1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Vận dụng thuyết đa trí tuệ vào dạy học bộ môn lịch sử chủ đề một số nền văn minh thế giới thời kì cổ trung đại

90 35 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 90
Dung lượng 0,9 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài viết đi từ mục tiêu của giáo dục PT đến tình trạng bất cập trong DH hiện nay, giới thiệu về lý thuyết đa thông minh, về cách đánh giá các dạng năng lực trí tuệ của HS và đề xuấ

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC

NGUYỄN LINH TRANG

VẬN DỤNG THUYẾT ĐA TRÍ TUỆ VÀO DẠY HỌC LỊCH SỬ CHỦ

ĐỀ: “MỘT SỐ NỀN VĂN MINH THẾ GIỚI THỜI KÌ CỔ - TRUNG ĐẠI” (CHƯƠNG TRÌNH 2018)

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP NGÀNH SƯ PHẠM LỊCH SỬ

Hà Nội - 2020

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC

VẬN DỤNG THUYẾT ĐA TRÍ TUỆ VÀO DẠY HỌC LỊCH SỬ CHỦ

ĐỀ: “MỘT SỐ NỀN VĂN MINH THẾ GIỚI THỜI KÌ CỔ - TRUNG ĐẠI” (CHƯƠNG TRÌNH 2018)

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP NGÀNH SƯ PHẠM LỊCH SỬ

Người hướng dẫn: TS Đoàn Nguyệt Linh Sinh viên thực hiện: Nguyễn Linh Trang

Hà Nội - 2020

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này, tôi xin chân thành cảm ơn sâu sắc đến TS Đoàn Nguyệt Linh người đã tận tình chỉ bảo, định hướng và động viên tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành khóa luận

Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn tới thư viện Đại học Quốc gia Hà Nội đã nhiệt tình giúp đỡ tôi trong quá trình tìm kiếm tài liệu

Xin gửi lời cảm ơn tới Ban giám hiệu, các thầy cô giáo và các em học sinh trường THPT Trần Phú đã giúp đỡ tôi trong quá trình khảo sát thực tiễn và thử nghiệm sư phạm

Cuối cùng xin gửi lời tri ân tới gia đình, người thân và bạn bè đã động viên cổ

vũ tôi trong suốt thời gian qua

Sinh viên

Nguyễn Linh Trang

Trang 4

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

Trang 5

LỜI CẢM ƠN 3

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT 4

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 3

2.1 Tài liệu nước ngoài 3

2.2 Tài liệu trong nước 4

3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu của đề tài 7

3.1 Đối tượng nghiên cứu 7

3.2 Phạm vi nghiên cứu 7

3.2.1 Phạm vi về lí luận 7

3.2.2 Phạm vi thực tiễn 7

3.2.3 Phạm vi đề xuất phương pháp 7

4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 7

4.1 Mục đích nghiên cứu 7

4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu 8

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu 8

5.1 Phương pháp luận 8

5.2 Phương pháp nghiên cứu 8

6 Giả thuyết nghiên cứu 9

7 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 10

7.1 Ý nghĩa khoa học 10

7.2 Ý nghĩa thực tiễn 10

8 Cấu trúc của đề tài 10

CHƯƠNG I CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC VẬN DỤNG THUYẾT ĐA TRÍ TUỆ VÀO DẠY HỌC BỘ MÔN LỊCH SỬ CHỦ ĐỀ: MỘT SỐ NỀN VĂN MINH THẾ GIỚI THỜI KÌ CỔ - TRUNG ĐẠI 12

Trang 6

1.1 Cơ sở lí luận 12

1.1.1 Quan niệm về thuyết đa trí tuệ 12

1.1.2 Đặc điểm tâm lí lứa tuổi HS ở trường THP 13

1.1.2.1 Về đặc điểm nhân cách 13

1.1.2.2 Yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển của học sinh THPT 15 1.1.2.3 Hoạt động học tập và hoạt động trí tuệ của HS THPT 17

1.1.3 Yêu cầu đổi mới về phương pháp dạy học Lịch sử hiện nay 18 1.1.4 Các loại trí thông minh 21

1.1.5 Một số gợi ý các hoạt động có thể dùng để phát triển các loại hình thông minh cho HS trong dạy học Lịch sử 24

1.1.6 Vai trò, ý nghĩa của việc vận dụng thuyết đa trí tuệ vào dạy học bộ môn lịch sử 28

1.2 Cơ sở thực tiễn 31

1.2.1 Cơ sở thực tiễn vận dụng thuyết đa trí tuệ vào dạy học bộ môn Lịch sử ở trường THPT 31

1.2.2 Kết quả điều tra khảo sát 33

1.2.2.1 Quan điểm của giáo viên: 33

1.2.2.2 Đối với học sinh 37

TIỂU KẾT CHƯƠNG I 40

CHƯƠNG 2 VẬN DỤNG THUYẾT ĐA TRÍ TUỆ VÀO DẠY HỌC BỘ MÔN LỊCH SỬ CHỦ ĐỀ: MỘT SỐ NỀN VĂN MINH LỚN TRÊN THẾ GIỚI THỜI KÌ CỔ - TRUNG ĐẠI 42

2.1 Vị trí, vai trò, mục tiêu, nội dung cơ bản của chủ đề: Một số nền văn minh lớn trên thế giới thời kì cổ - trung đại 42

2.1.1 Vị trí, vai trò 42

2.1.2 Mục tiêu 43

2.1.3 Nội dung 45

Trang 7

2.2 Một số yêu cầu khi thiết kế hoạt động dạy học Lịch sử trên cơ sở

vận dụng thuyết đa trí tuệ cho HS THPT 46

2.3 Quy trình vận dụng thuyết đa trí tuệ vào dạy học bộ môn Lịch sử 47 2.4 Thiết kế hoạt động dạy học và nhiệm vụ học tập môn học Lịch sử THPT chủ đề: Một số nền văn minh thế giới thời kì cổ - trung đại.49 2.4.1 Thiết kế hoạt động dạy học và nhiệm vụ học tập nhằm phát triển trí thông minh không gian 49

2.4.2 Thiết kế hoạt động dạy học và nhiệm vụ học tập nhằm phát triển trí thông minh Vận động, ngôn ngữ 51

2.4.3 Thiết kế hoạt động dạy học và nhiệm vụ học tập nhằm phát triển trí thông minh Logic – Toán học 53

2.4.4 Thiết kế hoạt động dạy học và nhiệm vụ học tập nhằm phát triển trí thông minh tương tác, giao tiếp 55

2.5 Thử nghiệm sư phạm 57

2.5.1 Mục đích thử nghiệm sư phạm 57

2.5.2 Đối tượng và thời gian thử nghiệm 57

2.5.3 Tiến hành thử nghiệm 58

2.5.3.1 Chuẩn bị cho quá trình thử nghiệm 58

2.5.3.2 Tiến hành tiết dạy thử nghiệm 58

2.5.4 Kết quả thử nghiệm 59

2.5.5 Kết luận sau thử nghiệm 62

TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 63

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 65

TÀI LIỆU THAM KHẢO 67

PHỤ LỤC 69

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Nhân loại đang đứng trước sự phát triển như vũ bão của khoa học công nghệ, đòi hỏi con người cũng ngày càng phải phát triển mạnh mẽ hơn để đuổi kịp sự phát triển ấy, thích nghi với sự phát triển và tạo ra những bước phát triển mạnh mẽ hơn nữa Vì vậy, nước Việt Nam nói chung và ngành giáo dục và đào tạo nói riêng phải có sự đầu tư thích đáng cho sự nghiệp giáo dục, phải kịp thời đào tạo ra một thế hệ trẻ năng động, sáng tạo, nắm vững tri thức khoa học để làm chủ mọi hoàn cảnh công tác và hoạt động xã hội trong thời kì công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Đổi mới giáo dục đã và đang được Đảng và nhà nước khẳng định là vai trò quan trọng cấp thiết trong hệ thống “Đổi mới sự nghiệp giáo dục”, là nền tảng, là động lực thúc đẩy công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, để Việt Nam vững vàng khi hội nhập vào nền kinh tế thế giới Những năm gần đây, Bộ giáo dục đã thực hiện cuộc cách mạng về giáo dục, đổi mới cả về nội dung và phương pháp dạy học Sự đổi mới về mục tiêu và nội dung dạy học đòi hỏi phải có sự đổi mới về phương pháp dạy học Đổi mới về phương pháp dạy học là quá trình tích cực hóa hoạt động học tập của học sinh Dưới sự trực tiếp chỉ đạo, hướng dẫn của giáo viên, học sinh chủ động, tự giác tìm tòi, giải quyết vấn đề, phát hiện và thực hiện nhiệm vụ nhận thức và có ý thức vận dụng linh hoạt, sáng tạo các kiến thức đã thu nhận được một cách có hiệu quả vào thực tế Một trong những hướng đi tích cực, vừa có thể đổi mới phương pháp giáo dục, tổng hòa các phương pháp giáo dục và thực hiện tối đa nhiệm vụ của đổi mới như đã nêu trên đó là vận dụng thuyết đa trí tuệ

Cùng với sự phát triển về khoa học kĩ thuật là sự phát triển về mặt con người, đặc biệt là vấn đề phát triển bình đẳng và toàn diện Trong sự phát triển này, mỗi cá nhân đều được và cần được phát triển khả năng, năng lực của bản thân, được tôn trọng những ưu, nhược điểm và đặc biệt là phát triển tối đa

Trang 9

những ưu nhược điểm Điều này thể hiện rằng, trong mỗi môn học, mỗi học sinh đều có thể nhìn nhận các nội dung kiến thức theo cách nhìn của bản thân và tiếp nhận lượng kiến thức ấy theo cách phù hợp nhất đối với năng lực chuyên biệt

Tuy nhiên, trong thực trạng giáo dục hiện nay, hầu hết các môn học vẫn đang thực hiện dạy và học theo hướng truyền thống, nghĩa là giáo viên giảng, trò tiếp thu một chiều hoặc loay hoay với quá trình đổi mới mà chưa tìm được hướng đi phù hợp Đặc biệt là các môn khoa học xã hội, thầy đọc trò chép đã trở thành một lối mòn trong tư tưởng giáo dục của cả giáo viên và học sinh, trong đó có môn Lịch sử

Việc DHLS ở các trường THPT hiện nay vẫn chưa được quan tâm và chú trọng Môn Lịch sử vẫn thiên về kiến thức, chưa phát triển được kĩ năng cá nhân và xã hội cho học sinh Điều này khiến môn học càng trở nên đơn điệu, nhàm chán và không thu hút được sự chú ý của học sinh cũng như khiến học sinh khó tiếp thu kiến thức Vì vậy, việc vận dụng thuyết đa trí tuệ vào dạy học Lịch sử là cần thiết

Trong chương trình lịch sử THPT, nội dung đầu tiên học sinh được tiếp cận đó là Lịch sử Thế giới thời kì cổ trung đại Để học sinh có hứng thú với môn học thì giáo viên phải lôi cuốn được học sinh ngay từ các bài học đầu tiên

Từ lí do trên, chúng tôi quyết định chọn đề tài: “Vận dụng thuyết đa trí tuệ vào dạy học bộ môn Lịch sử chủ đề: Một số nền văn minh thế giới thời kì cổ - trung đại”

Trang 10

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

2.1 Tài liệu nước ngoài

Trên thế giới, nhiều nhà tâm lý học, nhà giáo dục đã thử vận dụng lý thuyết này vào quá trình nghiên cứu Trong số đó, Thomas Armstrong đã vận dụng thành công một phần thuyết đa thông minh vào việc giảng dạy và giáo dục Ông đã công bố một số cuốn sách nổi tiếng như: 7 loại hình trí thông minh, Bạn thông minh hơn bạn nghĩ, Đa trí tuệ trong lớp học,… Các cuốn sách này chủ yếu viết về vấn đề giáo dục và hướng dẫn cha mẹ giáo dục con cái, giúp

GV DH theo các PP nhằm phát huy năng lực trí tuệ nổi trội của con em mình Trên cơ sở tìm hiểu thuyết đa thông minh của Howard Gardner, Thomas Armstrong đã có quá trình nghiên cứu nghiêm túc để đưa ra những tác phẩm mang tính kế thừa, được các nhà giáo dục và dư luận xã hội quan tâm Một trong số đó là cuốn “7 loại hình thông minh” Cuốn sách được được Mạnh Hải, Thu Hiền dịch và do nhà xuất bản Lao động – xã hội phát hành Ngoài phần mở đầu, cuốn sách bố cục thành 15 nội dung nhỏ Bên cạnh việc chỉ ra 7 loại hình trí thông minh (trừ trí thông minh tự nhiên), Thomas Armstrong có đưa thêm một số nội dung thú vị khác như: “Đánh thức những tiềm năng nở muộn” hay “Củng cố mối liên kết lỏng lẻo”, “Liệu còn tồn tại những loại hình thông minh khác”… Ngay chương I với tên gọi “Thuyết trí thông minh đa dạng”, Thomas Armstrong đã đưa ra những tình huống gần gũi trong cuộc sống hàng ngày để dẫn dắt người đọc có được cảm nhận đầu tiên về trí thông minh Tình huống đặt ra khi bạn bị một đàn voi ma mút uy hiếp hay xe hơi của bạn bị hỏng trên đường cao tốc Trong cả hai trường hợp, bạn đều cần sự giúp đỡ Với cuộc sống muôn hình vạn trạng, trí thông minh giải quyết những nhu cầu khác nhau thì cần có những năng lực khác nhau Và như vậy, trí thông minh phụ thuộc vào hoàn cảnh, nhiệm vụ và những yêu cầu mà cuộc sống đặt ra cho chúng ta

Trang 11

Thomas Armstrong cũng chỉ ra rằng: các bài kiểm tra IQ mới chỉ đánh giá được một thứ có thể tạm gọi là “năng khiếu đi học”, trong khi trí thông minh thật sự phải được hiểu trong phạm vi rất rộng lớn với nhiều loại kĩ năng khác nhau Ông cũng đưa ra một cách hệ thống tên gọi, các khái niệm mà Howard Gardner đã khái quát và những bằng chứng làm cơ sở cho thuyết trí thông minh đa dạng Một là, mỗi trí thông minh đều có khả năng biểu tượng hóa Hai là, mỗi trí thông minh đều có LS phát triển riêng của nó Ba là, mỗi loại trí thông minh đều sẽ bị tổn thương và biến mất khi có các tác động xâm phạm và gây hại đến những vùng đặc trưng riêng biệt của nó trong bộ não người Và cuối cùng, mỗi loại trí thông minh có những nền tảng giá trị văn hóa riêng của nó Đương nhiên, Thomas Amstrong cũng không quên đưa ra những biểu hiện để người đọc tự đánh giá các loại trí thông minh của bản thân

2.2 Tài liệu trong nước

Bên cạnh các tác phẩm trên là một số bài báo, bài viết của các chuyên gia có

uy tín trong nước, bàn về việc vận dụng thuyết đa thông minh trong DH Bài nghiên cứu của Trần Khánh Đức với nhan đề “Lý thuyết đa thông minh và đổi mới phương pháp dạy học ở bậc đại học” trình bày những mối quan hệ trực tiếp giữa lý thuyết đa thông minh của của nhà tâm lý học Mỹ Howard Gardner (1983) với yêu cầu đổi mới PPDH ở bậc đại học theo hướng phát huy tính chủ động và sáng tạo ở người học, dạy PP, dạy cách học Để phát triển các năng lực (dạng thức thông minh) ở người học, PPDH ở bậc đại học cần có đổi mới căn bản từ quan niệm, quy trình, kỹ thuật, cách thức thực hiện… trên cơ sở kết hợp đa PP, đa thông tin, đa giác quan, đa phương tiện, đa hoạt động Có đôi nét khác biệt với Trần Khánh Đức, bài viết của Trần Đình Châu với nhan

đề “Vận dụng thuyết đa trí tuệ trong dạy học ở trường phổ thông”, đăng trên Tạp chí Giáo dục số 316 (kì 2-8/2013) tiếp cận thuyết đa trí tuệ để vận dụng

Trang 12

trong chương trình PT với nhiều thông tin khái quát song ngắn gọn hơn Bài viết đi từ mục tiêu của giáo dục PT đến tình trạng bất cập trong DH hiện nay, giới thiệu về lý thuyết đa thông minh, về cách đánh giá các dạng năng lực trí tuệ của HS và đề xuất việc vận dụng thuyết đa thông minh trong DH bằng dẫn chứng sinh động thông quan bài dạy “Bảo vệ bầu không khí trong sạch” Điểm giống nhau của cả hai bài viết này là đều chỉ ra chủ trương, đường lối đổi mới giáo dục của Đảng rồi từ đó trình bày nội dung cơ bản của thuyết đa thông minh và đề xuất việc vận dụng trong DH Trần Khánh Đức đề xuất việc vận dụng ở góc độ người học (SV) và người dạy (giảng viên) còn Trần Đình Đức đề xuất việc đánh giá các dạng năng lực trí tuệ ở HS và vận dụng bằng việc lựa chọn các PPDH phù hợp Trong cuốn “Phương pháp ôn tập Lịch sử ở trường trung học phổ thông – Một số vấn đề lý luận và thực tiễn” của Hoàng Thanh Tú có đề cập đến: Cơ sở, vai trò, ý nghĩa, yêu cầu cơ bản, hình thức, biện pháp của việc tổ chức, hướng dẫn ôn tập trong DHLS ở trường THPT Một điều rất đáng ghi nhận là mặc dù không đề cập cụ thể đến việc vận dụng

lý thuyết đa thông minh vào hoạt động ôn tập song Hoàng Thanh Tú đã chỉ ra rằng: “Hiệu quả học tập của mỗi người không chỉ phụ thuộc vào phương pháp dạy mà còn chịu ảnh hưởng của chính phong cách học của họ” Theo đó,

“Phong cách học là cách thức mà người học thường sử dụng để tiếp thu, ghi nhớ kiến thức theo thói quen tư duy và dưới tác động của môi trường học tập” Mỗi cá nhân có một phong cách học riêng, quy định cách họ tiếp nhận tri thức và nhận biết về thế giới xung quanh Như vậy, trong tác phẩm này, Hoàng Thanh Tú đã đề cập đến đa kiểu học, hướng đến DH phân hóa đối tượng nhằm đáp ứng yêu cầu cá thể hóa hoạt động theo nhu cầu, sở thích và khả năng của mỗi HS nhằm nâng cao hiệu quả DH Là một học thuyết có giá trị lý luận và thực tiễn sâu sắc, nhiều trường PT đã đề xuất việc vận dụng lý thuyết đa thông minh vào xây dựng chương trình đào tạo của mình Trong đó, không thể không kể đến: Trường PT liên cấp Olympia, Trường mầm non cao

Trang 13

cấp Bibi Home, Trung tâm bé thông minh hay trung tâm Gene Code (Phân tích vân tay) Bên cạnh đó, thuyết đa thông minh còn được đăng tải trên một số trang web hay diễn đàn có uy tín như: Trường THPT Chuyên Hà Nội Amsterdam hay webtretho

Trên các diễn đàn đó, các bài viết tập trung vào nội dung chủ yếu là giới thiệu

về thuyết đa thông minh: Sự ra đời gắn liền với quá trình nghiên cứu khoa học của Howard Gardner, cơ sở khoa học, những nội dung chủ yếu và rất nhiều những gợi ý khác để vận dụng trong việc phát triển tư duy, làm đa dạng các loại hình trí thông minh của HS Như vậy, sự phát triển nhanh chóng của công nghệ thông tin đã trở thành nhân tố tích cực để thúc đẩy sự hiểu biết của toàn

xã hội đối với vô vàn tri thức của nhân loại Trong đó có thuyết đa thông minh của Howard Gardner

Từ việc tổng quan trên, có thể nhận thấy, lý thuyết đa thông minh của Howard Gardner đã được nghiên cứu và đề cập ít nhiều trong các cuốn sách, bài nghiên cứu và hoạt động của một số cơ sở giáo dục Tuy nhiên, các tài liệu nói trên mới chủ yếu đề cập nhiều đến quan điểm mới của Howard Gardner

về trí thông minh, mô tả các dạng trí thông minh và đề xuất việc vận dụng trong DHPT và đại học một cách sơ lược Việc tiếp cận của nhà trường, đội ngũ GV và các em HS về lý thuyết đa thông minh chưa thật rộng rãi nên chưa thực sự phát huy được tính vận dụng của lý thuyết này trong DH Trên thực

tế, chưa có công trình nào nghiên cứu một cách hệ thống thuyết đa thông minh để vận dụng vào DHPT, cụ thể là môn LS Những kết quả nghiên cứu của các tác giả đi trước chính là nguồn tài liệu quý báu, là căn cứ và cũng là gợi ý có giá trị lý luận sâu sắc để tôi tiếp cận, tìm hiểu và nghiên cứu việc vận dụng thuyết đa thông minh trong DHLS ở trường THPT

Trang 14

3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu của đề tài

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Vận dụng thuyết đa trí tuệ vào dạy học bộ môn Lịch sử chủ đề: Một số nền văn minh thế giới thời kì cổ trung đại nhằm giúp giáo viên có hướng đi tích cực trong quá trình đổi mới phương pháp dạy học, có thể lôi cuốn sự chú ý của học sinh đến với môn học, vào nội dung bài học Đồng thời, giúp học sinh có được những giờ học bổ ích, hấp dẫn, có thể tiếp thu cả về kiến thức và kĩ năng cá nhân, xã hội

Đề xuất phương pháp vận dụng thuyết đa trí tuệ vào dạy học bộ môn Lịch sử

ở trường THPT và biện pháp vận dụng thuyết đa trí tuệ vào dạy học chủ đề: Một số nền văn minh thế giới thời kì cổ - trung đại

4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

4.1 Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở nghiên cứu lý luận về vận dụng thuyết đa trí tuệ vào dạy học bộ môn Lịch sử và thực tiễn vận dụng thuyết đa trí tuệ vào dạy học chủ đề: Một số nền văn minh lớn trên thế giới thời kì cổ - trung đại, đề tài tập trung vào việc vận dụng các lí luận và cơ sở lí luận của thuyết đa trí tuệ vào dạy học

Trang 15

trong thời kì đổi mới phương pháp, đặc biệt với môn Lịch sử và chủ đề: Một số nền văn minh lớn trên thế giới thời kì cổ - trung đại trong dạy học lịch sử thế giới theo chương trình giáo dục phổ thông mới Qua đó, góp phần đổi mới phương pháp học tập, giúp học sinh nâng cao khả năng tiếp thu, nhận thức trong quá trình dạy học lịch sử ở trường THPT

4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Hệ thống hóa một số vấn đề về cơ sở lý luận của thuyết đa trí tuệ trong dạy học

- Khảo sát thực tiễn việc vận dụng thuyết đa trí tuệ trong dạy học lịch sử thế giới ở trường THPT cho học sinh

- Nghiên cứu chương trình giáo dục phổ thông mới môn Lịch sử, phần lịch sử thế giới, chủ đề “Một số nền văn minh lớn trên thế giới thời kỳ cổ - trung đại” và xác định nội dung, kiến thức cơ bản

- Thiết kế hoạt động dạy học theo cơ sở lí luận thuyết đa trí tuệ chủ đề “Lịch

sử văn minh thế giới thời kỳ cổ- trung đại”

- Tiến hành thử nghiệm sư phạm để chứng minh tính khả thi của việc vận dụng thuyết đa trí tuệ vào dạy học lịch sử thế giới Từ đó, rút ra kết luận khoa học liên quan đến đề tài

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

5.1 Phương pháp luận

Dựa trên quan điểm chủ nghĩa Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối của Đảng và Nhà nước về giáo dục và đào tạo nói chung, dạy học lịch sử nói riêng

5.2 Phương pháp nghiên cứu

- Nghiên cứu cơ sở lý luận thông qua các tài liệu giáo dục, tài liệu sử học, và các tài liệu có liên quan

Trang 16

- Điều tra, khảo sát thực tiễn vận dụng thuyết đa trí tuệ trong dạy học các môn học khác nói chung và trong dạy học môn lịch sử nói riêng ở các trường THPT hiện nay

- Nghiên cứu chương trình giáo dục phổ thông đổi mới, chương trình dạy học môn Lịch sử mới

- Thử nghiệm sư phạm: cho HS và GV trải nghiệm hoạt động giáo dục theo hướng vận dụng cơ sở lí luận của thuyết đa trí tuệ trong thực tiễn quá trình dạy và học lịch sử thế giới với chủ đề “Một số nền văn minh lớn trên thế giới thời kỳ cổ - trung đại”

6 Giả thuyết nghiên cứu

Thực tiễn dạy học ở trường THPT hiện nay, học sinh và giáo viên vẫn quen với hình thức học cũ mà chủ đạo là hoạt động dạy học “thầy đọc trò chép” Sách giáo khoa vẫn chỉ dừng lại ở việc khai thác các kiến thức và tư liệu lịch

sử ở dạng tư liệu chữ viết và tư liệu hình ảnh, trong đó chủ yếu là tư liệu chữ viết mà chưa có bài tập thực tiễn định hình năng lực cho học sinh hay giúp học sinh rèn luyện những kĩ năng cá nhân, xã hội cần thiết để phục vụ cho sinh hoạt, đời sống cũng như hỗ trợ hoạt động nghề nghiệp trong tương lai Hình thức học tập vẫn còn đơn điệu, nhàm chán, chưa thu hút học sinh Nếu giáo viên và học sinh cùng tạo ra các hoạt động giáo dục trong dạy học lịch sử phù hợp với nhu cầu thực tiễn và năng lực của học sinh, đặc biệt là quá trình dạy học lịch sử thế giới chủ đề “Lịch sử văn minh thế giới thời kỳ cổ - trung đại” thì sẽ kích thích hứng thú tự học, tự tìm hiểu, nghiên cứu của học sinh Đồng thời cũng làm phong phú thêm hệ thống tư liệu dạy học của giáo viên,

từ đó góp phần nâng cao cất lượng dạy học

Trang 17

7 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

7.1 Ý nghĩa khoa học

- Đề tài nghiên cứu, phân tích một cách cụ thể, rõ ràng và đầy đủ nội dung của thuyết đa trí tuệ cũng như các khả năng vận dụng thuyết đa trí tuệ vào dạy học nói chung và dạy học bộ môn Lịch sử nói riêng Đưa ra một số gợi ý lớn về các mô hình, phương pháp phù hợp với thuyết đa trí tuệ trong dạy học Lịch sử nhằm phục vụ cho quá trình dạy học Lịch sử của giáo viên, góp phần tạo hứng thú cho học sinh trong quá trình tự học môn Lịch sử trong trường THPT

7.2 Ý nghĩa thực tiễn

- Cung cấp cho giáo viên một tài liệu dạy học về nội dung chủ đề: Một số nền văn minh thế giới thời kì cổ - trung đại, phục vụ cho công tác dạy học của giáo viên

- Đưa ra cho giáo viên cái nhìn mới vẻ về việc đổi mới phương pháp dạy học

và tạo điều kiện cho học sinh có môi trường học tập thú vị hơn Góp phần thúc đẩy quá trình học tập bộ môn Lịch sử, trau dồi kiến thức Lịch sử cho mỗi

cá nhân nói chung và những học sinh là chủ nhân tương lai của đất nước nói riêng

8 Cấu trúc của đề tài

Ngoài phần Mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục thì luận văn bao gồm 2 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc vận dụng thuyết đa trí tuệ vào dạy học bộ môn Lịch sử chủ đề: Một số nền văn minh thế giới thời kì cổ - trung đại

Chương 2: Vận dụng thuyết đa trí tuệ vào dạy học bộ môn Lịch sử chủ đề: Một số nền văn minh thế giới thời kì cổ - trung đại

Trang 19

CHƯƠNG I CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC VẬN DỤNG THUYẾT ĐA TRÍ TUỆ VÀO DẠY HỌC BỘ MÔN LỊCH SỬ CHỦ ĐỀ: MỘT SỐ NỀN VĂN MINH THẾ GIỚI THỜI KÌ CỔ - TRUNG ĐẠI

1.1 Cơ sở lí luận

1.1.1 Quan niệm về thuyết đa trí tuệ

Trong cuộc sống, khi bất kì ai nhắc đến cụm từ “trí thông minh” thì mọi người đều ngầm hiểu với nhau đó là chỉ số IQ (Viết tắt của từ Intelligence Quotient) – thước đo trí thông minh qua một bài Test (kiểm tra nhanh) Người

ta dùng chỉ số IQ để đánh giá mức độ thông minh của một người nào đó Đặc biệt, chỉ số này thường được đo ở học sinh để đánh giá khả năng tiếp nhận thông tin bài học Theo quan niệm của đại đa số, ngoài chỉ số IQ thì thước đo của sự thông minh còn được hiểu là khả năng học thuộc lòng, khả năng giải toán nhanh, khả năng lập luận và sắp xếp, Tuy nhiên, trên thực tế, những gì chúng ta đã từng biết, từng hiểu hay thậm chí được đại đa số xã hội công nhận

ấy lại chưa hoàn toàn chính xác và đầy đủ Bất kì một người nào đó đều có những khả năng nhất định của bản thân, thể hiện trí thông minh của họ Trí thông minh này không nhất thiết phải là những năng lực mà chúng ta vừa nêu trên Chúng ta không thể đánh giá một họa sĩ có tài năng hay không dựa vào khả năng học thuộc lòng của người ấy Chúng ta cũng không thể tuyển chọn một ca sĩ bằng một đề toán học Như vậy hoàn toàn không khoa học và công bằng Cũng như vậy, đối với học sinh hay bất kì ai, đều có quyền được công nhận, phát huy và vận dụng những năng lực hay còn gọi là trí thông minh riêng biệt của họ Tất cả những năng lực – trí thông minh ấy đều cần được đánh giá khách quan và công bằng nhất Tất cả những điều này đều được chỉ

ra và minh chứng rõ ràng qua thuyết đa trí tuệ của Howard Gardner

Howard Gardner (sinh ngày 11/07/1943) là một nhà tâm lí học phát triển người Mỹ Năm 1965, ông hoàn thành chương trình giáo dục sau trung học

Trang 20

của mình tại trường đại học Harvard, lấy bằng tiến sĩ năm 1971 Gardner chia

sẻ rằng, từ khi bước chân vào Harvard, ông đã thay đổi ý định và bắt tay vào nghiên cứu như nhà phân tâm học Erik Erikson, nhà xã hội học David Riesman và nhận thức tâm lí học Jerome Bruner Đây là lí do thúc đẩy ông nghiên cứu thêm về bản chất con người, đặc biệt là cách suy nghĩ của con người Trải qua thời gian nghiên cứu với hai nhóm khác nhau: Trẻ bình thường và người có năng khiếu, người có vấn đề về trí não, Gardner đã bắt đầu thúc đẩy phát triển một lí thuyết để tổng hợp lí thuyết và khảo sát của ông Năm 1983, ông nêu ra lý thuyết về “trí thông minh đa dạng” được xem như một ý tưởng có tính cách mạng, thu hút sự quan tâm của đông đảo các nhà khoa học Đó là lí do vì sao Howard Gardner được xem như cha đẻ của thuyết đa trí tuệ

1.1.2 Đặc điểm tâm lí lứa tuổi HS ở trường THP

Học sinh THPT (15 – 18 tuổi) nằm trong giai đoạn đầu tuổi thanh niên (15 –

25 tuổi) Giai đoạn này là giai đoạn mới dậy thì của học sinh, vì vậy biểu hiện rất phức tạp cả về tâm lí và sinh lí Đặc biệt, những phức tạp này càng trở nên khó khăn khi không phải lúc nào nhịp điệu và các giai đoạn của sự phát triển tâm sinh lí cũng phù hợp với các thời kì trưởng thành về mặt xã hội Tuy nhiên, nhìn chung, ở độ tuổi này, hầu hết các em đều có những đặc điểm chung nhất định như sau:

1.1.2.1 Về đặc điểm nhân cách

Trong giai đoạn 15 – 18 tuổi, có những đặc điểm phát triển, thay đổi về mặt nhân cách có thể nhận thấy tương đối rõ ràng như sau:

- Sự phát triển của tự ý thức: Sự tự ý thức là một đặc điểm nổi bật trong

sự phát triển nhân cách của học sinh THPT, nó có ý nghĩa to lớn đối với sự phát triển tâm lý của lứa tuổi này Biểu hiện của sự tự ý thức là nhu cầu tìm hiểu và tự đánh giá những đặc điểm tâm lý của mình theo chuẩn mực đạo đức của xã hội, theo quan điểm về mục đích cuộc sống… Điều đó khiến các em

Trang 21

quan tâm sâu sắc tới đời sống tâm lý, những phẩm chất nhân cách và năng lực riêng Các em không chỉ nhận thức về cái tôi hiện tại của mình mà còn nhận thức về vị trí của mình trong xã hội tương lai Các em không chỉ chú ý đến vẻ bên ngoài mà còn đặc biệt chú trọng tới phẩm chất bên trong Các em có khuynh hướng phân tích và đánh giá bản thân mình một cách độc lập dù có thể có sai lầm khi đánh giá Ý thức làm người lớn khiến các em có nhu cầu khẳng định mình, muốn thể hiện cá tính của mình một cách độc đáo, muốn người khác quan tâm, chú ý đến mình…

- Sự hình thành thế giới quan: Sự hình thành thế giới quan là nét chủ yếu trong tâm lý thanh niên vì các em sắp bước vào cuộc sống xã hội, các em có nhu cầu tìm hiểu khám phá để có quan điểm về tự nhiên, xã hội, về các nguyên tắc và quy tắc ứng xử, những định hướng giá trị về con người Các em quan tâm đến nhiều vấn đề như: thói quen đạo đức, cái xấu cái đẹp, cái thiện cái ác, quan hệ giữa cá nhân với tập thể, giữa cống hiến với hưởng thụ, giữa quyền lợi và nghĩa vụ trách nhiệm… Tuy nhiên vẫn có em chưa được giáo dục đầy đủ về thế giới quan, chịu ảnh hưởng của tư tưởng bảo thủ lạc hậu như: có thái độ coi thường phụ nữ, coi khinh lao động chân tay, ý thức tổ chức kỉ luật kém, thích có cuộc sống xa hoa, - hưởng thụ hoặc sống thụ động…

- Xu hướng nghề nghiệp: Thanh niên đã xuất hiện nhu cầu lựa chọn vị trí

xã hội trong tương lai cho bản thân và các phương thức đạt tới vị trí xã hội ấy

Xu hướng nghề nghiệp có tác dụng thúc đẩy các mặt hoạt động và điều chỉnh hoạt động của các em Càng cuối cấp học thì xu hướng nghề nghiệp càng được thể hiện rõ rệt và mang tính ổn định hơn Nhiều em biết gắn những đặc điểm riêng về thể chất, về tâm lý và khả năng của mình với yêu cầu của nghề nghiệp

- Hoạt động giao tiếp Các em khao khát muốn có những quan hệ bình đẳng trong cuộc sống và có nhu cầu sống cuộc sống tự lập Tính tự lập của

Trang 22

các em thể hiện ở ba mặt: tự lập về hành vi, tự lập về tình cảm và tự lập về đạo đức, giá trị Nhu cầu giao tiếp với bạn bè cùng lứa tuổi trong tập thể phát triển mạnh Trong tập thể, các em thấy được vị trí, trách nhiệm của mình và các em cũng cảm thấy mình cần cho tập thể Khi giao tiếp trong nhóm bạn sẽ xảy ra hiện tượng phân cực – có những người được nhiều người yêu mến và có những người ít được bạn bè yêu mến Điều đó làm cho các em phải suy nghĩ về nhân cách của mình và tìm cách điều chỉnh bản thân Tình bạn đối với các em ở tuổi này có một ý nghĩa đặc biệt quan trọng Tình bạn thân thiết, chân thành sẽ cho phép các em đối chiếu được những thể nghiêm, ước mơ, lí tưởng, cho phép các em học được cách nhận xét, đánh giá về mình Nhưng tình bạn ở các em còn mang màu sắc xúc cảm nhiều nên thường có biểu hiện

lí tưởng hóa tình bạn Có nghĩa là các em thường đòi hỏi ở bạn mình phải có những cái mình muốn chứ không chú ý đến khả năng thực tế của bạn Ở tuổi này cũng đã xuất hiện môt loại tình cảm đặc biệt – tình yêu nam nữ Tình yêu của lứa tuổi này còn được gọi là “tình yêu bạn bè”, bởi vì cá em thường che giấu tình cảm của mình trong tình bạn nên đôi khi cũng không phân biệt được đó là tình bạn hay tình yêu

1.1.2.2 Yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển của học sinh THPT

- Đặc điểm về sự phát triển thể chất: Tuổi học sinh THPT là thời kì đạt được sự trưởng thành về mặt cơ thể Sự phát triển thể chất đã bước vào thời kì phát triển bình thường, hài hòa, cân đối Cơ thể của các em đã đạt tới mức phát triển của người trưởng thành, nhưng sự phát triển của các em còn kém so với người lớn Các em có thể làm những công việc nặng của người lớn Hoạt động trí tuệ của các em có thể phát triển tới mức cao Khả năng hưng phấn và

ức chế ở vỏ não tăng lên rõ rệt có thể hình thành mối liên hệ thần kinh tạm thời phức tạp hơn Tư duy ngôn ngữ và những phẩm chất ý chí có điều kiện phát triển mạnh Ở tuổi này, các em dễ bị kích thích và sự biểu hiện của nó cũng giống như ở tuổi thiếu niên Tuy nhiên tính dễ bị kích thích này không

Trang 23

phải chỉ do nguyên nhân sinh lý như ở tuổi thiếu niên mà nó còn do cách sống của cá nhân (như hút thuốc lá, không giữ điều độ trong học tập, lao động, vui chơi…) Nhìn chung ở tuổi này các em có sức khỏe và sức chịu đựng tốt hơn tuổi thiếu niên Thể chất của các em đang ở độ tuổi phát triển mạnh mẽ rất sung sức, nên người ta hay nói: “Tuổi 17 bẻ gãy sừng trâu” Sự phát triển thể chất ở lứa tuổi này sẽ có ảnh hưởng đến sự phát triển tâm lý và nhân cách đồng thời nó còn ảnh hưởng tới sự lựa chọn nghề nghiệp sau này của các em

- Điều kiện sống và hoạt động:

Vị trí trong gia đình: Trong gia đình, các em đã có nhiều quyền lợi và trách

nhiệm như người lớn, cha mẹ bắt đầu trao đổi với các em về một số vấn đề quan trọng trong gia đình Các em cũng thấy được quyền hạn và trách nhiệm của bản thân đối với gia đình Các em bắt đầu quan tâm chú ý đến nề nếp, lối sống sinh hoạt và điều kiện kinh tế chính trị của gia đình Có thể nói rằng cuộc sống của các em trong độ tuổi này là vừa học tập vừa lao động

Vị trí trong nhà trường: Ở nhà trường, học tập vẫn là hoạt động chủ đạo

nhưng tính chất và mức độ thì phức tạp và cao hơn hẳn so với tuổi thiếu niên Đòi hỏi các em tự giác, tích cực độc lập hơn, phải biết cách vận dụng tri thức một cách sáng tạo Nhà trường lúc này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng vì nội dung học tập không chỉ nhằm trang bị tri thức và hoàn chỉnh tri thức mà còn có tác dụng hình thành thế giới quan và nhân sinh quan cho các em Việc gia nhập Đoàn TNCS HCM trong nhà trường đòi hỏi các em phải tích cực độc lập, sáng tạo, phải có tính nguyên tắc, có tinh thần trách nhiệm, biết phê bình và tự phê bình

Vị trí ngoài xã hội: Xã hội đã giao cho lứa tuổi học sinh THPT quyền công

dân, quyền tham gia mọi hoạt động bình đẳng như người lớn Tất cả các em

đã có suy nghĩ về việc chọn nghề Khi tham gia vào hoạt động xã hội các em được tiếp xúc với nhiều tầng lớp xã hội khác nhau, quan hệ xã hội được mở rộng,các em có dịp hòa nhập và cuộc sống đa dạng phức tạp của xã hội giúp

Trang 24

các em tích lũy vốn kinh nghiệm sống để chuẩn bị cho cuộc sống tự lập sau này

Tóm lại: Ở lứa tuổi học sinh THPT, các em có hình dáng người lớn, có những nét của người lớn nhưng chưa phải là người lớn, còn phụ thuộc vào người lớn

1.1.2.3 Hoạt động học tập và hoạt động trí tuệ của HS THPT

- Hoạt động học tập là hoạt động chính của HS THPT nhưng đòi hỏi các

em cần tích cực xây dựng bài học và phát triển trí tuệ một cách toàn diện Muốn lĩnh hội được tri thức LS, đòi hỏi HS cần có khả năng tư duy khái niệm, tư duy khái quát cao Bên cạnh đó, ở độ tuổi này có hứng thú và xu hướng học tập nhất định, có hứng thú đặc trưng đối với một khoa học, một lĩnh vực tri thức hay một hoạt động nào đó Điều này đã kích thích nguyện vọng muốn mở rộng và đào sâu các tri thức, là điều kiện thuận lợi cho sự phát triển năng lực cho HS Nhà trường cần có những hình thức tổ chức đặc biệt đối với hoạt động của học sinh THPT nhất là cần sự thay đổi căn bản về tư duy ở HS cuối cấp

- Hoạt động trí tuệ của HS THPT: Lứa tuổi học sinh THPT là giai đoạn quan trọng trong việc phát triển trí tuệ toàn diện Do cơ thể HS đã hoàn thiện, đặc biệt là hệ thần kinh phát triển mạnh tạo điều kiện cho sự phát triển các năng lực trí tuệ Cảm giác và tri giác của HS đã đạt tới mức độ của người lớn Quá trình quan sát một cá nhân có phẩm chất phát triển như thế nào thường gắn liền với tư duy và ngôn ngữ, nhưng khả năng quan sát còn chưa rõ ràng, chưa bám sát đúng thực tế, bản chất vấn đề Trí nhớ của HS THPT đã phát triển, giữ vai trò chủ đạo trong hoạt động trí tuệ HS đã biết sắp xếp lại tài liệu học tập theo một trật tự mới, có biện pháp ghi nhớ một cách khoa học Hoạt động tư duy của học sinh THPT phát triển mạnh với khả năng tư duy lý luận,

tư duy trừu tượng một cách độc lập và sáng tạo hơn Nhìn chung, hoạt động trí tuệ của HS THPT phát triển mạnh, linh hoạt và nhạy bén hơn với khả năng

Trang 25

phán đoán và giải quyết vấn đề một cách rất nhanh Tuy nhiên, HS vẫn mắc phải một vài nhược điểm như chưa phát huy hết năng lực độc lập suy nghĩ của bản thân, kết luận vội vàng theo cảm tính Vì vậy, GV cần hướng dẫn, giúp đỡ

HS tư duy một cách tích cực độc lập để phân tích đánh giá sự việc và tự rút ra kết luận cuối cùng Như vậy, có thể thấy rằng HS THPT là lứa tuổi gần như

đã phát triển trong nhận thức và trí tuệ, yêu cầu cần phải xây dựng hoạt động dạy học Lịch sử phù hợp để phát huy khả năng, trí tuệ, kĩ năng và phẩm chất cho HS

Như vậy, ở lứa tuổi THPT, học sinh có nhiều thay đổi lớn, đặc biệt về nhân cách và các mối quan hệ xã hội Cũng trong độ tuổi này, yêu cầu về học tập cũng như phát triển trí tuệ đối với học sinh cũng được tăng cao Việc phát triển khả năng nhận thức của học sinh trong dạy học sao cho phù hợp với những đặc điểm tâm lí là một trong những nhiệm vụ quan trọng của người giáo viên Thuyết Đa trí tuệ là một gợi ý hữu dụng để thiết kế hoạt động dạy học Lịch sử hợp lí, hiệu quả đáp ứng yêu cầu đổi mới và đặc điểm đối tượng

HS Việc vận dụng linh hoạt, sáng tạo Thuyết Đa trí tuệ trong quá trình xây dựng hoạt động dạy học Lịch sử sẽ tạo cơ hội để HS phát huy tối đa tài năng đòng thời phù hợp với yêu cầu đổi mới về phương pháp dạy học Lịch sử hiện nay

1.1.3 Yêu cầu đổi mới về phương pháp dạy học Lịch sử hiện nay

Nhằm thực hiện tốt đường lối chỉ đạo của Đảng, ngành Giáo dục đã chủ trương đổi mới phương pháp dạy học trong Luật Giáo dục năm 2005:

“Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh; phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh” HS sẽ hứng thú hơn nếu chương trình học, sách giáo khoa được đổi mới gọn nhẹ, sinh động và hấp dẫn hơn Thay vì thầy đọc –trò chép thì sẽ

Trang 26

thay đổi không khí giờ học, để HS làm trung tâm tổ chức và hoạt động, trải nghiệm nhiều hơn, còn GV là chuyên gia tư vấn, hướng dẫn và nhận xét HS

Vì thế, bộ môn Lịch sử ở trường THPT cần đặt ra những yêu cầu cơ bản để đổi mới phương pháp dạy học, cách học cụ thể như sau: “Thứ nhất, Quá trình dạy học cần tổ chức các hoạt động học tập cho người học sinh động, hấp dẫn Hoạt động kiến tạo tri thức cho HS cần được tổ chức phong phú, đa dạng như nhóm, cá nhân, toàn lớp Với nguồn tri thức và vốn kinh nghiệm sẵn có, HS khám phá, giải quyết vấn đề để xây dựng hiểu biết, xử lí tình huống và khả năng nhận thức của bản thân.” “Thứ hai, hướng dẫn và rèn luyện phương pháp tự học ở HS có vai trò quan trọng trong quá trình dạy và học Hành động

tự học diễn ra trên lớp học, ở nhà, bảo tàng,…Hoạt động này tạo cơ hội cho

HS chủ động chiếm lĩnh tri thức, phát triển khả năng tự học Muốn HS hoàn thiện tốt các bài tập, rèn luyện kĩ năng tự học đòi hỏi GV cần thiết kế và tổ chức sinh động, ví dụ như thiết kế bài học trên vận dụng kahoot, google from, facebook, edmodo, canva,…” “Thứ ba, Dạy học hợp và phân hóa đối tượng

HS trong quá trình dạy và học là yêu cầu quan trọng Dạy học phân hóa nhằm đáp ứng nhu cầu, sở thích, phong cách học và khả năng của từng đối tượng

HS Thông qua các chuỗi hoạt động trong bài, GV sẽ phân hóa mức độ HS trong lớp học và đưa ra phương án điều chỉnh hợp lí Học tập hợp tác không chỉ diễn ra ở GV với HS, mà còn là sự hợp tác theo cặp, nhóm HS “Học tập hợp tác làm tăng hiệu quả học tập, nhất là lúc phải giải quyết những vấn đề gay cấn, lúc xuất hiện thực sự nhu cầu phối hợp giữa các cá nhân để hoàn thành nhiệm vụ chung Hoạt động nhóm làm cho từng thành viên bộc lộ suy nghĩ, hiểu biết, thái độ của mình, phát triển tình bạn, ý thức tổ chức kĩ luật, tính tập thể, tinh thần tương trợ, hợp tác, ý thức cộng đồng, tạo không khí, niềm vui…” ”Thứ tư, kiểm tra đánh giá một cách nghiêm tức, khoa học cần

có sự kết hợp giữa GV đánh giá HS và HS tự đánh giá lẫn nhau bắt kịp với xu hướng đổi mới giáo dục toàn diện “Tự đánh giá đúng và điều chỉnh hoạt

Trang 27

động kịp thời là năng lực rất cần cho sự thành đạt trong cuộc sống mà nhà trường phải trang bị cho học sinh Hoạt động kiểm tra, đánh giá cần được thực hiện thường xuyên nhằm hướng tới rèn luyện và phát triển tư duy cho HS có hiệu quả.” “Thứ năm, sử dụng có hiệu quả vận dụng công nghệ thông tin vào dạy học giúp HS hứng thú hơn đối với môn LS Thay vì giảng bài với phấn - bảng, đọc – chép, thì việc sử dụng phần mềm hỗ trợ powerpoint cho bài dạy

sẽ tạo hứng thú cho HS GV cung cấp cho HS tư liệu, tranh ảnh, phim ảnh,…nhằm đạt mục tiêu kiến thức, kĩ năng và HS có thái độ tích cực hơn khi học LS.”

Những định hướng trên là cơ sở để GV thiết kế kế hoạch dạy học môn LS trong đó có thiết kế hoạt động dạy và học LS lớp 10 trên cơ sở vận dụng TĐTT cho HS THPT theo cách hợp lí, hiệu quả cao

Tháng 11 năm 2013, Nghị quyết 29 của Ban chấp hành Trung ương Đảng tiếp tục nhấn mạnh các yêu cầu về đổi mới giáo dục và đưa ra các quan điểm chỉ đảo: 1-Giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu, là sự nghiệp của Đảng, Nhà nước và của toàn dân Đầu tư cho giáo dục là đầu tư phát triển, được ưu tiên đi trước trong các chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 2-Đổi mới căn bản, toàn dienj giáo dục và đào tạo là đổi mới những vấn đề lớn, cốt lõi, cấp thiết từ quan điểm, tư tưởng, chỉ đạo đến mục tiêu, nội dung, phương pháp, cơ chế, chính sách, điều kiện, bảo đảm thực hiện, đổi mới từ sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lí của Nhà nước đến hoạt động quản trị của các

cơ sở giáo dục – đào tạo và việc tham gia của gia đình, cộng đồng, xã hội và bản thân người học, đổi mới ở tất cả các bậc học, ngành học 3-Phát triển giáo dục và đào tạo là nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài Chuyển mạnh quá trình giáo dục từ chủ yếu trang bị kiến thức sang phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất người học Học đi đôi với hành; lý luận gắn với thực tiễn; giáo dục nhà trường kết hợp với giáo dục gia đình và giáo dục

xã hội 4-Phát triển giáo dục và đào tạo gắn với nhu cầu phát triển kinh tế, xã

Trang 28

hội và bảo vệ Tổ quốc, với tiến bộ khoa học và công nghệ, phù hợp quy luật khách quan Chuyển phát triển giáo dục và đào tạo từ chủ yếu theo số lượng sang chú trọng chất lượng và hiệu quả, đồng thời đáp ứng yêu cầu số lượng 5-Đổi mới hệ thống giáo dục theo hương mở, linh hoạt, liên thông giữa các bậc học, trình độ và giữa các phương thức giáo dục, đào tạo Chuẩn hóa, hiện đại hóa giáo dục và đào tạo 6-Chủ động phát huy mặt tích cực , hạn chế, mặt tiêu cực của cơ chế thị trường, bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa trong phát triển giáo dục và đào tạo Phát triển hài hòa, hỗ trợ giữa giáo dục công lập và ngoài công lập, giữa các vùng, miền Ưu tiên đầu tư phát triển giáo dục và đào tạo các đối tượng chính sách Thực hiện dân chủ hóa, xã hội hóa giáo dục và đào tạo 7-Chủ động, tích cực hội nhập quốc tế để phát triển giáo dục và đào tọa, đồng thời giáo dục và đào tạo phải đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc

tế để phát triển đất nước

Với những chủ trương, chính sách của Đảng về đổi mới và phát triển nêu trên, đến năm 2019, chỉ đạo về nội dung mới và sách giáo khoa mới trong dạy học các cấp học và các môn học được đưa ra Cụ thể trong môn học Lịch sử được chia thành các chủ đề, Giáo viên chủ động trong lựa chọn kiến thức và phương pháp dạy học

Với tất cả nhu cầu về đổi mới và nội dung đổi mới nêu trên đêu thể hiện tính cấp bách trong yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học bộ môn Lịch sử, đặc biệt trong giai đoạn hiện nay – giai đoạn chuẩn bị cho quá trình thay đổi nội dung học tập và giảng dạy

1.1.4 Các loại trí thông minh

Theo Howard Gardner, mỗi người đều tồn tại 8 loại hình thông minh Cụ thể

8 loại hình như sau:

- Trí thông minh ngôn ngữ

Là trí thông minh ưu việt ở phóng viên, nhà văn, người kể chuyện, các nhà thơ và luật sư Người có khả năng về ngôn ngữ, sử dụng âm thanh của từ ngữ

Trang 29

như chơi chữ, tranh biện, thuyết phục,…Họ trở thành bậc thầy về đọc và viết Năng lực ngôn ngữ được xếp vào một trong số các trí thông minh đáng quan tâm và coi trọng nhất cùng với kiểu tư duy logic toán học Trí thông minh về ngôn ngữ gồm nhiều thành phần: mặt âm tiết, cú pháp, ngữ nghĩa và tính vận dụng của nó Những người có khả năng tư duy ngôn ngữ cao rất tinh thông và nhạy cảm với các kỹ năng vận dụng cấu trúc Ví như James Joyce đã sáng tạo

ra hàng nghìn trò chơi chữ, Wiliam Satire người chuyên phụ trách chuyên mục của Thời Báo New York,…Chúng ta thường kính trọng và nể phục những người có khả năng diễn đạt lưu loát trước đám đông, Bạn biết không, bạn hoàn toàn có thể làm được điều đó bằng cách học tập và rèn luyện mỗi ngày Ngôn ngữ vốn không tự tỏa sáng hay tự đứng ở vị trí hàng đầu so với các yếu tố trí tuệ khác, song mục đích của ngôn ngữ trong thực tế làm cuộc sống thay đổi theo một cách thức nhất định Thành phần quan trọng nhất của ngôn ngữ là năng lực sử dụng từ ngữ để phục vụ và đạt được mục tiêu trong cuộc sống Bản chất và cội nguồn của lời nói 15 bắt nguồn từ các loại hình văn bản, văn nói, các câu chuyện ngụ ngôn, văn hóa truyền miệng, nghệ thuật hùng biện Ngôn ngữ là một công cụ tư duy không bị giới hạn, việc sử dụng ngôn ngữ một cách có chủ ý giúp tăng thêm sức mạnh cho trí thông minh Đồng thời giúp ta nhận ra được sự phong phú và đa dạng trong tính chất thực dụng của ngôn từ

- Trí thông minh âm nhạc

Là khả năng cảm nhận, thưởng thức và tạo ra các tiết tấu nhịp điệu và trong tiềm thức bất kì cá nhân nào cũng có khả năng nghe tốt, hát theo giai điệu, biết dành thời gian cảm nhận âm nhạc Âm nhạc giữ vai trò quan trong và trở thành một phần trong cuộc sống của của cộng đồng người trên thế giới Âm nhạc được dùng để giao tiếp, học tập, chia sẻ, giải trí và trong mọi lĩnh vực của cuộc sống

- Trí thông minh Logic

Trang 30

Là trí thông minh đối với những con số và sự logic, loại hình thông minh này thường tồn tại ở các nhà khoa học, kế toán và lập trình máy tính Trí thông minh logic toán học gồm có khả năng xác định nguyên nhân, chuỗi các sự kiện, tìm ra các mô hình số học hoặc quy tắc dựa trên các khái niệm và các quan điểm dựa trên lý trí trong cuộc sống nói chung

- Trí thông minh không gian

Điểm cốt lõi của trí thông minh không gian là khả năng tiếp nhận chính xác thế giới không gian thị giác để chuyển đổi sự cảm thụ ban đầu về không gian của một người Đây là mảnh đất sáng tạo của các kiến trúc sư, nhiếp ảnh, nghệ sĩ vá các kĩ sư máy móc, ví như các nhà thiết kế ra Kim tự Tháp ở Ai Cập Cá thể nào sở hữu trí thông minh không gian ở mức độ cao thường có độ nhạy cảm sắc bén với các chi tiết trực quan hay hình dung một cách sống động Nhằm phát triển năng lực quan sát không gian thông qua việc rèn luyện tính kiên nhẫn và thống nhất.Trí thông minh không gian không chỉ gắn với thị giác, vì Gardner tin rằng đối với các trẻ em khiếm thị thì trí thông minh về không gian này vẫn phát triển

- Trí thông minh vận động cơ thể

Là bạn học và suy nghĩ thông qua cơ thể, sử dụng cơ thể để biểu lộ bản thân, bao gồm các thao tác cầm nắm các vật thể và tài điều khiển các hoạt động thân thể 16 của con người một cách khéo léo Người có tài năng vận động cơ thể thường rất khéo léo và thành công trong các nghề may, dệt vải, khiêu vũ

Họ là những người thích thực hành, nhạy cảm, thường xuyên hoạt động thân thể và có phản ứng bản năng với các sự vật, sự việc Cơ thể và tinh thần con người được coi là một thể thống nhất Người Hi Lạp đánh giá cao việc luyện tập thể chất và coi đó là yếu tố quan trọng để tu dưỡng sức mạnh tinh thần

- Trí thông minh tương tác cá nhân

Là năng lực hiểu, làm việc được với những người khác và yêu cầu có khả năng cảm nhận và sẻ chia với tâm trạng, tính cách, ý định và mong muốn của

Trang 31

những người khác chẳng hạn như Mahatma Gandhi, Machiavelli có khả năng nhìn thấu suốt vào bên trong những người khác Theo Howard Gardner, trong

xã hội để trở thành nhà lãnh đạo tuyệt vời thì điều quan trọng hơn cả là ta cần phải biết suy tính lợi hại, nắm bắt, hành động kịp thời,…bởi tất cả mọi thứ tưởng chừng minh bạch vẫn có thể biến mất ngay lập tức

- Trí thông minh nội tâm

Là năng lực tự nhận thức bản thân, bao gồm biết cảm giác, hiểu rõ bản thân muốn gì, tự lập kế hoạch và rèn luyện khả năng hiểu, chấp nhận những xúc cảm cuộc sống đem lại ví dụ điển hình cho những người thiên về trí thông minh nội tâm như nhà cố vấn, nhà thần học, những doanh nhân,…Họ thuộc dạng tự lập, thích làm việc một mình hơn làm việc nhóm Họ thật sự rất độc lập, thẳng thắn, tự giác và tính kĩ luật cao Trí thông minh nội tâm là chiếc chìa khóa lớn nhất đưa bạn đến thành công

- Trí thông minh thiên nhiên

Trí thông minh thiên nhiên là một trong những loại hình trí thông minh quan trọng nhất mà một người có thể có Nền tảng của trí thông minh thiên nhiên là quan sát, thấu hiểu môi trường, yêu quý các loài thú và kỹ năng trồng các loài cây Con người cần phải hiểu về môi trường cũng như cơ chế vận hành của

1.1.5 Một số gợi ý các hoạt động có thể dùng để phát triển các loại hình

thông minh cho HS trong dạy học Lịch sử

Trí thông minh Ngôn ngữ

- HS có thể tới tham gia các ngày hội sách lớn, tọa đàm chia sẻ về những cuốn sách hay, thú vị Thông qua trò chuyện, trao đổi với người viết sách, những người bạn yêu sách, thích khám phá phần nào sẽ cung cấp thêm cho cá nhân khối lượng lớn từ vựng

- Giáo viên tổ chức các trò chơi ngôn từ có liên quan tới bài học Lịch sử, đòi hỏi các HS cần tư duy để tìm ra từ khóa chính

Trang 32

- Thường xuyên tới thư viện và nhà sách để tìm tòi khám phá tri thức giữ vai trò quan trọng trong dạy và học LS

- Đọc bất cứ thứ gì bạn thích ví dụ như Báo Thanh niên, Báo Hoa Học Trò, Truyện tranh, tin tức thời sự,…Như một lẽ tự nhiên, kiến thức LS sẽ không khiến HS cảm thấy khô khan, mà trở nên thú vị hơn

- Hãy lên kế hoạch mỗi tuần đọc một cuốn sách và tạo lập thư viện cá nhân

- Dành thời gian nói chuyện với gia đình, bạn bè về những câu chuyện

LS mà em biết

Trí thông minh âm nhạc

- HS cảm thụ về âm nhạc, tìm hiểu về loại hình nghệ thuật, sáng tác thơ,

…có liên quan tới bài học LS

- Hát ngay cả khi đang tắm, nấu ăn, tưới hoa, chơi game, đi dạo,…

- Tích cực sưu tầm các bài hát yêu thích và nghe chúng mỗi ngày

- Hình thành thói quen hát hò trong sinh hoạt gia đình

- Sáng tạo những giai điệu âm nhạc cho riêng mình

- Tham gia các chương trình âm nhạc ở trường, hát từ thiện,…

- Khám phá tiểu sử của các nhà soạn nhạc, ca sĩ nổi tiếng

- Mua một nhạc cụ để chơi, học những giai điệu và hợp âm đơn giản

- Thành lập ban nhạc bằng cách tập hợp những người bạn lại với nhau và thành lập nhóm nhạc rock, rap, dàn hợp ca hoặc ban nhạc jazz

Trí thông minh logic toán học

- Tham gia các nhóm, câu lạc bộ để thảo luận về những khám phá khoa học và những vấn đề liên quan LS

- Xem các phim tài liệu, phim khoa học ghi lại quá trình hình thành các khái niệm khoa học quan trọng Đánh dấu những khái niệm khoa học mà bạn chưa hiểu rõ

- Tìm tòi, nghiên cứu về khoa học hoặc toán học

Trang 33

- Tham gia một khóa học câu lạc bộ về khoa học cơ bản hoặc toán học ở trường đại học hay mua một cuốn sách hướng dẫn tự học

- Đến thăm quan các bảo tàng, khu di tích LS để tự tìm tòi, khám phá tri thức như một nhà khảo cổ học đích thực

Trí thông minh không gian

- Hãy tham gia khám phá thế giới nghệ thuật trong các bảo tàng

- Lưu giữ những cuốn sổ ghi chép hình ảnh để phác họa lại những gì bạn quan sát và cảm thấy thích thú

- Tạo ra thư viện ảnh cá nhân với biệt danh đáng nhớ, để lưu giữ những hình ảnh mà bạn yêu thích

- “Học cách chụp ảnh và sử dụng máy ảnh để lưu lại những khoảnh khắc

ấn tượng về mình.”

- “Hãy vận dụng các sáng kiến, tư duy không gian ba chiều của bạn vào công việc hay vào một dự án khác.”

- “Xây dựng các cấu trúc hình khối, nặn đất sét tạo ra không gian của

“Thời nguyên thủy”,…”

- Lựa chọn máy quay phim, máy ghi hình và tự sáng tạo những bộ phim

về những sự kiện LS đã xảy ra

- Học cách diễn đạt các ý tưởng bằng sơ đồ cây, biểu đồ,…

- Tham gia các lớp học vẽ, tự thiết kế căn phòng, quan sát những thứ xung quanh mỗi ngày, thay đổi cách nhìn về thế giới, …

Trí thông minh vận động cơ thể

- “Tham gia lớp học diễn xuất, kịch câm hay tham gia các nhóm biểu diễn tạp kỹ ở địa phương, trường học.”

- “Tạo ra các thói quen hàng ngày đòi hỏi sự uyển chuyển như nghệ thuật trà đạo của Nhật.”

Trí thông minh tương tác cá nhân

Trang 34

- Tham gia vào một nhóm tình nguyện như câu lạc bộ sử học sinh viên,…

- Tham gia những cuộc họp mặt và các trò chơi ở gia đình, trường học,…để trao đổi thêm những hiểu biết về LS Dân tộc

- “Tăng cường mối quan hệ với mọi người xung quanh, bắt đầu từ gia đình, bạn bè trong đất nước và thậm chí là trên toàn thế giới.”

- “Học theo phong cách sống của những người có khả năng giao tiếp xã hội nổi tiếng (ví dụ như các diễn giả Hittle, những tấm gương như Chủ tịch

Hồ Chí Minh, Bác Võ Nguyên Giáp,…thông qua tiểu sử, phim ảnh và phương tiện khác.” - Hãy tham gia học nhóm, đi làm gia sư, tìm cơ hội học hỏi ở bất cứ nơi đâu,…

Trí thông minh nội tâm

- Đánh giá những điểm mạnh, điểm yếu của bản thân khi học môn LS

- Dành thời gian đều đặn mỗi ngày, để lập các mục tiêu cụ thể bạn muốn đạt được sau một khoảng thời gian Hãy lập các mục tiêu bạn đạt được bằng

nỗ lực của bản thân

- Tham dự một cuộc hội thảo với mục đích cung cấp kiến thức hiểu biết của bản thân về môn LS

- Viết nhật ký ghi lại những ý nghĩ, cảm xúc, mục tiêu và ký ức của bạn

- Tạo một không gian yên tĩnh trong nhà dành cho việc kiểm nghiệm nội tâm

- Phát triển kĩ năng hoạt động nhóm, thuyết trình, tư duy phản biện,…

- Đọc sách rèn luyện khả năng tự học, khám phá tri thức Bạn có thể đọc sách về người có trí thông minh nội tâm –“những người đã tạo ra sự đột phá nhờ niềm tin sâu sắc vào bản thân Nghiên cứu tiểu sử cuộc đời và tự truyện của những 20 nhân vật nổi tiếng mang tính cách mạnh mẽ.”

- Tìm hiểu về bản ngã trong tâm lý học phương Tây và triết học phương Đông

Trang 35

- Dành thời gian tới các ngôi chùa vừa để tìm cảm giác bình yên, để khám phá về LS ra đời, phát triển của ngôi chùa

- Làm điều bạn thích ít nhất một lần mỗi ngày Ví dụ như đọc sách, mua sách, đi du lịch ngắn,…

- Tìm ra “bí ẩn” trong tính cách của bạn và thử sống cùng nó trong thế giới

- Mỗi tối dành ra mười phút để xem xét những ý nghĩ và cảm xúc tinh thần khác nhau mà bạn trải qua trong ngày

- Dành thời gian nói chuyện với những người có cùng sở thích khám phá

LS với bạn

Trí thông minh thiên nhiên

- Dành sự quan tâm với thiên nhiên ở quanh các công trình tham quan tại các di tích, bảo tàng, lăng điện,…

- Lí giải vì sao loài cây đó lại được nhà vua yêu thích, đem trồng ở đó,…

- Theo dõi các chương trình truyền hình về thiên nhiên

- Đọc sách và tạp chí về thiên nhiên để tìm hiểu về LS loài cây, loài hoa đó

- Tìm hiểu về các loài động vật được lựa chọn đặt trong chùa, di tích,…

- Hòa mình vào thế giới tự nhiên như đi cắm trại hoặc thực hiện một chuyến đi bộ đường dài Hãy tận dụng cơ hội để học hỏi những điều mới lạ về thế giới tự nhiên Tạo một cuốn nhật ký thế giới tự nhiên về những điều bạn

đã học được, phác thảo hay chụp ảnh cây cối, động vật và kết cấu tự nhiên theo các mục nhật ký

- Tìm hiểu và học cách nấu các món ăn cung đình, món ăn đặc sản từ các dân tộc thiểu số,…

1.1.6 Vai trò, ý nghĩa của việc vận dụng thuyết đa trí tuệ vào dạy học bộ

môn lịch sử

Trang 36

Hoạt động dạy học lịch sử có ý nghĩa quan trọng, là hình thức và phương tiện

để hoàn thành quá trình dạy học một cách tích cực, chủ động, thông minh, sáng tạo Trong dạy học lịch sử ở trường THPT cần phải đồng thời thực hiện các mục tiêu về kiến thức, kĩ năng, thái độ, năng lực Một năng lực là tổ hợp kiến thức, kĩ năng và thái độ mà một người cần vận dụng để thực hiện một nhiệm vụ trong bối cảnh thực và có nhiều biến động Như vậy kiến thức là cơ

sở hình thành năng lực, là nguồn lực để người học tìm ra các giải pháp tối ưu nhằm thực hiện nhiệm vụ hoặc có cách ứng xử phù hợp trong bối cảnh phức tạp Trong dạy học Lịch sử, sử dụng hiệu quả các hoạt động dạy học và bài tập phù hợp sẽ góp phần quan trọng trong việc củng cố kiến thức, rèn luyện kĩ năng, hình thành thái độ và phát triển năng lực đặc biệt là năng lực vận dụng kiến thức Đối với việc cung cấp tri thức lịch sử, chúng ta đều biết đặc điểm nổi bật của kiến thức lịch sử là tính không lặp lại, việc nhận thức lịch sử thường diễn ra một lần và không quay trở lại Sử dụng các hoạt động dạy và học phù hợp với nhu cầu và năng lực của học sinh có tác dụng lớn trong việc giúp các em khắc sâu kiến thức Thông qua các yêu cầu trong hoạt động dạy

và học, học sinh bắt buộc phải đào sâu kiến thức, thực hiện một quá trình để các em vừa tìm hiểu vừa tái tạo lại kiến thức giúp các em hiểu sâu, nhớ kĩ hơn vấn đề đã được truyền tải Qua đó các em còn chủ động được bổ sung kiến thức mới Đối với việc phát hiện kĩ năng: Đối với môn lịch sử, rèn luyện kĩ năng là một trong những nhiệm vụ quan trọng nhằm thực hiện mục tiêu “học

đi đôi với hành" Hiện nay nhiều người vẫn cho rằng học lịch sử không cần thực hành, cũng không cần rèn luyện câu văn, bài viết mà chỉ cần học thuộc lòng, ghi nhớ bản chất của các sự kiện, hiện tượng lịch sử Thực tế dạy học lịch sử, bằng nhiều cách khác nhau trong đó việc sử dụng bài tập, hoạt động dạy học lịch sử sẽ rèn cho học sinh rất nhiều các kĩ năng: Qua các hoạt động dạy học được áp dụng một cách phù hợp, đúng đối tượng, giúp học sinh rèn luyện kĩ năng ghi nhớ, tái tạo sự kiện, hiện tượng lịch sử Trên cơ sở, phát

Trang 37

triển kĩ năng phân tích, so sánh, khái quát hóa, nhận xét, rút ra bài học kinh nghiệm từ những sự kiện, hiện tượng, nhân vật Kĩ năng vận dụng kiến thức lịch sử để giải quyết những vấn đề thực tiễn trong cuộc sống, hay các vấn đề thời sự đang diễn ra trong nước và thế giới

Vận dụng thuyết đa trí tuệ vào dạy học lịch sử góp phần giúp học sinh có cơ hội rèn luyện kĩ năng khai thác lược đồ, bản đồ, tranh ảnh lịch sử, phim tư liệu lịch sử Kĩ năng khai thác Internet, khả năng sử dụng phân mềm dạy học như sơ đồ tư duy, Powerpoint để trình bày nội dung lịch sử Ngoài ra nó còn giúp HS kĩ năng làm việc nhóm, kĩ năng chia sẻ thông tin, kĩ năng trình bày, lập luận Đồng thời, thể hiện chính kiên của mình về một nội dung kiến thức lịch sử bằng ngôn ngữ viết.” Đối với việc giáo dục thái độ: Ở trường phổ thông lịch sử là môn có lợi thế trong việc giáo dục học sinh tình yêu quê hương, lòng tự hào dân tộc, niềm tin vào cuộc sống, vào CNXH, có thái độ trân trọng những di sản văn hóa, lịch sử, có thái độ tích cực, trách nhiệm với đất nước và cộng đồng, ý chí vươn lên trong cuộc sống

Để đạt được tất cả những nội dung trên, việc vận dụng thuyết đa trí tuệ vào dạy học bộ môn Lịch sử là vô cùng quan trọng, bởi lẽ:

- Vận dụng thuyết đa trí tuệ vào dạy học Lịch sử là cơ sở giúp giáo viên tìm ra các phương pháp dạy học đổi mới phù hợp với nội dung kiến thức cũng như khả năng tiếp thu kiến thức của học học Học sinh khi có thể dễ dàng tiếp thu kiến thức cũng sẽ hình thành thái độ tích cực hơn trong quá trình học tập

và tìm hiểu nội dung cũng như thực hiện nhiệm vụ, yêu cầu của giáo viên

- Vận dụng thuyết đa trí tuệ vào dạy học Lịch sử góp phần giúp đỡ học sinh tìm ra khả năng của bản thân cũng như giúp học sinh rèn luyện và phát huy tối đa khả năng, năng lực của học sinh đó Việc tìm hiểu và phát triển năng lực vốn có của học sinh nằm trong yêu cầu về định hướng nghề nghiệp cho học sinh THPT Trong nền giáo dục trong thời kì kinh tế thị trường, vấn

đề học sinh quan tâm hàng đầu nhiều khi chính là khả năng và cơ hội nghề

Trang 38

nghiệp Đánh được vào tâm lí học sinh chính là yếu tố then chốt để lôi cuốn học sinh vào nội dung giảng dạy, cũng như tác động đến học sinh trong việc chủ động tìm hiểu và tiếp nhận những kiến thức, kĩ năng định hướng

Như vậy, việc vận dụng thuyết đa trí tuệ có vai trò, ý nghĩa quan trọng trong quá trình dạy học bộ môn Lịch sử

1.2 Cơ sở thực tiễn

1.2.1 Cơ sở thực tiễn vận dụng thuyết đa trí tuệ vào dạy học bộ môn Lịch

sử ở trường THPT

Hiện nay, ở nước ta, môn Lịch sử đang là một môn bắt buộc trong chương trình giáo dục THPT Ngoài việc đem lại những kiến thức cần có về quá khứ, nhằm rút ra kinh nghiệm cho hiện tại và định hướng tương lai, môn lịch sử còn mang trọng trách bồi dưỡng lòng yêu nước và lòng tự hào, tự tôn dân tộc của mỗi cá nhân, học sinh, những lớp trẻ tương lai của đất nước

Tuy nhiên, đứng trước sự thay đổi của nền kinh tế, dẫn đến sự thay đổi về nhu cầu việc làm, môn Lịch sử đang trở thành môn phụ ít được quan tâm coi trọng Mặt khác, những tư tưởng, lối mòn trong suy nghĩ về một môn Lịch sử nhàm chán, chỉ có thầy đọc, trò chép đã ăn sâu vào tư tưởng của phần lớn phụ huynh và học sinh hiện Điều này thể hiện rất rõ qua điểm thi môn Lịch sử trong kì thi THPT Quốc gia những năm gần đây Thậm chí, có những kiến thức vô cùng cơ bản mà đáng lẽ bất kì một ai cũng cần phải biết trong lịch sử dân tộc Một đoạn phỏng vấn ngắn học sinh THCS, THPT trên địa bàn thành phố Hà Nội về Quang Trung – Nguyễn Huệ cũng khiến không ít người phải lắc đầu

Vậy những nguyên nhân sâu xa nào dẫn đến thực trạng trên, và nguyên nhân trực tiếp ảnh hưởng đến kết quả học tập cũng như hiểu biết của học sinh THPT về kiến thức Lịch sử là gì? Vì sao học sinh không cảm thấy hứng thú với kiến thực Lịch sử? Kiến thức Lịch sử có thú vị hay nhàm chán? Vì sao các nhân vật Lịch sử nổi tiếng cũng không thể khiến học sinh ghi nhớ? Và đặc

Trang 39

biệt là Làm thế nào để thế hệ trẻ không quay lưng với lịch sử dân tộc, cảm thấy yêu thích Lịch sử dân tộc?

Để trả lời những câu hỏi nêu trên, việc tiến hành điều tra, khảo sát thực trạng dạy học Lịch sử cho HS THPT được tiến hành dựa trên cơ sở vận dụng TĐTT

là vô cùng cần thiết Kết quả điều tra, khảo sát là cơ sở đưa ra những kết luận chung cũng như yêu cầu đặt ra cần giải quyết để nâng cao chất lượng giáo dục môn Lịch sử nói chung mà dạy học môn Lịch sử ở trường THPT nói riêng Việt tiến hành điều tra, khảo sát được tiến hành ở trường THPT Trần Phú – Hoàn Kiếm Hà Nội

Phương pháp tiến hành: Điều tra khảo sát được tiến hành thông qua phỏng vấn một số giáo viên, học sinh trong trường, thực hiện khảo sát bằng phiếu thăm dò ý kiến của 10 giáo viên (các bộ môn ) và 188 học sinh lớp 10 (10D2, 10D3, 10D4, 10D5) trường THPT Trần Phú – Hoàn Kiếm Hà Nội

Nội dung điều tra khảo sát tập trung vào các vấn đề sau :

- Tìm hiểu quan niệm của giáo viên về các vấn đề trong dạy học vận dụng TĐTT:

+ Mức độ cần thiết của việc vận dụng thuyết đa trí tuệ vào dạy học

+ Mức độ thường xuyên của việc thiết kế hoạt động giáo dục trên cơ sở vận dụng TĐTT cho học sinh THPT

+ Các hình thức giảng dạy được áp dụng trên cơ sở vận dụng TĐTT + Mức độ cần thiết và hiệu quả của việc vận dụng TĐTT vào dạy học bộ môn nói chung và dạy học môn Lịch sử THPT nói riêng

+ Những thuận lợi và khó khăn trong việc thiết kế hoạt động giáo dục trên cở sở úng dụng TĐTT

+ Những ý kiến đề xuất để việc vận dụng TĐTT vào dạy học bộ môn Lịch sử đạt hiệu quả

Trang 40

- Tìm hiểu quan niệm của học sinh về dạy học vận dụng TĐTT thông qua tìm hiểu về trí thông minh của học sinh

+ Tìm hiểu trí thông minh của học sinh thông qua thói quen sinh hoạt, sở thích, sở trường, sở đoản của học sinh

+ Tìm hiểu mong mốn, nguyện vọng của học sinh trong việc cải thiện môi trường học tập đối với giờ học Lịch sử

1.2.2 Kết quả điều tra khảo sát

1.2.2.1 Quan điểm của giáo viên:

a Tìm hiểu quan điểm của giáo viên về mức độ cần thiết của việc vận dụng TĐTT vào dạy học nói chung và bộ môn Lịch sử nói riêng cho kết quả: 60% giáo viên cho rằng việc vận dụng TĐTT vào dạy học là rất cần thiết Chỉ

có 30% giáo viên cho rằng cần thiết phải vận dụng TĐTT vào dạy học Lịch

sử và 10% giáo viên cho rằng bình thường Điều này cho thấy, hầu hết giáo viên đều có nhận thức đúng đắn về nhu cầu đổi mới phương pháp dạy học Với nhận thức đúng đắn, GV sẽ là người chủ động trong việc tìm hiểu, thiết

kế hoạt động giáo dục cho học sinh định hướng cho giáo viên quá trình thực hiện các bài dạy sao cho hiệu quả trên cơ sở vận dụng TĐTT vào dạy học Lịch sử, góp phần nâng cao hứng thú cho học sinh trong quá trình tìm hiểu nội dung bài học đồng thời phát huy trí tuệ của HS

Ngày đăng: 16/03/2021, 21:58

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w