1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phát triển năng lực tự học cho học sinh thông dạy học phần lịch sử thế giới cận đại giữa thế kỉ xvi đầu thế kỉ xx lớp 10 thpt

109 10 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 109
Dung lượng 1,75 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong quá trình dạy học, việc hướng dẫn học sinh tự học những kiến thức Lịch sử của GV còn hạn chế về tần suất và hiệu quả…GV vẫn chưa thực sự chú ý đến việc phát triển năng lực TH môn L

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC

–––––––––––––––––––

TRẦN THANH HOA

PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC TỰ HỌC CHO HỌC SINH THÔNG QUA

DẠY HỌC PHẦN LỊCH SỬ THẾ GIỚI CẬN ĐẠI (GIỮA THẾ KỈ XVI – ĐẦU THẾ KỈ XX) LỚP 10 THPT

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP NGÀNH SƯ PHẠM LỊCH SỬ

Hà Nội – 2018

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC

–––––––––––––––––––

PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC TỰ HỌC CHO HỌC SINH THÔNG QUA

DẠY HỌC PHẦN LỊCH SỬ THẾ GIỚI CẬN ĐẠI (GIỮA THẾ KỈ XVI – ĐẦU THẾ KỈ XX) LỚP 10 THPT

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP NGÀNH SƯ PHẠM LỊCH SỬ

Người hướng dẫn khoa học: TS Tôn Quang Cường Sinh viên thực hiện khóa luận: Trần Thanh Hoa

Hà Nội – 2018

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Trong quá trình hoàn thành khóa luận này, tôi đã nhận được những giúp

đỡ vô cùng quý báu của các tập thể và cá nhân

Tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới TS Tôn Quang Cường đã tận tâm giúp đỡ, hướng dẫn tôi trực tiếp trong quá trình hoàn thành khóa luận này!

Tôi xin chân thành cảm ơn tập thể các giảng viên của Trường Đại học Giáo Dục – ĐHQGHN đã tạo mọi điều kiện cho chúng tôi được học tập, nghiên cứu và hoàn thành khoá luận!

Tôi xin chân thành cảm ơn Trường THPT Trần Phú – Hoàn Kiếm, đặc biệt là ThS Trịnh Thanh Thúy cùng các em học sinh đã giúp đỡ tôi rất nhiều trong quá trình kiến tập, thực tập và thực nghiệm sư phạm để tôi có thể hoàn thành khóa luận này!

Mặc dù đã có nhiều cố gắng để thực hiện đề tài một cách hoàn chỉnh nhất, song do hạn chế về kiến thức và kinh nghiệm nên không thể tránh khỏi những thiếu sót mà tôi không thấy hết được Tôi rất mong nhận được sự góp ý của quý thầy cô và các bạn sinh viên để khóa này được hoàn chỉnh hơn!

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, ngày 18 tháng 05 năm 2018

Sinh viên thực hiện

Trần Thanh Hoa

Trang 5

DANH MỤC CÁC BẢNG



Bảng 1.1: Khó khăn lớn nhất của HS khi tự học Lịch sử……… 23 Bảng 2.1: Bảng so sánh CMTS Anh, Chiến tranh giành độc lập ở Bắc Mỹ và CMTS Pháp……… 46 Bảng 2.2: Bảng so sánh CMTS Anh với Chiến tranh giành độc lập của các thuộc địa Anh ở Bắc Mỹ………48 Bảng 3.1: Tổng hợp kết quả điểm kiểm tra giữa lớp TN và lớp ĐC………… 62

Trang 6

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ



Biểu đồ 1.1: Quan điểm của HS về mức độ cần thiết của tự học Lịch sử…….20 Biểu đồ 1.2: Mức độ sẵn sàng tự học Lịch sử của HS………21 Biểu đồ 1.3: Thời gian tự học Lịch sử………22

Biểu đồ 1.4: Nội dung mà HS thích tự học nhất……… 22

Biểu đồ 1.5: Quan điểm của HS về mức độ cần thiết của các kỹ năng tự học Lịch sử……… 24 Biểu đồ 1.6: Mức độ cần thiết và mức độ quan tâm của GV đối với việc tự học Lịch sử……… 26 Biểu đồ 1.7: Cách thức tự học Lịch sử GV thường hướng dẫn cho HS……… 27 Biểu đồ 1.8: Việc cần nhất GV cần làm để phát triển năng lực tự học Lịch sử cho HS……… 27 Biểu đồ 1.9: Quan điểm của GV về mức độ cần thiết của các kỹ năng tự học Lịch sử……… 28 Biểu đồ 1.10: Phương án khả thi nhất trong việc phát triển năng lực tự học môn Lịch sử cho HS……….29 Biểu đồ 3.1: So sánh lớp kết quả giữa lớp thực nghiệm và đối chứng……… 62

Trang 7

DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ



Sơ đồ 1.1: Sơ đồ chu trình tự học (Theo Nguyễn Cảnh Toàn)……… 13

Sơ đồ 1.2: Sơ đồ kỹ năng tự học……….15

Sơ đồ 2.1: Sơ đồ nguyên nhân bùng nổ CMTS Pháp cuối TK XVIII…………52

Sơ đồ 2.2: Sơ đồ hệ thống kiến thức của bài 30: Chiến tranh giành độc lập của các thuộc địa Anh ở Bắc Mỹ………53

Sơ đồ 2.3 Sơ đồ khái quát những đặc điểm chung của các cuộc CMTS…… 54

Trang 8

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Mục đích nghiên cứu 3

3 Nhiệm vụ nghiên cứu 3

4 Đối tượng, khách thể nghiên cứu 3

5 Phạm vi nghiên cứu 3

6 Giả thuyết nghiên cứu 4

7 Phương pháp nghiên cứu 4

8 Đóng góp của khóa luận 4

9 Cấu trúc khóa luận 5

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA VẤN ĐỀ PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC TỰ HỌC CHO HỌC SINH TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ 6

1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 6

1.1.1 Trên thế giới 6

1.1.2 Ở Việt Nam 7

1.2 Một số khái niệm công cụ 9

1.2.1 Khái niệm “Năng lực” 9

1.2.2 Khái niệm “Tự học” 10

1.2.3 Khái niệm “Năng lực tự học” 10

1.3 Cơ sở lý luận về vấn đề tự học 10

1.3.1 Bản chất của việc tự học 10

1.3.2 Các hình thức tự học 11

1.3.3 Chu trình tự học 12

1.3.4 Hệ thống các kỹ năng tự học 14

1.3.5 Nguyên tắc đảm bảo việc tự học 16

1.3.6 Vai trò của tự học nói chung và tự học Lịch sử nói riêng 17

1.4 Cơ sở thực tiễn 18

1.4.1 Mục đích khảo sát 18

1.4.2 Đối tượng khảo sát 19

1.4.3 Nội dung khảo sát 19

Trang 9

1.4.4 Kết quả điều tra khảo sát 20

Tiểu kết chương 1 30

CHƯƠNG 2: MỘT SỐ BIỆN PHÁP PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC TỰ HỌC CHO HỌC SINH THÔNG QUA DẠY HỌC CHƯƠNG CÁC CUỘC CÁCH MẠNG TƯ SẢN (TỪ GIỮA TK XVI ĐẾN CUỐI TK XVIII) LỚP 10 TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 32

2.1 Đặc trưng kiến thức Lịch sử trường phổ thông 32

2.2 Vị trí, mục tiêu và nội dung của Chương Các cuộc cách mạng tư sản (từ giữa TK XVI đến cuối TK XVIII) 33

2.2.1 Vị trí 33

2.2.2 Mục tiêu 34

2.2.3 Nội dung cơ bản 35

2.3 Quy trình cơ bản hình thành và phát triển kỹ năng tự học cho HS 37

2.4 Một số biện pháp phát triển năng lực tự học cho học sinh thông qua dạy học chương Các cuộc cách mạng tư sản (từ giữa TK XVI đến cuối TK XVIII) lớp 10 THPT 38 2.4.1 Lập kế hoạch tự học 38

2.4.2 Đọc và xử lý thông tin qua SGK và tài liệu cần thiết đúng kỹ thuật 41 2.4.3 Sử dụng phiếu học tập trong quá trình tự học 46

2.4.4 Sử dụng các phương pháp dạy học tích cực kết hợp với kỹ thuật dạy học 49 2.4.5 Tự đánh giá và đánh giá ngang hàng 55

Tiểu kết chương 2 58

CHƯƠNG 3: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 60

3.1 Mục đích thực nghiệm 60

3.2 Đối tượng thực nghiệm 60

3.3 Nội dung thực nghiệm 60

3.4 Phương pháp tiến hành thực nghiệm 61

3.5 Đánh giá kết quả thực nghiệm: 61

Tiểu kết chương 3 64

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 65

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 67

PHỤ LỤC 69

Trang 10

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Ngày nay, để bắt kịp với xu thế phát triển của nền giáo dục thế giới và đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục theo hướng hiện đại hóa nhằm nâng cao chất lượng đào tạo, đáp ứng nhu cầu nguồn nguồn nhân lực của đất nước, thì việc đổi mới phương pháp dạy học là vấn đề rất cần thiết và cấp bách mà mỗi nhà trường phổ thông cần thực hiện Chiến lược phát triển giáo dục giai đoạn 2011 – 2020 ban hành kèm theo Quyết định 711/QĐ - TTg ngày 13/6/2012 của Thủ tướng

Chính phủ chỉ rõ: “Tiếp tục đổi mới phương pháp dạy học và đánh giá kết quả học tập, rèn luyện theo hướng phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo

và năng lực tự học của người học” Tại Hội nghị Trung ương 8 (khóa XI) diễn

ra vào năm 2013, Ban Chấp hành Trung ương Đảng cũng đã thông qua Nghị quyết 29 “Về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã

hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế”, trong đó nêu rõ: “Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương pháp dạy và học theo hướng hiện đại; phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và vận dụng kiến thức, kỹ năng của người học; khắc phục lối truyền thụ

áp đặt một chiều, ghi nhớ máy móc Tập trung dạy cách học, cách nghĩ, khuyến khích tự học, tạo cơ sở để người học tự cập nhật và đổi mới tri thức, kỹ năng, phát triển năng lực” Định hướng trên của Đảng và Chính phủ đã được pháp chế hóa trong luật Giáo dục (2009) Tại điều 5, luật Giáo dục quy định: “phương pháp dạy học phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, tư duy sáng tạo của người học, khả năng thực hành, lòng say mê học tập, ý chí vươn lên” Và tại điều 28, luật Giáo dục cũng quy định: “phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh; phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học…” Chương

trình giáo dục phổ thông tổng thể được Ban Chỉ đạo đổi mới chương trình SGK phổ thông thông qua ngày 27/07/2017 cũng đã xác định một trong những mục

tiêu của chương trình giáo dục trung học phổ thông là “phát triển khả năng tự

Trang 11

học và ý thức học tập suốt đời” cho HS Như vậy có thể thấy, yêu cầu của đổi

mới giáo dục hiện nay là phải sử dụng các PPDH phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động sáng tạo, bồi dưỡng phương pháp tự học (TH) của học sinh Việc tự học ngày càng có vai trò quan trọng đối với giáo dục nói chung và nhu cầu nắm vững tri thức của mỗi cá nhân nói riêng

Tự học không chỉ giúp cho HS nắm vững được kiến thức từ đó nâng cao kết quả học tập mà tự học còn tạo điều kiện hình thành và rèn luyện khả năng hoạt động độc lập, phát huy tính tích cực và sự sáng tạo của HS trong quá trình học tập Hiện nay, với việc lượng thông tin kiến thức bộ môn Lịch sử ngày càng nhiều, trong khi thời gian trên lớp lại rất hạn chế thì việc phát triển năng lực tự học (NLTH) là một giải pháp quan trọng góp phần thiết thực và việc nâng cao chất lượng bộ môn và thực hiện đổi mới PPDH theo hướng tích cực hoạt động

của HS

Tuy nhiên, trên thực tế, việc phát triển năng lực tự học Lịch sử cho HS trong dạy học Lịch sử ở trường phổ thông vẫn còn nhiều hạn chế, bất cập Bên cạnh việc chương trình SGK còn mang nặng tính hàn lâm thì hiện nay có một thực trạng đáng buồn là nhiều học sinh vẫn coi môn Lịch sử là “môn phụ”, chưa coi trọng việc tự học môn Lịch sử, chưa thực sự dành nhiều thời gian và chú tâm vào việc tự học lịch sử, chưa biết sử dụng phương pháp TH một cách có hiệu quả

và khoa học để lĩnh hội những tri thức Lịch sử Trong quá trình dạy học, việc hướng dẫn học sinh tự học những kiến thức Lịch sử của GV còn hạn chế về tần suất và hiệu quả…GV vẫn chưa thực sự chú ý đến việc phát triển năng lực TH môn Lịch sử cho HS, chưa có quy trình khoa học để tổ chức cho HS tự học một cách hệ thống Để các em HS thực sự yêu thích môn Lịch sử và những kiến thức Lịch sử trở nên gần gũi với HS thì ngay trong quá trình dạy Lịch sử lớp 10, GV cần hình thành và phát triển năng lực tự học môn Lịch sử cho HS

Quá trình phát triển của lịch sử thế giới cận đại (giữa thế kỷ XVI – đầu thế kỷ XX) trong chương trình lịch sử lớp 10 là giai đoạn phát triển tiếp nối giai đoạn lịch sử thế giới trung đại (thế kỷ V – XVI), đồng thời mở ra giai đoạn phát

Trang 12

triển tiếp theo của lịch sử thế giới hiện đại Với nội dung phong phú và cơ bản, phần LSTG cận đại chiếm vị trí quan trọng trong chương trình lịch sử lớp 10 Muốn hiểu rõ về giai đoạn này cũng như vận dụng kiến thức để tìm hiểu giai đoạn lịch sử tiếp theo, học sinh cần chủ động trong học tập, phát huy năng lực tự

học của bản thân

Xuất phát từ những lý do trên, chúng tôi đã quyết định chọn đề tài:

“Phát triển năng lực tự học cho học sinh thông dạy học phần Lịch sử thế giới cận đại (giữa thế kỉ XVI – đầu thế kỉ XX) lớp 10 THPT” làm đề tài cho khóa luận tốt nghiệp của mình

2 Mục đích nghiên cứu

Nghiên cứu cơ sở lý luận, thực tiễn và đề xuất biện pháp phát triển năng lực tự học cho HS trong dạy học Lịch sử lớp 10, góp phần nâng cao hiệu quả của quá trình dạy học

3 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Nghiên cứu cơ sở lý luận về năng lực tự học

- Khảo sát thực trạng về việc phát triển năng lực tự học cho HS trong dạy học

Lịch sử ở trường THPT

- Tìm hiểu nội dung, cấu trúc Chương I của Phần LSTG cận đại – Các cuộc cách mạng tư sản (từ giữa TK XVI đến cuối TK XVIII) trong chương trình

Lịch sử lớp 10 THPT

- Đề xuất một số biện pháp để phát triển năng lực tự học cho HS

4 Đối tượng, khách thể nghiên cứu

a Đối tượng nghiên cứu

- Quá trình dạy học Lịch sử theo cách tiếp cận phát triển năng lực tự học cho học sinh lớp 10 (Chương Các cuộc cách mạng tư sản – từ giữa TK XVI đến cuối TK XVIII)

b Khách thể nghiên cứu

- Quá trình dạy học môn Lịch sử lớp 10 THPT

5 Phạm vi nghiên cứu

Trang 13

- Nội dung: Vì nội dung kiến thức của phần ba Lịch sử thế giới cận đại khá rộng, thời gian nghiên cứu có hạn và nhằm mục đích đi sâu vào nghiên cứu vấn đề vấn đề mà đề tài đã đặt ra, chúng tôi lựa chọn Chương I của phần Lịch

sử thế giới cận đại – “Các cuộc cách mạng tư sản (từ giữa TK XVI đến cuối

TK XVIII” lớp 10 THPT trong phạm vi nghiên cứu về nội dung của đề tài khóa luận tốt nghiệp

- Địa bàn nghiên cứu: Trường THPT Trần Phú – Hoàn Kiếm, Hà Nội

- Thời gian nghiên cứu: từ tháng 1/2018 đến tháng 4/2018

6 Giả thuyết nghiên cứu

- Trong thực tế giảng dạy lịch sử ở trường THPT hiện nay, việc dạy học nhằm phát triển năng lực tự học cho HS còn nhiều hạn chế,vì vậy, nếu vận dụng các biện pháp mà khóa luận đề xuất sẽ góp phần phát triển năng lực tự học cho

HS và nâng cao chất lượng dạy học lịch sử ở trường THPT

7 Phương pháp nghiên cứu

a Các phương pháp nghiên cứu lí luận

- Tổng hợp, phân tích các tài liệu có liên quan đến đề tài

- Sử dụng phối hợp các phương pháp phân tích, tổng hợp, phân loại, hệ thống hóa, khái quát hóa

b Các phương pháp nghiên cứu thực tiễn

- Thăm lớp, dự giờ, trò chuyện, trao đổi ý kiến với GV và HS

- Phỏng vấn một số GV

- Điều tra bằng phiếu hỏi

- Phương pháp thực nghiệm

c Phương pháp thống kê toán học

8 Đóng góp của khóa luận

- Làm rõ các vấn đề lí luận về vai trò, ý nghĩa của năng lực tự học và mối tương quan của nó với chất lượng của hoạt động dạy và học lịch sử ở trường phổ thông

Trang 14

- Đề xuất một số biện pháp nhằm phát triển năng lực tự học cho HS thông qua dạy học Chương Các cuộc cách mạng tư sản (từ giữa TK XVI – cuối TK XVIII) lớp 10 THPT.

- Vận dụng các biện pháp trên vào thực tiễn dạy học Chương Các cuộc cách mạng tư sản trong chương trình Lịch sử lớp 10 THPT

9 Cấu trúc khóa luận

Ngoài phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, Danh mục tham khảo và phụ lục, Đề tài gồm 3 phần chính:

Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của vấn đề phát triển năng lực tự học cho

học sinh trong dạy học Lịch sử

Chương 2: Một số biện pháp phát triển năng lực tự học cho HS thông qua dạy

Chương Các cuộc cách mạng tư sản (từ giữa TK XVI đến cuối TK XVIII) lớp 10 THPT

Chương 3: Thực nghiệm sư phạm

Trang 15

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA VẤN ĐỀ PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC TỰ HỌC CHO HỌC SINH TRONG DẠY HỌC

LỊCH SỬ 1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

1.1.1 Trên thế giới

Từ thế kỷ XVII, các nhà giáo dục như J A Comensky (1592 – 1670), G Brousseau (1712 – 1778), J H Pestalozzi (1746 – 1872),…trong các công trình của mình đều rất quan tâm đến sự phát triển trí tuệ, tính tích cực, độc lập, sáng tạo của học sinh và nhấn mạnh phải khuyến khích người học giành lấy tri thức bằng con đường tự khám phá, tìm tòi và suy nghĩ trong quá trình học tập

Vào những năm đầu của TK XX, trên cơ sở phát triển mạnh mẽ của tâm

lý học hành vi, tâm lý học phát sinh, nhiều phương pháp dạy học mới ra đời:

“phương pháp lạc quan”, “phương pháp trọng tâm tri thức”, “phương pháp montessori”…Các phương pháp dạy học này khẳng định vai trò quyết định của

HS trong học tập nhưng quá coi trọng “con người cá thể” nên có phần hạ thấp vai trò của người giáo viên đồng thời phức tạp hóa quá trình dạy học Mặt khác, những phương pháp này đòi hỏi các điều kiện rất cao kể cả từ phía người học lẫn các điều kiện giảng dạy nên khó có thể triển khai rộng rãi

Sau chiến tranh thế giới thứ II, bên cạnh sự tiến bộ rất nhanh của các ngành khoa học cơ bản, khoa học giáo dục cũng có những tiến bộ đáng kể Một trong những tiến bộ đó là sự xích lại gần nhau hơn giữa dạy học truyền thống và các quan điểm dạy học hiện đại các nhà giáo dục học ở Mỹ và Châu Âu đều thống nhất khẳng định vai trò của người học trong quá trình dạy và học, song cũng khẳng định tầm quan trọng của người dạy, các phương tiện, phương pháp dạy học

Tư tưởng “lấy người học là trung tâm” đã được cụ thể hóa trong nhiều

phương pháp trong đó “phương pháp dạy học tích cực” được nghiên cứu, triển khai rộng hơn cả Theo phương pháp này, giáo viên đóng vai trò gợi sự chú ý,

Trang 16

kích thích, thúc đẩy học sinh tự hoạt động, còn học sinh sẽ chủ động tìm hiểu, nắm bắt kiến thức thông qua sự hướng dẫn của thầy cô và thông qua chính các

hoạt động học tập của bản thân Nhìn chung, tư tưởng “lấy người học là trung tâm” đòi hỏi sự phối hợp của nhiều phương pháp, trong đó “phương pháp tích

cực” là chủ đạo mang tính nguyên tắc Đây chính là cơ sở để đưa ra những biện pháp bồi dưỡng năng lực tự học cho học sinh, sinh viên

Đồng tình với quan điểm của các nhà giáo dục phương Tây, các nhà giáo dục Xô viết đã khẳng định vai trò, tiềm năng to lớn của của hoạt động tự học trong giáo dục nhà trường Đặc biệt, nhiều tác giả còn nghiên cứu sâu sắc cách thức nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động tự học của người học, trong đó nêu lên những biện pháp tổ chức hoạt động độc lập nhận thức của học sinh trong quá trình dạy học

1.1.2 Ở Việt Nam

Vấn đề tự học thực sự được phát động nghiên cứu nghiêm túc, rộng rãi từ khi nền giáo dục cách mạng ra đời (1945) mà Chủ tịch Hồ Chí Minh vừa là người khởi xướng, vừa là tấm gương sáng về tinh thần tự học Người cho rằng

“còn sống thì phải học” và “về cách học phải lấy tự học làm cốt” Những lời

chỉ dẫn quý báu và những kinh nghiệm sâu sắc rút ra từ chính tấm gương tự học

bền bỉ và thành công của Người cho đến nay vẫn còn nguyên giá trị

Từ những năm 60 của thế kỷ XX, tư tưởng tự học đã được nhiều tác giả trình bày trực tiếp và gián tiếp trong các công trình tâm lý học, giáo dục học, phương pháp dạy học bộ môn Một vài cái tên mà ta có thể kể đến như Trần Kiều, Nguyễn Bá Kim, Thái Duy Tuyên, Bùi Văn Nghị…Trong đó, ta không thể không kể đến GS TS Nguyễn Cảnh Toàn, một người có rất nhiều những tác phẩm về khoa học giáo dục, về vấn đề tự học Ông có hai công trình nổi tiếng

viết về vấn đề tự học đó là “Luận bàn và kinh nghiệm về tự học (1995)” và

“Quá trình dạy – tự học (2001)” GS.TS Nguyễn Cảnh Toàn cho rằng: “Học bao

giờ cũng gắn liền với tự học, tự rèn luyện để biến đổi nhân cách của mình Người dạy giỏi là người dạy cho học sinh biết cách tự học, tự nghiên cứu, tự

Trang 17

giáo dục” GS.TS Nguyễn Cảnh Toàn cùng nhiều tác giả khác như Nguyễn Kỳ,

Vũ Văn Tảo, Bùi Tường đều khẳng định: NLTH của trò dù còn đang phát triển vẫn là nội lực quyết định sự phát triển của bản thân người học Thầy là ngoại lực, là tác nhân, hướng dẫn, tổ chức, đạo diễn cho trò tự học Nói cách khác quá trình tự học, tự nghiên cứu cá nhân hóa việc học của trò phải kết hợp với việc dạy của thầy và quá trình hợp tác của bạn trong cộng đồng lớp học, tức là quá

trình xã hội hóa việc học

Bước vào thời kỳ công nghiệp hóa – hiện đại hóa, việc tự học nói chung

và vấn đề tự học của học sinh nói riêng ngày càng được quan tâm nghiên cứu vì vai trò quan trọng của tự học trong quá trình dạy và học theo hướng đổi mới lấy người học là trung tâm Đã có nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề tự học như

Dự án Việt – Bỉ “Về phương pháp luận và phương pháp tự học (2000)”, “Tự học, tự đào tạo – tư tưởng chiến lược của phát triển giáo dục Việt Nam”…Chúng ta có thể tham khảo một số bài viết như Nguyễn Nghĩa Dán với bài “Vì năng lực tự học sáng tạo của học sinh” (Tạp chí “Nghiên cứu Giáo dục”,

số 2/1998), GS Cao Xuân Hạo với bài “Bàn về chuyện tự học” (Kiến thức Ngày nay, số 396, năm 2001), ThS Đoàn Nguyệt Linh với bài “Một số năng lực tự học môn Lịch sử cần được hình thành cho học sinh ở trường THPT”, Diệp Thị Thanh, trường Đại học Ngoại Ngữ, Đại học Đà Nẵng với bài “Phương pháp Tự học – Cầu nối giữa học tập và Nghiên cứu Khoa học” Ngoài ra, chúng ta cũng

có thể kể đến một số luận án, luận văn nghiên cứu về vấn đề tự học trong môn

Lịch sử như Luận án Tiến sĩ Khoa học của Ths Đoàn Nguyệt Linh “Phát triển năng lực tự học cho học sinh trong dạy học môn Lịch sử ở trường Trung học Phổ thông (Thực nghiệm qua lớp 10 chương trình chuẩn)”, Luận văn Thạc sĩ Sư phạm Lịch sử của Phan Thị Hà “Tạo hứng thú học tập cho học sinh qua các hình thức tổ chức tự học môn Lịch sử lớp 10 Trường Trung học Phổ thông Chuyên Lam Sơn, Thanh Hóa”, Luận văn Thạc sĩ Sư phạm Lịch sử của Nguyễn Hồng Nhung “Một số biện pháp phát triển kỹ năng tự học cho học sinh qua sử dụng tài liệu tham khảo trong dạy học Lịch sử ở trường Trung học Phổ thông”,

Trang 18

Luận văn Thạc sĩ Sư phạm Lịch sử của Phạm Thị Thủy “Sử dụng bài tập Lịch sử nhằm rèn luyện kỹ năng tự học cho học sinh Trung học Phổ thông (vận dụng khóa trình Lịch sử thế giới cận đại lớp 11, Trung học Phổ thông, chương trình chuẩn” Từ những công trình nghiên cứu, những bài viết trên có thể thấy, tự học

đóng vai trò rất lớn trong sự nghiệp đối mới giáo dục và nâng cao hiệu quả học

tập của học sinh

1.2 Một số khái niệm công cụ

1.2.1 Khái niệm “Năng lực”

Theo Chương trình giáo dục phổ thông Quebec (Quebec Eucation

Programme, 2004): “Năng lực là tổ hợp các hành động trên cơ sở sử dụng và huy động hiệu quả kiến thức và kĩ năng từ nhiều nguồn khác nhau để giải quyết thành công các vấn đề diễn ra trong cuộc sống hoặc có cách ứng xử phù hợp trong bối cảnh thực” [6, tr 31]

Xavier Roegiers (2004) quan niệm năng lực là “sự tích cực các kĩ năng tác động một cách tự nhiên lên các nội dung trong những tình huống cho trước

để giải quyết các vấn đề do những tình huống này đặt ra” [6, tr 31]

Còn theo như trong Chương trình giáo dục phổ thông tổng thể được thông

qua vào tháng 7/ 2017 thì: “Năng lực là thuộc tính cá nhân được hình thành, phát triển nhờ tố chất sẵn có và quá trình học tập, rèn luyện, cho phép con người huy động tổng hợp các kiến thức, kỹ năng và các thuộc tính cá nhân khác như hứng thú, niềm tin, ý chí,…thực hiện thành công một loại hoạt động nhất định, đạt kết quả mong muốn trong những điều kiện cụ thể”

Dù có nhiều cách diễn đạt khác nhau nhưng nhìn chung khi nói đến năng lực là nói đến kiến thức, kĩ năng và khả năng huy động các kiến thức, kĩ năng đó

để giải quyết thành công các vấn đề do cuộc sống đặt ra Một người được xem là

có năng lực về một lĩnh vực phải là người có khả năng giải quyết thành công các vấn đề trong cuộc sống thuộc lĩnh vực đang nói tới

Trang 19

1.2.2 Khái niệm “Tự học”

Theo GS TS Nguyễn Cảnh Toàn: “Tự học là tự mình động não, suy nghĩ,

sử dụng các năng lực trí tuệ (quan sát, so sánh, phân tích, tổng hợp,v.v…) và có khi cả cơ bắp (khi phải sử dụng công cụ), cùng các phẩm chất của mình, rồi cả động cơ, tình cảm, cả nhân sinh quan, thế giới quan (như trung thực, khách quan, có chí tiến thủ, không ngại khó, ngại khổ, kiên trì, nhẫn nại, lòng say mê khoa học, ý chí muốn thi đỗ, biết biến khó khăn thành thuận lợi v.v…) để chiếm lĩnh một lĩnh vực hiểu biết nào đó của nhân loại, biến lĩnh vực đó thành sở hữu

của mình” [17, tr 59 – 60]

Từ quan điểm về tự học nêu trên, có thể định nghĩa ngắn gọn về tự học

như sau: Tự học là quá trình cá nhân người học tự giác, tích cực, độc lập tự chiếm lĩnh tri thức ở một lĩnh vực nào đó trong cuộc sống bằng hành động của chính mình nhằm đạt được mục đích nhất định

1.2.3 Khái niệm “Năng lực tự học”

Trong Dự thảo Chương trình giáo dục phổ thông tổng thể, năng lực tự học

được xếp số 1 trong 8 năng lực chung cần đạt Năng lực tự học được hiểu là

“khả năng tự mình tìm tòi, nhận thức và vận dụng kiến thức vào tình huống mới hoặc tương tự với chất lượng cao” Đây là năng lực có vai trò quan trọng vì tự

học là chìa khóa tiến vào TK XXI, một thế kỷ với quan niệm học tập suốt đời, xã

Trang 20

Bản chất của quá trình tự học đòi hỏi HS phải nỗ lực, tích cực hóa hoạt động nhận thức của bản thân Sự tự kiềm chế đối với những ảnh hưởng ngoại cảnh hay những ước muốn không hợp lẽ trong tư tưởng là điều kiện cần thiết đối với quá trình tự học Cùng với đó phải kiên trì, có sự nghiêm túc thì học sinh mới hoàn thành được kế hoạch học tập đề ra, quá trình tự học mới thực sự đạt được hiệu quả

1.3.2 Các hình thức tự học

Hoạt động tự học diễn ra dưới nhiều hình thức và mức độ khác nhau:

1.3.2.1 Hình thức 1: Tự học theo nhu cầu cá nhân

Đây là hình thức tự học của những người không có điều kiện để đi học, không có thầy để học Vốn tri thức và kỹ năng từ hình thức này là vốn kinh nghiệm thu thập được trong cuộc sống đầy khó khăn của người học Xã hội càng phát triển thì hình thức tự học này càng thu hẹp Người học tự đọc tài liệu, tự suy nghĩ, tự rút ra kinh nghiệm Đó là tự học ở mức cao

1.3.2.2 Hình thức 2: Tự học không có giáo viên hướng dẫn

Hình thức này còn được gọi là tự nghiên cứu của người học Kết quả của quá trình nghiên cứu đi đến sự sáng tạo và phát minh ra các tri thức khoa học mới, đây là hình thức đỉnh cao của hoạt động TH Dạng tự học này phải được dựa trên nền tảng nền tảng một niềm khao khát, say mê khám phá tri thức mới và đồng thời phải có một tri thức vừa rộng, vừa sâu Tới trình độ tự học này người học không có thầy, mà tự lực tìm hiểu và cọ sát với thực tiễn để tổ chức có hiệu quả hoạt động của mình Ở đây, người học phải tự sắp xếp quỹ thời gian và điều kiện vật chất để tự ôn tập, tự củng cố, tự đào sâu những tri thức và tự hình thành

những kỹ năng, kỹ xảo ở một lĩnh vực nào đó để đáp ứng nhu cầu tự học

1.3.2.3 Hình thức 3: Tự học có sự hướng dẫn trực tiếp của giáo viên

Đây là kiểu tự học phổ biến của những người còn đang học trong nhà trường Trong trường hợp này, GV có vai trò là nhân tố hỗ trợ, chất xúc tác, thúc đẩy và tạo điều kiện để trò tự chiếm lĩnh tri thức Trò có vai trò là chủ thể của quá trình nhận thức: tự giác, tích cực, say mê, sáng tạo tham gia vào quá trình

Trang 21

học tập Mối quan hệ giữa GV và HS chính là mối quan hệ giữa nội lực và ngoại lực, ngoại lực dù quan trọng đến mấy cũng chủ là chất xúc tác thúc đẩy nội lực phát triển Ở hình thức tự học này, GV có vai trò là người hướng dẫn HS tổ chức, đạo diễn việc tự nghiên cứu, tự tìm ra kiến thức có tính cách cá nhân GV

tổ chức cho HS tự thể hiện mình, phát huy những phẩm chất và năng lực của mình như khả năng chú ý, óc phân tích, năng lực khái quát hóa, hợp tác trao đổi, đối thoại…nhằm tự tìm ra tri thức, kỹ năng, kỹ xảo mà thầy định hướng cho hoạt động này để làm cho sản phẩm cá nhân ban đầu của HS được khách quan hơn

GV cũng chính là trọng tài khoa học, kết luận từ những gì cá nhân HS đã tự tìm

ra và trao đổi với các em thành bài học khoa học làm cho HS tự kiểm tra, đánh giá, tự điều chỉnh sản phẩm ban đầu của mình thành sản phẩm khoa học Đây cũng chính là hình thức tự học giáp mặt: Thầy dạy, trò tự học

1.3.2.4 Tự học có sự hướng dẫn từ xa của GV

Đây là hình thức TH phổ biến của những người theo học các chương trình, khóa đào tạo từ xa Hình thức này được tiến hành có tổ chức, có kế hoạch với một hệ thống tài liệu hướng dẫn tự học và SGK soạn riêng cho người học Mặc

dù giáo viên ở xa, không giáp mặt trực tiếp với người học trong quá trình tự học nhưng vẫn có các mối quan hệ trao đổi thông tin giữa giáo viên và người học bằng các phương tiện công nghệ thông tin và truyền thông

Đối với HS THPT thì hình thức tự học có sự hướng dẫn của GV và học tập ở nhà (cá nhân tự làm bài tập ở nhà, tự đọc, tự nghiên cứu theo SGK, tài liệu tham khảo,…) là phổ biến nhất

• Tự kiểm tra, tự điều chỉnh

Thời một (1): Tự nghiên cứu:

Trang 22

Người học tự tìm tòi, quan sát, mô tả, giải thích, phát hiện vấn đề, định hướng giải quyết vấn đề, giải quyết vấn đề, tự tìm ra kiến thức mới (chỉ mới đối với người học) và tạo ra sản phẩm ban đầu hay sản phẩm thô có tính chất cá nhân

Thời hai (2): Tự thể hiện

Người học tự thể hiện mình bằng văn bản, bằng lời nói, tự sắm vai trong các tình huống, vấn đề, tự trình bày, bảo vệ kiến thức hay sản phẩm cá nhân ban đầu của mình, tự thể hiện qua sự hợp tác, trao đổi, đối thoại, giao tiếp với các bạn và thầy, tạo ra sản phẩm có tính chất xã hội của cộng đồng lớp học

Thời ba (3): Tự kiểm tra, tự điều chỉnh

Sau khi tự thể hiện mình qua sự hợp tác trao đổi với các bạn và thầy, sau khi thầy kết luận, người học tự kiểm tra, tự đánh giá sản phẩm ban đầu của mình,

tự sửa sai, tự điều chỉnh thành sản phẩm khoa học (tri thức)

Sơ đồ 1.1 Sơ đồ chu trình tự học (Theo Nguyễn Cảnh Toàn)

Đối với dạy học Lịch sử, chu trình tự học TH cần rèn luyện cho HS cũng

bao gồm 3 giai đoạn:

Giai đoạn 1 – Tự nghiên cứu bằng nội lực cá nhân: Ở giai đoạn này, HS

sẽ xây dựng kế hoạch tự học của bản thân Muốn vậy, HS phải xác định được nội dung trọng tâm của kiến thức cần phải học ở từng bài, từng chương của môn Lịch sử để từ đó xây dựng kế hoạch học tập mang tính khả thi và có hiệu quả Sau đó là quá trình tự tìm tòi, quan sát, giải thích, phát hiện vấn đề, định hướng, giải quyết vấn đề, thu thập tài liệu liên quan đến nội dung kiến thức lịch sử cần học và tạo ra sản phẩm ban đầu hay sản phẩm thô có tính chất cá nhân

(2) Tự thể hiện

(3) Tự kiểm tra,

tự điều chỉnh

(1) Tự nghiên cứu

Trang 23

Giai đoạn 2 – Tự thể hiện khả năng học được của bản thân: Sau khi đã

tiến hành tự tỉm hiểu, nghiên cứu một vấn đề lịch sử, HS thể hiện thành quả mà mình đạt được trong quá trình tự hoc, tự nghiên cứu Trong dạy học Lịch sử, HS

có thể thể hiện thành quả mà mình đạt được trong quá trình tự hoc, tự nghiên cứu bằng nhiều hình thức khác nhau như bằng một bài thuyết trình, bằng một dự án, bằng sơ đồ hệ thống hóa hay bằng một vở kịch ngắn,…

Giai đoạn 3 – Tự kiểm tra, đánh giá: Sau khi đã trình bày sản phẩm tự

học, tự nghiên cứu của mình và sau khi nhận được sự đóng góp ý kiến của các bạn, sự kết luận của GV, HS có thể tự kiểm tra, tự đánh giá sản phẩm ban đầu của mình, tự sửa sai, tự chỉnh sửa thành một sản phẩm khoa học

1.3.4 Hệ thống các kỹ năng tự học

Để đạt kết quả tốt trong tự học, người tự học cần nắm vững những kỹ năng, phải rèn luyện để hình thành cho mình những kỹ năng Căn cứ vào chức năng của từng loại hoạt động có thể chia kỹ năng tự học làm bốn nhóm sau:

Thứ nhất: Kỹ năng kế hoạch hóa việc tự học

Kỹ năng này cần tuân thủ các nguyên tắc sau: Đảm bảo thời gian tự học tương xứng với lượng thông tin của môn học; xem kẽ hợp lý giữa các hình thức

tự học, giữa các môn học, giữa giờ tự học, giờ nghỉ ngơi, thực hiện nghiêm túc

kế hoạch tự học như biết cách làm việc độc lập, biết tự kiểm tra, đánh giá

Thứ hai: Kỹ năng nghe và ghi chép bài trên lớp

Quy trình nghe giảng gồm các khâu như ôn bài cũ, làm quen với bài sắp học, hình dung các câu hỏi đối với bài mới Khi nghe giảng cần tập trung theo dõi sự dẫn dắt của GV, liên hệ với kiến thức đang nghe, kiến thức đã có với các câu hỏi đã hình dung trước Cần lưu ý cách ghi bài khi nghe giảng như ghi một cách chọn lọc, sử dụng kí hiệu riêng, ghi cả chính đề lẫn phản đề, ghi thắc mắc của chính mình

Thứ ba: Kỹ năng ôn tập (gồm kỹ năng ôn bài và kỹ năng luyện tập)

Kỹ năng ôn bài là hoạt động có ý nghĩa quan trọng trong việc chiếm lĩnh kiến thức bài giảng của GV Đó là hoạt động tái nhận bài giảng như xem lại bài

Trang 24

ghi, mối quan hệ giữa các đoạn rời rạc, bổ sung bài ghi bằng những thông tin nghiên cứu được ở các tài liệu khác, nhận diện cấu trúc từng phần và toàn bài Việc tái hiện bài giảng dựa vào những biểu tượng, khái niệm, phán đoán được ghi nhận từ bài giảng của thầy, từ hoạt động tái nhận bài giảng, dựng lại bài giảng của GV bằng ngôn ngữ của chính mình, đó là những mối liên hệ logic có thể có cả những kiến thức cũ và kiến thức mới

Kỹ năng luyện tập có tác dụng trong việc hình thành kỹ năng tương ứng với những tri thức đã học Từ việc hoàn thành bài tập của GV đến việc người học tự thiết kế những loại bài tập cho mình giải; từ bài tập củng cố đơn vị kiến thức đến bài tập hệ thống hóa bài học, chương học, cũng như những bài tập vận dụng kiến thức vào cuộc sống

Thứ tư: Kỹ năng đọc sách

Phải xác định rõ mục đích đọc sách, chọn cách đọc phù hợp như tìm hiểu nội dung tổng quát của quyển sách, đọc thử một vài đoạn, đọc lướt qua nhưng có trọng điểm, đọc kĩ có phân tích, nhận xét, đánh giá Khi đọc sách cần phải tập trung chú ý, tích cực suy nghĩ và ghi chép

Sơ đồ 1.2 Sơ đồ kỹ năng tự học

KN nghe, ghi chép bài trên lớp

KN ôn tập

KN đọc sách

KN lập kế hoạch tự học

- Theo dõi sự dẫn dắt của GV, biết liên hệ kiến thức đang nghe với kiến thức sẵn có

- Ghi một cách có chọn lọc, có thể sử dụng lý hiệu riêng để

Trang 25

1.3.5 Nguyên tắc đảm bảo việc tự học

Một vấn đề có tính khoa học bao giờ cũng được xây dựng trên những cơ

sở, những nguyên tắc nhất định Việc tự học muốn có kết quả tốt cần tuân thủ các nguyên tắc sau:

1.3.5.1 Bảo đảm tính tự giáo dục

Trong thực tế, quá trình giáo dục luôn chứa đựng quá trình giáo dưỡng,

do vậy mà trong công tác tự học của học sinh, ngoài việc tự củng cố những tri thức, lĩnh hội những tri thức mới, mở rộng hiểu biết, người học từng bước tự hoàn thiện nhân cách của mình sao cho phù hợp với những chuẩn mực đạo đức, đáp ứng được những yêu cầu mà xã hội đặt ra

1.3.5.2 Bảo đảm tính khoa học trong quá trình tự học

Bản thân quá trình tự học của học sinh cũng là một quá trình “lao động khoa học” hết sức khó khăn, do vậy, phải đòi hỏi có tính khoa hoc Việc đảm bảo tính khoa học trong công tác tự học sẽ đảm bảo được tính tự giác, kích thích hứng thú học tập dẫn đến kết quả học tập như mong muốn

1.3.5.3 Đảm bảo “học đi đôi với hành”

Đây là một cặp phạm trù có quan hệ biện chứng với nhau Tự học không chỉ củng cố, mở rộng kiến thức thông thường mà quan trọng hơn là đưa những kiến thức ấy vào cuộc sống’ “cọ sát” với thực tế để thu lượm được những kinh nghiệm thực tiễn sống động, bổ ích, từ đó giúp cho học sinh trong những điều kiện quen thuộc cũng như mới mẻ đều có thể vận dụng đúng linh hoạt, sáng tạo những điều họ đã tự tiếp thu lĩnh hội được

1.3.5.4 Nâng cao dần đến mức tự giác, tích cực trong quá trình tự học

Nguyên tắc này sẽ quyết định đến kết quả học tập của học sinh Kế hoạch tự học có được thực hiện thường xuyên hay không là do yếu tố tự giác tích cực quyết định

1.3.5.5 Đảm bảo nâng cao dần và củng cố kỹ năng, kỹ xảo

Quá trình tự học không chỉ đơn thuần là quá trình tự hình thành tri thức

mà nó còn là quá trình hoạt động thực tiễn, nâng cao, củng cố kỹ năng, kỹ xảo

Trang 26

Năm nguyên tắc cơ bản đảm bảo hiệu quả cho quá trình tự học trên đây

có quan hệ mật thiết với nhau, nguyên tắc này hỗ trợ cho nguyên tắc kia Trong thực tiễn tự học của bản thân, mỗi học sinh cần thiết kế hợp lý khéo léo, khoa học những nguyên tắc trên, hạn chế đến mức thấp nhất những yếu tố ngoại cảnh không có lợi

1.3.6 Vai trò của tự học nói chung và tự học Lịch sử nói riêng

Tự học giữ vai trò rất quan trọng trong quá trình học tập của người học Tự học

là yếu tố có tác động rất lớn đến chất lượng và hiệu quả của hoạt động học tập

Thứ nhất, tự học giúp học sinh nắm vững tri thức, kỹ năng, kỹ xảo và

nghề nghiệp trong tương lai Chính trong quá trình tự học, học sinh đã từng bước biến vốn kinh nghiệm của loài người thành vốn tri thức riêng của bản thân Hoạt động tự học đã tạo điều kiện cho học sinh hiểu sâu tri thức, mở rộng kiến thức, củng cố ghi nhớ vững chắc tri thức, biết vận dụng tri thức vào giải quyết các nhiệm vụ học tập mới

Thứ hai, tự học không những giúp học sinh không ngừng nâng cao chất

lượng và hiệu quả học tập khi còn ngồi trên ghế nhà trường mà còn giúp họ có được hứng thú thói quen và phương pháp tự tìm hiểu thường xuyên để làm phong phú thêm, hoàn thiện thêm vốn hiểu biết của mình Giúp họ tránh được sự lạc hậu trước sự biến đổi không ngừng của khoa học và công nghệ trong thời đại ngày nay

Thứ ba, tự học thường xuyên tích cực, tự giác, độc lập không chỉ giúp học

sinh mở rộng đào sâu kiến thức mà còn giúp học sinh hình thành được những phẩm chất trí tuệ và rèn luyện nhân cách của mình Tạo cho họ có nếp sống và làm việc khoa học, rèn luyện ý chí phấn đấu, đức tính kiên trì, óc phê phán, hứng thú học tập và lòng say mê nghiên cứu khoa học

Thứ tư, trong quá trình học tập ở trường phổ thông, nếu bồi dưỡng được

ý chí và năng lực tự học cần thiết thì sẽ khơi dậy được ở học sinh tiềm năng to lớn vốn có của họ, tạo nên động lực nội sinh của quá trình học tập, vượt lên trên

Trang 27

mọi khó khăn, trở ngại bên ngoài Khả năng tự học chính là nhân tố nội lực, là một trong những nhân tố quyết định chất lượng, hiệu quả học tập của học sinh Với tư cách là một bộ môn khoa học ở trường phổ thông, cung cấp những kiến thức cơ bản về khoa học lịch sử cho HS Học tập lịch sử không phải chỉ để “biết” mà phải “tường” (hiểu cặn kẽ), hiểu “gốc tích” để hiểu hiện tại Vì vậy khi học lịch sử, HS không chủ dừng lại ở việc ghi nhớ sự kiện, mà điều quan trọng là trên cơ sở nắm vững kiến thức cơ bản của chương trình và SGK để hiểu được bản chất của sự kiện, hiện tượng và rút ra quy luật, bài học kinh nghiệm của quá khứ với hiện tại; đồng thời có sự nhìn nhận, phán đoán xu hướng phát triển trong tương lai Để đạt được yêu cầu trên thì việc rèn luyện các kỹ năng tự học, phát triển NLTH Lịch sử cho HS là vô cùng cần thiết Việc tự học Lịch sử không những tạo cho HS một sự hứng thú, động lực trong quá trình học tập môn Lịch sử mà nó còn giúp phát huy được sức sáng tạo, sự tích cực, chủ động của

HS trong quá trình tìm tòi, nghiên cứu những kiến thức Lịch sử HS có cơ hội được bày tỏ quan điểm, ý kiến, suy nghĩ của mình về đối với những vấn đề lịch

sử và sẽ có được nhiều ý tưởng, cách làm sáng tạo để những kiến thức Lịch sử trở nên gần gũi hơn với HS trong quá trình tự học Việc học lúc này không còn là tương tác một chiều nữa thầy đọc trò chép nữa mà đã trở thành tương tác hai chiều với sự tham tích cực, chủ động của HS vào quá trình lĩnh hội tri thức Việc

tự học Lịch sử không chủ giúp các em hiểu một cách sâu sắc, tường minh hơn về những sự kiện, vấn đề lịch sử, giúp cho HS có được kết quả học tập tốt mà nó còn thu hút được sự quan tâm của HS đối với những nhân vật, sự kiện lịch sử, làm cho những kiến thức Lịch sử trở nên bớt khô khan, nhàm chán hơn và gắn liền với thực tiễn đời sống hơn

Trang 28

luận chung cũng như những yêu cầu đặt ra cần được giải quyết nhằm nâng cao chất lượng dạy học môn Lịch sử

1.4.2 Đối tượng khảo sát

GV: chúng tôi tiến hành phát phiếu khảo sát ý kiến giáo viên đối với 20

GV thuộc địa bàn Hà Nội (THPT Trần Phú – Hoàn Kiến, THPT Ứng Hòa A, THPT Dân lập Đông Nam Á); Bắc Giang (THPT Yên Dũng số 2); Tuyên Quang (THPT Đông Thọ)

HS: chúng tôi đã tiến hành phát phiếu điều thăm dò ý kiến HS cho 120

HS trường THPT Trần Phú – Hoàn Kiếm và thu về được 120 phiếu hợp lệ

1.4.3 Nội dung khảo sát

Nội dung điều tra, khảo sát tập trung vào một số vấn đề cơ bản sau:

*) Đối với giáo viên: Nội dung điều tra, khảo sát tập trung vào tìm hiểu:

- Quan điểm của thầy cô về mức độ cần thiết của việc dạy học phát triển năng lực tự học của HS và mức độ quan tâm của thầy cô đối với việc phát triển năng lực tự học của HS

- Quan điểm của thầy cô về vai trò của tự học, tự nghiên cứu Lịch sử và việc

mà GV cần làm nhất để phát triển năng lực tự học cho HS

- Cách tự học mà thầy cô thường hay hướng dẫn HS, quan điểm của thầy cô về mức độ cần thiết của các kỹ năng tự học

- Phương án mà thầy cô cho là khả thi nhất trong việc phát triển năng lực tự học môn Lịch sử cho HS

*) Đối với học sinh: Nội dung điều tra, khảo sát tập trung vào tìm hiểu:

- Quan điểm của HS về mức độ cần thiết và vai trò của tự học Lịch sử

- Mức độ sẵn sàng của HS đối với việc tự học Lịch sử khi được GV hướng dẫn cách tự học và quan điểm của HS về mức độ cần thiết của các kỹ năng tự học

- Thực trạng tự học Lịch sử hiện nay của HS bao gồm: thời gian HS dành cho việc tự học Lịch sử, cách tự học Lịch sử hiện nay của HS, nội dung mà HS thích tự học nhất và những khó khăn lớn nhất mà HS gặp phải khi tiến hành

tự học Lịch sử

Trang 29

- Những đề xuất, ý tưởng của HS đối với việc dạy học phát triển năng lực tự học cho HS

1.4.4 Kết quả điều tra khảo sát

Với số lượng phiếu khảo sát HS phát ra là 120 phiếu, thu về 120 phiếu và phiếu GV là 20 phiếu

Sau khi tiến hành điều tra khảo sát bằng phiếu khảo sát đối với giáo viên

ở một số trường THPT và học sinh trường THPT Trần Phú – Hoàn Kiếm, tổng hợp những kết quả thu được, qua phân tích chúng tôi khái quát như sau:

1.4.4.1 Kết quả khảo sát của học sinh: Điều tra khảo sát 120 học sinh

Khi tiến hành khảo sát, lấy ý kiến của HS về mức độ cần thiết của tự học Lịch sử, chúng tôi thu được kết quả như biểu đồ dưới đây:

Biểu đồ 1.1 Quan điểm của HS về mức độ cần thiết của tự học Lịch sử

Qua khảo sát có 23 học sinh cho rằng học tự học Lịch sử là rất cần thiết chiếm 19,2%, 90 học sinh cho rằng việc tự học Lịch sử là cần thiết chiếm 75,0%

và chỉ có 7 học sinh cho rằng tự học Lịch sử là không cần thiết chiếm 5,8 % Như vậy có thể thấy HS cũng đã nhận thức được sự cần thiết của việc tự học môn Lịch sử

Trong đó:

• 57 HS cho rằng việc tự học Lịch sử giúp HS phát huy được sức sáng tạo, sự chủ động, tích cực của bản thân trong quá trình học tập, tìm hiểu những kiến thức về lịch sử

Trang 30

• 37 HS cho rằng việc tự học Lịch sử giúp HS dễ hiểu, dễ nhớ và dễ khắc sâu các nhân vật, sự kiện lịch sử

• 21 HS cho rằng việc tự học Lịch sử là cần thiết vì nó thu hút sự chú ý của HS, tạo được sự chú ý của HS đối với các nhận vật, sự kiện lịch sử

• 12 HS cho rằng việc tự học Lịch sử là cần thiết vì giúp HS làm bài kiểm tra đạt được điểm cao

Với việc chỉ có 12 HS cho rằng tự học Lịch sử là cần thiết vì giúp HS làm bài kiểm tra đạt điểm cao là một tín hiệu tích cực, cho thấy HS bước đầu đã

có sự nhận thức đúng đắn về vai trò của tự học đối với HS, đó là giúp HS phát huy sự tích cực, chủ động của bản thân trong quá trình học tập, giúp HS dễ ghi nhớ các nhân vật, sự kiên lịch sử chứ không phải vì mục tiêu thi cử, điểm chát

Biểu đồ 1.2 Mức độ sẵn sàng tự học Lịch sử của HS

Khi được hỏi về mức độ sẵn sàng của HS khi được GV hướng dẫn cách tự học thì chúng tôi cũng thu được kết quả khả quan khi có 37 HS rất sẵn sàng tự học Lịch sử khi được thầy cô hướng dẫn (chiếm tỷ lệ 30,8%), 59 HS sẵn sàng (chiếm 49,2%), 17 HS có thể chấp nhận việc tự học Lịch sử (chiếm 14,2%) và chỉ có 7 HS không quan tâm đến việc tự học Lịch sử mặc dù được thầy cô hướng dẫn cách tự học (chiếm 5,8%)

Có thể chấp nhận Không quan tâm

Trang 31

Mặc dù có tới 94,2% HS cho rằng việc tự học Lịch sử là rất cần thiết và cần thiết, 80% HS rất sẵn sàng và sẵn sàng tự học Lịch sử khi có được sự hướng dẫn của GV những một thực tế buồn hiện nay là thời gian mà HS dành cho việc

tự học Lịch sử còn thấp Theo kết quả điều tra, có tới 85 HS thời gian tự học Lịch sử dưới 1 tiếng/ tuần (chiếm 70,8 %), số HS tự học Lịch sử từ 1 đến 2 tiếng/ tuần chỉ có 28 HS (chiếm 23,3%), số HS tự học Lịch sử từ 2 đến 3 tiếng chỉ có 4

HS (chiếm 3,4%) và số HS tự học Lịch sử trên 3 tiếng/ tuần chỉ có 3 HS (chiếm 2,5%)

Trong đó, có 39/120 HS chỉ tự học những phần GV hướng dẫn, 39 HS tự học những nội dung trong SGK và nội dung ôn tập, 44 HS tự học những nội dung mà bản thân thấy quan tâm, hứng thú và có 2 HS tự học theo cách khác

Biểu đồ 1.4 Nội dung mà HS thích tự học nhất

70.8

23.3

3.4 2.5

Biểu đồ 1.3 Thời gian tự học Lịch sử

Dưới 1h/tuần 1h - 2h/tuần 2h - 3h/tuần Trên 3h/tuần

Trang 32

Trong những nội dung, kiến thức Lịch sử, thì nội dung, kiến thức về các nhân vật lịch sử là nội dung mà những HS được khảo sát thích tự học nhất với 51/120 HS (chiếm 42,5%) Kết quả trên cũng là một gợi mở cho GV trong quá trình giảng dạy, thay vì chú trong quá nhiều vào các sự kiện, mốc thời gian khiến cho HS cảm thấy môn Lịch sử trở nên khô khan, nhàm chán, GV có thể tổ chức các hoạt động học tập, hoạt động tự học để HS tìm hiểu về các nhân vật lịch sử (đóng vai, thuyết trình, làm phiếu tìm hiểu nhân vật ) như vậy, những kiến thức Lịch sử sẽ trở nên gần gũi và tạo được sự hứng thú cho HS

Trong quá trình tự học nói chung và tự học Lịch sử nói riêng thì HS dù ít

dù nhiều cũng gặp những khó khăn nhất định Sau khi điều tra, khảo sát chúng tôi thu được kết quả sau:

Bảng 1.1 Khó khăn lớn nhất của HS khi tự học Lịch sử

Khó khăn lớn nhất Số HS Tỷ lệ (%)

1 Thiếu tài liệu ngoài SGK để tự học 16 13,3

3 Nội dung/ bài tập tự học không sinh động,

đa dạng hóa, làm phong phú các nội dung, hình thức, bài tập tự học, phát huy

Trang 33

được sức sáng tạo của HS, không nên chỉ bó hẹp, dập khuôn trong các kiến thức trong SGK

Từ kết quả trên cũng dễ hiểu khi có tới 56/120 HS (chiếm 46,7%) cho rằng để phát huy năng lực tự học của HS thì việc cần làm nhất là đa dạng hóa nội dung tự học Lịch sử, tiếp đến là có một kế hoạch tự học rõ ràng với 19/120 HS (chiếm 15,8%), có đầy đủ các kỹ năng tự học với 15/120 HS (chiếm 12,5%), có đầy đủ tài liệu với 15/120 HS (chiếm 12,5%), có sự hướng dẫn của thầy cô với 13/120 HS (chiếm 10,8%) và ý kiến khác với 2 HS (chiếm 1,7%)

Biểu đồ 1.5 Quan điểm của học sinh về mức độ cần thiết của các kỹ năng tự học

Lịch sử

Khi được hỏi về quan điểm của HS về mức đồ cần thiết của các kỹ năng

tự học, chúng tôi thu được kết quả như sau:

Về kỹ năng lập kế hoạch tự học: Có 50 HS cho rằng rất cần thiết (chiếm

41,7%), 59 HS cho rằng cần thiết (chiếm 49,2%) và 11 HS cho rằng không cần thiết (chiếm 9,1%)

Về kỹ năng nghe và ghi chép bài trên lớp: Có 35 HS cho rằng rất cần thiết

(chiếm 29,2%), 72 HS cho rằng cần thiết (chiếm 60,0%) và 13 HS cho rằng không cần thiết (chiếm 10,8%)

Về kỹ năng đọc SGK, nghiên cứu tài liệu: Có 37 HS cho rằng rất cần thiết

(chiếm 30,8%), 81 HS cho rằng cần thiết (chiếm 67,5%) và 2 HS cho rằng không cần thiết (chiếm 1,7%)

Kỹ năng đọc SGK, nghiên cứu tài liệu

Kỹ năng tự đánh giá và đánh giá lẫn nhau

Trang 34

Về kỹ năng tự đánh giá và đánh giá việc tự học lẫn nhau: Có 28 HS cho

rằng rất cần thiết (chiếm 23,3%), 65 HS cho rằng cần thiết (chiếm 54,2%) và 27

HS cho rằng không cần thiết (chiếm 22,5%)

Từ kết quả trên, có thể thấy kỹ năng lập kế hoạch tự học là kỹ năng là kỹ năng mà HS quan tâm nhất khi có tới 50/120 HS cho rằng đây là kỹ năng rất cần thiết, 59/120 HS cho rằng đây là kỹ năng cần thiết đối với việc phát triển năng lực tự học môn Lịch sử Tiếp đến là kỹ năng đọc SGK, nghiên cứu tài liệu với 37/120 HS cho rằng rất cần thiết, 81/120 HS cho rằng cần thiết đối với việc phát triển năng lực tự học môn Lịch sử Tuy nhiên, từ kết quả trên, cũng có thể thấy

HS vẫn chứ thực sự nhận thức được hết tầm quan trọng của kỹ năng tự đánh giá

và đánh giá lẫn nhau trong tự học nói chung và tự học Lịch sử nói riêng khi vẫn

có tới 27/120 HS (chiếm 22,5%) cho rằng đây là kỹ năng không cần thiết đối với việc phát triển năng lực tự học Lịch sử cho HS

Trong quá trình điều tra, khảo sát, các em HS cũng đưa ra những ý kiến của mình để nâng cao chất lượng dạy và học Lịch sử, giúp HS có hứng thú với môn Lịch sử và tự học tốt hơn như GV không nên đưa quá nhiều kiến thức hàn lâm vào trong bài học, dạy theo lối biên niên mà nên đa dạng hóa phương pháp dạy học Lịch sử, tìm ra các cách thức truyền tải mới Đặc biệt, đa số các em đều mong muốn các thầy kể các câu chuyện có liên quan đến bài học, tăng cường sử dụng thêm các hình ảnh minh họa, các thước phim lịch sử vào trong giảng dạy

để tiết học sinh động và hấp dẫn hơn Đa số các em đều muốn thầy cô có sự hướng dẫn trước nội dung tự học cho HS để các em tự học hiệu quả Ngoài ra,

HS cũng mong muốn GV tăng cường cho HS làm việc nhóm, cho các em được đóng vai, diễn kịch, hóa thân vào các nhận vật lịch sử, hay thường xuyên cho tổ chức các buổi hoạt động ngoại khóa, cho các em đến các bảo tàng, di tích lịch sử

để những kiến thức Lịch sử trở nên gần gũi với các em hơn, tạo sự hứng thú cho các em trong việc học tập môn lịch sử

Trang 35

1.4.4.2 Kết quả khảo sát giáo viên

Sau tiến hành khảo sát, lấy ý kiến GV về mức độ cần thiết và mức độ quan tâm của GV đối với việc tự học Lịch sử, chúng tôi thu được kết quả như biểu đồ dưới đây:

Biểu đồ 1.6 Mức độ cần thiết và mức độ quan tâm của GV đối với việc tự học

Lịch sử

Từ kết quả trên có thể thấy, các thầy cô đều nhận thấy được sự cần thiết của việc dạy học phát triển năng lực tự học Lịch sử cho HS và đều quan tâm đến vấn đề này Theo đó:

• 12/20 GV cho rằng việc dạy học phát triển năng lực tự học Lịch sử cho HS là rất cần thiết (chiếm 60%), 8/20 GV cho rằng cần thiết (chiếm 40%) và không

có GV nào cho rằng việc dạy học phát triển năng lực tự học Lịch sử cho HS

là không cần thiết

• 11/20 GV rất quan tâm đến việc phát triển năng lực tự học Lịch sử cho HS (chiếm 55%), 9/20 GV quan tâm đến việc phát triển năng lực tự học Lịch sử cho HS (chiếm 45%) và không có GV nào không quan tâm đến việc phát triển năng lực tự học Lịch sử cho HS

0

Rất cần thiết Cần thiết Không cần thiết Rất quan tâm Quan tâm Không quan tâm

Trang 36

• 5/20 GV cho rằng việc tự học Lịch sử sẽ giúp các kiến thức Lịch sử trở nên gần gũi và dễ hiểu hơn với HS

• 4/20 GV cho rằng việc tự học Lịch sử sẽ thu hút được sự chú ý của HS, tạo được sự hứng thú của HS đối với các nhân vật, sự kiện lịch sử

Biểu đồ 1.7 Cách thức tự học Lịch sử GV thường hướng dẫn cho HS

Khi được hỏi về cách tự học Lịch sử mà thầy cô thường hướng dẫn HS thì

có 8/20 GV (chiếm tỷ lệ 40%) thường hướng dẫn HS tự học bằng cách lựa chọn

“điểm nhấn” của bài, 5/20 GV (chiếm 25%) thường hướng dẫn HS tự học bằng cách lập bảng niên biểu, hệ thống hóa, sơ đồ hóa kiến thức, 3/20 GV (chiếm 15%) thường hướng dẫn HS tự học bằng cách trình bày theo “đề cương trống”

và có 4/20 GV (chiếm tỷ lệ 20%) thường hướng dẫn HS tự học qua các hình thức hoạt động nhóm, trao đổi, thực hiện các bài tập cần phối hợp nhóm

Biểu đồ 1.8 Việc cần nhất GV cần làm để phát triển năng lực tự học Lịch sử

Trình bày theo

"đề cương trống"

kỹ năng tự học kiểu học của HSNắm bắt được học tập có HD tự Cung cấp phiếu

kiểm tra đánh giá

5

8

Trang 37

Cũng theo ý kiến của các GV thì có 8/20 GV cho rằng để HS tự học hiệu quả, phát huy được năng lực tự học Lịch sử cho HS thì việc cần nhất GV cần làm là cung cấp, hướng dẫn cho HS các kỹ năng tự học, 5/20 GV cho rằng việc cần nhất GV cần làm là cung cấp tài liệu tham khảo cho HS, 3/20 GV cho rằng việc cần nhất GV cần làm là nắm bắt được kiểu học của HS để đưa ra các cách học phù hợp cho HS và 4/20 GV cho rằng việc cần nhất GV cần làm để HS tự học hiệu quả, phát huy được năng lực tự học Lịch sử của HS đó là cung cấp cho

HS phiếu học tập có hướng dẫn tự kiểm tra đánh giá

Biểu đồ 1.9 Quan điểm của GV về mức độ cần thiết của các kỹ năng tự học

Lịch sử

Khi được hỏi về quan điểm của GV về mức đồ cần thiết của các kỹ năng

tự học, chúng tôi thu được kết quả như sau:

Về kỹ năng lập kế hoạch tự học: Có 14/20 GV cho rằng rất cần thiết

(chiếm tỷ lệ 70%), 6 GV cho rằng cần thiết (chiếm 30%) và không có GV nào cho rằng không cần thiết

Về kỹ năng nghe và ghi chép bài trên lớp: Có 4/20 GV cho rằng rất cần

thiết (chiếm 20%), 16 GV cho rằng cần thiết (chiếm 80,0%) và không có GV nào cho rằng không cần thiết

Về kỹ năng đọc SGK, nghiên cứu tài liệu: Có 12/20 GV cho rằng rất cần

thiết (chiếm 60,0%), 8 GV cho rằng cần thiết (chiếm 40,0%) và không có GV cho rằng không cần thiết

Kỹ năng đọc SGK, nghiên cứu tài liệu

Kỹ năng tự đánh giá và đánh giá việc

Trang 38

Về kỹ năng tự đánh giá và đánh giá việc tự học lẫn nhau: Có 13/20 GV

cho rằng rất cần thiết (chiếm 65,0%), 7 GV cho rằng cần thiết (chiếm 35,0%) và không có GV nào cho rằng không cần thiết

Từ kết quả trên, có thể thấy cũng giống như phần điều tra khảo sát với HS thì kỹ năng lập kế hoạch tự học cũng là kỹ năng mà GV quan tâm nhất khi có tới 14/20 GV cho rằng đây là kỹ năng rất cần thiết đối với việc phát triển năng lực

tự học môn Lịch sử Tiếp đến là kỹ năng tự đánh giá và đánh giá việc tự tự học lẫn nhau và kỹ năng đọc SGK, nghiên cứu tài liệu với lần lượt là 13 và 12/20 GV cho rằng đây là những kỹ năng rất cần thiết đối với việc phát triển năng lực tự học môn Lịch sử của HS

Biểu đồ 1.10 Phương án khả thi nhất trong việc phát triển năng lực tự học môn

Lịch sử cho HS

Trong quá trình điều tra khảo sát, chúng tôi cũng đã đưa ra một số phương án để xin ý kiến của GV xem trong những phương án đưa ra, phương án nào là khả thi nhất trong việc phát triển năng lực tự học môn Lịch sử cho HS và

đã thu được kết quả, theo đó:

• 7/20 GV (chiếm tỷ lệ 35%) cho rằng phương án khả thi nhất là sơ đồ hóa các nội dung tự học

• 7/20 GV (chiếm tỷ lệ 35%) cho rằng phương án khả thi nhất là tổ chức hoạt động tự học cho HS ở ngay trên lớp

35

20 10

Sử dụng CNTT

Dành thêm thời gian HDHS tự học

Tổ chức tự học trên lớp

Trang 39

• 4/20 GV (chiếm tỷ lệ 20%) cho rằng phương án khả thi nhất là sử dụng công nghệ thông tin vào quá trình tự học

• 2/20 GV (chiếm tỷ lệ 10%) cho rằng phương án khả thi nhất dành thêm thời gian cho việc hướng dẫn HS tự học

Như vậy, từ kết quả trên có thể thấy phương án sơ đồ hóa các nội dung tự học và tổ chức hoạt động tự học cho HS ngay ở trên lớp là 2 phương án được các

GV đánh giá là khả thi nhất trong việc phát triển năng lực tự học môn Lịch sử cho HS

Để việc vận dụng các định hướng dạy học tích cực một cách hiệu quả GV cũng đưa ra một số đề xuất như hỗ trợ thêm các trang thiết bị kĩ thuật cho phòng học nói chung, số lượng học sinh trong một lớp học không nên quá đông Các

GV cũng đưa ra đề xuất nên tổ chức nhiều hơn nữa những buổi tập huấn về vận dụng các phương pháp dạy học tích cực vào thực tế cho GV

***

Tiểu kết chương 1

Việc học tập môn Lịch sử là một quá trình nhận thức biến những kiến thức khoa học lịch sử tích lũy từ nhiều thế hệ của nhân loại, được lựa chọn thành kiến thức của chính mình Trong quá trình học tập phải lấy tự học làm gốc để chiếm lĩnh kiến thức, hoàn thành nhiệm vụ được giao, để nắm vững kiến thức của Lịch sử một cách chính xác Tự học, đầu tiên phải có sự định hướng của giáo viên để giúp học sinh thoát khỏi lung túng và tạo động lực thúc đẩy HS tự học

Tự học phải được tiến hành đúng phương pháp với từng tư liệu cần học, phải có nhu cầu học để tạo sự hứng thú say mê và ý thức trách nhiệm, tinh thần lao động cần cù cho học sinh

Tuy nhiên, dạy và học lịch sử ở các trường phổ thông hiện nay chủ yếu

GV giảng giải, minh họa còn HS thì ngồi nghe, chép bài và cố để ghi nhớ Việc này đã hạn chế căn bản vai trò chủ động, sáng tạo của HS

Trang 40

• Đại bộ phận HS chỉ học thuộc kiến thức nhưng không tường minh vì vậy không biết kết nối các kiến thức đã có để học kiến thức mới Ví dụ như: sau khi học xong bài CMTS Anh học sinh đã thuộc các khái niệm về Cách mạng

tư sản nhưng không hiểu bản chất của khái niệm đó nên đến bài CMTS Pháp khi được hỏi đây có phải là một cuộc cách mạng triệt để hay không lại không trả lời được

• Học chỉ để đối phó với thi cử và kiểm tra, cho nên ý thức tự giải quyết vấn đề chưa trở thành động lực trong học tập, chưa chủ động học để làm phong phú thêm kiến thức Lịch sử cho bản thân

• HS ít khi trình bày ý kiến của mình vì cho rằng kiến thức của mình còn yếu kém, hoặc không tự tin để trình bày

• Do quan niệm môn chính phụ nên việc tự học Lịch sử hầu như chưa thực sự được chú trọng, các em chủ yếu học bài ở vở ghi và sách giáo khoa và thời gian các em dành cho việc tự học môn Lịch sử cũng rất ít

Một thực trạng đang diễn ra hiện nay trong dạy học Lịch sử đó là những nội dung, bài tập, yêu cầu tự học vẫn chưa sinh động, tạo được sự hứng thú cho

HS, chưa phát huy được hết sự chủ động sức sáng tạo của HS cùng với đó là việc

HS vẫn chưa được hướng dẫn một cách thực sự cặn kẽ về các kỹ năng tự học cũng như cách lập kế hoach tự học một cách hiệu quả Vì vậy, thiết nghĩ để học sinh có thể tự học tốt môn Lịch sử, GV cần có sự đầu tư hơn nữa vào việc thiết

kế các bài tập, nội dung, yêu cầu tự học cho HS để những bài tập, nội dung, yêu cầu tự học mà GV đưa ra thực sự tạo được sự hứng thú cho HS, tạo được động lực học tập cho các em Bên cạnh đó, GV nên dành nhiều thời gian hơn nữa vào việc hướng dẫn HS các kỹ năng tự học, cách lập kế hoạch tự học cũng như hướng dẫn các em cách tự học hiệu quả

Ngày đăng: 16/03/2021, 21:53

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w