1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Dạy học dự án văn bản thông tin trong chương trình ngữ văn trung học cơ sở tại các trường song ngữ quốc tế trên địa bàn hà nội

101 27 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 101
Dung lượng 1,63 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC NGUYỄN THỊ KIỀU HOA DẠY HỌC DỰ ÁN VĂN BẢN THÔNG TIN TRONG CHƯƠNG TRÌNH NGỮ VĂN TRUNG HỌC CƠ SỞ TẠI CÁC TRƯỜNG SONG NGỮ QUỐC TẾ TRÊN ĐỊA

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC

NGUYỄN THỊ KIỀU HOA

DẠY HỌC DỰ ÁN VĂN BẢN THÔNG TIN TRONG CHƯƠNG TRÌNH NGỮ VĂN TRUNG HỌC CƠ SỞ TẠI CÁC TRƯỜNG SONG NGỮ

QUỐC TẾ TRÊN ĐỊA BÀN HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ SƯ PHẠM NGỮ VĂN

HÀ NỘI – 2018

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC

NGUYỄN THỊ KIỀU HOA

DẠY HỌC DỰ ÁN VĂN BẢN THÔNG TIN TRONG CHƯƠNG TRÌNH NGỮ VĂN TRUNG HỌC CƠ SỞ TẠI CÁC TRƯỜNG SONG NGỮ

QUỐC TẾ TRÊN ĐỊA BÀN HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ SƯ PHẠM NGỮ VĂN CHUYÊN NGÀNH: LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC

BỘ MÔN NGỮ VĂN

Mã số: 8.14.01.11

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Trần Khánh Thành

HÀ NỘI – 2018

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Lời đầu của Luận văn tôi xin bày tỏ lòng biết ơn và sự kính trọng sâu sắc tới PGS.TS Trần Khánh Thành, người đã hướng dẫn tận tình cho tôi trong suốt thời gian học tập, nghiên cứu và hoàn thành Luận văn này

Tôi cũng gửi lời cảm ơn tới Ban giám hiệu, các Thầy, Cô giáo của

khoa Sư phạm, Trường Đại học Giáo dục - Đại học Quốc gia Hà Nội đã tạo

điều kiện thuận lợi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu của tôi, đồng thời cung cấp cho tôi những kiến thức khoa học vững chắc

Cuối cùng tôi xin gửi lời cảm ơn tới gia đình và bạn bè, đồng nghiệp cùng những người đã động viên tôi trong suốt thời gian làm Luận văn này

Luận văn cũng là kết quả của quá trình học tập và sự nỗ lực của bản thân tôi, tuy nhiên không tránh khỏi những thiếu sót Tôi mong sẽ nhận được những đóng góp của thầy cô và bạn bè để hoàn thiện hơn Luận văn của mình

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, ngày 25 tháng 11 năm 2018

Tác giả luận văn

Nguyễn Thị Kiều Hoa

Trang 5

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 1.1 So sánh phương pháp dạy học truyền thống và dạy học dự án …10 Bảng 1.2 Hệ thống văn bản nhật dụng trong chương trình Ngữ văn

Trung học cơ sở……… ….…20 Bảng 2.1 Quy trình dạy học dự án văn bản thông tin trong chương trình Ngữ văn Trung học cơ sở………45 Bảng 3.1 Điểm trung bình và độ tin cậy của bài kiểm tra……… …70 Bảng 3.2 Ý kiến phản hồi của học sinh về các nội dung kiến thức

giáo viên cung cấp……… …………72 Bảng 3.3 Ý kiến phản hồi của học sinh về các phương pháp dạy học

giáo viên sử dụng………73 Bảng 3.4 Ý kiến phản hồi của học sinh về hình thức, phương pháp

kiểm tra đánh giá trong giờ học……… 73

Trang 6

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ

Biểu đồ 2.1 Đánh giá vai trò của Văn bản thông tin trong chương trình

Ngữ văn Trung học cơ sở………29 Biểu đồ 2.2 Phương pháp dạy học văn bản thông tin trong chương trình Ngữ văn Trung học cơ sở………30 Biểu đồ 2.3 Mức độ cần thiết của dạy học dự án văn bản thông tin trong chương trình Ngữ văn Trung học cơ sở……… ……31 Biểu đồ 2.4 Mức độ vận dụng dạy học dự án văn bản thông tin trong

chương trình Ngữ văn Trung học cơ sở……… …32 Biểu đồ 2.5 Nội dung môn văn được học theo dự án………34 Biểu đồ 2.6 Mức độ hứng thú của học sinh khi học văn bản thông tin

theo phương pháp dạy học Truyền thống………35 Biểu đồ 2.7 Mức độ mong muốn học tập theo dự án văn bản thông tin……36 Biểu đồ 2.8 Mức độ hứng thú của học sinh khi học văn bản thông tin theo

dự án………37 Biểu đồ 3.1 So sánh kết quả kiểm tra hai lớp 8Leo và 8Aquila (%)……… 70

Trang 7

DANH MỤC CÁC HÌNH

Hình 3.1 Bài viết “Từ dạy học dự án đến việc phát triển văn hóa đọc” đăng trên website trường Trung học cơ sở Hanoi Academy………76 Hình 3.2 Sản phẩm âm nhạc “Hạt giống tâm hồn” ………78 Hình 3.3 Chia sẻ của chị Hồ Phương Hiền, phụ huynh học sinh của con Trần Kiến Quốc, lớp 8Lion, trường Trung học cơ sở Hanoi Academy

về sản phẩm âm nhạc “Hạt giống tâm hồn” ………79 Hình 3.4 Chia sẻ của chị Phạm Thị Vân Khánh, phụ huynh học sinh của con Vũ Quang Anh, lớp 8Lion, trường Trung học cơ sở Hanoi Academy

về sản phẩm âm nhạc “Hạt giống tâm hồn” ………80 Hình 3.5 Chia sẻ của một số thầy cô giáo trên mạng xã hội về sản phẩm

âm nhạc “Hạt giống tâm hồn” ……….81

Trang 8

MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN……… ……… … i

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT……… ….………….…… ii

DANH MỤC CÁC BẢNG……… … iii

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ……… iv

DANH MỤC CÁC HÌNH………….……… … v

MỤC LỤC……… ….… …vi

MỞ ĐẦU 1

1 Lí do chọn đề tài 1

2 Lịch sử vấn đề 3

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 6

3.1 Mục đích 6

3.2 Nhiệm vụ 6

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 6

4.1 Đối tượng 6

4.2 Phạm vi nghiên cứu 6

5 Phương pháp nghiên cứu 7

6 Cấu trúc luận văn 7

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 8

1.1 Lý thuyết dạy học dự án 8

1.1.1 Khái niệm dự án và dạy học dự án 8

1.1.2 Đặc điểm của dạy học dự án 10

1.1.3 Những ưu điểm, hạn chế và thách thức của dạy học dự án 12

1.2 Lý thuyết về văn bản thông tin 16

1.2.1 Khái niệm và đặc điểm của văn bản thông tin nói chung 16 1.2.2 Khái niệm và đặc điểm của văn bản thông tin trong chương trình Ngữ

văn Trung học cơ sở

Trang 9

16

1.2.3 Sự cần thiết của việc dạy học văn bản thông tin trong chương trình Ngữ văn Trung học cơ sở 20

CHƯƠNG 2 QUY TRÌNH DẠY HỌC DỰ ÁN VĂN BẢN THÔNG TIN TRONG CHƯƠNG TRÌNH NGỮ VĂN TRUNG HỌC CƠ SỞ 26

2.1 Những tiền đề để xây dựng quy trình dạy học dự án văn bản thông tin trong chương trình Ngữ văn Trung học cơ sở 26

2.1.1 Phân tích nội dung, cấu trúc phần văn bản thông tin trong chương trình Ngữ văn Trung học cơ sở 26

2.1.2 Khảo sát việc vận dụng phương pháp dạy học dự án trong dạy học văn bản thông tin tại các trường song ngữ Quốc tế trên địa bàn Hà Nội 27

2.1.3 Phân tích nguyên nhân của những mặt tồn tại, hạn chế 38

2.1.4 Khả năng vận dụng dạy học dự án trong dạy học văn bản thông tin tại các trường song ngữ Quốc tế trên địa bàn Hà Nội 42

2.2 Đề xuất quy trình dạy học dự án văn bản thông tin trong chương trình Ngữ văn Trung học cơ sở 45

2.3 Một số lưu ý khi áp dụng dạy học theo dự án 51

2.4 Đánh giá một dự án học tập tốt 53

CHƯƠNG 3 THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 56

3.1 Mục đích, đối tượng, thời gian và nội dung thực nghiệm 56

3.1.1 Mục đích thực nghiệm 56

3.1.2 Đối tượng và thời gian thực nghiệm 56

3.1.3 Nội dung thực nghiệm 58

3.2 Cách thức thực nghiệm 63

3.2.1 Thiết kế giáo án thực nghiệm 63

3.2.2 Cách đánh giá thực nghiệm 68

3.3 Kết quả thực nghiệm 69

3.3.1 Đánh giá của giáo viên quan sát, tham dự giờ học 69

Trang 10

3.3.2 Đánh giá qua kết quả bài kiểm tra nhanh 70

3.3.3 Đánh giá qua ý kiến phản hồi của học sinh 72

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 84

1 Kết luận 84

2 Khuyến nghị 85

TÀI LIỆU THAM KHẢO 89

PHỤ LỤC

Trang 11

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Cùng với sự phát triển của công nghệ thông tin và xu thế toàn cầu hóa, tri thức cũng liên tục cập nhật, mở rộng Điều đó đặt ra một thách thức lớn cho nền giáo dục Việt Nam Nếu như trước đây, giáo dục chú trọng việc thiết lập hệ thống kiến thức “khổng lồ” cho người học, thì ngày nay, giáo dục cần giúp người học hình thành được các năng lực để đáp ứng được yêu cầu “bùng nổ” của tri thức Chính vì vậy, rèn luyện phương pháp học tập ngày càng có ý nghĩa quan trọng trong việc chuẩn bị cho con người có khả năng học tập suốt đời Trong bối cảnh đó, dạy học theo định hướng tiếp cận năng lực của người học là một trong những quan điểm sư phạm tích cực, tiến bộ và bắt kịp với quan điểm giáo dục của các nước trên thế giới Đồng thời, điều này cũng phù hợp với tiến trình đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo của nước ta trong nhiều năm gần đây

Ra đời trong bối cảnh trên thế giới đã có nhiều nước xây dựng chương trình theo định hướng phát triển năng lực, chương trình giáo dục của Việt Nam từ năm 2006 đến nay đã có sự tiếp thu và thể hiện khá rõ quan điểm hình thành và phát triển năng lực của người học trong việc xác định mục tiêu của chương trình, xây dựng bài học theo sự tích hợp các nội dung, tăng cường các nội dung gắn với thực tế cuộc sống Tuy nhiên về căn bản, nền giáo dục của nước ta từ trước tới nay chủ yếu vẫn theo tiếp cận nội dung

Hệ lụy của hệ thống giáo dục này là người học không phát huy được tính sáng tạo do chỉ làm theo hướng dẫn của thầy, thiếu khả năng suy nghĩ độc lập và giải quyết các vấn đề thực tiễn, không có khả năng tự học và thói quen tự tìm tri thức để học, thiếu kỹ năng làm việc nhóm

Phương pháp dạy học (PPDH) mang tính thụ động và ít chú ý đến khả năng ứng dụng nên sản phẩm giáo dục là những con người thiếu năng động và khả năng sáng tạo hạn chế, không đáp ứng được yêu cầu ngày càng cao của

Trang 12

xã hội và thị trường lao động đối với người lao động về năng lực hành động Đặc biệt, phương pháp dạy Ngữ văn chủ đạo vẫn là thuyết trình và vấn đáp Nhiều năm gần đây giáo viên (GV) tập trung vào định hướng nội dung để học sinh (HS) thuyết trình về bài học, phát huy khả năng làm việc nhóm và giải quyết các nhiệm vụ học tập theo sự phân công của giáo viên Tuy nhiên, thuyết trình vẫn chỉ là cấp độ thấp nhất sau hùng biện và tranh biện Học sinh thuyết trình tốt nhưng vẫn chỉ dừng lại ở việc thụ động tìm hiểu một vấn đề đã được giáo viên định hướng sẵn Học sinh chưa thực sự chủ động tìm kiếm cách giải quyết vấn đề để thuyết phục người khác tin theo quan điểm, sự tìm hiểu của mình, chưa có sự kết nối, trao đổi với học sinh khác thông qua hoạt động tranh biện Chưa kể đến các trường hợp khi được giao nhiệm vụ học tập

về nhà, nhóm học sinh thuyết trình không chủ động trong việc phân công nhiệm vụ để đảm bảo tất cả các thành viên tham gia tích cực vào kiến thức bài học, hay nói cách khác, vẫn còn xảy ra hiện tượng “gánh team”, sau khi thuyết trình xong nhiều học sinh thậm chí còn không nắm rõ được nội dung thuyết trình của nhóm mình do trong quá trình làm bài tập chỉ nhận nhiệm vụ thiết kế slide, chuẩn bị hình ảnh, poster Có thể thấy, mặc dù trong dạy học văn hiện nay, giáo viên rất chú tâm, ý thức thay đổi các phương pháp dạy và học nhưng vẫn chưa đạt tới hiệu quả tối ưu nhất trong việc hình thành và phát triển năng lực của học sinh

Nhằm hướng tới việc phát triển vai trò trung tâm của học sinh, đã có rất nhiều phương pháp và hình thức dạy học hiện đại được vận dụng vào quá trình dạy học văn ở nước ta và đã tạo nên những chuyển biến tích cực trong việc tạo hứng thú học tập với môn Văn ở học sinh Tuy nhiên, trong phạm vi

luận văn này, chúng tôi chỉ đề cập đến phương pháp Dạy học theo dự án Đây

là một hình thức dạy học đòi hỏi người học thực hiện các nhiệm vụ học tập với tính tự lực cao trong toàn bộ quá trình học tập

Trang 13

Trong phạm vi đề tài Dạy học dự án văn bản thông tin trong chương

trình Ngữ văn Trung học cơ sở tại các trường Song ngữ Quốc tế trên địa bàn Hà Nội, chúng tôi hướng tới việc rèn luyện và phát triển năng lực tư duy

cho người học cũng như rèn luyện những kĩ năng mềm cho học sinh, phần nào khắc phục hạn chế trong việc dạy và học văn hiện nay

2 Lịch sử vấn đề

Dạy học theo dự án (được dịch từ thuật ngữ tiếng Anh là

Project-based-learning) và còn được gọi là Phương pháp PBL, Dạy học dựa trên dự

án, Dạy học tiếp cận dự án Ở luận văn này, chúng tôi dùng thuật ngữ “Dạy học dự án” (và viết tắt là DHDA)

Có nhiều quan điểm khác nhau về sự ra đời của tư tưởng dạy học theo

dự án, tuy vậy có thể nói những mầm mống đầu tiên của tư tưởng dạy học theo dự án đã có trong quan điểm của các nhà giáo dục kinh điển như J.J Rousseau (1712 – 1718), H Pestalozzi (1746 – 1872) và W Humboldt (1767

– 1835), thể hiện ở việc nhấn mạnh đặc biệt ý nghĩa của Tính tự quyết và Sự

tự hoạt động của con người như là cơ sở nền móng của dạy học

Theo quan điểm của K Frey và B.S de Boutemard thì phương pháp dự

án xuất hiện từ thế kỷ XIX Trong khi đó, P Pertersen, C Odenbach đều cho rằng dạy học dự án là sản phẩm tất yếu của những năm đầu thế kỉ khi cải cách giáo dục ở Mỹ trở thành trào lưu

Năm 1918, nhà tâm lý học William H Kilpatric (1871 – 1965) đã viết một bài báo với tiêu đề “Phương pháp dự án” gây tiếng vang trong các cơ sở đào tạo giáo viên cũng như trong các trường đại học (ĐH) Ông cho rằng, dự

án là một hoạt động có ý thức cụ thể, có cam kết với tất cả những người thực hiện và diễn ra trong một môi trường xã hội

Tóm lại, học tập theo dự án đã tạo nên một chuyển động xã hội - giáo dục từ đầu thế kỉ XX ở Bắc Mỹ cũng như ở châu Âu, thay đổi mạnh mẽ trong dạy học nhà trường Nền tảng của chuyển động này là đem đến cho HS sự

Trang 14

tiếp nhận hào hứng kiến thức, sự thay đổi phương pháp học tập với sự tham gia một cách có ý thức nhất, tích cực nhất của HS vào việc thiết lập tri thức

Hiện nay, dạy học dự án ngày càng phát triển nhờ vào sự hỗ trợ của công nghệ thông tin Hằng năm, ở Đức đều có một tuần cuối dành cho việc dạy học dự án, với tên gọi “Tuần lễ dự án cuối năm học” Trong tuần lễ này,

GV và HS tự đề xuất những dự án liên quan đến những kiến thức đã học HS

tự đăng kí tham gia vào những dự án mà họ ưa thích Tổ chức “Trinh sát và Hướng đạo Pháp” (Les Scoutset Guidesde France) đã tiến hành cho trẻ em và thanh niên trên toàn thế giới, không phân biệt quốc tịch, sắc tộc, văn hóa, tôn giáo và hoàn cảnh xã hội cùng thực hiện những dự án học tập với mục đích giáo dục về nhân cách, giới tính, lối sống cộng đồng và sự tôn trọng thiên nhiên “Dự án Cô vit” (CoVis, Collaborataire Visualization) ở Canada cho phép sự hợp tác làm việc qua mạng giữa các HS Ở Mỹ, mô hình học tập theo

dự án được sửa đổi là Web Quest được Bernie Dodge và Tom March thuộc trường Đại học bang San Chiago triển khai vào năm 1995 Một Web Quest là hoạt động yêu cầu một số hoặc tất cả các thông tin mà các học viên tương tác đến từ các nguồn trên Internet Web Quest có thể ngắn hoặc dài từ một số tiết học cho đến một tháng hoặc lâu hơn nữa

Ở Việt Nam, từ năm 2003, chương trình “Dạy học cho tương lai” của

Bộ Giáo dục và Đào tạo đã triển khai phương pháp DHDA tại 20 trường thuộc

9 tỉnh trong cả nước Tiếp cận từ góc độ lý luận, hai tác giả Nguyễn Văn Cường và Nguyễn Thị Diệu Thảo đã có bài viết: “Dạy học dự án – một phương pháp có chức năng kép trong đào tạo giáo viên” đăng trên tạp chí Giáo dục số 90 phát hành tháng 4/2004 Tiếp đó, tại Hội nghị khoa học nữ lần thứ 9, hai tác giả Nguyễn Thị Phương Hoa và Võ Thị Bảo Ngọc đã có bài nghiên cứu

về “Tình hình vận dụng phương pháp Project trong dạy học ở trường Đại học Giáo dục – Đại học Quốc Gia Hà Nội” Trên tạp chí Giáo dục số 155 (kì 1 – 2/2007), Nguyễn Dục Quang có bài viết: “Học để cùng chung sống một con

Trang 15

đường giáo dục nhân cách cho học sinh” cũng đã đề cập đến phương pháp

DHDA với tư cách là một trong năm phương pháp giáo dục “Học để cùng chung sống” Bài viết đã nêu lên một cách ngắn gọn nhất về cách hiểu và tác dụng của DHDA

DHDA trong môn Ngữ văn đã được đề cập đến trong cuốn Công nghệ

dạy học của Phạm Toàn nhưng tác giả chưa làm rõ có thể ứng dụng trong dạy

học Ngữ văn ở trường Trung học cơ sở (THCS) như thế nào Lý thuyết về

DHDA cũng được giới thiệu trong cuốn Tài liệu bồi dưỡng giáo viên thực

hiện chương trình sách giáo khoa (SGK) các năm 2006, 2007, 2008 của Bộ

giáo dục và Đào tạo Đặc biệt, sáng kiến kinh nghiệm của cô giáo Lê Thị Hảo

“Một số phương hướng giảng dạy văn thuyết minh trong chương trình Ngữ

văn 8” (Trường THCS Cây Trường) đã đi sâu phân tích khả năng vận dụng

dạy học theo dự án trong giảng dạy văn bản thuyết minh ở lớp 8

Ở Trường Đại học Giáo dục, từ năm 2010 đến năm 2017 cũng có một

số luận văn nghiên cứu về dạy học dự án như: Tổ chức dạy học dự án phần

văn học nước ngoài ngoài chương trình Ngữ văn 11 trung học phổ thông

(Luận văn Thạc sĩ của Phạm Thị Thúy Chinh, 2010), Tổ chức dạy học dự án

bài “Lời tiễn dặn” chương trình Ngữ văn 10 nâng cao (Luận văn Thạc sĩ của

Cù Thị Ánh Ngọc, 2013), Tổ chức dạy học văn bản thuyết minh (Ngữ văn 8)

theo dự án (Luận văn Thạc sĩ của Đặng Thị Hà, 2015)

Như vậy, đã có không ít công trình nghiên cứu về dạy học dự án Điều

đó cho thấy những ưu điểm của dạy học dự án Tuy nhiên trên thực tế, vấn đề triển khai phương pháp dự án vào dạy học nói chung, môn Ngữ văn nói riêng còn nhiều hạn chế Luận văn của chúng tôi sẽ đi sâu phân tích quy trình thiết

kế, triển khai và thực nghiệm nhằm khẳng định tính khả thi của việc vận dụng

dự án vào dạy học, đặc biệt đối với việc dạy học Văn bản thông tin trong

chương trình Ngữ văn Trung học cơ sở

Trang 16

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích

Dạy học dự án văn bản thông tin trong chương trình THCS nhằm hướng tới mục tiêu:

Khẳng định tính khả thi của việc vận dụng phương pháp dự án trong

dạy học môn Ngữ văn ở trường THCS, đặc biệt đối với Văn bản thông tin

Trên cơ sở đó đề xuất những ý kiến nhằm mở rộng triển khai vận dụng dạy học dự án trong các trường THCS, đặc biệt là các trường Song ngữ Quốc

tế trên địa bàn Hà Nội

3.2 Nhiệm vụ

Hệ thống hóa những vấn đề lý luận liên quan đến đề tài

Tiến hành khảo sát thực trạng sử dụng phương pháp dạy học trong môn Ngữ văn nói chung và dạy Văn bản thông tin nói riêng tại một số trường THCS theo mô hình Song ngữ Quốc tế trên địa bàn Hà Nội: trường THCS Hanoi Academy, trường Wellspring, trường Horizon

Đề xuất một quy trình dạy học dự án cụ thể khi triển khai dạy Văn bản

thông tin trong chương trình ngữ văn THCS

Tiến hành thực nghiệm sư phạm và đánh giá hiệu quả của việc vận

dụng quy trình dạy học dự án Văn bản thông tin tại trường Song ngữ Quốc tế

Hanoi Academy

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng

Quy trình tổ chức và tính hiệu quả trong triển khai dạy học theo dự án

Văn bản thông tin tại trường THCS, đặc biệt là các trường theo mô hình Song

ngữ Quốc tế trên địa bàn Hà Nội

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Tiến hành nghiên cứu đặc điểm chung của Văn bản thông tin Tiếp đó

nghiên cứu các kiểu văn bản thông tin trong chương trình THCS Cụ thể đặt

Trang 17

kiểu văn bản này trong hệ thống các bài học thuộc chương trình Ngữ văn lớp

8 Từ đó, đề xuất xây dựng quy trình tổ chức dạy học theo phương pháp dự án

Văn bản thông tin cho học sinh lớp 8

Phạm vi điều tra, khảo sát thực trạng được tiến hành tại trường THCS Hanoi Academy (Quận Tây Hồ), Wellspring (Quận Long Biên), Horizon (Quận Tây Hồ)

Phạm vi thực nghiệm: Luận văn tiến hành thực nghiệm tại trường THCS Hanoi Academy

5 Phương pháp nghiên cứu

Để hoàn thành khóa luận này, chúng tôi đã vận dụng một số phương

pháp nghiên cứu khoa học giáo dục như:

Phương pháp phân tích khảo cứu: Các tài liệu về DHDA, các tài liệu

liên quan đến Văn bản thông tin, các tài liệu Giáo dục học, Tâm lý học và

Phương pháp nâng cao chất lượng dạy học Ngữ văn, chương trình Sách giáo khoa Ngữ văn 8

Phương pháp điều tra: Phỏng vấn/phát phiếu điều tra khảo sát giáo

viên và học sinh để đánh giá thực trạng dạy học Ngữ văn, trong đó khảo sát

việc dạy học Văn bản thông tin ở trường THCS hiện nay

Phương pháp thực nghiệm: Triển khai quy trình tổ chức dạy dự án Văn

bản thông tin tại trường THCS Hanoi Academy Từ đó, đối chứng kết quả thực nghiệm sư phạm với nghiên cứu của luận văn

6 Cấu trúc luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, khuyến nghị, tài liệu tham khảo, phụ lục, luận văn gồm 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn

Chương 2: Quy trình dạy học dự án Văn bản thông tin trong chương

trình Ngữ văn Trung học cơ sở

Chương 3: Thực nghiệm sư phạm

Trang 18

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI

1.1 Lý thuyết dạy học dự án

1.1.1 Khái niệm dự án và dạy học dự án

Thuật ngữ dự án, tiếng Anh là “Project”, nghĩa là một kế hoạch, một dự thảo, đề án cần được triển khai, thực hiện nhằm hướng tới mục đích đã đề ra Đây là thuật ngữ được sử dụng rộng rãi, quen thuộc trong hầu hết các lĩnh vực kinh tế, xã hội Tiếp đó, trong giáo dục đã sử dụng khái niệm “dự án” để chỉ những kế hoạch, chiến lược phát triển của giáo dục Sau này, nó còn được sử dụng như một phương pháp, hình thức dạy học với tên gọi phổ biến là dạy học dự án

Nhiều tác giả coi dạy học dự án là một tư tưởng hay một quan điểm dạy học Tuy nhiên, cũng có thể coi dạy học dự án là một PPDH phức hợp, trong

đó dưới sự hướng dẫn của giáo viên, người học tiếp thu kiến thức và hình thành kỹ năng thông qua việc giải quyết một bài tập tình huống (dự án) có thật trong đời sống, theo sát chương trình học, có sự kết hợp giữa lý thuyết với thực hành và tạo ra các sản phẩm cụ thể

Theo tổ chức BIE trong cuốn sách Buck Institute for Education các nhà

giáo dục đưa ra khái niệm: “Dạy học theo dự án như là một phương pháp dạy học có hệ thống, có sự tham gia của học sinh trong học tập kiến thức và kỹ năng thông qua quá trình điều tra mở rộng cấu trúc xung quanh câu hỏi xác thực phức

tạp thận trọng trong thiết kế những sản phẩm và những nhiệm vụ” (PBL as a

systematic teaching method that engages students in learning knowledge and skills through an extended inquiry process structured around complex, authentic

questions and carefully designed products and tasks) [17, tr.4]

Với tư cách là một hình thức dạy học hay là một phương pháp dạy học (mang tính phức hợp) thì bản chất của dạy học dự án vẫn là sự chuyển đổi người học sang cơ chế tự phát triển theo định hướng cá nhân trong hoạt động

Trang 19

học tập cộng tác, chuyển từ cách dạy “thầy nói” trên bục giảng sang hướng

dẫn “trò làm” nhiệm vụ thực

Dạy học dự án là một phương pháp giảng dạy nhấn mạnh đến việc học tập, tư duy hợp tác và học tập cá nhân Trong học tập dựa trên dự án, các nhóm học sinh tham gia vào các cuộc điều tra có ý nghĩa là mối quan tâm cá nhân đối với họ Các dự án này dựa trên các vấn đề có định hướng thực tế, dựa trên chương trình giảng dạy và thường xuyên liên ngành Học sinh quyết định cách tiếp cận một vấn đề và những hoạt động hoặc quy trình nào họ sẽ thực hiện Họ thu thập thông tin từ nhiều nguồn khác nhau, phân tích, tổng hợp và lấy được sự hiểu biết từ nó Trọng tâm của các hoạt động dạy học dự

án là thúc đẩy học sinh và tăng thêm giá trị cho công việc của họ Học tập của

họ được kết nối với một cái gì đó thực tế và liên quan đến kỹ năng sống như cộng tác và phản ánh Công nghệ cho phép học sinh và giáo viên trong các giai đoạn khác nhau của quá trình dạy học dự án Vào cuối quy trình của dạy học dự án, học sinh thể hiện kiến thức mới thu được của họ và được đánh giá những điều họ đã học được là bao nhiêu và họ giao tiếp như thế nào để hoàn thành dự án đó Học sinh cũng tiến hành tự đánh giá về sự tăng trưởng và học tập của mình Trong suốt quá trình này, vai trò của giáo viên là hướng dẫn và

tư vấn cho học sinh, thay vì chỉ đạo và quản lý công việc của học sinh

Học tập dự án giải quyết nhu cầu ngày càng cao cho học sinh để có được các kỹ năng tư duy phê phán, giải quyết vấn đề, cộng tác và giao tiếp, hay còn gọi là kỹ năng thế kỷ XXI Thông qua đó, học sinh được tiếp xúc với những kinh nghiệm học tập sâu sắc được dựa trên yêu cầu, học sinh làm trung tâm, và tích hợp vào chương trình giảng dạy Mục tiêu của dạy học dự án không chỉ là thúc đẩy các kỹ năng hợp tác và quyền sở hữu của học sinh mà còn thúc đẩy sự thành công của học sinh trong các tiêu chuẩn của xã hội

Trên cơ sở đó, chúng tôi đưa ra khái niệm về dạy học dự án như sau:

Trang 20

Dạy học dự án là một hình thức dạy học, trong đó học sinh dưới sự hướng dẫn và giúp đỡ của giáo viên tự lực giải quyết một nhiệm vụ học tập mang tính phức hợp không chỉ về mặt lý thuyết mà đặc biệt về mặt thực hành, thông qua đó tạo ra các sản phẩm thực hành có thể giới thiệu, công bố được

1.1.2 Đặc điểm của dạy học dự án

Dạy học dự án là một trong những phương pháp dạy học phù hợp với định hướng dạy học tiếp cận năng lực Để có thể thấy rõ những đặc điểm của dạy học dự án, chúng tôi lập bảng so sánh giữa dạy học truyền thống và dạy học dự án như sau:

Bảng 1.1 So sánh phương pháp dạy học truyền thống và dạy học dự án

Phương diện Dạy học truyền thống Dạy học dự án

Mục tiêu Học sinh nhớ kiến thức Học sinh chuyển hóa

kiến thức thành của mình thông qua quá trình trải nghiệm

Học sinh hoàn thành được các vấn đề, yêu cầu mà

dự án/cuộc sống đặt ra, làm sản phẩm

Tiến trình Nghe giáo viên giảng

bài

Làm bài tập Kiểm tra, thi cử Nhận kết quả, điểm số

Nhận yêu cầu/vấn đề đặt ra

Họp nhóm để bàn giải pháp, nghiên cứu

Thực hiện dự án để giải quyết vấn đề, làm sản phẩm

Trình bày, trình chiếu,

Trang 21

lan tỏa sản phẩm

Được vinh danh Kết quả học

sinh nhận

được

Kiến thức (Lý thuyết, ghi nhớ)

Kỹ năng (Kỹ năng làm bài thi)

Kiến thức ở chiều sâu

vì học sinh thật sự trải nghiệm và hiểu kiến thức thậm chí học sinh tự tìm ra kiến thức

Kỹ năng: làm việc nhóm, quản lý rủi ro, tư duy phản biện, nghiên cứu…

Nhận thức: Ý thức được mối quan hệ của mình với thế giới, khả năng tác động của mình tới cộng đồng, cảm giác được thỏa mãn và tự hào khi hoàn thành công việc, mối quan

hệ của mình với những người cộng tác cùng mình Vai trò của

học sinh

Người nhận kiến thức (Thụ động)

Người học độc lập (ít tương tác hoặc tương tác ngắn hạn)

Người bị/được kiểm tra

Người làm Người sáng tạo Người chịu trách nhiệm

Chủ nhân của kiến thức

Người được vinh danh

Trang 22

giáo viên Người đánh giá Người tổ chức, quản

lý, giám sát

Người quan sát, hỗ trợ, tìm nguồn lực trợ giúp học sinh, kết nối các em

1.1.3 Những ưu điểm, hạn chế và thách thức của dạy học dự án

* Ưu điểm:

Học tập dựa trên dự án có thể thay đổi học sinh về chất như:

- Học sinh tích cực tham gia với các dự án cung cấp sự liên quan trong thực tế cho việc học tập Học sinh có thể giải quyết các vấn đề quan trọng đối với họ và cộng đồng của họ

- Các dự án học tập dẫn đến sự hiểu biết sâu sắc hơn và giữ lại kiến thức nội dung lớn hơn Học sinh có thể áp dụng những gì họ biết vào các tình huống mới tốt hơn

- Thông qua học tập dự án, học sinh tương tác với người lớn, tổ chức, cộng đồng của họ, và có thể phát triển sở thích nghề nghiệp

- Một dự án tuyệt vời có thể giúp học sinh nhìn thấy tác động thực tế, mang đến cho họ động lực học tập, nhận thấy ý nghĩa, mối quan hệ chặt chẽ giữa học – hành

- Ngoài kiến thức cơ bản, học sinh học cách chủ động và có trách nhiệm, giải quyết vấn đề, và truyền đạt ý tưởng

- Học sinh thích sử dụng một loạt các công cụ công nghệ từ nghiên cứu

và cộng tác thông qua việc tạo và trình bày sản phẩm

- Lợi ích học tập dự án bằng hoặc tốt hơn so với các mô hình khác, với học sinh tham gia vào các dự án có trách nhiệm lớn hơn cho việc học của chính họ hơn là trong các hoạt động lớp học truyền thống

- Tiếp cận với nhiều cơ hội học tập khác nhau trong lớp học, cung cấp một chiến lược để thu hút những người học đa dạng về văn hóa

Trang 23

Đối với nhiều học sinh, sự hấp dẫn của cách tiếp cận học tập này đến từ tính xác thực của trải nghiệm Học sinh đảm nhận vai trò và hành vi của những người làm việc trong một ngành cụ thể Cho dù họ đang làm một video tài liệu về một vấn đề môi trường, thiết kế một cuốn sách nhỏ du lịch để làm nổi bật các địa danh có ý nghĩa lịch sử trong cộng đồng của họ, hoặc phát triển một bài thuyết trình đa phương tiện về những ưu và khuyết điểm của việc xây dựng một trung tâm mua sắm, sinh viên tham gia vào các hoạt động trong thế giới thực có ý nghĩa vượt ra ngoài lớp học

Đối với giáo viên, dạy học dự án có những ưu điểm:

- Giáo viên làm việc chặt chẽ với các học sinh tích cực, tham gia thực hiện công việc có ý nghĩa và chia sẻ niềm vui học tập, đam mê được khám phá

- Nâng cao tính chuyên nghiệp và sự hợp tác giữa các đồng nghiệp và

cơ hội xây dựng mối quan hệ với học sinh Ngoài ra, nhiều giáo viên rất vui khi tìm thấy một mô hình phù hợp với những người học đa dạng bằng cách giới thiệu nhiều cơ hội học tập hơn trong lớp học Giáo viên thấy rằng những học sinh được hưởng lợi nhiều nhất từ việc học dựa trên dự án có xu hướng là những người mà phương pháp giảng dạy và cách tiếp cận truyền thống không hiệu quả

* Hạn chế:

- Dạy học dự án đòi hỏi nhiều thời gian, công sức Để có thể chạy một

dự án đòi hỏi không chỉ nguồn lực giáo viên tham gia nhiều (với quy mô lớn)

mà còn đòi hỏi thời gian để tập trung cho dự án rất nhiều Điều đó dẫn tới việc giáo viên, học sinh phải làm việc ngoài giờ nhiều hơn để đảm bảo hiệu quả, chất lượng của dự án Trong khi đó, giáo viên có rất nhiều công việc, nhiệm vụ chuyên môn tại các khối lớp khác, rất khó để toàn tâm toàn ý để theo sát dự án nếu như không có sự hỗ trợ từ tổ chuyên môn, đồng nghiệp,

Trang 24

ban giám hiệu Đây cũng là một trong những khó khăn khiến cho dạy học dự

án có nhiều ưu điểm nhưng chưa được áp dụng nhiều trong thực tiễn

- Không phải nội dung học tập nào cũng phù hợp để dạy học dự án Người dạy chỉ có thể chọn lọc những nội dung nhất định trong điều kiện cho phép, phù hợp với độ tuổi, tâm lý và năng lực của đối tượng học sinh cụ thể

- Dạy học dự án dù có nhiều ưu điểm nhưng trong một số trường hợp, phương pháp này không thể thay thế phương pháp thuyết trình, đặc biệt là trong việc truyền thụ những tri thức lý thuyết hay việc thông báo thông tin

- Dạy học dự án đòi hỏi có sự chuẩn bị và lên kế hoạch thật chu đáo thì mới lôi cuốn được người học tham gia một cách tích cực Quá trình chuẩn bị

và lên kế hoạch đòi hỏi người lập dự án phải có sự đầu tư suy nghĩ, tham khảo, khảo sát ý kiến để có thể tổ chức kế hoạch phù hợp, có tính khả thi và tận dụng được sự hỗ trợ của các nguồn lực khác Đối với những người lần đầu dạy học dự án sẽ gặp rất nhiều khó khăn, lúng túng và chưa có kinh nghiệm

để thu hút học sinh

- Dạy học dự án đòi hỏi nguồn tài chính và sự hỗ trợ đắc lực của các phương tiện vật chất Một vài dự án mang tính quy mô lớn hơn sẽ đòi hỏi kinh phí hỗ trợ khá lớn Nếu không tận dụng được nguồn hỗ trợ từ xã hội sẽ khó có thể thực hiện được

* Thách thức:

Các thách thức đối với giáo viên khi dạy học dự án, cụ thể bao gồm:

- Nhận biết được các tình huống tạo ra các dự án tốt Giáo viên đồng thời cũng phải là người sáng tạo khi tiếp cận một nội dung học tập để có thể chuyển hóa nó thành dự án vừa thiết thực, hấp dẫn học sinh lại vừa có tính khả thi

- Giáo viên cần có sự hợp tác với các đồng nghiệp để phát triển các dự

án liên môn nhằm huy động được nguồn lực từ các bộ môn khác, đồng thời kết nối các nội dung học tập giúp học sinh giảm tải được thời lượng học riêng

Trang 25

lẻ từng môn và phát huy tối đa các kiến thức ở nhiều môn trong cùng một hoạt động dự án

- Giáo viên bộ môn cần phối hợp chặt chẽ với giáo viên chủ nhiệm để

có thể kêu gọi nguồn hỗ trợ, sự ủng hộ từ phụ huynh, đồng thời, cần có sự tham gia của giáo viên chủ nhiệm trong việc đốc thúc, quản lý tiến độ hoàn thành sản phẩm của học sinh để dự án có thể đạt hiệu quả tốt nhất

- Một trong những thách thức không nhỏ đó chính là điều kiện cơ sở vật chất của nhà trường Đối với các trường cơ sở vật chất còn hạn chế đòi hỏi giáo viên phải thiết kế các dự án có quy mô phù hợp, khả thi

- Mục tiêu giáo dục, định hướng phát triển của nhà trường cũng là vấn

đề đòi hỏi người tổ chức dự án phải linh hoạt, cân bằng được khi đề ra dự án

để không bị đi chệch khỏi định hướng của nhà trường nhưng vẫn đảm bảo được tính sáng tạo, đổi mới phương pháp dạy học nhằm tạo hứng thú cho học sinh (thực tế có một số trường vẫn còn nặng nề theo hình thức học thi cử, chú trọng kiến thức hơn là phát triển kỹ năng)

Đối với học sinh cũng có nhiều thách thức để các em có thể học tập theo dự án:

- Thách thức trong việc quản lý quá trình học tập Khi có rất nhiều bộ môn, nhiều giờ kiểm tra, bài tập cần hoàn thành ở các môn học khác, đôi khi học sinh sẽ chưa đủ kinh nghiệm để quản lý được tốt quá trình học tập hiệu quả, sao cho không bị áp lực quá nhiều về sản phẩm của dự án, về “deadline”

- Học sinh cần có khả năng sử dụng các công nghệ phù hợp phục vụ cho việc hoàn thành sản phẩm của mình để có thể bắt kịp với xu thế của thời đại, phát triển thêm các kỹ năng khác cho mình trong thời đại công nghệ 4.0

- Rất nhiều các em học sinh trước khi học dự án đã được làm quen và

học thuần thục những phương pháp dạy học truyền thống Các em không kịp quen với làm việc tích cực, chủ động, sáng tạo chiếm lĩnh tri thức nên hiệu

quả triển khai dạy học theo dự án nhiều khi không đạt được mong muốn

Trang 26

Vì vậy, dạy học theo dự án chẳng những đòi hỏi sự chuẩn bị công phu

mà còn yêu cầu người dạy và người học xây dựng cho mình một thói quen

dạy – học phù hợp để có hiệu quả cao

1.2 Lý thuyết về văn bản thông tin

1.2.1 Khái niệm và đặc điểm của văn bản thông tin nói chung

Theo Duke & Bennett - Armistead nêu ra trong bài viết: “Reading and writing informational text in the primary grades” [18, tr.1] thì văn bản thông tin là một tập hợp con của danh mục phi hư cấu lớn hơn Mục đích chính của

nó là để thông báo cho người đọc về thế giới tự nhiên hoặc xã hội

Tác giả của văn bản thông tin sử dụng nhiều cấu trúc khác nhau để giúp người đọc tìm kiếm thông tin nhanh chóng và hiệu quả Chúng có thể bao gồm một bảng nội dung, chỉ mục, chữ in đậm hoặc in nghiêng, bảng thuật ngữ cho từ vựng chuyên ngành, định nghĩa nhúng cho từ vựng chuyên ngành, minh họa thực tế của ảnh, chú thích và các nhãn khác, biểu đồ và biểu đồ

Các loại văn bản thông tin có thể kể đến như: Sách giáo khoa, tự truyện

và tiểu sử, sách phi hư cấu, báo, tạp chí, tài liệu tham khảo bao gồm internet Tất cả văn bản thông tin phải được coi là phi hư cấu, tuy nhiên không phải tất

cả các phi hư cấu đều là văn bản thông tin

Tóm lại, văn bản thông tin nói chung được định nghĩa là văn bản với

mục đích chính là thể hiện thông tin về nghệ thuật, khoa học hoặc văn bản cung cấp thông tin thuộc mọi lĩnh vực của đời sống

1.2.2 Khái niệm và đặc điểm của văn bản thông tin trong chương trình Ngữ văn Trung học cơ sở

Trong chương trình giáo dục phổ thông môn Ngữ văn hiện hành, khái niệm “văn bản thông tin” chưa được sử dụng như một nội dung học tập độc lập, thay vào đó là khái niệm “văn bản nhật dụng” Cách gọi tên là “văn bản nhật dụng” xuất phát từ nội dung đề tài có tính thời sự Theo định nghĩa trong

Sách Ngữ văn 6, tập 2, trang 125, 126 thì: “Văn bản nhật dụng không phải là

Trang 27

một khái niệm chỉ loại thể, hoặc chỉ kiểu văn bản Nói đến văn bản nhật dụng trước hết là nói đến tính chất nội dung của văn bản Đó là những bài viết có nội dung gần gũi, bức thiết đối với cuộc sống trước mắt của con người và cộng đồng trong xã hội hiện đại như: thiên nhiên, môi trường, năng lượng, dân số, quyền trẻ em, ma tuý Văn bản nhật dụng có thể dùng tất cả các thể loại cũng như các kiểu văn bản"

Nhìn vào hệ thống văn bản nhật dụng trong SGK Ngữ văn THCS, ta sẽ nhận thấy chúng tồn tại dưới nhiều kiểu văn bản khác nhau Các văn bản

thuộc kiểu văn bản nghị luận như: Đấu tranh cho một thế giới hoà bình,

Tuyên bố thế giới về sự sống còn, quyền được bảo vệ và phát triển của trẻ em

Các văn bản thuộc thể loại kiểu văn bản thuyết minh như: Cầu Long Biên -

chứng nhân lịch sử, Ca Huế trên sông Hương, Động Phong Nha Các văn bản

thuộc kiểu văn bản văn học như: Cuộc chia tay của những con búp bê Hay các văn bản thuộc kiểu bài báo cáo thuyết minh khoa học như: Thông tin về

ngày trái đất năm 2000, Ôn dịch thuốc lá

Từ các hình thức đó, những vấn đề thời sự cập nhật của đời sống cá nhân và cộng đồng hiện đại được khơi dậy, chẳng hạn là những báo động về

sự gia tăng dân số, sự huỷ hoại môi trường, sức khoẻ và chiến tranh hạt nhân đang đe doạ sự sống của con người trên trái đất, những quan tâm về vai trò của người mẹ và nhà trường, về quyền sống của trẻ em, về di tích lịch sử, bản

sắc văn hoá dân tộc Các bài học về những vấn đề đó sẽ đánh thức và làm

giàu tình cảm và ý thức công dân, cộng đồng trong mỗi người học, giúp các

em hoà nhập hơn với cuộc sống xã hội đương đại

Việc sử dụng khái niệm văn bản nhật dụng để “gói” chung các kiểu văn bản hoặc bất cứ thể loại nào vào cùng một nhóm như vậy sẽ rất khó khăn trong việc dạy và học văn bản này, nhất là khi giáo viên, học sinh tiếp cận văn bản dưới góc nhìn của thi pháp thể loại Việc phân tích một văn bản nhật dụng mang tính tự sự, rất có thể sẽ khiến người dạy và người học tập trung vào đặc

Trang 28

trưng của thể loại tự sự thay vì những vấn đề thời sự mà văn bản đề cập đến Hoặc nếu chăng, người dạy và người học chỉ chú trọng khai thác các vấn đề nội dung mà văn bản tự sự đó đề cập thì vô tình bỏ qua những khám phá về nghệ thuật của văn bản, làm giảm giá trị của một văn bản có thể được soi chiếu như một tác phẩm văn học, nếu không muốn nói là “bất công” với người nghệ sĩ

Ví dụ, cùng một văn bản Cuộc chia tay của những con búp bê, nếu

quan niệm đây là một tác phẩm văn chương hư cấu thì yêu cầu đọc hiểu sẽ bao gồm sự phát hiện và bình giá trên nhiều phương diện của sáng tạo nghệ thuật như: cốt truyện, nhân vật, cách kể và cuối cùng là cảm nhận một cách khái quát xã hội mà tác giả biểu hiện ở các lớp nghĩa của tác phẩm Nhưng nếu nhìn nhận văn bản này như một văn bản nhật dụng thì phạm vi đọc hiểu

chủ yếu là phát hiện nội dung, tìm hiểu vấn đề xã hội đặt ra trong văn bản

gần gũi với học sinh, thức dậy không chỉ thái độ biết chia sẻ với bạn bè có cảnh ngộ bất hạnh mà còn là ý thức về quyền được hưởng niềm vui, hạnh phúc Đó sẽ là ý nghĩa cập nhật của bài học này và cũng là mục tiêu kiến thức

chủ yếu của văn bản nhật dụng Cuộc chia tay của những con búp bê

Mặt khác, bất kì một tác phẩm văn học nào muốn có sức sống lâu bền qua mọi thời đại thì những vấn đề mà người nghệ sĩ đặt ra luôn phải mang tính thời sự, bức thiết với đời sống hiện tại Nếu chỉ xét về đề tài mang tính thời sự mà xếp, gộp các thể loại văn bản văn học khác nhau thuộc vào chung mảng văn bản nhật dụng thì tất cả các tác phẩm về quyền sống của con người trong sáng tác của Nam Cao, các tác phẩm về sự suy đồi đạo đức trong sáng tác của Vũ Trọng Phụng đều là văn bản nhật dụng?

Chính từ những bất cập đó nên chúng tôi rất đồng tình với sự xuất hiện

chính thức của khái niệm “văn bản thông tin” trong Chương trình giáo dục

phổ thông môn Ngữ văn (Dự thảo ngày 19/01/2018) [1] với tư cách là một

trong 3 kiểu văn bản: văn bản văn học, văn bản nghị luận, văn bản thông tin

Trang 29

(dành cho chương trình THCS) Trong đó, văn bản văn học gồm: Truyện, thơ (thơ tự sự, thơ trữ tình), ký Văn bản nghị luận gồm: Nghị luận xã hội, nghị luận văn học Văn bản thông tin gồm: Văn bản thuyết minh, văn bản

nhật dụng

Chương trình giáo dục phổ thông môn Ngữ Văn (Dự thảo ngày

19/01/2018) [1] cũng phân loại rõ: Văn bản thông tin: loại văn bản chủ yếu

nhằm cung cấp thông tin, bao gồm: Văn bản nhật dụng (văn bản thông tin, chủ yếu được dùng để đáp ứng nhu cầu giao dịch hàng ngày) và văn bản

thuyết minh (văn bản thông tin, chủ yếu được dùng để cung cấp thông tin về

một đối tượng, một quy trình hay hướng dẫn thực hiện quy trình đó)

Trong phạm vi của luận văn này, chúng tôi sử dụng và nghiên cứu khái

niệm “văn bản thông tin” được đề cập đến trong Chương trình giáo dục phổ

thông môn Ngữ văn (Dự thảo ngày 19/01/2018) thay vì sử dụng khái niệm

“văn bản nhật dụng” trong chương trình hiện hành

Điểm khác nhau giữa văn bản thông tin và các kiểu văn bản khác

Về mục đích giao tiếp, văn bản văn học đòi hỏi người đọc, người học

sự nghiền ngẫm, phân tích, cảm thụ những vẻ đẹp của nghệ thuật ngôn từ, để

từ đó hiểu được những khái quát đời sống của tác giả thì văn bản thông tin chủ yếu thỏa mãn mục đích giúp người đọc tri nhận được kiến thức và tăng sự hiểu biết của bản thân về thế giới xung quanh

Về hình thức thể hiện, văn bản văn học được xây dựng dựa trên chất

liệu là ngôn từ Đó là chất liệu đặc biệt và có khả năng tạo nghĩa đa dạng trong tiếp nhận của từng người Văn bản thông tin cũng sử dụng ngôn từ, nhưng đó không phải là những ngôn từ mang tính đa nghĩa Bên cạnh ngôn từ, văn bản thông tin còn bao gồm các phương tiện hỗ trợ khác như hình ảnh, bảng biểu, sơ đồ…

Trang 30

Từ sự khác biệt giữa văn bản văn học và văn bản thông tin như vậy, đòi hỏi người dạy cũng cần có những phương pháp đặc thù, phù hợp để truyền tải đúng mục tiêu cần đạt cho người học khi tiếp cận từng thể loại này

1.2.3 Sự cần thiết của việc dạy học văn bản thông tin trong chương trình Ngữ văn Trung học cơ sở

Theo chương trình giáo dục phổ thông hiện hành, ở Việt Nam, học sinh đọc hiểu văn bản văn học và văn bản nhật dụng Sự hiện diện

khoảng 10% của các văn bản nhật dụng đã làm cho chương trình Ngữ văn

THCS phần nào giảm bớt tính hàn lâm, tăng cường sự gắn kết với đời sống

Trang 31

- Bài toán dân số khoẻ

- Dân số Ngữ văn 9 - Đấu tranh cho một thế giới

hoà bình

- Phong cách Hồ Chí Minh

- Tuyên bố thế giới về sự sống còn, quyền được bảo vệ và phát triển của trẻ em

- Bảo vệ hoà bình, chống chiến tranh

- Hội nhập với thế giới và bảo

vệ bản sắc văn hoá dân tộc

- Quyền sống của con người

Bảng thống kê trên cho thấy các văn bản nhật dụng được phân phối dạy học đều ở các khối lớp 6, 7, 8, 9, bình quân mỗi khối lớp 03 văn bản, riêng khối 7 có 04 văn bản Các văn bản đều đề cập đến những vấn đề quan trọng, gần gũi trong đời sống của con người, xã hội hiện nay và có khuynh hướng tăng dần về độ khó, độ sâu sắc của vấn đề nhằm phù hợp với sự phát triển về tâm lý, nhận thức của học sinh ở từng cấp, bậc học

Bên cạnh các văn bản nhật dụng, nội dung làm văn thuyết minh và các văn bản hành chính (báo cáo, biên bản…) cũng được phân bố học đều ở các lớp 6, 7, 8, 9 Đặc biệt, ở lớp 7, 8 học sinh sẽ học chủ yếu về văn thuyết minh

Tuy nhiên, trong các kì thi kiểm tra đánh giá, đa số chỉ chú trọng các nội dung của văn bản văn học nên việc dạy học văn bản nhật dụng thường bị

“cắt xén” trên thực tế Chương trình thể hiện tính thực tiễn nhưng quá trình giảng dạy, kiểm tra lại chú trọng tính hàn lâm dẫn đến môn văn vẫn còn trở nên xa vời với nhu cầu học tập, tìm hiểu của học sinh Học sinh thi văn điểm cao nhưng bước ra khỏi phòng thi khả năng vận dụng những tri thức mình học được vào đời sống thì “nằm yên trong tủ kính”

Trong khi đó, theo khảo sát của TS Phạm Thị Thu Hiền, Luận án

So sánh vấn đề đọc hiểu văn bản trong chương trình giáo dục phổ thông môn Ngữ văn của Việt Nam và một số nước trên thế giới [10, tr.111-113] cho thấy:

Trang 32

Ở những nước có nền giáo dục phát triển như Mỹ, Canada, Singapore , tỉ lệ giữa hai loại văn bản văn học và văn bản thông tin là tương đương Ví dụ,

theo chuẩn chương trình của bang California quy định các văn bản mà HS

đọc hiểu bao gồm văn bản được in ấn và văn bản bằng phần mềm kĩ thuật số, chúng là các văn bản văn học và văn bản thông tin Tỉ lệ giữa hai loại VB này được đề cập đến trong “Bảng phân loại các VBTT và TPVH qua từng cấp

độ trong hệ thống kĩ năng đọc 2009 của NAEP” như sau:

Bên cạnh đó, theo PISA, lứa tuổi 15 thuộc giai đoạn cuối của giáo dục bắt buộc, có sự phát triển nhất định về năng lực đọc hiểu văn bản, nhất là văn bản thông tin nhằm giúp học sinh vận dụng các kiến thức đã học để ứng dụng vào đời sống

Trong quan niệm dạy học văn ngày nay, ngữ văn không chỉ là môn học giải mã các tín hiệu nghệ thuật ngôn từ thuần túy Khái niệm ngôn ngữ văn học dần được mở rộng nội hàm bao gồm cả giao tiếp bằng hình ảnh và các hình thức kí hiệu khác Hay nói cách khác, văn bản thông tin và văn bản văn học luôn được đặt song hành với nhau trong SGK nhưng khi khai thác chúng

ta thường bỏ qua các nội dung của văn bản thông tin được chứa đựng dưới dạng thức hình ảnh, đồ họa ví dụ như ảnh chân dung tác giả, ảnh cảnh ca Huế trên sông Hương, ảnh làng chài…

Để tăng tính vận dụng thực tiễn cho môn học, HS được yêu cầu làm việc với một loạt các văn bản thuộc nhiều loại hình và phương thức biểu đạt

Trang 33

khác nhau Nói như vậy không có nghĩa là chúng ta lược bỏ các văn bản văn chương thuộc các thể loại truyện ngắn, thơ ca, tiểu thuyết, kịch; loại bỏ chức năng thẩm mỹ của văn học mà bên cạnh các văn bản đó, HS cần được tiếp cận, khai thác, xử lý thông tin từ văn bản thông tin khác Văn bản thông tin thường xuất hiện trong SGK các môn học, các tài liệu quảng cáo, các báo hoặc trang web và đặc biệt là trong thực tiễn, có tính ứng dụng cao trong đời sống Đây là kiểu văn bản mà các em sẽ gặp nhiều trong đời sống,

nó xác định chuẩn đầu ra của quá trình đào tạo Do đó, việc hướng dẫn học sinh biết cách đọc hiểu, tạo lập được văn bản này là điều vô cùng cần thiết

Trong bài viết “Reading & Writing Informational Text in the Primary Grades” [18] Nell K Duke, Ed.D and V Susan Bennett - Armistead cũng đưa ra các lý do của việc dạy học văn bản thông tin:

- Cung cấp chìa khóa để thành công trong việc học sau khi học sinh lên lớp Bởi lẽ, nội dung của văn bản thông tin ngày càng nâng cao mức độ khó

Lý tưởng nhất, tất cả học sinh sẽ đọc để học và học đọc từ những ngày đầu tiên và trong suốt quá trình học tập

- Sự chuẩn bị cho học sinh xử lý cuộc sống thực

Văn bản phi hư cấu có mặt khắp mọi nơi Từ nhà đến nơi làm việc, các nghiên cứu như những người được tiến hành bởi Venezky (1982) và Smith (2000) cho thấy rằng người lớn đọc rất nhiều sách phi hư cấu, bao gồm cả văn bản thông tin Ngoài ra, ngày càng có sự phụ thuộc vào tài liệu dựa trên Website Để chuẩn bị cho học sinh khám phá thế giới này, cần phải nghiêm túc về việc dạy cho học sinh đọc và viết văn bản thông tin

- Giải quyết các thắc mắc và sở thích của học sinh

Các nghiên cứu của U Schiefele, A Krapp và A Winteler (1992) minh họa rằng bất kể sở thích văn bản của người đọc, khi chủ đề văn bản thu hút thì việc đọc có khả năng cải thiện Nghiên cứu của Guthrie, Van Meter, McCann,

Trang 34

Wigfield, Bennett, Poundstone, et al (1996) cho thấy rằng phương pháp tiếp cận nhấn mạnh việc đọc cho mục đích giải quyết các câu hỏi thực sự của HS

có xu hướng dẫn đến thành tích và động lực cao hơn

- Xây dựng kiến thức về thế giới tự nhiên và xã hội

Đọc và nghe văn bản thông tin có thể phát triển kiến thức của sinh viên

về thế giới, như được thể hiện trong các nghiên cứu của Anderson và Guthrie (1999) cũng như Duke và Kays (1998) Theo các nhà nghiên cứu khác (ví dụ: Wilson và Anderson, 1996), việc mua lại kiến thức nền tảng này có thể giúp người đọc hiểu được các văn bản tiếp theo Nhìn chung, người đọc hiểu biết nhiều hơn về nền tảng có, kỹ năng đọc hiểu của họ càng cao

- Tăng cường vốn từ vựng và các loại kiến thức về đọc viết khác

Theo các nhà nghiên cứu, phụ huynh và giáo viên tập trung nhiều hơn vào các khái niệm từ vựng và đọc viết khi đọc to văn bản thông tin so với khi

họ đọc văn bản tường thuật (Mason, Peterman, Powell và Kerr, 1989; Pellegrini, Perlmutter, Galda, và Brody, 1990) Sự chú ý đặc biệt này từ cha

mẹ và giáo viên có thể làm cho văn bản thông tin đặc biệt thích hợp để xây dựng kiến thức học sinh theo Dreher (2000) và Duke, Bennett-Armistead và Roberts (2002, 2003) Học đọc sơ đồ, bảng và các thiết bị đồ họa khác là một phần của văn bản thông tin có thể phát triển khả năng đọc bằng hình ảnh

Tiểu kết chương 1

Ở chương 1, chúng tôi làm rõ một số vấn đề lý luận của phương pháp dạy học theo dự án Đây là một trong những phương pháp dạy học tích cực Trong đó lấy học sinh là trung tâm, tự lực giải quyết một nhiệm vụ học tập mang tính phức hợp không chỉ về mặt lý thuyết mà đặc biệt về mặt thực hành, thông qua đó tạo ra các sản phẩm thực hành có thể giới thiệu, công bố được Giáo viên đóng vai trò là người hướng dẫn và giúp đỡ Học tập theo dự án góp phần gắn liền việc học tập trong nhà trường với thực tiễn đời sống, xã

Trang 35

hội, có sự kết hợp giữa nghiên cứu lý thuyết và vận dụng lý thuyết vào hoạt động thực tiễn

Trong chương này, chúng tôi cũng hệ thống hóa các văn bản thông tin (được dùng với khái niệm cũ là văn bản nhật dụng) trong chương trình Ngữ văn THCS để thấy được các văn bản này đều đề cập đến những vấn đề quan trọng, gần gũi trong đời sống con người Từ đó, khẳng định sự cần thiết của việc dạy học dự án văn bản thông tin trong chương trình Ngữ văn THCS, đặc biệt là khi các nước có nền giáo dục phát triển như Mỹ, Canada, Singapore thì

tỉ lệ giữa hai loại văn bản văn học và văn bản thông tin là tương đương nhau

Những vấn đề lí luận trên là cơ sở, làm tiền đề để chúng tôi nghiên cứu tiếp chương 2, đề xuất quy trình dạy học dự án văn bản thông tin trong chương trình Ngữ văn THCS Tiếp đó, chương 3 của luận văn sẽ tiến hành thực nghiệm sư phạm với đối tượng lựa chọn dạy dự án là phần làm văn thuyết minh của chương trình Ngữ văn 8

Trang 36

CHƯƠNG 2 QUY TRÌNH DẠY HỌC DỰ ÁN VĂN BẢN THÔNG TIN TRONG

CHƯƠNG TRÌNH NGỮ VĂN TRUNG HỌC CƠ SỞ

2.1 Những tiền đề để xây dựng quy trình dạy học dự án văn bản thông tin trong chương trình Ngữ văn Trung học cơ sở

2.1.1 Phân tích nội dung, cấu trúc phần văn bản thông tin trong chương trình Ngữ văn Trung học cơ sở

Theo Chương trình giáo dục phổ thông môn Ngữ văn (Dự thảo công bố

ngày 19/01/2018) [1, tr.43-47], văn bản thông tin xuất hiện trong tất cả các cấp/bậc học với mức độ, yêu cầu ngày càng nâng cao thể hiện ở bốn bốn kĩ

năng: Đọc, viết, nói và nghe (Xem phụ lục 3) Về nội dung, văn bản thông tin

bao gồm phần văn bản thuyết minh và văn bản nhật dụng Cụ thể, đối với lớp

6, các văn bản chủ yếu thuật lại một sự kiện lịch sử, biên bản ghi nhớ công việc Đối với lớp 7, văn bản thông tin tập trung vào nội dung thuật lại sự kiện văn hóa, giới thiệu một quy tắc hay luật lệ trong trò chơi, hoạt động, thư kiến nghị, trao đổi công việc Đến lớp 8, nội dung văn bản chủ yếu là thuyết minh

để giải thích một hiện tượng tự nhiên, bài văn giới thiệu một cuốn sách, báo cáo nghiên cứu về vấn đề tự nhiên hoặc xã hội, sử dụng các yếu tố phi ngôn ngữ, văn bản tường trình Ở lớp 9, văn bản thông tin hướng tới các nội dung giới thiệu một sự kiện chính trị hoặc kinh tế, mô tả, giải thích một thí nghiệm bài quảng cáo, bài phỏng vấn

Trong Chương trình giáo dục phổ thông môn Ngữ văn (Dự thảo công

bố ngày 19/01/2018) [1, tr.115-120] cũng đưa ra các văn bản (ngữ liệu) gợi ý như sau:

LỚP 6 - 7:

Văn bản thuật lại một sự kiện lịch sử (thuyết minh);

Văn bản giới thiệu một quy tắc hay luật lệ trong trò chơi hay hoạt động (thuyết minh), văn bản kiến nghị, biên bản, tin nhắn, thư điện tử

Trang 37

LỚP 8 - 9:

Văn bản giải thích một hiện tượng tự nhiên hoặc văn bản giới thiệu một cuốn sách hoặc bộ phim đã xem, văn bản giải thích một hiện tượng xã hội hoặc văn bản giới thiệu quy trình tiến hành một thí nghiệm

Bản tin (báo in và báo mạng), văn bản tường trình, quảng cáo, bài phỏng vấn

2.1.2 Khảo sát việc vận dụng phương pháp dạy học dự án trong dạy học văn bản thông tin tại các trường song ngữ Quốc tế trên địa bàn Hà Nội

Để tìm hiểu thực trạng dạy học Văn bản thông tin trong chương trình

Ngữ văn Trung học cơ sở tại các trường Song ngữ Quốc tế trên địa bàn Hà Nội, chúng tôi đã tiến hành điều tra, khảo sát thực tiễn làm cơ sở rút ra những

kết luận khách quan, chính xác về thực trạng triển khai dạy học kiểu bài này

trong phần Tập làm văn nói riêng và thực trạng dạy học môn Ngữ văn nói

chung

Do điều kiện về thời gian, việc tiến hành điều tra, khảo sát thực trạng

triển khai dạy học Văn bản thông tin trong chương trình Ngữ văn THCS tại

các trường Song ngữ Quốc tế trên địa bàn Hà Nội được tiến hành chủ yếu ở

các trường trên địa bàn Hà Nội: Trường THCS Hanoi Academy (Quận Tây Hồ), THCS Horizon (Quận Tây Hồ) và THCS Wellspring (Quận Long Biên)

Về phương pháp tiến hành, luận văn tập trung phỏng vấn trực tiếp một

số học sinh, giáo viên thuộc địa bàn khảo sát Đồng thời, chúng tôi tiến hành phát phiếu điều tra thăm dò ý kiến dành cho học sinh, giáo viên tại ba trường trên

Đối với giáo viên nội dung điều tra, khảo sát tập trung vào các vấn đề: Vai

trò của văn bản thông tin trong chương trình Ngữ văn THCS; Phương pháp dạy học văn bản thông tin mà giáo viên thường xuyên sử dụng để dạy học văn bản thông tin; Đánh giá của giáo viên về sự cần thiết của dạy học dự án văn bản thông tin trong chương trình ngữ văn THCS; Mức độ giáo viên dạy học dự án văn bản thông tin trong chương trình ngữ văn THCS; Ưu điểm, hạn chế của dạy học dự án

Trang 38

văn bản thông tin; Những khó khăn của giáo viên trong việc triển khai dạy học dự

án văn bản thông tin trong chương trình Ngữ văn THCS

Đối với học sinh nội dung điều tra, khảo sát tập trung vào các vấn đề:

Em đã từng học tập theo dự án ở nội dung học tập nào?; Mức độ hứng thú của học sinh đối với các phương pháp dạy học truyền thống mà giáo viên đã triển khai; Mức độ mong muốn được học văn bản thông tin theo dự án của học sinh; Nguyên nhân khiến học sinh hứng thú học văn bản thông tin theo

dự án; Nguyên nhân làm cho học sinh không hứng thú với việc học văn bản thông tin theo dự án

Sau khi tiến hành phỏng vấn trực tiếp, điều tra bằng phiếu thăm dò ý kiến đối với 22 giáo viên và 348 học sinh của ba trường trên địa bàn thành phố Hà Nội, kết hợp với quá trình tổng hợp, phân tích chúng tôi thu được kết quả như sau:

Về phía giáo viên

Đánh giá về vai trò của văn bản thông tin trong chương trình Ngữ văn THCS, đặc biệt là khi khái niệm “văn bản thông tin” đã được đề cập, định

nghĩa khá rõ ràng trong Chương trình giáo dục phổ thông môn Ngữ văn (Dự

thảo ngày 19/01/2018 vừa qua):

Trang 39

Có tới 79% giáo viên được khảo sát nhận thức rõ vai trò, tầm quan trọng của văn bản thông tin đối trong hệ thống nội dung học tập của học sinh THCS Bởi lẽ, với sự phát triển của kinh tế - xã hội, sự phát triển của khoa học – kĩ thuật cũng như nhu cầu của cá nhân con người, việc tiếp nhận văn bản thông tin trở thành yêu cầu cấp thiết, quan trọng trong một xã hội văn minh, phát triển Vì vậy, việc dạy học văn bản thông tin ở trường THCS càng trở nên cần thiết Tuy nhiên, bên cạnh đó, vẫn còn một bộ phận không nhỏ, chiếm 21% giáo viên được khảo sát vẫn chưa nhận thức đúng về mức độ quan trọng của dạy học văn bản thông tin đối với học sinh và đặc biệt là trong thời đại bùng nổ thông tin như hiện nay, học sinh không chỉ học để biết mà còn cần biết cách để học, để khai thác, tìm kiếm thông tin không chỉ trong môn văn mà còn trong các môn học khác

Mặc dù văn bản thông tin có một vai trò vô cùng quan trọng như vậy, nhưng việc dạy học văn bản thông tin hiện nay vẫn chủ yếu là các phương

37%

42%

15%

6%

Biểu đồ 2.1 Đánh giá vai trò của Văn bản thông tin trong

chương trình Ngữ văn Trung học cơ sở

Rất quan trọng Quan trọng Ít quan trọng Không cần thiết

Trang 40

pháp dạy học mang tính truyền thống và chưa hướng tới việc phát triển năng lực cho học sinh, cụ thể như sau:

Qua kết quả khảo sát có thể cho thấy, phương pháp chủ yếu vẫn được giáo viên áp dụng để dạy học văn bản thông tin chính là làm việc nhóm (chiếm 70%), tiếp đó là phương pháp vấn đáp, thuyết trình (chiếm 18%; 7%)

Sở dĩ, phương pháp làm việc nhóm chiếm tỉ lệ cao như vậy vì theo chúng tôi đây là phương pháp “giao thoa” giữa cách dạy truyền thống và cách dạy hiện đại Điều này cho thấy, giáo viên hiện nay đã có ý thức trong việc đổi mới hình thức, phương pháp dạy học nhằm hướng tới người học, để người học được hoạt động nhiều hơn thay vì chỉ có giáo viên làm trung tâm trong hoạt động dạy học Làm việc nhóm giúp khắc phục được hạn chế của phương pháp thuyết trình, vấn đáp đó là học sinh ít tương tác, thụ động Nhưng làm việc nhóm mới chỉ là hình thức góp phần đưa học sinh vào hoạt động phát biểu, tập trung vào nhiệm vụ, được thể hiện khả năng làm việc và thực hành kỹ năng giao tiếp với mọi người Phương pháp này vẫn còn tồn tại khá nhiều hạn

7%

18%

70%

5%

Biểu đồ 2.2 Phương pháp dạy học văn bản thông tin trong

chương trình Ngữ văn Trung học cơ sở

Thuyết trình Vấn đáp Làm việc nhóm Dạy học dự án

Ngày đăng: 16/03/2021, 22:07

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w