Điều này đã được nêu rõ trong “Đề án đổi mới chương trình và sách giáo khoa giáo dục phổ thông sau năm 2015 dự thảo”: “Hoạt động trải nghiệm sáng tạo bản chất là những hoạt động giáo dụ
Trang 1LỜI CẢM ƠN
Được sự hướng dẫn của TS Nguyễn Thị Ban, tôi tiến hành thực hiện khóa
luận tốt nghiệp với đề tài Tổ chức hoạt động trải nghiệm trong dạy học truyền thuyết “Truyện An Dương Vương và Mị Châu – Trọng Thủy” (Ngữ văn 10 – tập 1) Để hoàn thành được khóa luận này, tôi đã nhận được sự quan tâm, giúp đỡ
và chỉ đạo tận tình của nhiều bên liên quan
Lời đầu tiên, cho phép tôi bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới TS Nguyễn Thị Ban, người đã tận tình hướng dẫn, hỗ trợ, giúp đỡ, động viên và dành những tình cảm tốt đẹp cho tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thiện khóa luận Tôi xin chân thành cảm ơn tới các quý thầy cô giáo trường Đại học Giáo Dục – Đại học Quốc gia Hà Nội đã tận tâm truyền đạt những tri thức vô cùng quý báu cho chúng tôi trong suốt quá thời gian học tập tại trường
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu, các thầy cô cùng các em học sinh trường THPT Tân Yên số 1 – Bắc Giang đã tạo điều kiện thuận lợi tham gia hoạt động nhiệt tình để tiết học trải nghiệm được diễn ra thành công tốt đẹp
Lời cuối cùng, tôi xin gửi lời biết ơn đối với những người thân trong gia đình
đã luôn động viên, khích lệ, giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện khóa luận.Tuy nhiên, do điều kiện thời gian và năng lực nghiên cứu cóhạn, chắc chắn khóa luận này không tránh khỏi những thiếu sót Rất mong nhận được sự góp ý, bổ sung của quý thầy cô, các bạn cũng như các em học sinhđể đề tài thêm hoàn thiện Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, tháng 5 năm 2018
Sinh viên
Phạm Thị Kim Thoa
Trang 3DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 1.1: Bảng phỏng vấn và khảo sát giáo viên……….35
Bảng 1.2: Bảng phỏng vấn học sinh……… 36
Bảng 2.1: Kế hoạch đánh giá HĐTN trong dạy học truyền thuyết “Truyện An
Dương Vương và Mị Châu – Trọng Thủy”……… 55
Bảng 3.1: Bảng phân chia nhiệm vụ học tập phù hợp với đối tượng HS………….77
Biểu đồ 1.1: Quan niệm của giáo viên về HĐTN……….37
Biểu đồ 1.2: Tần suất tổ chức HĐTN cho học sinh môn Ngữ văn……… 37
Biểu đồ 3.1: Mức độ vừa sức của các hình thức HĐTN khi dạy học truyền thuyết
“Truyện An Dương Vương và Mị Châu – Trọng Thủy”……… 75
Sơ đồ 1.1: Các bước tổ chức HĐTN trong dạy học Ngữ văn ở trường phổ thông 28
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 3
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 8
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 9
5 Phương pháp nghiên cứu 9
6 Bố cục 10
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 11
1.1.Cơ sở lí luận 11
1.1.1 Một số khái niệm và thuật ngữ cơ bản 11
1.1.1.1 Trải nghiệm 11
1.1.1.2 Hoạt động trải nghiệm 12
1.1.1.3 Hoạt động giáo dục, hoạt động dạy học 14
1.1.2 Khái quát về hoạt động trải nghiệm trong chương trình giáo dục phổ thông 15
1.1.2.1 Đặc điểm hoạt động trải nghiệm trong chương trình giáo dục phổ thông 15
1.1.2.2 Các hình thức tổ chức hoạt động trải nghiệm trong trường phổ thông 18
1.1.2.3 Các phương pháp tổ chức hoạt động trải nghiệm trong trường phổ thông 23 1.1.2.4 Vai trò của hoạt động trải nghiệm 25
1.1.3 Hoạt động trải nghiệm trong dạy học Ngữ văn ở trường phổ thông 26
1.1.3.1 Mục tiêu của hoạt động trải nghiệm trong dạy học Ngữ văn ở trường phổ thông 26
1.1.3.2 Đặc điểm của hoạt động trải nghiệm môn Ngữ văn ở trường phổ thông 27
1.1.3.3 Các bước tổ chức hoạt động trải nghiệm trong dạy học môn Ngữ văn ở trường phổ thông 28
Trang 51.1.3.4 Ý nghĩa của việc thực hiện hoạt động trải nghiệm trong dạy học Ngữ văn ở
nhà trường phổ thông 34
1.2 Cơ sở thực tiễn 35
1.2.1 Thực trạng tổ chức hoạt động trải nghiệm trong dạy học môn Ngữ văn ở trường THPT 36
1.2.2 Thực trạng tổ chức hoạt động trải nghiệm trong dạy học truyền thuyết “Truyện An Dương Vương và Mị Châu – Trọng Thủy” ở trường THPT 39
TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 40
CHƯƠNG 2: ĐỀ XUẤT BIỆN PHÁP TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG TRẢI NGHIỆM TRONG DẠY HỌC TRUYỀN THUYẾT “TRUYỆN AN DƯƠNG VƯƠNG VÀ MỊ CHÂU – TRỌNG THỦY” 41
2.1.Một số nguyên tắc tổ chức hoạt động trải nghiệm trong dạy học 41
2.1.1 Đảm bảo mục tiêu dạy học 41
2.1.2 Đảm bảo tính khoa học 41
2.1.3 Đảm bảo tính sư phạm 42
2.1.4 Đảm bảo tính thực tiễn 42
2.1.5 Đảm bảo tính tích hợp giáo dục kĩ năng sống 42
2.1.6 Đảm bảo tính đa dạng, phong phú, hấp dẫn 43
2.2.Đề xuất một số biện pháp tổ chức hoạt động trải nghiệm trong dạy học tác truyền thuyết “Truyện An Dương Vương và Mị Châu – Trọng Thủy” 43
2.2.1 Sân khấu hóa tác phẩm 43
2.2.2.Xây dựng tình huống 45
2.2.3.Xem phim truyện, phim tư liệu 47
2.2.4.Đóng vai 49
2.3 Kiểm tra – đánh giá hoạt động trải nghiệm trong dạy học truyền thuyết “Truyện An Dương Vương và Mị Châu – Trọng Thủy” 51
2.3.1 Nội dung đánh giá 51
Trang 62.3.2 Các hình thức đánh giá 52
2.3.2.1 Đánh giá bằng quan sát 52
2.3.2.2 Đánh giá bằng phiếu tự đánh giá 52
2.3.2.3 Đánh giá bằng phiếu hỏi 53
2.3.2.4 Đánh giá qua bài viết 53
2.3.2.5 Đánh giá qua sản phẩm hoạt động 54
2.3.2.6 Đánh giá qua tọa đàm, trao đổi ý kiến và nhận xét 54
2.3.2.7 Đánh giá qua phần trình diễn 54
2.3.3 Kế hoạch đánh giá 54
TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 55
CHƯƠNG 3: THỂ NGHIỆM SƯ PHẠM 56
3.1.Mô tả thể nghiệm 56
3.1.1 Mục đích thể nghiệm 56
3.1.2 Nội dung thể nghiệm 56
3.1.3 Kế hoạch thể nghiệm 56
3.1.4 Phương pháp tiến hành thể nghiệm 56
3.1.5 Quy trình thể nghiệm 57
3.2.Thiết kế giáo án thể nghiệm 57
3.3.Nhận xét, đánh giá 74
3.4 Một số những lưu ý khi tiến hành một số biện pháp tổ chức hoạt động trải nghiệm trong dạy học truyền thuyết “Truyện An Dương Vương và Mị Châu – Trọng Thủy” 76
TIỂU KẾT CHƯƠNG 3 78
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 79
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 81
PHỤ LỤC 84
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Hiện nay nền kinh tế - xã hội đang ngày càng phát triển và hội nhập.Điều này
đòi hỏi nền giáo dục Việt Nam phải không ngừng cải tiến Cụ thể, Luật Giáo dục sửa đổi năm 2009, điều 28.2 đã nêu rõ: “Phương pháp giáo dục phải phát huy
tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh; phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hướng thú, học
tập cho học sinh” Nghị quyết đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX nêu rõ: “Để
đáp ứng yêu cầu về con người và nguồn lực là nhân tố quyết định sự phát triển đấtnước trong thời kì công nghiệp hóa, hiện đại hóa, cần tạo chuyển biến cơ bản, toàn diện về giáo dục và đào tạo Đổi mới hoạt động dạy và học, phát huy tư duy sáng tạo và năng lực tự đào tạo của người học, coi trọng thực hành, thực nghiệm, ngoại khóa, làm chủ kiến thức, tránh nhồi nhét, học vẹt, học chay”
Có thể dễ dàng nhận thấy, đổi mới phương pháp dạy học là một trong những mục tiêu lớn nhất của ngành GD&ĐT Xuất phát từ nhu cầu đổi mới phương pháp dạy học nói chung và phương pháp dạy học văn chương trong nhà trường nói riêng, đổi mới phương pháp bắt đầu từ việc cải tiến các phương pháp dạy học truyền thống theo hướng phát huy tính tích cực, của người học, lấy người học làm trung tâm, cho học sinh được trải nghiệm; để từ đó, đánh thức năng lực tiềm
ẩn của mỗi học sinh Điều này đã được nêu rõ trong “Đề án đổi mới chương trình và sách giáo khoa giáo dục phổ thông sau năm 2015 (dự thảo)”: “Hoạt
động trải nghiệm sáng tạo bản chất là những hoạt động giáo dục nhằm hình thành
và phát triển cho học sinh những phẩm chất tư tưởng, ý chí tình cảm, giá trị, kĩ năng sống và những năng lực cần có của con người trong xã hội hiện đại Nội dung của hoạt động trải nghiệm sáng tạo được thiết kế theo hướng tích hợp nhiều lĩnh vực, môn học thành các chủ điểm mang tính chất mở Hình thức và phương pháp tổ chức đa dạng, phong phú, mềm dẻo, linh hoạt,mở về không gian, thời gian, quy mô, đối tượng và số lượng,… để học sinh có nhiều cơ hội tự trải nghiệm”.Trong khi đó, Ngữ văn là môn học quan trọng và bắt buộc, có thời
Trang 8lượng cũng như dung lượng lớn trong chương trình giáo dục phổ thông Chính vì vậy, dạy học Ngữ văn gắn với HĐTN không chỉ giúp các em hoàn thiện nhân cách, bồi dưỡng tâm hồn mà còn góp phần hình thành các phẩm chất, kĩ năng, năng lực cần thiết cho các em
Thực tiễn dạy học Ngữ văn trong trường phổ thông hiện nay cho thấy phần lớn học sinh đều không hoặc chưa yêu thích, say mê môn học này Chất lượng dạy và học môn Ngữ văn cũng bị giảm sút do cả yếu tố chủ quan lẫn khách quan Khảo sát về thực trạng dạy học Ngữ văn, nhiều nghiên cứu đã chỉ ra cho chúng ta thấy: một giờ dạy học Ngữ văn, phần lớn GV chỉ thuyết giảng và truyền thụ kiến thức một chiều, thiếu đi sự tương tác Chính bởi lẽ đó, HS cảm thấy nhàm chán, mệt mỏi, tiếp thu một cách thụ động, không phát huy được tính chủ động, tích cực và tư duy sáng tạo Do vậy, việc tìm kiếm và tổ chức các hình thức dạy học tích cực sẽ góp phần khơi gợi sự hứng thú, niềm say mê môn học này
Qua thực tế, có thể thấy một trong những giải pháp đa dạng hóa hình thức tổ chức dạy học hướng đến việc đáp ứng được các yêu cầu để đổi mới phương pháp dạy học, phát huy được vai trò tích cực chủ động chính là hoạt động trải nghiệm Qua các hoạt động và nhiệm vụ được triển khai dưới hình thức tổ chức này thì
HS có cơ hội được tăng cường khả năng tiếp cận với những nhiệm vụ, yêu cầu và nội dung đặc thù của môn Ngữ văn trong nhà trường phổ thông Bên cạnh đó, HĐTN sẽ đặt người học – đối tượng của hoạt động dạy học, đồng thời là chủ thể của hoạt động học tập vào những tình huống của đời sống thực tế được trải nghiệm, được quan sát, thảo luận, giải quyết vấn đề theo cách nghĩ của riêng mình vừa thông qua hoạt động cá nhân, vừa phải làm việc nhóm Từ đó, HS sẽ đạt được những kiến thức mới, những kĩ năng mới nhằm hình thành và phát triển năng lực cần thiết
“Truyện An Dương Vương và Mị Châu – Trọng Thủy” (Ngữ văn 10 – tập 1)
là tác phẩm thuộc thể loại truyền thuyết Xuất phát từ những đặc trưng của thể loại cùng với đó là nội dung, thực trạng dạy học tác phẩm và nhu cầu của người
học, “Truyện An Dương Vương và Mị Châu – Trọng Thủy” có những thuận lợi
và phù hợp nhất định để có thể tổ chức hoạt động trải nghiệm khi dạy học
Trang 9Xuất phát từ những lí do nêu trên, tôi đã chọn đề tài “Tổ chức hoạt động trải nghiệm trong dạy học truyền thuyết “Truyện An Dương Vương và Mị Châu – Trọng Thủy” (Ngữ văn 10 – tập 1) nhằm đề xuất những biện pháp tổ chức hoạt
động trải nghiệm trong dạy học tác phẩm này để trang bị cho giáo viên có thể vận dụng vào giảng dạy, góp phần vào đổi mới phương pháp và nâng cao chất lượng dạy học môn Ngữ văn
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Vấn đề học tập qua trải nghiệm không còn là vấn đề mới đối với nhiều nước
có nền giáo dục phát triển trên thế giới và ngay cả ở Việt Nam Cũng đã có rất nhiều những công trình nghiên cứu về vấn đề này; tuy nhiên, chúng tôi chỉ khái quát một số công trình nghiên cứu liên quan đến HĐTN như sau:
2.1 Tài liệu nước ngoài
Có thể nói, tư tưởng giáo dục về học qua thực hành, trải nghiệm đã manh nha xuất hiện từ thời cổ đại, trong các quan điể, giáo dục của các triết gia phương Đông và phương Tây.Các nhà tâm lí học, giáo dục học, triết học đã nghiên cứu
về vai trò của trải nghiệm đối với giáo dục ở những góc độ khác nhau Có thể kể
tới: “Quan điểm về phương pháp giáo dục coi trọng thực hành, vận dụng (Khổng Tử)”, “Quan điểm dạy học phải đảm bảo mối liên hệ với đời sống, giáo dục thông qua trò chơi, hoạt động ngoài giờ lên lớp, ngoài thiên nhiên (J.A Cô-men- xki)” Học thuyết giáo dục của Mác – Ăngghen và Lênin về “Giáo dục kỹ thuật tổng hợp và giáo dục kết hợp với lao động sản xuất” trên cơ sở phát triển đề cương về giáo dục kĩ thuật tổng hợp của Crupxcaia…[18] Đến thế kỉ XIX, các
nhà tâm lí học, giáo dục học nổi tiếng như: William James, Kurt Lewin, Jean Piaget, Carl Jung, Carl Rogers, Paulo Freire và Mary Parker Follett… đã nghiên cứu sâu và hệ thống hơn về học tập trải nghiệm theo các khía cạnh khác nhau Nhà giáo dục thời kỳ Phục hưng Ra-bơ-le (1494 – 1553) đã nhấn mạnh việc tăng cường tổ chức các hoạt động ngoài giờ lên lớp với hình thức trải nghiệm
sáng tạo “Việc giáo dục phải bao hàm các nội dung trí thức, đạo đức, thể chất, thẩm mỹ… ngoài việc học ở nhà, còn có các buổi tham quan các xưởng thợ, các
Trang 10cửa hàng, tiếp xúc với các nhà văn, các nghị sĩ, đặc biệt mỗi tháng một lần thầy
và trò về sống ở nông thôn một ngày”[22, tr39].
J.A.Cônemxki (1592 – 1670) – ông tổ của nền sư phạm hiện đại có nhiều đóng góp cho nền giáo dục thế giới Ông đặc biệt quan tâm đến việc kết hợp học tập ở lớp và hoạt động trải nghiệm sáng tạo nhằm giải phóng hình thức học tập
“giam hãm trong bốn bức tường” của hệ thống nhà trường giáo hội Trung cổ
Ông đã khẳng định “học tập không phải là lĩnh hội kiến thức trong sách vở mà còn lĩnh hội kiến thức từ mặt trời, mặt đất, từ cây sồi, cây dẻ”[23, tr4]
Có thể nhắc tới các mô hình học tập trải nghiệm cổ điển tiêu biểu nửa đầu thế
kỉ XIX: Mô hình học tập trải nghiệm của Kurt Lewin về nghiên cứu hành động
và đào tạo trong phòng thí nghiệm, mô hình học từ kinh nghiệm của Jonh Dewey Đây được coi như khoa học nền tảng của việc phát triển lí thuyết học tập trải nghiệm của D.Kolb sau này
Theo Jonh Dewey, học qua trải nghiệm xảy ra khi một người học sau khi tham gia trải nghiệm nhìn nhận lại và đánh giá, xác định cái gì là hữu ích hoặc quan trọng cần nhớ và sử dụng những điều này để thực hiện các hoạt động khác trong tương lai Cũng theo ông, nhà trường và giáo viên phải tạo ra một môi trường học tập trong đó những hoạt động của trẻ chứa đựng cả những tình huống khó khăn, để từ đó người học tự tìm tòi và xây dựng kiến thức thông qua “kinh nghiệm” và “tư duy”, thông qua “trải nghiệm” của chính bản thân
Theo lí thuyết học tập của D.Kolb đã chỉ ra rằng: “Học từ trải nghiệm là quá trình học theo đó kiến thức, năng lực được tạo ra thông qua việc chuyển hóa kinh nghiệm học Học từ trải nghiệm gần giống với học thông qua làm nhưng khác ở chỗ nó gắn với kinh nghiệm và xúc cảm cá nhân”.Lí thuyết này là cách tiếp cận
về phương pháp học đối với các lĩnh vực nhận thức Nếu như mục đích của việc dạy học chủ yếu là hình thành và phát triển hệ thống tri thức khoa học, năng lực
và hành động khoa học cho mỗi cá nhân thì mục đích của hoạt động giáo dục là hình thành và phát triển những phẩm chất, tư tưởng, ý chí, tình cảm, các giá trị sống, kĩ năng sống và những năng lực chung khác Để phát triển sự hiểu biết khoa học, chúng ta có thể tác động vào nhận thức của người học nhưng để hình
Trang 11thành và phát triển phẩm chất thì người học phải được trải nghiệm.Trải nghiệm
sẽ làm cho việc học trở nên hiệu quả nếu trải nghiệm có sự định hướng, tư vấn của người dạy [18]
Từ giữa thế kỉ XX, nhà khoa học giáo dục nổi tiếng người Mĩ Jonh Dewey
đã chỉ ra hạn chế của giáo dục nhà trường và đưa ra quan điểm về vai trò của kinh nghiệm trong giáo dục Tác giả cũng chỉ ra rằng, những kinh nghiệm có ý nghĩa giáo dục giúp nâng cao hiệu quả giáo dục bằng cách kết nối người học và những kiến thức được học với thực tiễn Theo ông: “Học qua trải nghiệm xảy ra khi một người sau khi tham gia trải nghiệm nhìn lại và đánh giá, xác định cái gì
là hữu ích hoặc quan trọng cần nhớ và sử dụng những điều này để thực hiện các hoạt động khác tương lai
Tại Hàn Quốc, trong cuốn “Hoạt động trải nghiệm sáng tạo” của Bộ khoa
học - kĩ thuật và giáo dục Hàn Quốc (2009) đã đề cập đến một trong những chương trình đổi mới giáo dục Hàn Quốc là hoạt động trải nghiệm sáng tạo Đặc biệt, hoạt động trải nghiệm sáng tạo tại Hàn Quốc không tách rời hệ thống các môn học trong nhà trường mà có quan hệ tương tác, bổ trợ nhau để hình thành và phát triển phẩm chất, tư tưởng, ý chí, kĩ năng sống và những năng lực cần có trong xã hội hiện đại, mang tính thực tiễn cao [11]
Trong “Chương trình giáo dục phổ thông Anh Quốc” (2013), trung tâm
Widehorizon thành lập năm 2004 như là niềm hi vọng của giáo dục ngoài trời, trong đó dạy học phiêu lưu – mạo hiểm là một hình thức của trải nghiệm sáng tạo Với sứ mệnh đơn giản: “Chúng tôi tin rằng mỗi đứa trẻđều có cơ hội trải nghiệm những tri thức về phiêu lưu mạo hiểm như là một phần được giáo dục trong cuộc đời chúng” Tầm nhìn chiến lược ấy bắt đầu từ một hiện thực được cho là khó tin: Hơn 50% trẻ con nước Anh chưa từng biết đến nông thôn, miền quê là gì, riêng thủ đô London con số này là 35% Việc nhiều trẻ em chưa biết đến nông thông là gì, cùng với sự suy giảm đáng kể cơ hội giáo dục thông qua các tổ chức tham quan cho trẻ con ở các trường phổ thông là nguyên nhân lớn của sự lo lắng tương lai trẻ nhỏ về quyền được kết nối với thiên nhiên giảm sút
Trang 12và vô số những lợi ích liên quan đến “giáo dục ngoài trời” – một hình thức của tổ chức hoạt động trải nghiệm sáng tạo
Từ các công trình nghiên cứu về tâm lí học, giáo dục học cũng như các mô hình học tập trải nghiệm trên thế giới đã và đang khẳng định được vai trò, tầm quan trọng của hoạt động trải nghiệm trong hình thành và phát triển năng lực HS
2.2 Tài liệu trong nước
HĐTN là một khái niệm mới xuất hiện trong “Dự thảo chương trình giáo dục phổ thông - Hoạt động trải nghiệm (ngày 19/01/2018)” thay thế cho khái
niệm “hoạt động trải nghiệm sáng tạo” trong dự thảo về “Đổi mới chương trình
và sách giáo khoa phổ thông sau năm 2015” Trước đó, có một số những công trình nghiên cứu, tài liệu đề cập tới “Hoạt động trải nghiệm sáng tạo”
Trong Nghị quyết Hội nghị TW 8 khóa XI, Dự thảo “Chương trình giáo dục phổ thông tổng thể” sau năm 2015 đều đề cập tới việc tổ chức hoạt động trải
nghiệm sáng tạo như là một phương pháp dạy học tích cực với những hình thức
đa dạng nhằm hình thành và phát triển phẩm chất, nhân cách, kĩ năng sống… cho người học nhờ việc vận dụng những kiến thức, kinh nghiệm của bản thân vào thực tiễn cuộc sống một cách sáng tạo
Một số công trình nghiên cứu, bài viết về lí luận dạy học cũng đề cập tới vấn
đề tổ chức hoạt động trải nghiệm sáng tạo Người đầu tiên nghiên cứu phát triển ứng dụng lý thuyết hoạt động vào nhà trường chính là GS.VS.Phạm Minh Hạc Theo ông, thông qua hoạt động của chính cá nhân, bản thân mới được hình thành
và phát triển.Như vậy, trong học tập và giáo dục, rèn luyện, việc lĩnh hội tri thức,
kĩ năng, kĩ xảo, lĩnh hội các giá trị xã hội là hoạt động của người học.Con người
có tự hoạt động mới biến kiến thức, kinh nghiệm mà xã hội tích lũy được thành tri thức của bản thân “Hoạt động không chỉ rèn luyện trí thông minh bằng hoạt động, mà còn thu hẹp sự cưỡng bức của nhà giáo thành sự hợp tác bậc cao” [3, tr14]
Tác giả Đỗ Ngọc Thống trong bài nghiên cứu “Hoạt động trải nghiệm sáng tạo – kinh nghiệm quốc tế và vấn đề của Việt Nam” đã kết luận: “Lâu nay,
chương trình giáo dục phổ thông Việt Nam đã có hoạt động giáo dục nhưng chưa
Trang 13được chú ý đúng mức, chưa hiểu đúng vị trí, vai trò, tính chất của các hoạt động giáo dục Chưa xây dựng được một chương trình hoạt động đa dạng, phong phú
và chi tiết với đầy đủ các thành tố của một chương trình giáo dục.Chưa có hình thức đánh giá và sử dụng kết quả các hoạt động giáo dục một cách phù hợp” Tác giả Đinh Thị Kim Thoa, trường Đại học Giáo dục – Đại học Quốc Gia
Hà Nội đã trình bày đến sự khác biệt giữa học đi đôi với hành, học thông qua làm
và trải nghiệm trong Kỷ yếu Hội thảo về Hoạt động trải nghiệm sáng tạo của học
sinh phổ thông, Bộ GD&ĐT với bài viết: “Hoạt động trải nghiệm sáng tạo – góc nhìn từ lý thuyết “Học từ trải nghiệm””.Theo đó, học từ trải nghiệm gần giống
với học thông qua làm nhưng khác ở chỗ là nó gắn với kinh nghiệm và cảm xúc
cá nhân” [24]
Tác giả Lê Huy Hoàng, trường Đại học Sư phạm Hà Nội có đề cập đến quan
niệm về hoạt động trải nghiệm sáng tạo trong bài viết “Một số vấn đề về hoạt động trải nghiệm sáng tạo trong chương trình giáo dục phổ thông mới”: “hoạt
động mang xã hội, thực tiễn đến với môi trường giáo dục trong nhà trường để học sinh tự trải nghiệm trong tập thể, qua đó hình thành và thể hiện được phẩm chất, năng lực; năng khiếu, sở thích, đam mê; bộc lộ và điều chỉnh cá tính, giá trị; nhận ra chính mình cũng như khuynh hướng phát triển của bản thân; bổ trợ cho
và cùng các hoạt động dạy học trong chương trình giáo dục thực hiện tốt nhất
mục tiêu giáo dục” [6]
Trong “Dự thảo chương trình giáo dục phổ thông - Hoạt động trải nghiệm (ngày 19/01/2018)” có đề cập đến mục tiêu chung của HĐTN: “HĐTN giúp học
sinh hình thành và phát triển năng lực thích ứng với cuộc sống, năng lực thiết kế
và tổ chức hoạt động, năng lực định hướng nghề nghiệp thông qua các chủ đề hoạt động gắn với những nội dung cụ thể về bản thân, quê hương, đất nước, con người HĐTN giúp học sinh có cơ hội khám phá bản thân và thế giới xung quanh, phát triển đời sống tâm hồn phong phú, biết rung cảm trước cái đẹp của thiên nhiên và tình người, có quan niệm sống và ứng xử nhân văn; bồi dưỡng cho học sinh tình yêu đối với quê hương, đất nước, ý thức về cội nguồn và bản sắc
Trang 14của dân tộc để góp phần giữ gìn, phát triển các giá trị tốt đẹp của con người Việt Nam” [4]
Tại Hội nghị Công chức Viên chức năm học 2016 – 2017 của trường Trung học phổ thông Lý Tự Trọng, Hà Tĩnh, tác giả Trần Thị Tuyết Nhung – tổ trưởng chuyên môn tổ Ngữ văn có bài tham luận “Nâng cao nhận thức về hoạt động trải nghiệm sáng tạo” [27]để nêu lên mục tiêu, nội dung chương trình hoạt động trải nghiệm sáng tạo và từ đó đưa ra một số giải pháp nâng cao chất lượng tổ chức hoạt động trải nghiệm sáng tạo cho học sinh
Ở môn Ngữ văn, tác giả Hoàng Thị Hà đã có sáng kiến kinh nghiệm về Hoạt động trải nghiệm trong dạy học các văn bản thơ ở nhà trường THPT theo định hướng phát triển năng lực học sinh [28]để đề cập đến việc đổi mới phương pháp dạy học trong đó sử dụng hoạt động trải nghiệm sáng tạo là trọng tâm
Từ những nghiên cứu trong nước và nước ngoài, chúng ta có thể dễ dàng nhận thấy vai trò, vị trí và tầm quan trọng của hoạt động trải nghiệm trong dạy học nhằm phát triển năng lực học sinh Tuy nhiên, đó là những nghiên cứu về mặt lí thuyết, lí luận, nội dung, hình thức… của HĐTNmà chưa phân tích một hình thức cụ thể nào để nâng cao hiệu quả hoạt động trải nghiệm sáng tạo cho học sinh, chưa làm nổi bật vai trò, thế mạnh của học sinh
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Tìm hiểu cơ sở lí luận của việc tổ chức, thiết kế các hoạt động trải nghiệm
trong dạy học truyền thuyết“Truyện An Dương Vương và Mị Châu – Trọng Thủy” (Ngữ văn 10 – tập 1)
Trang 15- Điều tra thực trạng tổ chức hoạt độngtrải nghiệm trong dạy học môn Ngữ
văn nói chung vàtruyền thuyết“Truyện An Dương Vương và Mị Châu – Trọng Thủy” (Ngữ văn 10 – tập 1) nói riêng ở trường THPT
- Đề xuất các hình thức và biện pháp tổ chức hoạt động trải nghiệm trong dạy
học truyền thuyết“Truyện An Dương Vương và Mị Châu – Trọng Thủy” (Ngữ văn 10 – tập 1)
- Thể nghiệm sư phạm để kiểm chứng tính khả thi của đề tài
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Tổ chức các hoạt động trải nghiệm trong dạy học truyền thuyết“Truyện An Dương Vương và Mị Châu – Trọng Thủy” (Ngữ văn 10 – tập 1)
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Truyền thuyết“Truyện An Dương Vương và Mị Châu – Trọng Thủy” (Ngữ văn 10 – tập 1)
5 Phương pháp nghiên cứu
5.1 Các phương pháp nghiên cứu lí luận
Phương pháp phân tích, khái quát hóa, hệ thống hóa, tổng kết các tài liệu liên quan đến đề tài nghiên cứ để xác lập cơ sở lí luận cho đề tài
5.2 Các phương pháp nghiên cứu thực tiễn
Phương pháp điều tra phỏng vấn: sử dụng các mẫu phiếu điều tra, trò
chuyện, phỏng vấn GV và HS để thu thập thông tin về thực trạng tổ chức HĐTN trong dạy học Ngữ văn, mức độ cần thiết của HĐTN, các hình thức tổ chức HĐTN…
Phương pháp quan sát: quan sát hoạt động dạy và học của GV, HS để thu
thập những thông tin cần thiết
Thể nghiệm sư phạm: Để đánh giá chất lượng và hiệu quả các biện pháp đề
xuất, kế hoạch bài giảng đã xây dựng theo hướng tích cực hóa hoạt động nhận thức, phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của HS
Phương pháp thống kê toán học: sử dụng thống kê toán học để xử lí các kết
quả nghiên cứu
Trang 166 Bố cục
Ngoài phần mở đầu, kết thúc, phụ lục, tài liệu tham khảo, bài viết gồm 3 chương
Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn
Chương 2: Đề xuất biện pháp tổ chức hoạt động trải nghiệm trong dạy học
truyền thuyết “Truyện An Dương Vương và Mị Châu – Trọng Thủy” (Ngữ văn
10 – tập 1)
Chương 3: Thể nghiệm sư phạm
Trang 17CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1.1 Cơ sở lí luận
1.1.1 Một số khái niệm và thuật ngữ cơ bản
Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam, “Trải nghiệm theo nghĩa chung nhất là bất kì một trạng thái có màu sắc xúc cảm nào được chủ thể cảm nhận, trải qua, đọng lại thành bộ phận (cùng với tri thức, ý thức…) trong đời sống tâm lí của từng người” Theo nghĩa hẹp hơn, chuyên biệt hơn của tâm lí học, “là những tín hiệu bên trong, nhờ đó nghĩa của các sự kiện đang diễn ra đối với cá nhân được ý thức, chuyển thành ý riêng của cá nhân, góp phần lựa chọn tự giác các động cơ cần thiết, điều chỉnh hành vi của cá nhân”
Theo Bách khoa toàn thư mở Wikipedia, “Trải nghiệm hay kinh nghiệm là tổng quan khái niệm bao gồm tri thức, kĩ năng trong hoặc quan sát sự vật hoặc sự kiện đạt được thông qua tham gia vào hoặc tiếp xúc đến sự vật hoặc sự kiện đó” Lịch sử của từ “trải nghiệm” gần nghĩa với từ “thử nghiệm”.Thực tiễn cho thấy trải nghiệm đạt được thường thông qua thử nghiệm
Theo Тлегенова Т Е trong bài Опыт творческой деятельности как педагогическая проблема, theo quan điểm của triết học, sự trải nghiệm được hiểu là kết quả của sự tương tác giữa con người với thế giới khách quan Sự tương tác này bao gồm cả hình thức và kết quả các hoạt động thực tiễn trong xã hội, bao gồm cả kỹ thuật và kỹ năng, cả những nguyên tắc hoạt động và phát triển thế giới khách quan Nhà triết học vĩ đại người Nga Solovyev V.S quan niệm rằng trải nghiệm là kiến thức kinh nghiệm thực tế, là thể thống nhất bao gồm kiến thức và kỹ năng Trải nghiệm là kết quả của sự tương tác giữa con người và thế giới, được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác [29]
Trang 18Một số nhà nghiên cứu sư phạm (Ю.К Бабанский, В.И Бондаревский, А.Н Кузибецкий, М.Р Львов, Э.И Моносзон, М.Н Скаткин…) xem xét thuật ngữ trải nghiệm qua khái niệm “thực hành” (practice), có nghĩa là, xem xét
nó trong việc tiến hành quá trình đào tạo, cũng như kết quả của nó Chính vì vậy,
M.N.Skatkin đã kết luận rằng: “theo nghĩa rộng, trải nghiệm được hiểu là sự thực hành trong quá trình đào tạo và giáo dục” Việc phân định giữa trải nghiệm
và thực hành, theo ý kiến của Тлегенова Т Е, trải nghiệm mang hàm nghĩa rộng hơn thực hành vì nó đóng một vai trò là nền tảng của tri thức và là tiêu chí để nhận biết sự thật Nói chung, người ta công nhận trải nghiệm là mối quan hệ thực
tế giữa chủ thể và đối tượng Ý nghĩa của điều này là chúng ta cố gắng để có các trải nghiệm một cách chủ động, có tính cách mạng và có ý thức
1.1.1.2 Hoạt động trải nghiệm
Như đã nói, HĐTN là một khái niệm mới xuất hiện trong “Dự thảo chương trình giáo dục phổ thông - Hoạt động trải nghiệm (ngày 19/01/2018)” thay thế cho khái niệm “hoạt động trải nghiệm sáng tạo” trong dự thảo về “Đổi mới chương trình và sách giáo khoa phổ thông sau năm 2015” Nhưng xét về bản
chất, cơ bản giống nhau.Theo định hướng chương trình giáo dục phổ thông mọi hoạt động giáo dục (nghĩa rộng) bao gồm hoạt động dạy học và các mục tiêu của hoạt động giáo dục (nghĩa hẹp) nói trên sẽ được thực hiện chỉ trong một hoạt động có tên gọi là hoạt động trải nghiệm
Như vậy, hoạt động trải nghiệm sẽ thực hiện tất cả các mục tiêu và nhiệm vụ của các hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp, hoạt động tập thể… và thêm vào đó
là những mục tiêu và nhiệm vụ giáo dục của giai đoạn mới.Như vậy, khái niệm hoạt động học tập trải nghiệm trong nhà trường phổ thông có thể được hiểu là các hoạt độnggiáo dục thực tiễn được tiến hành song song với hoạt động dạy học trong nhà trường HĐTN là một bộ phận của quá trình giáo dục, được tổ chức ngoài giờ học các môn văn hóa trên lớp và có mối quan hệ bổ sung, hỗ trợ cho việc dạy học Thông qua các hoạt động thực hành, những việc làm cụ thể và các hành động của học sinh, hoạt động trải nghiệm sẽ khai thác kinh nghiệm của mỗi
cá nhân, tạo cơ hội cho các em vận dụng một cách tích cực những kiến thức đã
Trang 19học vào thực tế và đưa ra những sáng kiến của mình, từ đó phát huy và nuôi dưỡng tính sáng tạo của mỗi cá nhân HS
Xuất phát từ khái niệm, so với hoạt động ngoài giờ lên lớp đang được tiến hành hiện nay trong chương trình phổ thông thì HĐTN sẽ phong phú hơn về nội dung, phương pháp và hình thức hoạt động Đặc biệt mỗi hoạt động phải phù hợp với mục tiêu phát triển những phẩm chất năng lực nhất định của học sinh
Theo hiệp hội “giáo dục trải nghiệm” quốc tế thì học qua trải nghiệm là một
phạm trù bao hàm nhiều phương pháp trong đó người dạy khuyến khích người học tham gia các hoạt động trải nghiệm thực tế, sau đó phản ánh tổng kết lại để tăng cường hiểu biết, phát triển kĩ năng, định hình các giá trị sống và phát triển các năng lực bản thân, tiến tới đóng góp tích cực cho cộng đồng và xã hội
Học tập trải nghiệm còn được hiểu là “hoạt động giáo dục, trong đó, từng cá nhân học sinh trực tiếp hoạt động thực tiễn trong môi trường nhà trường cũng như môi trường gia đình và xã hội dưới sự hướng dẫn và tổ chức của nhà giáo dục, qua đó phát triển tình cảm, đạo đức, phẩm chất, nhân cách, các năng lực…;
từ đó tích lũy kinh nghiệm riêng cũng như phát huy tiềm năng sáng tạo cá nhân của mình” [5,tr8]
Các khái niệm này đều khẳng định vai trò định hướng, hướng dẫn của nhà giáo dục Nhà giáo dục không tổ chức, phân công học sinh một cách trực tiếp mà chỉ hỗ trợ, giám sát Học sinh là chủ thể trực tiếp tham gia vào các hoạt động Phạm vi các chủ đề hay nội dung hoạt động và kết quả đầu ra là năng lực thực tiễn, phẩm chất và tiềm năng sáng tạo; hoạt động là phương thức cơ bản của sự hình thành và phát triển nhân cách con người
Từ đó, có thể thấy rằng hoạt động trải nghiệm là phương thức hoạt động chỉ
sự tương tác, sự tác động của chủ thể với đối tượng xung quanh và ngược lại.Hoạt động ở đây là hoạt động của chính bản thân chủ thể.Những hoạt động này mang tính trải nghiệm, vừa là cách nhận thức, tác động của riêng mỗi chủ thể Qua hoạt động giải quyết vấn đề mà người học thu nhận những giá trị cần thiết của bản thân, đó chính là quá trình mang tính trải nghiệm
Trang 20Hoạt động trải nghiệm là hoạt động giáo dục, trong đó, dưới sự hướng dẫn và
tổ chức của nhà giáo dục, từng cá nhân học sinh được tham gia trực tiếp vào các hoạt động thực tiễn khác nhau của đời sống gia đình, nhà trường cũng như ngoài
xã hội với tư cách là chủ thể của hoạt động Thông qua việc tham gia vào các HĐTN, học sinh được phát huy vai trò chủ thể, tính tích cực, chủ động, tự giác
và sáng tạo của bản thân Các em được chủ động tham gia vào tất cả các khâu của quá trình hoạt động: từ thiết kế hoạt động đến chuẩn bị, thực hiện và đánh giá kết quả hoạt động phù hợp với đặc điểm lứa tuổi và khả năng của bản thân Các
em được trải nghiệm, được bày tỏ quan điểm, ý tưởng, được đánh giá và lựa chọn
ý tưởng hoạt động, được thể hiện, tự khẳng định bản thân, được tự đánh giá và đánh giá kết quả hoạt động của bản thân, của nhóm mình và của bạn bè,…Từ đó, hình thành và phát triển cho các em những giá trị sống và các năng lực cần thiết
1.1.1.3 Hoạt động giáo dục, hoạt động dạy học
Hoạt động giáo dục theo nghĩa rộng là “những hoạt động có chủ đích, có kế hoạch hoặc có sự định hướng của nhà giáo dục, được thực hiện thông qua cách thức phù hợp nhằm để chuyển tải nội dung giáo dục tới người học nhằm thực hiện mục tiêu giáo dục” [5, tr44] Hoạt động giáo dục này bao gồm hoạt động dạy học và hoạt động giáo dục theo nghĩa hẹp
Hoạt động giáo dục theo nghĩa hẹp được hiểu là những hoạt động có chủ đích, có kế hoạch do nhà giáo dục định hướng, kế hoạch, tổ chức trong và ngoài giờ học, trong và ngoài nhà trường nhằm thực hiện mục tiêu giáo dục theo nghĩa hẹp, hình thành ý thức, phẩm chất, giá trị sống hoặc các năng lực tâm lý xã hội… Hoạt động dạy học là quá trình người dạy tổ chức và hướng dẫn hoạt động học của người học lĩnh hội tri thức khoa học kinh nghiệm của loài người để phát triển trí tuệ và hoàn thiện nhân cách người học
Có thể nhận thấy, hoạt động dạy học chủ yếu nhằm phát triển trí tuệ, hoạt động giáo dục theo nghĩa hẹp chủ yếu nhằm phát triển phẩm chất đạo đức, đời sống tình cảm Trong chương trình giáo dục phổ thông hiện hành, hoạt động giáo dục (nghĩa hẹp) thực hiện các mục tiêu giáo dục thông qua một loạt các hoạt động như hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp, hoạt động tập thể
Trang 211.1.2 Khái quát về hoạt động trải nghiệm trong chương trình giáo dục phổ thông
HĐTN là các HĐGD thực tiễn được tiến hành song song với hoạt động dạy học trong nhà trường phổ thông HĐTN là một bộ phận hữu cơ không thể thiếu của quá trình giáo dục nói chung, quá trình dạy học nói riêng ở trường phổ thông; góp phần thực hiện các mục tiêu giáo dục đào tạo của nhà trường phổ thông theo qui định
1.1.2.1 Đặc điểm hoạt động trải nghiệmtrong chương trình giáo dục phổ thông Theo “Dự thảo chương trình giáo dục phổ thông - Hoạt động trải nghiệm (ngày 19/01/2018)”:Hoạt động trải nghiệm là hoạt động giáo dục được thực hiện bắt buộc từ lớp 1 đến lớp 12; ở tiểu học được gọi là Hoạt động trải nghiệm, ở trung học cơ sở và trung học phổ thông được gọi là Hoạt động trải nghiệm, hướng nghiệp [4]
HĐTN tạo cơ hội cho học sinh: huy động tổng hợp kiến thức, kĩ năng của các
môn học và lĩnh vực giáo dục khác nhau để trải nghiệm thực tiễn đời sống gia đình, nhà trường và xã hội; tham gia vào tất cả các khâu của quá trình hoạt động,
từ thiết kế hoạt động đến chuẩn bị, thực hiện và đánh giá kết quả hoạt động; trải nghiệm, bày tỏ quan điểm, ý tưởng sáng tạo, lựa chọn ý tưởng hoạt động; thể hiện và tự khẳng định bản thân, đánh giá và tự đánh giá kết quả hoạt động của bản thân, của nhóm và của các bạn dưới sự hướng dẫn, tổ chức của nhà giáo dục, qua đó hình thành và phát triểnnhững phẩm chất chủ yếu và năng lực cốt lõi được tuyên bố trong chương trình tổng thể và các năng lực đặc thù của HĐTN
Chương trình HĐTN mang tính linh hoạt, mềm dẻo.HĐTN có nội dung rất
đa dạng và mang tính tích hợp, tổng hợp kiến thức, kĩ năng của nhiều môn học, nhiều lĩnh vực học tập và giáo dục như: giáo dục đạo đức, giáo dục trí tuệ, giáo dục kĩ năng sống, giáo dục giá trị sống, giáo dục nghệ thuật, thẩm mĩ, giáo dục thể chất, giáo dục lao động, giáo dục an toàn giao thông, giáo dục môi trường, giáo dục phòng chống ma túy, giáo dục phòng chống HIV/AIDS và tệ nạn xã hội Nội dung giáo dục của HĐTN thiết thực và gần gũi với cuộc sống thực tế, đáp ứng được nhu cầu hoạt động của học sinh, giúp các em vận dụng những hiểu biết
Trang 22của mình vào trong thực tiễn cuộc sống một cách dễ dàng, thuận lợi Các cơ sở giáo dục có thể căn cứ vào bốn nội dung hoạt động chính là Hoạt động phát triển
cá nhân, Hoạt động lao động, Hoạt động xã hội và phục vụ cộng đồng, Hoạt động giáo dục hướng nghiệp để thiết kế thành các chủ đề hoạt động phù hợp với nhu cầu, đặc điểm học sinh, điều kiện của nhà trường, địa phương Một số nội dung sinh hoạt Sao Nhi đồng, Đội Thiếu niên Tiền phong Hồ Chí Minh, Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Hội Liên hiệp Thanh niên Việt Nam được tích hợp trong nội dung các hoạt động trên
HĐTN được thực hiện dưới bốn loại hoạt động chủ yếu: Sinh hoạt dưới cờ,
Sinh hoạt lớp, Hoạt động giáo dục theo chủ đề và Hoạt động câu lạc bộ và thông
qua bốn nhóm hình thức tổ chức: Hình thức có tính khám phá(đi thực địa, tham quan, dã ngoại…); Hình thức có tính thể nghiệm, tương tác (giao lưu, đóng kịch, sân khấu hóa…); Hình thức có tính cống hiến (gồm các hoạt động tình nguyện, nhân đạo, vì cộng đồng…); Hình thức có tính nghiên cứu, phân hoá (dự án, nghiên cứu khoa học có tính chất phân hóa…) HĐTN có thể được tổ chức trong
và ngoài lớp học, trong và ngoài trường học theo quy mô cá nhân, nhóm, lớp học, khối lớp hoặc quy mô trường
HĐTN có thể tổ chức theo các quy mô khác nhau như: theo nhóm, theo lớp,
theo khối lớp, theo trường hoặc liên trường Tuy nhiên, tổ chức theo quy mô nhóm và quy mô lớp có ưu thế hơn về nhiều mặt như đơn giản, không tốn kém, mất ít thời gian, học sinh tham gia được nhiều hơn và có nhiều khả năng hình thành, phát triển các năng lực cho học sinh hơn
HĐTN huy động sự tham gia, phối hợp, liên kết của nhiều lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường như: GV chủ nhiệm lớp, GV bộ môn, Cán bộ
Đoàn, Tổng phụ trách Đội, Ban Giám hiệu nhà trường, cha mẹ học sinh, chính quyền địa phương, Hội Khuyến học, Hội Phụ nữ, Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Hội Cựu chiến binh, các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp ở địa phương, các nhà hoạt động xã hội, những nghệ nhân, những người lao động tiêu biểu ở địa phương,…
Trang 23HĐTN trong chương trình giáo dục phổ thông được phân chia theo hai giai đoạn:
- Giai đoạn giáo dục cơ bản:
HĐTN thực hiện mục tiêu hình thành các phẩm chất, thói quen, kĩ năng sống, thông qua việc tham giasinh hoạt tập thể, câu lạc bộ, dự án học tập, hoạt động lao động, hoạt động xã hội và phục vụ cộng đồng, Bằng HĐTN của bản thân, mỗi học sinh vừa tham gia vừa thiết kế và tổ chức các hoạt động cho chính mình, qua đó tự khám phá,điều chỉnh bản thân, điều chỉnh cách tổ chức hoạt động để sống và làm việc hiệu quả Ở giai đoạn này, mỗi học sinh bướcđầu xác định được sở trường và hình thành một số phẩm chất, năng lực của người lao động và người công dân có trách nhiệm
Đối với giáo dục tiểu học, nội dung chương trình HĐTN tập trung nhiều hơn vào các hoạt động pháttriển bản thân, kĩ năng sống, quan hệ với bạn bè, thầy cô
và người thân trong gia đình Bên cạnh đó, các hoạt động lao động,hoạt động xã hội và làm quen với một số nghề gần gũi cũng được tổ chức thực hiện
Đối với giáo dục trung học cơ sở, chương trình tập trung nhiều hơn vào các hoạt động xã hội, hoạt động phục vụ cộngđồng và bắt đầu đẩy mạnh các hoạt động hướng nghiệp Tuy nhiên, hoạt động phát triển cá nhân, hoạt động lao động vẫnđược tiếp tục triển khai để phát triển các phẩm chất và năng lực của học sinh
- Giai đoạn giáo dục định hướng nghề nghiệp:
Đối với giáo dục trung học phổ thông, chương trình HĐTN, hướng nghiệp tiếp tục phát triển nhữngphẩm chất và năng lực đã hình thành từ giai đoạn giáo dục cơ bản thông qua hoạt động phát triển cá nhân, hoạt động laođộng, hoạt động
xã hội và phục vụ cộng đồng và hoạt động giáo dục hướng nghiệp nhưng tập trung cao hơn vào việc pháttriển năng lực định hướng nghề nghiệp Thông qua các chủ đề sinh hoạt tập thể, hoạt động lao động sản xuất, câu lạc bộhướng nghiệp và các hoạt động định hướng nghề nghiệp khác, học sinh được đánh giá
và tự đánh giá về năng lực, sở trường,hứng thú liên quan đến nghề nghiệp; có thể
tự chọn cho mình ngành nghề phù hợp; được rèn luyện phẩm chất và năng lựcđể thích ứng với nghề nghiệp tương lai
Trang 241.1.2.2.Các hình thứctổ chức hoạt động trải nghiệm trong trường phổ thông
HĐTN được tổ chức dưới nhiều hình thức khác nhau như hoạt động câu lạc
bộ, tổ chức trò chơi, diễn đàn, sân khấu tương tác, tham quan dã ngoại, các hội thi, hoạt động giao lưu, hoạt động nhân đạo, hoạt động tình nguyện, hoạt động cộng đồng, sinh hoạt tập thể, lao động công ích, sân khấu hóa (kịch, thơ, hát, múa rối, tiểu phẩm, kịch tham gia,…), thể dục thể thao, tổ chức các ngày hội,… Mỗi hình thức hoạt động trên đều mang ý nghĩa giáo dục nhất định Dưới đây là một
số hình thức tổ chức của HĐTN trong nhà trường phổ thông [12]:
a Hoạt động câu lạc bộ học tập
Câu lạc bộ học tập trong nhà trường là một nhóm các bạn HS có chung niềm đam mê môn học, lĩnh vực, hoạt động trong nhà trường tự tổ chức, tự đều hành dưới sự dám sát, qui định của nhà trường Trong đó, các CLB mang tính chất hoạt động ngoại khóa, sở thích theo phong trào và các CLB theo đặc điểm môn học hoặc là một phần của môn học được tổ chức dưới dạng CLB Đặc điểm của các CLB học tập trong nhà trường là hoạt động trong khuôn khổ của nhà trường,
có sự định hướng của GV bộ môn hoặc tổ chức trong nhà trường hoặc liên kết với các tổ chức xã hội, nghề nghiệp bên ngoài nhằm phát triển năng lực HS, tạo cầu nối tổ chức các hoạt động vận dụng kiến thức vào thực tiễn, xử lí các vấn đề thực tiễn ngay trong nhà trường và là nơi để các HS trao đổi việc học với nhau và với GV
b Tổ chức trò chơi
Trò chơi là một loại hình hoạt động giải trí, thư giãn; là món ăn tinh thần nhiều bổ ích và không thể thiếu được trong cuộc sống con người nói chung, đối với HS nói riêng Trò chơi là hình thức tổ chức các hoạt động vui chơi với nội dung kiến thức thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau, có tác dụng giáo dục “chơi mà học, học mà chơi” Trò chơi có thể được sử dụng trong nhiều tình huống khác nhau của HĐTN như làm quen, khởi động, dẫn nhập vào nội dung học tập, cung cấp và tiếp nhận tri thức; đánh giá kết quả, rèn luyện các kĩ năng và củng cố những tri thức đã được tiếp nhận,… Trò chơi giúp phát huy tính sáng tạo, hấp dẫn và gây hứng thú cho HS; giúp HS dễ tiếp thu kiến thức mới; giúp chuyển tải
Trang 25nhiều tri thức của nhiều lĩnh vực khác nhau; tạo được bầu không khí thân thiện; tạo cho các em tác phong nhanh nhẹn,…
c Tổ chức diễn đàn
Diễn đàn là một hình thức tổ chức hoạt động được sử dụng để thúc đẩy sự tham gia của HS thông qua việc các em trực tiếp, chủ động bày tỏ ý kiến của mình với đông đảo bạn bè, nhà trường, GV, cha mẹ và những người lớn khác có liên quan Diễn đàn là một trong những hình thức tổ chức mang lại hiệu quả giáo dục thiết thực.Thông qua diễn đàn, HS có cơ hội bày tỏ suy nghĩ, ý kiến, quan niệm hay những câu hỏi, đề xuất của mình về một vấn đề nào đó có liên quan đến nhu cầu, hứng thú, nguyện vọng của các em.Đây cũng là dịp để các em biết lắng nghe ý kiến, học tập lẫn nhau Vì vậy, diễn đàn như một sân chơi tạo điều kiện để
HS được biểu đạt ý kiến của mình một cách trực tiếp với đông đảo bạn bè và những người khác Diễn đàn thường được tổ chức rất linh hoạt, phong phú và đa dạng với những hình thức hoạt động cụ thể, phù hợp với từng lứa tuổi HS Mục đích của việc tổ chức diễn đàn là để tạo cơ hội, môi trường cho HS được bày tỏ ý kiến về những vấn đề các em quan tâm, giúp các em khẳng định vai trò và tiếng nói của mình, đưa ra những suy nghĩ và hành vi tích cực để khẳng định vai trò và tiếng nói của mình, đưa ra những suy nghĩ và hành vi tích cực để khẳng định mình Qua các diễn đàn, GV, cha mẹ học sinh và những người lớn có liên quan nắm bắt được những băn khoăn, lo lắng và mong đợi của các em về bạn bè, thầy
cô, nhà trường và gia đình,… tăng cường cơ hội giao lưu giữa người lớn và trẻ
em, giữa trẻ em với trẻ em và thúc đẩy quyền trẻ em trong trường học Giúp HS thực hành quyền được bày tỏ ý kiến, quyền được lắng nghe và quyền được tham gia,… đồng thời giúp các nhà quản lí giáo dục và hoạch định chính sách nắm bắt, nhận biết được những vấn đề mà HS quan tâm từ đó có những biện pháp giáo dục và xây dựng chính sách phù hợp hơn với các em
d Sân khấu tương tác
Sân khấu tương tác (hay sân khấu diễn đàn) là một hình thức nghệ thuật tương tác dựa trên hoạt động diễn kịch, trong đó vở kịch chỉ có phần mở đầu đưa
ra tình huống, phần còn lại được sáng tạo bởi những người tham gia Phần trình
Trang 26diễn chính là một cuộc chia sẻ, thảo luận giữa những người thực hiện và khán giả, trong đó đề cao tính tương tác hay sự tham gia của khán giả Mục đích của hoạt động này là nhằm tăng cường nhận thức, thúc đẩy để học sinh đưa ra quan điểm, suy nghĩ và cách xử lí tình huống thực tế gặp phải trong bất kì nội dung nào của cuộc sống Thông qua sân khấu tương tác, sự tham gia của học sinh được tăng cường và thúc đẩy, tạo cơ hội cho HS rèn luyện những kĩ năng như: kĩ năng phát hiện vấn đề, kĩ năng phân tích vấn đề, kĩ năng ra quyết định và giải quyết vấn đề, khả năng sáng tạo khi giải quyết tình huống và khả năng ứng phó với những thay đổi của cuộc sống,…
e Tham quan, dã ngoại
Tham quan, dã ngoại là một hình thức tổ chức học tập thực tế hấp dẫn đối với học sinh Mục đích của tham quan, dã ngoại là để các em HS được đi thăm, tìm hiểu và học hỏi kiến thức, tiếp xúc với các di tích lịch sử, văn hóa, công trình, nhà máy… ở xa nơi các em đang sống, học tập, giúp các em có được những kinh nghiệm thực tế, từ đó có thể áp dụng vào cuộc sống của chính các
em Nội dung tham quan, dã ngoại có tính giáo dục tổng hợp đối với học sinh như: giáo dục lòng yêu thiên nhiên, quê hương, đất nước, giáo dục truyền thống cách mạng, truyền thống lịch sử, truyền thống của Đảng, của Đoàn, của Đội Thiếu niên Tiền phong Hồ Chí Minh Các lĩnh vực tham quan, dã ngoại có thể được tổ chức ở nhà trường phổ thông là: Tham quan các danh lam thắng cảnh, di tích lịch sử, văn hóa; Tham quan các công trình công cộng, nhà máy, xí nghiệp; Tham quan các cơ sở sản xuất, làng nghề; Tham quan các Viện bảo tàng; Dã ngoại theo các chủ đề học tập; Dã ngoại theo các hoạt động nhân đạo…
f Hội thi / cuộc thi
Hội thi/cuộc thi là một trong những hình thức tổ chức hoạt động hấp dẫn, lôi cuốn học sinh và đạt hiệu quả cao trong việc tập hợp, giáo dục, rèn luyện và định hướng giá trị cho tuổi trẻ.Hội thi mang tính chất thi đua giữa các cá nhân, nhóm hoặc tập thể luôn hoạt động tích cực để vươn lên đạt được mục tiêu mong muốn thông qua việc tìm ra người/đội thắng cuộc.Chính vì vậy, tổ chức hội thi cho HS
là một yêu cầu quan trọng, cần thiết của nhà trường, của giáo viên trong quá trình
Trang 27tổ chức HĐTN Mục đích tổ chức hội thi/cuộc thi nhằm lôi cuốn HS tham gia một cách chủ động, tích cực vào các hoạt động giáo dục của nhà trường; đáp ứng nhu cầu về vui chơi giải trí cho HS; thu hút tài năng và sự sáng tạo của HS; phát triển khả năng hoạt động tích cực và tương tác của HS, góp phần bồi dưỡng cho các em động cơ học tập tích cực, kích thích hứng thú trong quá trình nhận thức
Hội thi/cuộc thi có thể được thực hiện dưới nhiều hình thức khác nhau như: Thi
vẽ, thi viết, thi tìm hiểu, thi đố vui, thi giải ô chữ, thi tiểu phẩm, thi thời trang, thi
kể chuyện, thi chụp ảnh, thi kể chuyện theo tranh, thi sáng tác bài hát, hội thi học tập, hội thi thời trang, hội thi học sinh thanh lịch,… có nội dung giáo dục về một
chủ đề nào đó Nội dung của hội thi rất phong phú, bất cứ nội dung giáo dục nào cũng có thể được tổ chức dưới hình thức hội thi/cuộc thi Điều quan trọng khi tổ chức hội thi là phải linh hoạt, sáng tạo khi tổ chức thực hiện, tránh máy móc thì cuộc thi mới hấp dẫn
g Tổ chức sự kiện
Tổ chức sự kiện trong nhà trường phổ thông là một hoạt động tạo cơ hội cho học sinh được thể hiện những ý tưởng, khả năng sáng tạo của mình, thể hiện năng lực tổ chức hoạt động, thực hiện và kiểm tra giám sát hoạt động Thông qua hoạt động tổ chức sự kiện HS được rèn luyện tính tỉ mỉ, chi tiết, đầu óc tổ chức, tính năng động, nhanh nhẹn, kiên nhẫn, có khả năng thiết lập mối quan hệ tốt, có khả năng làm việc theo nhóm, có sức khỏe và niềm đam mê Khi tham gia tổ chức sự kiện HS sẽ thể hiện được sức bền cũng như khả năng chịu được áp lực cao của mình.Ngoài ra, các em còn phải biết cách xoay xở và ứng phó trong mọi tình huống bất kì xảy đến Các sự kiện HS có thể tổ chức trong nhà trường như:
Lễ khai mạc, lễ nhập học, lễ tốt nghiệp, lễ kỉ niệm, lễ chúc mừng,…; Các buổi triển lãm, buổi giới thiệu, hội thảo khoa học, hội diễn nghệ thuật; Các hoạt động đánh giá thể lực, kiểm tra thể hình, thể chất của học sinh; Đại hội thể dục thể thao, hội thi đấu giao hữu; Hoạt động học tập thực tế, du lịch khảo sát thực tế, điều tra học thuật; Hoạt động tìm hiểu về di sản văn hóa, về phong tục tập quán; Chuyến đi khám phá đất nước, trải nghiệm văn hóa nước ngoài…
h Hoạt động giao lưu
Trang 28Giao lưu là một hình thức tổ chức giáo dục nhằm tạo ra các điều kiện cần thiết để cho học sinh được tiếp xúc, trò chuyện và trao đổi thông tin với những nhân vật điển hình trong các lĩnh vực hoạt động nào đó.Qua đó, giúp các em có tình cảm và thái độ phù hợp, có được những lời khuyên đúng đắn để vươn lên trong học tập, rèn luyện và hoàn thiện nhân cách Hoạt động giao lưu có một số đặc trưng sau:
- Phải có đối tượng giao lưu Đối tượng giao lưu là những người điển hình, có những thành tích xuất sắc, thành đạt trong các lĩnh vực nào đó, thực sự là tấm gương sáng để học sinh noi theo, phù hợp với nhu cầu hứng thú của HS
- Thu hút sự tham gia đông đảo và tự nguyện của học sinh, được HS quan tâm
và hào hứng
- Phải có sự trao đổi thông tin, tình cảm hết sức trung thực, chân thành và sôi nổi giữa học sinh với người được giao lưu Những vấn đề trao đổi phải thiết thực, liên quan đến lợi ích và hứng thú của HS, đáp ứng nhu cầu của các em Với những đặc trưng trên, hoạt động giao lưu rất phù hợp với các HĐTN theo chủ đề Hoạt động giao lưu dễ dàng được tổ chức trong mọi điều kiện của lớp, của trường
i Hoạt động chiến dịch
Hoạt động chiến dịch là hình thức tổ chức không chỉ tác động đến HS mà tới
cả các thành viên cộng đồng.Nhờ các hoạt động này, học sinh có cơ hội khẳng định mình trong cộng đồng, qua đó hình thành và phát triển ý thức “mình vì mọi người, mọi người vì mình” Việc HS tham gia các hoạt động chiến dịch nhằm tăng cường sự hiểu biết và sự quan tâm của HS đối với các vấn đề xã hội như vấn
đề môi trường, an toàn giao thông, an toàn xã hội,… giúp HS có ý thức hành động vì cộng đồng; tập dượt cho HS tham gia giải quyết những vấn đề xã hội; phát triển ở HS một số kĩ năng cần thiết như kĩ năng hợp tác, kĩ năng thu thập thông tin, kĩ năng đánh giá và kĩ năng ra quyết định Mỗi chiến dịch nên mang một chủ đề để định hướng cho các hoạt động như: Chiến dịch giờ trái đất; Chiến dịch làm sạch môi trường xung quanh trường học; Chiến dịch ứng phó vơi biến đổi khí hậu; Chiến dịch bảo vệ môi trường, bảo vệ rừng ngập mặn; Chiến dịch
Trang 29làm cho thế giới sạch hơn; Chiến dịch tình nguyện hè, Chiến dịch ngày thứ 7 tình nguyện… Để thực hiện hoạt động chiến dịch được tốt cần xây dựng kế hoạch để triển khai chiến dịch cụ thể, khả thi với các nguồn lực huy động được và học sinh phải được trang bị trước một số kiến thức, kĩ năng cần thiết để tham gia vào chiến dịch
k Hoạt động nhân đạo
Hoạt động nhân đạo là hoạt động tác động đến trái tim, tình cảm, sự đồng cảm của HS trước những con người có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn Thông qua hoạt động nhân đạo, HS biết thêm những hoàn cảnh khó khăn của người nghèo, người nhiễm chất độc da cam, trẻ em mồ côi, người tàn tật, khuyết tật, người già
cô đơn không nơi nương tựa, người có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, những đối tượng dễ bị tổn thương trong cuộc sống,… để kịp thời giúp đỡ, giúp họ từng bước khắc phục khó khăn, ổn định cuộc sống, vươn lên hòa nhập với cộng đồng Hoạt động nhân đạo giúp các em được chia sẻ những suy nghĩ, tình cảm, giá trị vật chất của mình với những thành viên trong cộng đồng; biết quan tâm hơn đến những người xung quanh từ đó giáo dục các giá trị cho HS như: tiết kiệm, tôn trọng, chia sẻ, cảm thông, yêu thương, trách nhiệm, hạnh phúc,… Hoạt động nhân đạo trong trường phổ thông được thực hiện dưới nhiều hình thức khác nhau như: Hiến máu nhân đạo; Xây dựng quỹ ủng hộ các bạn thuộc gia đình nghèo, có hoàn cảnh khó khăn; Tết vì người nghèo và nạn nhân chất độc da cam; Quyên góp cho trẻ em mổ tim trong chương trình “Trái tim cho em”; Quyên góp đồ dùng học tập cho các bạn HS vùng cao; Tổ chức trung thu cho HS nghèo vùng sâu, vùng xa…
1.1.2.3.Các phương pháp tổ chức hoạt động trải nghiệm trong trường phổ thông
a Phương pháp giải quyết vấn đề
Giải quyết vấn đề là một phương pháp giáo dục nhằm phát triển năng lực tư duy, sáng tạo, năng lực giải quyết vấn đề của HS HS được đặt trong những tình huống có vấn đề, thông qua việc giải quyết vấn đề giúp HS lĩnh hội tri thức, kĩ năng và phương pháp
Trang 30Trong tổ chức hoạt động trải nghiệm, phương pháp giải quyết vấn đề thường được vận dụng khi HS phải phân tích, xem xét và đề xuất những giải pháp trước một hiện tượng, sự việc nảy sinh trong quá trình hoạt động Đây là phương pháp quan trọng để phát huy tính tích cực, sáng tạo, giúp HS có cách nhìn toàn diện hơn trước các hiện tượng, sự việc nảy sinh trong hoạt động, trong cuộc sống hàng ngày Để phương pháp này thành công thì vấn đề đưa ra phải sát với mục tiêu của hoạt động, kích thích HS tích cực tìm tòi cách giải quyết Đối với tập thể lớp, khi giải quyết vấn đề phải coi trọng nguyên tắc tôn trọng và bình đẳng, tránh gây ra căng thẳng không có lợi cho việc giáo dục HS
b Phương pháp sắm vai
Sắm vai là phương pháp giáo dục giúp HS thực hành những cách ứng xử, bày tỏ thái độ trong những tình huống giả định hoặc trên cơ sở óc tưởng tượng và
ý nghĩ sáng tạo của các em Đóng vai thường không có kịch bản cho trước, mà
HS phải tự xây dựng trong quá trình hoạt động
Đây là phương pháp nhằm giúp HS suy nghĩ sâu sắc về một vấn đề bằng cách tập trung vào một cách ứng xử cụ thể mà các em quan sát được Việc “diễn” không phải là phần quan trọng nhất của phương pháp này mà quan trọng nhất là việc xử lsi tình huống khi diễn và thảo luận sau phần diễn ấy
Sắm vai có ý nghĩa rất lớn trong việc hình thành và phát triển các kĩ năng giao tiếp cho HS Thông qua sắm vai, HS được rèn luyện, thực hành những kĩ năng ứng xử và bày tỏ thái độ trong môi trường an toàn trước khi thực hành trong thực tiễn, tạo điều kiện phát triển óc sáng tạo của các em, khích lệ thay đổi thái
độ và hành vi theo hướng tích cực trước một vấn đề hay đối tượng nào đó
c Phương pháp làm việc nhóm
Làm việc nhóm nhỏ là phương pháp tổ chức dạy học – giáo dục trong đó GV sắp xếp HS thành những nhóm nhỏ theo hướng tạo ra sự tương tác trực tiếp giữa các thành viên, mà theo đó HS trong nhóm trao đổi, giúp đỡ và cùng nhau phối hợp làm việc để hoàn thành nhiệm vụ chung của nhóm
Làm việc nhóm có ý nghĩa rất lớn trong việc:
Trang 31- Phát huy cao độ vai trò chủ thể, tính tự giác, tích cực, sáng tạo, năng động, tinh thần trách nhiệm của HS, tạo cơ hội cho các em tự thể hiện và tự khẳng định khả năng của mình, thực hiện tốt nhiệm vụ được giao
- Giúp hình thành các kĩ năng xã hội và các phẩm chất cần thiết như: kĩ năng
tổ chức, quản lý; kĩ năng giải quyết vấn đề; kĩ năng hợp tác…
- Thể hiện mối quan hệ bình đẳng, dân chủ và nhân văn: làm việc nhóm tạo cơ hội bình đẳng cho mỗi cá nhân người học được khẳng định mình và được phát triển Nhóm làm việc sẽ khuyến khích HS giao tiếp với nhau, giúp những em tự
ti, nhút nhát có nhiều cơ hội hòa nhập với lớp học…
d Phương pháp dạy học dự án
Dạy học dự án là một mô hình dạy và học trong đó việc học tập của HS được thực hiện một cách có hệ thống thông qua một loạt các thao tác từ thiết kế giờ học đến lập kế hoạch, giải quyết vấn đề, ra quyết định, tạo sản phẩm, đánh giá và trình bày kết quả để từ đó giúp HS phát triển kiến thức và kĩ năng
1.1.2.4 Vai trò của hoạt động trải nghiệm
Học tập trải nghiệm làm tăng tính hấp dẫn trong học tập Hình thức dạy học
trải nghiệm là hình thức giáo dục HS theo hình thức dạy học thực tế, là cầu nối giữa hoạt động giảng dạy và học tập trên lớp với giáo dục HS ngoài lớp Các em vận dụng kiến thức học được vào cuộc sống một cách linh hoạt, tránh nhàm chán
Phát huy được tính tích cực, tư duy độc lập sáng tạo cho HS Khai thác tiềm
năng của HS bằng sự nỗ lực của chính bản thân mình Học tập trải nghiệp chú trọng vào việc khai thác những tiềm năng có sẵn, định hình những thói quen, tính cách tốt từ khi còn ngồi trên ghế nhà trường để tạo nền móng vững chắc cho bước phát triển tiếp theo HĐTN không áp đặt HS mà GV chỉ đưa ra những gợi
ý, trợ giúp các em, khuyến khích tối đa sự sáng tạo của HS
Tạo điều kiện kết nối các kiến thức khoa học liên ngành Nội dung HĐTN rất
phong phú và đa dạng, mang tính tổng hợp kiến thức kĩ năng của nhiều môn học, nhiều lĩnh vực học tập và giáo dục như: giáo dục trí tuệ, giáo dục kĩ năng sống, giáo dục đạo dức, giáo dục thẩm mĩ và thể chất… Chính vì vậy, HĐTN trở nên
Trang 32gần gũi, thiết thực với cuộc sống, giúp các em vận dụng vào trong cuộc sống dễ dàng và thuận lợi hơn
Gắn kết các lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường.HĐTN có sức hút
mạnh mẽ, có sự tham gia, phối hợp liên kết với lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường.Tùy thuộc vào nội dung, tính chất của từng hoạt động mà sự tham gia của các lực lượng có thể là trực tiếp hay gián tiếp.Điều này giúp HS có cơ hội giao tiếp rộng rãi với nhiều lực lượng giáo dục, được lĩnh hội các nội dung giáo dục qua nhiều kênh khác nhau với nhiều cách tiếp cận khác nhau.Từ đó, làm tăng tính phong phú, hấp dẫn và hiệu quả của HĐTN
Gắn kết người dạy và người học HĐTN được tổ chức phục vụ quá trình dạy
học đòi hỏi người dạy phải tuân thủ theo phong cách người hỗ trợ, hướng dẫn để giúp người học thu nhận được kiến thức từ những kinh nghiệm thực tế; đồng thời, phải phù hợp với phong cách của người học nhằm phát huy tốt nhất khả năng và sự sáng tạo của người học
Học tập trải nghiệm là mô hình học tập tiên tiến nhằm giúp HS hoàn thiện bản thân mình HĐTN tạo cho người học sự tự tin, hình thành năng lực học tập
cho HS: lập kế hoạch, làm việc nhóm, thu thập và xử lí thông tin, lập báo cáo, thuyết trình, đánh giá và tự đánh giá Từ những giờ học đó, HS sẽ cảm thấy yêu thích môn học và hiểu kiến thức một cách sâu sắc hơn Bên cạnh đó, HĐTN là cơ hội để HS có thể học hỏi lẫn nhau, giúp HS phát huy tính tích cực, tự giác, sáng tạo; giúp các em phát triển các kĩ năng: giao tiếp, hợp tác,…Các tiết học gắn với thực tiễn, HS được trải nghiệm và thực hành giúp cho HS có kinh nghiệm để giải quyết những vấn đề của cuộc sống linh hoạt và hiệu quả hơn
1.1.3 Hoạt động trải nghiệm trong dạy học Ngữ văn ở trường phổ thông
1.1.3.1 Mục tiêu của hoạt động trải nghiệm trong dạy học Ngữ văn ở trường phổ
thông
Xuất phát từ những mục tiêu chung của HĐTN, HĐTN môn Ngữ văn sẽ có các mục tiêu được cụ thể hóa sao cho phù hợp với đặc thù và tăng cường tính khả dụng của môn học:
Trang 33- Giúp học sinh hình thành và phát triển những phẩm chất, tư tưởng, ý chí, tình cảm, giá trị, kĩ năng sống; tiếp tục phát triển các năng lực giao tiếp, năng lực thưởng thức và cảm thụ văn chương, năng lực sáng tạo… Từ đó, tham gia vào giao tiếp văn học và giao tiếp với đời sống một cách hiểu quả hơn
- Giúp học sinh tích lũy kinh nghiệm riêng cũng như phát huy tiềm năng sáng tạo của cá nhân mình; định hướng mỗi cá nhân trở thành một chủ thể tiếp nhận
và sản sinh lời nói một cách tích cực, chủ động, sáng tạo, luôn có ý thức trải nghiệm hành động và trải nghiệm xúc cảm để hình thành nên động cơ, niềm tin, giá trị sống
- Giúp học sinh nâng cao hiểu biết, khả năng cảm thụ cũng như đánh giá cái hay, cái đẹp của văn chương và ngôn từ nghệ thuật; có khả năng trải nghiệm thế giới nghệ thuật trong tác phẩm văn học, biết kết nối những trải nghiệm ấy với trải nghiệm đời sống để thấm sâu sắc hơn giá trị tác phẩm và làm phong phú hơn vốn sống cá nhân, hiểu biết xã hội của bản thân
1.1.3.2.Đặc điểm của hoạt động trải nghiệm môn Ngữ văn ởtrường phổ thông
HĐTN có thể diễn ra trong và ngoài giờ học chính khóa môn Ngữ văn
Về tính chất, HĐTN có nhiệm vụ củng cố, bổ sung và mở rộng kiến thức cho
chương trình chính khóa nên có thể không được qui định cụ thể trong chương trình chính khóa Hoạt động này nhấn mạnh vào tính tự nguyện của cá nhân học
HS hay tập hợp một nhóm có cùng hứng thú, sở thích, mối quan tâm về một vấn
đề nào đó trong nội dung học tập như tác giả, tác phẩm, trào lưu văn học, giai đoạn văn học, quan điểm sáng tác… Việc tổ chức hoạt động lấy xuất phát ban đầu là lòng yêu thích môn học, ham muốn được tìm tòi, sáng tạo, bộc lộ năng khiếu cá nhân của HS tham gia Số lượng HS vì thế không giới hạn Tùy theo điều kiện cụ thể, HĐTN có thể diễn ra trong phạm vi cá nhân, nhóm, lớp, khối lớp hoặc trường
Về vai trò của các đối tượng tham gia, HS là đối tượng chủ yếu và là chủ thể
trực tiếp thực hiện hoạt động, vận dụng hiểu biết và kĩ năng của mình để xử lí các tình huống giao tiếp đã dự kiến hoặc nảy sinh trong thực tiễn GV không trực tiếp tham gia hoạt động cùng HS nhưng sẽ đóng vai trò là người hướng dẫn, tổ chức,
Trang 34tư vấn, đánh giá.Thậm trí, trong nhiều trường hợp, GV có thể là người điều khiển hoạt động, giúp cho hoạt động được thực hiện suôn sẻ, bài bản, đảm bảo tính khoa học và khách quan
Về nội dung, các HĐTN môn Ngữ văn ngoài giờ lên lớp thường có liên quan
trực tiếp đến nội dung môn học trong chương trình chính khóa, phù hợp với đặc điểm tâm sinh lí và sự phát triển tư duy nhận thức của HS tham gia hoạt động Vì thế, chủ đề hoạt động bao giờ cũng có tính sinh động, thực tiễn, gắn bó chặt chẽ với nội dung học tập chính khóa nhưng được phát triển ở mức độ sâu rộng hơn
Về hình thức, HĐTN môn Ngữ văn nhìn chung phong phú, đa dạng Căn cứ
vào điều kiện thời gian, địa điểm, cơ sở vật chất, tình hình người tham gia mà có thể lựa chọn một hình thức tổ chức phù hợp: trò chơi, cuộc thi hiểu biết, hội diễn văn nghệ, tham quan dã ngoại…
Về kiểm tra, đánh giá kết quả các HĐTN môn Ngữ văn, cho điểm cá nhân
không phải cách thức được sử dụng phổ biến Thay vào đó, kết quả dựa trên hiệu quả sản phẩm của hoạt động và đặc biệt là tinh thần tích cực, tự lực sáng tạo, khả năng vận dụng kiến thức, kĩ năng, phát triển năng lực của HS Kết quả này được đánh giá công bằng, công khai, chủ yếu có tính chất động viên, khích lệ kịp thời đối với HS.Ngoài ra, việc đánh giá có thể được thực hiện bởi nhiều đối tượng khác nhau.GV không phải người có quyền lực tuyệt đối trong đánh giá
Như vậy, có thể thấy HĐTN môn Ngữ văn có những đặc điểm riêng, khác biệt so với hoạt động dạy học chính khóa hay bất kì hình thức dạy học trên lớp nào khác Căn cứ vào các đặc điểm này để xây dựng kế hoạch phù hợp, hiệu quả, phát huy vai trò của HS và nâng cao hơn năng lực của các em trong quá trình học tập
1.1.3.3 Các bước tổ chức hoạt động trải nghiệm trong dạy học môn Ngữ văn ở trường phổ thông
Có thể khái quát các bước tổ chức HĐTN trong dạy học Ngữ văn ở trường phổ thông cụ thể như sau:
Sơ đồ 1.1: Các bước tổ chức HĐTN trong dạy học Ngữ văn ở trường PT
Trang 35a Lập kế hoạch hoạt động trải nghiệm
Kế hoạch là sự xác định một cách có căn cứ khoa học các mục tiêu, nội dung, phương pháp và phương tiện để thực hiện có kết quả những nhiệm vụ nhất định Lập kế hoạch tốt sẽ giúp GV, HS bao quát và định hướng thực hiện chương trình hoạt động Quy trình này sẽ bao gồm các bước:
* Bước 1: Lựa chọn và xác định chủ đề hoạt động
Việc lựa chọn và xác định chủ đề hoạt động trải nghiệm môn Ngữ văn đòi hỏi căn cứ vào bài học của từng giai đoạn, từng phân môn cụ thể một cách phù hợp với năng lực HS tại thời điểm hoạt động
* Bước 2: Xác định mục tiêu giáo dục của hoạt động
Mục tiêu giáo dục của hoạt động trải nghiệm môn Ngữ văn tập trung vào cả
ba yếu tố: kiến thức, kĩ năng, thái độ Trong đó:
- Xác định mục tiêu giáo dục của hoạt động
- Xác định nội dung chương trình và hình thức
- Chuẩn bị các điều kiện nguồn lực cho hoạt động
- Công bố hoạt động cho đối tượng tham gia
- Hiện thực hóa kế hoạch:
+ Phân công nhiệm vụ + Thực hiện kế hoạch + Tổng hợp kết quả
- Mục đích đánh giá
- Nội dung và hình thức đánh giá
- Xây dựng tiêu chí đánh giá và thang đánh giá cho hoạt động
Trang 36- Về thái độ:
+ Nâng cao sự hứng thú, say mê với văn chương
+ Bồi dưỡng tình yêu quê hương, đất nước; biết đồng cảm, sẻ chia với cộng đồng, tập thể
* Bước 3: Xác định nội dung chương trình và hình thức hoạt động
Người lập kế hoạch cần liệt kê đầy đủ, chi tiết những nội dung sẽ thực hiện trong hoạt động trải nghiệm cũng như lựa chọn hình thức tổ chức hoạt động tương ứng.Chú ý nội dung, hình thức này phải gắn liền với những mục tiêu đã đề xuất ban đầu
* Bước 4: Chuẩn bị các điều kiện, nguồn lực cho hoạt động
Tuy GV và HS cùng tham gia chuẩn bị nhưng nhìn chung, GV vẫn nắm trọng số trong công tác này Để việc chuẩn bị được chu đáo, GV cần dự đoán được một số vấn đề sau:
- Đối tượng tham gia buổi hoạt động trải nghiệm: thành phần, số lượng, chức năng, nhiệm vụ
- Quy định của các hoạt động trải nghiệm: giờ giấc, ý thức kỉ luật, hình thức khen thưởng
- Thời gian, địa điểm tổ chức và tổng kết; các phương án dự phòng (nếu có)
- Kinh phí tổ chức: nguồn kinh phí, phân bố kinh phí cho từng nội dung
- Tiến trình hoạt động: trình tự, nội dung, thời lượng cụ thể của các hoạt động
- Cơ sở vật chất: chuẩn bị âm thanh, ánh sáng, phông màn, máy chiếu…
- Phương án vệ sinh sau buổi ngoài giờ lên lớp
Trang 37* Bước 5: Công bố hoạt động cho đối tượng tham gia
Ban tổ chức công bố kế hoạch chi tiết buổi hoạt động trải nghiệm để các đối tượng tham gia nắm được chủ đề, nội dung, hình thức, thời gian, địa điểm thực
hiện cũng như trách nhiệm của từng cá nhân
Căn cứ vào các thao tác thực hiện như trên, người lập có thể linh hoạt văn bản hóa kế hoạch sao cho phù hợp với đối tượng tiếp nhận và nội dung hoạt động
b Tổ chức thực hiện kế hoạch hoạt động trải nghiệm
Tổ chức thực hiện kế hoạch hoạt động trải nghiệm về bản chất là chuyển những đề xuất đã nêu từ dạng ý tưởng trở thành hành vi cụ thể, gắn lí thuyết với thực tiễn và dùng thực tiễn để kiểm nghiệm cho lí thuyết
Trong quá trình tổ chức, GV đôi khi có thể hướng dẫn, điều khiển, tác động
để từng giai đoạn được hoàn thành hiệu quả hơn nhưng chủ yếu chỉ đóng vai trò
là người quan sát, chiêm nghiệm hoạt động.Theo một số nhà nghiên cứu, chiêm nghiệm được xem là phẩm chất thiết yếu, có tính bắt buộc đối với GV và nhờ đó
mà GV điều chỉnh vai trò của mình
c Đánh giá việc tổ chức hoạt động trải nghiệm
* Mục đích của việc đánh giá
Đánh giá việc thực hiện hoạt động trải nghiệm là công tác quan trọng nhằm hướng đến những mục đích cụ thể sau:
Thứ nhất, về phía GV, đánh giá giúp GV có cơ sở điều chỉnh, đổi mới
phương pháp, hình thức tổ chức thực hiện cho phù hợp và đạt hiệu quả hơn; kịp thời phát hiện, bồi dưỡng những nhân tố mới, tích cực tham vào hoạt động; qua
đó, nâng cao chất lượng của hoạt động trải nghiệm ở các chương trình tiếp theo
Thứ hai, về phía HS, đánh giá hướng đến cả hai phương diện: cho HS tham
gia đánh giá và tự đánh giá; giúp HS nhận ra những ưu – nhược điểm của bản thân trong quá trình tổ chức chương trình, thực hiện hoạt động, những điểm mạnh – yếu trong kĩ năng mềm; nhờ vậy, thúc đẩy việc học tập và rèn luyện của các em
* Nội dung và hình thức đánh giá
Trang 38Quan niệm đúng về ý nghĩa của hoạt động trải nghiệm trong chương trình giáo dục nói chung, môn Ngữ văn nói riêng là một cơ sở quan trọng để có quan niệm đúng về nội dung và hình thức đánh giá Nhìn chung, đánh giá việc thực hiện hoạt động trải nghiệm của HS chủ yếu tập trung vào đánh giá tinh thần, thái
độ, kĩ năng, hành vi Kiến thức là yếu tố cần thiết để xây dựng nên nội dung hoạt động nhưng không phải đích đến Đó chỉ là một kênh phục vụ cho quá trình, góp phần kiểm tra năng lực HS xuyên suốt thời gian học tập Xét đến cùng, hoạt động trải nghiệm chú trọng vào việc thu hút HS tham gia, hòa nhập cùng tập thể và
phát triển các kĩ năng, kĩ xảo cần thiết phục vụ cho học tập, đời sống
Như vậy, chúng ta sẽ đánh giá việc thực hiện hoạt động trải nghiệm theo cả hai hình thức là đánh giá quá trình và đánh giá tổng kết Trong toàn bộ quá trình,
cả GV và HS đều phải tham gia đánh giá và tùy theo vị thế, vai trò của mình thì mỗi đối tượng có những đích đánh giá khác nhau Về phía GV: tập trung đánh giá bốn yếu tố gồm kế hoạch, quá trình tổ chức, kết quả hoạt động và HS tham gia Ở từng chương trình cụ thể, GV lựa chọn để xem xét đánh giá một số vấn đề:
- Đối với việc đánh giá kế hoạch:
+ Nội dung, hình thức phù hợp với chủ đề được lựa chọn
+ Mức độ khả thi
+ Tính chi tiết, cụ thể
- Đối với việc đánh giá quá trình tổ chức:
+ Khả năng hoàn thành nhiệm vụ đúng tiến độ
+ Tinh thần hợp tác của cá nhân
+ Sự linh hoạt trong giải quyết vấn đề
- Đối với kết quả hoạt động:
+ Kết quả đáp ứng được mục tiêu đề xuất ban đầu
+ Kết quả đạt được sát thực với kế hoạch đề ra
- Đối với học sinh:
+ Kĩ năng quản lí thời gian để hoàn thành nhiệm vụ
+ Tính tích cực, chủ động trong khi thực hiện nhiệm vụ
+ Khả năng hợp tác với tập thể trong tổ chức hoạt động
Trang 39+ Tinh thần trách nhiệm với hoạt động
+ Mức độ hứng thú, nhiệt tình
+ Khả năng vận dụng lí thuyết vào thực tiễn; trình bày ý tưởng, suy nghĩ về một vấn đề lí thuyết/thực tiễn
+ Sự linh hoạt trong vận dụng kĩ năng
Về phía HS, các em một mặt chủ động tham gia vào chương trình, mặt khác cũng cần có sự tự đánh giá, rút kinh nghiệm để có được kinh nghiệm quý báu, nhận ra ưu – nhược điểm của bản thân và các HS khác
* Xây dựng tiêu chí đánh giá và thang đánh giá hoạt động
Để đảm bảo tính khách quan, công bằng và khả thi, việc đánh giá HĐTN cần dựa trên những tiêu chí đánh giá và thang đánh giá cụ thể Về cơ bản, các tiêu chí được lựa chọn nên là những tiêu chí cơ bản nhất, có thể quan sát và lượng hóa được trong một thời gian ngắn, phù hợp với khả năng thực hiện của HS
Tùy theo tính chất từng hoạt động, GV có thể xây dựng những tiêu chí đánh giá và thang đánh giá đặc thù khác nhau Lưu ý chung là việc đánh giá không nhằm cho điểm hay “phán xét” kết quả, HS; vì thế, các tiêu chí đánh giá cần nhấn mạnh vào mức độ hoàn thành nhiệm vụ, được xét theo tiêu chí Tốt/Khá/Đạt yêu cầu/Chưa đạt yêu cầu có tính chất khích lệ, động viên tinh thần người tham gia
d Một số những lưu ý
Trong khi lập kế hoạch, người tổ chức thường dễ bỏ sót các yếu tố cần và đủ,
khiến cho kế hoạch trở nên không rõ ràng ở một số vấn đề quan trọng Để tránh tình trạng này, người tổ chức nên ghi nhớ sáu yếu tố cần phải giải đáp: nội dung, hình thức, phương pháp, phương tiện, thời gian, nguồn lực Có thể sử dụng các kĩ thuật dạy học tích cực giúp hiện thực hóa hoạt động như: kĩ thuật chia nhóm, kĩ thuật giao nhiệm vụ, kĩ thuật đặt câu hỏi 5W + H, kĩ thuật bản đồ tư duy…
Trong khi tổ chức thực hiện hoạt động trải nghiệm, dễ nhận thấy có sự vênh
lệch nhất định giữa kế hoạch và thực tiễn triển khai.Điều này đồng thời còn xảy
ra trong trường hợp cùng một bản kế hoạch nhưng có nhiều cá nhân/nhóm thực hiện khác nhau Độ chênh xuất phát từ nhiều nguyên nhân và cũng phản ánh nhiều thực trạng:
Trang 40- Người lập kế hoạch chưa dự đoán được hết các nguồn lực cần huy động trong quá trình tổ chức như đối tượng tham gia, thời gian tiến hành, nội dung và phương pháp thực hiện, phương tiện hỗ trợ… dẫn tới tình trạng bản kế hoạch (lí thuyết) không phù hợp với điều kiện cụ thể (thực tiễn)
- Vai trò của mỗi cá nhân trong quá trình tổ chức chưa được phát huy triệt để khiến hoạt động bị gián đoạn, chậm trễ, kém hấp dẫn… nên không đạt được hiệu quả như mong muốn
- Một số yếu tố khách quan có thể bất ngờ nảy sinh trong khi tổ chức hoạt động
Vì thế, trong quá trình tổ chức thực hiện hoạt động ngoài trải nghiệm, bản thân người GV nên có sự quan sát, chiêm nghiệm thấu đáo, kết hợp với phần đánh giá tổng kết cuối cùng để rút ra các kinh nghiệm thực tiễn cho mình
Trong khi xây dựng các tiêu chí đánh giá, người thực hiện có thể gặp phải
một số hạn chế sau:
- Chưa xác định được các tiêu chí đánh giá cần và đủ trong một phiếu đánh giá hoạt động Vì hoạt động trải nghiệm giúp hỗ trợ cả kiến thức, kĩ năng, thái độ, qua đó, hình thành và bồi dưỡng năng lực cho HS nên khi xây dựng phiếu, người thực hiện cần quan tâm tới tất cả các yếu tố này và đưa và thành tiêu chí cụ thể
- Trong một tiêu chí cụ thể, từ ngữ thể hiện mức độ đánh giá chưa cho thấy sự phân định rõ ràng về mặt ý nghĩa, khiến cho sự khác biệt giữa các mức độ: Tốt, Khá, Đạt yêu cầu, Chưa đạt yêu cầu chưa rõ ràng, gây lúng túng cho người thực hiện
- Phiếu tự đánh giá về bản chất là do HS xây dựng nhưng xét đến cùng, vẫn cần sự hỗ trợ, định hướng từ GV Cần thiết đối sánh phiếu đánh giá của HS để thấy mối liên hệ giữa các nội dung đánh giá Như vậy mới giúp mang đến cái nhìn đa chiều, khoa học về đối tượng
1.1.3.4.Ý nghĩa của việc thực hiện hoạt động trải nghiệm trong dạy học Ngữ văn
ở nhà trường phổ thông
HĐTN môn Ngữ văn phát huy tác dụng trong việc nâng cao hiệu quả dạy học môn Ngữ văn ở nhà trường phổ thông, kết nối văn học với đời sống một cách