Xuất phát từ vai trò và tầm quan trọng của ICT đối với SVSP và những trăn trở của bản thân đối SVSP trong thời đại bùng nổ CNTT-TT, trong giới hạn của nghiên cứu tác giả lựa chọn đề tài:
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
DƯƠNG THỊ HẢI YẾN
ĐÁNH GIÁ NĂNG LỰC CÔNG NGHỆ THÔNG TIN VÀ TRUYỀN THÔNG CỦA SINH VIÊN SƯ PHẠM
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC – ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ ĐO LƯỜNG VÀ ĐÁNH GIÁ
HÀ NỘI – 2019
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
DƯƠNG THỊ HẢI YẾN
ĐÁNH GIÁ NĂNG LỰC CÔNG NGHỆ THÔNG TIN VÀ TRUYỀN THÔNG CỦA SINH VIÊN SƯ PHẠM
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC – ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ ĐO LƯỜNG VÀ ĐÁNH GIÁ
CHUYÊN NGÀNH: ĐO LƯỜNG VÀ ĐÁNH GIÁ TRONG GIÁO DỤC
Mã số: 8140115
Người hướng dẫn khoa học: TS Lê Thái Hưng
Hà Nội - 2019
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi tên: Dương Thị Hải Yến
Là học viên cao học chuyên ngành - Đo lường và đánh giá trong Giáo dục, khóa QH - 2016 - S của trường Đại học giáo dục – Đại học Quốc gia Hà Nội
Tôi xin cam đoan đây là nghiên cứu do tôi thực hiện Các số liệu, kết luận trình bày trong luận văn này là trung thực và chưa được công bố ở các nghiên cứu khác Tôi xin chịu trách nhiệm về nghiên cứu của mình
Học viên
Dương Thị Hải Yến
Trang 4Em xin bày tỏ lời cảm ơn sâu sắc tới toàn thể các Thầy/Cô tham gia giảng dạy khóa học đã truyền đạt kiến thức, tâm huyết và trách nhiệm trong lĩnh vực Đo lường và Đánh giá trong giáo dục Cảm ơn Thầy/cô vì đã khơi dậy nguồn cảm hứng nghiên cứu khoa học cho mỗi học viên
Đồng thời em cũng xin gửi lời cảm ơn tới gia đình và các bạn học viên cùng khóa đã giúp đỡ, động viên em trong suốt thời gian qua
Mặc dù đã cố gắng và nỗ lực trong thời gian vừa qua, nhưng chắc chắn sẽ không tránh khỏi những hạn chế và thiếu sót, rất mong sự cảm thông và tận tình chỉ dạy của các thầy cô
Dương Thị Hải Yến
Trang 5CNTT-TT Công nghệ thông tin và truyền thông
Trang 6MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
DANH MỤC VIẾT TẮT iii
DANH MỤC BẢNG vii
DANH MỤC BIỂU ĐỒ, HÌNH VẼ ix
MỞ ĐẦU 1
1.Lý do chọn đề tài 1
2.Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 3
2.1.Mục đích nghiên cứu 3
2.2.Nhiệm vụ nghiên cứu 3
3.Đối tượng và khách thể nghiên cứu 3
4.Phương pháp nghiên cứu 4
5.Phạm vi, thời gian nghiên cứu 4
6.Cấu trúc luận văn 5
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN 6
1.1 Tổng quan nghiên cứu 6
1.1.1 Các nghiên cứu ngoài nước 7
1.1.2 Các nghiên cứu trong nước 12
1.2 Cơ sở lý luận của nghiên cứu 16
1.3 Các khái niệm liên quan đến đề tài 19
1.3.1 Khái niệm ICT 19
1.3.2 Các phương tiện ICT 20
1.3.3 Năng lực và đánh giá năng lực 21
1.3.4 Năng lực ICT của SVSP 23
1.3.5.Vai trò của năng lực ICT đối với SVSP 24
1.3.6 Các mức độ của năng lực ICT 25
Trang 71.3.7 Giới thiệu một số ứng dụng có thể sử dụng để thiết kế công cụ đánh giá năng
lực ICT cho SVSP 26
1.4 Tiêu chuẩn đánh giá năng lực ICT 27
1.4.1 Năng lực vận hành máy tính cơ bản 28
1.4.2 Năng lực ICT ứng dụng phần mềm 28
1.4.3 Năng lực sử dụng tài nguyên Internet 29
1.4.4 Năng lực sử dụng các thiết bị ICT 30
1.5 Ảnh hưởng của niềm tin và thái độ đến năng lực ICT của SVSP 31
Tiểu kết Chương 1 33
CHƯƠNG 2 THIẾT KẾ VÀ TỔ CHỨC NGHIÊN CỨU 35
2.1 Bối cảnh chung về ICT cho SVSP Trường Đại học Giáo dục 35
2.1.1 Vì sao lựa chọn trường ĐHGD để thực hiện nghiên cứu 35
2.1.2 Đặc thù mô hình đào tạo giáo viên (a+b) 36
2.1.3 Cơ hội học tập, Cơ sở vật chất và tài nguyên của Trường ĐHGD 37
2.2 Quy trình nghiên cứu 39
2.3 Phương pháp nghiên cứu 39
2.3.1 Phương pháp định tính 39
2.3.2 Phương pháp nghiên cứu định lượng 40
2.4 Thu thập số liệu 40
2.5 Công cụ đánh giá 41
2.5.1 Xây dựng thang đo 41
2.5.2 Đánh giá thang đo 44
2.5.3 Điều chỉnh bộ công cụ và hiệu chỉnh nhân tố 52
2.5.4 Kết quả của mô hình 52
Tiểu kết Chương 2 54
CHƯƠNG 3: ĐÁNH GIÁ NĂNG LỰC ICT CỦA SINH VIÊN SƯ PHẠM TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC – ĐHQGHN 55
3.1 Mô tả mẫu khảo sát 55
3.2 Độ tin cậy của công cụ khảo sát 55
Trang 83.3 Đánh giá năng lực ICT 56
3.3.1 Cách tính điểm năng lực ICT 56
3.3.2 Mô tả kết quả điểm trung bình năng lực ICT theo từng thành tố 57
3.3.3 Mức độ năng lực ICT của SVSP trong việc thực hiện các nhiệm vụ 58
3.3.4.So sánh sự khác biệt về điểm năng lực ICT giữa các năm 70
3.3.5.So sánh sự khác biệt về điểm năng lực ICT giữa các nhóm ngành 72
3.3.6 Tương quan giữa các thành tố với năng lực ICT 73
3.4 Niềm tin và thái độ của SVSP trường ĐHGD đối với ICT 74
Tiểu kết Chương 3 76
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 778
1 Kết luận 78
2 Kiến nghị 78
TÀI LIỆU THAM KHẢO 82
PHỤ LỤC 83
Phụ lục 1: Phiếu khảo sát thử nghiệm 86
Phụ lục 2: Phiếu khảo sát chính thức 89
Phụ lục 3: Bảng mô tả kết quả điểm trung bình 92
Trang 9DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1 Chuẩn ICT dành cho giáo viên 9
Bảng 1.2 Mô hình thể hiện bộ tiêu chuẩn đánh giá năng lực ICT cơ bản 10
Bảng 1.3 Chuẩn kỹ năng sử dụng CNTT 13
Bảng 1.4 Tổng hợp công cụ đánh giá năng lực ICT của giáo viên, sinh viên, sinh viên sư phạm, theo các tổ chức 15
Bảng 1.5 Mô hình tảng băng về cấu trúc của năng lực Sigmund Freud 21
Bảng 2.1 Quy trình nghiên cứu đánh giá năng lực ICT của SVSP 39
Bảng 2.2 Thống kê số lượng sinh viên theo các khóa 41
Bảng 2.3 Thang đo năng lực ICT của SVSP 42
Bảng 2.4 Kết quả phân tích hệ số cronbach’s alpha (N = 182) 46
Bảng 2.5 Kết quả kiểm định KMO và Bartlett 49
Bảng 2.6 Phương sai trích của các yếu tố thuộc về năng lực 49
Bảng 2.7 Bảng các biến quan sát còn lại sau khi phân tích nhân tố 50
Bảng 2.8 Bảng mô hình điều chỉnh qua kiểm định Cronbach Anpha và phân tích nhân tố khám phá 52
Bảng 3.1 Bảng mô tả mẫu khảo sát 55
Bảng 3.2 Bảng hệ số Cronbach alpha trên từng nhân tố 56
Bảng 3.3 Quy đổi điểm cho mỗi item phân theo các mức lựa chọn 56
Bảng 3.4 Thống kê mô tả kết quả đánh giá NL ICT trên từng thành tố 57
Bảng 3.5 Mô tả điểm trung bình năng lực vận hành máy tính cơ bản 58
Bảng 3.6 Mức độ năng lực vận hành máy tính cơ bản 59
Bảng 3.7 Mô tả điểm trung bình năng lực ứng dụng phần mềm 61
Bảng 3.8 Mức độ năng lực ứng dụng phần mềm 62
Bảng 3.9 Mô tả điểm trung bình năng lực sử dụng tài nguyên internet 64
Bảng 3.10 Mức độ năng lực sử dụng tài nguyên internet 65
Bảng 3.11 Mô tả điểm trung bình năng lực truyền thông 66
Bảng 3.12 Mức độ năng lực truyền thông 67
Bảng 3.13 Mô tả điểm trung bình năng lực sử dụng thiết bị 67
Trang 10Bảng 3.14 Mức độ năng lực sử dụng thiết bị 68
Bảng 3.15 Bảng thống kê điểm năng lực ICT giữa các khóa 70
Bảng 3.16 Thống kê điểm trung bình các thành tố năng lực ICT theo từng năm 71
Bảng 3.17 Kết quả kiểm định Levene 71
Bảng 3.18 Kết quả kiểm định ANOVA 71
Bảng 3.20 Kết quả kiểm định Levene 72
Bảng 3.21 Kết quả kiểm định Welch 73
Bảng 3.22 Tương quan giữa các thành tố với năng lực ICT 74
Bảng 3.23 Thống kê mô tả niềm tin và thái độ của SVSP với ICT 74
Bảng 3.24 Thống kê tỷ lệ % lựa chọn các mức độ đồng ý 75
Trang 11DANH MỤC HÌNH VẼ
Hình 1.1 Mô hình sự thể hiện sự hiểu biết về ICT (nguồn từ ETS,2006) 12
Hình 1.2 Mô tả cấu trúc năng lực theo Hoàng Hòa Bình (2015) 22
Hình 1.3 Mô hình đề xuất năng lực ICT cho SVSP 31
Hình 2.1 Mô hình đào tạo giáo viên a+b tại trường ĐHGD 36
Trang 12DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 2.2 Biểu đồ phân khúc nhân tố thử nghiệm 51
Biểu đồ 3.1 Đồ thị phân bố điểm trung bình năng lực vận hành máy tính cơ bản 59
Biểu đồ 3.2 Đồ thị phân bố điểm trung bình năng lực sử dụng phần mềm 61
Biểu đồ 3.3 Đồ thị phân bố điểm trung bình năng lực sử dụng tài nguyên internet 64
Biểu đồ 3.4 Đồ thị phân bố điểm trung bình năng lực truyền thông 66
Biểu đồ 3.5 Đồ thị phân bố điểm trung bình năng lực sử dụng thiết bị 68
Biểu đồ 3.6 Đồ thị phân bố điểm trung bình năng lực ICT 70
Trang 13MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Nhu cầu về nguồn nhân lực có năng lực ICT đang trở thành vấn đề quan trọng đối với mỗi quốc gia, trong đó đặc biệt chú trọng tới việc nâng cao trình độ ICT của học sinh, sinh viên và người lao động (Nguyễn Hữu Đức, 2017)
Thế giới liên tục bị ảnh hưởng bởi sự phát triển về khoa học và công nghệ, thông tin và truyền thông Kiến thức hiện tại nhanh chóng trở nên lạc hậu, việc thu thập kiến thức mới là liên tục và cần thiết Công nghệ thông tin và truyền thông (ICT) được biết đến như là một công cụ mạnh mẽ và tiềm năng để mở rộng các cơ hội giáo dục chính thức và không chính thức cho mọi cá nhân từ thành thị, nông thôn đến miền núi Bất kể vì lý do địa lý, văn hóa hay xã hội, nữ giới hay nam giới, người già hay người tàn tật, vì vấn đề kinh tế hay thời gian (Tinio, V L, 2003) Sử dụng ICT trong giáo dục trở thành cơ hội được ưu tiên của nhiều quốc gia trên thế giới
Hầu hết các hoạt động của trường học hiện nay đều được thực hiện thông qua mạng internet, máy tính ICT từ lâu được giới thiệu như một công cụ cho phép cải tiến và cải cách giáo dục Khi được sử dụng phù hợp, ICT sẽ giúp mở rộng khả năng tiếp cận với giáo dục, gia tăng mối liên hệ giữa các tổ chức, cá nhân trong hệ thống, nâng cao chất lượng giáo dục thông qua giảng dạy, học tập
ICT cũng làm thay đổi cách thức dạy học và giáo dục của giáo viên, học sinh, cách quản lý và sự tham gia của cộng đồng vào đời sống nhà trường; Giúp con người chọn nhập và xử lý thông tin nhanh chóng để biến thành tri thức Việc liên kết các hệ thống giáo dục với nhau, từng ngành, từng cấp học sẽ tạo ra sự chia sẻ, trao đổi thông tin trong và ngoài hệ thống giáo dục, làm cho thông tin trở nên minh bạch, dễ sử dụng đặc biệt là các thông tin nghiên cứu khoa học, quản lý và dạy học (Trần Thị Bích Liễu, 2009)
Tại Việt Nam, cụm từ ICT vẫn chưa được sử dụng rộng rãi và phổ biến trong các văn bản, nghị định, hướng dẫn hay trong cuộc sống Nó mới chỉ bắt đầu xuất hiện trong các đề tài nghiên cứu gần đây
Nhận thức được tầm quan trọng của CNTT-TT, ngay từ năm 2005, Chính
Trang 14phủ nước ta đã ban hành Quyết định số 246/2005/QĐ-TTg ngày 6/10/2005 về Chiến lược phát triển công nghệ thông tin và truyền thông Việt Nam đến năm 2010
Quyết định nhấn mạnh vai trò của CNTT-TT: “CNTT-TT là công cụ quan trọng hàng đầu để thực hiện mục tiêu thiên niên kỷ, hình thành xã hội thông tin, rút ngắn quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” (Chính phủ, 2005)
Nghị quyết 29 về đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục cũng đưa ra một trong những nhiệm vụ liên quan đến công tác đổi mới mạnh mẽ là đồng bộ các yếu
tố cơ bản của giáo dục, đào tạo theo hướng coi trọng phát triển phẩm chất, năng lực người học: “đẩy mạnh ứng dụng CNTT-TT trong dạy và học”.
Năm 2016, Bộ GD&ĐT ban hành công văn số 4622/BGDĐT-CNTT hướng dẫn thực hiện nhiệm vụ CNTT năm học 2016 – 2017 Bộ GD&ĐT yêu cầu các đơn
vị không ngừng nâng cao nhận thức, năng lực ứng dụng CNTT-TT của đội ngũ cán
bộ quản lý và giáo viên theo hướng chuẩn hóa và chuyên nghiệp, từng bước đạt chuẩn quốc tế Công văn hướng dẫn xây dựng mô hình giáo dục điện tử, trường học nhằm đảm bảo nguyên tắc ứng dụng hiệu quả CNTT-TT vào công tác quản lý, dạy
và học
Mới đây nhất, Bộ GD&ĐT ban hành quy định chuẩn nghề nghiệp giáo viên
cơ sở giáo dục phổ thông theo thông tư số 20/2018/TT ngày 22/08/2018 Trong đó
Bộ GD&ĐT mô tả rất cụ thể về tiêu chí trong việc ứng dụng CNTT, khai thác và sử dụng thiết bị công nghệ trong dạy học, giáo dục
ICT đang có những ảnh hưởng tích cực tới hệ thống giáo dục quốc gia, ảnh hưởng tích cực tới mỗi trường học, tổ chức và mọi cá nhân trong hệ thống Chính phủ, Bộ GD&ĐT và bản thân các trường đào tạo sư phạm đã và đang nỗ lực chỉ đạo, ban hành các quy định, thông tư hướng dẫn và đầu tư cho phát triển hạ tầng CNTT, thiết bị hỗ trợ học tập và giảng dạy cho sinh viên Đã có nhiều chính sách chiến lược phát triển công nghệ thông tin nhưng các công bố và nghiên cứu về ICT còn hạn chế
Ở Việt Nam chưa có nghiên cứu đánh giá cụ thể nào về năng lực ICT của giáo viên, đặc biệt là SVSP Trong khi rất nhiều nước trên thế giới đã đưa ra chuẩn ICT nhà trường, chuẩn ICT cán bộ quản lý, chuẩn ICT giáo viên, chuẩn ICT học
Trang 15sinh, sinh viên Theo thời gian các chuẩn này đang được thay đổi và phát triển để phù hợp với sự chuyển biến mạnh mẽ trong thời đại công nghệ 4.0
Xuất phát từ vai trò và tầm quan trọng của ICT đối với SVSP và những trăn trở của bản thân đối SVSP trong thời đại bùng nổ CNTT-TT, trong giới hạn của
nghiên cứu tác giả lựa chọn đề tài: “Đánh giá năng lực Công nghệ thông tin và
truyền thông của sinh viên sư phạm Trường Đại học Giáo dục - Đại học Quốc gia Hà Nội”.
Tác giả hy vọng nghiên cứu sẽ góp phần bổ sung lý luận vào việc xác định các chỉ số đánh giá và đánh giá về năng lực ICT của SVSP trường ĐHGD Là căn
cứ để nhà trường có thể tham khảo, điều chỉnh, bổ sung các chính sách nhằm gia tăng cơ hội nâng cao năng lực ICT cho SV Nghiên cứu cũng hy vọng cho phép tìm
ra những SV có năng lực trong việc sử dụng ICT cho các mục đích học tập, nghiên cứu và giảng dạy Đồng thời, sinh viên có thể tự đánh giá, nhìn nhận về khả năng của mình nhằm đưa ra chiến lược phát triển và điều chỉnh năng lực ICT của bản thân
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1 Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của đề tài nhằm đánh giá năng lực ICT của SVSP thông qua việc xây dựng bộ công cụ tự đánh giá năng lực ICT
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Xác định 6 nhiệm vụ chính như sau:
(1) Phân tích nội hàm năng lực ICT của SVSP;
(2) Xây dựng và chuẩn hóa bộ công cụ tự đánh giá năng lực ICT của SVSP; (3) Đánh giá năng lực ICT của SVSP;
(4) Xác định mức độ năng lực ICT của SVSP;
(5) So sánh năng lực ICT của SV các khóa;
(6) So sánh năng lực ICT giữa các khối ngành
3 Đối tƣợng và khách thể nghiên cứu
- Khách thể nghiên cứu: SV trường ĐHGD
- Đối tượng nghiên cứu: năng lực ICT của SV trường ĐHGD
Trang 164 Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu được thiết kế theo dạng nghiên cứu khảo sát dựa trên 02 phương pháp chính là phương pháp nghiên cứu định lượng (khảo sát thông tin thông qua bảng hỏi) và phương pháp nghiên cứu định tính (thu thập tài liệu)
Về lý thuyết, tác giả tiến hành thu thập tài liệu từ nhiều nguồn: các đề tài nghiên cứu khoa học, sách báo và tạp chí chủ yếu liên quan đến đề tài về năng lực ICT của SVSP, yếu tố ảnh hưởng đến năng lực ICT của SVSP và một số đề tài liên quan đến năng lực ICT của giáo viên Qua phân tích và tổng hợp các tài liệu liên quan, tác giả đã hệ thống hóa lại các nguồn tài liệu làm cơ sở lý thuyết cho đề tài Đồng thời, tác giả dựa trên cơ sở thực tế của Trường ĐHGD liên quan đến lịch sử hình thành, sứ mệnh, mô hình đào tạo giáo viên, học phần đào tạo ICT, dữ liệu SV
Khảo sát năng lực ICT cho phép SVSP tự báo cáo về mức độ năng lực ICT của bản thân như cách thức sử dụng, mức độ thực hiện các nhiệm vụ, mức độ thúc đẩy ICT trong học tập và giảng dạy
Số liệu được thu thập thông qua phiếu khảo sát online đối với sinh viên tốt nghiệp và phiếu khảo sát trực tiếp đối với sinh viên chưa tốt nghiệp, dữ liệu thu thập được sẽ xử lý bằng phần mềm SPSS Các bước phân tích cơ bản:
+ Tính toán độ tin cậy của bộ câu hỏi;
+ Thống kê, mô tả kết quả đánh giá năng lực ICT của sinh viên từ đó tiến hành kiểm định mối liên hệ giữa các thành tố năng lực ICT; Kiểm định sự khác biệt
về năng lực ICT giữa các khóa học và lượng hóa mối liên hệ đó bằng hệ số tương quan Pearson (r)
5 Phạm vi, thời gian nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu: Nghiên cứu được thực hiện tại Trường ĐHGD - ĐHQGHN, với các sinh viên khóa QH-2014-S, QH-2015-S, QH-2016-S thuộc 06 khối ngành Sư phạm Toán, Sư phạm Vật lý, Sư phạm Hóa học, Sư phạm Ngữ văn,
Sư phạm Lịch sử
- QH-2014-S là sinh viên đã tốt nghiệp và nhận bằng tháng 6/2018;
- QH-2015-S là sinh viên năm thứ 4;
- QH-2016-S là sinh viên năm thứ 3;
Trang 17Lĩnh vực được nghiên cứu là năng lực ICT
Thời gian khảo sát: dự kiến đề tài sẽ tiến hành nghiên cứu trong 10 tháng, thời gian từ tháng 10/2017 đến tháng 10/2018
6 Cấu trúc luận văn
Phần mở đầu: nêu lý do chọn đề tài, tóm tắt một số nội dung cơ bản của luận văn Phần nội dung:
- Chương 1: Cơ sở lý luận và tổng quan vấn đề nghiên cứu;
- Chương 2: Thiết kế và tổ chức nghiên cứu;
- Chương 3: Các kết quả nghiên cứu và thảo luận về các kết quả;
Phần kết luận: rút ra kết luận và khuyến nghị dựa trên kết quả nghiên cứu
Trang 18CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.1 Tổng quan nghiên cứu
Trong lĩnh vực giáo dục, ICT xuất hiện từ những năm đầu thế kỉ 19 khi phát thanh và truyền hình được sử dụng rộng rãi như những công cụ nhằm nâng cao chất lượng học tập, mở rộng cơ hội tiếp cận với giáo dục Việc truyền thông điện tử tương tác giữa hai người ở nhiều nơi khác nhau không còn xa lạ thông qua hình thức hội nghị truyền hình với việc mở rộng các hoạt động trao đổi và tăng cường sử dụng công nghệ, hỗ trợ thảo luận giữa giáo viên và người học, giữa người học và người học, giữa người học và chuyên gia và từ nhiều nguồn lực khác nữa Việc học
mở, học từ xa làm gia tăng cơ hội tiếp cận kiến thức, bài giảng và thu hẹp lại khoảng cách giữa người học và người dạy (Victoria L.Tinio, 2003)
Đánh giá liên quan của Kay (2006) nhắc đến các chiến lược nhằm giới thiệu ICT cho SVSP thông qua việc: cung cấp khóa học, cung cấp các buổi tọa đàm, tích hợp công nghệ trong tất cả các môn học, mô hình hóa việc sử dụng công nghệ
Sự phát triển nhanh chóng của ICT dẫn đến khái niệm, tiêu chuẩn đánh giá hay những đòi hỏi về năng lực ICT trong xã hội thông tin cũng thay đổi theo mục tiêu giáo dục Trong những năm 1960 khi năng lực ICT chỉ tập trung vào hoạt động
sử dụng máy tính thì đến những năm 1980, khi nhiều phần mềm được phát triển, việc sử dụng máy tính tăng lên, năng lực ICT cũng bắt đầu tập trung vào việc đào tạo và sử dụng phần mềm ứng dụng Cuối những năm 1990 khi Internet phát triển với khối lượng lớn thông tin sẵn có, năng lực ICT được mở rộng với các kỹ năng thu thập và xử lý thông tin, kỹ năng tạo ra thông tin đáp ứng mục đích sử dụng
Ngày nay, năng lực ICT được mở rộng với việc làm chủ các phần mềm ứng dụng (xử lý văn bản, trình bày, bảng tính, internet…) và xử lý thông tin Các nghiên cứu trong thời gian gần đây coi năng lực ICT trong giáo dục không chỉ giải quyết tốt vấn đề CNTT và quan trọng hơn là hiểu được những nguyên tắc cơ bản của công nghệ trong cuộc sống để phát triển kỹ năng và ý tưởng nhằm tạo ra thông tin và sản phẩm công nghệ (Cha, 2011)
Trang 19Nhiều cơ sở nghiên cứu, đánh giá giáo dục và chương trình giảng dạy ở các quốc gia đã đưa ra định nghĩa và tiêu chuẩn về năng lực ICT cần thiết trong thế kỉ
21 liên quan đến việc tiếp cận, đánh giá, tổ chức, tích hợp và áp dụng ICT theo nhiều cách khác nhau như tổ chức: UNESCO (2011), ETS (2006)… Các nghiên cứu đều nhấn mạnh đến vấn đề tích hợp ICT dựa trên kiến thức và khả năng thực hành ứng dụng về CNTT, kỹ năng và thái độ liên quan tới CNTT Một số khung nhắc đến tầm quan trọng của: đạo đức, hiểu biết chính sách giáo dục, khung pháp lý, tổ chức
và quản lý đối với năng lực ICT
Ở phạm vi quốc gia, chuẩn chính sách phát triển ICT được rất nhiều nước phát triển trên thế giới quan tâm (Trần Thị Bích Liễu, 2009) như:
+ Mỹ: ưu tiên cho nghiên cứu ICT, các phát minh, tăng cường sáng chế, khuyến khích đầu tư và thử nghiệm, mở rộng Internet băng thông rộng cho mọi người;
+ Úc: Xây dựng năng lực cơ sở cho tương lai nước Úc thông qua khoa học
và sáng kiến, phát triển tài năng ICT, kết nối mạng tốc độ cao, cách mạng giáo dục
kĩ thuật số, bồi dưỡng ICT;
+ Nhật Bản: xã hội công nghệ thông tin, mở rộng băng thông truy cập internet cho 100% dân số, 80% dân số sử dụng ICT để giải quyết các vấn đề lớn
+ Singarpore: phát triển xã hội thông tin, trao đổi kỹ thuật số, trở thành trung tâm mua bán dịch vụ kỹ thuật cao;
Nhìn chung, chính sách phát triển ICT, những nhận định và đánh giá về năng lực ICT đang dần thay đổi và chịu sự chi phối theo những đòi hỏi của xã hội
Kết quả khảo sát các đại biểu, tổ chức đóng vai trò chủ chốt về CNTT trong giáo dục tại Việt Nam cho thấy: đầu tư cho phát triển chuyên môn cho giáo viên và cán bộ tích hợp 60% CNTT, phương pháp giảng dạy chiếm 80% Tuy nhiên, các lĩnh vực như: bổ sung chính sách và kế hoạch, cộng đồng hợp tác, đánh giá và nghiên cứu, nguồn lực cơ sở hạ tầng lại chỉ chiếm từ 10% đến 35% (SEAMEO, 2010) Điều này chứng tỏ mức độ và nhu cầu sử dụng CNTT của giáo viên và cán
bộ cho việc giảng dạy và phát triển chuyên môn tại các cơ sở giáo dục là rất cao
1.1.1 Các nghiên cứu ngoài nước
Trên thế giới, có nhiều nghiên cứu xung quanh các vấn đề: đề xuất bộ tiêu
Trang 20chuẩn, tiêu chí đánh giá năng lực ICT; những yêu cầu về năng lực ICT trong thế kỷ mới, các yếu tố ảnh hưởng tới năng lực ICT hay mối tương quan giữa năng lực ICT
và một số yếu tố khác Một số tổ chức lớn cũng như các tác giả đã đưa ra hệ thống các tiêu chí đánh giá năng lực ICT: Flowers và Algozzine (2000), Bassellier và cộng sự (2003), Tổ chức Educational Testing Service (ETS, 2006), UNESCO (2008, 2011)…Các nhà nghiên cứu và các tổ chức đã nỗ lực đo lường năng lực ICT
và có thể được chia làm 2 nhóm lớn, một là xây dựng công cụ, tiêu chuẩn, tiêu chí
để đo lường năng lực ICT Hai là tiếp tục phát triển các công cụ đo lường năng lực ICT dựa trên những công cụ, bộ tiêu chuẩn, tiêu chí có sẵn trước đó
Như vậy, trong nhiều năm gần đây xu hướng đánh giá năng lực ICT đã hầu như ít sử dụng đến việc đánh giá kiến thức ICT mà chủ yếu tập trung vào kỹ năng
và kinh nghiệm sử dụng ICT của đối tượng Nói đến năng lực ICT là nói đến kỹ năng sử dụng, vận dụng ICT trong các tình huống
o Chuẩn năng lực ICT dành cho giáo viên theo UNESCO
Năm 2011, chuẩn ICT giành cho giáo viên được phát triển và công bố dựa trên cơ sở của phiên bản gốc năm 2008 Khung năng lực này được đưa ra với mục tiêu giúp các nước xây dựng, phát triển chính sách và tiêu chuẩn đo lường năng lực ICT dành cho giáo viên Những điều chỉnh này nhằm thúc đẩy việc đánh giá và tổ chức ICT trong trường học ở 6 lĩnh vực
Thang đo với 3 mức độ biểu hiện: Mức độ 1 – kiến thức cơ bản dựa trên kỹ năng sử dụng ICT và chương trình học; Mức độ 2 – Hiểu sâu kiến thức dựa trên việc vận dụng kỹ năng ICT để giải quyết các vấn đề trong thực tế; Mức độ 3 – Sáng tạo kiến thức là mức độ nâng cao dựa trên việc đổi mới và sáng tạo kiến thức
Chuẩn ICT theo UNESCO chủ yếu dựa tiếp cận về kỹ năng và kiến thức Mô tả tại bảng 1.1 dưới đây:
Trang 21Bảng 1.1 Chuẩn ICT dành cho giáo viên
STT Lĩnh vực Kiến thức
cơ bản
Hiểu sâu kiến thức Sáng tạo kiến thức
1 Chính sách và
viễn cảnh
Nhận thức về chính sách Sự hiểu biết về chính sách Đổi mới chính sách
Giải quyết vấn đề phức tạp Tự quản lý
4 Sƣ phạm Công cụ cơ bản Công cụ phức tạp Các công cụ mở
Nguồn: UNESSCO 2011
Tài liệu công bố tại Hội thảo Xây dựng chương trình CNTT của UNESCO diễn ra vào tháng 5/2011 (VVOB,2011), nhóm nghiên cứu Đại học Sư phạm Hà Nội dựa trên chuẩn năng lực ICT của UNESCO đã xây dựng chuẩn năng lực ICT cho SVSP Nghiên cứu xác định những vấn đề mấu chốt là: phương pháp sư phạm, công nghệ thông tin và việc tổ chức giảng dạy, SVSP chưa thể đạt đến trình độ
“Sáng tạo kiến thức”, vấn đề chương trình và chính sách cũng ít được đề cập đến; Điều quan trọng là SVSP có năng lực sử dụng ICT và ý thức được cách sử dụng chúng hiệu quả và mang tính sư phạm
o Bộ công cụ đánh giá năng lực ICT cơ bản của Flowers và Algozzine
Cùng với tiếp cận theo hướng tiếp cận kiến thức do UNESCO đưa ra, Flowers và Algozzine (2000) đã xây dựng công cụ đánh giá năng lực ICT dựa trên việc điều chỉnh và phát triển một bảng kiểm tự đánh giá (BTCEI) gồm 207 kỹ năng ban đầu do Hiệp hội Truyền thông Giáo dục & Công nghệ Quốc tế thiết lập Đối tượng tham gia khảo sát gồm 437 sinh viên chuyên ngành đào tạo giáo viên và học viên sau đại học trong chương trình bồi dưỡng nghiệp vụ, cấp phép chứng chỉ để trở thành giáo viên
Trang 22Tuy nhiên, đây là công cụ tự đánh giá nên việc xác định điểm mạnh và điểm yếu về năng lực công nghệ của cá nhân và đưa ra kế hoạch phát triển nghề ghiệp là vấn đề cần được xem xét Những năng lực thành phần này được đánh giá chủ yếu dựa trên việc thực hiện các nhiệm vụ Các tiêu chuẩn đánh giá gồm 09 tiêu chuẩn và
45 tiêu chí được tác giả tổng hợp và minh họa trong bảng sau:
Bảng 1.2 Mô hình thể hiện bộ tiêu chuẩn đánh giá năng lực ICT cơ bản
2 Lưu trữ các tập tin trong một thư mục hoặc thư mục con
3 Truy cập thông tin trên đĩa CD-ROM, ổ đĩa mềm, và ổ cứng
4 Tạo và xóa các thư mục hoặc các thư mục con
5 Đánh giá chung về các kỹ năng vận hành máy tính cơ bản
7 Bảo vệ khỏi virus
8 Kết nối các thiết bị ngoại vi
12 Thay đổi cỡ chữ và kiểu chữ
13 Cắt, sao chép, dán vào giữa các tài liệu
14 Chèn tệp tin, đồ hoạ và bảng biểu trong tài liệu
15 Đánh giá chung về khả năng xử lý văn bản
21 Nhập dữ liệu vào cơ sở dữ liệu
22 Sắp xếp và tìm kiếm trong cơ sở dữ liệu
23 Tạo một báo cáo trong cơ sở dữ liệu
24 Các truy vấn sử dụng cơ sở dữ liệu
25 Đánh giá tổng thể năng lực sử dụng cơ sở dữ liệu
tính
26 Đăng nhập vào mạng
27 Làm việc trong môi trường mạng
28 Chia sẻ file điện tử
Trang 23STT Lĩnh vực Tiêu chí
34 Phát triển các chương trình sử dụng hệ thống mạng viễn thông
35 Đánh giá chung về viễn thông
thông
36 Sử dụng các phương tiện truyền thông
37 Phát triển một trình chiếu điện tử
38 Phát triển một trình chiếu điện tử tương tác
39 Phát triển một bài thuyết trình bằng đồ hoạ và âm thanh
40 Đánh giá tổng thể các kỹ năng truyền thông
44 Kiến thức về quyền sở hữu trí tuệ
45 Đánh giá chung về các vấn đề xã hội, luật pháp và đạo đức
Nguồn: Flowers và Algozzine (2000)
o Bộ công cụ đánh giá năng lực ICT theo ETS
Tại Hoa Kỳ năm 2006, tổ chức Educational Testing Service (ETS) và các trường đại học lớn tại đã cùng nhau hợp tác phát triển một công cụ kiểm tra năng lực ICT cho SV nhằm thỏa mãn nhu cầu giữa các ngành công nghiệp và các trường đại học trong việc xác minh năng lực ICT của người học, kỹ năng giải quyết vấn đề
và nhận thức trong môi trường số hóa
Bộ công cụ đánh giá dựa trên việc sử dụng phần mềm để mô phỏng mức độ năng lực ICT của: học sinh trung học, sinh viên đại học, sinh viên năm thứ 2 với 07 tiêu chuẩn: (1) Truy cập; (2) Quản lý; (3) Tích hợp; (4) Đánh giá, (5) Khởi tạo; (6) Truyền đạt; (7) Tạo ra Bộ công cụ này không chỉ dừng lại ở mức độ có kỹ năng sử dụng công nghệ mà còn nhấn mạnh đến sự am hiểu về lý thuyết và thực tiễn, nó cũng đề cập đến thái độ tích cực trong việc sử dụng công cụ tài nguyên số Theo ETC, khả năng nhận thức và kỹ thuật là 2 yếu tố cần thiết hình thành sự hiểu biết về ICT
Thang đo được sử dụng với 3 mức độ: Mức 1: Thông thạo về nhận thức –
được xem là có kỹ năng cơ bản phục vụ cuộc sống, ở nhà, ở trường học và tại nơi
làm việc Biết đọc, tính toán và giải quyết các vấn đề một cách thành thạo Mức 2: Thông thạo về kỹ thuật – có kiến thức cơ bản về phần cứng, ứng dụng phần mềm, mạng và các yếu tố của công nghệ số Mức 3: Thành thạo ICT – nghĩa là có khả
Trang 24năng tích hợp, nhận thức và kỹ thuật, cho phép cá nhân tối đa hóa khả năng của công nghệ Ở cấp độ cao nhất, sự thành thạo về ICT tạo ra những đổi mới cho cá nhân và sự thay đổi của xã hội
Hình 1.1 Mô hình sự thể hiện sự hiểu biết về ICT (nguồn từ ETS,2006)
THÀNH THẠO ICT Truy cập Quản lý Tích hợp Đánh giá Khởi tạo Truyền đạt Tạo ra
THÔNG THẠO VỀ
NHẬN THỨC
THÔNG THẠO
KỸ THUẬT
1.1.2 Các nghiên cứu trong nước
o Chuẩn kỹ năng sử dụng CNTT của Bộ TT&TT
Thông tư 03/2014/TT-BTTTT Quy định Chuẩn kỹ năng sử dụng CNTT áp dụng đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân tham gia trực tiếp hoặc có liên quan đến hoạt động đánh giá kỹ năng sử dụng CNTT Bộ chuẩn này có độ phủ rộng cho nhiều đối tượng đánh giá; các chỉ số, chỉ báo cũng được mô tả rất chi tiết về kiến thức, kỹ năng sử dụng CNTT đối với từng lĩnh vực cụ thể, tuy nhiên chưa thể hiện được thái
độ của người được đánh giá
Chuẩn kỹ năng sử dụng CNTT được phân làm 02 mức độ: Mức độ cơ bản bao gồm 06 mô đun kỹ năng sử dụng CNTT cơ bản; Mức độ nâng cao bao gồm 09
mô đun kỹ năng sử dụng CNTT nâng cao (Bộ TT&TT, 2014):
Trang 25Bảng 1.3 Chuẩn kỹ năng sử dụng CNTT Chuẩn kỹ năng sử dụng CNTT cơ bản với 06 mô đun kỹ năng
(1) Hiểu biết về CNTT cơ bản:Kiến thức cơ bản về máy tính và mạng máy tính; Các ứng
dụng của công nghệ thông tin – truyền thông (CNTT-TT); An toàn lao động và bảo vệ môi trường trong sử dụng CNTT-TT; Các vấn đề an toàn thông tin cơ bản khi làm việc
với máy tính; Một số vấn đề cơ bản liên quan đến pháp luật trong sử dụng CNTT
(2) Sử dụng máy tính cơ bản: Các hiểu biết cơ bản để bắt đầu làm việc với máy tính;
Làm việc với Hệ hành; Quản lý thư mục và tệp; Một số phần mềm tiện ích; Sử dụng
tiếng Việt; Sử dụng máy in
(3) Xử lý văn bản cơ bản: Kiến thức cơ bản về văn bản, soạn thảo và xử lý văn bản;
Sử dụng một phần mềm xử lý văn bản cụ thể; Định dạng văn bản; Nhúng (embed) các đối tượng khác nhau vào văn bản; Kết xuất và phân phối văn bản; Soạn thông điệp và
văn bản hành chính
(4) Sử dụng bảng máy tính cơ bản:Kiến thức cơ bản về bảng tính; Sử dụng phần mềm
bảng tính; Thao tác đối với ô (ô tính); Thao tác trên trang tính; Biểu thức và hàm;
Định dạng một ô, một dãy ô; Biểu đồ; Kết xuất và phân phối trang tính, bảng tính
(5) Sử dụng trình chiếu cơ bản: Kiến thức cơ bản về bài thuyết trình và trình chiếu;
Sử dụng phần mềm trình chiếu; Xây dựng nội dung bài thuyết trình; Đưa biểu đồ, sơ
đồ tổ chức vào trong trang thuyết trình; Đưa các đối tượng đồ họa vào trong trang
thuyết trình; Chuẩn bị, trình chiếu và in bài thuyết trình
(6) Sử dụng Internet cơ bản: Kiến thức cơ bản về Internet; Sử dụng trình duyệt web;
Sử dụng Web; Sử dụng thư điện tử; Một số dạng truyền thông số thông dụng
Chuẩn kỹ năng sử dụng CNTT nâng cao với 09 mô đun kỹ năng:
(7) Xử lý văn bản nâng cao: Thiết đặt môi trường làm việc tối ưu; Định dạng nâng
cao; Tham chiếu và liên kết; Trường và biểu mẫu; Biên tập văn bản trong chế độ cộng tác; Chuẩn bị in
(8) Sử dụng bảng tính nâng cao: Thiết lập môi trường làm việc tối ưu; Thao tác bảng
tính; Biên tập và lần vết
(9) Sử dụng trình chiếu nâng cao: Lập kế hoạch cho việc trình chiếu; Trang thuyết
trình chủ và các mẫu; Các đối tượng đồ họa; Liên kết, nhúng, nhập/xuất các trang chiếu, bản trình chiếu; Quản lý các bản trình chiếu
(10) Sử dụng hệ quản trị cơ sở dữ liệu; Sử dụng phần mềm quản trị CSDL quan hệ;
Biểu mẫu, báo cáo, trình bày kết quả;
(11) Thiết kế đồ họa hai chiều: Kiến thức cơ bản về bản vẽ và phần mềm vẽ; Các kỹ
năng làm việc đầu tiên với phần mềm CAD; Các kỹ năng làm việc với các đối tượng, phần tử của bản vẽ; Làm việc với khối và ô
(12) Biên tập ảnh: Cơ bản về ảnh số; Liên kết và nhúng; Kết xuất Kỹ năng làm việc
với phần mềm xử lý ảnh số; Chọn, thay đổi thuộc tính ảnh, cắt dán ảnh; Kết xuất ảnh
(13) Biên tập trang thông tin điện tử: Kiến thức cơ bản về trang thông tin điện tử
(website), xuất bản websitevà các vấn đề liên quan; Thiết kế website; CSS (Cascading Style Sheets); Tải lên máy chủ và phát hành web;
(14) An toàn, bảo mật thông tin: Kiến thức cơ bản về an toàn thông tin; Các biện pháp
đảm bảo an toàn, bảo mật thông tin, dữ liệu; An toàn mạng; Sử dụng web an toàn;
Trang 26Quản lý dữ liệu an toàn;
(15) Sử dụng phần mềm kế hoạch dự án: Kiến thức cơ bản về dự án và quản lý dự án,
Kỹ năng làm việc với phần mềm quản lý dự án, Dữ liệu dự án: Tác vụ và lịch; Dữ liệu
dự án: Nguồn lực và chi phí; Giám sát dự án; Chuẩn bị kết xuất
Nguồn: Bộ TT&TT năm 2014
o Khung năng lực ICT của sinh viên sư phạm Hóa
Nhóm tác giả Thái Hoài Minh (2016) khi xây dựng khung năng lực ứng dụng CNTT và truyền thông trong dạy học hóa học cho sinh viên sư phạm xác định năng
lực ICT của sinh viên (trong dạy học hóa học) là khả năng sử dụng các công cụ và tài nguyên công nghệ để giao tiếp, tạo ra, phổ biến, lưu giữ và quản lý thông tin hiệu quả trong các hoạt động dạy học
Theo nhóm này, năng lực ICT của sinh viên sư phạm hóa gồm 06 năng lực thành phần:
Năng lực phân tích, đánh giá các vấn đề về ứng dụng ICT trong dạy học;
(1) Năng lực sử dụng các phương tiện kỹ thuật;
(2) Năng lực ứng dụng ICT trong thiết kế và thực hiện bài dạy Hóa học phổ thông; (3) Năng lực ứng dụng ICT trong kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học sinh; (4) Năng lực ứng dụng ICT trong quản lý, tổ chức lớp học;
(5) Năng lực ứng dụng ICT trong bồi dưỡng chuyên môn và nghiệp vụ sư phạm; Kiến thức và kỹ năng được SV thu thập để khai thác, tìm kiếm, cung cấp, ứng dụng, truyền tải thông tin bằng định dạng điện tử phục vụ cho việc học tập SV
sẽ có kỹ thuật để thu thập, xử lý và truyền tải thông tin thông qua các định dạng điện tử, các phần mềm ứng dụng chẳng hạn như kỹ năng vận hành máy tính, internet và các kỹ năng tìm kiếm, xử lý và lưu trữ tài liệu
Các tiêu chuẩn và biểu hiện năng lực ICT của tác giả Thái Hoài Minh được
sử dụng trong nghiên cứu này được tham khảo cho một số biểu hiện trong việc ứng dụng ICT trong dạy học và thực hiện nhiệm vụ học tập của SVSP
Thông qua một số khung năng lực ICT được giới thiệu trên đây, tác giả đưa
ra bảng tổng hợp lại các tiêu chuẩn đánh giá năng lực ICT của sinh viên sư phạm theo các tổ chức
Trang 27Bảng 1.4 Tổng hợp công cụ đánh giá năng lực ICT của giáo viên, sinh viên, sinh
viên sư phạm, theo các tổ chức
Flowers và Algozzine
Chương trình và
đánh giá Quản lý
Thiết lập, bảo dưỡng, xử lý sự cố của thiết bị
Sử dụng máy tính cơ bản
Thực hành và
phát triển
chuyên môn
Tích hợp Xử lý văn bản Xử lý văn bản cơ bản
Sư phạm Đánh giá Bảng tính Sử dụng bảng máy tính cơ
bản ICT Khởi tạo Cơ sở dữ liệu Sử dụng trình chiếu cơ bản
Tổ chức và quản
lý Truyền đạt Mạng máy tính Sử dụng Internet cơ bản
Phát minh Mạng viễn thông Xử lý văn bản nâng cao
Truyền thông Sử dụng bảng tính nâng cao Các vấn đề xã hội,
luật pháp và đạo đức
Sử dụng trình chiếu nâng cao
Sử dụng hệ quản trị CSDL Thiết kế đồ họa hai chiều Biên tập ảnh
Biên tập trang thông tin điện
tử
Trang 28Các nghiên cứu cho thấy một số yếu tố ảnh hưởng đến quyết định của giáo viên về việc sử dụng CNTT trong lớp học bao gồm: tiếp cận nguồn lực, chất lượng phần mềm và phần cứng, dễ sử dụng, ưu đãi để thay đổi, hỗ trợ và chính trị trong trường học, trường học và chính sách quốc gia, học tập chuyên nghiệp và nền tảng trong đào tạo máy tính chính thức; phương pháp sư phạm
và niềm tin của giáo viên về dạy học với ICT là trung tâm để hội nhập (Shazia Mumtaz, 2000) – Nghiên cứu được tiến hành trên 382 sinh viên thuộc Khoa Giáo dục, đại học Ilorin, Nigeria cho thấy đa số sinh viên có thái độ tích cực đối với việc sử dụng ICT và không có sự khác biệt đáng kể giữa thái độ của sinh viên nam và sinh viên nữ về ý định sử dụng ICT; ông cho rằng niềm tin vào ICT có thể tạo sự khác biệt tích cực đối với việc dạy và học thông qua thực hành Ông cũng nhấn mạnh sự cần thiết trong việc tích hợp ICT, nâng cao chất lượng nội dung vào chương trình đào tạo sinh viên sư phạm trong các trường đại học tại các nước đang phát triển
1.2 Cơ sở lý luận của nghiên cứu
* Các học thuyết về sự phát triển con người
- Thuyết hành vi
+ Thông qua quan điểm chủ đạo của thuyết hành vi trong tâm lý học “Nguồn gốc của phản ứng hành vi là do các yếu tố môi trường bên ngoài (S – Stimulus) và nhận thức phản ứng (R – Response)” Sự hình thành và điều chỉnh các hành vi của đối tượng được bắt đầu hình thành bởi các kích thích bên ngoài Việc đánh giá năng lực ICT là đánh giá quá trình hình thành, làm tăng cường hay suy giảm, làm mất đi hay lặp lại hành vi nào đó của SV Bằng cách đưa ra những kích thích được củng
cố, SVSP có thể học được, làm được các yêu cầu và kỹ năng ICT
+ Với quan điểm này, đánh giá năng lực ICT của SVSP cần quan tâm đến kết quả cuối cùng quan sát được Đây là sản phẩm của quá trình học tập của SV, quá trình giảng dạy của giảng viên, chương trình đào tạo của nhà trường, quá trình thực hành sư phạm tại các cơ sở giáo dục
+ Vận dụng những ưu điểm của Mô hình dạy học điều kiện hóa cổ điển và Mô
Trang 29hình dạy học hành vi tạo tác, để gia tăng năng lực ICT cho SV cần gia tăng các kích thích bên ngoài (ví dụ thông qua: giảng viên, chương trình, nhà trường, xã hội, đào tạo, tập huấn)
+ Tuy nhiên, các hành vi được hình thành không phải hoàn toàn do kích thích bên ngoài quy định trực tiếp mà còn chịu sự chi phối bởi các yếu tố chủ quan của cá thể - các yếu tố trung gian hay còn gọi là các biến trung gian Có 5 biến trung gian góp phần tạo ra các hành vi là: kích thích của môi trường, các động cơ tâm lý, di truyền, sự dạy học từ trước và tuổi tác Trong nghiên cứu này, tác giả mới quan tâm tới những kích thích từ môi trường và động cơ tâm lý chứ chưa tìm hiểu được yếu
tố di truyền, sự dạy học từ trước (quá trình đào tạo trước đó) và tuổi tác
+ Khi làm việc với ICT, sinh viên có thể gặp sai sót, lặp đi lặp lại việc thử - sai giúp các em tìm được hướng đi đúng, chủ động học tập, nghiên cứu và thực hành nghề
- Thuyết văn hóa xã hội của Vygotsky
+ Học thuyết Vygotsky cho rằng sự phát triển về văn hóa phụ thuộc vào
tương tác giữa người với người, có 3 con đường để văn hóa được truyền từ người này sang người khác: học tập bằng con đường bắt chước, học nhờ sự dạy dỗ, hướng dẫn, học tập hợp tác
+ Đối với SV, học tập bằng con đường bắt chước, học tập nhờ sự dạy dỗ hướng dẫn, học tập dưới sự hợp tác có thể từ giảng viên, bạn bè, xã hội Trong đó, phương thức giảng viên giảng dạy thông qua ICT là một trong những yếu tố kích thích sự chú ý, học hỏi và tìm hiểu của SV
+ Tương tác xã hội sẽ đưa tới sự thay đổi thường xuyên trong nhận thức và hành vi Những thay đổi về tổ chức liên quan tới việc sử dụng ICT của SVSP cũng khá gần với cách tiếp cận mà Vygotsky đưa ra để có thể truyền đạt, dạy dỗ, trao đổi, hướng dẫn, học tập ICT giữa giảng viên với SV, giữa SV với SV, và giữa nhóm SV này với nhóm SV khác
+ Vygotsky cũng đưa ra khái niệm vùng phát triển gần (ZPD), ông mô tả: ZPD, là sự khác biệt giữa mức độ phát triển thực tế (xác định qua khả năng giải quyết vấn đề khi có sự giúp đỡ, hướng dẫn hoặc cộng tác với người có kiến thức nhiều hơn) Học thuyết của ông tập trung vào vai trò nền tảng của tương tác tác xã
Trang 30hội đối với sự phát triển nhận thức cá nhân Để ZPD thành công có 2 đặc trưng cơ bản: (1) Đặc trưng mang tính chủ thể (liên quan đến đặc điểm bản thân, mô tả quá trình 2 cá nhân bắt đầu nhiệm vụ khác nhau nhưng với những hiểu biết khác nhau thì thu được những kết quả khác nhau và có thể chia sẻ hiểu biết; (2) Sự hỗ trợ mang tính xã hội (sự thay đổi của hỗ trợ xã hội đối với các khóa học, nếu sự hỗ trợ
xã hội thành công thì mức độ thông thạo về khả năng thực hiện nhiệm vụ tăng lên)
+ Với những đặc trưng mang tính chủ thể, năng lực ICT của mỗi SV được biểu hiện ở những mức độ khác nhau Đối với mỗi nhiệm vụ cụ thể, mỗi SV vận dụng những hiểu biết của mình để giải quyết cùng 1 vấn đề Thông qua sự chia sẻ,
hỗ trợ mà SV này có thể chia sẻ cho SV khác Từ đó, việc học những kiến thức, thao tác, kinh nghiệm kỹ thuật số từ những người bạn trong trường, lớp cũng ảnh hưởng tới năng lực ICT mà SV mong muốn Điều này càng thể hiện rõ hơn về những ứng dụng học thuyết Vygotsky trong lớp học là “reciprocal teaching” giảng dạy đối ứng, cho phép giáo viên và học sinh cộng tác với nhau trong học tập và thực hành, nghĩa là trong 1 nhóm các thành viên có các cấp độ khả năng khác nhau, những bạn yếu hơn có thể được trợ giúp bởi những thành viên tiến bộ hơn
+ Vygotsky xem chức năng nhận thức bị ảnh hưởng bởi niềm tin, thái độ và các công cụ thích nghi trí tuệ trong bối cảnh văn hóa nơi con người phát triển Trong bối cảnh hiện nay khi công nghệ được ứng dụng rộng rãi vào giáo dục, giáo viên cũng như sinh viên cần biết cách sử dụng công nghệ (ví dụ: wikispaces, facebook, websites, blogs, v.v ) như là công cụ duy trì và phát triển tương tác (hay
có thể hiểu là truyền thông) giữa giảng viên và SV, giữa SV với nhau Cách hữu hiệu để phát triển kỹ năng và chiến lược là tương tác với các bạn cùng trang lứa, học tập có sự hướng dẫn của giáo viên sẽ đem lại hiểu biết và khả năng thực hiện tốt hơn so với làm một mình
+ Tóm lại: Thuyết hành vi và thuyết văn hóa xã hội là cơ sở quan trọng cho
việc xác định các giải pháp nhằm gia tăng ảnh hưởng tích cực và góp phần nâng cao năng lực năng lực ICT của SV Những kích thích từ yếu tố cá nhân, môi trường, yếu
tố hành động là 3 yếu tố cơ bản và cốt lõi
Trang 311.3 Các khái niệm liên quan đến đề tài
1.3.1 Khái niệm ICT
UNESCO (2011) định nghĩa: “Công nghệ thông tin và truyền thông (ICT) là
sự kết hợp của khoa học, công nghệ, kỹ thuật và quản lý được sử dụng trong xử lý thông tin”
Theo quan điểm này, Ngozi (Gurari, 2009) định nghĩa: ”ICT đơn giản là sự kết hợp của công nghệ phần cứng và phần mềm máy tính với viễn thông như: hệ thống điện thoại, CD-Rom, máy fax, hế thống truyền thông qua vệ tinh”
Victoria L.Tinio (2003) định nghĩa, trong giáo dục ICT là ”tập hợp đa dạng các công cụ và tài nguyên công nghệ được sử dụng để giao tiếp, tạo ra, phổ biến, lưu giữ và quản lý thông tin” Các công nghệ này bao gồm: máy tính, internet, công
nghệ truyền thông, điện thoại Theo ông có 2 đặc điểm nổi bật của ICT trong việc
mở rộng đường đến với giáo dục:
- Một là: bất cứ lúc nào, bất cứ nơi đâu Điều này theo Victoria L.Tinio được
hiểu rằng học sinh – sinh viên có thể truy cập giáo trình, chương trình học bất cứ khi nào dù ngày hay đêm, dù bạn đang ở miền xuôi hay miền ngược Việc giảng bài dựa trên ICT cũng mở rộng cho mọi đối tượng học viên, không cần một lớp học với diện tích rộng, không cần phải đủ số lượng học viên nhưng lớp học vẫn diễn ra đồng thời giữa giảng viên và học viên
- Hai là, ICT cho phép tiếp cận tài nguyên đào tạo từ xa, nghĩa là giảng viên
hay học viên đã có thể sử dụng thư viện số mà không cần sách vở hay tài liệu bản
in thông qua Internet, World Wide Web Với những trường đại học mà nguồn tài nguyên thư viện còn hạn chế thì ICT cho phép tiếp cận thêm nhiều nguồn tài nguyên khác như các chuyên gia, nhà nghiên cứu, giảng viên, giáo sư, lãnh đạo danh nghiệp, trường học và bạn bè khắp năm châu thông qua internet
Tóm lại, ICT được phát triển từ Công nghệ thông tin (IT) và quá trình xử lý thông tin thông qua công nghệ điện tử, tích hợp với viễn thông ”Máy tính”, ”công nghệ thông tin” và ”truyền thông” là 03 thành phần chính không thể tách rời khi
nhắc đến ICT
Trang 32Khái niệm ICT theo quan điểm tác giả sử dụng trong nghiên cứu này: ”ICT
là khả năng tích hợp giữa máy tính, công nghệ thông tin, truyền thông được sử dụng nhằm tạo ra thông tin, xử lý thông tin, phổ biến, lưu giữ và quản lý thông tin”
1.3.2 Các phương tiện ICT
Tại Việt Nam, số liệu khảo sát và tổng hợp từ SEAMEO (2010) đưa ra các phương tiện, tài nguyên ICT có tác động làm thay đổi nền giáo dục, được sử dụng
để giao tiếp, tạo ra, phổ biến, lưu trữ và quản lý thông tin, bao gồm:
Máy tính, máy chiếu cho hoạt động dạy và học; Phần mềm thay thế đồ dùng dạy học trong một số môn học cụ thể; Mỗi giáo viên có một máy tính xách tay; Nối mạng thông minh tại lớp học; Truy cập internet; Điện thoại thông minh; Máy tính bảng; Nội dung cho các thiết bị di động; Công nghệ không dây; Hệ thống quản lý nội dung; E-learning; Bảng tương tác điện tử; Sách điện tử/kĩ thuật số; Trò chơi kỹ thuật số giáo dục; Mạng xã hội; Tài nguyên dạy và học điện tử/kĩ thuật số; Phần mềm quản lý học sinh; Sổ liên lạc/hồ sơ học sinh (điện tử/kỹ thuật số); Phần mềm mô phỏng ảo để thực hành và thí nghiệm; Phòng đa phương tiện tại trường học; Web 2.0; Web 3.0; Phần mềm (mã nguồn mở) miễn phí; Cộng đồng học tập trực tuyến; Trường học kết nối; Dịch vụ đám mây; Các thiết bị tin học với chi phí hợp lý, tiết kiệm năng lượng, kích cỡ nhỏ, dễ quản lý; Kết nối không dây ở khắp mọi nơi; Nguồn tài nguyên giáo dục mở; Các ứng dụng trình chiếu; Clound computing; Teleconference; Webex (Cisco); Hệ thống máy ảo (Virtual Machines System – VXI); Hệ thống quản lý trường học
Trần Thị Bích Liễu (2010) cũng giới thiệu một số phương tiện của công nghệ thông tin truyền thông được thực hiện trong giáo dục như:
Blackberrys, Instant Masaging, I-Pods, I-Phones, cell phones, MP#, video, email, mạng xã hội mà ở đó mọi người có thể chia sẻ ý tưởng, liên lạc với nhau (Twitter, facebook, blog, zalo, Viber) Youtube, TeacherTube, SchoolTube, StudentTube, Google, Google Scholar, Google Earth
Ngoài ra, một số lĩnh vực được đưa ra liên quan tới ICT như:
Trang 33MOOC, dữ liệu lớn, IoT-kết nối vạn vật, điện toán đám mây, kiến trúc hướng dịch vụ (SOA), Internet thế hệ mới, ứng dụng web, thiết bị di động và điện toán đám mây, tích hợp mạng xã hội, Open Science, Open Data (ĐHQGHN,
2018)
1.3.3 Năng lực và đánh giá năng lực
Trong tiếng Việt, các thuật ngữ “năng lực”, “khả năng”, “kỹ năng” tương đương với các thuật ngữ sau trong tiếng Anh: “competence”, “ability”, “capability”
Năng lực là sự kết hợp của kiến thức, kĩ năng và thái độ sẵn có của một cá nhân, một tổ chức để thực hiện thành công nhiệm vụ (DeSeCo, 2002)
Đối với từng bối cảnh và mục đích sử dụng, năng lực được định nghĩa theo các cách khác nhau Năng lực theo các cách định nghĩa tựu chung là có trình độ, có kiến thức liên quan để đạt được những kỹ năng tại một thời điểm Kiến thức và kỹ năng này cần thiết để thực hiện các nhiệm vụ chuyên môn, đó là sự kết hợp của lý thuyết, kinh nghiệm và thực tế giúp cá nhân có thể và sẵn sàng đưa ra những quyết định đúng đắn
Trong cuộc sống với những yêu cầu được đặt ra hàng ngày đòi hỏi mỗi cá nhân hoặc mỗi tổ chức phải có sự kết hợp một cách thành thạo giữa tư duy, kiến thức, kĩ năng, cảm xúc, thái độ Để hoàn thành được một công việc hay yêu cầu trong các tình huống như học tập, làm việc hoặc trong cuộc sống
Cấu trúc của năng lực với 3 mức độ: nhận thức – phần nổi, tiền nhận thức – phần giữa, không nhận thức – phần dưới Cấu trúc của năng lực được thể hiện như sau:
Bảng 1.5 Mô hình tảng băng về cấu trúc của năng lực Sigmund Freud
Hành động
(behaviour)
Hành vi (quan sát được) Suy nghĩ
(Thoughts)
Kiến thức
Kĩ năng Thái độ Chuẩn, giá trị, niềm tin Tính sẵn sàng
(willing)
Động cơ Nét nhân cách Phẩm chất
Trang 34Nguồn: S.C Hồng (2017) Giáo trình kiểm tra đánh giá trong dạy học
Hoàng Hòa Bình (2015) cho rằng năng lực là thuộc tính cá nhân được hình thành, phát triển nhờ tố chất sẵn có và quá trình học tập, rèn luyện, cho phép con người thực hiện thành công một loại hoạt động nhất định, đạt kết quả mong muốn trong những điều kiện cụ thể Mối liên hệ giữa năng lực, kỹ năng, và kiến thức được biểu hiện như sau: năng lực là tổ hợp những phẩm chất và trí tuệ giúp hoàn thành công việc với mức độ chính xác cao Năng lực của cá nhân được bộc lộ ở hai đặc trưng cơ bản là:
- (1) Thể hiện qua hoạt động (ví dụ: năng lực giao tiếp -> kỹ năng nói, năng lực tư duy -> kỹ năng đặt câu hỏi, năng lực hợp tác -> kỹ năng làm việc nhóm);
- (2) Đảm bảo hoạt động có hiệu quả, đạt kết quả mong muốn
Có thể thấy, tiếp cận năng lực theo quan điểm của Hoàng Hòa Bình dựa trên tiếp cận các năng lực thành phần Cấu trúc của năng lực theo Hoàng Hòa Bình được thể hiện ở hình sau:
Hình 1.2 Mô tả cấu trúc năng lực theo Hoàng Hòa Bình (2015)
Theo Nguyễn Hữu Lam (2011), những ưu điểm của tiếp cận dựa trên năng lực được chỉ ra là: cho phép cá nhân hóa việc học, bổ sung những thiếu hụt của bản thân để thực hiện nhiệm vụ cụ thể; chú trọng kết quả đầu ra; linh hoạt trong việc đạt tới kết quả đầu ra sao cho phù hợp với điều kiện hoàn cảnh từng cá nhân; tạo ra khả
Trang 35năng xác định những gì cần đạt, những tiêu chuẩn để đo lường thành quả Các nhà phát triển nguồn nhân lực đặc biệt quan tâm đến việc chú trọng vào kết quả đầu ra
và những tiêu chuẩn đo lường khách quan của năng lực để tạo ra kết quả này
Vì vậy, khi đánh giá được năng lực, thường phải bắt đầu từ kết quả đầu ra Điều này hoàn toàn đồng quan điểm với Hoàng Hòa Bình ở trên: kết quả được bộc
lộ qua hoạt động, và đảm bảo hoạt động có hiệu quả Khi xây dựng tiêu chuẩn đánh giá năng lực ICT của SV cần tham khảo một số yếu tố liên quan tới kết quả đầu ra như: kiến thức ICT, kỹ năng ICT và vận dụng ICT trong học tập, vận dụng ICT trong nghiên cứu và giảng dạy
Tóm lại, khái niệm Năng lực theo quan điểm tác giả sử dụng trong nghiên
cứu này là: ”Năng lực là khả năng thực hiện thành công các nhiệm vụ thông qua việc tích hợp kiến thức, kỹ năng cá nhân” Nếu năng lực được coi là khả năng thực
hiện thành công các nhiệm vụ thì đánh giá năng lực cần phải đánh giá dựa trên các
thành tố của năng lực
1.3.4 Năng lực ICT của SVSP
Năng lực ICT của SVSP
Lindsay H Stuart (2009) định nghĩa "Năng lực ICT là một kỹ năng cơ bản trong một xã hội thông tin Những người có năng lực ICT giải quyết các vấn đề hiệu quả bằng cách sử dụng công nghệ thông tin và công nghệ truyền thông trong tình huống có vấn đề nhất định”
Theo cách định nghĩa này của Lindsay H Stuart, năng lực ICT được hiểu là
kỹ năng xác định, tiếp cận, đánh giá, tạo ra, quản lý và chia sẻ thông tin số Một xã hội thông tin số (còn gọi là xã hội Ana-Digi hay xã hội Digi-log) được duy trì, phát triển, được thay đổi bằng công nghệ thông qua những hiểu biết, thái độ và trách nhiệm đạo đức
Nghiên cứu năng lực ICT trong đề tài này tập trung vào việc đánh giá kỹ năng và kinh nghiệm ICT Với những phân tích trên, tác giả đưa ra quan điểm về năng lực ICT cho SVSP:
Khái niệm năng lực ICT theo quan điểm của tác giả: “Năng lực ICT của sinh
Trang 36viên sư phạm là khả năng thực hiện thành công các nhiệm vụ chuyên môn, học tập, rèn luyện kỹ năng thông qua việc tích hợp kỹ năng và kinh nghiệm sử dụng máy tính, công nghệ thông tin và truyền thông nhằm tạo ra, xử lý, phổ biến, lưu trữ và quản lý thông tin”
Nhiều những nghiên cứu về năng lực ICT tập trung vào kiến thức (kiến thức
ở đây có thể được truyền đạt, đọc hoặc giải thích được) mà chưa chú ý đến làm (kinh nghiệm, thực hành)
Theo Bassellier và cộng sự (2003), năng lực ICT được xác định từ hai khía cạnh: (1) Kiến thức ICT (những gì mọi người biết) và (2) Kinh nghiệm ICT (những
gì mọi người làm) Cách tiếp cận này thừa nhận rằng: năng lực cần phải có kiến thức và kỹ năng để có thể chuyển giao năng lực thành các nhiệm vụ trong những tình huống công việc hàng ngày Tuy nhiên, các nghiên cứu hiện nay có xu hướng
đo năng lực ICT tập trung vào ứng dụng các phần mềm ứng dụng hơn là tư duy và kiến thức cơ bản về khoa học máy tính
Rất khó để đánh giá được chính xác năng lực ICT do những đòi hỏi về năng lực ICT ngày càng thay đổi theo sự phát triển nhanh chóng từng ngày, từng giờ của công nghệ, trong đó phải kể đến sự thay đổi của công nghệ giáo dục và SVSP là một trong những đối tượng cần tích cực cải thiện và nâng cao năng lực này
1.3.5 Vai trò của năng lực ICT đối với SVSP
ICT có vai trò trong việc làm phát triển sự hiểu biết về kiến thức chuyên môn
và khả năng sư phạm, sử dụng ICT sẽ tạo nên sự khác biệt cho bài học và tạo ra phản ứng tích cực cho học sinh
Việc chuyển đổi từ giảng dạy truyền thống sang dạy có tích hợp ICT được nhiều nghiên cứu chỉ ra là hiệu quả, nó tạo cơ hội dịch chuyển từ việc lấy giáo viên làm trung tâm sang lấy người học làm trung tâm; đáp ứng nhu cầu cá nhân của giáo viên, tăng khả năng sư phạm, thúc đẩy học tập, thành công và thành tích của học sinh
Những SVSP có hiểu biết sâu sắc về việc sử dụng ICT có thể kết hợp giữa việc học tập, tìm tòi kiến thức và vận dụng vào công việc giảng dạy trong từng hoàn cảnh khác nhau
Trang 37ICT khai thác được sự linh hoạt trong đào tạo; mức độ học tập; phân bổ thời gian, sự sẵn sàng sử dụng, chất lượng đào tạo, hỗ trợ giảng dạy và sự sẵn có của nguồn lực CNTT nhà trường, sự đa dạng của chương trình đào tạo Theo Ben Youssef (2008), ICT có ảnh hưởng sâu sắc đến quá trình học tập trong giáo dục đại học bằng cách cung cấp những kiến thức và kỹ năng mới cho SV ICT có thể cải thiện thành tích học tập, cải thiện động lực, hứng thú học tập, kỹ năng hợp tác, kiến
thức môn học, kỹ năng xử lý thông tin, kỹ năng siêu nhận thức
1.3.6 Các mức độ của năng lực ICT
Năng lực nhận thức theo thang đánh giá năng lực nhận thức của Bloom bao gồm 6 cấp độ:
(1) Nhớ: là sự ghi nhớ và nhận diện thông tin, dữ liệu đã học;
(2) Hiểu: là khả năng nắm được ý nghĩa của tài liệu;
(3) Vận dụng: là khả năng sử dụng các tài liệu đã học vào một hoàn cảnh cụ thể; (4) Phân tích: là khả năng nhận biết chi tiết, phát hiện và phân biệt các bộ phận cấu thành của thông tin hay tình huống;
(5) Đánh giá: là khả năng xác định giá trị hoặc sử dụng thông tin theo các tiêu chí thích hợp;
(6) Sáng tạo: là khả năng xác lập thông tin, sự vật mới trên cơ sở những thông tin hoặc sự vật đã có, tạo ra ý tưởng mới, các sản phẩm mới mẻ về một sự vật, hiện tượng
Có sự giao thoa nhất định giữa các bậc nhận thức liền nhau, vì vậy để thuận tiện cho việc đánh giá có một cách nhóm các cấp độ nhận thức đang được sử dụng phổ biến hiện nay là:
(1) Bậc 1: tái hiện – nhớ
(2) Bậc 2: tái tạo - hiểu – vận dụng
(3) Bậc 3: lập luận sáng tạo – phân tích – tổng hợp – đánh giá – sáng tạo
Hầu hết các đề tài nghiên cứu đều đưa ra khung năng lực ICT hay còn gọi là các chuẩn năng lực ICT với các mức độ cụ thể Ví dụ:
- Tổ chức UNESCO (2011) đưa ra 03 mức năng lực ICT là: (1) Xóa mù kỹ thuật, (2) Hiểu sâu kiến thức, (3) Sáng tạo kiến thức;
Trang 38- Chuẩn kỹ năng CNTT của Bộ Thông tin và truyền thông lại đưa ra 2 mức độ: (1) gồm 06 mô đun kỹ năng cơ bản, (2) gồm 09 mô đun kỹ năng nâng cao
- Tổ chức ETS cũng đánh giá mức độ năng lực ICT dựa trên 3 mức: (1)
Thành thạo về nhận thức, (2) Thành thạo về kỹ thuật, (3) Sử dụng thành thạo ICT
Tuy nhiên, đối với năng lực ICT dựa trên việc thực hiện các nhiệm vụ tác giả
đi theo quan điểm của tổ chức ETS
Tham khảo các mức độ phân cấp năng lực ICT từ các nghiên cứu đưa ra, sau khi phân tích tổng hợp, tác giả đề xuất 5 mức độ của năng lực ICT:
- Mức độ 0: không biết: SVSP không có kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm sử dụng
ICT nhằm tạo ra, xử lý, phổ biến, lưu trữ và quản lý thông tin
- Mức độ 1: biết nhưng chưa từng thực hiện: SVSP có kiến thức về ICT nhưng chưa
từng thực hành và thao tác
- Mức độ 2: đã từng thực hiện nhưng cần đào tạo thêm: SVSP có kiến thức và kỹ
năng ICT nhưng chưa thành thạo và họ có thái độ cầu thị, cần được đào tạo, bồi dưỡng thêm
- Mức độ 3: thường xuyên thực hiện và rất tự tin: SVSP thường xuyên sử dụng ICT,
và họ có thái độ rất tự tin khi thực hiện
- Mức độ 4: thực hiện một cách sáng tạo: SVSP không chỉ có khả năng sử dụng ICT
một cách thành thạo và có thái độ tự tin mà còn có thể sử dụng một cách sáng tạo
1.3.7 Giới thiệu một số ứng dụng có thể sử dụng để thiết kế công cụ đánh giá năng lực ICT cho SVSP
- Ứng dụng Rogo (Asessment Management Sytem): Là hệ thống đánh giá
độc lập: đây là hệ thống quản lý đánh giá điện tử của Đại học Nottingham được sử dụng để tạo ra, cung cấp các đánh giá trực tuyến Hệ thống này hỗ trợ quá trình xuất bản câu hỏi, xuất file, phân tích kết quả, tạo báo cáo nhằm phục vụ cho các kỳ thi, khảo sát và một số mục đích khác Công cụ này có hỗ trợ đồ họa, tệp âm thanh, video, flash với nhiều loại câu hỏi (câu trắc nhhiệm nhiều lựa chọn, câu hỏi nhiều câu trả lời, thang likert, thang định danh, thức bậc, hộp văn bản, đúng/sai…)
Trang 39- Ứng dụng Hot Potatoes: Bộ phần mềm Hot Potatoes bao gồm sáu ứng
dụng, cho phép người đánh giá tạo các bài tập tương tác, lựa chọn, trả lời ngắn, câu lộn xộn, trò chơi ô chữ và điền vào khoảng trống cho World Wide Web Hot Potatoes là phần mềm miễn phí và bạn có thể sử dụng nó cho bất kỳ mục đích hoặc
dự án đánh giá nào
- Ứng dụng E-Box: Là một nền tảng học tập và đánh giá tích cực được kích
hoạt công nghệ Ngoài các thành phần cơ bản như các câu đố, bài tập, các thành phần bài học, các thành phần tài nguyên vv, nó có nhiều thành phần hoạt động liên quan đến khái niệm công nghệ và kỹ thuật có thể được sử dụng cho thiết kế và phân tích học tập theo định hướng Các thành phần này cũng được sử dụng để đánh giá các kỹ năng thiết kế và phân tích của người được đánh giá, kiểm tra mức độ kiến thức thường xuyên
- Ứng dụng Myexambox: Là ứng dụng miễn phí này nhằm tạo ra các bài
kiểm tra trực tuyến một cách riêng tư hoặc công khai Ngoài ra, người đánh giá có thể phân tích, so sánh kết quả và chia sẻ rộng rãi kết quả của dữ liệu này trên internet
1.4 Tiêu chuẩn đánh giá năng lực ICT
Đánh giá có thể được phân loại theo nhiều loại hoặc nhiều cách tiếp cận khác nhau dựa trên mục đích mà nó được thiết kế Trong nghiên cứu này, tác giả quan tâm đến đánh giá chuẩn đoán Đánh giá chuẩn đoán có thể giúp xác định được kiến thức, kỹ năng và khả năng hiện tại của SVSP về ICT, từ đó xác định được điểm mạnh, điểm yếu và đưa ra các giải pháp cải thiện, nâng cao
Đánh giá chuẩn đoán được đưa ra như một công cụ để SV tự xác định về các mức độ thực hiện của mình
Tác giả đi theo quan điểm: đánh giá năng lực ICT tập trung vào việc thực hiện nhiệm vụ để đưa ra các tiêu chuẩn, tiêu chí đánh giá Các tiêu chuẩn, tiêu chí được đề xuất này được xây dựng dựa trên việc nghiên cứu các tài liệu trong và ngoài nước sau khi tham khảo được xem xét kỹ lưỡng sao cho phù hợp với thực tiễn giáo dục Việt Nam và tiếp cận dần với xu hướng quốc tế Theo tác giả, năng lực ICT có thể chia làm 4 năng lực thành phần như sau:
Trang 401.4.1 Năng lực vận hành máy tính cơ bản
Máy tính 1là thiết bị điện tử có khả năng thực hiện các thao tác toán học, logic và đồ họa Máy tính bao gồm: máy tính để bàn, laptop, notebook, máy tính cầm tay, máy tablet Nó được sử dụng như một công cụ để học tập, để liên lạc, để làm việc, để giải trí Người sử dụng máy tính cần phải hiểu được những nguyên tắc căn bản về vận hành, các bộ phận, chu trình hoạt động, thiết bị, lưu trữ và bảo trì mới có thể sử dụng, xử lý và giải quyết các tình huống xảy ra khi vận hành máy tính
Mô tả nhiệm vụ thực hiện:
- Xác định các thành phần cơ bản của máy tính;
- Hoạt động cơ bản của máy tính;
- Cài đặt và tháo gỡ các phần mềm;
- Định vị và chạy các chương trình ứng dụng;
- Tìm kiếm tệp tin trên hệ thống máy tính;
- Làm việc trên môi trường internet;
- Kết nối máy tính với các thiết bị ngoại vi;
- Truy cập thông tin trên CD/VCD;
1
https://www.riemysore.ac.in/ict/unit 2 computer_hardware_fundamentals.h tml