảm, văn bản lập luận, văn bản thuyết minh, văn bản nhật dụng
1.2.1.2 Tích hợp trong SGK
Nét cải tiến nổi bật nhất của Chương trình và SGK môn Ngữ văn là hướng tích hợp Biểu hiện rõ nhất của hướng đó là việc sáp nhập ba phần lâu nay vẫn thường được gọi là ba phân môn (Văn, Tiếng Việt, Tập làm văn) vào một chỉnh thể
là Ngữ văn và do đó, từ chỗ có ba bộ sách Văn, Tiếng Việt, Tập làm văn, nay chỉ còn một bộ sách duy nhất là Ngữ văn Quan điểm tích hợp trong SGK Ngữ văn THCS trước tiên được thể hiện ở cấu trúc bài học, bài học nào cũng gồm có phần Văn, Tiếng Việt, Tập làm văn được học trong một tuần Bài học nào cũng mở đầu
Trang 39bằng một văn bản, sau khi khai thác văn bản, là giờ học Tiếng Việt và Làm văn Ranh giới giữa Văn học, Tiếng Việt và Tập làm văn trong một tuần không phải là ranh giới giữa các bài học mà chỉ là giữa các phần trong một bài học
Theo quan điểm tích hợp, vì hệ thống văn bản sẽ được dùng chung cho cả ba phân môn nên số lượng tác phẩm đưa vào SGK Ngữ văn ít hơn SGK chỉnh lí trước đây, nhưng HS được học và khai thác sâu hơn
Các văn bản SGK Ngữ văn THCS được tăng cường thêm chú thích, đó là cơ
sở để HS hiểu sâu về nội dung của văn bản Phần chú thích trong SGK tích hợp là mục không thể thiếu và nó đã có ở hầu hết các bài Đặc biệt các chú thích thể hiện được mối quan hệ giữa nội dung chú thích với nội dung được dạy ở phần Tiếng Việt (nhất là dạy về từ) trong phạm vi mà bản thân việc tích hợp vừa cho phép, vừa đòi hỏi
SGK Ngữ văn THCS luôn chú ý và đặt mục Kết quả cần đạt ở đầu mỗi bài học Phần này bao gồm kết quả cần đạt của cả ba phân môn, dựa vào đó GV có định hướng trong từng phân môn nội dung nào sẽ được tích hợp Mục này còn có thêm tác dụng định hướng về mục đích yêu cầu của tiết học, bài học cho HS Mục Ghi nhớ cho mỗi phần được khái quát bằng những từ, câu văn ngắn gọn, dễ hiểu để một lần nữa khắc sâu trọng tâm bài học
Quan điểm tích hợp còn được thể hiện qua hệ thống các câu hỏi sử dụng kiến thức của Tiếng Việt, Tập làm văn để nâng cao chất lượng hiểu văn trong tác phẩm
Quan điểm tích hợp đã mang lại cho SGK Ngữ văn THCS bộ mặt mới từ hình thức đến nội dung Làm cho bộ môn Văn học ngày nào trở nên gọn gàng, thiết thực
và phù hợp với nhu cầu cải cách giáo dục hiện nay Đó cũng là động lực thúc đẩy đổi mới phương pháp dạy học, đồng thời gây sự chú ý, quan tâm của người dạy lẫn người học
1.2.2 Tích hợp trong dạy học Ngữ văn THCS
Tích hợp trong dạy học Ngữ văn được hiểu một cách đơn giản là cách thức để khắc phục lối dạy học khép kín trong nội bộ phân môn Tức là dạy học ba phần Văn học - Tiếng Việt - Làm văn hợp nhất, hòa trộn trong nhau, học cái này thông qua cái
Trang 40kia và ngược lại Mỗi phần là sự soi sáng và quy tụ lẫn nhau Có thể xem tác phẩm văn học là văn bản sáng tạo, Tiếng Việt là văn bản khai thác, còn Làm văn là văn bản luyện tập kỹ năng trong quá trình tích hợp Văn bản của ba phần trong môn Ngữ văn đều chứa đựng những mức độ khác nhau của tính khoa học, tính nghệ thuật, tính
xã hội và tính sáng tạo của nó Ba phần Văn học - Tiếng Việt - Làm văn gắn bó với nhau một cách hữu cơ để tạo nên một chỉnh thể thống nhất là bộ môn Ngữ văn Với đặc trưng của mình, môn Ngữ văn cho phép thực hiện tích hợp như một yêu cầu tự thân Bởi tác phẩm văn học vẫn luôn được coi là nghệ thuật của ngôn từ, việc tiếp nhận văn bản văn học trước tiên là tiếp xúc với phương tiện biểu đạt ngôn ngữ Mặt khác, việc tạo lập các văn bản thông dụng trong nhà trường và xã hội đều sử dụng ngôn ngữ làm công cụ Như vậy, cả ba nội dung trong Văn học, Tiếng Việt, Làm văn đều có điểm đồng quy là Tiếng Việt và đều có mục đích hình thành cho HS năng lực
sử dụng tiếng Việt trong quá trình tiếp nhận và tạo lập văn bản Tính trung gian của môn Tiếng Việt thể hiện rõ nhất trong quá trình tích hợp Văn học và Làm văn Tính trung gian của các văn bản nghệ thuật được thể hiện ở chỗ đó vừa là ngữ liệu cho dạy học Tiếng Việt, vừa là những dẫn chứng minh họa cho Làm văn Đối với phần Làm văn, tính trung gian của nó được tìm thấy ở chỗ đây là văn bản thể hiện mức độ tiếp nhận nội dung tri thức, năng lực sử dụng ngôn ngữ, sự sáng tạo, tư duy và năng khiếu văn chương của HS
Có thể thấy trong môn Ngữ văn, tích hợp trong nội bộ môn học là một sự tích hợp tất yếu diễn ra thường xuyên Đây là nội dung tích hợp quan trọng có thể tìm kiếm và nhìn thấy kết quả ngay trong từng thời điểm (tiết học, bài học) Tích hợp các phần trong môn Ngữ văn đòi hỏi sự công phu, trình độ và sự sáng tạo của của GV với cả ba phần của môn học
Ngoài tích hợp trong môn học, tích hợp trong dạy học Ngữ văn còn được thể hiện trong mối quan hệ mật thiết giữa môn học này với các môn học khác Có thể thấy mối quan hệ gần gũi về mặt nội dung kiến thức giữa môn Ngữ văn với các môn Lịch sử, Địa lý, Giáo dục công dân Ngoài ra Ngữ văn còn là công cụ để diễn đạt ý tưởng cho mọi lĩnh vực khoa học, ngược lại các lĩnh vực khoa học khác nhau cũng làm phong phú thêm năng lực diễn đạt ngôn ngữ