1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phát triển năng lực tự học cho học sinh trung học phổ thông trong dạy học thơ việt nam giai đoạn 1945 1975

139 47 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 139
Dung lượng 4,25 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ngoài ra còn có một số bài viết khác như Cách tự học môn Ngữ Văn hiệu quả Nguyễn Văn Phiên, Rèn kĩ năng tự học môn Ngữ Văn Đặng Quang Sơn … Tài liệu viết về đề tài phát triển năng lực

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC

LÊ DIỆU LINH

PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC TỰ HỌC CHO HỌC SINH TRUNG HỌC

PHỔ THÔNG TRONG DẠY HỌC THƠ VIỆT NAM

GIAI ĐOẠN 1945 - 1975

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP NGÀNH SƯ PHẠM NGỮ VĂN

Hà Nội – 2018

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC

PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC TỰ HỌC CHO HỌC SINH TRUNG HỌC

PHỔ THÔNG TRONG DẠY HỌC THƠ VIỆT NAM

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Trong suốt quá trình thực hiện nghiên cứu với đề tài: “Phát triển năng lực tự học cho học sinh trung học phổ thông trong dạy học thơ Việt Nam giai đoạn 1945 – 1975”, em xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc đến T.S

Phạm Thị Thanh Phượng đã trực tiếp hướng dẫn, dìu dắt, giúp đỡ với những chỉ dẫn quý báu trong suốt quá trình em hoàn thành đề tài khóa luận của mình

Em xin chân thành cảm ơn các thầy cô trường Đại học Giáo Dục - ĐHQGHN đã truyền đạt cho chúng em nhiều kiến thức, kinh nghiệm quý báu trong quá trình học tập, tạo cơ hội học tập và trình độ chuyên môn về lĩnh vực

sư phạm mà em tâm huyết

Em xin cảm ơn Ban giám hiệu, các thầy cô và các em học sinh trường THPT Tây Hồ tại Hà Nội đã tạo điều kiện và giúp đỡ em trong quá trình khảo sát điều tra, thực nghiệm cung cấp số liệu nghiên cứu

Khóa luận không thể tránh khỏi những thiếu sót, em rất mong nhận được sự góp ý và chỉ bảo tận tình của quý thầy cô, các anh chị và các bạn để

đề tài được hoàn thiện hơn!

Em xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, ngày 22 tháng 5 năm 2018

Lê Diệu Linh

Trang 4

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Bảng 1.1 Bảng thực tiễn việc áp dụng các PPDH của GV khi dạy các tác phẩm thơ Việt Nam giai đoạn 1945 – 1975 38 Bảng 1.2 Tỉ lệ học sinh nhận định về quan niệm (khái niệm) tự học 40 Bảng 1.3 Bảng đánh giá hoạt động HS thường sử dụng để tự học môn NV nói chung và giai đoạn thơ Việt Nam 1945 – 1975 nói riêng 44 Bảng 2.1: Quy trình luyện tập KN TH của HS và những tác động của GV 71

Trang 5

DANH MỤC HÌNH VẼ Hình 1.1 Biểu đồ thể hiện tỷ lệ HS đánh giá mức độ cần thiết của mônNgữ Văn nói chung và giai đoạn thơ Việt Nam 1945 – 1975 36Hình 1.2 Biểu đồ thể hiện mức độ quan tâm của HS đối với phần thơ Việt Nam giai đoạn 1945 – 1975 trong chương trình Ngữ Văn 12 37Hình 1.3 Biểu đồ thể hiện tỷ lệ HS đánh giá về các tác phẩm thơ Việt Nam giai đoạn 1945 – 1975 trong chương trình Ngữ Văn 12 38Hình 1.4 Biểu đồ thể hiện tỷ lệ HS đánh giá về phương pháp giảng dạy của

GV với các tác phẩm thơ Việt Nam giai đoạn 1945 – 1975 trong chương trình Ngữ Văn 12 40Hình 1.5 Biểu đồ tổng hợp ý kiến của HS về ý nghĩa của tự học 41Hình 1.6 Biểu đồ thể hiện mức độ thường xuyên tự học của học sinh đối với giai đoạn thơ Việt Nam 1945 - 1975 42Hình 1.7 Biểu đồ tổng hợp ý kiến của HS về cách thức tự học hiệu quả phần thơ Việt Nam giai đoạn 1945 - 1975 43

Trang 6

DANH MỤC SƠ ĐỒ

Sơ đồ 1.1 Biểu hiện của NLTH 10

Sơ đồ 1.2 Quá trình hình thành thái độ học tập 12

Sơ đồ 1.3 Các thao tác hình thành năng lực tự học 12

Trang 8

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lí do chọn đề tài 1

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2

3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu 5

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 5

5 Phương pháp nghiên cứu 5

6 Cấu trúc khóa luận 6

Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 7

1.1 Cơ sở lí luận 7

1.1.1 Tổng quan về năng lực tự học 7

1.1.2 Năng lực tự học trong dạy học Ngữ văn ở trường THPT 18

1.2 Cơ sở thực tiễn 28

1.2.1 Đặc điểm các văn bản thơ Việt Nam giai đoạn 1945 – 1975 trong CT, SGK THPT 28

1.2.2 Thực trạng dạy học đọc hiểu thơ Việt Nam giai đoạn 1945 – 1975 ở trường THPT hiện nay 34

Chương 2 MỘT SỐ BIỆN PHÁP PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC TỰ HỌC CHO HS THPT TRONG DẠY HỌC THƠ VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 1945 - 1975 46

2.1 Một số yêu cầu khi tiến hành các biện pháp phát triển năng lực tự học cho HS THPT trong dạy học thơ Việt Nam giai đoạn 1945 – 1975 46

2.1.1 Các biện pháp thực hiện phải đáp ứng mục tiêu dạy học và nhiệm vụ bộ môn 46

2.1.2 Biện pháp thực hiện phải phù hợp với đối tượng và khả năng của HS 46

2.1.3 Vận dụng linh hoạt và đa dạng các biện pháp phát triển NLTH cho HS 47

2.1.4 Các biện pháp cần được tiến hành thường xuyên và liên tục 47

2.1.5 Kiểm tra đánh giá thường xuyên NLTH của HS 47

Trang 9

2.2 Một số biện pháp sư phạm phát triển năng lực tự học cho HS

THPT trong dạy học thơ Việt Nam giai đoạn 1945 – 1975 48

2.2.1 Nhóm biện pháp tạo động cơ tự học 49

2.2.2 Nhóm biện pháp hướng dẫn HS tự lĩnh hội kiến thức tự học 57

2.2.3 Nhóm biện pháp hướng dẫn HS luyện tập kĩ năng tự học 70

Chương 3 THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 80

3.1 Mục đích của quá trình thực nghiệm sư phạm 80

3.2 Đối tượng, thời gian, nội dung và phương pháp của thực nghiệm sư phạm 80

3.2.1 Đối tượng, thời gian, nội dung của thực nghiệm sư phạm 80

3.2.2 Phương pháp thực nghiệm sư phạm 81

3.3 Tiến hành thực nghiệm sư phạm và kết quả đánh giá thực nghiệm sư phạm 81

3.3.1 Thiết kế giáo án thực nghiệm (Phụ lục 3) 81

3.3.2 Quá trình thực nghiệm sư phạm 82

3.3.3 Kết quả thực nghiệm sư phạm 83

KẾT LUẬN 86

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 89

PHỤ LỤC 91

Trang 10

độ tuổi từ 15- 18 các em đã và đang dần hoàn thiện bản thân mình về mặt nhận thức và có thể tự khám phá những tri thức xung quanh mình

Trong chương trình Ngữ Văn THPT, các tác phẩm thơ Việt Nam giai đoạn 1945 – 1975 có giá trị đặc biệt không chỉ đối với tiến trình hiện đại hóa thơ ca dân tộc mà còn có ý nghĩa quan trọng trong việc góp phần xây dựng những phẩm chất cao đẹp của thế hệ trẻ hôm nay Tuy nhiên, tình hình thực tế dạy học mảng thơ này hiện nay còn nhiều bất cập Vẫn tồn tại thực trạng giáo viên bình giảng và đọc chép cho HS nhiều khiến nhiều em học sinh sợ học thuộc thơ và cảm thấy khó phân tích, chưa hiểu rõ và sâu giá trị nội dung và giá trị nghệ thuật của từng tác phẩm Hoặc khi đi phân tích tác phẩm các em chỉ viết được những ý rất cơ bản về nội dung tác phẩm mà chưa biết phân tích nghệ thuật để làm nổi bật tác phẩm Có những em từ sợ học thơ chuyển sang chán học và các em không hề biết thơ thuộc thể loại gì HS đa số chỉ thụ động ghi bài, chưa có sự chủ động tìm tòi tri thức mới cho bản thân Từ thực

tế trên, chúng tôi thiết nghĩ rằng phát triển NLTH cho HS không chỉ khắc phục những hạn chế còn tồn tại trong việc dạy và học mảng thơ Việt Nam

1945 – 1975 mà còn phát huy được năng lực cảm thụ văn học cho HS Xuất phát từ những lí do trên chúng tôi chọn đề tài: “Phát triển năng lực tự học cho

Trang 11

2

HS THPT trong dạy học thơ Việt Nam giai đoạn 1945 – 1975” làm đề tài nghiên cứu khóa luận tốt nghiệp của mình

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

2.1 Về việc dạy học mảng thơ Việt Nam giai đoạn 1945 – 1975

Những năm gần đây do yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học, giáo viên Ngữ Văn các cấp đã được bồi dưỡng nhiều tri thức về các thể loại văn học và phương pháp dạy học tác phẩm văn chương theo đặc trưng thể loại Trên cơ sở những thành tựu về loại thể văn học và thi pháp học, nhiều nhà nghiên cứu, nhà sư phạm tâm huyết đã đề xuất cách thức, con đường dạy học sinh cảm thụ, tiếp nhận tác phẩm văn chương nói chung, thơ trữ tình nói riêng theo đặc trưng thể loai Sau đây là một số cuốn sách và công trình nghiên cứu của các tác giả về dạy học mảng thơ Việt Nam giai đoạn 1945 – 1975:

- Nguyễn Viết Chữ (2003), Phương pháp dạy học tác phẩm văn chương, NXB Đại học Sư Phạm

- Trần Thanh Đạm (1971), Vấn đề giảng dạy tác phẩm văn học theo loại thể, NXB Giáo Dục

- Bùi Thị Thêu (2011), Giảng dạy thơ trữ tình lớp 12 theo đặc trưng thể loại, Luận văn thạc sĩ sư phạm Ngữ Văn, Trường Đại học Giáo Dục

2.2 Về phát triển năng lực tự học của học sinh trong môn Ngữ Văn

Ngữ Văn là một môn học có những đặc trưng riêng, đòi hỏi người đọc phải có sự liên tưởng, tưởng tượng và tư duy Vì vậy, tự học trong môn Ngữ Văn cũng có những nét riêng biệt Việc đổi mới phương pháp giảng dạy các môn học nói chung và môn Ngữ Văn nói riêng cũng là một vấn đề đang được quan tâm Sau đây là một số tài liệu về phát triển năng lực tự học của học sinh trong môn Ngữ Văn:

- GS Trần Bá Hoành, TS Nguyễn Trí, PGS TSKH Cao Đức Tiến, TS

Nguyễn Trọng Hoàn là nhóm tác giả biên soạn cuốn sách “Áp dụng dạy và học tích cực trong môn Văn học” do NXB ĐHSPHN xuất bản đã bàn đến một

Trang 12

3

trong những đặc trưng của phương pháp tích cực đó là tự học Các tác giả cũng nhấn mạnh đến nội dung dạy và học tập trung vào đối tượng học sinh Trong cuốn sách, các tác giả quan tâm đến kiến thức, năng lực phát hiện và giải quyết các vấn đề thực tiễn…

- Cuốn sách “Văn học giáo dục thế kỉ XXI” của tác giả GS Phan Trọng

Luận biên soạn năm 2002 tại NXB ĐHQGHN có một số bài viết đề cập đến

vấn đề đổi mới phương pháp và vấn đề tự học Bài viết có tiêu đề “Tự học – chuyện cũ mà mới”, tác giả đã đề cập đến bí quyết của việc tự học Ngoài ra còn có một số bài viết khác như Cách tự học môn Ngữ Văn hiệu quả (Nguyễn Văn Phiên), Rèn kĩ năng tự học môn Ngữ Văn (Đặng Quang Sơn) …

Tài liệu viết về đề tài phát triển năng lực tự học của HS trong dạy học Ngữ Văn không chỉ là những cuốn sách mà còn là những luận văn, luận án, sáng kiến kinh nghiệm…Sau đây là một vài ví dụ minh họa:

- Sáng kiến kinh nghiệm đơn vị trường THPT Long Thành (2013 –

2014) của tác giả Đặng Thị Phương Mai với đề tài “Phát triển năng lực tự học Ngữ Văn 12 qua dạy học theo chủ đề” Trong phần cơ sở lí luận và cơ sở

thực tiễn, tác giả đã đưa ra những điểm mạnh (thuận lợi) của môn Ngữ Văn để vận dụng phương pháp dạy học theo chủ đề Bên cạnh đó, tác giả cũng chỉ ra những khó khăn và tồn tại trong dạy học Ngữ Văn theo chủ đề ở lớp 12 Thêm nữa, đề tài đưa ra cách thức tổ chức và thực hiện các giải pháp ở cả GV

và HS (có giáo án minh họa)

- Luận án Thạc sĩ ngành sư phạm Ngữ Văn của tác giả Nguyễn Mạnh

Hoàng – trường Đại học Giáo Dục – ĐHQGHN (2015) với đề tài: “Dạy học văn học sử (Ngữ Văn 11) theo định hướng phát triển năng lực tự học của người học” Đề tài không chỉ cung cấp nhũng cơ sở lí luận về năng lực tự

học, thực trạng về năng lực tự học môn Ngữ Văn mà còn đưa ra những biện pháp nhằm phát triển năng lực tự học cho học sinh qua các bài văn học sử trong chương trình Ngữ Văn 11

Trang 13

4

- Luận văn Thạc sĩ khoa học giáo dục của tác giả Nguyễn Thị Thu Hà –

trường Đại học sư phạm Thái Nguyên (2011) với đề tài: “Những biện pháp phát triển năng lực tự học về văn học sử cho học sinh trung học phổ thông ở miền núi phía Bắc” Luận văn đưa ra cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn của vấn

đề tự học qua các bài văn học sử ở trường THPT Đề xuất những biện pháp và thiết kế một số bài học nhằm phát triển năng lực tự học về văn học sử cho học sinh THPT ở miền núi phía Bắc

- Luận văn Thạc sĩ sư phạm Ngữ Văn chuyên ngành lý luận và phương pháp dạy học tại trường Đại học Giáo Dục – ĐHQGHN (2014) của tác giả Hoàng Anh Thư với đề tài “Phát triển năng lực tự học truyện ngắn Việt Nam giai đoạn 1930 – 1945 cho học sinh lớp 11 trung học phổ thông” Ngoài phần

cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn của đề tài, luận án cung cấp cho bạn đọc cách thức, nguyên tắc tổ chức dạy học truyện ngắn giai đoạn 1930 – 1945 theo hướng phát triển năng lực tự học cho HS lớp 11 THPT và phần thực nghiệm chi tiết, cụ thể tại 3 trường: THPT Lê Qúy Đôn, THPT Nguyễn Trãi (Thái Bình), THPT Phan Đình Phùng (Hà Nội)

Như vậy, qua tìm hiểu lịch sử nghiên cứu vấn đề chúng tôi nhận thấy:

Lí luận chung về tự học đã được các tác giả nghiên cứu khá kĩ tạo cơ sở lí luận vững chắc cho những nghiên cứu tiếp theo về vấn đề phát triển năng lực

tự học cho HS trong dạy học Ngữ văn Minh chứng là các bài viết đã chỉ ra được mục tiêu, cách thức, biện pháp để dạy tự học Tuy nhiên, các bài viết còn thiên về mặt lý thuyết mà chưa cụ thể hóa từng phân môn, lĩnh vực hay chủ đề văn học ở nhà trường phổ thông Riêng ở bộ môn Ngữ văn, những nghiên cứu sâu về kĩ năng tự học các phần cụ thể như: Tiếng Việt, Làm văn, Đọc văn (trong đọc văn có đọc văn bản văn học) đặc biệt là giai đoạn thơ Việt Nam 1945 - 1975 cũng chưa được quan tâm nghiên cứu nhiều

Trang 14

1975, từ đó góp phần nâng cao hiệu quả dạy học môn Ngữ Văn

3.2 Nhiệm vụ của đề tài

- Tìm hiểu cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn của vấn đề nghiên cứu

- Xây dựng được hệ thống các biện pháp nhằm phát triển năng lực tự học cho học sinh THPT trong dạy học thơ Việt Nam giai đoạn 1945 – 1975

- Tiến hành thực nghiệm sư phạm

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu của đề tài: việc phát triển năng lực tự học

cho học sinh THPT trong dạy học thơ Việt Nam giai đoạn 1945 - 1975

4.2 Phạm vi nghiên cứu của đề tài

4 bài thơ học chính khóa SGK Ngữ Văn 12 (tập 1) như: Tây Tiến (Quang Dũng), Việt Bắc (Tố Hữu), Đất Nước (Nguyễn Khoa Điềm), Sóng (Xuân Quỳnh) và 4 bài đọc thêm: Đất Nước (Nguyễn Đình Thi), Dọn về làng (Nông Quốc Chấn), Tiếng hát con tàu (Chế Lan Viên), Bác ơi! (Tố Hữu)

- Tiến hành nghiên cứu tại lớp 12D3 trường THPT Tây Hồ - Hà Nội

5 Phương pháp nghiên cứu

* Nhóm phương pháp nghiên cứu tài liệu, lý thuyết

- Phân tích, hệ thống hóa những tài liệu của các tác giả bàn về phát triển các năng lực tự học nói chung, phát triển các năng lực học tập môn Ngữ Văn nói riêng và các tài liệu Ngữ Văn có liên quan tới đề tài (đặc biệt tài liệu thơ ca Việt Nam 1945 – 1975)

* Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn

- Điều tra bằng bảng hỏi, phỏng vấn, quan sát thực tiễn

- Thực nghiệm sư phạm: Soạn bài và tiến hành thực nghiệm sư phạm

Trang 15

6

từng phần, toàn phần nhằm kiểm nghiệm tính khả thi của các biện pháp sư phạm mà khóa luận đã đưa ra

- Sử dụng toán học thống kê để xử lý kết quả thực nghiệm sư phạm

6 Cấu trúc khóa luận

Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, Khóa luận gồm 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn của đề tài

Chương 2: Một số biện pháp phát triển năng lực tự học cho HS THPT trong dạy học thơ Việt Nam giai đoạn 1945 – 1975

Chương 3: Thực nghiệm sư phạm

Trang 16

1.1.1.1 Khái niệm năng lực tự học

* Khái niệm năng lực

Năng lực là một phạm trù từng được bàn đến trong mọi lĩnh vực của cuộc sống xã hội Đã có nhiều định nghĩa khác nhau về năng lực Theo từ điển tiếng Việt: “Năng lực là khả năng, điều kiện chủ quan hoặc tự nhiên sẵn

có để thực hiện một hành động nào đó Năng lực là phẩm chất tâm lý và sinh

lý tạo cho con người khả năng hoàn thành một loại hoạt động nào đó với chất lượng cao”

Đứng về góc độ tâm lý học: Năng lực trở thành đối tượng nghiên cứu chuyên sâu từ thế kỷ XIX, trong các công trình thực nghiệm của F.Ganton năng lực có những biểu hiện như: tính nhạy bén, chắc chắn, sâu sắc và dễ dàng trong quá trình lĩnh hội một hoạt động mới nào đó Người có năng lực là người đạt hiệu suất và chất lượng hoạt động cao trong các hoàn cảnh khách quan và chủ quan như nhau Năng lực gắn bó chặt chẽ với tính định hướng chung của nhân cách

Từ điển tâm lý học đưa ra khái niệm: Năng lực là tập hợp các tính chất hay phẩm chất của tâm lý cá nhân, đóng vai trò là điều kiện bên trong tạo thuận lợi cho việc thực hiện tốt một dạng hoạt động nhất định Theo Cosmovici: “Năng lực là tổ hợp đặc điểm của cá nhân, giải thích sự khác biệt giữa người này với người khác ở khả năng đạt được những kiến thức và hành

vi nhất định” Còn A.N.Leonchiev cho rằng: “Năng lực là đặc điểm cá nhân quy định việc thực hiện thành công một hoạt động nhất định”

Nhà tâm lý học A.Rudich đưa ra quan niệm về năng lực như sau: Năng lực

là tính chất tâm sinh lý của con người chi phối quá trình tiếp thu các kiến thức,

Trang 17

8

kỹ năng và kỹ xảo cũng như hiệu quả thực hiện một hoạt động nhất định Năng lực của con người không chỉ là kết quả của sự phát triển và giáo dục mà còn là kết quả hoạt động của các đặc điểm bẩm sinh hay còn gọi là năng khiếu Năng lực đó là năng khiếu đã được phát triển, có năng khiếu chưa có nghĩa là nhất thiết sẽ biến thành năng lực Muốn vậy phải có môi trường xung quanh tương ứng và phải có sự giáo dục có chủ đích

Trong các giáo trình tâm lý học các tác giả cũng đã đưa ra khá nhiều quan niệm về năng lực Trong đó đa số đều quan niệm năng lực là tổ hợp các thuộc tính độc đáo của cá nhân phù hợp với những yêu cầu của một hoạt động nhất định, đảm bảo cho hoạt động có kết quả tốt Năng lực vừa là tiền đề vừa là kết quả của hoạt động, năng lực vừa là điều kiện cho hoạt động đạt kết quả nhưng đồng thời năng lực cũng phát triển ngay trong chính hoạt động ấy Theo quan điểm của Tâm lý học Mác xít: “Năng lực của con người luôn gắn liền với hoạt động của chính họ.”

Như vậy, khi nói đến năng lực thì không phải là một thuộc tính tâm lý duy nhất nào đó (ví dụ như khả năng tri giác, trí nhớ ) mà là sự tổng hợp các thuộc tính tâm lý cá nhân (sự tổng hợp này không phải phép cộng của các thuộc tính mà là sự thống nhất hữu cơ, giữa các thuộc tính tâm lý này diễn ra mối quan hệ tương tác qua lại theo một hệ thống nhất định và trong đó một thuộc tính nổi lên với tư cách chủ đạo và những thuộc tính khác giữ vai trò phụ thuộc) đáp ứng được những yêu cầu hoạt động và đảm bảo hoạt động đó đạt được kết quả mong muốn

* Khái niệm tự học

- “Tự học là tự mình động não, suy nghĩ, sử dụng các năng lực trí tuệ (quan sát, so sánh, phân tích, tổng hợp…) và có khi cả cơ bắp (khi phải sử dụng công cụ) cùng các phẩm chất của mình, rồi cả động cơ tình cảm, cả nhân sinh quan, thế giới quan (trung thực, khách quan, có chí tiến thủ, không ngại khó, ngại khổ, kiên trì, nhẫn nại, lòng say mê khoa học, ý muốn thì đỗ, biến

Trang 18

- “Tự học là hoạt động độc lập chiếm lĩnh kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo…

và kinh nghiệm lịch sử xã hội loài người nói chung và của chính bản thân người học”

(Thái Duy Tuyên, Phương pháp dạy học – Truyền thống và đổi mới, NXB Giáo dục, tái bản lần thứ hai, 2011, trang 302 – 303)

- “Tự học là một hình thức hoạt động nhận thức của cá nhân nhằm nắm vững hệ thống tri thức và kỹ năng do chính bản thân người học tiến hành ở trên lớp hoặc ở ngoài lớp, hoặc không theo chương trình và sách giáo khoa đã được quy định Tự học có quan hệ chặt chẽ tới quá trình dạy học, nhưng có tính độc lập cao và mang đậm nét sắc thái cá nhân”

(Đặng Vũ Hoạt, Hà Thị Đức, Lý luận dạy học đại học, NXB ĐHSPHN,

2004, trang 174)

- “Tự học là hoạt động học do người học tự lựa chọn, thực hiện theo nhiệm vụ được thiết kế rõ ràng, tự điều chỉnh một cách tự giác, tích cực nhằm đạt được mục tiêu đề ra”

- Hoạt động tự học được xem xét theo 2 góc độ:

+ Một dạng của hoạt động dạy học (trong hệ thống các hình thức tổ chức dạy học được qui định)

+ Hệ thống các hoạt động, thao tác và điều kiện thực thi do chính người học thực hiện

* Khái niệm năng lực tự học

Nguyễn Cảnh Toàn đưa ra quan niệm về năng lực tự học như sau: “Năng lực tự học được hiểu là một thuộc tính KN rất phức hợp Nó bao gồm KN và

Trang 19

kĩ xảo cần gắn bó với động cơ và thói quen tương ứng, làm cho người học có thể đáp ứng được những yêu cầu mà công việc đặt ra” Năng lực TH là sự bao hàm cả cách học, KN học và nội dung học: “Năng lực tự học là sự tích hợp tổng thể cách học và KN tác động đến nội dung trong hàng loạt tình huống – vấn đề khác nhau”

Năng lực tự học là những thuộc tính tâm lí mà nhờ đó chúng ta giải quyết được các vấn đề đặt ra một cách hiệu quả nhất, nhằm biến kiến thức của nhân loại thành sở hữu của riêng mình

Biểu hiện của năng lực tự học

Năng lực tự học là một khái niệm trừu tượng và bị chi phối bởi rất nhiều yếu tố Trong nghiên cứu khoa học, để xác định được sự thay đổi các yếu tố của NLTH sau một quá trình học tập, các nhà nghiên cứu đã tập trung mô phỏng, xác định những dấu hiệu của NLTH được bộc lộ ra ngoài Đều này đã được thể hiện trong một số nghiên cứu dưới đây:

Candy [21] đã liệt kê 12 biểu hiện của người có năng lực tự học Ông chia thành 2 nhóm để xác định nhóm yếu tố nào sẽ chịu tác động mạnh từ môi trường học tập

Sơ đồ 1.1 Biểu hiện của NLTH

3 Có năng lực đánh giá, kĩ năng xử lý thông tin và giải quyết vấn đề

6 Có năng lực giao tiếp xã hội

7 Mạo hiểm, sáng tạo

8 Tự tin, tích cực

9 Có khả năng TH

Trang 20

năng học tập cần phải có của người học, chủ yếu được hình thành và phát triển trong quá trình học, do đó phương pháp dạy của GV sẽ có tác động rất lớn đến phương pháp học của học trò, tạo điều kiện để hình thành, phát triển

và duy trì NLTH

Nhóm đặc điểm bên trong (tính cách) được hình thành và phát triển chủ yếu thông qua các hoạt động sống, trải nghiệm của bản thân và bị chi phối bới yếu tố tâm lý Chính vì điều đó mà GV nên tạo môi trường để HS được thử nghiệm và kiểm chứng bản thân, đôi khi chỉ cần phản ứng đúng - sai trong nhận thức hoặc nhận được lời động viên, khích lệ cũng tạo ra được động lực để người học phấn đấu, cố gắng TH

NLTH cũng là một khả năng, một phẩm chất “vốn có” của mỗi cá nhân Tuy nhiên nó luôn luôn biến đổi tùy thuộc vào hoạt động của cá nhân trong môi trường văn hóa – xã hội NLTH là khả năng bẩm sinh của mỗi người nhưng phải được đào tạo, rèn luyện trong hoạt động thực tiễn thì nó mới bộc lộ được những

ưu điểm giúp cho cá nhân phát triển, nếu không sẽ mãi là khả năng tiềm ẩn Thời gian mỗi chúng ta ngồi trên ghế nhà trường là rất ngắn ngủi so với cuộc đời Vì vậy tự học và năng lực tự học của HS sẽ là nền tảng cơ bản đóng vai trò quyết định đến sự thành công của các em trên con đường phía trước và đó cũng chính

là nền tảng để các em tự học suốt đời

Như vậy, năng lực tự học là khả năng xác định được nhiệm vụ học tập một cách tự giác, chủ động; tự đặt được mục tiêu học tập để đòi hỏi sự nỗ lực phấn đấu thực hiện; thực hiện các phương pháp học tập hiệu quả; điều chỉnh những sai sót, hạn chế của bản thân khi thực hiện các nhiệm vụ học tập thông qua tự đánh giá hoặc lời góp ý của GV, bạn bè; chủ động tìm kiếm sự hỗ trợ khi gặp khó khăn trong học tập

 Sơ đồ hình thành thái độ học tập và các thao tác để hình thành năng lực tự học

Trang 21

Sơ đồ 1.2 Quá trình hình thành thái độ học tập

Sơ đồ 1.3 Các thao tác hình thành năng lực tự học

Tính

tự giác

Ý chí khắc phục khó khăn

Hứng thú tự học

Động cơ tự học

Nhu cầu tự học

Rút kinh nghiệm điều chỉnh

Định hướng

Xác định mục tiêu

Lập kế hoạch

Thực hiện

kế hoạch

Tự đánh giá

Trang 22

1.1.1.2 Ý nghĩa của tự học và năng lực tự học

Tự học là chiếc chìa khóa thần kỳ giúp con người học tập hiệu quả Kiến thức của nhân loại tăng lên nhanh chóng, nhu cầu luân chuyển tri thức ngày càng cao nên con người muốn thích ứng, hòa nhập, tự khẳng định cá nhân mình thì phải không ngừng bổ sung tri thức bằng con đường tự học

Tự học là cơ sở cho việc hình thành năng lực tự học để người học có thể học tập suốt đời đồng thời rèn luyện những kĩ năng học tập hiệu quả Tự học là hoạt động giúp cho học sinh lĩnh hội vững chắc hệ thống kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo và phát triển năng lực nhận thức của bản thân Tự học không chỉ giúp cho HS tích lũy được vốn tri thức, kỹ năng mà trong quá trình độc lập giải quyết những vấn đề, nhiệm vụ học tập, các thao tác tri thức của HS cũng trở nên thành thạo và vững chắc Nếu rèn luyện cho người học có kỹ năng, phương pháp, hình thành thói quen tự học, biết linh hoạt ứng dụng những điều

đã học vào những tình huống mới, thực tế cuộc sống, biết tự phát hiện và giải quyết vấn đề đặt ra thì sẽ tạo cho người học ý chí say mê học hỏi, khơi dậy những tiềm năng vốn có của người học Không những vậy, tự học còn giúp cho HS hình thành niềm tin khoa học, lòng say mê nghiên cứu tìm tòi, khám phá khoa hoc và những nhân cách khác1 Làm được như vậy thì kết quả học tập sẽ nhân lên gấp bội mà người học còn được chuẩn bị để tự học khi học lên cao hơn cũng như khi vào đời sẽ dễ dàng thích ứng với cuộc sống

Tự học giúp người học rèn luyện được những phẩm chất tốt đẹp và cao quý như: chăm chỉ, kiên trì, sáng tạo, chủ động, nỗ lực vươn lên, phát triển phẩm chất trí tuệ và hoàn thiện nhân cách… Học sinh không ngừng phát huy tính tích cực nhận thức, tự rèn luyện các thao tác trí tuệ, dần dần hình thành các phẩm chất hoạt động trí tuệ cần thiết như: tính định hướng, tính bề rộng,

1

Nguyễn Thạc, Phạm Thành Nghị (1992), Tâm lý sư phạm đại học, NXB Giáo dục, Hà Nội.

Trang 23

tính chiều sâu, tính linh hoạt, tính khái quát … Sự thành đạt của những tấm gương sáng về tự học ở trong nước và trên thế giới như: Hồ Chí Minh, Nguyễn Cảnh Toàn, Lê Trí Viễn, Bill Gates, T Edison là minh chứng cho luận điểm này

Quá trình dạy học bao gồm quan hệ hai mặt hữu cơ đó là: hoạt động dạy của người dạy và hoạt động học của người học Người dạy đóng vai trò là

tổ chức, lãnh đạo điều khiển và định hướng hoạt động cho người học Người học vừa là đối tượng tác động của dạy học vừa là chủ thể của quá trình đó Nếu người học không chủ động học, không phát huy nội lực, không có phương pháp tự học tốt thì việc dạy học khó đạt kết quả cao Vì vậy, muốn dạy tốt, học tốt thì GV cần tổ chức quá trình dạy học thành một quá trình hợp tác với HS để cùng thực hiện mục tiêu dạy học Trong mối quan hệ hợp tác

đó, GV giữ vai trò chủ động dẫn dắt, hướng dẫn, gợi mở, đánh giá… theo mục tiêu đã đề ra HS giữ vai trò chủ động phát huy nội lực của mình để lĩnh hội tri thức và hoàn thiện bản thân

Như vậy, quá trình dạy trở thành quá trình dạy – tự học Thầy dạy để trò biết tự học, hình thành năng lực tự học sáng tạo để học tập suốt đời GV cần phải căn cứ vào nội dung dạy học và trình độ phát triển tư duy của HS mà hướng dẫn cho HS phương pháp tự học, để ngoại lực của thầy kết hợp với nội lực của trò nhằm hoàn thành mục tiêu dạy học Dạy để trò biết tự học và hình thành năng lực tự học tốt để hoàn thiện mục tiêu giáo dục đã đề ra

1.1.1.3 Phân loại hình thức tự học

- Tự học có hướng dẫn (trực tiếp/ gián tiếp), theo sự tư vấn của người dạy + Tự học trên lớp: trong giờ lí thuyết, giờ thực hành tại phòng thí nghiệm, giờ thảo luận, làm việc nhóm, giờ tự học (trên lớp)…

+ Tự học ở nhà: đọc sách, giáo trình, làm bài tập, chuẩn bị thảo luận…

- Tự học mở rộng, nâng cao, tự học tự do, thực hiện các nghiên cứu độc lập hoặc theo nhóm

Trang 24

Nhiệm vụ của GV ở khâu khởi động quá trình dạy học là phải biến mâu thuẫn khách quan này thành mâu thuẫn chủ quan của HS để các em có nhu cầu hiểu biết và hình thành động cơ học tập Trên cơ sở đó, GV tổ chức một cách khéo léo những công tác tự lực cho HS để rèn luyện cho họ phương pháp học tập hợp lý và cả những phương pháp tìm tòi sáng tạo, nhờ đó rèn luyện tư duy sáng tạo cho HS

Động cơ học tập chia thành 2 nhóm lớn:

- Nhóm động cơ hứng thú nhận thức: thường đến khi bài học có nội dung mới, bài học có ấn tượng với các em ngay từ tên tiêu đề, chứa đựng những yếu tố kích thích sự khám phá của HS…

- Nhóm động cơ nghĩa vụ và trách nhiệm: thể hiện ở nghĩa vụ với Tổ quốc, quê hương, trách nhiệm với gia đình, thầy cô, bạn bè và bản thân

Ở độ tuổi THPT, động cơ học tập của các em HS đa dạng và bền vững hơn so với lứa tuổi THCS Tuy nhiên, vẫn có những môn học các em thụ động học thuộc lòng mà chưa hiểu nội dung vấn đề, hứng thú với môn học này nhưng chưa hứng thú với môn học khác

Vì vậy, việc tạo động cơ học tập, kích thích hứng thú học tập cho các

em HS THPT là rất quan trọng, đòi hỏi sự cố gắng của thầy và trò Động cơ đúng sẽ tạo ra hứng thú Hứng thú là tiền đề của ý thức tự giác Tích cực tư

Trang 25

duy độc lập là nguồn gốc của sáng tạo Ngược lại, phong cách học tập tích cực độc lập sẽ phát triển tính tự giác, hứng thú và bồi dưỡng động cơ học tập cho HS

* Nội dung dạy học

Nội dung dạy học là một bộ phận được chọn lọc trong nền văn hóa của nhân tộc và nhân loại Đó là hệ thống tri thức, những cách thức hoạt động, những kinh nghiệm hoạt động sáng tạo và những tiêu chuẩn về thái độ đối với thế giới, con người phù hợp về mặt sư phạm nhằm hình thành và phát triển nhân cách người học

Các thành phần của nội dung dạy học có mối quan hệ mật thiết qua lại và quy định lẫn nhau Nội dung dạy học ở trường phổ thông chứa đựng trong SGK, tài liệu tham khảo và trong các nguồn thông tin khác Trong giảng dạy, GV phải tinh đến tác động của những kênh thông tin này để phối hợp nhằm phát huy thế mạnh của quá trình đào tạo trong nhà trường thể hiện tính

hệ thống, có kế hoạch chặt chẽ và vừa sức, sát đối tượng của các thông tin đưa vào dạy học

Nội dung dạy học hiện nay phải đảm bảo cung cấp cả kiến thức, kỹ năng và thái độ cho HS Mục đích của việc này nhằm trang bị cho HS một hành trang để có thể vừa tham gia ngay vào cuộc sống hiện tại khi hết cấp học, phục vụ cho yêu cầu trước mắt vừa phải chú trọng đến việc tạo ra tiềm lực cho sự phát triển lâu dài

Trong quá trình học tập, HS phải tự mình chiếm lĩnh tri thức để hoàn thiện nhân cách Nội dung dạy học phù hợp với điều kiện trường lớp, trang thiết bị, thời gian đầu tư cho việc học và phù hợp với tâm sinh lý, khả năng ,

sự chấp nhận của người học sẽ tác động lớn đến hứng thú học tập, lòng say

mê, tính tự lập và sáng tạo của HS

* Phương pháp dạy học và kiểm tra đánh giá

Trang 26

Phương pháp dạy học là cách thức hoạt động của GV trong việc tổ chức các hoạt động học tập nhằm giúp HS chủ động đạt các mục tiêu dạy học Người học là đối tượng của hoạt động dạy và cũng là chủ thể của hoạt động học PPDH bao gồm cả cách dạy của GV và cách học của HS Thông qua hoạt động học, dưới sự chỉ đạo của người thầy, người học phải tích cực, chủ động cải biến chính mình về kiến thức, kĩ năng, thái độ và hoàn thiện nhân cách Muốn đổi mới cách học, phát huy năng lực tự học cho HS thì GV cần

có những PPDH khiến HS cuốn hút vào các hoạt động học tập do GV tổ chức Thông qua đó, HS tự khám phá những điều mình chưa rõ chứ không thụ động tiếp thu những tri thức đã được GV sắp đặt sẵn Được đặt vào những tình huống của đời sống thực tế, HS trực tiếp quan sát, thảo luận, giải quyết vấn đề đặt ra theo cách suy nghĩ của mình Từ đó lĩnh hội được kiến thức, kĩ năng và phương pháp mới để chuyển hóa tri thức

Trong học tập, việc đánh giá HS không chỉ nhằm mục đích nhận định thực trạng và điều chỉnh hoạt động của HS mà tạo điều kiện để bản thân GV

và các cấp quản lý nhận định và đánh giá đúng về thực trạng dạy và học tại cơ

sở giáo dục Kiểm tra đánh giá trong dạy học có 3 chức năng cơ bản: chức năng phát hiện, điều chỉnh; chức năng củng cố, phát triển trí tuệ của HS; chức năng giáo dục Mỗi chức năng đều góp phần quan trọng vào việc hình thành phương pháp học tập tích cực cũng như hoàn thiện nhân cách cho HS Trong giáo dục hiện đại, khi việc rèn luyện và nâng cao năng lực tự học cho HS trở thành một mục tiêu giáo dục thì bên cạnh việc đánh giá, GV cần hướng dẫn

HS tự đánh giá chính mình, đánh giá lẫn nhau và tự điều chỉnh cách học Với sự trợ giúp của các thiết bị kĩ thuật, kiểm tra đánh giá sẽ không còn là một công việc nặng nhọc đối với GV mà mang lại nhiều thông tin kịp thời hơn để linh hoạt điều chỉnh hoạt động dạy, hoạt động học Đồng thời, HS cũng có thể thường xuyên tự kiểm tra đánh giá để tìm ra phương pháp tự học tốt hơn

Trang 27

* Điều kiện và môi trường học tập

Con người là tổng hòa các mối quan hệ xã hội Tính cách HS được hình thành từ sự giáo dục và tự giáo dục ở nhà trường phổ thông và chịu ảnh hưởng của môi trường xã hội Giáo dục gia đình là hạt nhân cơ bản hình thành tính cách người học từ những ngày ấu thơ Do đó, chính sự tác động mạnh mẽ của xã hội, nhất là gia đình đã hình thành ở trẻ động cơ, thái độ học tập đến chất lượng học tập và sự phát triển năng lực tự học của các em

Môi trường và điều kiện học tập của xã hội và gia đình dành cho các

em có ảnh hưởng rất lớn đến quá trình hình thành và nâng cao năng lực tự học Môi trường xã hội lành mạnh, những điều kiện chăm sóc thiết yếu từ gia đình như: tài liệu học tập, góc học tập, sự quan tâm và tạo điều kiện của cha mẹ… là những điều kiện cần thiết để HS ham học và có khả năng học tập tốt Điều kiện cơ sở vật chất, trang thiết bị và phương tiện phục vụ học tập của nhà trường có vai trò quan trọng trong việc hình thành và nâng cao năng lực tự học cho HS Ở các trường trung học: thư viện, phòng thí nghiệm, sách báo, tài liệu tham khảo, mạng Internet… mang đến những kiến thức phong phú, đa dạng giúp các em có thêm vốn tri thức quý báu cũng như những kỹ năng khai thác thông tin cần thiết để HS có thể tự học suốt đời

1.1.2 Năng lực tự học trong dạy học Ngữ văn ở trường THPT

Ngữ Văn là một môn học ở trường THPT Môn Ngữ văn cung cấp cho học sinh những kiến thức phổ thông, cơ bản, hiện đại, có tính hệ thống về ngôn ngữ (trọng tâm là tiếng Việt) và văn học (trọng tâm là văn học Việt Nam), phù hợp với trình độ phát triển của lứa tuổi và yêu cầu đào tạo nguồn nhân lực trong thời kì công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Môn học hình thành và phát triển ở học sinh các năng lực sử dụng tiếng Việt, tiếp nhận văn học, cảm thụ thẩm mĩ; phương pháp học tập, tư duy, đặc biệt là phương pháp

tự học; năng lực ứng dụng những điều đã học vào cuộc sống Bồi dưỡng cho học sinh tình yêu tiếng Việt, văn học, văn hoá; tình yêu gia đình, thiên nhiên,

Trang 28

đất nước; lòng tự hào dân tộc; ý chí tự lập, tự cường; lí tưởng xã hội chủ nghĩa; tinh thần dân chủ, nhân văn; giáo dục cho học sinh trách nhiệm công dân, tinh thần hữu nghị và hợp tác quốc tế, ý thức tôn trọng và phát huy các giá trị văn hoá của dân tộc và nhân loại… Vì vậy hoạt động tự học rất cần thiết với môn học này

1.1.2.1 Những yêu cầu để phát triển năng lực tự học cho học sinh trong dạy học Ngữ Văn

Để có năng lực tự học nói chung và năng lực tự học Ngữ Văn nói riêng đòi hỏi người học phải có rất nhiều kĩ năng, khả năng học tập, bên cạnh đó cần phải có ý chí và phương pháp học tập phù hợp Khả năng tự học của mỗi

HS sẽ khác nhau, tuy nhiên khả năng tự học có thể được cải thiện nếu như người học được hoạt động trong môi trường thuận lợi Ở đó các em được thử thách, được rèn luyện, được động viên để trau rồi các kĩ năng học tập NLTH trong dạy học NV chỉ tồn tại và phát triển thông qua các hoạt động mang tính

tự chủ của bản thân HS

* Học sinh có kiến thức về kĩ năng tự học Ngữ Văn

Kĩ năng: là khả năng thực hiện đúng hành động, hoạt động phù hợp với những mục tiêu và điều kiện cụ thể tiến hành hành động Muốn có kĩ năng, trước hết phải có kiến thức làm cơ sở cho việc hiểu biết về nội dung công việc

mà kĩ năng hướng vào và tri thức về bản thân kĩ năng như quy trình luyện tập từng thao tác riêng lẻ cho đến khi thực hiện một hành động đúng với mục đích yêu cầu đã đề ra

Mức độ phát triển cao của kĩ năng là kĩ xảo Kĩ xảo là khả năng thực hiện hành động, hoạt động một cách thành thạo, linh hoạt, sáng tạo phù hợp với những mục tiêu trong các điều kiện khác nhau Để đạt tới kĩ xảo cần phải trải qua các giai đoạn tập luyện trên cơ sở đã có các kĩ năng sao cho mỗi hành động người ta hoàn toàn không bận tâm đến các thao tác nữa mà mọi suy nghĩ

Trang 29

kĩ năng tự làm việc với các tài liệu học tập; kĩ năng nghe giảng kết hợp với tự ghi chép; kĩ năng phát hiện, giải quyết và trình bày vấn đề vấn đề; kĩ năng tư duy (phân tích, so sánh, tổng hợp, khái quát hóa, trừu tượng hóa…); kĩ năng tự

ôn tập củng cố kiến thức; kĩ năng tự kiểm tra đánh giá…

* Thái độ của học sinh đối với hoạt động tự học bộ môn Ngữ Văn

Năng lực tự học trong dạy học Ngữ Văn còn bao gồm yếu tố nhu cầu học tập, thái độ, đạo đức, phẩm chất như niềm say mê, ý chí, lòng quyết tâm, tính kiên trì, tinh thần vượt khó, ý thức trách nhiệm… của HS trong học tập Thông qua việc rèn luyện các kĩ năng tự học, GV sẽ trang bị cho HS kiến thức về phương pháp học tập bộ môn Bởi vì kĩ năng đòi hỏi con người phải có tri thức về hành động và các kinh nghiệm cần thiết Mặt khác muốn rèn luyện được kĩ năng tự học môn Ngữ Văn, HS cần phải có ý chí quyết tâm, tính kiên trì, tinh thần vượt khó trong học tập “Không có con đường nào thênh thang dẫn đến các đỉnh cao khoa học” (C.Mác), việc TH đạt kết quả cao hay thấp phụ thuộc vào nhiều yếu tố, trong đó sự nỗ lực của người học đóng vai trò quyết định và chủ yếu Nếu GV có kiến thức văn học uyên thâm, phương pháp giảng dạy rất hay, các hoạt động trên lớp GV tổ chức đều thu hút được HS… nhưng HS không chịu đầu tư thời gian tự học, không có sự nỗ lực lao động của cá nhân, không có kế hoạch và phương pháp học tập hợp lý, không tự giác tích cực học tập thì kết quả học môn NV sẽ không cao

Như vậy mối quan hệ giữa năng lực với kiến thức, kĩ năng và thái độ

Trang 30

được thể hiện thông qua việc thực hiện nhiệm vụ Vì vậy, HS cần chuyển hóa những kiến thức, kĩ năng và thái độ có được vào giải quyết những tình huống nhằm chiến lĩnh tri thức Như vậy, có thể nói kiến thức là cơ sở để hình thành năng lực Kĩ năng theo nghĩa hẹp là những thao tác, những cách thức thực hành, vận dụng kiến thức, kinh nghiệm đã có để thực hiện hoạt động học Tuy nhiên nếu chỉ có kiến thức về phương pháp tự học, kĩ năng tự học thôi thì chưa đủ để tạo nên NLTH mà cần cùng với thái độ, giá trị, trách nhiệm của bản thân để thực hiện thành công các nhiệm vụ học tập

=> Muốn phát triển năng lực tự học trong dạy học Ngữ Văn cần:

- Hiểu rõ kiến thức về tự học, về phương pháp học tập bộ môn

- Hoàn thiện hệ kĩ năng tự học: thể hiện trong nhận thức, trong thực tế khi HS tiến hành tự học (HS biết cách tìm kiếm tài liệu, tổ chức và sử dụng nguồn tài liệu hợp lí phục vụ cho quá trình TH…)

- Hệ thái độ: Người học có động cơ tự học, có sự hứng thú, say mê, chủ động trong quá trình học tập nhằm biến kiến thức của nhân loại thành sở hữu của mình một cách hiệu quả nhất

Phát triển năng lực tự học môn Ngữ Văn là trên cơ sở hình thành được NLTH cho HS GV phát triển NLTH cho HS bằng cách thường xuyên tiến hành luyện tập giúp HS nhận thức sâu sắc kiến thức về phương pháp tự học, vận dụng thành thục các kĩ năng và có sự say mê tích cực trong học tập Sự tác động sư phạm này sẽ làm năng lực của HS thay đổi theo chiều hướng tích cực

1.1.2.2 Các biểu hiện năng lực tự học trong dạy học Ngữ Văn

ở trường THPT

Năng lực tự học môn Ngữ Văn được thể hiện ở kiến thức về phương pháp tự học bộ môn, kĩ năng tự học và tinh thần thái độ học tập Tất cả những nội dung trên được biểu hiện ở các thành tố sau:

* Tự làm việc với các tài liệu học tập

Tài liệu học tập môn Ngữ Văn ở đây tập trung chủ yếu vào SGK và các tài

Trang 31

Tài liệu tham khảo là nguồn kiến thức cơ bản trong SGK, tuy nhiên có những tài liệu tham khảo đưa ra những kiến thức mở rộng hơn SGK Đồng thời, nếu HS có thói quen tự làm việc với tài liệu tham khảo sẽ giúp bản thân

có ý thức tự đọc sách, chủ động tìm hiểu tri thức, tạo lòng say mê, tự giác học tập, phát triển tư duy và vận dụng kiến thức vào thực tiễn Để phát triển năng lực tự học với tài liệu tham khảo cho HS, GV cần cung cấp tài liệu hoặc giới thiệu địa chỉ tin cậy để HS tiếp cận với tài liệu, nêu yêu cầu, nội dung, mức

độ, hướng dẫn cách đọc, ghi chép và trình bày tài liệu Các tài liệu tham khảo bao gồm như: Tài liệu Ngữ Văn lớp , Bình giảng văn , Ngữ Văn nâng cao , Hướng dẫn đọc văn – làm văn Tài liệu tham khảo được đối chiếu, so sánh sẽ có thuyết phục cao, có tác dụng giáo dục tư tưởng tình cảm, đồng thời bồi dưỡng năng lực làm việc với sách, bồi dưỡng lòng yêu thích môn học

* Tự ghi chép khi nghe giảng

Khi học tập trên lớp, học sinh phải biết vận dụng nhiều thao tác như: nghe giảng, ghi chép, suy nghĩ, trả lời câu hỏi, trao đổi, thảo luận, hoạt động nhóm… Trong những hoạt động đó HS cần phải biết kết hợp các thao tác nghe, ghi chép và suy nghĩ trả lời câu hỏi Phát triển được năng lực này sẽ

Trang 32

giúp HS học tập hiệu quả hơn, linh hoạt hơn trong tư duy, giáo dục ý thức tự giác, kiên nhẫn và khả năng tư duy nhanh Vì vậy trong quá trình nghe giảng hay nghe phần thuyết trình, HS phải biết chọn lọc kiến thức để ghi chép theo

ý hiểu của cá nhân Để việc lắng nghe có hiệu quả, HS phải luôn chú ý đến hoạt động của GV, phải theo sát các mục mà GV ghi trên bảng và kết hợp với SGK, trước khi nghe phải tìm hiểu qua nội dung bài học và chuẩn bị các công

cụ ghi chép Tốc độ nói sẽ nhanh hơn tốc độ ghi nên GV cần hướng dẫn HS cách ghi chép cho phù hợp, vừa ghi chép vừa suy nghĩ về vấn đề Một số kĩ năng trong ghi chép như: ghi thành các mục để dễ theo dõi, ghi những ý chính, ghi theo ý hiểu, dùng các chữ viết tắt và kí hiệu quy ước một cách nhất quán, có những nội dung có thể khái quát bằng sơ đồ, bảng biểu… Trong môn Ngữ Văn, tốc độ bình giảng bài của GV sẽ nhanh và nhiều hơn các môn khác vì vậy GV cần hướng dẫn HS chủ động ghi bài có thể theo hệ thống sơ đồ cây… hoặc ghi lại những câu bình hay của GV hoặc những phần mở rộng (lời bình của các tác giả nổi tiếng, các kiến thức bài học khác hoặc từ thực tế) vào vở

* Tự học và làm việc nhóm hoc sinh ngay trên lớp

Trong quá trình dạy học trên lớp, nhiều GV cho rằng nếu để HS tự học nhóm trên lớp các em sẽ tranh thủ nói chuyện, làm việc riêng Đặc biệt GV sợ

HS gây tiếng ồn, ảnh hưởng đến lớp khác và có thanh tra của trường xuống kiểm tra Thực tế, nếu GV biết cách tổ chức tiết tự học tốt sẽ mang lại hiệu quả cho HS Ví dụ, tại trường THPT Tây Hồ, một giáo viên bộ môn Ngữ Văn

đã chia sẻ rằng cô thường áp dụng cho HS tự học nhóm trên lớp Tuy nhiên, không phải tất cả các tiết học văn đều học theo phương pháp tự học hoặc làm việc nhóm Ví dụ, phần Tiếng Việt và Làm văn nội dung kiến thức ít hoặc đơn giản GV có thể dạy nhiều bài gộp vào một tiết Dành thời gian một số tiết để

HS tự học và thảo luận với nhau về đọc hiểu tác phẩm văn học nào đó Bởi lẽ, đọc hiểu văn bản luôn chiếm tỉ số thời gian và điểm nhiều trong tất cả bài thi của các em Nếu các em không lĩnh hội được những tri thức của những tác

Trang 33

phẩm đọc hiểu sẽ dễ rơi vào tình trạng khó phân tích được tác phẩm văn học Tuy nhiên, không phải tự học là không quản lí HS, GV trước hết phải định hướng đưa yêu cầu cho HS Sau một khoảng thời gian nhất định GV đề ra, GV

sẽ kiểm tra HS ngay trên lớp Ví dụ với tác phẩm thơ: GV yêu cầu HS học thuộc bài thơ, tìm ra đặc sắc về nội dung và nghệ thuật của bài thơ (có bao nhiêu biện pháp tu từ xuất hiện trong tác phẩm ), cảm nhận của HS về tác phẩm Hay với các tác phẩm văn xuôi: GV yêu cầu HS đọc tác phẩm, tóm tắt lại tác phẩm, thảo luận cùng các bạn về từng nhân vật có trong tác phẩm Tự học và được thảo luận, kiểm tra đánh giá ngay trên lớp sẽ góp phần nào giúp

HS nhớ bài nhanh và lâu hơn

* Tự kiểm tra- đánh giá, ôn tập và củng cố kiến thức

Việc tự ôn tập củng cố kiến thức là công việc rất quan trọng, điều này giúp HS có được kiến thức cơ bản, tạo nền tảng cho việc ghi nhớ các kiến thức

đã học trong môn Ngữ Văn nói riêng và các môn học khác nói chung Thực hiện hoạt động tự ôn tập củng cố kiến thức chính là việc HS trả lời các câu hỏi

GV đặt ra sau mỗi bài học và hoàn thành các bài tập do GV đưa ra trước và sau mỗi giờ học Hình thức của việc tự ôn tập củng cố kiến thức chủ yếu diễn ra hai loại hình là tự học ở nhà và tự học trên lớp Với việc tự ôn tập củng cố kiến thức ở nhà là việc HS chuẩn bị bài mới, củng cố kiến thức cuối giờ học; Tự ôn tập củng cố kiến thức trên lớp (trong giờ học) là việc HS tự biết thông kê, ôn tập lại kiến thức một cách logic như: sử dụng sơ đồ Grahp, sơ đồ tư duy, câu hỏi một phút… Tự kiểm tra đánh giá chính là quá trình người học tự thu thập,

xử lý những thông tin về việc lĩnh hội kiến thức, hình thành kĩ năng và bồi dưỡng tư tưởng đạo đức Hoạt động tự kiểm tra đánh giá thực chất là một trong các hoạt động TH Phát triển cho HS khả năng tự kiểm tra đánh giá, tự ôn tập

và củng cố kiến thức góp phần đổi mới PPDH theo hứng tích cực hóa người học, từ đó nâng cao chất lượng dạy học bộ môn, nó có ý nghĩa trên cả ba mặt: kiến thức, kĩ năng và thái độ

Trang 34

1.1.2.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển năng lực tự học môn Ngữ Văn của học sinh

* Mục tiêu và nội dung của bộ môn

Phát triển năng lực tự học môn Ngữ Văn cho học sinh ở trường THPT cần phải bám sát mục tiêu Giáo dục và mục tiêu của môn học Mục tiêu giáo

dục phổ thông của Đảng và Nhà nước ta là: “Giúp HS củng cố và phát triển những kết quả giáo dục THCS, hoàn thiện học vấn phổ thông và có những hiểu biết thông thường về kĩ thuật và hướng nghiệp, có điều kiện phát huy năng lực cá nhân để lựa chọn hướng phát triển, tiếp tục học đại học, cao đẳng, trung cấp, học nghề hoặc đi vào cuộc sống lao động.”

Mục tiêu môn học Ngữ Văn cụ thể hóa mục tiêu giáo dục chung cần phải đạt mục tiêu 3 mặt kiến thức, kĩ năng và thái độ:

- Về kiến thức:

+ Văn học: cung cấp cho HS cái nhìn toàn cảnh về văn học Việt Nam qua từng chặng đường của lịch sử; cung cấp thông tin về con người, sự nghiệp sáng tác của các tác giả văn học nổi tiếng trong chương trình SGK, những tác phẩm văn học tiêu biểu…; một số tác giả nước ngoài và một số tác phẩm tiêu biểu

+ Tiếng Việt: cung cấp cho HS kiến thức về sự hình thành và phát triển của lịch sử tiếng Việt; những yêu cầu về sử dụng tiếng Việt; các thể loại phong cách ngôn ngữ; các phép tu từ

+ Làm văn: Hướng dẫn HS cách lập dàn ý, tóm tắt văn bản, viết được đoạn/ bài văn thuộc các thể loại: văn tự sự, văn biểu cảm, văn thuyết minh, văn nghị luận

- Về kĩ năng: rèn luyện kĩ năng tư duy, phân tích tác phẩm; bình luận, đánh

giá, nhận xét về nội dung và nghệ thuật của từng tác phẩm; biết cách phân biệt các phong cách ngôn ngữ và các phép tu từ trong từng văn bản; viết được đoạn/ bài văn thuộc các thể loại văn khác nhau

- Về thái độ: hướng đến giáo dục lòng yêu nước, tự hào dân tộc; tôn

Trang 35

trọng và giữ gìn những thành tựu văn học của đất nước cũng như những thành tựu văn học nước ngoài…

* Đặc điểm tâm lí, nhận thức môn học Ngữ Văn của HS THPT

HS THPT nằm trong độ tuổi từ 15 đến 18, là giai đoạn phát triển gần với người trưởng thành, so với độ tuổi THCS các em có nhiều chuyển biến về mặt tâm sinh lý cũng như nhận thức Ở lứa tuổi này các em cũng đã hình thành những hứng thú học tập gắn liền với khuynh hướng nghề nghiệp Do vậy thái

độ có ý thức của các em đối với học tập ngày càng phát triển - ý thức được sự chuyển biến trước ngưỡng cửa cuộc đời Mặt khác, do sự phát triển hoàn thiện của nhận thức nên HS THPT đã có khả năng tư duy lý luận, tư duy trừu tượng một cách độc lập, sáng tạo trong những đối tượng quen biết đã được học hoặc chưa được học ở trường – đây chính là cơ sở cho việc tiến hành phát triển và rèn luyện những năng lực cơ bản của cá nhân, trong đó có NLTH Vì vậy, khi tiếp cận với bài học Ngữ Văn hay tác phẩm văn học nào đó các em dễ “cảm” được nội dung bài học nếu GV tổ chức tiết học tốt, có giọng giảng hay truyền cảm, đưa nội dung bài học về gần với HS

* Công tác kiểm tra đánh giá

Việc kiểm tra đánh giá kết quả học tập của HS có ảnh hưởng nhiều đến việc hình thành và phát triển năng lực tự học cho HS Thực trạng của việc kiểm tra đánh giá kết quả học tập bộ môn NV ở nhà trường THPT cho thấy là chưa rèn luyện được tính trung thực trong thi cử, nhiều HS còn thụ động trong việc học tập, khả năng sáng tạo và năng lực vận dụng tri thức đã học để giải quyết các tình huống thực tiễn trong cuộc sống còn hạn chế Để phát triển NLTH cho

HS trong dạy học các môn học nói chung và môn NV nói riêng, GV cần chú trọng đánh giá thành tích học tập của HS trong cả một quá trình học tập, không chỉ nhằm tái hiện lại kiến thức mà cần chú trọng vào khả năng vận dụng tri thức trong việc giải quyết một nhiệm vụ học nào đó Hay nói cách khác đánh giá theo năng lực là đánh giá kiến thức, kĩ năng và thái độ trong một nhiệm vụ

Trang 36

học tập cụ thể Để chứng minh HS có năng lực tự học ở một mức độ nào đó,

GV cần phải tạo cơ hội cho HS được thể hiện năng lực của bản thân thông qua một nhiệm vụ học tập cụ thể Khi đó HS vừa phải vận dụng kiến thức, kĩ năng

đã được học để giải quyết vấn đề cụ thể

1.1.2.4 Vai trò của việc phát triển năng lực tự học cho học sinh trong dạy học Ngữ Văn ở trường THPT

Tự học nói chung và tự học trong dạy học Ngữ Văn nói riêng có vai trò quan trọng trong việc dạy và học ở trường THPT Bởi vì, tự học là nhân tố nội lực quyết định chất lượng học tập, còn hoạt động dạy là ngoại lực có tác dụng định hướng, kích thích, điều khiển và chỉ đạo trực tiếp hoặc gián tiếp quá trình học Năng lực tự học là một trong những năng lực học tập mà các bộ môn cần phát triển cho HS Đó cũng là quá trình hướng tới sự phát triển của chủ thể hoạt động học, thông qua các hành động khám phá lại và dần lĩnh hội được kho tàng tri thức của nhân loại, biến thành tri thức của bản thân mình Trên cơ sở đó tự bồi dưỡng phẩm chất, đạo đức, rèn luyện các kĩ năng, kĩ xảo Trong quá trình học, phát triển NLTH giữ một vai trò đặc biệt quan trọng Quá trình dạy học chỉ có kết quả khi người học tự nỗ lực, TH để nắm vững những tri thức mà nhân loại đã tích lũy được, tức là “tự chuyển hóa” được kiến thức cho bản thân Rõ ràng phát triển NLTH, nhằm tích cực hóa hoạt động của HS là vô cùng cần thiết Vì vậy, vai trò quan trọng của việc phát triển NLTH cho HS trong dạy học NV ở trường THPT được thể hiện như sau:

Thứ nhất, đây là một hoạt động không thể thiếu trong công tác giảng dạy

Lý luận dạy học hiện đại chỉ ra rằng bản chất của việc học chính là tự học, do vậy dạy học chính là quá trình dạy tự học Kiến thức của nhân loại nói chung, kiến thức văn học nói riêng là một kho bách khoa toàn thư với dung lượng vô cùng lớn, GV không thể nào cung cấp hết cho HS, chỉ bằng cách trang bị cho các em NLTH để các em có đủ phương pháp, có đủ kĩ năng và thái độ yêu thích tìm hiểu khoa học mới là phương án tối ưu nhất trong dạy học

Trang 37

Thứ hai, phát triển NLTH cho HS trong dạy học NV ở trường THPT góp

phần tích cực vào đổi mới PPDH Để có thể hình thành và phát triển NLTH cho HS trong quá trình dạy học của mình, GV cần thường xuyên hướng dẫn

HS nắm vững kiến thức về phương pháp TH, tiến hành rèn luyện các kĩ năng tự học và hình thành cho HS thái độ, động cơ học tập HS chính là nhân tố chủ động và là trung tâm của việc học, GV chỉ là người hướng dẫn Vận dụng các phương pháp dạy học mới trong dạy học nói chung và dạy học môn NV nói riêng ở trường THPT như: dạy học nêu vấn đề, dạy học theo dự án, tích cực tổ chức các hoạt động tích cực hóa hoạt động học tập của HS như: trao đổi, thảo luận, thuyết trình, đóng vai, tổ chức các trò chơi… bên cạnh việc hình thành và phát triển NLTH cho HS còn góp phần vào đổi mới PPDH bộ môn

1.2 Cơ sở thực tiễn

1.2.1 Đặc điểm các văn bản thơ Việt Nam giai đoạn 1945 – 1975 trong CT, SGK THPT

1.2.1.1 Giới thiệu về thơ kháng chiến (giai đoạn 1945-1975)

Nếu gọi toàn bộ nền thơ ca Việt Nam là một cây đại thụ thì thơ kháng chiến giai đoạn 1945-1975 là một trong những cành lá xum xuê nhất Cành thơ ấy hút nhựa sống từ rễ bám sâu vào lòng đất để mọc ra những búp lá mới

mẻ và độc đáo, không chỉ về nội dung mà còn hết sức tinh tế về mặt thể hiện Thơ giai đoạn này vừa có sự kết hợp giữa trữ tình và tự sự, vừa phát triển trên

cơ sở kế thừa những truyền thống thơ ca dân tộc, nhưng đồng thời cũng là nền tảng vững chắc cho sự phát triển của thơ ca giai đoạn sau Thơ ca Việt Nam 1945- 1975 gắn liền với những đau thương, mất mát của đất nước ta thời kì kháng chiến chống Pháp Cảm hứng chủ đạo của thơ giai đoạn này là lòng yêu nước vô cùng sâu sắc của nhân dân Việt Nam Bên cạnh những tác phẩm

ca ngợi đất nước, tất cả hướng về lá cờ đỏ sao vàng, xuất hiện tình yêu lứa đôi xuất hiện sau Cách mạng tháng Tám 1945 Đây được coi là giai đoạn thơ ca hiện đại Việt Nam

Trang 38

1.2.1.2 Các văn bản thơ trong giai đoạn 1945-1954: Những năm đầu cách mạng và trong kháng chiến chống Pháp

Về nội dung, ở những năm đầu sau Cách mạng, thơ tập trung thể hiện

niềm vui lớn của dân tộc, ca ngợi Ðảng và Bác Hồ, ca ngợi con người mới, chế độ mới Thơ ca giai đoạn 1945-1954 thể hiện lòng yêu nước và lòng căm thù giặc sâu sắc Tình yêu nước được thể hiện đậm nét qua tình cảm đối với những con người trong kháng chiến Tiêu biểu hơn cả là hình ảnh người vệ quốc quân Tầm cao tư tưởng và chiều sâu tâm hồn của hình tượng người Việt Nam được tập trung làm nổi bật ở hai phương diện: phẩm chất cách mạng tốt

đẹp và tình nghĩa quân dân thắm thiết Đến với tác phẩm Tây Tiến của nhà thơ Quang Dũng, tác phẩm viết vào năm 1948 và được in trong tập thơ “Mây đầu ô” Tây Tiến là một bài thơ khá độc đáo thể hiện một tâm hồn lãng mạn

trước một hiện thực khắc nghiệt và một khí phách anh hùng mang phong vị lãng mạn “chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh” Với cảm hứng lãng mạn và ngòi bút tài hoa, Quang Dũng đã khắc họa thành công hình tượng người lính Tây Tiến trên cái nền cảnh thiên nhiên núi rừng miền Tây hùng vĩ, dữ dội và

mĩ lệ Bút pháp vẽ cảnh của Quang Dũng giàu tính tạo hình, khắc họa chân

dung người lính Tây Tiến càng được tăng thêm và rõ nét Quang Dũng đã

dựng lên một tượng đài hùng vĩ uy nghiêm về những chàng trai Hà Nội

“mang gươm đi giữ nước” dũng cảm, can trường, trong gian khổ chiến đấu hi sinh vẫn lạc quan yêu đời Hình ảnh người lính Tây Tiến mang vẻ đẹp lãng mạn, đậm chất bi tráng sẽ còn có sức hấp dẫn lâu dài đối với người đọc

Bên cạnh tác phẩm Tây Tiến của nhà thơ Tố Hữu, các em HS lớp 12 THPT được tiếp xúc với tác phẩm đọc thêm mang tên Đất Nước của tác giả Nguyễn Đình Thi Bài thơ được sáng tác vào cuối năm 1948 (theo hồi ức của

nhà văn Tô Hoài) tại chiến khu Việt Bắc, cụ thể là ở vùng rừng núi Tuyên

Quang Đất Nước ra đời sau bài hát Người Hà Nội chưa đầy một năm Có thể

coi Đất Nước của Nguyễn Đình Thi là một trường ca thu nhỏ, bởi nó mang

Trang 39

trong mình đầy đủ những phẩm chất cốt lõi của một trường ca Chính vì vậy,

bài thơ Đất Nước đã là một gợi ý cho rất nhiều những trường ca sau này, xuất

hiện trong thời chống Mĩ Nhà thơ sáng tác bài thơ dù có được ghép nối một

số đoạn, nhưng nó là một dòng chảy của mạch thơ thể hiện một cách cảm nhận về đất nước trong tình cảm của người ra đi kháng chiến Đất nước được hiện lên trong những năm kháng chiến, một đất nước đau thương nhưng anh dũng chiến đấu và cuối cùng òa vỡ ra một đất nước tráng lệ, kì vĩ, sáng ngời

Âm hưởng và giọng điệu bài thơ cũng biến đổi theo từng đoạn Thêm nữa, tác phẩm thơ trong giai đoạn 1945 – 1954 được in trong SGK không thể không

kể đến tác phẩm Dọn về làng của tác giả Nông Quốc Chấn Tác phẩm được

sáng tác vào mùa đông năm 1950, viết về đề tài quê hương cụ thể là quê hương của tác giả trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp nhiều đau thương mà anh dũng Bài thơ được trao giải nhì tại Đại hội liên hoan thanh niên và sinh viên thế giới ở Béc – lin, sau đó được dịch đăng trên tạp

chí Châu Âu Dọn về làng là bài thơ hay của tác giả Nông Quốc Chấn, một

“vị” riêng của “hơi thở núi rừng Việt Bắc” từ lời thơ cho đến cách thể hiện tâm hồn Chọn hình thức lời nói của đứa con đối với mẹ, nhà thơ đã xây dựng được một phương thức trữ tình độc đáo Những chuyện lớn lao về hoàn cảnh cuộc sống trong chiến tranh, về số phận đau thương của con người, về sự kiện lịch sử dân tộc được kể lại theo lối trữ tình thông qua lời tâm tình của đứa con đối với mẹ

Tháng 7 năm 1954, Hiệp định Giơ-ne-vơ về Đông Dương được kí kết Hòa bình lập lại, miền Bắc nước ta được giải phóng và bắt tay vào sự nghiệp xây dựng cuộc sống mới Tháng 10-1954, những người kháng chiến từ căn cứ miền núi trở về miền xuôi, Trung ương Đảng và Chính phủ rời chiến khu Việt

Bắc về lại Thủ đô Nhân sự kiện thời sự có tính lịch sử ấy Tố Hữu sáng tác bài thơ Việt Bắc Việt Bắc là khúc hùng ca và là khúc tình ca về cách mạng,

về cuộc kháng chiến và con người kháng chiến Thể thơ lục bát, kết cấu đối

Trang 40

đáp, ngôn ngữ đậm sắc thái dân gian – tất cả đã góp phần khắc sâu lời nhắn nhủ của nhà thơ Tố Hữu: Hãy nhớ mãi và phát huy truyền thống quý báu anh

hùng, bất khuất, ân nghĩa thủy chung của cách mạng, con người Việt Nam!

Về Nghệ thuật, nghệ thuật biểu hiện của thơ ca Việt Nam giai đoạn

1945-1954 có những vận động, biến chuyển mới – trên cơ sở phát huy thành tựu của thời kỳ trước – để tương ứng với nội dung tư tưởng, tình cảm mới Dưới ánh sáng của quan niệm nghệ thuật cách mạng, yêu cầu về tính đại chúng, tính dân tộc được đặc biệt chú trọng Thể thơ ngày càng phong phú Các thể thơ cổ (thất ngôn tứ tuyệt, bát cú, cổ phong) hiện diện bên cạnh những tìm tòi mới mẻ (thơ không vần, phá thể, hợp thể, tự do) Những thể truyền thống như lục bát, ngũ ngôn được sử dụng phổ biến Ngôn ngữ thơ chuyển dần từ tình trạng hoa mỹ, cầu kỳ, tượng trưng, ước lệ sang đời thường,

tự nhiên, phong phú đến vô cùng Thơ ca kháng chiến chống Pháp đã đạt được nhiều thành tựu rực rỡ Không ít tác phẩm sẽ bất tử với thời gian Tuy nhiên, vì là thời kỳ mở đầu của nền văn học mới, nên không thể tránh khỏi một số hạn chế nhất định

1.2.1.3 Các văn bản thơ trong giai đoạn 1955-1964: Thơ trong mười năm hòa bình sau kháng chiến chống Pháp

Một tác phẩm thơ mang tên Tiếng hát con tàu của tác giả Chế Lan Viên không chỉ đối tượng HS THPT biết đến mà rất nhiều bạn đọc biết đến và

từng yêu thích Chế Lan Viên là nhà thơ lớn của nền văn học hiện đại Việt Nam Con đường thơ ông trải qua nhiều chặng đường với những bước ngoặt đánh dấu sự chuyển biến tư tưởng và những tìm tòi đổi mới nghệ thuật của nhà thơ Bài thơ Tiếng hát con tàu rút từ tập Ánh trăng và phù sa (1960), một tập thơ xuất sắc, kết tinh tư tưởng và nghệ thuật thơ Chế Lan Viên trên con đường thơ cách mạng Bài thơ được gợi cảm hứng từ một sự kiện kinh tế - chính trị - xã hội: cuộc vận động đồng bào miền xuôi lên xây dựng kinh tế ở miền núi Tây Bắc vào những năm 1958 – 1960 Bài thơ có bố cục theo trình

Ngày đăng: 16/03/2021, 21:53

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w