Hệ quy chiếu = Hệ tọa độ gắn với vật mốc + đồng hồ và gốc thời gian - Hệ quy chiếu quán tính còn gọi là hệ quy chiếu Galilê Là hệ quy chiếu trong đó định luật quán tính nghiệm đúng vật
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Tôi xin chân thành bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS.TS Phạm Kim
Chung, PGS.TS Lê Thị Thu Hiền - Hai thầy cô đã tận tình hướng dẫn, động viên
và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và thực hiện luận văn
Xin chân thành cảm ơn các thầy cô Trường Đại học Giáo dục đã tận tình
giảng dạy, giúp đỡ và đưa ra nhiều ý kiến quý báu về mặt chuyên môn trong quá
trình tôi nghiên cứu và hoàn thành luận văn
Xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu, trường Đại học Trường Đại học
Giáo dục đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt quá trình học tập và
làm luận văn
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới các bạn đã giúp đỡ, động viên tôi
rất nhiều trong quá trình thực hiện luận văn
Hà Nội, tháng 5 năm 2018
Tác giả
Vũ Thùy Dương
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 2
3 Nhiệm vụ nghiên cứu 2
4 Cấu trúc khóa luận 3
CHƯƠNG 1 4
CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI 4
1.1 Phân tích nội dung CT PT phần Động học chất điểm 4
1.1.1 Nội dung kiến thức cơ bản phần Động học chất điểm 4
1.1.2 Những yêu cầu của chương trình giáo dục phổ thông mới 17
1.2 Phân tích logic hình thành kiến thức 20
CHƯƠNG 2 24
THIẾT KẾ CÁC THÍ NGHIỆM PHẦN ĐỘNG HỌC CHẤT ĐIỂM 24
2.1 Thí nghiệm khảo sát bài Chuyển động thẳng đều 24
2.2 Thí nghiệm khảo sát chuyển động thẳng biến đổi đều 28
2.3 Thí nghiệm khảo sát sự rơi tự do của các vật 30
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ THÍ NGHIỆM 33
3.1 Thí nghiệm khảo sát chuyển động thẳng 33
3.2 Thí nghiệm biểu diễn chuyển động thẳng biến đổi đều 34
3.3 Thí nghiệm khảo sát sự rơi tự do 35
KẾT LUẬN 36
TÀI LIỆU THAM KHẢO 38
Trang 5có sự đổi mới một cách toàn diện về mục tiêu, nội dung và phương pháp dạy học (PPDH) theo hướng phát huy tính tích cực (TTC), tự lực và sáng tạo của học sinh (HS) Mục tiêu của giáo dục phổ thông hướng tới là dạy học (DH) phải phát huy được TTC, tự giác, chủ động và sáng tạo của HS Điều đó đã được cụ thể hóa tại điều 28 của Luật Giáo Dục (2005): “Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh; phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, khả năng làm việc theo nhóm; rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn; tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh” Thực trạng DHVL ở các trường phổ hiện nay cho thấy, việc giảng dạy kiến thức vật lí cho HS vẫn còn mang nặng thuyết trình, truyền thụ kiến thức một chiều, người dạy chỉ chú trọng giảng giải, minh họa và thông báo kiến thức có sẵn, còn HS chỉ ngồi nghe, tiếp thu kiến thức và ghi nhớ một cách thụ động, vẫn chưa chú trọng khai thác các phương tiện DH và thí nghiệm (TN) trong DH Do đó để nâng cao chất lượng giáo dục nhằm đào tạo thế hệ HS trở thành những người lao động mới đáp ứng nguồn nhân lực cho sự nghiệp phát triển đất nước thì tại Hội nghị lần thứ 8, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI (Nghị quyết số 29-NQ/TW) về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa – hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế Nghị quyết đã chỉ rõ: “Tiếp tục đổi mới mạnh
Trang 62
mẽ phương pháp dạy và học theo hướng hiện đại; phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và vận dụng kiến thức, kỹ năng của người học; khắc phục lối truyền thụ áp đặt một chiều, ghi nhớ máy móc Tập trung dạy cách học, cách nghĩ, khuyến khích tự học, tạo cơ sở để người học tự cập nhật và đổi mới tri thức, kỹ năng, phát triển năng lực…” Nghị quyết cũng đã chỉ rõ trong quá trình giáo dục phải phát huy TTC, chủ động và sáng tạo của HS, HS phải là chủ thể tích cực của quá trình nhận thức và chủ động trong việc chiếm lĩnh tri thức Vật
lí là một môn khoa học thực nghiệm, các kiến thức vật lí đều được rút ra từ những quan sát và TN Những định luật hay thuyết vật lí cũng chỉ trở thành kiến thức vật lí khi được thực nghiệm kiểm chứng Bởi vậy, trong dạy học vật lí (DHVL) ở trường phổ thông TN luôn giữ một vai trò hết sức quan trọng, có tác dụng to lớn trong việc nâng cao chất lượng chiếm lĩnh kiến thức, kĩ năng của
HS Mặt khác, sự cần thiết của TN trong DHVL ở trường phổ thông còn được quy định bởi quy luật nhận thức chung của con người mà Lênin đã chỉ ra: “Từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng và từ tư duy trừu tượng đến trực quan sinh động” Chương Động học chất điểm vật lí 10 nâng cao là phần tương đối khó, các hiện tượng có tính trừu tượng, vì vậy cần phải được trực quan hóa trong quá trình dạy học (QTDH) Tuy nhiên, các thiết bị thí nghiệm (TBTN) ở phần này ở một số trường phổ thông còn hạn chế, do đó để góp phần nâng cao hiệu quả DH phần này tôi đã lựa chọn nghiên cứu đề tài: Thiết kế thí nghiệm và xây dựng video hướng dẫn thực hàn thí nghiệm vật lí ở trường THPT – phần Động học chất điểm
2 Mục đích nghiên cứu
Xây dựng các thí nghiệm phần Động học chất điểm sử dụng dạy học ở phổ thông theo chương trình phổ thông mới
3 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích đề ra, đề tài có những nhiệm vụ sau:
- Nghiên cứu chương trình giáo dục phổ thông mới môn Vật lí phần Động học chất điểm để xây dựng thí nghiệm
Trang 73
- Nghiên cứu các thiết bị thí nghiệm để đề xuất tiến hành các thí nghiệm vật
lí nhằm phat huy tính tích cực của học sinh
- Xây dựng video thí nghiệm phần Động học chất điểm
4 Cấu trúc khóa luận
Mở đầu
Chương 1: Cơ sở lí luận của đề tài
Chương 2: Thiết kế các thí nghiệm phần Động học chất điểm
Chương 3: Kết quả thí nghiệm
Kết luận
Tài liệu tham khảo
Trang 8Sách giáo khoa nâng cao đưa ra một số hình ảnh chuyển động thực tế, từ
đó trình bày khái niệm: Chuyển động cơ là sự dời chỗ của vật theo thời gian
Trang 9Hệ quy chiếu là một khái niệm không thể thiếu khi khảo sát chuyển động
cơ học Việc chọn hệ quy chiếu là công việc quan trọng đầu tiên để giải một bài toán cơ học Chọn hệ quy chiếu thích hợp có thể làm cho việc giải bài toán trở nên đơn giản rất nhiều
• Vật mốc
Vật mốc là vật mà ta chọn (cùng với một hệ tọa độ) dùng để xác định vị trí của một vật khác trong không gian và thời gian
Hệ quy chiếu = Hệ tọa độ gắn với vật mốc + đồng hồ và gốc thời gian
- Hệ quy chiếu quán tính (còn gọi là hệ quy chiếu Galilê)
Là hệ quy chiếu trong đó định luật quán tính nghiệm đúng (vật không chịu tác dụng của lực nào hoặc chịu tác dụng của các lực cân bằng thì chuyển động thẳng đều hoặc đứng yên) Hệ quy chiếu lấy Mặt trời làm gốc, ba trục toạ độ hướng về ba ngôi sao cố định (hệ Côpecnic) là một hệ quy chiếu quán tính Một
Trang 106
hệ quy chiếu chuyển động thẳng đều so với hệ quy chiếu quán tính là hệ quy chiếu quán tính Như vậy, có vô số hệ quy chiếu quán tính
- Hệ quy chiếu không quán tính
Là hệ quy chiếu chuyển động có gia tốc với hệ quy chiếu quán tính Hệ quy chiếu gắn với trái đất là không quán tính, nhưng nếu khảo sát chuyển động
trong khoảng thời gian ngắn thì có thể coi nó là hệ quy chiếu quán tính
• Tính tương đối của chuyển động
Vị trí và vận tốc của cùng một vật tùy thuộc hệ quy chiếu Vị trí và vận
tốc của một vật có tính tương đối
• Sai số
- Sai số hệ thống
Sự sai lệch này, do chính đặc điểm cấu tạo của dụng cụ đo gây ra, gọi là
sai số dụng cụ Giả sử một vật có độ dài thực là l = 32.7 mm Dùng một thước
đo có độ chia nhỏ nhất là 1mm để đo l, ta chỉ có thể xác định được l có giá trị nằm trong khoảng giữa 32mm và 33mm, còn phần lẻ không thể đọc được trên thước đo
- Sai số ngẫu nhiên
Lặp lại phép đo thời gian rơi tự do đo quả cùng một vật giữa hai điểm A,B
ta nhận được các giá trị khác nhau Sự sai lệch này không có nguyên nhân rõ dàng, có thể do hạn chế về khả năng giác quan của con người dẫn đến thao tác
đo không chuẩn, hoặc đo điều kiện làm thí nghiệm không ổn định, chịu tác động
của các yếu tố ngấu nhiên bên ngoài… Sai số gây ra trong trường hợp này gọi
là sai số ngẫu nhiên
• Giá trị trung bình
Sai số ngẫu nhiên làm cho kết quả phép đo trở nên kém tin cậy để khắc phục người ta lặp lại phép đo nhiều lần Khi đo n lần cùng một đại lượng A’ ta nhận được các giá trị khác nhau: A1, A2,…, An
Trang 117
Giá trị trung bình được tính:
sẽ là giá trị gần đúng nhất với giá trị thực của đại lượng
• Cách xác định sai số của phép đo
- Trị tuyệt đối của hiệu số giữa các giá trị trung bình và giá trị của mỗi
lần đo gọi là sai số tuyệt đối, ứng với lần đo đó
Chú ý rằng, trong (*) các kí hiệu được dùng để chỉ các sai
số tuyệt đối, chúng là những đại lượng không âm Cần phân biệt các đại lượng
đó với các gia số thường dùng trong đại số:
Gia số có thể dương hoặc âm
- Sai số tuyệt đối của phép đo là tổng sai số ngẫu nhiên và sai số dụng cụ:
- Trong đó sai số dụng cụ thông thường có thể lấy bằng nửa hoặc một độ chia nhỏ nhất trên dụng cụ cho một số dụng cụ đo có cấu tạo phức tạp, ví dụ đồng hồ đo điện đa năng hiện số, sai số dụng cụ được tính theo một công thức do nhà sản xuất quy định
• Cách viết kết quả đo
Người ta diễn tả cách viết trên bằng công thức
Trang 12Sai số tỉ đối càng nhỏ thì phép đo càng chính xác
• Cách xác định sai số của phép đo gián tiếp
Để xác định sai số của phép đo gián tiếp chúng ta có thể vận dụng quy tắc sau đây:
- Sai số tuyệt đối của một tổng hay hiệu thì bằng tổng các sai số tuyệt đối của các số hạng
- Sai số tỉ đối của một tích hay thương thì bằng tổng các sai số tỉ đối của các thừa số
, r là vectơ độ dời của chất điểm
Vectơ vận tốc trung bình có hướng trùng với vectơ độ dời và biểu thị sự thay đổi vị trí của chất điểm trong khoảng thời gian t
Trang 13Vận tốc tức thời của của một chuyển động là vận tốc của nó tại một thời
điểm nào đó trên quỹ đạo của chuyển động của nó
Việc xác định vận tốc của chất điểm tại một thời điểm bất kỳ trên quỹ đạo lại có ý nghĩa hơn vận tốc trung bình, vì đó mới là vận tốc thực của chuyển
động
Để có biểu thức tính vận tốc tức thời ta có nhận xét như sau: nếu Δt → 0 thì M2 →M1 và do đó vtb→vt Nghĩa là vận tốc trung bình trên đoạn đường ngắn
M1M2 được xem là vận tốc tại điểm M1 hay vt Nói như vậy có nghĩa là:
Vận tốc tức thời của một chất điểm tại một thời điểm nào đó trên quỹ đạo bằng đạo hàm bậc nhất của bán kính vectơ tại điểm đó Vectơ vận tốc có độ lớn
Trang 1410
bằng độ lớn của vận tốc, có phương là phương của tiếp tuyến tại điểm đang xét,
có chiều là chiều của chuyển động
những người quan sát khác nhau, vận tốc có thể nhận các giá trị khác nhau đối
với các hệ quy chiếu khác nhau
Để "chuyển đổi" vận tốc từ hệ quy chiếu này sang hệ quy chiếu khác, người ta sử dụng phép cộng vận tốc
Trong cơ học cổ điển, công thức cộng vận tốc đơn giản là phép cộng véctơ:
Như vậy, vận tốc của một vật A đối với hệ quy chiếu B bằng vận tốc của
A đối với một hệ quy chiếu trung gian C cộng với vận tốc của hệ quy chiếu trung gian đó đối với hệ quy chiếu B
• Gia tốc
Gia tốc là một đại lượng đặc trưng cho sự biến thiên của vectơ vận tốc
- Gia tốc trung bình
Xét một chất điểm chuyển động trong mặt phẳng Giả sử tại thời điểm t0
chất điểm có vận tốc v0, tại tời điểm t1 chất điểm có vận tốc v1 Gia tốc trung
bình của chất điểm là:
Trang 15v a
Gia tốc là một đại lượng vectơ, nghĩa là giá trị của nó sẽ là một giá trị đại
số Vậy dấu của gia tốc cho biết điều gì? Dấu của gia tốc cho biết chất điểm chuyển động nhanh dần hay chậm dần Khi gia tốc cùng dấu với vận tốc thì có nghĩa là chất điểm chuyển động nhanh dần và ngược lại nếu gia tốc ngược dấu với vận tốc thì có nghĩa chất điểm chuyển động chậm dần
Gia tốc đặc trưng cho sự biến thiên của vận tốc cả về độ lớn lẫn hướng Trong trường hợp tổng quát, ta có thể phân tích vectơ gia tốc thành hai thành phần Một thành phần chỉ đặc trưng cho sự biến đổi về độ lớn của vận tốc Còn một thành phần chỉ đặc trưng cho sự biến đổi về hướng của vận tốc (gia tốc tiếp tuyến và gia tốc pháp tuyến)
c Các dạng chuyển động
• Chuyển động thẳng
- Chuyển động thẳng đều
Chuyển động thẳng đều là chuyển động thẳng, trong đó chất điểm có vận
tốc tức thời không đổi
Như vậy, quỹ đạo của chất điểm trong chuyển động thẳng đều có dạng là một đường thẳng và vận tốc của chất điểm không thay đổi cả về phương, chiều
và độ lớn theo thời gian
Trong chuyển động thẳng đều thì vận tốc tức thời và vận tốc trung bình có
giá trị như nhau
Định nghĩa vận tốc theo độ dời sẽ dẫn đến phương trình chuyển động
Trang 1612
t
x v
Như vậy, tọa độ là một hàm bậc nhất của thời gian
- Chuyển động thẳng biến đổi đều
Chuyển động thẳng biến đổi đều là chuyển động thẳng, trong đó gia tốc tức thời không đổi
Trong chuyển động thẳng biến đổi đều, độ lớn của vận tốc tức thời tăng đều hoặc giảm đều theo thời gian
Chuyển động thẳng có độ lớn vận tốc tức thời tăng đều theo thời gian được gọi là chuyển động thẳng nhanh dần đều
Chuyển động thẳng có độ lớn vận tốc tức thời giảm đều theo thời gian được gọi là chuyển động thẳng chậm dần đều
Ví dụ: Chuyển động của một vật được ném lên cao theo phương thẳng đứng Trong giai đoạn đầu đi lên vật chuyển động chậm dần đều, giai đoạn sau rơi xuống thì vật chuyển động thẳng nhanh dần đều
Vì gia tốc là đại lượng đặc trưng cho sự biến đổi của vận tốc Do đó, tính chất nhanh dần hay chậm dần của chuyển động phụ thuộc vào mối tương quan giữa dấu của vận tốc và gia tốc Khi vận tốc và gia tốc cùng dấu thì chuyển động
là nhanh dần, khi vận tốc và gia tốc trái dấu thì chuyển động là chậm dần
Vì trong chuyển động thẳng biến đổi đều, gia tốc của chất điểm không đổi theo thời gian nên ta có thể xác định vận tốc tức thời của chất điểm ở từng thời điểm dựa vào công thức sau
)
0 0
0
t t a v v t t
v v
Trang 1713
v =v0 +at
Như vậy vận tốc là hàm bậc nhất của thời gian, giá trị đại số của vận tốc cho ta biết chiều chuyển động của chất điểm ở thời điểm đó là cùng chiều hay ngược chiều trục tọa độ Nếu giá trị đại số của vận tố là dương thì có nghĩa là chất điểm chuyển động theo chiều dương của trục tọa độ Ngược lại giá trị đại số của vận tốc là âm có nghĩa là chất điểm chuyển động ngược chiều trục tọa độ
Ta hãy xét khi náo chất điểm chuyển động nhanh dần, khi nào chất điểm chuyển động chậm dần
Từ công thức trên ta thấy nếu vận tốc và gia tốc của chất điểm trái dấu nhau thì tốc độ của chất điểm sẽ giảm dần trong quá trình chuyển động Nghĩa là chất điểm chuyển động chậm dần đều Còn ngược lại nếu vận tốc và gia tốc của chất điểm cùng dấu thì chất điểm chuyển động nhanh dần đều
Thiết lập phương trình của chuyển động thẳng biến đổi đều tương tự như trong chuyển động thẳng đều, khi đó độ dời của chất điểm chuyển động thẳng biến đổi đều có thể xác định bằng diện tích hình tạo bởi đồ thị vận tốc-thời gian của chuyển động, hai trục tọa độ và đường thẳng xác định thời điểm t
Hoặc có thể sử dụng công thức vận tốc, vì vận tốc là hàm bậc nhất của thời gian nên khi chất điểm thực hiện độ dời x-xo trong khoảng thời gian t thì độ dời này bằng độ dời của chất điểm chuyển động thẳng đều với vận tốc trung bình bằng trung bình cộng của vận tốc đầu và vận tốc cuối
Từ đó ta có
2 0
0
2
1
at t v x
x− = +
2 0
0
2
1
at t v x
x= + +
Đây là phương trình chuyển động của chuyển động thẳng biến đổi đều, từ phương trình này ta hoàn toàn có thể xác định được vị trí của chất điểm ở mọi thời điểm nếu cho trước vận tốc ban đầu và gia tốc của chất điểm
Trang 1814
Nếu chuyển chất điểm chuyển động một chiều thì quãng dường vật đi được trùng với độ dời của vật nên ta có công thức xác định đường đi của vật chuyển động thẳng biến đổi đều một chiều như sau
2 0
2
1
at t v
s= +
Các công thức của chuyển động thẳng biến đổi đều có chứa đại lượng thời gian t Trong trường hợp bài toán không liên quan đến thời gian thì chúng ta
phải tìm một mối liên hệ giữa các đại lượng khác độc lập với thời gian
Thông thường, các bài toán cho chúng ta biết ba trong số các đại lượng s,
so, v, vo, a và yêu cầu chúng ta xác định một đại lượng chưa biết Để giải được bài toán chúng ta phải tìm được mối liên hệ giữa ba đại lượng đã cho với đại lượng thứ tư chưa biết Mối liên hệ đó nằm trong các công thức đã biết về gia tốc, vận tốc tức thời, độ dời hay quãng đường dịch chuyển
Từ công thức
1 )
( 2
0 0
a
v v v v x t v v
Vật chuyển động nhanh dần đều không vận tốc đầu thì 2as = v02
Vật chuyển động chậm dần đều cho đến khi dừng lại thì 2as = - v02
- Sự rơi tự do
Sự rơi tự do là trường hợp điển hình của chuyển động thẳng nhanh dần đều
Trang 1915
Thoạt đầu, người ta cứ nghĩ vật nặng rơi nhanh hơn vật nhẹ (hòn đá rơi nhanh hơn cái lông gà) Nhận xét này có từ thời cổ xưa, chính Aristôt cũng đã phạm phải sai lầm đó Cho đến tận cuối thế kỉ XVI, Galilê – nhà vật lý thiên tài người Ý, bằng những thí nghiệm ở tháp nghiêng Piza đã chứng minh các vật thực ra rơi nhanh như nhau nếu sức cản của không khí đối với chúng không đáng kể
Sau Galilê, nhờ kĩ thuật tạo chân không, Niutơn đã nghiên cứu sự rơi của các vật trong một ống thuỷ tinh đã được rút hết không khí (gọi là ống Niu tơn) Trong ống đó, người ta cho vào những vật nặng nhẹ khác nhau, chẳng hạn viên chì và cái lông gà Bằng phương pháp hoạt nghiệm người ta người ta chụp được ảnh của những vật rơi trên cùng một phim trong những thời điểm khác nhau, cách nhau một khoảng thời gian nhất định Bức ảnh cho thấy các vật rơi nhanh như nhau trong ống Niutơn
Vậy, sự rơi của các vật chỉ chịu tác dụng của Trái đất với vận tốc ban
đầu bằng không được gọi là sự rơi tự do
Gia tốc trong chuyển động rơi tự do (g) được gọi là gia tốc rơi tự do Gia tốc này phụ thuộc vào vĩ độ và độ cao, nhưng sự phụ thuộc này rất ít Tại các cực gia tốc rơi tự do gần bằng 9,8721m/s2, tại xích đạo gần bằng 9,7805m/s2
Những vật thả rơi ở gần mặt đất và sức cản không khí đối với chúng không đáng kể có thể coi là những vật rơi tự do
Nếu chọn trục toạ độ là một trục thẳng đứng hướng xuống có gốc tại vị trí ban đầu của vật thì vận tốc v và đường đi h có thể tính bằng công thức sau:
v = gt
h = gt2/2 Phương trình trên chính là phương trình đường đi của chuyển động rơi tự
do Phương trình chuyển động của chất điểm trong rơi tự do có dạng giống như trong chuyển động thẳng biến đổi đều, chỉ thay gia tốc a bằng gia tốc rơi tự do g:
x = x0 + v0 + gt2/2
Trang 2016
- Chuyển động tròn đều
Một chất điểm chuyển động tròn đều là chất điểm chuyển động trên quỹ đạo tròn có tốc độ trung bình trên mọi cung tròn là như nhau
Chúng ta cần lưu ý rằng, trong chuyển động tròn đều tốc độ của chất điểm
là không đổi còn vận tốc của chất điểm thì lại thay đổi liên tục về phương Do
đó chuyển động tròn đều là chuyển động có gia tốc
Chu kỳ T là khoảng thời gian để chất điểm chuyển động tròn đều đi hết một vòng trên đường tròn:
v
R
T 2
=
trong đó R là bán kính quỹ đạo và v là tốc độ dài của chất điểm
Tần số f của chuyển động tròn đều là đại lượng đo bằng số vòng mà chất điểm đi được trong 1 giây
Tốc độ góc là đại lượng đo bằng thương số giữa góc mà bán kính nối chất điểm với tâm quỹ đạo quét được trong khoảng thời gian t và khoảng thời gian
ấy Ký hiệu tốc độ góc là Đơn vị tính là rad/s
Công thức tính tốc độ góc
v t R
Trang 2117
Gia tốc trong chuyển động tròn đều hướng vào tâm của quỹ đạo và đặc trưng cho sự thay đổi về phương của vận tốc tức thời của chất điểm gọi là gia tốc hướng tâm
Độ lớn của gia tốc hướng tâm được tính như sau:
t a R
t v
ht ht
1.1.2 Những yêu cầu của chương trình giáo dục phổ thông mới
1.1.2.1 Yêu cầu chung
Thông qua chương trình môn Vật lí, học sinh hình thành và phát triển được thế giới quan khoa học; rèn luyện được sự tự tin, trung thực, khách quan; cảm nhận được vẻ đẹp của thiên nhiên; yêu thiên nhiên, tự hào về thiên nhiên của quê hương, đất nước; tôn trọng các quy luật của thiên nhiên, trân trọng, giữ gìn và bảo vệ thiên nhiên, ứng xử với thiên nhiên phù hợp với yêu cầu phát triển bền vững; đồng thời hình thành và phát triển được các năng lực tự chủ và tự học, giao tiếp và hợp tác, giải quyết vấn đề và sáng tạo
Đặc biệt, học sinh hình thành và phát triển được năng lực tìm hiểu thế giới
tự nhiên, cụ thể là năng lực vật lí, bao gồm các thành phần sau:
a Nhận thức kiến thức vật lí