ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC TRẦN THỊ GIANG DẠY HỌC CÁC TÁC PHẨM KỊCH “VĨNH BIỆT CỬU TRÙNG ĐÀI” NGUYỄN HUY TƯỞNG, “HỒN TRƯƠNG BA, DA HÀNG THỊT” LƯU QUANG VŨ THEO ĐỊ
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
TRẦN THỊ GIANG
DẠY HỌC CÁC TÁC PHẨM KỊCH
“VĨNH BIỆT CỬU TRÙNG ĐÀI” (NGUYỄN HUY TƯỞNG),
“HỒN TRƯƠNG BA, DA HÀNG THỊT” (LƯU QUANG VŨ) THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC HỌC SINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ SƯ PHẠM NGỮ VĂN
HÀ NỘI - 2018
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
TRẦN THỊ GIANG
DẠY HỌC CÁC TÁC PHẨM KỊCH
“VĨNH BIỆT CỬU TRÙNG ĐÀI” (NGUYỄN HUY TƯỞNG),
“HỒN TRƯƠNG BA, DA HÀNG THỊT” (LƯU QUANG VŨ) THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC HỌC SINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ SƯ PHẠM NGỮ VĂN
CHUYÊN NGÀNH: LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC
(BỘ MÔN NGỮ VĂN)
Mã số: 8.14.01.11
Người hướng dẫn khoa học: TS NGUYỄN ĐỨC KHUÔNG
HÀ NỘI - 2018
Trang 3i
LỜI CẢM ƠN
Luận văn này là kết quả của quá trình học tập và nghiên cứu của tôi tại trường Đại học giáo dục – Đại học Quốc gia Hà Nội dưới sự hướng dẫn của các nhà khoa học Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới các thày giáo, cô giáo trong trường Đại học giáo dục – Đại học Quốc gia Hà Nội đã nhiệt tình giảng dạy, trang bị cho tôi những tri thức chuyên môn quý giá trong quá trình học tập và thực hiện đề tài này
Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến Tiến sĩ Nguyễn Đức Khuông
đã trực tiếp hướng dẫn tôi nghiên cứu đề tài luận văn
Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến các đồng nghiệp, các em học sinh trường THPT Ngô Quyền đã luôn giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu
Dù tâm huyết và hết sức cố gắng, song bản luận văn không tránh khỏi những hạn chế Kính mong sự chỉ dẫn của các nhà khoa học và các đồng nghiệp xa gần
Xin trân trọng cảm ơn!
Hà Nội, ngày 2 tháng 6 năm 2018
Trang 5iii
MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN i
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT ii
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 5
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 6
5 Phương pháp nghiên cứu 6
6 Cấu trúc luận văn 6
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VIỆC DẠY HỌC TÁC PHẨM KỊCH THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC HỌC SINH 8
1.1 Cơ sở lí luận 8
1.1.1 Khái quát về năng lực và dạy học tiếp cận năng lực 8
1.1.1.1 Khái niệm năng lực và phân loại năng lực 8
1.1.1.2 Dạy học tiếp cận năng lực người học 9
1.1.1.3 Các năng lực môn Ngữ văn hướng đến 11
1.1.2 Năng lực đọc hiểu kịch bản văn học hiện đại 14
1.1.2.1 Khái niệm kịch 14
1.1.2.2 Những đặc trưng thể loại của KBVH 15
1.1.2.3 Năng lực đọc hiểu KBVH hiện đại 17
1.1.2.4 Đặc điểm kịch của Nguyễn Huy Tưởng và Lưu Quang Vũ 18
1.2 Cơ sở thực tiễn 30
1.2.1.1 Vị trí của KBVH trong chương trình Ngữ văn Trung học phổ thông 30
1.2.1.2 Mục tiêu dạy học KBVH Việt Nam hiện đại ở trường THPT hiện hành 31
1.2.1.3 Mục tiêu dạy học đoạn trích “Vĩnh biệt Cửu Trùng đài” 32
1.2.1.4 Mục tiêu dạy học đoạn trích “Hồn Trương Ba da hàng thịt” 32
1.2.2.1 Khảo sát sách giáo khoa 33
1.2.2.2 Khảo sát sách giáo viên 34
Trang 6iv
1.2.2.3 Khảo sát sách bài tập 35
1.2.2.4 Khảo sát vở soạn văn của học sinh 35
1.2.2.5 Khảo sát vở ghi của học sinh 36
1.2.2.6 Việc dạy của giáo viên 36
1.2.2.7 Việc học của học sinh 36
Tiểu kết Chương 1 38
CHƯƠNG 2 MỘT SỐ BIỆN PHÁP TỔ CHỨC DẠY HỌC KỊCH BẢN VĂN HỌC “VĨNH BIỆT CỬU TRÙNG ĐÀI”, “HỒN TRƯƠNG BA, DA HÀNG THỊT” THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC HỌC SINH 39
2.1 Một số biện pháp dạy học KBVH theo đặc trưng thể loại 39
2.1.1 Đọc lướt để xác định các vấn đề tổng quan của văn bản kịch 39
2.1.2 Đọc kĩ lời dẫn để nhận thức: mâu thuẫn xung đột kịch, hành động kịch và các tuyến nhân vật 39
2.1.3 Đọc kĩ lời thoại nhằm nhận thức, đánh giá các giá trị nội dung, giá trị nghệ thuật của kịch bản văn học 40
2.2 Dạy học kịch bản văn học “Vĩnh biệt Cửu Trùng đài”, “Hồn Trương Ba, da hàng thịt” theo định hướng phát triển năng lực học sinh 41
2.2.1 Phát triển năng lực giải quyết vấn đề 41
2.2.2 Phát triển năng lực sáng tạo 49
2.2.3 Phát triển năng lực hợp tác 54
2.2.4 Phát triển năng lực giao tiếp tiếng Việt 60
2.2.5 Phát triển năng lực cảm thụ văn học 65
Tiểu kết Chương 2 71
CHƯƠNG 3 THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 72
3.1 Mục đích, yêu cầu thực nghiệm 72
3.1.1 Mục đích thực nghiệm 72
3.1.2 Yêu cầu thực nghiệm 72
Trang 7v
3.2 Đối tượng, địa bàn thực nghiệm 72
3.2.1 Tiêu chuẩn lựa chọn địa bàn thực nghiệm 72
3.2.2 Lựa chọn và bồi dưỡng GV dạy tiết thực nghiệm 72
3.2.3 Học sinh thực nghiệm 73
3.2.3.1 Dạy học theo hướng phát triển năng lực học sinh qua đoạn trích kịch bản văn học “Vĩnh biệt Cửu Trùng Đài” của Nguyễn Huy Tưởng (Ngữ Văn 11) 73
3.2.3.2 Dạy học theo hướng phát triển năng lực học sinh thông qua đoạn trích kịch bản văn học “Hồn Trương Ba, da hàng thịt” của Lưu Quang Vũ (Ngữ văn 12) 73
3.3 Thiết kế giáo án thực nghiệm 74
3.3.1 Nguyên tắc thiết kế giáo án thực nghiệm 74
3.3.2 Thiết kế giáo án thực nghiệm 75
3.3.2.1 Thiết kế giáo án thực nghiệm “Vĩnh biệt Cửu Trùng Đài” (Trích kịch “Vũ Như Tô” của Nguyễn Huy Tưởng – Ngữ văn 11) 75
3.3.2.2 Thiết kế giáo án thực nghiệm “Hồn Trương Ba, da hàng thịt” (Trích “Hồn Trương Ba, da hàng thịt” của Lưu Quang Vũ – Ngữ văn 12) 90
3.4 Đánh giá kết quả thực nghiệm 108
3.4.1 Mục đích của việc đánh giá 108
3.4.2 Phương pháp đánh giá 108
3.4.3 Nội dung đánh giá 108
3.4.4 Kết luận chung về thực nghiệm 109
3.4.5 Kết quả thực nghiệm: 110
Tiểu kết Chương 3 111
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 112
I Kết luận: 112
II Khuyến nghị: 113
TÀI LIỆU THAM KHẢO 115
Trang 8tự giác, chủ động, tư duy sáng tạo của người học, bồi dưỡng cho người học năng lực
tự học, lòng say mê học tập và ý chí vươn lên”, chúng tôi đã chọn đề tài này Bên cạnh đó, chúng tôi còn nhận thấy rằng để chuẩn bị cho quá trình đổi mới chương trình sau năm 2018, việc dạy học và kiểm tra, đánh giá theo theo định hướng phát triển năng lực của người học là vô cùng cần thiết
Trong những năm qua, toàn thể giáo viên cả nước đã thực hiện nhiều công việc trong đổi mới phương pháp dạy học, kiểm tra đánh giá và đã đạt được những thành công bước đầu Đây là những tiền đề vô cùng quan trọng để chúng ta tiến tới việc việc dạy học và kiểm tra, đánh giá theo theo định hướng phát triển năng lực của người học Tuy nhiên, từ thực tế giảng dạy của bản thân cũng như việc đi dự giờ đồng nghiệp tại trường chúng tôi thấy rằng sự sáng tạo trong việc đổi mới phương pháp dạy học, phát huy tính tích cực, tự lực của học sinh… chưa nhiều Dạy học vẫn nặng về truyền thụ kiến thức Việc rèn luyện kỹ năng chưa được quan tâm Hoạt động kiểm tra, đánh giá chưa thực sự khách quan, chính xác, chú trọng đánh giá cuối kì chưa chú trọng đánh giá quá trình Tất cả những điều đó dẫn tới học sinh học thụ động, lúng túng khi giải quyết các tình huống trong thực tiễn
Lí do thứ ba là các tác phẩm kịch ở bậc THPT chưa được chú trọng giảng dạy một cách bài bản, thậm chí nhiều nơi còn cắt xén Trong khi đó bản thân chúng tôi nhận thấy, các tác phẩm kịch Việt Nam hiện đại trong chương trình THPT không chỉ là các tác phẩm kinh điển có giá trị sâu sắc về nội dung và nghệ thuật mà còn là môi trường lý tưởng để thông qua đó chúng ta có thể giáo dục và phát triển các năng lực cần thiết cho học sinh Như vậy dạy học theo định hướng phát triển năng lực học sinh thông qua các tác phẩm này sẽ giúp các em có một lượng kiến thức, kỹ
Trang 92
năng tương đối để trước hết là phục vụ tốt cho kì thi Trung học phổ thông (THPT) Quốc gia sau đó là phục vụ cho cuộc sống trong tương lai
Vì những lí do trên, chúng tôi chọn nội dung: Dạy học các tác phẩm kịch
“Vĩnh biệt Cửu Trùng Đài” (Nguyễn Huy Tưởng), “Hồn Trương Ba, da hàng
thịt” (Lưu Quang Vũ) theo định hướng phát triển năng lực học sinh làm đối
tượng nghiên cứu
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Trong “Chương trình tiếp cận năng lực và đánh giá năng lực người học”,
nhóm tác giả PGS.TS Nguyễn Thị Lan Phương (Viện Khoa học giáo dục Việt Nam) đã khẳng định: Năng lực là tổ hợp các thuộc tính độc đáo của con người, phù hợp với yêu cầu của một hoạt động nhất định, đảm bảo cho hoạt động đó có hiệu quả
Theo đó, năng lực bao gồm những thuộc tính tâm lí và sinh lí tương xứng với những đòi hỏi của một hoạt động nhất định, chứ không phải tất cả những thuộc tính tâm lí, sinh lí của con người Tuy nhiên, năng lực không phải là sinh ra đã có, mà được hình thành trong quá trình hoạt động và giáo dục
Nhóm tác giả Lê Đình Trung – Phan Thị Thanh Hội trong cuốn “Dạy học theo
định hướng hình thành và phát triển năng lực người học ở trường phổ thông” đã
định hướng chung, tổng quát về đổi mới phương pháp dạy học các môn học thuộc chương trình giáo dục định hướng phát triển năng lực là: Phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động của người học, hình thành và phát triển năng lực tự học (sử dụng sách giáo khoa, nghe, ghi chép, tìm kiếm thông tin ), trên cơ sở đó trau dồi phẩm chất linh hoạt, độc lập, sáng tạo của tư duy Có thể chọn lựa một cách linh hoạt các phương pháp chung và phương pháp đặc thù của môn học để thực hiện Tuy nhiên, sử dụng bất kì phương pháp nào cũng phải đảm bảo được nguyên tắc
“Học sinh tự mình hoàn thành nhiệm vụ nhận thức với sự tổ chức, hướng dẫn của giáo viên”
Trong một số hội thảo về đổi mới phương pháp dạy học Ngữ văn hiện nay, vấn đề dạy học đọc theo định hướng phát triển năng lực, phẩm chất người học đã nhận được nhiều ý kiến quan tâm Nhiều nhà nghiên cứu đã chú ý đề xuất các các ý kiến, biện pháp, định hướng dạy học văn bản hướng đến mục tiêu rèn luyện và nâng
Trang 103
cao kĩ năng tự học, tự nghiên cứu để từ đó nâng cao năng lực cho HS Trong Báo cáo đề dẫn Hội thảo Dạy học Ngữ văn trong bối cảnh đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục phổ thông, PGS.TS Nguyễn Thành Thi đã nêu rõ: “Năng lực được phát triển từ quá trình dạy học Ngữ văn cần được quan niệm như thế nào? Làm thế nào
để giúp học sinh phát triển được những năng lực đó? Bằng cách nào để đo luờng, đánh giá mức độ của năng lực mà học sinh đạt được? Người thầy phải đổi mới nhu thế nào để đáp ứng đuợc xu hướng đổi mới đó? Nhiều câu hỏi đặt ra cần có đuợc những câu trả lời thuyết phục, có khả năng tạo được sự đồng thuận cao”
Bên cạnh đó, chúng ta cũng nhận thấy Kịch là loại hình nghệ thuật tổng hợp, khá quen thuộc nên lí luận về loại hình văn học kịch cũng phát triển khá sớm Và đó
là hệ thống cơ sở lí luận vững chắc cho việc nghiên cứu phương pháp tiếp cận văn bản kịch Ngay từ thời cổ đại, trong cuốn thi pháp học đầu tiên của nhân loại vẫn được gọi là Nghệ thuật thi ca, lý luận gia, triết học gia Aristote đã dành phần lớn nội dung bàn về kịch
Trong hai cuốn “Lý luận kịch từ Aristote đến Lessin” của Anhikst (GS.Tất Thắng dịch) và cuốn “Về thi pháp kịch” của tác giả Tất Thắng, các vấn đề về thi
pháp kịch từ thời cổ đại đến nay đã được hệ thống hóa một cách đầy đủ và chi tiết Hai công trình này đã cho thấy vấn đề thi pháp kịch đã được quan tâm từ rất sớm và kịch là một trong ba thể loại lớn của thi ca
Trong công trình nghiên “Văn học kịch”, tác giả Đỗ Đức Hiểu đã đi sâu
nghiên cứu về vấn đề kịch, thi pháp kịch và một số hướng tiếp cận văn bản kịch Tác giả Phùng Ngọc Kiếm với tiểu luận “Nghiên cứu và phê bình kịch bản văn học Việt Nam trước 1975” đã tổng kết một số ý kiến của các nhà nghiên cứu về vấn đề kịch bản văn học ở Việt Nam trước 1975
Trong các giáo trình Lí luận văn học của Việt Nam, lí luận về kịch cũng đã được trình bày tương đối đầy đủ ở mọi phương diện từ khái niệm loại thể, lịch sử phát triển đến các vấn đề về thi pháp
Là một bộ môn nghệ thuật tổng hợp, là tác phẩm của nghệ thuật ngôn từ được sáng tạo để trình diễn trên sân khấu nên kịch là loại hình nghệ thuật có những đặc điểm phức tạp Vì vậy, lí luận về kịch là vấn đề được quan tâm khá nhiều, nhưng phần lớn là từ góc nhìn của các nhà nghiên cứu sân khấu nghiên cứu kịch với tư
Trang 11Dạy học theo định hướng phát triển năng lực học sinh là tư tưởng quan trọng,
có ý nghĩa đúng đắn trong dạy học Ngữ văn Có rất nhiều ý kiến đề xuất về vấn đề dạy học tác phẩm văn học nói chung và dạy học kịch bản văn học nói riêng Trong
đó có một số công trình được đánh giá cao
Trước hết, đó là công trình xuất hiện khá sớm trong lịch sử nghiên cứu văn
học thời hiện đại là “Vấn đề giảng dạy tác phẩm văn học theo loại thể” của nhóm
tác giả Trần Thanh Đạm, Huỳnh Lý, Hoàng Như Mai, Trong đó, tác giả Trần Thanh Đạm cho rằng có ba loại thể văn học lớn: tự sự, trữ tình, kịch Tác giả khẳng định “Nhà văn sáng tác theo loại thể thì người đọc cũng cảm thụ theo loại thể và người dạy cũng giảng dạy theo loại thể” và “Loại thể văn học là một thành phần quan trọng của hình thức nghệ thuật tác phẩm Giảng dạy tác phẩm văn học theo loại thể chính là một phương diện lớn của việc giảng dạy tác phẩm văn học trong sự thống nhất giữa hình thức với nội dung, một sự giảng dạy đi đúng với quy luật và bản chất của văn học, đồng thời bảo đảm hiệu quả giáo dục cao nhất [22; 30]
Trong phần “Kịch và giảng dạy kịch” của công trình trên, phần do tác giả Huỳnh Lý viết đã đề cập đến vấn đề giảng dạy kịch “Chúng ta không giảng dạy kịch với tính cách là một loại hình nghệ thuật mà chỉ giảng dạy kịch bản về phương diện văn học”[22; 239]
Tác giả còn đề cập đến khái niệm về kịch, vị trí của kịch trong các loại hình nghệ thuật, đặc tính của kịch mà người giảng dạy kịch cần chú ý, sự khác nhau giữa
bi kịch và hài kịch, quá trình phát triển của kịch nói ở nước ta, những vở kịch trong chương trình văn học cấp THPT
Tác giả Nguyễn Viết Chữ trong cuốn “Phương pháp dạy học tác phẩm văn
chương” đã khẳng định việc xác định loại thể là vấn đề mấu chốt trong quá trình
phát triển khoa học phương pháp dạy học tác phẩm văn chương Tác giả đã đưa ra phương pháp, biện pháp cụ thể dạy học tác phẩm trữ tình, tác phẩm tự sự, văn học
Trang 125
nước ngoài, còn riêng với tác phẩm kịch thì mới chỉ dừng lại ở mức độ khơi gợi chứ chưa đưa thành một chương của cuốn sách
Tác giả Phùng Văn Tửu trong công trình “Cảm thụ và giảng dạy văn học nước
ngoài” đã có những ý kiến đóng góp về việc dạy học kịch Tác giả viết: “Khi giảng
kịch, chúng ta chú ý đến đặc trưng của loại hình nghệ thuật này để học sinh khỏi rơi vào tình trạng thấy học kịch chẳng khác gì học truyện ngắn hay tiểu thuyết Bài giảng chủ yếu dựa trên văn bản kịch nhưng đồng thời phải giúp cho học sinh hình dung được phần nào dưới ánh đèn sân khấu” [60;47] Tác giả đã nhấn mạnh đặc trưng của kịch khi giảng dạy Phân tích một đoạn kịch phải gắn liền với kết cấu, với bối cảnh, không gian, thời gian, lời thoại nhân vật, hành động, xung đột
Tác giả Nguyễn Trọng Hoàn trong bài “Một số vấn đề đọc - hiểu văn bản
kịch” trong cuốn “Đọc hiểu văn bản Ngữ văn 8” đã nêu ra một đóng góp quan trọng
đối với việc dạy học KBVH Tác giả đã nói đến khái niệm kịch, những đặc trưng của kịch: “Đọc - hiểu văn bản kịch cần chú trọng nhiều phương diện thuộc về đặc trưng của thể loại này: từ loại hình nhân vật, bối cảnh trang trí sân khấu, các hướng dẫn trực tiếp về cử chỉ, hành động, các lớp nghĩa của lời thoại, các yếu tố phụ họa, các yếu tố có tính ước lệ,… Tiếp nhận văn bản kịch bản văn học hết sức ưu tiên tính kịch”
Như vậy, có thể thấy rằng, các tác giả với những quan điểm khác nhau đã bổ sung ngày càng phong phú hệ thống lí thuyết về cách tiếp cận một KBVH Đồng thời vấn đề dạy học theo định hướng phát triển năng lực HS đã được khá nhiều tài liệu đề cập đến, tuy nhiên chưa có công trình khoa học nào nghiên cứu trực tiếp việc dạy học theo định hướng phát triển năng lực học sinh thông qua các tác phẩm kịch hiện đại trong chương trình Ngữ văn THPT hiện hành
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Luận văn tiến hành nghiên cứu thực trạng việc dạy học KBVH ở trường THPT Trên cơ sở lý luận và thực tiễn, luận văn hướng tới tìm hiểu, vận dụng những biện pháp đổi mới phương pháp dạy học theo định hướng phát triển năng lực của người học (thông qua các đoạn trích KBVH), từ đó góp phần hình thành ở học sinh những năng lực cần hướng đến của môn Ngữ văn nói chung và kịch nói riêng:
Trang 133.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Xác định cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài
- Đề xuất một số biện pháp tổ chức dạy học đoạn trích KBVH theo định hướng phát triển năng lực HS
- Thực nghiệm sư phạm để kiểm chứng tính khả thi của đề tài
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu của đề tài: Dạy học các đoạn trích KBVH ở trường THPT theo định hướng phát triển năng lực HS
- Phạm vi nghiên cứu của đề tài: Dạy học đoạn trích KBVH “Vĩnh biệt Cửu Trùng Đài” (trích “Vũ Như Tô”) của Nguyễn Huy Tưởng và “Hồn Trương Ba, da hàng thịt” (trích) của Lưu Quang Vũ theo chương trình chuẩn
5 Phương pháp nghiên cứu
Để đạt đến mục đích nghiên cứu, trong quá trình thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu, chúng tôi sử dụng hai nhóm phương pháp:
- Nhóm phương pháp nghiên cứu về mặt lý thuyết: bao gồm các phương pháp phân tích, tổng hợp lý luận nhằm tìm hiểu cơ sở lý luận làm tiền đề cho việc nghiên cứu của đề tài
- Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn: sử dụng các phương pháp điều tra, khảo sát, thống kê, thực nghiệm sư phạm
6 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn sẽ gồm
có 3 chương
Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VIỆC DẠY HỌC TÁC PHẨM KỊCH THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC HỌC SINH
Trang 147
Chương 2 MỘT SỐ BIỆN PHÁP TỔ CHỨC DẠY HỌC KỊCH BẢN “VĨNH BIỆT CỬU TRÙNG ĐÀI”, “HỒN TRƯƠNG BA, DA HÀNG THỊT” THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC HỌC SINH
Chương 3 THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM
Trang 151.1.1 Khái quát về năng lực và dạy học tiếp cận năng lực
1.1.1.1 Khái niệm năng lực và phân loại năng lực
a) Khái niệm năng lực
Thực tế trong tiếng Việt, từ NL được sử dụng với nhiều nghĩa cụ thể gắn với các lĩnh vực khác nhau, trong những tình huống và ngữ cảnh riêng biệt Hơn nữa
NL lại rất gần nghĩa với một số từ khác như: tiềm năng, khả năng, kĩ năng… do vậy nếu chỉ nói chung chung thì sẽ rất phức tạp và khó xác định Tuy nhiên từ NL có nghĩa gốc theo Từ điển tiếng Việt đã nêu là khả năng, điều kiện chủ quan hoặc tự nhiên sẵn có để thực hiện một hoạt động nào đó; Phẩm chất tâm lý và sinh lý tạo cho con người khả năng hoàn thành một hoạt động nào đó với chất lượng cao
NL là một khái niệm xuất hiện từ rất lâu trong lịch sử, được tập trung nghiên cứu bắt đầu từ những năm 70 của thế kỉ XX với nhiều quan điểm tiếp cận và cách định nghĩa khác nhau
Nhìn theo góc độ tâm lý học, nhiều tác giả có quan điểm chung về NL: là tổ hợp các thuộc tính độc đáo của cá nhân, phù hợp với yêu cầu của một hoạt động nhất định, đảm bảo cho hoạt động có hiệu quả NL bao gồm những thuộc tính tâm lí
và sinh lí tương xứng với những đòi hỏi của một hoạt độngnhất định, trong một bối cảnh, tình huống nhất định, chứ không phải tất cả những thuộc tính tâm lí, sinh lí của con người Tuy nhiên, NL không phải sinh ra đã có, mà phải được hình thành
và phát triển trong quá trình hoạt động và giao tiếp
Theo quan điểm giáo dục học thì NL là một hệ thống cấu trúc tinh thần bên trong và khả năng huy động các kiến thức, kĩ năng nhận thức, kĩ năng thực hành và thái độ, cảm xúc, giá trị, đạo đức, động lực của một người để thực hiện thành công các hoạt động trong một bối cảnh cụ thể
Với quan điểm ấy thì NL là sự tích hợp và kết nối nhu cầu bên ngoài (yêu cầu của bối cảnh, tình huống cụ thể) với các đặc điểm cá nhân (kiến thức, kĩ năng nhận thức, kĩ năng thực hành và thái độ, xúc cảm, động cơ, giá trị, đạo đức) để thực hiện
Trang 16b) Phân loại năng lực
Phân loại NL là một vấn đề rất phức tạp Kết quả phụ thuộc vào quan điểm và tiêu chí phân loại Nhìn vào chương trình thiết kế theo hướng tiếp cận NL của các
nước có thể thấy hai loại chính: đó là NL chung và NL cụ thể, chuyên biệt
Theo thống kê chương trình gần đây của 11 nước theo hướng tiếp cận NL, chúng tôi thấy đã có 35 NL khác nhau Tuy nhiên từ thống này, có thể thấy một số
NL chung được khá nhiều nước đề xuất/ lựa chọn Cụ thể là 8 NL sau đây:
Tóm lại, có thể thấy khái niệm NL vẫn là một khái niệm vẫn đang được phát triển không ngừng, song nhiều nhà nghiên cứu đều nhất trí về bản chất năng động, phức hợp và sự phụ thuộc chặt chẽ của nó vào bối cảnh thực hiện NL được hình thành, phát triển, thể hiện qua hoạt động Không có hoạt động, NL không tồn tại Thước đo NL chính là tính hiệu quả của hoạt động xét từ yêu cầu của bối cảnh
1.1.1.2 Dạy học tiếp cận năng lực người học
Phương pháp dạy học theo quan điểm phát triển năng lực không chỉ chú ý tích cực hóa học sinh về hoạt động trí tuệ mà còn chú ý rèn luyện năng lực giải quyết vấn đề gắn với những tình huống của cuộc sống và nghề nghiệp, đồng thời gắn hoạt động trí tuệ với hoạt động thực hành, thực tiễn Tăng cường việc học tập trong
Trang 17- Có thể lựa chọn một cách linh hoạt các phương pháp chung và phương pháp đặc thù của môn học để thực hiện Tuy nhiên, sử dụng bất kì phương pháp nào cũng phải đảm bảo được nguyên tắc “ Học sinh tự mình hoàn thành nhiệm vụ nhận thức với sự tổ chức, hướng dẫn của giáo viên”
- Việc sử dụng phương pháp dạy học gắn chặt với các hình thức tổ chức dạy học Tùy theo mục tiêu, nội dung, đối tượng và điều kiện cụ thể mà có những hình thức tổ chức thích hợp như học cá nhân, học nhóm, học trong lớp, học ngoài lớp Cần chuẩn bị tốt về phương pháp đối với các giờ thực hành để đảm bảo yêu cầu rèn luyện kĩ năng thực hành, vận dụng kiến thức vào thực tiễn, nâng cao hứng thú cho người học
- Cần sử dụng đủ và hiệu quả các thiết bị dạy học môn học tối thiểu đã quy định Có thể sử dụng các đồ dùng dạy học tự làm nếu xét thấy cần thiết với nội dung học và phù hợp với đối tượng học sinh Tích cực vận dụng công nghệ thông tin trong dạy học
- Việc đổi mới phương pháp dạy học của giáo viên được thể hiện qua bốn đặc trưng cơ bản sau:
- Dạy học thông qua tổ chức liên tiếp các hoạt động học tập, từ đó giúp HS tự khám phá những điều chưa biết chứ không phải thụ động tiếp thu những tri thức được sắp đặt sẵn Theo tinh thần này, giáo viên là người tổ chức và chỉ đạo HS tiến hành cấc hoạt động học tập: phát hiện kiến thức mới, vận dụng sáng tạo kiến thức
đã biết vào các tình huống thực tiễn
- Chú trọng rèn luyện cho HS những tri thức phương pháp để các em biết cách đọc sách giáo khoa, các tài liệu học tập, biết cách suy luận để tìm tòi và phát hiện kiến thức mới Các tri thức phương pháp thường là những quy tắc, quy trình, phương thức hành động, tuy nhiên cũng cần coi trọng cả các phương pháp có tính chất dự đoán, giả định
Trang 1811
- Tăng cường phối hợp học tập cá thể với học tập hợp tác theo phương châm
“ tạo điều kiện cho học sinh nghĩ nhiều hơn, làm nhiều hơn và thảo luận nhiều hơn” Điều đó có nghĩa, mỗi học sinh vừa cố gắng tự lực một cách độc lập, vừa hợp tác chặt chẽ với nhau trong quá trình tiếp cận, phát hiện và tìm tòi kiến thức mới
- Chú trọng đánh giá kết quả học tập theo mục tiêu bài học trong suốt tiến trình dạy học thông qua hệ thống câu hỏi, bài tập Chú trọng phát triển kĩ năng tự đánh giá và đánh giá lẫn nhau của học sinh với nhiều hình thức như: theo lời giải/ đáp án mẫu, theo hướng dẫn, hoặc tự xác định tiêu chí để có thể phê phán, tìm được nguyên nhân và nêu cách sửa chữa các sai sót
1.1.1.3 Các năng lực môn Ngữ văn hướng đến
a) Năng lực giải quyết vấn đề
Trên thực tế, nhiều quan niệm và định nghĩa khác nhau về năng lực giải quyết vấn
đề (GQVĐ) Tuy nhiên, các ý kiến và quan niệm đều thống nhất cho rằng GQVĐ là một NL chung, thể hiện khả năng của mỗi người trong việc nhận thức, khám phá được những tình huống có vấn đề trong học tập và cuộc sống mà không có định hướng trước về kết quả, và tìm các giải pháp để giải quyết những vấn đề đặt ra trong tình huống đó, qua đó thể hiện khả năng tư duy, hợp tác trong việc lựa chọn
và quyết định giải pháp tối ưu
Với môn học Ngữ văn, năng lực này cũng cần được hướng đến khi triển khai các nội dung dạy học của bộ môn, do tính ứng dụng thực tiễn và quy trình hình thành năng lực có thể gắn với các bối cảnh học tập (tiếp nhận và tạo lập văn bản) của môn học, khi nảy sinh những tình huống có vấn đề Với một số nội dung dạy học trong môn Ngữ văn như: xây dựng kế hoạch cho một hoạt động tập thể, tiếp nhận một thể loại văn học mới, viết một kiểu loại văn bản, lí giải các hiện tượng đời sống được thể hiện qua văn bản, thể hiện quan điểm của cá nhân khi đánh giá các hiện tượng văn học,… quá trình học tập các nội dung trên là quá trình giải quyết vấn đề theo quy trình đã xác định Quá trình giải quyết vấn đề trong môn Ngữ văn
có thể được vận dụng trong một tình huống dạy học cụ thể hoặc trong một chủ đề dạy học
b) Năng lực sáng tạo
Năng lực sáng tạo được hiểu là sự thể hiện khả năng của học sinh trong việc suy nghĩ và tìm tòi, phát hiện những ý tưởng mới nảy sinh trong học tập và cuộc sống, từ đó đề xuất được các giải pháp mới một cách thiết thực, hiệu quả để thực
Trang 19c) Năng lực hợp tác
Học hợp tác là hình thức học sinh làm việc cùng nhau trong nhóm nhỏ để hoàn thành công việc chung và các thành viên trong nhóm có quan hệ phụ thuộc lẫn nhau, giúp đỡ nhau để giải quyết các vấn đề khó khăn của nhau Khi làm việc cùng nhau, học sinh học cách làm việc chung, cho và nhận sự giúp đỡ, lắng nghe người khác, hoà giải bất đồng và giải quyết vấn đề theo hướng dân chủ Đây là hình thức học tập giúp học sinh ở mọi cấp học phát triển cả về quan hệ xã hội lẫn thành tích học tập
Năng lực hợp tác được hiểu là khả năng tương tác của cá nhân với cá nhân và tập thể trong học tập và cuộc sống Năng lực hợp tác cho thấy khả năng làm việc hiệu quả của cá nhân trong mối quan hệ với tập thể, trong mối quan hệ tương trợ lẫn nhau để cùng hướng tới một mục đích chung Đây là một năng lực rất cần thiết trong xã hội hiện đại, khi chúng ta đang sống trong một môi trường, một không gian rộng mở của quá trình hội nhập
Trong môn học Ngữ văn, năng lực hợp tác thể hiện ở việc HS cùng chia sẻ, phối hợp với nhau trong các hoạt động học tập qua việc thực hiện các nhiệm vụ học tập diễn ra trong giờ học Thông qua các hoạt động nhóm, cặp, học sinh thể hiện những suy nghĩ, cảm nhận của cá nhân về những vấn đề đặt ra, đồng thời lắng nghe những ý kiến trao đổi thảo luận của nhóm để tự điều chỉnh cá nhân mình Đây là
Trang 2013
những yếu tố rất quan trọng góp phần hình thành nhân cách của người học sinh trong bối cảnh mới
d) Năng lực giao tiếp tiếng Việt
Việc trao đổi thông tin được thực hiện bằng nhiều phương tiện, tuy nhiên, phương tiện sử dụng quan trọng nhất trong giao tiếp là ngôn ngữ Năng lực giao tiếp
do đó được hiểu là khả năng sử dụng các quy tắc của hệ thống ngôn ngữ để chuyển tải, trao đổi thông tin về các phương diện của đời sống xã hội, trong từng bối cảnh/ngữ cảnh cụ thể, nhằm đạt đến một mục đích nhất định trong việc thiết lập mối quan hệ giữa những con người với nhau trong xã hội Năng lực giao tiếp bao gồm các thành tố: sự hiểu biết và khả năng sử dụng ngôn ngữ, sự hiểu biết về các tri thức của đời sống xã hội, sự vận dụng phù hợp những hiểu biết trên vào các tình huống phù hợp để đạt được mục đích
Trong môn học Ngữ văn, việc hình thành và phát triển cho HS năng lực giao tiếp ngôn ngữ là một mục tiêu quan trọng, cũng là mục tiêu thế mạnh mang tính đặc thù của môn học Thông qua những bài học về sử dụng tiếng Việt, HS được hiểu về các quy tắc của hệ thống ngôn ngữ và cách sử dụng phù hợp, hiệu quả trong các tình huống giao tiếp cụ thể, HS được luyện tập những tình huống hội thoại theo nghi thức và không nghi thức, các phương châm hội thoại, từng bước làm chủ tiếng Việt trong các hoạt động giao tiếp Các bài đọc hiểu văn bản cũng tạo môi trường, bối cảnh để HS được giao tiếp cùng tác giả và môi trường sống xung quanh, được hiểu và nâng cao khả năng sử dụng tiếng Việt văn hóa, văn học Đây cũng là mục tiêu chi phối trong việc đổi mới phương pháp dạy học Ngữ văn là dạy học theo quan điểm giao tiếp, coi trọng khả năng thực hành, vận dụng những kiến thức tiếng Việt trong những bối cảnh giao tiếp đa dạng của cuộc sống
Năng lực giao tiếp trong các nội dung dạy học tiếng Việt được thể hiện ở 4 kĩ
năng cơ bản: nghe, nói, đọc, viết và khả năng ứng dụng các kiến thức và kĩ năng ấy
vào các tình huống giao tiếp khác nhau trong cuộc sống
e) Năng lực cảm thụ văn học
Năng lực cảm thụ thẩm mĩ thể hiện khả năng của mỗi cá nhân trong việc nhận
ra được các giá trị thẩm mĩ của sự vật, hiện tượng, con người và cuộc sống, thông qua những cảm nhận, rung động trước cái đẹp và cái thiện, từ đó biết hướng những suy nghĩ, hành vi của mình theo cái đẹp, cái thiện Như vậy, năng lực cảm thụ (hay
Trang 2114
năng lực trí tuệ xúc cảm) thường dùng với hàm nghĩa nói về các chỉ số cảm xúc của mỗi cá nhân
Năng lực cảm thụ văn học là năng lực đặc thù của môn học Ngữ văn, gắn với
tư duy hình tượng trong việc tiếp nhận văn bản văn học Quá trình tiếp xúc với tác phẩm văn chương là quá trình người đọc bước vào thế giới hình tượng của tác phẩm
và thế giới tâm hồn của tác giả từ chính cánh cửa tâm hồn của mình Năng lực cảm xúc, như trên đã nói, được thể hiện ở nhiều khía cạnh; trong quá trình người học tiếp nhận tác phẩm văn chương năng lực cảm xúc được thể hiện ở những phương diện sau:
- Cảm nhận vẻ đẹp của ngôn ngữ văn học, biết rung động trước những hình ảnh, hình tượng được khơi gợi trong tác phẩm về thiên nhiên, con người, cuộc sống qua ngôn ngữ nghệ thuật
- Nhận ra được những giá trị thẩm mĩ được thể hiện trong tác phẩm văn học: cái đẹp, cái xấu, cái hài, cái bi, cái cao cả, cái thấp hèn,… từ đó cảm nhận được những giá trị tư tưởng và cảm hứng nghệ thuật của nhà văn được thể hiện qua tác phẩm
- Cảm hiểu được những giá trị của bản thân qua việc cảm hiểu tác phẩm văn học; hình thành và nâng cao nhận thức và xúc cảm thẩm mĩ của cá nhân; biết cảm nhận và rung động trước vẻ đẹp của thiên nhiên, con người, cuộc sống; có những hành vi đẹp đối với bản thân và các mối quan hệ xã hội; hình thành thế giới quan thẩm mĩ cho bản thân qua việc tiếp nhận tác phẩm văn chương
Từ việc tiếp xúc với các văn bản văn học, HS sẽ biết rung động trước cái đẹp, biết sống và hành động vì cái đẹp, nhận ra cái xấu và phê phán những hình tượng, biểu hiện không đẹp trong cuộc sống, biết đam mê và mơ ước cho cuộc sống tốt đẹp hơn
Như vậy, quá trình dạy học Ngữ văn đồng thời giúp HS hình thành và phát triển các năng lực đáp ứng với yêu cầu phát triển của xã hội, thông qua việc rèn luyện và phát triển các kĩ năng đọc, viết, nghe, nói Trong quá trình hướng dẫn HS tiếp xúc với văn bản, môn Ngữ văn còn giúp HS từng bước hình thành và nâng cao
các năng lực học tập của môn học, cụ thể là năng lực tiếp nhận văn bản (gồm kĩ năng nghe và đọc) và năng lực tạo lập văn bản (gồm kĩ năng nói và viết)
1.1.2 Năng lực đọc hiểu kịch bản văn học hiện đại
1.1.2.1 Khái niệm kịch
Trang 2215
Trong cuốn “Từ điển thuật ngữ văn học” của nhóm tác giả Lê Bá Hán, Trần
Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi, thuật ngữ kịch được dùng theo hai cấp độ
Ở cấp độ loại hình: “Kịch là một trong ba phương thức cơ bản của vănhọc
(Kịch, tự sự, trữ tình) Kịch vừa thuộc sân khấu vừa thuộc văn học Kịch bản vừa dùng để diễn là chủ yếu lại vừa để đọc vì kịch bản chính là phương diện văn học của kịch Theo đó tiếp nhận kịch bản chính là tiếp nhận phương diện của văn học kịch” [27, tr.142]
Ở cấp độ loại thể: “Thuật ngữ kịch được dùng để chỉ một thể loại văn học -
sân khấu có vị trí tương đương với bi kịch và hài kịch Với ý nghĩa này kịch còn được gọi là chính kịch” [27, tr.142]
1.1.2.2 Những đặc trưng thể loại của KBVH
a) Kịch tính
Kịch tính là trạng thái căng thẳng đặc biệt của mâu thuẫn, xung đột, được tạo
ra bởi những hành động thể hiện các khuynh hướng tính cách và ý chí tự do của con người Kịch tính là đặc trưng nổi bật của thể loại kịch được tạo nên bởi xung đột kịch Xung đột kịch bắt nguồn từ xung đột của đời sống nhưng là những xung đột được chọn lọc Đó là những xung đột gay gắt, quyết liệt, có tính phổ quát được chắt lọc từ những mâu thuẫn của đời sống: mâu thuẫn giữa con người với thời đại, con người với con người, giữa tốt - xấu, thiện - ác trong xã hội và trong chính mỗi con người
b) Cốt truyện kịch
Nếu kịch tính là đặc điểm của nội dung thể loại thì sự tập trung cao độ của cốt truyện là đặc điểm kết cấu của kịch bản văn học Đây là đặc điểm gắn với yêu cầu biểu diễn của nghệ thuật sân khấu Không gian và thời gian hạn hẹp của sân khấu đòi hỏi hành động kịch phải thống nhất và cốt truyện kịch phải có sự tập trung cao
độ
Để gây hứng thú cho người xem, thi pháp cốt truyện của kịch rất coi trọng việc sáng tạo ra cái bất ngờ Muốn tạo ra cái bất ngờ, người sáng tác phải biết dẫn dắt các sự kiện biến cố rẽ vào những chỗ ngoặt, những bước nhảy vọt, những đoạn đột biến, biến cố trong cốt truyện phải được liên kết, tổ chức chặt chẽ, lôgic Cho nên, thi pháp kịch vừa coi trọng việc sáng tạo ra cái bất ngờ, vừa chú ý tổ chức những chi tiết có chức năng giới thiệu, báo trước, đặt tính cách, số phận, động cơ, ý
Trang 23Việc tôn trọng nguyên tắc về sự tập trung của cốt truyện đã chi phối cách thức
tổ chức bố cục của kịch bản văn học Một vở kịch thường được chia thành ba hoặc năm hồi tương ứng với ba giai đoạn vần động hết sức mau lẹ của hành động kịch: thắt nút (trước đó thường có phần trình bày) - đỉnh điểm - mở nút (có thể thêm phần
vĩ thanh)
c) Nhân vật kịch
Kịch là nghệ thuật thể hiện hình tượng con người một cách sống động nhất, nhưng trong cuộc đời thực, người bình thường không thể nói to trước đám đông những toan tính xấu xa, những dục vọng thấp hèn của mình giống như các nhân vật trên sàn diễn Cho nên, hình tượng con người trong kịch cũng thuộc loại hình tượng mang tính ước lệ cao nhất Nó là nhân vật của trò diễn mà diễn viên là người đóng vai các nhân vật ấy trên sân khấu Tác phẩm trữ tình, nhất là tác phẩm tự sự, tìm đủ mọi cách làm mờ tính chất trò diễn của nghệ thuật Tính chất trò diễn lại thường xuyên được tô đậm, không cần che đậy trong kịch văn học và nghệ thuật sân khấu Đây là đặc điểm ta dễ dàng phân biệt nhân vật kịch với hình tượng trữ tình và hình tượng tự sự
Như đã nói ở trên, do cốt truyện trong kịch bản văn học phải tập trung chính vì vậy mà số lượng nhân vật kịch không thể nào nhiều như tự sự, tiểu thuyết được Khi viết kịch bản, chất liệu quan trọng nhất mà nhà văn có thể sử dụng để xây dựng hình tượng nhân vật là lời thoại cùng với giọng nói của các nhân vật Qua lời đối thoại và độc thoại, nhân vật kịch cất lên tiếng nói tự biểu hiện, tự bộc lộ thế giới nội tâm đầy bí mật của mình nhưng thế giới nội tâm của nhân vật kịch không phải là thế giới tự đóng kịch trong bản thân Lời của nhân vật kịch là lời nói tác động tới các nhân vật khác trong một môi trường đối thoại giữa các lời nói khác nhau
d) Lời thoại
Trong kịch không có nhân vật người kể chuyện, cho nên không xuất hiện ngôn ngữ của người kể chuyện Tuy vậy, vẫn có lời chú thích trực tiếp của tác giả, trước hết là nhằm nêu rõ thời gian, đặc điểm, bối cảnh của câu chuyện hoặc để nói rõ các
Trang 2417
hành động không lời của nhân vật, những lời hướng dẫn ấy chỉ có giá trị với người đọc, đạo diễn, diễn viên, còn trong lúc trình diễn chỉ có lời của nhân vật Ngôn ngữ của nhân vật trong tác phẩm kịch có ba dạng: ngôn ngữ đối thoại (lời các nhân vật nói với nhau), ngôn ngữ độc thoại (lời nhân vật nói với chính mình, lời nói thầm của nhân vật) và ngôn ngữ bàng thoại (lời nhân vật nói riêng với khán giả)
- Ngôn ngữ kịch là ngôn ngữ có tính hành động Hệ thống ngôn ngữ ấy có nhiệm vụ mô tả chân dung nhân vật kịch bằng một loạt các thao tác hành động, là
cơ sở giúp cho đạo diễn, diễn viên xử lí thích hợp với hành động của nhân vật trên sân khấu
- Ngôn ngữ kịch là một hình thái ngôn ngữ hội thoại gần gũi với đời sống: súc tích, dễ hiểu và ít nhiều mang tính chất khẩu ngữ
- Ngôn ngữ kịch mang tính tổng hợp và phải phù hợp với tính cách nhân vật
- Trong kịch, thoại cũng là hành động đầy kịch tính Kịch khai thác triệt để chức năng hành động của lời nói, cho nên đây là đặc điểm thể hiện bản chất thể loại của ngôn ngữ kịch Chức năng hành động của lời nói bộc lộ đầy đủ nhất trong lời đối thoại của các nhân vật Trong đối thoại, muốn lời thoại trở thành hành động có kịch tính, mỗi lời nói phải bộc lộ một mục đích, một khuynh hướng ý chí Triệt để khai thác chức năng hành động của lời thoại, kịch văn học sử dụng ngôn ngữ như một phương tiện hữu hiệu để khắc hoạ tính cách Tính cách nhân vật là một cấu trúc phức tạp Trong tính cách vừa có yếu tố thuộc tâm lý, tình cảm, tính khí, khí chất, vừa có yếu tố thuộc tư tưởng, quan niệm, vừa có yếu tố thuộc về cá tính cá nhân, vừa có yếu tố thuộc về cái chung, cái xã hội
1.1.2.3 Năng lực đọc hiểu KBVH hiện đại
Đọc – hiểu là một hoạt động nhận thức Đối tượng của nó là giá trị thẩm mỹ của tác phẩm Tiến trình nhận thức này chỉ xảy ra khi có sự tương tác giữa văn bản với người đọc Đọc – hiểu sẽ phát triển vốn tri thức mà người đọc đã có trước Cũng cần khẳng định rằng, không phải chỉ ở bộ môn Ngữ văn mới hình thành năng lực đọc – hiểu Tuy nhiên, năng lực đọc – hiểu môn Ngữ văn khác với các ngành khác Bởi vì nó gắn liền với những điểm sáng thẩm mỹ nghệ thuật nghệ thuật của văn bản Hơn nữa, sự phát hiện và cảm thụ vẻ đẹp nghệ thuật của văn bản văn học ngoài tâm lý nghệ thuật, còn phải được xây dựng trên nền tư duy khoa học Sở dĩ có điều này là do bản chất của bộ môn Ngữ văn: vừa là nghệ thuật, vừa là khoa học
Trang 25Khi đọc văn bản cần hiểu được cách diễn đạt, nắm bắt mạch văn xuyên suốt
từ câu trước đến câu sau, từ ý này chuyển sang ý khác, đặc biệt phát hiện ra mạch ngầm – mạch hàm ẩn Bởi thế, cần đọc kĩ mới phát hiện ra những đặc điểm khác thường, thú vị
Đọc - hiểu hình tượng nghệ thuật: Hình tượng trong văn bản kịch hàm chứa nhiều ý nghĩa Đọc - hiểu hình tượng nghệ thuật của văn bản kịch đòi hỏi người đọc phải biết tưởng tượng, biết “cụ thể hóa” các tình cảnh để hiểu những điều mà ngôn từ chỉ có thể biểu đạt khái quát
Đọc - hiểu hình tượng nghệ thuật còn đòi hỏi phát hiện ra những mâu thuẫn tiềm ẩn trong đó và hiểu được sự lôgic bên trong của chúng
Đọc - hiểu tư tưởng, tình cảm của tác giả trong văn bản văn học: Phải phát hiện được tư tưởng, tình cảm của nhà văn ẩn chứa trong văn bản Tuy nhiên tư tưởng, tình cảm của tác giả trong văn bản kịch thường không trực tiếp nói ra bằng lời
Chúng thường được thể hiện ở giữa lời, ngoài lời, vì thế người ta đọc – hiểu
tư tưởng tác phẩm bằng cách kết hợp ngôn từ và phương thức biểu hiện hình tượng
Đọc - hiểu và thưởng thức văn bản kịch: Thưởng thức văn học là trạng thái tinh thần vừa bừng sáng với sự phát hiện chân lí đời sống trong tác phẩm, vừa rung động với sự biểu hiện tài nghệ của nhà văn, vừa hưởng thụ ấn tượng sâu
đậm đối với các chi tiết đặc sắc của tác phẩm Đó là đỉnh cao của đọc – hiểu văn
bản kịch Khi đó người đọc mới đạt đến tầm cao của hưởng thụ nghệ thuật
1.1.2.4 Đặc điểm kịch của Nguyễn Huy Tưởng và Lưu Quang Vũ
a) Đặc điểm kịch của tác giả Nguyễn Huy Tưởng
Nguyễn Huy Tưởng (1912 - 1960) xuất thân trong một gia đình nhà nho, quê ở làng Dục Tú, huyện Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh (nay là xã Dục Tú, huyện Đông Anh,
Hà Nội)
Trang 2619
Nhà văn là cây bút thiên về đề tài lịch sử, đồng thời cũng là người viếtnhiều thể loại văn học: tiểu thuyết, ký, kịch, truyện phim ở mỗi thể loại ông đều có những đóng góp đáng kể
Sự nghiệp văn học của Nguyễn Huy Tưởng chỉ gói gọn trong khoảng hai mươi năm, ông ra đi giữa tuổi 49, tuổi đang sung sức của một cây bút đã từng trải qua hai chế độ, tài năng đang ở độ kết tinh
Ghi nhận sự đóng góp của Nguyễn Huy Tưởng, năm 1996 nhà nước đã trao giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật cho ông
“Vũ Như Tô” là tác phẩm lớn nhất của nhà văn Nguyễn Huy Tưởng “Vũ Như Tô” là vở bi kịch lịch sử năm hồi viết về một sự kiện xảy ra ở Thăng Long khoảng năm 1516 - 1517 dưới triều Lê Tương Dực.Tác phẩm được Nguyễn Huy Tưởng viết xong vào mùa hè năm 1941, đề tựa tháng 6 - 1942 Từ vở bi kịch ba hồi đăng trên tạp chí Tri tân năm 1943 - 1944, được sự góp ý của nhiều nhà văn tiến bộ, Nguyễn Huy Tưởng đã sửa lại thành vở kịch năm hồi Đoạn trích sách giáo khoa thuộc hồi
V của vở kịch
Kịch Nguyễn Huy Tưởng mang những đặc điểm cơ bản sau:
Ở cấp độ loại hình, kịch bao gồm nhiều thể loại: bi kịch, hài kịch, chính kịch cùng nhiều tiểu loại và biến thể khác nhau Kịch Nguyễn Huy Tưởng chủ yếu thuộc thể bi kịch và chính kịch Ở đây chúng tôi tập trung nghiên cứu đặc điểm kịch Nguyễn Huy Tưởng trên các phương diện: xung đột, ngôn ngữ, không gian, thời gian nghệ thuật để thấy được đặc điểm riêng độc đáo của kịch Nguyễn Huy Tưởng
* Xung đột kịch:
Bằng trái tim nhạy cảm, ý thức trách nhiệm của cái tôi công dân, nghệ sĩ đối với cuộc đời, nhà văn đã phản ánh chân thực những xung đột, mâu thuẫn lớn của đời sống xã hội và những cuộc đấu tranh tư tưởng gay gắt trong bản thân mỗi nhân vật Nhìn một cách tổng quát, kịch Nguyễn Huy Tưởng bao gồm những kiểu xung đột sau:
- Xung đột dân tộc
Xung đột dân tộc được hình thành từ những mâu thuẫn quyết liệt, gay gắt giữa một bên là đất nước Đại Việt với những anh hùng đấu tranh vì chính nghĩa chống lại ách đô hộ của bọn thực dân Pháp và phong kiến phương Bắc Đây là xung đột cơ bản làm nền tảng cho diễn biến phát triển của cốt truyện Trên nền xung đột đó là những tính cách, số phận nhân vật hiện lên một cách chi tiết
Trang 2720
- Xung đột giữa khát vọng cá nhân và hiện thực xã hội
Xung đột này thường được các nhà lí luận gọi là mâu thuẫn giữa cá nhân với hoàn cảnh Thời đại nào cũng có những nhân vật rơi vào bi kịch éo le khi xã hội không hiểu được những khát vọng sáng tạo của họ Trong Vũ Như Tô, chúng tôi gọi đó là xung đột, mâu thuẫn giữa khát vọng sáng tạo cá nhân với hiện thực cuộc
sống Cuốn Từ điển thuật ngữ văn học khẳng định: “Xung đột giữa cái cao cả với
cao cả làm nảy sinh cảm hứng bi kịch, xung đột giữa cái cao cả với cái thấp hèn thì
là cảm hứng anh hùng” [27, tr 431]
Cái chết của Vũ Như Tô mang tính tất yếu, nó là bài học lớn tác động sâu sắc tới thế giới quan, quan điểm sáng tác của những nhà văn sau này: phải biết lựa chọn hướng đi đúng đắn cho nghệ thuật, biết dùng nghệ thuật cho việc cải tạo xã hội và
“sáng tạo ra sự sống” (Hoài Thanh) Mâu thuẫn, xung đột giữa cá nhân và hoàn cảnh, giữa khát vọng sáng tạo cá nhân với thực tại là xung đột chính thúc đẩy hành động kịch phát triển Nghệ thuật là cái cao cả, đời sống nhân dân cũng cao cả, mãnh liệt nhưng nhân dân không hiểu Vũ Như Tô Vũ Như Tô thì có phần rời xa quần chúng nên kết cục nảy sinh bi kịch Nhưng từ bi kịch của Vũ Như Tô cũng giúp người nghệ sĩ sau này khắc phục được những sai lầm để không rơi vào những sai lầm, bi kịch Nguyễn Huy Tưởng rất thành công trong việc tạo dựng tình huống xung đột, giải quyết tốt những mối quan hệ, những mâu thuẫn phức tạp, giúp nhân vật bộc lộ được tính cách, thể hiện được chủ đề, tư tưởng, đồng thời đặt ra nhiều câu hỏi lớn mà con người muôn đời đi tìm lời giải đáp: nghệ thuật với cường quyền; nghệ thuật vị nghệ thuật hay nghệ thuật vị nhân sinh; nghệ thuật và đời sống xã hội…
Xung đột kịch tạo ra nhiều câu hỏi lớn, đặt ra nhiều vấn đề mang ý nghĩa sâu sắc mà nền tảng của mọi xung đột là những vấn đề bức thiết của đời sống xã hội
* Ngôn ngữ kịch
Ngôn ngữ bao gồm nhiều dạng: đối thoại, độc thoại, hội thoại, gần gũi với lời
ăn tiếng nói hằng ngày, nó vừa tinh tế, điêu luyện, hàm súc, vừa nôm na, giản dị, dễ hiểu Kịch Nguyễn Huy Tưởng đã kéo công chúng trở lại với sân khấu, nhà hát để
họ được lắng nghe tiếng nói của đồng bào mình Sức hấp dẫn của kịch Nguyễn Huy Tưởng một phần là ở ngôn ngữ
- Ngôn ngữ nhân vật
Trang 2821
Kịch Nguyễn Huy Tưởng phản ánh những xung đột dân tộc, những giằng xé trong tư tưởng con người Vì thế ngôn ngữ đối thoại và độc thoại được sử dụng với tần số cao Nhưng ngôn ngữ đối thoại vẫn chiếm ưu thế hơn cả Ngôn ngữ đối thoại
là ngôn ngữ của hành động, lời nói nhân vật thể hiện những tác động qua lại làm nảy sinh tình huống mâu thuẫn, đẩy xung đột lên cao trào Qua đối thoại còn bộc lộ những tâm tư, tình cảm, tính cách nhân vật Số lượng nhân vật trong kịch Nguyễn Huy Tưởng không nhiều nhưng diện phản ánh rộng, thuộc nhiều tầng lớp xã hội: vua, quan, trí thức, nông dân, học sinh, sinh viên…Địa vị xã hội quy định đến những phát ngôn mang dấu ấn của giai cấp, lứa tuổi, quan hệ xã hội Điểm nổi bật trong ngôn ngữ kịch Nguyễn Huy Tưởng là ngôn ngữ đời thường, không cầu kì, bí hiểm, xa lạ, không trừu tượng, khô khan mà giản dị mộc mạc, phù hợp với nhu cầu tiếp nhận của công chúng
Ngôn ngữ kịch Nguyễn Huy Tưởng có hình thức ngắn gọn, sử dụng nhiều câu rút gọn, câu đơn, không phức tạp, khó hiểu, số lượng động từ chỉ hành động xuất hiện với mật độ dày đặc Các từ ngữ đưa đẩy được đưa vào hợp lí, tất cả nhằm đạt tới tính chân thực, gần gũi, sinh động của ngôn ngữ văn chương
Bên cạnh ngôn ngữ đối thoại, độc thoại, kiểu ngôn ngữ hội thoại cũng xuất hiện trong những lớp, những cảnh của vở kịch Hội thoại là khi có nhiều nhân vật cùng bàn về một vấn đề, một đối tượng Những cuộc hội thoại trong gia đình cụ Phương, Bác sĩ Thành, Đan Thiềm - Vũ Như Tô - cung nữ… giúp người đọc hình dung rõ hơn bức tranh của cuộc sống xã hội Đọc kịch Nguyễn Huy Tưởng, người đọc không thấy xa lạ bởi ngôn ngữ kịch là ngôn ngữ của cuộc sống thường ngày được tác giả cân nhắc, lựa chọn để diễn tả những điều quan sát, chiêm nghiệm Nó vừa chân thực, vừa tinh tế, trữ tình, khắc họa được tính cách nhân vật, truyền tải được tâm tư, tình cảm của nhà văn, nói lên được nguyện vọng của đông đảo nhân dân, đưa tác phẩm trở về phục vụ đời sống xã hội Đó là thành công của người nghệ
sĩ sáng tạo ngôn từ
- Ngôn ngữ tác giả
Trong truyện ngắn, tiểu thuyết, nhà văn có thể xuất hiện như một nhân vật cụ
thể (nhân vật Tôi) hay hóa thân vào một nhân vật khác hoặc đóng vai trò là người kể
chuyện, dẫn dắt các sự kiện, tình tiết, gián tiếp bộc lộ quan điểm, tư tưởng, thì trong kịch, nhà văn không có chỗ đứng như một nhân vật trung gian Có thể ví mỗi vở
Trang 29Ôi Đan Thiềm! Ôi Cửu trùng đài!” Nguyễn Huy Tưởng viết “Ta chẳng biết” nhưng
thực sự ông lại biết rất rõ ràng rằng: mỗi tác phẩm là một thực thể sống động, nhà văn khi đặt dấu chấm hết để khép lại tác phẩm thì cũng ngay lập tức trở thành người độc giả khó tính, nghiêm khắc Trong sáng tạo có những hình tượng, câu chuyện diễn biến theo quy luật khách quan, vượt xa ý đồ sáng tạo ban đầu Phải chăng Nguyễn Huy Tưởng muốn để cho bạn đọc và thời đại phán xét Như Tô, và ở góc nhìn nào người đọc cũng có sự đồng cảm nhất định với Vũ, Đan Thiềm và Nguyễn Huy Tưởng
Khảo sát ngôn ngữ tác giả kịch bản, chúng tôi nhận thấy Nguyễn Huy Tưởng không chêm xen ngôn ngữ một cách tùy tiện làm rối hành động kịch mà chỉ ở những đoạn cao trào, khi nhân vật rơi vào tình thế bi kịch, lưỡng nan, nhà văn mới đưa vào những chỉ dẫn cần thiết, chủ yếu là những từ ngữ miêu tả Còn ngôn ngữ nhân vật mặc dù cũng do nhà văn sáng tác nhưng để hình tượng được khách quan, ngôn ngữ nhân vật được gắn với những con người cụ thể, nhà văn đứng đằng sau như vị tổng chỉ huy
* Không gian - thời gian nghệ thuật
- Sự đan xen giữa không gian gia đình và không gian xã hội
Viết về vai trò, tầm quan trọng của không gian nghệ thuật, cuốn Từ điển
thuật ngữ Văn học viết: “Không gian nghệ thuật chẳng những cho thấy cấu trúc
nội tại của tác phẩm văn học, các ngôn ngữ tượng trưng mà còn cho thấy quan niệm về thế giới, chiều sâu cảm thụ của tác giả hay của một giai đoạn văn học ”
[27, tr 161] Kịch Nguyễn Huy Tưởng không bó hẹp trong một không gian nhất định mà có sự mở rộng nhiều chiều, khiến phạm vi bao quát được toàn diện, khái
Trang 3023
quát Trong Vũ Như Tô, tác giả đã xây dựng được nhiều kiểu không gian nghệ thuật đặc sắc:
Thứ nhất là không gian cung đình với triều đại vua Lê Tương Dực ở kinh
thành Thăng Long, nơi có nhiều lễ nghi, phép tắc nghiêm ngặt, có cung nữ, Thái giám, Thứ phi, Quận công ngày đêm hầu hạ Không gian này ẩn chứa nhiều hiểm họa, nơi khởi nguồn của những cuộc bạo loạn, bởi người đóng vai trò chi phối không gian là vị vua ăn chơi hưởng lạc…Mở rộng ra không gian cung đình là không gian của Cửu trùng đài nguy nga tráng lệ Ở lớp 9, hồi III, Nguyễn Huy Tưởng tạo được một không gian kịch mang nhiều ý nghĩa với cảnh gặp gỡ giữa Đan Thiềm -
Vũ Như Tô trên bệ cao của Cửu Trùng Đài đang xây dang dở Về cấu trúc, của vở kịch, trong 5 hồi kịch thì 3 hồi diễn ra ở cung cấm của nhà vua:
Hồi I: Một cung cấm của vua Lê
Hồi II: Một cung điện mà vua dành riêng cho Vũ Như Tô ở
Hồi V: Một cung cấm
Hai hồi còn lại đặc tả những sự việc, tâm tư, suy nghĩ của Vũ Như Tô đối với Cửu trùng đài:
Hồi II: Phía trước sân khấu là một cái bể cao 4, 5 bậc Bên trái xoài dọc
từbậc trên cùng xuống bậc dưới là đuôi một con rồng Giữa sân khấu là một khoảng rộng, phẳng, ngổn ngang vài khối đá to Trong cùng là cảnh Hồ Tây xanh biếc với cây cối um tùm Có tiếng thợ ồn ào chung quanh Thỉnh thoảng văng vẳng tiếng đàn sáo
Hồi IV: Cũng cảnh ấy… những phiến đá đã dọn đi, xa xa là nửa một thứ khải
hoàn môn (về phía con rồng) là bức tường đá ong thấp, trên có tượng một kị mã,
mũ trụ áo giáp, đeo cung kiếm
Thứ hai là không gian đồng quê, gợi lên qua lời thoại của Thị Nhiên, lời kể
của người thợ và Trịnh Duy Sản khi họ đề cập đến cuộc sống khốn cùng của người dân vô tội Qua những lời thoại ngắn ngủi của Thị Nhiên, cuộc sống và bức tranh làng quê nghèo nhưng yên bình, hạnh phúc được tái hiện rõ nét: “Mình thì quê mùa, chung quanh toàn những quan to, quan lớn, bà nọ, bà kia, người ta khinh như mẻ cả đấy, nhục nhã lắm rồi, mà ở cái nhà này thì tôi không ở được đâu Ở nhà, nhà tranh vách đất sao mà ấm thế, ngủ ngon quá” (lời của Thị Nhiên lớp 1, hồi II) Đó là không gian mà người đọc có thể tưởng tượng, nó hoàn toàn đối lập với cảnh xa hoa
Trang 31- Thời gian đồng hiện giữa hiện tại và quá khứ
Với đề tài về lịch sử dân tộc, Vũ Như Tô lấy cảm hứng từ bi kịch cuộc đời của kiến trúc sư Vũ Như Tô Câu chuyện xảy ra ở kinh thành Thăng Long những năm 1516 - 1517, yếu tố thời gian được tác giả gọi tên một cách cụ thể Cuộc đời nghệ sĩ đích thực của nghệ sĩ Vũ Như Tô chỉ chảy trôi trong mười tháng, với nhịp
hành động kịch hối hả, nhiều khoảng trống, nhiều lỗ hổng Ở hồi III, chỉ dẫn sân khấu ghi: Nửa năm sau và trong lời của Phó Bảo, tác giả cũng dẫn lại: “Cứ thế này thì bao giờ xong Công việc cứ nở ra Nửa năm rồi mà chẳng đâu vào đâu cả Đã
xuân rồi mà mình chẳng biết xuân là gì nữa Nhớ nhà quá!” (lớp 1, hồi III) Và hồi
IV ghi: Bốn tháng sau Một đêm hè Những khoảng trống thời gian ấy chứa đựng
biết bao sự biến động: hàng chục vạn thợ và phu, hàng ngàn voi chở gỗ từ Lào sang Thăng Long, hàng ngàn chuyến thuyền chở đá vượt biển Đông Nguyễn Huy Tưởng
đã lược những quãng thời gian không cần thiết, tránh được sự lặp lại của hành động kịch, đảm bảo được quy luật phát triển khách quan Sau nửa năm tiến hành, Đài Cửu Trùng dần dần hiện lên với dáng vẻ bề thế, nguy nga, đi đôi với nó là cảnh chết chóc, oán giận của thợ thuyền và nhân dân Thời gian càng trôi đi, mối mâu thuẫn giữa triều đình, đứng đầu là vua Lê Tương Dực với quần chúng nhân dân ngày càng gay gắt, bi kịch Vũ Như Tô và khát vọng xây Cửu Trùng Đài càng được đẩy lên cao
và cuối cùng kết thúc bằng cái chết Qua những đoạn đối thoại giữa Vũ Như Tô với nhà vua, với Thị Nhiên cùng lời bộc bạch của Thái tử Chiêm Thành, người đọc có thể hình dung về một kiểu thời gian ngoài văn bản, không chi phối trực tiếp đến hành động kịch Đó là khoảng thời gian dự tính mà qua đó người đọc có thể thấy được sự kì công của Cửu Trùng Đài và những quan tâm của Vũ với công trình nghệ
thuật này Những quãng lặng trong kịch là do sự co giãn thời gian của nhà văn
Nguyễn Huy Tưởng đã đảm bảo được tính lôgíc của hành động kịch, nhấn mạnh
Trang 3225
vào những giai đoạn cao trào của xung đột tạo được hiệu quả nghệ thuật Thời gian tuyến tính theo nhịp chảy trôi của thời gian xã hội là đặc điểm trong kịch Nguyễn Huy Tưởng trước cách mạng
Kịch Nguyễn Huy Tưởng hướng đến những xung đột gay gắt của đời sống chính trị, xã hội với những biến cố lớn mà người đọc dễ dàng hình dung khi nhìn vào tiến trình lịch sử dân tộc Kịch Nguyễn Huy Tưởng phản ánh một cách sinh động những mâu thuẫn xã hội: giữa ta và địch, sự sống và cái chết, tự do và nô lệ, chính nghĩa với gian tà Đồng thời đi sâu lí giải những bi kịch của người trí thức trước những đòi hỏi của hiện thực xã hội Với ngôn ngữ đối thoại - hành động, chân thực, giản dị, lời độc thoại trữ tình sâu lắng, kiểu không gian - thời gian lồng xếp, đan cài, tạo nên nét đặc trưng, khác biệt giữa kịch Nguyễn Huy Tưởng với sáng tác của các kịch gia cùng thời Qua những trang kịch, ta thấy rõ tài năng, bút pháp sáng tạo của nhà viết kịch tài hoa, có kinh nghiệm trong việc tạo dựng xung đột, kết cấu,
sử dụng ngôn từ, bài trí không gian, mang lại nhiều điều mới lạ, giúp công chúng hiểu sâu sắc hơn bản thân, cuộc đời thông qua những áng văn chương
b) Đặc điểm kịch của tác giả Lưu Quang Vũ
Lưu Quang Vũ sinh ngày 17 tháng 4 năm 1948 tại xã Thiệu Cô, huyện Hạ Hoà (Phú Thọ), quê gốc ở Đà Nẵng
Nói đến Lưu Quang Vũ là nói đến một cây bút tài hoa đã để lại dấu ấn trong nhiều thể loại Con đường sự nghiệp khởi đầu từ thơ và kết thúc rực rỡ ánh hào quang ở kịch Không chỉ có vậy, truyện ngắn của Lưu Quang Vũ, những bài bình luận sân khấu của ông cũng tạo được bản sắc, giọng điệu riêng, để lại những dư vị khó quên trong lòng người đọc
Năm 2000, Lưu Quang Vũ được truy tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh đợt 2 về
nghệ thuật sân khấu (với các vở kịch: Tôi và chúng ta, Lời thề thứ 9)
Tác phẩm chính:
+ Thơ: Hương cây (1968 - in cùng Bằng Việt trong tập Hương cây -Bếp lửa),
Mây trắng của đời tôi (1989, Bầy ong trong đêm sâu (1993)
+ Kịch: Sống mãi tuổi 17 (1979), Hồn Trương Ba, da hàng thịt (1981), Mùa
hạ cuối cùng (1981), Cô gái đội mũ nồi xám (1981), Nàng Xita (1982), Nữ kí giả
(1983), Tôi và chúng ta (1984), Ông vua hoá hổ (1985), Hoa cúc xanh trên đầm lầy (1987), Lời thề thứ 9 (1988)
Trang 3326
“Hồn Trương Ba, da hàng thịt” (viết năm 1981, đến năm 1984 mới ra mắt công chúng) là một trong những vở kịch đặc sắc nhất của Lưu Quang Vũ, đã công diễn nhiều lần trên sân khấu trong và ngoài nước Từ một cốt truyện dân gian, Lưu Quang Vũ đã xây dựng thành một vở kịch mới hiện đại, đặt ra nhiều vấn đề mới mẻ,
có ý nghĩa tư tưởng triết lý và nhân văn sâu sắc
Khi hồn Trương Ba được sống "hợp pháp" trong xác hàng thịt, mọi sự trở nên rắc rối, éo le Ba tháng "ngụ cư” trong xác lạ, hồn Trương Ba có nguy cơ bị thân
xác lấn át Nó phải trải qua những cuộc đấu tranh gay gắt với chính thể xác mà mình trú ngụ - thể xác đầy ham muốn bản năng của anh hàng thịt Nó càng trở nên
xa lạ, đáng sợ trong mắt những người thân Một trong những đỉnh điểm của cuộc đối đầu giữa hồn và xác là khi Trương Ba sắp ngã vào tay chị vợ anh hàng thịt, hồn chút nữa bị thất bại trước sự dẫn dắt của thể xác Cuối cùng, để bảo toàn sự thanh sạch của mình, hồn Trương Ba đã chấp nhận cái chết vĩnh viễn, khước từ cuộc sống không phải là mình, dù sự sống muôn phần đáng quý
Vở kịch “Hồn Trương Ba, da hàng thịt” gồm 7 cảnh, không gian, thời gian mở rộng từ thiên đình xuống hạ giới, tập hợp được nhiều kiểu dạng nhân vật
Đoạn trích trong SGK thuộc cảnh VII và đoạn kết, cảnh cuối cùng của vở kịch Đây là giai đoạn xung đột kịch phát triển đến đỉnh điểm Cuộc đối đầu giữa Hồn Trương Ba và xác anh hàng thịt diễn ra căng thẳng, cuối cùng hồn có nguy cơ
bị xác lấn át Ông Trương Ba bị những người thân trong gia đình nghi ngờ, xa lánh Nỗi đau khổ của nhân vật lên đến tột cùng dẫn tới quyết định giải thoát
Đặc điểm kịch của tác giả Lưu Quang Vũ:
* Xung đột kịch
- Xung đột giữa cái mới và cái cũ
Trong những năm 80 (thế kỷ XX), xung đột giữa cái mới và cái cũ, cái tiến bộ với cái lạc hậu chính là vấn đề cốt lõi của thực tại, đồng thời đó cũng là xung đột có tính quy luật Với óc quan sát nhanh nhạy của một nhà báo, Lưu Quang Vũ đã nhìn
rõ mối xung đột bản chất nhất của thời hậu chiến Đây thực chất là xung đột giữa một bên là cái hợp quy luật, hợp lí, có thể chấp nhận được với cái phi lí, không còn hợp xu thế vận động của đời sống
- Xung đột giữa người dân lương thiện tích cực và thế lực đen tối tiêu cực
Nhiều vở kịch của Lưu Quang Vũ mang đậm tính chất phê phán, phủ định cái
ác, cái xấu, khẳng định cái thiện và cái đẹp thông qua miêu tả xung đột giữa người
Trang 3427
dân lương thiện, chân thật với thế lực đen tối tiêu cực, tàn ác và giả dối Đây cũng là mối xung đột thể hiện rõ bản chất của cuộc sống Chừng nào còn con người thì xung đột này còn tồn tại
Vở kịch Hồn Trương Ba da hàng thịt được xem là sâu sắc vì nó không chỉ dừng lại ở chỗ mô phỏng đời sống mà còn khám phá các mặt đối lập ngay trong bản thân con người Xung đột trong vở kịch này cũng phức tạp như chính cuộc sống phức tạp, đa đoan Lưu Quang Vũ vừa miêu tả xung đột giữa giai cấp thống trị với giai cấp bị trị, xung đột giữa tính cách Trương Ba với hoàn cảnh lắt léo mà nhân vật phải đối mặt, đồng thời cũng xây dựng các lớp kịch biểu hiện xung đột giữa linh hồn cao khiết với dục vọng thân xác của con người Đây là một trong những đặc điểm tạo nên chiều sâu tư tưởng và phong cách nghệ thuật của kịch Lưu Quang Vũ
- Phương thức giải quyết xung đột
+ Giải quyết xung đột bằng kết cấu gợi mở
Lưu Quang Vũ thường dùng những sự kiện, biến cố có tính chất gợi mở để qua đó xung đột được tháo gỡ Kết thúc mở tạo được dư ba trong lòng người xem, ngay cả khi vở kịch đã chấm dứt, khán giả vẫn tiếp tục dòng suy nghĩ, nghiền ngẫm
về vấn đề mà tác giả gợi ra
+ Giải quyết xung đột bằng sự tự ý thức
Bên cạnh việc dùng những sự kiện, biến cố có tính chất bước ngoặt để qua đó xung đột được tháo gỡ, Lưu Quang Vũ còn sử dụng một phương thức nghệ thuật khác Đó là sử dụng sự thay đổi, chuyển hoá trong tâm lý nhân vật, hay nói khác đi
là sự tự ý thức của nhân vật như là một phương thức hiệu quả để giải quyết những vấn đề mà xung đột kịch đưa ra Ở đây, tác giả để cho nhân vật tự diễn giải những cảm nhận cảu mình về thế giới và về chính bản thân mình Nó không được che chở bởi một thế lực tư tưởng nào, mà là tự khai mở những bí ẩn trong tâm hồn mình Bước phát triển cao hơn của tự ý thức là con người tự đấu tranh để hoàn thiện nhân cách Bởi chỉ có tự ý thức và đấu tranh, con người mới hy vọng chiến thắng được chính mình Cứ như thế, các nhân vật tự tháo gỡ xung đột kịch Và từ đây, những bài học về nhân sinh đã được bắt đầu Trong vở Hồn Trương Ba – da hàng thịt, xung đột được đẩy lên cao lúc thân xác phàm phu muốn dồn linh hồn thanh cao xuống vực thẳm tha hóa, gia đình sắp tan nát, vợ chồng có nguy cơ phải chia ly
* Hành động kịch
- Xây dựng hành động kịch thống nhất:
Trang 3528
+ Gắn kết các hành động thành một hệ thống tập trung biểu hiện chủ đề
Kịch của Lưu Quang Vũ không phải là một mớ hành động vụn vặt, lẻ tẻ, không ăn nhập gì với nhau mà mọi hành động kịch đều xoay việc phục vụ cho tư tưởng chủ đề Bởi vì nếu tư tưởng cốt lõi của kịch bản chỉ được phát biểu qua miệng một nhân vật thì người xem sẽ quên ngay tư tưởng đó Hành động kịch dù mang tính chất đúng hay sai, tốt hay xấu đều dẫn đến những hành động phản xạ, phản ứng lại; quá trình đó diễn ra liên tiếp cho đến khi xung đột chính được giải quyết Từ đầu đến cuối, Lưu Quang Vũ chỉ chọn lựa miêu tả những hành động trực tiếp hoặc gián tiếp phục vụ cho chủ đề của kịch bản, loại bỏ những hành động không ăn nhập với hành động xuyên và cả những hành động minh họa cho tư tưởng một cách sống sượng
+ Dẫn dắt hành động kịch dựa trên quy luật nguyên nhân - kết quả
Có thể nói trong kịch Lưu Quang Vũ, mọi biến cố lớn hay chi tiết nhỏ được đưa ra đều có nguyên nhân cụ thể Để đảm bảo tính logic của hành động kịch và câu chuyện kịch không có các chi tiết vô lý, trước khi tạo ra sự biến, tác giả đã chuẩn bị bằng một loạt những nguyên cớ khiến cho sự biến đó phát sinh Bởi vì nếu đột ngột đưa ra sự biến thì sự biến có vẻ gượng ép giả tạo, thiếu sức thuyết phục Hơn nữa,
sự biến trong kịch Lưu Quang Vũ được cho là hợp lý bởi nó phù hợp với hoàn cảnh
cụ thể và tính cách nhân vật
* Các loại hình ngôn ngữ
- Ngôn ngữ đối thoại
Ngôn ngữ đối thoại đảm nhiệm mọi chức năng trần thuật như giới thiệu nhân vật, nhắc chuyện cũ, đánh giá sự việc ở hiện tại, giúp người xem hiểu rõ mức độ căng thẳng trong xung đột kịch, cách giải quyết xung đột và tư tưởng - tình cảm của tác giả Lời đối thoại gắn liền với việc các nhân vật nói với nhau, hướng vào nhau, tác động lẫn nhau Trong kịch Lưu Quang Vũ, ngôn ngữ đối thoại của nhân vật không mang giọng văn vẻ trơn tuột, sáo rỗng Lời đối đáp vừa có tính khẩu ngữ, giọng chân thực của lời hội thoại vừa mang chất văn học Thông qua những lớp đối thoại tự nhiên, giản dị, anh khắc sâu tính cách nhân vật, gợi cho người xem nhiều suy nghĩ về thế thái nhân tình Lưu Quang Vũ có cách giới thiệu nhân vật không rườm rà mà chỉ dùng một lời thoại gọn gàng Đồng thời, anh chú ý chọn lựa từ ngữ phù hợp tính cách nhân vật, mỗi kiểu nhân vật có một kiểu ăn nói, kiểu câu, ngữ điệu lời nói khác nhau
Trang 3629
- Ngôn ngữ độc thoại
Lưu Quang Vũ không chỉ viết về mối quan hệ giữa con người với xã hội mà còn miêu tả mối quan hệ giữa con người với chính bản thân mình, những giây phút nhân vật độc thoại là lúc nhân vật đang nói với chính mình để tự an ủi hoặc suy nghĩ để chọn lựa hành vi ứng xử Mỗi loại tính cách, mỗi loại người, mỗi độ tuổi có cách nghĩ riêng, tuỳ theo hoàn cảnh Sự kiện, biến cố trong kịch có sức mạnh lớn, tạo nên những phản ứng nội tâm của các nhân vật Lưu Quang Vũ đã chú ý miêu tả nội tâm nhân vật, đi sâu hơn vào các ngõ ngách bên trong tâm hồn con người
- Tính chất ngôn ngữ kịch Lưu Quang Vũ
+ Ngôn ngữ giàu chất triết lý hàm súc
Lưu Quang Vũ là người nhập cuộc, ý thức công dân tích cực khiếnanh thường
ưu tư về con người và thời cuộc Cho nên ngôn ngữ trong kịch của anh thường đậm chất triết luận - trữ tình Chất triết lý toát lên từ lời thoại của một số nhân vật nhưng không phải bằng giọng văn lên gân, thuyết giáo cao siêu mà ngược lại, rất tự nhiên, mộc mạc, dễ hiểu
+ Ngôn ngữ mang tính hành động
Ngôn ngữ kịch Lưu Quang Vũ mang tính hành động, thể hiện hành động và có tác dụng như hành động Mỗi lời thoại vừa được phát ra, lập tức có một phần hành động đáp lại, tuỳ theo mục đích cụ thể của từng nhân vật lúc đó Lời thoại cho người xem thấy các nhân vật liên tục tác động lẫn nhau, chuyển hướng hành động
và mức độ nông hay sâu của mâu thuẫn giữa họ Bên này tấn công bằng lời nói, bên kia chống đỡ và tấn công lại một 110 cách mạnh mẽ hơn Tuyến hành động cứ thế tiếp tục cho đến khi cái nút kịch được mở ra
+ Ngôn ngữ hóm hỉnh, hài hước
Tiếng cười là một trong những điều kỳ diệu của cuộc sống, Đôtxtôiepxki đã từng nói: “Hài hước là cái phao cứu hộ cho sóng gió của cuộc đời Là dấu hiệu xấu nếu người ta không còn biết cười đùa trào phúng” Xung đột kịch quá căng thẳng liên tục từ đầu đến cuối dễ tạo ra cảm giác đơn điệu, nhàm chán Vì vậy Lưu Quang
Vũ thường xen vào những lớp thoại dí dỏm, hài hước vừa để người xem thư giãn vừa tạo độ giãn cách hợp lý giữa các bước tiến triển của xung đột kịch Đây là lúc Lưu Quang Vũ vận dụng thủ pháp trì hoãn khiến cho người xem hứng thú theo dõi
vì muốn biết cuối cùng số phận nhân vật ra sao, vở kịch càng lúc càng lôi cuốn và
họ hồi hộp chờ đợi đoạn kết
Trang 3730
Tiếng cười từ kịch Lưu Quang Vũ là tiếng cười cảnh tỉnh dựa trên tinh thần xây dựng và nâng cao đời sống con người Vốn sống của người nghệ sĩ trong trường hợp này không phải chỉ đơn thuần là những gì anh ghi nhận được từ thực tại khách quan, mà còn ở sự nghiền ngẫm, phân tích, có khả năng thâm nhập vào thế giới tâm
lý của một kiểu người, loại người
Lưu Quang Vũ thường khắc họa tính cách một số nhân vật phụ chỉ bằng vài lời đối thoại hóm hỉnh nhiều ẩn ý Bên cạnh thủ pháp cường điệu, anh còn dùng lối điệp ngữ, so sánh, nhưng hình ảnh tương phản sinh động, cụ thể, gây cười song vẫn giữ được tính nghiêm túc và tính chiến đấu mạnh mẽ
+ Ngôn ngữ giản dị, tự nhiên, gần gũi với lời nói hàng ngày
Lưu Quang Vũ thường chọn kiểu cấu trúc lời thoại sao cho gọn gàng, vừa đủ
ý, không hoa mỹ văn vẻ mà hướng về lớp từ khẩu ngữ bình dân dùng trong sinh hoạt đời thường
Ngôn ngữ được cá tính hóa, mang tính hành động đầy sức hấp dẫn và lôi cuốn,
âm hưởng chung toát lên chất triết luận - trữ tình pha chút hài hước, dí dỏm rất có duyên Lời độc thoại nới rộng không gian tâm trạng, dẫn người xem vào thế giới bên trong tâm hồn con người, làm cho quá trình suy nghĩ, cảm thụ thêm sâu sắc và phong phú
có 3 tác phẩm kịch được đưa vào giảng dạy, trong khi đó thể loại trữ tình được đưa vào giảng dạy là 48 tác phẩm, thể loại tự sự là 41 tác phẩm
Ở chương trình THPT: Đối với sách giáo khoa trước khi chỉnh lý, sách giáo khoa chỉnh lý hợp nhất năm 2000, sách thực nghiệm - Nhà xuất bản Giáo dục Các tác phẩm kịch được đưa vào chương trình lại chỉ bao gồm các tác phẩm của các tác giả nước ngoài như Sile, Uyliam Sêchxpia, trong khi đó, kịch bản văn học Việt nam lại chưa được đưa vàochương trình
Trang 3831
Cùng với sự nỗ lực đưa phương pháp mới vào giảng dạy, các nhà soạn sách hiện nay đang tiến hành cải cách chương trình sách giáo khoa phổ thông, đã đưa vào trong chương trình THPT những tác phẩm mới và điều đáng lưu ý là sách giáo khoa Ngữ văn chỉ đưa vào ba tác phẩm kịch thì trong đó kịch của tác giả Việt Nam chiếm số lượng là hai Cụ thể là:
- “Tình yêu và thù hận” - trích “Rômêô và Giuliet” của Uyliam Sêchxpia
- “Vĩnh biệt Cửu Trùng Đài” - trích “Vũ Như Tô” của Nguyễn Huy Tưởng
- “Hồn Trương Ba, da hàng thịt” (trích) của Lưu Quang Vũ
Với số lượng tác phẩm kịch ít ỏi như vậy, kịch của hai tác giả Nguyễn Huy Tưởng và Lưu Quang Vũ đã được đưa vào giảng dạy trong chương trình Ngữ văn THPT giúp chúng ta hiểu được vị trí, vai trò của kịch trong nền văn học nghệ thuật nước nhà đồng thời đó cũng là thể hiện sự trân trọng của xã hội, của các nhà nghiên cứu và các thế hệ bạn đọc đối với sự đóng góp của văn học kịch nói chung cũng như đối với các tác giả Nguyễn Huy Tưởng, Lưu Quang Vũ nói riêng
1.2.1.2 Mục tiêu dạy học kịch bản văn học Việt Nam hiện đại ở trường THPT hiện hành
Ở cấp độ vĩ mô, mục tiêu dạy học các tác phẩm kịch bản văn học Việt Nam hiện đại cũng không nằm ngoài mục tiêu chung của việc dạy học môn Ngữ văn hiện nay vàlà sự cụ thể hóa mục tiêu giáo dục nói chung, chú trọng dạy chữ, dạy người
và hướng nghiệp Đi vào cụ thể, môn học Ngữ văn nhấn mạnh ba mục tiêu chính sau:
Thứ nhất là trang bị những kiến thức phổ thông, cơ bản, hiện đại, có tính hệ thống về ngôn ngữ và văn học – trọng tâm là tiếng Việt và văn học Việt Nam – phù hợp với trình độ phát triển của lứa tuổi và yêu cầu đào tạo nhân lực trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Thứ hai là hướng tới trang bị cho học sinh năng lực sử dụng, giao tiếp tiếng Việt, năng lực tiếp nhận văn bản, năng lực cảm thụ thẩm mỹ, và quan trọng nhất vẫn là hình thành ở các em năng lực tự học, tự nghiên cứu, khả năng vận dụng lý thuyết vào thực tế cuộc sống
Thứ ba là bồi dưỡng cho học sinh tình yêu văn học, văn hóa, tình yêu gia đình, thiên nhiên, đất nước, lòng tự hào dân tộc, ý chí tự lập, tinh thần dân chủ nhân văn Như vậy có thể thấy việc dạy học các tác phẩm kịch bản văn học nói riêng hay các tác phẩm thuộc nhiều thể loại khác trong chương trình Ngữ Văn THPT nói
Trang 3932
chung cũng đều hướng vào một mục tiêu chung: đó là việc trang bị kiến thức căn bản, hình thành và phát triển ở học sinh các năng lực cơ bản, qua đó bồi đắp tình yêu tiếng Việt, lòng tự hào dân tộc…
1.2.1.3 Mục tiêu dạy học đoạn trích “Vĩnh biệt Cửu Trùng đài” (Trích kịch
Vũ Như Tô - Nguyễn Huy Tưởng)
Thông qua giờ học hướng dẫn học sinh hiểu và phân tích được xung đột kịch, tính cách, diễn biến tâm trạng và bi kịch của Vũ Như Tô, Đan Thiềm trong đoạn trích Đồng thời giúp các em nắm được những nét đặc sắc về nghệ thuật của vở kịch qua đoạn trích này Bên cạnh đó còn định hướng học sinh thấy được thái độ ngợi ca ngưỡng mộ trân trọng của tác giả đối với những người nghệ sĩ tài năng nhưng lại có
số phận bi thảm
Rèn cho học sinh kỹ năng đọc-hiểu một đoạn trích kịch bản văn học theo hướng phát triển năng lực Rèn luyện các kỹ năng về phân tích đánh giá một vấn đề đặt ra trong tác phẩm
Mục tiêu mà giờ học hướng tới nữa đó là giúp học sinh nhận ra được mối quan
hệ giữa nghệ thuật và cuộc sống để yêu văn học nói riêng và nghệ thuật nói chung
Và quan trọng hơn là thông qua các hoạt động được tiến hành trong giờ học sẽ hướng tới góp phần hình thành ở các em năng lực giải quyết vấn đề, năng lực sáng tạo, năng lực hợp tác, năng lực giao tiếp tiếng Việt, năng lực cảm thụ văn học
1.2.1.4 Mục tiêu dạy học đoạn trích “Hồn Trương Ba da hàng thịt” (Lưu Quang Vũ)
Mục tiêu giờ học hướng đến là giúp các em thấy được tấn bi kịch của con người khi bị đặt vào nghịch cảnh phải sống nhờ, sống tạm khiến cho nhân cách bị tha hóa trước sự lấn át của thể xác phàm tục
Cũng thông qua việc dạy học các tác phẩm này, học sinh cảm nhận được vẻ đẹp tâm hồn người lao động trong cuộc đấu tranh chống lại sự giả tạo, dung tục, bảo
vệ quyền được sống đích thực và khát vọng hoàn thiện nhân cách Từ đó các em sẽ cảm hiểu được những giá trị của bản thân qua việc cảm hiểu tác phẩm văn học, hình thành và nâng cao nhận thức và xúc cảm thẩm mĩ của cá nhân, biết cảm nhận và rung động trước vẻ đẹp của thiên nhiên, con người, cuộc sống, có những hành vi đẹp đối với bản thân và các mối quan hệ xã hội, hình thành thế giới quan thẩm mỹ cho bản thân Từ đó sẽ dần hình thành ở các em năng lực giải quyết vấn đề, năng lực sáng tạo, năng lực hợp tác, năng lực giao tiếp tiếng Việt, năng lực cảm thụ văn
Trang 4033
học
Bên cạnh đó, thông qua giờ học GV còn giúp các em thấy được vẻ đẹp nghệ thuật trong kịch Lưu Quang Vũ: sự hấp dẫn của kịch bản văn học, sự kết hợp giữa tính hiện đại với các giá trị truyền thống, sự phê phán mạnh mẽ, quyết liệt và chất trữ tình đằm thắm, bay bổng
1.2.2 Thực trạng dạy học văn bản kịch trong nhà trường THPT hiện nay
Để hiểu rõ thực tế dạy học kịch bản văn học ở nhà trường Trung học phổ thông, chúng tôi tiến hành khảo sát các tư liệu sau:
- Sách giáo khoa
- Sách giáo viên
- Sách tham khảo (Sách bài tập)
- Vở soạn văn, vở ghi của học sinh
1.2.2.1 Khảo sát sách giáo khoa
* Sách giáo khoa Ngữ văn chương trình nâng cao: Giáo sư Trần Đình Sử tổng chủ biên - NXB Giáo dục, 2007
Dành thời gian cho việc dạy học kịch bản văn học của Việt Nam là:
+ Lớp 11: “Vĩnh biệt Cửu Trùng Đài” - trích “Vũ Như Tô” của Nguyễn Huy Tưởng: 2 tiết
+ Lớp 12: “Hồn Trương Ba, da hàng thịt” (trích) của Lưu Quang Vũ: 2 tiết Bài học được biên soạn gồm: Yêu cầu đạt, tiểu dẫn, đoạn trích, hướng dẫn học bài; bài tập nghiên cứu, tri thức đọc hiểu (lớp 11)
- Mục tiêu yêu cầu cần đạt đã định hướng nội dung kiến thức cho cả giáo viên và học sinh Tuy nhiên người soạn sách quá đề cao nghệ thuật xây dựng kịch
mà vấn đề tư tưởng nhân văn của tác phẩm còn mờ nhạt (lớp 11) hoặc nếu đề cao
tư tưởng nhân văn của vở kịch thì đặc trưng của kịch lại mờ nhạt (lớp 12)
- Bài học đã được đặt trong mối quan hệ với đặc trưng thể loại ngay ở lớp 11,
vì bài học sau là “Phỏng vấn và trả lời phỏng vấn” và “Đọc kịch bản văn học” Cách
bố trí này sẽ giúp cho giáo viên và học sinh có được hướng tiếp cận đúng với đặc trưng của thể loại kịch Mặc dù vấn đề thể loại đã được đề cập đến nhưng nhìn chung còn mờ nhạt, chưa cụ thể
- Đoạn trích được đưa vào chương trình dung lượng kiến thức vừa đủ