1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thiết kế bài giảng điện tử bài 5 protein chương 1 sinh học 10 nhằm phát huy năng lực tự học của học sinh

87 8 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 87
Dung lượng 1,98 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Một số e-book đã xuất bản có nội dung sách giáo khoa cũ, chưa chú ý đến nội dung luyện tập cho học sinh, chưa hướng dẫn học sinh cách tự học… Từ những lý do trên, để góp phần nâng cao ch

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Thị Thúy Quỳnh

Sinh viên thực hiện: Nguyễn Thị Tâm

Hà Nội – 2018

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Trong suốt thời gian thực hiện nghiên cứu, tôi được rất nhiều sự quan tâm, giúp đỡ, động viên Vì vậy, tôi xin chân thành cảm ơn những người đã dõi theo, sát cánh bên tôi

Trước tiên, tôi xin cảm ơn ban giám hiệu trường Đại học Giáo Dục – Đại học Quốc gia Hà Nội đã tạo điều kiện thuận lợi để hoàn thành nghiên cứu

Đặc biệt, tôi xin chân thành cảm ơn TS Nguyễn Thị Thúy Quỳnh, người đã đưa ra những định hướng sáng suốt, không quản ngại khó khăn về thời gian và công sức tận tình giúp đỡ tôi hoàn thành nghiên cứu này

Xin gửi lời cảm ơn tới quý thầy cô giáo và các em học sinh trường phổ thông liên cấp Olympia và nhiều trường THPT đã có nhiều giúp đỡ trong quá trình thực nghiệm đề tài

Cuối cùng, tôi xin cảm ơn gia đình, bạn bè và đồng nghiệp đã khích lệ, động viên tôi trong suốt thời gian nghiên cứu

Mặc dù tôi đã cố gắng nhưng vì kiến thức và kĩ năng có hạn nên trong bài không tránh khỏi sai sót Rất mong nhận được ý kiến đánh giá của thầy cô

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN i

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT ii

DANH MỤC HÌNH iii

DANH MỤC BẢNG iv

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 7

1.1 Tổng quan vấn đề nghiên cứu 7

1.1.1 Những nghiên cứu ở nước ngoài 7

1.1.2 Những nghiên cứu ở trong nước 9

1.2 Lý thuyết về năng lực tự học 10

1.2.1 Năng lực 10

1.2.2 Tự học 12

1.2.3 Năng lực tự học 14

1.3 Lý thuyết về bài giảng điện tử 19

1.3.1 Khái niệm bài giảng điện tử 19

1.3.2 Cấu trúc chung của bài giảng điện tử 23

1.3.3 Nguyên tắc thiết kế bài giảng điện tử 24

1.3.4 Quy trình thiết kế bài giảng điện tử 25

1.3.5 Ứng dụng bài giảng điện tử trong dạy học 28

1.3.6 Cơ sở thực tiễn của đề tài nghiên cứu 29

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 32

CHƯƠNG 2 THIẾT KẾ BÀI GIẢNG ĐIỆN TỬ DẠY HỌC BÀI 5: PROTEIN, SINH HỌC 10 33

2.1 Giới thiệu khái quát về chương trình Sinh học 10 33

2.1.1 Tóm tắt nội dung chương trình Sinh học 10 33

2.1.2 Tóm tắt nội dung kiến thức bài 5: protein 33

Trang 6

2.2 Thiết kế bài giảng điện tử dạy học bài 5: protein 34

2.2.1 Giới thiệu phần mềm Kotobee Author 34

2.2.2 Hướng dẫn sử dụng phần mềm Kotobee Author trong thiết kế e-book dạy học bài 5: protein 36

2.3 Giáo án dạy học bài 5: protein có sử dụng bài giảng điện tử 40

2.3.1 Giáo án số 1 40

2.3.2 Giáo án số 2 45

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 56

CHƯƠNG 3 THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 57

3.1 Mục đích thực nghiệm 57

3.2 Đối tượng thực nghiệm sư phạm 57

3.3 Phương pháp thực nghiệm sư phạm 57

3.4 Chuẩn bị thực nghiệm 57

3.5 Thời gian thực nghiệm 58

3.6 Kết quả thực nghiệm 58

KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 67

KẾT LUẬN 68

KHUYẾN NGHỊ 68

TÀI LIỆU THAM KHẢO 69

PHỤ LỤC 1 71

PHỤ LỤC 2 74

PHỤ LỤC 3 77

Trang 7

DANH MỤC HÌNH

Hình 1.1 Quy trình thiết kế bài giảng điện tử 25

Hình 1.2 Biểu đồ thể hiện ý kiến về mức độ cần thiết của ứng dụng CNTT trong dạy học 30

Hình 1.3 Khả năng sử dụng một số phần mềm của GV 30

Hình 2.1 Nội dung chương trình Sinh học 10 33

Hình 2.2 Nội dung bài 5: Protein 34

Hình 2.3 Giao diện của Kotobee Author 35

Hình 2.4 Một số chức năng thường dùng của Kotobee Author 35

Hình 2.5 Thanh công cụ của Kotobee Author 36

Hình 2.6 Giao diện e-book phần cấu trúc của protein 38

Hình 2.7 Giao diện e-bookchức năng của protein 38

Hình 2.8 Giao diện e-book phầncâu hỏi kiểm tra 39

Hình 2.9 Giao diện e-book phần bạn có biết 39

Hình 3.1 Biểu đồ thể hiện đánh giá của HS về giao diện e-book 59

Hình 3.2 Biểu đồ thể hiện nhận xét về nội dung của sách điện tử (e-book) 59

Hình 3.3 Biểu đồ thể hiện mức độ hiểu bài của học sinh 60

khi sử dụng e-book 60

Hình 3.4 Biểu đồ thể hiện sự đánh giá của HS về hiệu quả sử dụng hình ảnh, video trong e-book 61

Hình 3.5 Biểu đồ thể hiện hứng thú của HS trong giờ học có sử dụng e-book 61

Hình 3.6 Biểu đồ thể hiện mức độ hiêu quả khi sử dụng e-book để tự học 62

Hình 3.7 Biểu đồ thể hiện ý kiến về sử dụng e-book trong các bài học khác 63 Hình 3.8 Học sinh sử dụng e-book và làm thí nghiệm 64

Hình 3.9 Đường phân bố điểm kiểm tra ở 2 lớp 65

Trang 8

DANH MỤC BẢNG

Bảng 1.1.Cấu trúc và biểu hiện NLTH của HS THPT 16 Bảng 3.1 Bảng thống kê điểm số 65

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

1.1 Xuất phát từ yêu cầu đổi mới giáo dục trong giai đoạn hiện nay

Chúng ta đang sống và làm việc trong một xã hội toàn cầu hóa với sự phát triển mạnh mẽ của các công nghệ, khoa học và kĩ thuật Trong xã hội tri thức, con người là chủ thể kiến tạo nên xã hội, sử dụng tri thức để xác định vị thế xã hội Yêu cầu xã hội đối với giáo dục là phải giải quyết mâu thuẫn khi tri thức phát triển quá nhanh mà thời gian đào tạo lại có hạn, không những thế giáo dục phải tạo ra những con người mới có năng lực đáp ứng được thị trường lao động, có khả năng hòa nhập và cạnh tranh quốc tế

Trong hội nghị lần thứ 8, Ban chấp hành Trung ương khóa XI đã ra nghị quyết về đổi mới căn bản và toàn diện GD, ĐT để đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế đã xác định “Phát triển GD và ĐT là nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài Chuyển mạnh từ quá trình GD chủ yếu từ trang bị kiến thức sang phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất người học” Nghị quyết đã đề ra các nhiệm vụ và giải pháp thực hiện, trong

đó có đề cập sâu đến việc tiếp tục đổi mới mạnh mẽ và đồng bộ các yếu tố cơ bản của GD, ĐT theo hướng coi trọng phẩm chất và năng lực của người học

Đã có không ít các công trình nghiên cứu về phương pháp dạy học mới

có hiệu quả, theo hướng phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất cho người học Một số phương pháp mới đã được áp dụng, tuy nhiên chất lượng dạy học trong nhà trường nói chung và THPT nói riêng vẫn chưa hoàn toàn đáp ứng được yêu cầu của đổi mới GD

Trang 10

1.2 Xuất phát từ thực trạng việc sử dụng công nghệ thông tin để rèn luyện năng lực tự học

Giáo dục chịu sự tác động mạnh mẽ của công nghệ thông tin (CNTT), kinh tế tri thức và toàn cầu hóa Những năm gần đây, chúng ta chú trọng áp dụng công nghệ thông tin trong dạy học như là một hướng đổi mới phương pháp dạy học (PPDH) tích cực góp phần nâng cao chất lượng dạy – học

Nghị quyết số 29/2001/CT – BGD&ĐT của Bộ trưởng Bộ giáo dục và đào tạo ngày 30/07/2001 về việc ứng dụng CNTT trong giáo dục giai đoạn

2001 – 2005 đề ra một trong bốn mục tiêu là: “Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong giáo dục và đào tạo ở các cấp học, bậc học, ngành học theo hướng sử dụng CNTT như là một công cụ hỗ trợ đắc lực nhất cho đổi mới phương pháp giảng dạy học tập ở tất cả các môn học”

Cùng với sự bùng nổ thông tin và sự phát triển đi lên của xã hội, lượng kiến thức mà mỗi ngày học sinh phải học càng nhiều, với khuôn khổ SGK và lượng thời gian bó hẹp trên lớp thì việc GV tiếp nhận kiến thức và truyền đạt trực tiếp hết những kiến thức đó cho HS sẽ gặp rất nhiều khó khăn Do đó việc rèn luyện cho các em phương pháp học tập phù hợp là cần thiết Một trong những phương pháp tự học tích cực nhất là tự học Nhờ tự học mà học sinh thêm say mê tìm tòi khám phá, phát huy hết năng lực sáng tạo của mình

và một phần giải quyết được mâu thuẫn: quỹ thời gian có hạn mà lượng kiến thức lại vô hạn Tự học có nhiều hình thức khác nhau, trong đó việc sử dụng sách điện tử (e-book) để tự học là phương thức mới và hiệu quả E-book có những lợi thế mà sách in không có được: rất gọn nhẹ, dễ dàng chỉnh sửa kích

cỡ, màu sắc và thao tác cá nhân tùy theo sở thích của người đọc Đặc trưng nổi bật của e-book là khả năng lưu trữ thông tin, chuyển tải thông tin kiến thức đầy đủ thông qua các media Trong quá trình dạy học có những điểm

Trang 11

khác biệt giữa học tập có giáo viên giảng dạy và học tập từ xa thông qua book

e-Sinh học là môn khoa học thực nghiệm; việc áp dụng video, hình ảnh,

âm thanh trực quan về sinh vật là cần thiết Tuy nhiên trong quá trình giảng dạy không phải lúc nào giáo viên cũng vẽ tranh, làm mô hình, làm thí nghiệm cho học sinh quan sát, nhất là các thí nghiệm phức tạp không thể thực hiện được vì hạn chế về thời gian, cơ sở vật chất Nhờ sự phát triển của công nghệ thông tin và ứng dụng vào dạy học mà có thể sử dụng các video ghi lại thí nghiệm, cho phép ta có thể quan sát cẩn thận; dễ hình dung, tưởng tượng; tạo được hứng thú học tập cho học sinh và tiết kiệm thời gian

Các phần mềm sử dụng trong quá trình dạy học có thể khai thác từ nhiều nguồn khác nhau Các sản phẩm có nguồn gốc từ nước ngoài bán tự do trên thị trường khá phong phú và rẻ nhưng không phù hợp với chương trình giáo dục Việt Nam Thực tế ở Việt Nam các tài liệu hướng dẫn tự học đặc biệt

là e-book Sinh học chưa nhiều Một số e-book đã xuất bản có nội dung sách giáo khoa cũ, chưa chú ý đến nội dung luyện tập cho học sinh, chưa hướng dẫn học sinh cách tự học… Từ những lý do trên, để góp phần nâng cao chất

lượng dạy học Sinh học, chúng chúng tôi lựa chọn đề tài “Thiết kế bài giảng điện tử bài 5 – Protein – Chương 1 – Sinh học 10 nhằm phát huy năng lực tự học của học sinh”

2 Mục đích nghiên cứu

Thiết kế và sử dụng bài giảng điện tử vào dạy học phần kiến thức protein – Sinh học 10 theo hướng nâng cao năng lực tự học của học sinh

3 Đối tượng và khách thể nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Trang 12

Quy trình thiết kế và sử dụng bài giảng điện tử trong dạy học bài 5: Protein, Sinh học 10

3.2 Khách thể nghiên cứu

Quá trình dạy học Sinh học 10 THPT

4 Giả thuyết khoa học

Nếu thiết kế, sử dụng hợp lý bài giảng điện tử trong dạy học bài 5: Protein, Sinh học 10 thì sẽ phát huy được năng lực tự học của học sinh

5 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được mục đích trên, nhiệm vụ của đề tài khóa luận như sau:

- Nghiên cứu cơ sở lý luận về bài giảng điện tử và năng lực tự học của

HS

- Điều tra thực trạng ứng dụng CNTT trong dạy học Sinh học tại các trường THPT

- Phân tích chương trình Sinh học 10 và nội dung kiến thức bài 5: Protein

- Nghiên cứu và lựa chọn các phần mềm hỗ trợ xây dựng, thiết kế e-book

- Tiến hành thực nghiệm sư phạm để kiểm tra tính khả thi của đề tài

6 Phạm vi nghiên cứu

- Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 5/ 2017 đến tháng 5/ 2018

- Nội dung: bài 5: Protein – Sinh học 10

- 28 học sinh khối 10 trường phổ thông liên cấp Olympia

7 Phương pháp nghiên cứu

7.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận

Trang 13

Nghiên cứu lý luận về tự học trong học tập môn Sinh học của HS ở trường THPT, lý luận về ứng dụng CNTT trong dạy học

7.2 Phương pháp điều tra quan sát

- Sử dụng phiếu điều tra đối với giáo viên để điều tra thực trạng ứng dụng CNTT trong dạy học

- Dự giờ của giáo viên phổ thông để tìm hiểu thực trạng tổ chức hoạt động tự học cho HS

7.3 Phương pháp thực nghiệm sư phạm

Tiến hành dạy song song lớp thực nghiệm sư phạm và lớp đối chứng Một nhóm lớp thực nghiệm sử dụng bài giảng điện tử trong quá trình học; còn nhóm lớp đối chứng tiến hành học bình thường như các tiết học khác

7.4 Phương pháp thống kê toán học

Sử dụng phương pháp này để phân tích, đánh giá kết quả thực nghiệm

sư phạm

8 Những đóng góp của đề tài

Sử dụng phần mềm Kotobee Author và một số phần mềm hỗ trợ đểthiết

kế bài giảng điện tử dạy học bài 5: Protein - Sinh học 10 Tiến hành dạy học thực nghiệm tại một số trường THPT Đây là nguồn tài liệu tham khảo cho giáo viên Sinh học tại các trường phổ thông

9 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, khuyến nghị, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn được trình bày theo 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài

Trang 14

Chương 2: Thiết kế bài giảng điện tử dạy học bài 5: Protein, Sinh học 10 Chương 3: Thực nghiệm sư phạm

Trang 15

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI

1.1 Tổng quan vấn đề nghiên cứu

1.1.1 Những nghiên cứu ở nước ngoài

Từ trước công nguyên, nhiều nhà tư tưởng lớn của Trung Quốc như Khổng Tử , Mạnh Tử đã cho rằng dạy học là phải kích thích được suy nghĩ của người học, khiến người học phải tự mình suy nghĩ [5] Khổng Tử coi trọng sự tích cực suy nghĩ và sáng tạo của học sinh, ông luôn gợi mở để các học trò tự tìm ra được chân lý mới Mạnh Tử cho rằng người giáo viên như người dạy bắn cung, chỉ kéo dây cung mà không bắn tên đi hộ, tự người bắn phải bắn lấy

John Dewey (1859 - 1952) đã từng nói: “Học sinh là mặt trời, xung quanh nó quy tụ mọi phương tiện giáo dục” Theo quan điểm này, nhiều PPDH đã được sử dụng: phương pháp hợp tác, phương pháp tích cực, phương pháp cá thể hóa… Đây là các phương pháp mà giáo viên chỉ đóng vai trò gợi

sự chú ý để kích thích học sinh tự hoạt động và tự tìm tòi để lĩnh hội tri thức Người giáo viên như một đạo diễn thiết kế, tổ chức giúp học sinh biết cách học

Đến thế kỉ 18 – 19 các nhà giáo dục nổi tiếng như J.Rutxô (1712 – 1778), Disterverg (1790 – 1886) và K.D.Úsinxki (1824 – 1890), T.H Petstalogi (1746 – 1827) đã khẳng định rằng: “ Tự mình giành lấy tri thức bằng con đường tự khám phá, tự tìm tòi, tự suy nghĩ là con đường quan trọng

để chiếm lĩnh tri thức” [6]

Trong những năm 30 của thế kỷ XX, T.Makiguchi – nhà sư phạm nổi tiếng người Nhật Bản cho rằng “Mục đích của giáo dục là hướng dẫn quá

Trang 16

trình học tập và đặt trách nhiệm học tập vào tay mỗi học sinh Giáo dục xét như là một quá trình hướng dẫn học sinh tự học”

Trong tác phẩm “Tự học như thế nào” tác giả Rubakin đã trình bày nhiều vấn đề về phương pháp tự học, đặc biệt là phương pháp sử dụng tài liệu Ông nhấn mạnh “việc giáo dục động cơ đúng đắn là điều kiện cơ bản để bạn tích cực, chủ động trong tự học”, “hãy mạnh dạn tự mình đặt ra câu hỏi rồi tự mình lấy câu trả lời, đó là phương pháp tự học” [11] Theo ông, nhiệm vụ của người thầy là xây dựng các bài tập nghiên cứu, hình thành cho học sinh nhu cầu giải quyết các bài tập nghiên cứu là một trong các biện pháp hình thành

và phát triển NLTH cho HS

Giáo sư Richard Smith cho rằng tự học có nghĩa là người học tự chủ Theo ông, đây không hẳn là một phương pháp trong dạy học mà là một mục tiêu quan trọng trong giáo dục Ý tưởng về tự chủ của người học không phải

là mới, ông còn gọi thuật ngữ này với cách gọi khác như: cá nhân hóa, người học độc lập Điều này đồng nghĩa với việc người học phải có đầy đủ năng lực

để chịu trách nhiệm và ra quyết định đối với việc học của mình [10]

Trong tác phẩm “Những phẩm chất của người giáo viên hiệu quả” đã nhấn mạnh đến việc giáo viên tạo ra một môi trường học tập hiệu quả cho học sinh, trong đó có việc phát triển NLTH đáp ứng những nhu cầu cá nhân của các nhóm HS chuyên biệt trong lớp học Ông chú trọng đến việc hỗ trợ các hoạt động tích cực của HS thông qua thủ thuật đặt câu hỏi và thảo luận [16]

Trong những năm gần đây, vấn đề tự học nhận được sự quan tâm của nhiều người, nhiều cuốn sách đã được xuất bản Trong cuốn “Hiểu biết là sức mạnh của thành công” do Klas Mellander chủ biên đã đề cập đến bí ẩn của việc học, trong đó nhấn mạnh vai trò của tự học và hướng dẫn 5 bước cần thực hiện để giúp chúng ta dễ dàng hơn trong quá trình học hỏi [9]

Trang 17

Có rất nhiều cách để rèn luyện NLTH cho HS, trong đó biện pháp hữu hiệu hơn cả là thiết kế và sử dụng bài giảng điện tử trong dạy học bài mới Vì biện pháp này đã được chứng minh là có nhiều ưu điểm hỗ trợ tích cực cho dạy học

1.1.2 Những nghiên cứu ở trong nước

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nói: “Còn sống thì còn phải học” và

Một tấm gương sáng về tự học ở nước ta là GS.TSKH Nguyễn Cảnh Toàn Bằng con đường tự học, tự nghiên cứu, từ một GV trung học (1947) ông đã trở thành một nhà toán học nổi tiếng Không chỉ nghiên cứu về khoa học cơ bản mà ông còn có nhiều công trình khoa học giáo dục nghiên cứu về vấn đề tự học Ông cho rằng: Học phải luôn luôn gắn liền với tự học, với tự rèn luyện; phải coi trọng việc tự học và nêu cao những tấm gương tự học thành tài

Cho đến nay, đã có một số tác giả trong nước viết về tự học như: Năm

1971 Nxb Khai Trí đã xuất bản cuốn “Chúng tôi tự học” của tác giả Thu Giang và Nguyễn Duy Cần, cuốn sách đã tổng hợp những kinh nghiệm quý

Trang 18

báu về phương pháp tự học, tự nâng cao kiến thức và trí lực cho từng cá nhân đồng thời đưa ra 8 nguyên tắc để làm việc [7] Năm 2002, Nxb Đại học Sư phạm phát hành cuốn sách “Học và dạy cách học” do GS TSKH Nguyễn Cảnh Toàn làm chủ biên [13] “Học và dạy cách học” là một trong những cuốn sách đầu tiên ở Việt Nam viết về việc “học” và “dạy cách học” một cách

có hệ thống Cuốn sách “Tự học thế nào cho tốt” Nxb Tổng hợp Thành phố

Hồ Chí Minh (2009) đã rút ra những nguyên tắc, những kinh nghiệm, những quy luật giúp người học thấy các bước đi một cách rõ ràng để tiến nhanh đến đích; biết cách giải quyết những khó khăn trong quá trình tự học [15] Những cuốn sách này là những tài liệu thực sự bổ ích giúp cho quá trình đổi mới phương pháp dạy và học ở Việt Nam, đặc biệt là quá trình dạy tự học

1.2 Lý thuyết về năng lực tự học

1.2.1 Năng lực

Trong tiếng La tinh, năng lực là “competentia” nghĩa là “gặp gỡ” Trong tiếng Anh, năng lực có thể được dùng với các thuật ngữ capability (là khả năng mà cá nhân thể hiện khi tham gia một hoạt động nhất định), competency (là khả năng thực hiện hiệu quả các hành động, các vấn đề liên quan đến một lĩnh vực nhất định dựa trên cơ sở hiểu biết, kĩ năng, kĩ xảo và

sự sẵn sàng hành động) … Ngày nay, khái niệm này được hiểu dưới nhiều cách tiếp cận khác nhau:

- Trong từ điển tiếng Việt (2002), năng lực là khả năng, điều kiện chủ quan hoặc tự nhiên sẵn có để thực hiện một hoạt động nào đó” [17]

- “Tác giả Nguyễn Trọng Khanh (2011) đã nghiên cứu phát triển năng lực và tư duy kĩ thuật, cho rằng năng lực cũng được hiểu là một thuộc tính nhân cách phức hợp, bao gồm kĩ năng, kĩ xảo cần thiết, được định hình trên

Trang 19

cơ sở kiến thức, được gắn bó đa dạng với động cơ và thói quen tương ứng, làm cho con người có thể đáp ứng được những yêu cầu đặt ra trong công việc” [14]

- Năng lực là thuộc tính cá nhân được hình thành và phát triển nhờ tố chất sẵn có và quá trình học tập, rèn luyện, cho phép con người huy động tổng hợp các kiến thức, kỹ năng và các thuộc tính cá nhân khác như hứng thú, niềm tin, ý chí, … thực hiện thành công một loại hoạt động nhất định, đạt kết quả mong muốn trong những điều kiện cụ thể [2]

Như vậy, năng lực được hình thành, phát triển và thể hiện trong chính các hoạt động tích cực của con người Phát triển năng lực cho người học chính là mục tiêu của quá trình dạy học Tùy theo môi trường hoạt động mà năng lực có thể đánh giá được, đo được hay quan sát được những tình huống nhất định

Ngày 28 tháng 7 năm 2017, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã công bố

“Chương trình giáo dục phổ thông tổng thể”, trong đó chỉ rõ các năng lực cần hình thành, phát triển cho HS bao gồm hai loại năng lực là năng lực chung và năng lực chuyên môn [2]

Năng lực chung: Là năng lực cơ bản và thiết yếu mà bất kỳ một người nào cũng cần phải có để sống, học tập và làm việc Các hoạt động giáo dục, với khả năng khác nhau nhưng đều hướng tới mục tiêu là hình thành và phát triển các năng lực chung cho HS Các năng lực chung HS cần có là năng lực

tự chủ và tự học, năng lực giao tiếp và hợp tác, năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo Những năng lực chung được hình thành, phát triển trong quá trình học tập ở trường phổ thông.Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, chúng chúng tôi sẽ đi sâu về NLTH của học sinh

Trang 20

Năng lực chuyên môn: Là năng lực mà môn học có ưu thế hình thành

và phát triển cho người học (do đặc điểm của môn học đó), bao gồm năng lực ngôn ngữ, năng lực tính toán, năng lực tìm hiểu tự nhiên và xã hội, năng lực công nghệ, năng lực tin học, năng lực thẩm mỹ, năng lực thể chất Mỗi môn học đòi hỏi cần phải hình thành, phát triển được năng lực đặc thù của môn học Một năng lực nào đó có thể sẽ là năng lực đặc thù của nhiều môn học khác nhau

1.2.2 Tự học

Theo nhà nghiên cứu giáo dục Holec (1981) thì “tự học chính là khả năng phụ trách việc học của chính mình” Leslie Dickinson lại cho rằng tự học là tình huống mà trong đó người học phải hoàn toàn chịu trách nhiệm về tất cả mọi quyết định liên quan đến việc học, đồng thời thực hiện những quyết định đó

Trong cuốn “Tự học như thế nào” Rubakin đã kết luận: “Hãy mạnh dạn

tự mình đặt ra câu hỏi rồi tự mình tìm lấy câu trả lời, đó là phương pháp tự học” [11]

Trong cuốn “Quá trình dạy - tự học” do Nguyễn Cảnh Toàn (chủ biên)

có viết: “Tự học là tự mình động não, suy nghĩ, sử dụng các năng lực trí tuệ (quan sát, so sánh, phân tích, tổng hợp) và có khi cả cơ bắp (sử dụng công cụ) cùng các phẩm chất của mình, động cơ, tình cảm, nhân sinh quan, thế giới quan (như tính trung thực, khách quan, chí tiến thủ, không ngại khó, ngại khổ, kiên trì, nhẫn nại, lòng say mê khoa học, ý muốn thi đỗ, biến khó khăn thành thuận lợi) để chiếm lĩnh một lĩnh vực hiểu biết nào đó của nhân loại, biến lĩnh vực đó thành sở hữu của mình” [12]

Theo cố GS Nguyễn Văn Đạo (Đại học Quốc gia Hà Nội): “Tự học là công việc suốt cả cuộc đời mỗi người, số thời gian dành cho việc học với sự

Trang 21

giúp đỡ của người thầy là rất ít, chỉ chiếm khoảng ¼ của một đời người Thời gian còn lại chủ yếu là dành cho việc tự học, cho lao động sáng tạo Ngay cả trong giai đoạn đi học, việc tự học luôn luôn có vai trò quan trọng Những người biết tự học, năng động, sáng tạo trong quá trình đi học là những người

có triển vọng và tiến xa trong cuộc đời này”

Như vậy, tự học là hoạt động độc lập, cá nhân người học tự mình chiếm lĩnh về kiến thức;về kĩ năng, kĩ xảo và kinh nghiệm lịch sử xã hội loài người nói chung cũng nhưcủa riêng chính bản thân người học Đây là hoạt động nhận thức mang tính tích cực, chủ động và tự giác; phát huy cao độ vai trò của người học cùng với sự hợp tác của thầy cô, bạn bè và của các điều kiện học tập

* Vai trò của tự học

Học vấn thì vô hạn trong khi đó tuổi học đường thì giới hạn, vì vậy muốn nâng cao học vấn và hiểu biết của mình chúng ta phải biết tự học Tự học có ý nghĩa rất quan trọng, nó có thể quyết địnhsự thành đạt của mỗi người Nó là con đường tự khẳng định và sẽ tạo ra được tri thức bền vững cho mỗi người Ngoài ra, tự học còn góp phần dân chủ hóa, xã hội hóa nền GD một cách có hiệu quả, nhằm phát huy và tận dụng được tiềm năng to lớn của từng thành viên trong cộng đồng

Khi nói về vai trò của tự học, tác giả Hoàng Anh và Đỗ Thị Châu đã có một số nhận định như sau [1]:

- Tự học là một phương thức tạo ra được chất lượng thực sự lâu bền, nó

là quyết định trực tiếp đến toàn bộ chất lượng học tập của người học; chỉ có tự học mới giúp người học thông hiểu, bổ sung và hoàn thiện vào vốn tri thức, vốn kinh nghiệm của mình để từ đó giúp người học vững vàng hơn trong học tập và công tác sau này

Trang 22

- Tự học còn là cơ sở cho tính tích cực nhận thức của người học

- Tự học cũng rèn luyện cho người học tính kiên trì, lòng dũng cảm vượt khó cũng như tính tự lực và chủ động trong công việc

- Tự học còn giúp người học khắc phục được những nét tính cách không phù hợp và giúp người học tiến hành được hoạt động học tập ở mức khó khăn hơn

Trong xã hội phát triển ngày nay, GD có vai trò ngày càng quan trọng, bởi nó là động lực thúc đẩy sự phát triển cũng như thúc đẩy tiến bộ của xã hội GD phải ĐT được thế hệ trẻ năng động và sáng tạo; có đủ tri thức và năng lực; đồng thời có khả năng thích ứng với đời sống xã hội, làm xã hội phát triển Muốn vậy thế hệ trẻ phải có năng lực, đặc biệt là NLTH Những khả năng này cần phải được tích lũy từ cấp tiểu học Có như vậy mới rèn luyện cho người học được kĩ năng tự học, tự nghiên cứu để không ngừng nâng cao vốn hiểu biết về văn hóa, về khoa học kỹ thuật và hiện đại hóa vốn tri thức của mình, từ đó trở thành một công dân với đầy đủ hành trang bước vào cuộc sống

1.2.3 Năng lực tự học

Trong Chương trình giáo dục phổ thông tổng thể thì năng lực tự học được xếp số 1 trong số 3 năng lực chung cần đạt Năng lực tự học có vai trò quan trọng, vì tự học là chìa khoá để tiến vào thế kỉ XXI - một thế kỉ với quan niệm học tập suốt đời và xã hội học tập

Năng lực tự học được hiểu là khả năng tự mình sử dụng các năng lực trí tuệ, có khi cả năng lực cơ bắp, cả động cơ, tình cảm, nhân sinh quan và thế giới quan để có thể chiếm lĩnh được một lĩnh vực hiểu biết nào đó của nhân loại và biến lĩnh vực đó thành sở hữu của mình

Trang 23

NLTH là năng lực chung được hình thành, phát triển dựa trên cơ sở bản năng của con người, của quá trình giáo dục và sự trải nghiệm trong cuộc sống thực tiễn Năng lực tự học bao gồm 3 năng lực thành phần và được biểu hiện

ở cấp THPT như sau (bảng 1.1) [14]:

Trang 24

Bảng 1.1.Cấu trúc và biểu hiện NLTH của HS THPT

Cấu trúc của NLTH Biểu hiện NLTH của HS THPT

a Xác định mục tiêu

học tập

Xác định nhiệm vụ học tập dựa trên kết quả đã đạt được; đặt mục tiêu học tập chi tiết cụ thể, khắc phục những khía cạnh còn yếu kém

b Lập kế hoạch và

thực hiện cách học

Đánh giá và điều chỉnh được kế hoạch học tập; hình thành cách học tập riêng của bản thân; tìm được nguồn tài liệu phù hợp với mục đích, nhiệm vụ học tậpkhác nhau; thành thạo sử dụng thư viện, chọn các tài liệu và làm thư mục phù hợp với từng chủ đề học tập của các nội dung kiến thức khác nhau; ghi chép thông tin đọc được bằng các hình thức phù hợp, thuận lợi cho việc ghi nhớ, sử dụng, bổ sung khi cần thiết; tự đặt được vấn đề học tập

c Đánh giá và điều

chỉnh việc học

Tự nhận ra và điều chỉnh những sai sót hạn chế của bản thân trong quá trình học tập; suy nghĩ cách học của mình, rút kinh nghiệm để có thể vận dụng vào các tình huống khác; biết tự điều chỉnh cách học

* Mức độ của năng lực tự học

- Tự học hoàn

Đây là hình thức tự mình hoạt động để lĩnh hội tri thức khoa học và rèn luyện kĩ năng thực hành mà hoàn toàn không có sự hướng dẫn của GV

Trang 25

Trong hình thức tự học này, thực ra vẫn có sự liên hệ giữa người học với thầy(tác giả của sách) một cách gián tiếp thông qua sách Do đó, biết cách đọc sách chính là biết “hỏi sách”, và với những chỗ còn thắc mắc mà chưa hiểu thì phải biết tìm thêm những loại sách nào nữa để đọc Khi đọc sách, người học phải biết lựa chọn những trang nào, phần nào hay chương nào đó…

để đọc; sau đó tìm ra những điểm chính, quan trọng, ghi chép lại những điều cần thiết; biết viết tóm tắt, lập dàn ý, làm đề cương từ những phần mình đã đọc được Bên cạnh đó, người học cũng phải biết cách để tra cứu từ điển, sách tham khảo và phải biết cách làm việc trong thư viện

- Tự học có hướng dẫn: Là một hình thức tự học nhằm mục đích chiếm lĩnh tri thức, hình thành được kĩ năng tương ứng dưới sự hướng dẫn và tổ chức của

GV Tự học có hướng dẫn có 2 mức độ:

+ Người học cócáctài liệu học tập, đồng thời có thêm thầy hướng dẫn

từ xa Điều này có nghĩa là vẫn có sự trao đổi thông tin giữa thầy và trò nhưng dưới dạng phản ánh thắc mắc, làm bài, chấm bài…

+ Người học có các tài liệu học tập và có thầy giáp mặt để hướng dẫn,

tổ chức các hoạt động học tập nhằm giúp người học tự khám phá kiến thức và

kĩ năng mới Nội dung luận văn sẽ nghiên cứu ở mức độ này

Để quá trình tự học đạt được kết quả đòi hỏi người học phải có tính độc lập, tự chủ, tự giác và kiên trì Do đó, tự học phải rất gắn bó với quá trình tự

GD để hình thành được những nét tính cách trên

Vì vậy, bên cạnh việc học một cách hệ thống với thầy, người học cần phải học với sách, học với các tài liệu học tập khác Và ngày nay, cách học đó phải dẫn tới sự thông minh và sáng tạo bởi khi đã nắm chắc các kiến thức cơ bản, kiến thức đã có hệ thống rồi thì thông qua NLTH sẽ tìm kiếm được rất nhiều kiến thức mới

Trang 26

*Các phương pháp tổ chức hoạt động nhằm phát huy năng lực tự học của học sinh

Có nhiều phương pháp dạy học tích cực để có thể nâng cao năng lực tự học của HS Đó là:

- Sử dụng CH, BT để tổ chức các hoạt động tự học cho HS,nhằm phát huy được tính tích cực của HS.CH, BT được sử dụng chủ yếu là câu hỏi tìm tòi, câu hỏi định hướng, bài tập, bài toán có vấn đề

- Sử dụng sơ đồ hoá với nhiều dạng khác nhau như đồ thị, bảng biểu, biểu đồ, sơ đồ để tổ chức và định hướng hoạt động nghiên cứu của HS

- Sử dụng phiếu học tập có chứa đựng những yêu cầu dưới dạng câu hỏi, bài toán nhận thức theo một hệ thống, được in sẵn và phát cho HS Các phiếu học tập phải có mục đích rõ ràng, được diễn đạt ngắn gọn và chính xác, yêu cầu của công việc không quá dễ cũng không quá khó để tránh tình trạng nhàm chán cho HS

- Dạy học đặt và giải quyết vấn đề: Đây là một phương pháp dạy học tích cực hoá hoạt động nhận thức của HS, vì khi GV nêu ra vấn đề thì đã biến nội dung học tập thành một chuỗi các tình huống có vấn đề Vấn đề này vừa giải quyết xong thì lại nảy sinh vấn đề mới, vì vậy thường xuyên kích thích hứng thú học tập của HS

- Dạy học hợp tác trong nhóm nhỏ: Trong quá trình tự lực nghiên cứu của HS, dạy học hợp tác trong nhóm nhỏ đã góp phần làm tăng hiệu quả làm việc để lĩnh hội kiến thức Đây là cách dạy học hướng tới hợp tác, trên cơ sở

sự nỗ lực của mỗi cá nhân Do đó với những đoạn, phần, bài có nội dung khó

và trừu tượng thì phương pháp này khá có hiệu quả

Trang 27

Giáo viên cần hướng dẫn học sinh tự học ở nhà bằng cách đưa ra các loại công việc theo trình tự sau:

- Phục hồi các kiến thức vừa nghiên cứu tại lớp: đọc SGK, làm lại thí nghiệm, vẽ sơ đồ hệ thống lại nội dung bài học, …

- Giải bài tập, bắt đầu từ những bài tập cơ bản ở mức độ nhận biết rồi đến những bài ở mức độ thông hiểu và vận dụng

- Định hướng tìm hiểu kiến thức bài tiếp theo

Việc tổ chức hoạt động tự học chỉ đạt được hiệu quả nếu thỏa mãn các yêu cầu sau:

- Công việc tự học ở nhà phải thích hợp với từng nhóm HS cá biệt, giỏi, khá hoặc kém Ngoài những công việc chung cho cả lớp cần có thêm những bài phụ cho HS kém để giúp đỡ HS hiểu bài hơn, tạo điều kiện cho HS hoàn thành công việc chung của cả lớp, đồng thời có bài tập bổ trợ để tạo cơ hội cho HS khá giỏi có thể phát triển tài năng

- Trong những trường hợp cần thiết có thể đưa ra hướng dẫn để HS có thể tìm ra đáp án, lời giải

- Thường xuyên kiểm tra việc thực hiện các công việc được giao của

HS

1.3 Lý thuyết về bài giảng điện tử

1.3.1 Khái niệm bài giảng điện tử

Hiện nay vẫn chưa có định nghĩa chính thức nào từ ngành Giáo dục cho khái niệm này Nhiều người vẫn còn nhầm lẫn giáo án điện tử và bài giảng điện tử

Trang 28

Giáo án: “giáo án là kế hoạch và dàn ý bài giảng của giáo viên được

soạn trước ra giấy để tiến hành dạy học trong một hoặc hai tiết lên lớp Trong giáo án thường ghi chủ điểm, mục đích giáo dục và giáo dưỡng, nội dung chi tiết sắp xếp theo trình tự lên lớp, phương pháp và thủ thuật dạy – học của giáo viên và học sinh, công việc kiểm tra và đánh giá, ngoài ra còn chỉ ra những dụng cụ, thiết bị cần thiết phải dùng” [8]

Bài giảng: “bài giảng là một phần nội dung trong chương trình của một

môn học được giáo viên trình bày trước học sinh Các yêu cầu cơ bản đối với bài giảng là: định hướng rõ ràng về chủ đề, trình bày có mạch lạc, có hệ thống

và truyền cảm nội dung, phân tích rõ ràng, dễ hiểu các sự kiện, hiện tượng cụ thể có liên quan và tóm tắt có khái quát chúng, sử dụng phối hợp nhiều thủ pháp thích hợp như thuyết trình, chứng minh, giải thích, đàm luận, làm mẫu, chiếu phim, mở máy ghi âm, ghi hình, … Bài giảng luôn được xem như một đơn vị nội dung của chương trình có độ dài tương ứng với một hoặc hai tiết học” [8]

Nói theo cách văn chương, nếu giáo án là “kịch bản” thì bài giảng được coi là “vở kịch” và giáo viên là “diễn viên”

Bài giảng điện tử: Trong những năm gần đây, khái niệm “bài giảng

điện tử” được sử dụng khá phổ biến trong nhiều môn học Phong trào soạn bài giảng điện tử được giáo viên tích cực hưởng ứng và trở thành một phong trào sôi nổi Khái niệm bài giảng điện tử được hiểu theo nhiều cách khác nhau

- Khóa học điện tử (E-course, E-learning): là phương thức đào tạo, dạy học dựa trên các ứng dụng CNTT (chủ yếu là ứng dụng máy tính, internet, web)

- Học liệu điện tử (E-recourse, Course-ware): là các tài nguyên học tập

đã được số hóa, định dạng theo cấu trúc và ý đồ sư phạm nhất định,

Trang 29

được lưu giữ trong các dạng chứa dữ liệu (ổ cứng, ổ mềm của máy tính, internet, thư điện tử, …)

- Giáo trình, sách điện tử (E-book): là các dữ liệu đã được số hóa, định dạng chuẩn nhất định, có kèm theo các công cụ để làm tăng khả năng

đa giác quan hóa và thao tác hóa của người học

- Giáo án điện tử: là kế hoạch triển khai các bài giảng điện tử cụ thể, được xây dựng trên những nguyên tắc sư phạm nhất định đảm bảo tính logic của nội dung dạy học [3]

- Bài giảng điện tử: theo chuẩn của Đại học Quốc gia Hà Nội (công văn

số 1018/ĐT ngày 31 tháng 3 năm 2010): “Bài giảng điện tử (E-lesson)

là một tập hợp các học liệu điện tử được tổ chức theo một kết cấu sư phạm để có thể cung cấp kiến thức và kĩ năng cho người học một cách hiệu quả thông qua sự trợ giúp của các phần mềm quản lý học tập (Learning Management System – LMS) Một bài giảng điện tử thường tương ứng với một môn học.”

* Bài giảng điện tử khác với bài giảng truyền thống ở những điểm cơ bản sau:

- Không bị giới hạn bởi không gian và thời gian

- Mềm dẻo, có thể tương tác được

- Tạo ra sự linh hoạt trong tốc độ triển khai học tập tùy thuộc vào năng lực của người học

- Tạo ra môi trường học tập bình đẳng, phù hợp với các đối tượng khác nhau

- Tạo ra khả năng tích hợp mạnh mẽ các ứng dụng công nghệ trong dạy học

Trang 30

- Tạo ra sự thay đổi căn bản trong quan niệm về vị trí, vai trò của người dạy, người học

* Bài giảng điện tử có những ƣu điểm sau:

- Người dạy giữ vai trò điều khiển, định hướng người học vào quá trình tìm kiếm và xử lý thông tin, đưa ra các phương án để giải quyết nội dung bài học bằng những chiến lược dạy mới:

+ Dạy học bằng chính hoạt động học tập của người học

+ Dạy học cá thể hóa trong hoạt động tương tác, hợp tác

+ Dạy học hướng vào dạy cách tự học, tự nghiên cứu

+ Dạy học dựa trên sự đánh giá và tự đánh giá

- Việc tích hợp bài giảng điện tử vào quá trình dạy học truyền thống sẽ kéo theo những biến đổi căn bản trong hoạt động của người dạy và người học:

+ Chuyển từ hoạt động thông báo và ghi nhớ kiến thức sang hoạt động độc lập tìm kiếm, khám phá, nỗ lực hợp tác, …

+ Phá bỏ sự ràng buộc về thời gian, không gian đối với quá trình dạy học

+ Chuyển từ chỗ người học chỉ chiếm lĩnh được một loại kiến thức sang chiếm lĩnh nhiều loại kiến thức (đa ngành, đa lĩnh vực)

+ Chuyển từ tư duy ngôn ngữ là chủ yếu sang tư duy tổng hợp nhờ đa giác quan hóa trong quá trình dạy học (người học có thể tương tác với bài giảng có kèm theo hình ảnh, âm thanh, mô phỏng sinh động, …)

Trang 31

1.3.2 Cấu trúc chung của bài giảng điện tử

Bài giảng điện tử không chỉ đơn thuần là sự tập hợp các thông tin, dữ liệu được số hóa kèm theo đa phương tiện Mỗi bài giảng điện tử cần được coi như là công cụ trợ giúp người học chủ động chiếm lĩnh tri thức, hình thành các kĩ năng cụ thể theo hệ thống các mục tiêu đã đặt ra thông qua các con đường khác nhau

Mô hình tổng quát của bài giảng điện tử gồm các thành phần sau:

- Thông tin chung về bài giảng điện tử (người dạy, mục tiêu, …)

- Giáo trình, sách giáo khoa điện tử (các văn bản, nguồn tài liệu phục vụ dạy học, nội dung bài học, tài liệu tham khảo,… đã được số hóa)

- Sách chỉ dẫn điện tử (văn bản, từ điển chú giải thuật ngữ, … đã được số hóa)

- Hệ thống các nhiệm vụ luyện tập, thực hành (các phần mềm mô phỏng, thí nghiệm ảo, bài tập mô phỏng, …)

- Hệ thống kiểm tra đánh giá

Mô hình này có thể được điều chỉnh về tỷ lệ và dung lượng phù hợp với yêu cầu đặc thù của từng nội dung kiến thức, từng chuyên ngành cụ thể

Một bài giảng điện tử hiệu quả phải được cấu trúc thành những bài giảng con dưới dạng các “khối nội dung” nhỏ như:

- Khối nội dung lý thuyết

- Khối nội dung nghiên cứu

- Khối nội dung thực hành

- Khối học liệu học

- Khối sáng tạo

Trang 32

Mỗi “khối” chứa các Module nhỏ như: lý thuyết, thực hành, thí nghiệm, tình huống, kiểm tra – đánh giá, … được thiết kế để người học có khả năng tự do lựa chọn, liên kết chéo, tạo hướng giải quyết mở, đảm bảo giao tiếp và phản hồi

1.3.3 Nguyên tắc thiết kế bài giảng điện tử

Việc thiết kế bài giảng điện tử phải dựa trên những nguyên tắc như sau:

- Giáo viên phải đạt trình độ công nghệ thông tin ở mức cụ thể như:

+ Sử dụng thành thạo Powerpoint hoặc một số phần mềm soạn thảo bài giảng khác

+ Biết khai thác các kho tư liệu liên quan đến bộ môn trên internet + Biết cách cắt ghép các đoạn video cho phù hợp với nội dung bài giảng

+ Biết đổi đuôi các định dạng video, âm thanh, hình ảnh cho tương thích với phần mềm Powerpoint hay các phần mềm bài giảng khác

- Bài giảng phải được thiết kế đơn giản, rõ ràng và nhất quán; không nên tạo

ra nhiều ý tưởng lớn trong một slide; lựa chọn đồ họa cẩn thận để tránh gây phân tán sự chú ý của học sinh; chọn màu nền với màu chữ thống nhất trong suốt quá trình dạy học Trong bài giảng phải có chèn hình ảnh, video, siêu liên kết liên quan hoặc mang nội dung kiến thức phù hợp Cấu trúc bài giảng phải

rõ ràng tên bài, tên các đề mục, tên các tiểu mục để học sinh theo dõi một cách logic, có hệ thống

- Không nên lạm dụng các hiệu ứng bay nhảy, tránh thu hút sự chú ý không cần thiết của học sinh; cần làm nổi bật các nội dung trọng tâm, khai thác triệt

để các ý tưởng tiềm ẩn bên trong đối tượng trình diễn (hình ảnh, video,…)

Trang 33

thông qua việc tổ chức các hoạt động nhằm phát triển tư duy của học sinh Mỗi đối tượng đưa vào bài giảng đều phải chứa đựng ý đồ sư phạm

1.3.4 Quy trình thiết kế bài giảng điện tử

Hiệu quả của bài giảng điện tử phụ thuộc vào ý tưởng sư phạm và ý tưởng công nghệ Vì vậy, để xây dựng được một bài giảng điện tử cần phải tích hợp một cách hài hòa 2 yếu tố trên Có thể tóm tắt quy trình xây dựng bài giảng điện tử qua các bước sau (hình 1.1):

Hình 1.1 Quy trình thiết kế bài giảng điện tử

Trang 34

Bước 1: Xây dựng kịch bản sư phạm và kịch bản công nghệ

Kịch bản sư phạm được ví như cái hồn của bài giảng, mang lại một cái nhìn xuyên suốt, nhất quán về tính logic của nội dung; cấu trúc; phương pháp,

kĩ thuật triển khai nội dung bài học Trong quá trình xây dựng kịch bản sư phạm người dạy cần tính đến:

- Mục tiêu của bài học (dạy học để làm gì?)

- Nội dung của bài (đâu là nội dung cốt lõi, đâu là nội dung bổ sung?)

- Phương pháp triển khai (người dạy làm gì, người học làm gì?)

- Hình thức triển khai

- Đặc điểm khái quát về đối tượng người học

- Tính khả thi của các yếu tố công nghệ khi truyền tải nội dung

Trong quá trình xây dựng kịch bản công nghệ cần lựa chọn các công cụ

đa phương tiện phù hợp giúp cho việc thể hiện nội dung được hiệu quả, lựa chọn giao diện thân thiện với học sinh, tính toán khả năng đáp ứng ý đồ sư phạm về mặt kĩ thuật và tính khả thi về kinh tế,…

Bước 2: Lựa chọn và chuẩn bị học liệu

Giáo viên lựa chọn, phân loại, sắp xếp toàn bộ học liệu liên quan đến nội dung bài giảng, phân loại học liệu theo các tiêu chí phục vụ cho nội dung cốt lõi, nội dung cơ cản, nội dung bổ sung

Các tài liệu cần được chuẩn bị trước, phân thành các “gói” một cách logic, khoa học để tiện sử dụng Có thể tập hợp thành các gói sau đây:

 Gói nội dung:

- Tài liệu giới thiệu, hướng dẫn

Trang 35

- Tài liệu bắt buộc, tham khảo

- Tài liệu thực hành

- Tài liệu kiểm tra đánh giá, …

 Gói định dạng

- Tài liệu văn bản: word, pdf, ppt …

- Học liệu Multimedia: video, audio …

- Các file ảnh tĩnh, ảnh động

- Học liệu web: HTML…

 Gói chủ thể hoạt động

- Nội dung dành cho giáo viên

- Nội dung dành cho học sinh

- Nội dung dành cho người quản lí …

Bước 3: Số hóa các học liệu

Lựa chọn các định dạng phù hợp để số hóa học liệu, ví dụ: lựa chọn các định dạng số hóa phù hợp cho các loại học liệu là văn bản, hình ảnh, âm thanh, ảnh, đồ họa, bản đồ, biểu đồ …

Bước 4: Chọn lựa, thiết kế đa phương tiện

Lựa chọn và phối hợp các công cụ kỹ thuật công nghệ phù hợp để thiết

kế các học liệu của bài giảng đã được số hóa

- Các phần mềm xử lý văn bản, số liệu

- Các phần mềm xử lý đồ họa

- Các phần mềm trình diễn

- Các phần mềm hỗ trợ học tập, kiểm tra, đánh giá, mô phỏng

Bước 5: Đóng gói bài giảng theo chuẩn

Trang 36

Cần thống nhất trước với các nhà quản lý về chuẩn đóng gói bài giảng nhằm tạo thuận lợi cho người học, các nhà quản lý xây dựng, tổ chức chương trình đào tạo, các giáo viên trực tiếp thiết kế bài giảng …

- Văn bản: sử dụng font Unicode

- Picture/ Audio/ Video file: định dạng phù hợp, kích thước nhỏ gọn

Bước 6: Vận hành thử

Triển khai dạy học thí điểm trên nền thiết kế công nghệ, bài giảng đã được số hóa, tích hợp bài giảng điện tử trong dạy học truyền thống, …

Bước 7: Đánh giá cải tiến

Dựa trên kết quả của quá trình vận hành thử tiến hành đánh giá, điều chỉnh lại bài giảng điện tử

1.3.5 Ứng dụng bài giảng điện tử trong dạy học

Việc ứng dụng bài giảng điện tử trong dạy học phải luôn hướng vào mục tiêu đào tạo và phát triển năng lực tự học cho học sinh, phải góp phần đổi mới phương pháp dạy học theo hướng phát huy tính tích cực, phát triển tư duy độc lập của học sinh

Việc đưa CNTT vào giảng dạy phải phù hợp với cơ sở vật chất, đặc điểm và điều kiện của từng đơn vị, đặc biệt chú ý đến việc trang bị phương tiện kỹ thuật đồng thời chú trọng bồi dưỡng, nâng cao trình độ và kỹ năng ứng dụng CNTT của đội ngũ giáo viên

Để xác định những nội dung dạy học nào nên ứng dụng CNTT ta cần căn cứ vào những đặc điểm sau:

- Tính chất vật lý của chúng: kích thước, khối lượng, cấu tạo, …

- Mục tiêu, nội dung, phương pháp dạy học

Trang 37

- Khả năng của phần mềm và các giải pháp CNTT

- Mục đích áp dụng CNTT, …

1.3.6 Cơ sở thực tiễn của đề tài nghiên cứu

* Đối tượng điều tra

Điều tra, khảo sát thực tế tình hình ứng dụng CNTT trong dạy học ở một số trường THPT, chúng tôi tiến hành phát phiếu điều tra đối với 15 giáo viên nhằm thu thập một số thông tin sau:

- Thực trạng sử dụng CNTT trong dạy học

- Việc đổi mới PPDH và những PPDH mà GV đã sử dụng

* Phương pháp điều tra

Chúng chúng tôi tiến hành điều tra vào tháng 4 năm 2018 tại trường phổ thông liên cấp Olympia, THPT Trần Phú, THPT Nhân Chính, THPT Nguyễn Bỉnh Khiêm, THPT Ninh Giang, THPT Hồng Đức, THPT Khúc Thừa Dụ

Điều tra GV bằng cách sử dụng phiếu điều tra (phụ lục 1)

* Phân tích kết quả điều tra

Sau khi phát phiếu điều tra, chúng tôi nhận thấy có 33,23% ý kiến cho rằng việc ứng dụng CNTT trong dạy học nói chung và dạy học Sinh học nói riêng là rất cần thiết, số còn lại cho rằng cần thiết (hình 1.2)

Trang 38

Hình 1.2 Biểu đồ thể hiện ý kiến về mức độ cần thiết của ứng dụng

- Tất cả các ý kiến đều đồng ý rằng giờ học có sử dụng máy tính và phần mềm dạy học sẽ kích thích hứng thú học của HS, nâng cao chất lượng

33%

67%

Rất cần thiết Cần thiết Không cần thiết

thông tin trên internet Rất tốt Tốt Bình thường

Trang 39

* Nguyên nhân của thực trạng

- Do nội dung thi ở nước ta hiện nay vẫn nặng về kiểm tra lý thuyết và giải bài tập Vì vậy, GV thường quan tâm nhiều đến việc làm thế nào để truyền tải đủ kiến thức SGK cho HS

- Hầu hết GV nhận thức được lợi ích của việc sử dụng máy tính vào dạy học, cùng với sự hỗ trợ của Internet để đem lại hiệu quả cao nhất trong hoạt động dạy học Tuy nhiên, để có thể áp dụng được CNTT vào dạy học thì cần trang bị đầy đủ các phương tiện kỹ thuật như: máy tính, máy chiếu, mạng Internet Đồng thời cần phải nâng cao trình độ tin học của GV

Trang 40

Sự nghiệp giáo dục yêu cầu đổi mới phương pháp dạy và học Người giáo viên đóng vai trò tổ chức, hướng dẫn học sinh tham gia các hoạt động học tập để chủ động chiếm lấy tri thức Thông qua các yêu cầu mà giáo viên đưa ra để kích thích hứng thú học tập của học sinh, từ đó thúc đẩy học sinh tự tìm tòi, nghiên cứu và giải quyết vấn đề

Tất cá những cơ sở lý luận và thực tiễn trên sẽ giúp chúng tôi vận dụng

để nghiên cứu thiết kế bài giảng điện tử dạy học bài 5: Protein nhằm nâng cao năng lực tự học của học sinh

Ngày đăng: 16/03/2021, 21:55

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w